PDA

View Full Version : Hiệp thông, ý niệm then chốt giúp hiểu Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo


admin
11-07-2006, 06:56 AM
GIÁO HOÀNG ÐẠI HỌC SANTA CROCE
PHÂN KHOA THẦN HỌC

GIUSE NGUYỄN QUANG THẠNH

HIỆP THÔNG,
Ý NIỆM THEN CHỐT GIÚP HIỂU SÁCH GIÁO LÝ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO


Luận án Tiến sĩ Thần học Tín lý

Roma 1995
Bản dịch tiếng Việt
Sydney 2003




Coram Commissione docentium, 24 iunii 1995, doctoralem dissertationem Candidatus palam defendit.

Ad normam Statutorum Pontificii Athenaei Sanctae Crucis hanc dissertationem perlegimus ac typis totaliter edendam adprobavimus:


Prof. Dr. Radulfus Lanzetti Prof. Dr. Emmanuel Belda


IMPRIMI POTEST


Prof. Dr.Antonius Aranda, decanus Facultatis Theologiae
Romae, 19 octobris 1995
Secretarius Generalis Athenaei
Dr. Joseph Gerola


Prot. no 718/95


Imprimatur: Rev.mo Mons. Aloisius Moretti, Vicariatus Urbis


Romae, die XX mensis octobris anni MCMXCV.

admin
11-07-2006, 07:24 AM
Hiệp Thông là ý niệm then chốt giúp hiểu Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo


LỜI MỞ ÐẦU VÀ CẢM TẠ


Luận án này, "Hiệp Thông là ý niệm then chốt giúp hiểu Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo", được viết bằng Pháp-ngữ, được chấp nhận và bảo vệ tại Giáo Hoàng Ðại Học Santa Croce, Roma, ngày 24/06/1995, trước sự hiện diện của Ðức Hồng Y Edward B. Clancy, Tổng Giám Mục Sydney, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Phó Chủ tịch (sau này là Hồng Y Chủ tịch) Hội Ðồng Tòa Thánh Công Lý và Hòa Bình, cùng đông đảo Linh mục, Tu sĩ Việt Nam và Ngoại Quốc.

Ngay hôm đó, Ðức Hồng Y Edward B. Clancy yêu cầu tôi dịch luận án này ra Anh Ngữ và Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đề nghị dịch ra Việt ngữ. Các Ngài nhận định rằng, "ý niệm hiệp thông và sách giáo lý mới là hai vấn đề quan trọng và thời sự rất hữu ích - Cần dịch ra để nhiều người có thể đọc được".

Vâng lời các ngài, tôi đã tiến hành việc dịch thuật ngay năm 1996 và cơ bản hoàn thành vào năm 1997. Nhưng vì công việc mục vụ bề bộn, cho đến nay tôi mới có thể đọc lại, sửa chữa bản dịch và cho in.

Khi công việc hoàn thành, thì có nhiều thay đổi đáng tiếc: Ðức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã khuất bóng và Ðức Hồng Y Edward B. Clancy đã hồi hưu theo luật định.

Tôi mong ước 3 bản luận án này (Pháp, Anh, Việt) đến tay quí vị như một dấu chỉ lòng biết ơn chân thành của tôi đối với:

Ðức Hồng Y Edward B. Clancy khả kính, nguyên Tổng Giám Mục Giáo Phận Sydney, Úc Châu. Tôi khâm phục tinh thần cởi mở, sự hăng say, và tầm nhìn xa của ngài đối với Giáo hội địa phương và hoàn vũ. Thật ra, nếu ngài không cho phép, không giúp đỡ, và khuyến khích tận tình, tôi đã không thực hiện công trình nghiên cứu này.
Ðức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hội Ðồng Tòa Thánh Công Lý và Hòa Bình, là Ðấng Bản quyền cũ, và cũng là người bạn tù vì đức tin của tôi. Nhờ sự hướng dẫn khôn ngoan và sự dàn xếp hữu hiệu của ngài tôi mới có thể đến Roma để học tập.
Ðức Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Giáo phận Nha Trang đã khuyến khích tôi rất nhiều trong việc học tập để phục vụ hữu hiệu hơn.
Giáo sư Tiến sĩ Raul Lanzetti và Giáo sư Tiến sĩ Emmanuel Belda đã ân cần hướng dẫn tôi nghiên cứu và viết luận án này.
Linh mục Pierre Moreau S.J. có nhã ý đọc lại và nhuận bút bản Pháp Văn của tôi.
Sư huynh Baptist Will, Dòng Thánh Gioan Lasan, có nhã ý dịch luận án này ra Anh ngữ và anh Peter Bookallil Tâm có nhã ý đọc lại và kiểm các cước chú cách cẩn thận.
Quí vị Giáo sư đáng kính của tôi tại Chủng Viện Sao Biển Nha Trang, tại Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Ðà Lạt và tại Giáo Hoàng Ðại Học Santa Croce, Roma,
Quí thân nhân, ân nhân và bạn hữu - trong số đó tôi muốn kể đặc biệt Hội Caritas Thánh Giêrôm, Ðức Ông Barnabas Nguyễn Văn Phương, Linh mục Ambrosiô Nguyễn Văn Sĩ OFM, Khoa trưởng Triết học Giáo Hoàng Học viện Thánh Antôn, Mẹ Maura O'Connor, Bề trên Tổng Quyền Dòng Ðức Mẹ Thừa Sai - đã giúp tôi hoàn thành công trình này.
Song thân kính yêu của tôi.
Roma ngày 01/06/1995



Bản tiếng Việt, Sydney ngày 03/07/2003
Linh Mục Giuse Nguyễn Quang Thạnh

admin
11-07-2006, 07:48 AM
NỘI DUNG (http://gpnt.net/luananthanh/hiepthong_02.htm)

Lời nói đầu và cảm tạ (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2286#post2286)
Nội dung (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2287#post2287)
Những chữ viết tắt (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2288#post2288)
Nhập đề tổng quát (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2289#post2289)

CHƯƠNG I: (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2291#post2291) VÀI ÐIỂM CẦN LƯU Ý TRƯỚC VỀ Ý NIỆM HIỆP THÔNG (KOINONIA) VÀ CHỦ THỂ HIỆP THÔNG

I. Phạm vi rộng rãi của khoa Giáo Hội học hiệp thông (koinonia). (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2292#post2292)
II. Ý niệm hiệp thông (koinonia) trong Giáo-Hội và nền tảng của ý niệm ấy (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2293#post2293)
III. Công giáo tính của Giáo Hội và mối liên hệ giữa Giáo Hội hoàn vũ với các Giáo Hội địa phương (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2298#post2298)
IV. Tính cách cá nhân và cộng đồng trong sự hiệp thông (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2301#post2301)

CHƯƠNG II: CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO: LỜI MỜI GỌI HIỆP THÔNG THIÊN CHÚA NGÕ VỚI CON NGƯỜI KHI NGÀI TỰ MẶC KHẢI CHÍNH MÌNH

I. Sách GLGHCG có đề cập đến sự hiệp thông và lời kêu gọi sống hiệp thông không?
1. Việc sử dụng từ ngữ "hiệp thông" trong sách GLGHCG

2. Lời mời gọi sống hiệp thông
II. Việc tạo dựng
1. Tầm quan trọng của vấn đề tạo dựng
2. Ðấng Tạo Hóa
3. Cứu cánh của việc tạo dựng
4. Việc tạo dựng vũ trụ vô hình
5. Thế giới hữu hình
III. Việc sáng tạo con người
1. Con người theo sách GLGHCG
2. "Ngài đã tạo dựng con người, có nam có nữ" (St 1,27)
3. Ðược tạo dựng trong công chính và thánh thiện
4. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa
5. Một vài cách chú giải về lời khẳng định của Thánh Kinh: Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Ngài
6. Lời mời gọi sống hiệp thông vẫn tồn tại sau nguyên tội

CHƯƠNG III: GIÁO HỘI: MẦU NHIỆM VÀ BÍ TÍCH HIỆP THÔNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA VÀ GIỮA CON NGƯỜI VỚI NHAU

I. Giáo Hội xuất phát từ Thiên Chúa Ba Ngôi và trở về với Thiên Chúa Ba Ngôi
1. Giáo Hội được khai sinh do ý định đời đời của Thiên Chúa Cha
2. Giáo Hội được thiết lập bởi Chúa Kitô
3. Giáo Hội được biểu hiện bởi Chúa Thánh Thần
4. Giáo Hội sẽ được hoàn thành trong Ba Ngôi
II. Giáo Hội: Mầu nhiệm và bí tích của sự hiệp thông phổ quát
1. Giáo Hội là mầu nhiệm
2. Giáo Hội là bí tích của sự hiệp thông phổ quát
3. Một vài nhận xét về lịch sử của từ ngữ "mầu nhiệm và bí tích" được áp dụng cho Giáo Hội
III. Giáo Hội là sự hiệp thông của các thánh
1. Hiệp thông các lợi ích thiêng liêng của ơn cứu độ
2. Sự hiệp thông giữa Giáo Hội trên trời và dưới đất.


CHƯƠNG IV: GIÁO HỘI: DÂN THIÊN CHÚA, THÂN THỂ CHÚA KITÔ, ÐỀN THỜ CHÚA THÁNH THẦN.

I. Giáo Hội - Dân Thiên Chúa
1. Lược đồ Hiến chế Lumen Gentium của Công Ðồng Vatican II
2. Việc khai triển ý niệm Dân Thiên Chúa trong Thánh Kinh
3. Khai triển ý niệm Dân Thiên Chúa trong Truyền Thống Giáo Hội
4. Ý niệm Giáo Hội - Dân Thiên Chúa trong sách GLGHCG (ss. 781-786)
II. Giáo Hội - Thân Thể Chúa Kitô
1. Nguồn gốc Thánh Kinh
2. Giáo Hội - Thân Thể Chúa Kitô trong Thánh Truyền
3. Giáo-Hội-Thân-Thể-Chúa-Kitô trong sách GLGHCG
III. Giáo Hội - Ðền Thờ Chúa Thánh Thần
1. Nguồn gốc Kinh Thánh
2. Giáo Hội - Ðền thờ Chúa Thánh Thần, được trình bày trong sách GLGHCG

CHƯƠNG V: THÁNH THỂ: BÍ TÍCH HIỆP THÔNG TUYỆT HẢO

I. Vị trí và tầm quan trọng của bí tích Thánh Thể trong đời sống Giáo Hội
II. Những danh hiệu của bí tích Thánh Thể
III. Bí tích Thánh Thể trong nhiệm cục cứu độ
1. Các dấu hiệu bánh và rượu
2. Lập bí tích Thánh Thể
3. Lệnh lưu truyền bí tích Thánh Thể cho hậu thế
IV. Việc cử hành bí tích Thánh Thể trong Phụng vụ
V. Hy Tế bí tích
1. Tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa Cha
2. Tưởng niệm hy tế Chúa Kitô và Thân Thể Ngài là Giáo Hội
3. Mầu nhiệm sự hiện diện
VI. Thánh Thể là một bữa tiệc hy tế
VII. Một vài suy tư về sự hiệp thông Giáo Hội theo Công Ðồng và sách GLGHCG
1. Việc cử hành Thánh lễ là hành động của toàn thể Giáo Hội vì thiện ích của cả nhân loại
2. Việc cử hành Thánh Lễ là cách biểu lộ tuyệt hảo sự hiệp thông của các Thánh là Giáo Hội

Kết luận tổng quát

Thư mục

admin
11-07-2006, 08:00 AM
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

I. CÁC SÁCH KINH THÁNH:
A. Cựu Ước:

Tiếng Việt Tiếng Pháp
(dùng trong sách này) (dùng trong nguyên bản)
St Sáng thế Gn Genèse
Xh Xuất hành Ex Exode
Lv Lê-vi Lv Lévitique
Ds Dân số Nb Nombre
Ðnl Ðệ nhị luật Dt Deutéronome
Gs Gio-suê Jos Josué
Tl Thủ lãnh Jg Juges
R Rút Rt Ruth
1 Sm Samuen quyển I 1 S 1er livre de Samuel
2 Sm Samuen quyển II 2 S 2è livre de Samuel
1 V Các Vua quyển I 1 R 1er livre des rois
2 V Các Vua quyển II 2 R 2è livre des rois
1 Sb Sử Biên quyển I 1 Ch 1er livre des Chroniques
1 Sb Sử Biên quyển II 2 Ch 2è livre des Chroniques
Er Ét-ra Esd Esdras
Nkm Nơ-khê-mi-a Ne Néhémie
Tb Tô-bi-a Tb Tobie
Gđt Giu-đi-tha Jdt Judith
Et Ét-te Est Ester
1 Mcb Ma-ca-bê quyển I 1 M 1er livre des Maccabées
2 Mcb Ma-ca-bê quyển II 2 M 2è livre des Maccabées
G Gióp Jb Job
Tv Thánh vịnh Ps Psaumes
Cn Châm ngôn Pr Proverbes
Gv Giảng viên Qo Qohelet ou Ecclésiaste
Dc Diễm ca Ct Cantique des cantiques
Kn Khôn ngoan Sg Sagesse
Hc Huấn ca Si Sirac ou l'Ecclésiastique
Is I-sai-a Is Isaie
Gr Gê-rê-mi-a Jr Jérémie
Ac Ai-ca Lm Lamentation
Br Ba-rúc Ba Baruch
Ed Ê-dê-ki-en Ez Ezéchiel
Ðn Ða-ni-en Dn Daniel
Hs Hô-sê Os Osée
Ge Giô-en Jl Joel
Am A-mốt Am Amos
Ôv Ô-va-đi-a Ab Abdias
Gn Giô-na Jon Jonas
Mk Mi-kha Mi Michée
Nk Na-khum Na Nahum
Kb Kha-ba-cúc Ha Habaquq
Xp Xô-pho-ni-a So Sophonie
Kg Khác-gai Ag Aggée
Dcr Da-ca-ri-a Za Zacharie
Ml Ma-la-khi Ml Malachie

B. Tân Ước:
Mt Tin Mừng Mát-thêu Mt Evangile de Matthieu
Mc Tin Mừng Mác-cô Mc Evangile de Marc
Lc Tin Mừng Lu-ca Lc Evangile de Luc
Ga Tin Mừng Gio-an Jn Evangile de Jean
Cv Công vụ Tông Ðồ Ac Actes des Apôtres
Rm Thư Rôma Rm Epitre aux Romains
1 Cr Thư Cô-rin-tô thứ I 1 Co 1er épitre aux Corinthiens
2 Cr Thư Cô-rin-tô thứ II 2 Co 2è épitre aux Corinthiens
Gl Thư Ga-lát Ga Epitre aux Galates
Ep Thư ʬphê-sô Ep Epitre aux Ephésiens
Pl Thư Phi-líp Ph Epitre aux Philippiens
Cl Thư Cô-lô-xê Col Epitre aux Colossiens
1 Tx Thư Tê-xa-lô-ni-ca thứ I 1 Th Epitre aux Thessaloniciens
2 Tx Thư Tê-xa-lô-ni-ca thứ II 2 Th Epitre aux Thessaloniciens
1 Tm Thư Ti-mô-thê thứ I 1 Tm 1er épitre à Timothée
2 Tm Thư Ti-mô-thê thứ II 2 Tm 2è épitre à Timothée
Tt Thư gửi Titô Tt Epitre à Tite
Plm Thư gửi Phi-lê-mon Phlm Epitre à Philémon
Dt Thư Do Thái He Epitre aux Hébreux
Gc Thư của Gia-cô-bê Jc Epitre de Jacques
1 Pr Thư Phêrô thứ I 1 P 1er épitre de Pierre
2 Pr Thư Phêrô thứ II 2 P 2è épitre de Pierre
1 Ga Thư Gioan thứ I 1 Jn 1er épitre de Jean
2 Ga Thư Gioan thứ II 2 Jn 2è épitre de Jean
3 Ga Thư Gioan thứ III 3 Jn 3è épitre de Jean
Gđ Thư của Giuđa Jude Epitre de Jude
Kh Khải huyền Ap Apocalypse de Jean

C. Các Tông Phụ:
Apost. Const. Constitution apostolique
Barn, Epitre de Barnabée
1 Clem. Première épitre de Clément
2 Clem. Deuxième épitre de Clément
Did. Didaché
Diog Epitre de Diognète
Herm. Le Pasteur d'Hermas
Harm(m) Hermes, mandata
Harm(s) Hermes, similitudes
Herm(v) Hermes, visiones
IgnEph. Ignace, Lettre aux Ephésiens
IgnMagn. Ignace, Lettre aux Magnésiens
IgnPhld. Ignace, Lettre aux Philadelphiens
IgnPol. Ignace, Lettre à Polycarpe
IgnRom. Ignace, Lettre aux Romains
IgnSm. Ignace, Lettre aux Smyrniotes
IgnTrall. Ignace, Lettre aux Tralliens
MartPol. Martyre de Polycarpe
Didasc. Didaschalie ou Doctrine des Apôtres

II. NHỮNG SÁCH KHÁC:

AA Apostolicam actuositatem : Sắc lệnh Tông Ðồ Giáo Dân. Vatican II.
AAS Acta Apostolic Sedis
AG Ad Gentes : Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Vatican II.
Alloc. Allocution
ASS Acta Sanct Sedis
Bibl Biblica, Rome 1920 s
Cat Rom Catechismus ex decreto Conc. Tridentini ad Parochos Pii V issu. Roma 1566 (Catechismus Romanus)
CCL Corpus Christianorum seu nova Patrum collectio, Turnout/Paris 1953 ss. (Series latina)
CD Christus Dominus : Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội. Vatican II.
CEC Le Catéchisme de lEglise Catholique
C.I.C. Codex Juris Canonici, Vatican 1983
COD Conciliorum oecumenicorum decreta. Basel 1962
Coll. Collection
Communio Revue catholique internationale Communio, édition française, Paris 1972
Conc. Concilium. Revue internationale de théologie, 1964 ss
Conc. Oecum. Concile Oecuménique
Const. Apost. Constitution apostolique
DB Dictionnaire de la Bible, éd. Par F. Vigouroux, 5 volumes, Paris 1895-1912, (cf. DBS)
DC Dizionario dei Concilii, dir. P. Palazzini, 6 v, Roma 1965-1967.
D. Cath. Revue Documentation Catholique
DCG Dictionary of Christ and the Gospels, éd. J. Hastings et al. Edinburg I 1906; II 1908; 1932
DH Dignitatis human : Tuyên Ngôn về tự do tôn giáo. Vatican II.
Diakonia Diakonia, Internationale Zeitschrift fur die Praxis der Kirche, Mainz/Wien 1969 ss
DS H. Denzinger, Enchiridion Symbolorum, Definitionum et Declarationum de rebus fidei et morum, édité depuis le 32e édition par A. Schonmetzer, Freiburg i. Br. 1963 ss
DV Dei Verbum: Hiến Chế Tín lý về Mạc khải. Vatican II.
EF Encyclopédie de la foi, 4 vol. Paris 1965-1967, voir HThG
Enc. Encyclique
EthL Ephemerides Theologic Lovanienses, Brugge 1924 ss
Exhort. Apost. Exhortation apostolique
GE Gravissimum educationis: Déclaration du Conc. Vatican II sur léducation chrétienne
GLGHCG Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, TTÐ dịch từ CEC, TP. Hồ Chí Minh 1993
GS Gaudium et Spes, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Vatican II.
HthG Handbuch theologischer Grundbegriffe, éd. Par H. Fries, 2 Bde., Munchen 1963 (trad. Fr. Encyclopédie de la foi, Paris, 1965-1967 (4 vol.)
JThS The Journal of Theological Studies, London 1899 ss
LG Lumen Gentium: Hiến Chế tín lý về Giáo Hội
LV Lumière et Vie, Lyon 1951 ss
Mansi J.D. Mansi, Sacrorum Conciliorum nova et amplissima collectio, 31 vol., Florenz/ Venedig 1757-98; réédité et continué par L. Petit et J.B. Martin, 60 vol. Paris 1899-1927
MR Missel Romain
NA Nostra tate: Tuyên ngôn về giao tế của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Kitô-giáo. Vatican II.
NRT Nouvelle Revue Théologique, Tournai/ Lowen/ Paris 1879 ss
NTS New Testament Studies, Cambridge/ Washington 1954 ss
OE Orientalium ecclesiarum: Décret du Conc. Vatican II sur les Eglises orientales catholiques
OT Optatam totius: Sắc lệnh về đào tạo các Linh Mục.
PC Perfect caritatis: Sắc lệnh về canh tân đời sống tu trì.
PG Patrologia Grca, éd. Par J.P. Migne, 161 vol., Paris 1857-1866.
PL Patrologia Latina éd. Par J.P. Migne, 217 vol. Plus les tables, Paris 1878-1890
PO Presbyterorum ordinis: Décret du Conc. Vatican II sur le ministère et la vie des prêtres
RSPT Revue des sciences philosophiques et théologiques, Paris 1907 s.
RSR Revue de science religieuse, Paris 1910 ss
Rthom Revue thomiste, Paris 1893 ss
RTL Revue théologique de Louvain, Lowen I, 1970 ss
SC Sacrosanctum Concilium: Hiến Chế Phụng Vụ. Vatican II. S.chr. Sources chrétiennes, Paris 1941 ss
UR Unitatis Redintegratio: Sắc lệnh về đại kết. Vatican II.

admin
11-07-2006, 08:11 AM
NHẬP ÐỀ TỔNG QUÁT

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công giáo (GLGHCG) được viết với mục đích trình bày một cách có hệ thống và tổng hợp những nội dung cốt yếu và căn bản của đạo lý Công Giáo về mặt đức tin cũng như về luân lý dưới ánh sáng Công Ðồng Vatican II và toàn bộ Thánh Truyền.[1]

Suốt dòng lịch sử, đạo lý Công Giáo về đức tin và luân lý không hề thay đổi bản chất. Những điều có thể thay đổi và vì thế có thể là những điều mới mẻ trong sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo chính là những minh định về đạo lý do Chúa Thánh Thần khơi dậy cho Giáo Hội qua các thời đại.[2] Mặt khác, Ðức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cũng mong ước rằng sách Giáo lý này sẽ góp phần rất quan trọng trong công cuộc canh tân toàn bộ đời sống Giáo Hội, như Công Ðồng Vatican II đã mong ước và đã khởi sự.[3]

Ðược biên soạn trong bối cảnh như thế, chắc chắn sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo (GLGHCG) phải mang những dấu ấn của Công Ðồng Vatican II. Thế mà trong các văn kiện của Công Ðồng, ý tưởng trọng tâm và căn bản chính là học thuyết của Giáo Hội về hiệp thông.[4] Bởi vậy, ta có thể tự hỏi: phải chăng ý niệm hiệp thông này cũng là một ý niệm then chốt trong sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo (GLGHCG)?

Vấn đề được đặt ra như thế, chúng tôi không có ý cho rằng ý niệm hiệp thông là ý niệm then chốt duy nhất, mà chỉ muốn xác định rằng đó là ý niệm rất quan trọng khi biên soạn sách Giáo lý này và cũng là ý niệm rất hữu ích để đọc và hiểu sách Giáo lý này một cách thấu đáo.

Mục đích của tài liệu nghiên cứu này là minh chứng xem có phải ý niệm hiệp thông trong Giáo Hội là sợi chỉ xuyên suốt, có mặt trong tất cả mọi phần sách GLGHCG hay không; và có thể nói đó là cái hồn khiến cho mọi mầu nhiệm Kitô giáo thống nhất lại thành một tổng hợp có hệ thống, đặc biệt trong phần đầu của sách Giáo lý mới này hay không. Vả lại, khi mặc khải, Thiên Chúa muốn các Kitô hữu sống những mầu nhiệm ấy. Thật vậy, hiệp thông là một ý niệm về đời sống Giáo Hội.[5] Chủ thể cuối cùng của hiệp thông là chính con người chứ không phải là một cơ chế hay một xã hội nào.

Phương pháp chúng tôi sẽ dùng để thực hiện công trình nghiên cứu này là: Trước hết, chúng tôi lược qua toàn bộ sách GLGHCG để định vị từ "hiệp thông" và các từ tương đương hầu biết chúng được sử dụng nhiều tới mức độ nào, không phải để làm một bảng thống kê, mà đúng hơn, để phát hiện, trong mức độ có thể, tầm quan trọng mà các nhà biên soạn sách Giáo lý muốn gán cho chúng. Sau đó, chúng tôi sẽ dựng lại bối cảnh trong đó ý niệm hiệp thông đã được đưa ra để diễn tả phần này hay phần nọ của đạo lý Kitô giáo, bằng cách lưu ý đến những chỉ dẫn tham chiếu vốn có rất nhiều ở mỗi số trong sách Giáo lý, nhờ đó khám phá ra mối quan hệ nối kết các mầu nhiệm Kitô giáo lại với nhau. Cuối cùng, chúng tôi sẽ chọn ra một số đoạn, mà theo thiển ý của chúng tôi, là những đoạn điển hình có thể giúp chúng ta nắm được sợi chỉ xuyên suốt ấy (tức ý niệm hiệp thông) trong toàn bộ sách GLGHCG. Sự chọn lựa ấy, cho dẫu thế nào chăng nữa, bao giờ cũng có phần chủ quan nếu không muốn nói là thiếu sót. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng khách quan hết sức có thể. Vả lại, theo bất kỳ phương pháp khoa học nào ta cũng phải chấp nhận một số giả thiết, miễn là việc chứng minh của ta có thể kiểm chứng được một cách nghiêm túc chặt chẽ. Nhờ thế phương pháp của chúng ta mới có thể được đánh giá là có tính khoa học.

Tác phẩm chính yếu chúng tôi nghiên cứu để tìm hiểu đề tài này hẳn nhiên là sách GLGHCG. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ tham khảo các văn kiện gần đây của các Công Ðồng, nhất là của Công Ðồng Vatican II, của các Thượng Hội Ðồng Giám Mục và của Huấn Quyền Giáo Hội. Ngoài ra, để am hiểu một cách chắc chắn và trung thực tối đa ý niệm hiệp thông, chúng tôi cần đến các tác phẩm về thần học hay về Giáo Hội học, và những tác phẩm khác có liên quan đến đề tài này và có ảnh hưởng lớn trên học thuyết của Công Ðồng Vatican II. Thỉnh thoảng, chúng tôi sẽ trở về tận cội nguồn Giáo Hội là các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên để tìm hiểu sâu sắc hơn nội dung của ý niệm hiệp thông. Thêm vào đó, chúng tôi cũng sẽ lưu ý đến các sách giải thích về sách giáo lý này vừa được xuất bản thời gian đây. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ tránh không đi xa quá tác phẩm chính yếu chúng tôi phải tham chiếu, tức là sách GLGHCG.

Bố cục của tập nghiên cứu này sẽ được triển khai qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (chương 1: Một vài điểm sơ khởi cần lưu ý về ý niệm hiệp thông/koinonia và chủ thể hiệp thông) nhằm xác định nội dung ý niệm hiệp thông và chủ thể hiệp thông theo quan điểm của Công Ðồng Vatican II. Ðể hoàn thành phần khởi đầu này, chúng tôi sẽ khảo sát các văn kiện của Công Ðồng, nhất là Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, Sắc Lệnh về Hoạt Ðộng Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, Sắc Lệnh về Ðại Kết Unitatis Redintegratio, và các văn kiện của Huấn Quyền sau Công Ðồng có liên quan đến đề tài này. Ý niệm hiệp thông không phải chỉ là ý niệm của lý luận, nhưng đúng hơn là ý niệm của đời sống (bắt đầu từ đời sống của Ba Ngôi Chí Thánh). Ý niệm ấy định hướng cho công trình sáng tạo đã được thực hiện một cách cụ thể vì con người, qua Giáo Hội. Và Giáo Hội là bí tích và là dụng cụ của sự hiệp thông này. Sự hiệp thông quả là một mầu nhiệm, vì tạo vật hữu hạn được chia sẻ đời sống vô biên của Ba Ngôi Chí Thánh.


-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref1) SÁCH GIÁO LÝ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, s.11

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref2) GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn Fidei Depositum, 11-10-1992, Sách GLGH CG, trg.6.

[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref3) Ibid.

[4] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref4) THƯỢNG HỘI ÐỒNG GIÁM MỤC (1985), Relatio finalis, II, C, 1; GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn Christifideles Laici, 30-12-1988, AAS 81/1 (1989) 393-520, s.19.

[5] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref5) X. GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn Christifideles Laici (Người tín hữu giáo dân), 30-12-1988, AAS 81/1 (1989) 393-520, s.18-19.

admin
11-07-2006, 08:14 AM
Lý do khiến chúng tôi phải xác định ngay từ đầu nội dung của ý niệm hiệp thông là vì từ ngữ này có nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí có những ý nghĩa mơ hồ. Vì thế, để có thể làm tiêu điểm cho việc nghiên cứu đề tài này trong sách GLGHCG, ý niệm hiệp thông phải có nội dung Kinh Thánh.[6] Thế nhưng, vì ý niệm hiệp thông có nội dung vô cùng phong phú, nên chúng tôi không có tham vọng đưa ra một định nghĩa đầy đủ và trọn vẹn về ý niệm này, mà chỉ muốn xác định ý niệm này cho rõ ràng để giảm thiểu được những cách hiểu mơ hồ được chừng nào hay chừng nấy.

Khi đã xác định từ ngữ rồi, chúng tôi sẽ bắt đầu tìm hiểu sách GLGHCG dưới góc cạnh sự hiệp thông trong Giáo Hội. Chúng tôi sẽ theo thứ tự trong Kinh Tin Kính của các Tông Ðồ và của "tứ trụ" đã được sách giáo lý mới này và cả sách giáo lý Rôma chấp nhận. Nghĩa là chúng tôi sẽ tìm xem việc Thiên Chúa sáng tạo có phải là một lời mời gọi chúng ta sống hiệp thông hay chia sẻ sự sống của Thiên Chúa hay không. Ðây là điểm khởi hành rất căn bản, vì nếu khi được sáng tạo, con người không có khả năng sống hiệp thông với Thiên Chúa, thì thật là phi lý khi nói tới việc chia sẻ đời sống thần linh hay nói tới ơn cứu độ. Rồi đây, chúng ta sẽ thấy theo sách GLGHCG, việc sáng tạo đã giúp con người không những có khả năng hiệp thông với Tạo Hóa, mà còn mời gọi con người thực hiện sự hiệp thông ấy nữa. Ðó chính là điều chúng ta sẽ bàn tới ở chương 2: Công trình sáng tạo là lời mời gọi hiệp thông, mà Thiên Chúa đã ngỏ với con người khi tự mặc khải chính mình.

Tạo Hóa là Ðấng Toàn Năng nên ý muốn của Ngài cũng là hành động, lời mời gọi của Ngài đã được thực hiện cụ thể qua một dấu chỉ và khí cụ [7] là Hội Thánh Chúa Kitô. Quả thế, Chúa Giêsu Kitô- là bí tích duy nhất của Thiên Chúa, và Giáo Hội là bí tích của Chúa Giêsu Kitô- vì Giáo Hội chính là Thân Thể của Ngài. Sự hiệp thông được thực hiện qua Chúa Giêsu là Ðầu và qua Toàn Thân là Giáo Hội. Chúng ta sẽ làm nổi bật sự hiệp thông mà sách GLGHCG trình bày là sự hiệp thông trong và nhờ Giáo Hội Chúa Kitô: Chương 3: Giáo Hội: mầu nhiệm, và bí tích hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau.

Chương 4 (Giáo Hội: Dân Thiên Chúa, Thân thể Chúa Kitô, Ðền Thờ Chúa Thánh Thần) chương này triển khai chương 3: vì là mầu nhiệm nên Giáo Hội vượt khỏi mọi định nghĩa; sách GLGHCG đã dùng ba hình ảnh Thánh Kinh để diễn tả bản chất của Giáo Hội, đồng thời diễn tả các mối quan hệ đa dạng ở mọi cấp độ giữa các chủ thể hiệp thông với Thiên Chúa và giữa các chủ thể ấy với nhau.

Sau cùng, cao điểm của sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau chính là bí tích Thánh Thể, còn được gọi là bí tích trên hết các bí tích.[8] Ðó là nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô hữu.[9] Vì trong bí tích ấy có chứa đựng kho tàng của Giáo Hội là chính Chúa Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta. Bí tích Thánh Thể vừa biểu thị, vừa thực hiện sự hiệp thông sống động với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của Dân Chúa, nhờ những yếu tố ấy Giáo Hội mới chính là Giáo Hội.[10] Ðó là nội dung của chương 5: Bí tích Thánh Thể: bí tích hiệp thông tuyệt hảo.

Tóm lại, khảo luận của chúng tôi được chia thành 3 phần gồm 5 chương: Phần I gồm một chương (chương 1) nhằm xác định nội dung của ý niệm hiệp thông. Ðó là chương dẫn nhập. Phần II (chương 2) bàn về sự hiệp thông trong chiều kích sáng tạo. Phần ba (các chương 3,4,5) nói đến sự hiệp thông trong chiều kích thánh hóa.

Chúng tôi mong rằng công trình nghiên cứu này là một đóng góp về mặt thần học, tuy nhỏ bé nhưng rất mới mẻ, hữu ích, và có ý nghĩa. Vì sách GLGHCG là một tác phẩm rất mới mẻ và quan trọng trong đời sống Giáo Hội, trong đó ý niệm hiệp thông là ý niệm then chốt để hiểu Công Ðồng Vatican II, và nghiên cứu một điểm nhất định nào đó trong sách giáo lý mới này chính là đóng góp vào việc canh tân đời sống Giáo Hội mà Công Ðồng Vatican II, các Thượng Hội Ðồng Giám Mục sau Công Ðồng và các vị chủ chăn của Hội Thánh toàn cầu, đặc biệt Ðức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, hằng mong muốn. Chúng tôi hy vọng sự đóng góp này sẽ giúp những ai đọc sách GLGHCG thấy được không những sự mạch lạc giữa các phần trong tác phẩm mà còn nhận ra mối dây liên kết sâu xa mọi khía cạnh trong đời sống Kitô hữu cũng như mọi khía cạnh của Giáo Hội toàn cầu và của các Giáo Hội địa phương.


-----


[6] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref6) X. THÁNH BỘ GIÁO LÝ ÐỨC TIN, Lettre aux évêques de l'Église catholique sur certains aspects de l'Église comprise comme communion, 28-5-1992, Liberia Editrice Vaticane, Roma 1992, s.3, trg.4.

[7] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref7) SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO, s.750.

[8] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref8) Công Ðồng VATICAN II, Presbyteriorum Ordinis, 5.

[9] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref9) Công Ðồng VATICAN II, Lumen Gentium, 11.

[10] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=2288#_ftnref10) THÁNH BỘ PHỤNG TỰ, Inst. "Eucharisticum Mysterium," 6, AAS 59 (1967) 539-573.

admin
11-07-2006, 08:21 AM
CHƯƠNG I

VÀI ÐIỂM CẦN LƯU Ý VỀ Ý NIỆM HIỆP THÔNG / KOINONIA VÀ CHỦ THỂ HIỆP THÔNG

Dẫn nhập:
Trong bất cứ ngôn ngữ nào, một từ có thể có tới hai ba nghĩa, hay nhiều hơn, tùy theo mạch văn của câu chuyện hay ý hướng của người nói. Chẳng hạn, hai ký hiệu A và W (alpha và ômêga) có thể gợi cho ta những ý tưởng hoàn toàn khác nhau tùy theo mạch văn: chúng có thể là hai chữ đầu và cuối trong bản mẫu tự Hy Lạp đối với những người học vỡ lòng về ngoại ngữ. Chúng có thể biểu thị điểm khởi động của một động cơ hay bản tổng kết trong một sách toán. Chúng cũng có thể ám chỉ Thiên Chúa vô biên vừa là khởi thủy A vừa là cùng đích W của vạn vật như các nhà thần học thường hiểu. Vì thế, tùy theo khả năng, chúng ta phải định nghĩa ngay từ đầu các ý niệm then chốt được dùng trong các khảo luận có tính khoa học. Nói rằng tùy theo khả năng là vì có những trường hợp (như trường hợp của chúng ta đây) ta không thể đưa ra những định nghĩa khúc chiết, rõ ràng, đúng như một định nghĩa thiệt thụ, nhưng chỉ có thể đưa ra một số nhận xét thôi. Nói thế không có nghĩa là công việc này sẽ thiếu chính xác, như chúng ta sẽ thấy sau. Ðây cũng là trường hợp của ý niệm hiệp thông và chủ thể hiệp thông mà chúng ta sẽ bàn đến trong khảo luận này. Ðây cũng chính là lý do tại sao có chương thứ nhất này.

Ý niệm hiệp thông là ý niệm bao gồm nhiều mặt, có thể diễn tả "tiếng gọi hiệp nhất" mà Ðấng Tạo Hóa luôn luôn khơi động trong chính bản thân của mỗi tạo vật từ khi sáng tạo vũ trụ. Tiếng gọi hiệp nhất này đã trở thành một ân huệ phổ quát Thiên Chúa ban xuống trong lịch sử cứu độ nhờ mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô . Mầu nhiệm này luôn luôn được hiện thực cho toàn thể nhân loại qua nhiệm tích của Người, là Hội Thánh Công giáo, cho đến khi Chúa quang lâm. Thực vậy, chính qua Giáo Hội Công Giáo, nhiệm tích của Chúa Kitô, mà Thiên Chúa muốn qui tụ và cứu thoát loài người, vàđặt mọi sự dưới quyền một Thủ Lãnh duy nhất để Người trở nên mọi sự trong mọi người (1 Cr 15,28).

Theo sách Công vụ Tông đồ và theo các tác phẩm của các Giáo Phụ, các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai đã sống mầu nhiệm hiệp thông , và đã được tổ chức theo tinh thần hiệp thông ấy. Nhưng vì những lý do lịch sử nào đó, Giáo Hội Công Giáo Rôma đã làm cho ý niệm hiệp thông này bị lu mờ trong khoa Giáo Hội học suốt một thời gian dài. Ở đây, chúng tôi muốn nói rằng ý niệm hiệp thông bị lu mờ, chứ không phải đời sống hiệp thông của Giáo Hội bị lu mờ. Nhưng rất may mắn là ý niệm hiệp thông (koinonia) lại được đề cao trong các văn bản của Công Ðồng Vatican II , ý niệm này rất thích hợp để diễn tả bản chất mầu nhiệm thâm sâu của Giáo Hội và chắc chắn có thể dùng làm chìa khóa canh tân khoa Giáo Hội học Công Giáo. Tìm hiểu sâu xa thực tại Giáo Hội dưới khía cạnh hiệp thông quả là một thách đố đặc biệt quan trọng, là một lãnh vực bao la cho các nhà thần học đang suy tư về mầu nhiệm Giáo Hội, một mầu nhiệm có bản chất đặc biệt đến nỗi luôn luôn khuyến khích ta thực hiện những nghiên cứu mới mẻ và sâu xa.

Từ trích dẫn trên đây, chúng ta có thể ghi nhận hai điểm: Công Ðồng Vatican II đã bắt đầu đổi mới những suy tư thần học về hiệp thông để diễn tả bản chất thâm sâu mầu nhiệm Giáo Hội, và như thế, Công Ðồng đã mở ra một chân trời bao la cho những suy tư thần học về mầu nhiệm Giáo Hội. Ðây là điều rất quan trọng đem lại biết bao hứa hẹn, nhưng cũng là một thách đố đòi ta phải nỗ lực rất nhiều và phải hết sức cẩn thận. 30 năm sau khi Công Ðồng Vatican II bế mạc, khoa Giáo Hội học dựa trên ý niệm hiệp thông đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, khoa ấy cũng đã có những bước sai lạc. Thánh Bộ Giáo lý Ðức tin đã báo động về những bước sai lạc này trong một lá thư gửi cho các Giám Mục Công Giáo trên thế giới. Do đó, cần phải hiểu rõ ý niệm này. Cố gắng hiểu rõ chừng nào hay chừng nấy, vì chúng ta không bao giờ thấu triệt ý niệm ấy: phạm vi áp dụng ý niệm ấy vẫn còn rất rộng và rất phong phú bởi vì sự hiệp thông chính là đời sống của Giáo Hội, mà Giáo Hội lại là một mầu nhiệm.

Trong chương này, trước tiên, chúng tôi lược qua phạm vi rộng rãi mà khoa Giáo Hội học hiệp thông (Ecclesiologie de communion) đã hay sẽ đề cập tới, để ta thấy được tầm quan trọng của khoa Giáo Hội học này, và lưu ý các cấp độ khác nhau trong việc áp dụng ý niệm hiệp thông, cách đích thị hay tương tự (I). Sau đó chúng tôi cố gắng diễn đạt nội dung của ý niệm hiệp thông, một ý niệm rất phong phú về ý nghĩa (II). Kế đến, dựa vào các văn kiện của Huấn Quyền, chúng tôi nêu ra những đặc điểm về công giáo tính của Giáo Hội để từ đó xác định những tương quan tốt đẹp giữa Giáo Hội toàn cầu và các Giáo Hội địa phương (III). Cuối cùng, chúng tôi tìm cách làm sáng tỏ những đặc tính cá nhân và những đặc tính cộng đoàn trong mầu nhiệm hiệp thông của Giáo Hội (IV).

admin
11-07-2006, 08:22 AM
I. Phạm vi rộng rãi của khoa Giáo Hội học hiệp thông (koinonia)

Ý niệm hiệp thông là ý niệm nằm ngay trung tâm điểm những nhận thức của Giáo Hội về chính mình. Khoa Giáo Hội học đã biến chuyển rất nhiều và ý niệm hiệp thông đã dần dần được đưa vào trọng tâm của nhận thức mà Giáo Hội có về chính mình. Ý niệm ấy hết sức quan trọng về mặt giáo lý, mục vụ và đại kết. Nó rất thích hợp để diễn tả bản chất thâm sâu về mầu nhiệm Giáo Hội. Nó cũng là chìa khóa giúp ta canh tân khoa Giáo Hội học của đạo Công giáo. Hai mươi năm sau khi Công Ðồng bế mạc, Thượng Hội Ðồng Giám Mục đã xác nhận Giáo Hội hiệp thông là ý tưởng chủ yếu và căn bản của các văn kiện Công Ðồng. "Koinonia" (hiệp thông) - dựa trên Thánh Kinh - đã được đề cao đặc biệt trong Giáo Hội sơ khai, và trong các Giáo Hội Ðông Phương từ xưa đến nay. Bởi thế, Công Ðồng Vatican II đã nỗ lực làm cho mọi người ý thức rõ ràng hơn Giáo Hội là hiệp thông, và làm cho ý niệm ấy được diễn tả trong cuộc sống một cách cụ thể hơn... Thực ra, ý niệm hiệp thông đã diễn đạt thành công tính duy nhất và tính đa dạng của Giáo Hội Công Giáo, những quan hệ giữa Giáo Hội Công Giáo với các Giáo Hội Ðông Phương, tính tập đoàn của các Giám mục, sự tham gia và trách nhiệm của người giáo dân trong Giáo Hội, bản sắc, sứ mạng và việc đào tạo các linh mục. Ý niệm hiệp thông cũng giúp ta kiện toàn những quan hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Kitô khác.

Ý niệm hiệp thông diễn tả được tính duy nhất và đa dạng của Giáo Hội - vốn không phải là một vấn đề dễ dàng. Nhờ ý niệm hiệp thông này, những tương quan chặt chẽ giữa các thành phần trong Nhiệm Thể sẽ được đề cao. Cũng nhờ ý niệm hiệp thông này, các tương quan giữa vị thế tối thượng của Ðức Giáo Hoàng và tập đoàn tính của các giám mục ( gồm cả Ðức Giáo Hoàng) sẽ được sáng tỏ hơn về mặt thần học. Ở cấp Giáo hội địa phương (cấp giáo phận), khi sử dụng ý niệm hiệp thông, các tương quan giữa linh mục và giám mục, cũng như giữa linh mục đoàn và giám mục đoàn sẽ được giải thích thỏa đáng hơn.

Trong lãnh vực truyền giáo và đại kết, ta sẽ hiểu sâu xa hơn bản chất việc truyền giáo vốn phát xuất từ chính bản chất của người tín hữu Chúa Kitô khi hiệp thông với Ba Ngôi trong Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. Cũng thế, việc đại kết sẽ trở thành một nhân tố thiết yếu để sống hiệp thông trong sự duy nhất của Giáo Hội Chúa Kitô, Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.

Tóm lại, kể từ Công Ðồng Vatican II, trong hầu hết các văn kiện quan trọng của các Thượng Hội Ðồng Giám Mục, của các Ðức Giáo Hoàng và các Thánh Bộ, ta đều thấy ý niệm hiệp thông được sử dụng ngày càng nhiều hơn. Ý niệm ấy trở thành phương tiện để diễn tả bản chất, sự sống, và sứ mạng của Giáo Hội. Nó cũng trở thành tiêu chuẩn để giải quyết các tương quan giữa các thành phần trong Giáo Hội , giữa các Giáo Hội Kitô giáo với nhau. Khoa Giáo Hội học hiệp thông quả là có tầm quan trọng về mặt giáo lý, mục vụ và đại kết như thư của Thánh Bộ Giáo Lý và Ðức Tin gởi các Giám mục Công Giáo đã ghi nhận.

Ðể tóm lược đoạn I này, ta có thể đọc tài liệu chuẩn bị Thượng Hội Ðồng Giám Mục năm 1994 "Instrumentum Laboris", về đời sống thánh hiến:

Trong những thập niên gần đây, theo đường lối của Công Ðồng Vatican II, Giáo Hội đã đào sâu bản chất và sứ mạng của mình dựa vào khoa Giáo Hội học hiệp thông , để càng ngày càng hiểu sâu hơn về mầu nhiệm của mình - một mầu nhiệm bắt nguồn sâu xa trong Thiên Chúa Ba ngôi và trong bản tính của mình, vốn là dấu chỉ biểu thị, và là khí cụ thực hiện sự kết hợp mật thiết của con người với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của loài người (GH 1). Nhờ cách nhìn này và qua các Thượng Hội Ðồng Giám Mục gần đây, người ta đã hiểu rõ hơn ơn gọi và sứ mạng của giáo dân (1987), bản tính và sứ mạng của linh mục cũng như việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay (1990), như các Tông Huấn Christifideles Laici và Pastores Dabo Vobis đã cho thấy. Hiện nay, khoa Giáo Hội học hiệp thông đã giúp người ta suy nghĩ sâu xa hơn về đời tu trong Giáo Hội (...). Vả lại, không thể nào hiểu được và sống được đời tu nếu đời tu không bắt nguồn từ mầu nhiệm Giáo Hội, từ sự hiệp thông và sứ mạng của Giáo Hội.

admin
11-07-2006, 08:27 AM
II. Ý niệm hiệp thông (koinonia) trong Giáo Hội và nền tảng của ý niệm ấy.

Nếu hiểu Giáo Hội là hiệp thông, khoa Giáo Hội học sẽ đầy triễn vọng và tuy khoa Giáo Hội học hiệp thông đã đem lại cho ta rất nhiều ánh sáng để hiểu được bản chất Giáo Hội, thì cũng không tránh khỏi tình trạng có một số quan điểm thiếu sót về Giáo Hội,- xét theo mầu nhiệm hiệp thông ... bởi vì ý niệm hiệp thông này đang thay đổi . Mỗi người, tùy theo sức mình nên góp phần làm sáng tỏ ý niệm rất quan trọng này. Ðây không phải là một ý niệm do một nhà thần học nào đó bày vẻ ra, nhưng phát xuất từ chính đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên và của Giáo Hội. Ðây là một ý niệm của Thánh Kinh và của các Giáo Phụ. Mọi nỗ lực minh định ý niệm này, dù lớn hay nhỏ, đều phải được xây dựng trên nền tảng Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền.

1. Giáo Hội được mặc khải là thực tại hiệp thông:

Chữ "Ekklesia" (Giáo Hội) được dùng trong Kinh Thánh, đặc biệt trong sách Công Vụ Tông Ðồ, để chỉ cộng đoàn những người được cứu độ (x. Cv 2,38-40), là những người lãnh nhận quyền năng Thánh Thần, đón nhận chứng tá các tông đồ mà gắn bó với nhau trở thành một cộng đoàn hiệp thông rất độc đáo, (trong tình liên đới, hiệp thông, cầu nguyện, đức tin và chia sẻ) như sách Công Vụ Tông Ðồ đã ghi lại (x. Cv 2,42-47; 4,32-35; 5,12-16) . Cộng đoàn sơ khai được mô tả trong sách Công Vụ Tông Ðồ sở dĩ thành hình là nhờ đón nhận giáo lý tông truyền, nhờ lãnh nhận Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần và nhờ gắn bó với các tông đồ là những người duy nhất có thể làm chứng cho cái chết và sự phục sinh của Ðấng đã được Thiên Chúa đặt làm Chúa Tể và làm Ðấng Kitô, và đó cũng là những người duy nhất quả quyết thời cuối cùng sẽ đến. Như thế, Giáo Hội sơ khai là hiệp thông mà Thần Khí Chúa Kitô là mối liên kết sâu xa vô hình, và nhóm tông đồ chứng nhân là mối liên kết hữu hình. Toàn thể cộng đoàn đều đặt hy vọng vào thời cánh chung. Cộng đoàn ấy sống cuộc đời mới siêng năng nghe lời các tông đồ dạy, siêng năng hiệp thông huynh đệ, siêng năng bẻ bánh và cầu nguyện.

Lắng nghe giáo huấn các tông đồ, hiệp thông huynh đệ và thờ phụng Chúa, đó là những yếu tố làm nên đời sống cộng đoàn. Việc thờ phượng này bao gồm nghi thức bẻ bánh, tức bí tích Thánh Thể và đọc kinh cầu nguyện. Sách Công Vụ Tông Ðồ đã lý tưởng hóa sự đoàn kết, sự đồng tâm nhất trí, mối hiệp thông huynh đệ, góp của dùng chung, coi đó như những đặc điểm của cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi. Kể từ đó, cộng đoàn này đã trở thành gương mẫu cho mọi tín hữu và các Giáo Hội.

Giáo Hội của Chúa ngày một đông lên mà không bị phân chia. Thật vậy, tuy sách Công Vụ Tông Ðồ, các thư của Phaolô, sách Khải Huyền đã nói đến các Giáo Hội ở số nhiều và Giáo Hội ở số ít, nhưng chưa bao giờ các tác giả ấy làm cho chúng ta nghĩ rằng Giáo Hội ở ʰhêsô hay Giáo Hội của Chúa ở Côrintô chỉ là một phần của Giáo Hội, hoặc Giáo Hội ở Syria và Giáo Hội ở Silicia hay ở Makêđônia hợp lại sẽ có Giáo Hội tính nhiều hơn Giáo Hội ở Antiôkia. Sở dĩ các Giáo Hội ngày càng đông lên mà không hề làm cho Giáo Hội của Chúa mất đi tính duy nhất và công giáo là nhờ có sự hiệp thông. Vì Giáo Hội duy nhất của Thiên Chúa không phải là tổng số các Giáo Hội; mà mỗi Giáo hội địa phương cũng không hề thấp kém hơn Giáo Hội của Chúa bởi thiếu một yếu tố cơ bản nào đó của Giáo Hội Chúa. Giáo Hội của Chúa là Hiệp thông của mọi hiệp thông.

Các Tông Ðồ và các người kế vị các ngài cũng như mọi tín hữu đều nỗ lực thi hành lệnh của Chúa khi loan báo Tin Mừng cứu độ cho hết mọi thụ tạo để tất cả qui tụ thành một gia đình duy nhất, một dân duy nhất trong đó mọi thành phần đều sống hiệp nhất với nhau nhờ Chúa Thánh Thần và trong Chúa Kitô. Ta có thể tóm tắt ơn cứu độ ấy bằng một từ: "hiệp thông". Sự hiệp thông này - đã được thánh Phaolô giảng dạy rất minh bạch - được thể hiện cao nhất khi ta hiệp thông với Thân Thể Chúa Kitô. Giáo lý về Nhiệm Thể Chúa Kitô trong các thư Phaolô chắc hẳn được xây dựng dựa trên dụ ngôn cây nho, là Chúa Giêsu- Kitô, như thánh Gioan đã thuật lại trong Tin Mừng của ngài. Lời nguyện tư tế của Chúa Giêsu- Kitô trong bữa tiệc ly giúp ta hiểu dụ ngôn này một cách sâu xa hơn.

admin
11-07-2006, 08:29 AM
2. Công Ðồng Vatican II và Huấn Quyền nói gì về hiệp thông?

Bốn Hiến Chế và một số sắc lệnh Công Ðồng Vatican II, cho ta dễ dàng nhận thấy rằng, các nghị phụ đề cao ý niệm hiệp thông đến nỗi sau Công Ðồng, Ðức Gioan-Phaolô II đã phải viết trong Tông huấn Christifideles Laici rằng: Ðó chính là ý tưởng chủ yếu mà trong Công Ðồng Vatican II, Giáo Hội đã đề cao trở lại để tự định nghĩa về mình. 20 năm sau khi bế mạc Công Ðồng, Thượng Hội Ðồng bất thường năm 1985 đã nhắc lại: "Giáo Hội học hiệp thông là ý niệm chủ yếu và căn bản của các văn kiện Công Ðồng."

Ðức Phaolô VI nói rằng:

Giáo Hội là hiệp thông. Nhưng hiệp thông nghĩa là gì? Xin mời quí vị quay về với đoạn sách giáo lý nói tới sự hiệp thông của các thánh. Giáo Hội là sự hiệp thông của các thánh. Hiệp thông của các thánh có nghĩa là tham gia một cách sống động vào hai điều: một là các Kitô hữu tháp nhập vào sự sống của Chúa Kitô, hai là Ðức Ái lưu chuyển trong cộng đoàn các tín hữu ở trần thế này và ở thế giới bên kia.

Vì thế, Giáo Hội là nơi các tín hữu cùng thông phần vào những thiện ích, những điều thánh thiện là các nhiệm tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, và là nơi họ hiệp thông với các thành phần khác của Giáo Hội trên trần gian, trong luyện ngục và trên Thiên Ðàng.

Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã định nghĩa một cách rất khúc chiết thế nào là hiệp thông (koinonia): hiệp thông là mầu nhiệm kết hợp mỗi cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi và với người khác; sự kết hợp này bắt đầu bằng đức tin của mỗi người và hướng đến ngày viên mãn trong Giáo Hội Thiên Quốc, nhưng hiện nay là một thực tại đang nảy mầm trong Giáo Hội trần gian (x, Pl 3,20-21; Cl 3,1-4; GH 48). Ta thấy định nghĩa này nhấn mạnh đặc biệt tới tính cách riêng tư của mỗi người trong hiệp thông và tính cách cánh chung của Giáo Hội xét như là hiệp thông. Chúng ta sẽ triển khai điều này ở (phần IV) cuối chương này.

Còn Ðức Gioan-Phaolô II nói gì? Trong Tông Huấn Pastorem Dabo Vobis ban hành sau Thượng Hội Ðồng Giám Mục (1992), ngài viết Tông huấn Chistifideles Laici đã tổng hợp giáo huấn của Công Ðồng, trình bày Giáo Hội như một mầu nhiệm, một sự hiệp thông và một sứ mạng. Như vậy, ta phải lưu ý đặc biệt tới tông huấn Christifideles Laici sau Thượng Hội Ðồng Giám Mục, nhưng vẫn không quên lấy lời giải thích trong lá thơ Bộ Giáo Lý Ðức Tin gởi các Giám Mục Công Giáo nói về sự hiệp thông của Giáo Hội để bổ túc Tông Huấn ấy.

Hiệp thông là gì? Ðức Gioan-Phaolô II định nghĩa như sau: Từ ngữ phức tạp ấy có nghĩa gì? Một cách cơ bản, đó là sự kết hợp với Thiên Chúa qua trung gian Chúa Giêsu-Kitô trong Chúa Thánh Thần. Ta có được sự hiệp thông này là nhờ Lời Chúa và các bí tích. Bí tích Rửa Tội là cửa và là nền tảng cho ta hiệp thông trong Giáo Hội. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của toàn thể đời sống Kitô hữu (x. GH 11). Hiệp thông với Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể là biểu thị và xây dựng sự hiệp thông sâu xa với mọi tín hữu trong Thân Thể Chúa Kitô, tức Giáo Hội (1 Cr 10,16).

Chúng ta là chi thể của cùng một Thân Thể: Ðức Gioan-Phaolô II rất chuộng hình ảnh cây nho, nhận xét rằng, Công Ðồng đã đưa ta chiêm ngắm mầu nhiệm Giáo Hội bằng rất nhiều hình ảnh Thánh Kinh, những hình ảnh ấy cho thấy rõ bản chất Giáo Hội hiệp thông trong các chiều kích bất khả phân: hiệp thông giữa các Kitô hữu với Chúa Kitô và hiệp thông giữa các tín hữu với nhau. Trong số các hình ảnh Thánh Kinh ấy, Công Ðồng đặc biệt khai triển hình ảnh Nhiệm Thể Chúa Kitô và Dân Thiên Chúa. Hình ảnh Nhiệm Thể - một hình ảnh rất được ưa chuộng trong các thư Thánh Phaolô - rất thích hợp để diễn tả sự kết hợp thân mật giữa các Kitô hữu với Thiên Chúa, sự kết hợp giữa các Kitô hữu với nhau và sự đa dạng của các chi thể trong một thân thể duy nhất. Sự hiệp thông Giáo Hội được trình bày... như một sự hiệp thông hữu cơ, gần giống như hiệp thông của một thân thể sống động. Thật vậy, đặc điểm của sự hiệp thông này là cùng một lúc có rất nhiều ơn gọi và hoàn cảnh sống, các tác vụ, đặc sủng và trách nhiệm khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. Như vậy, sự đa dạng của các chi thể trong một thân thể không phương hại đến tính duy nhất của thân thể. Ngược lại, nhờ sự đa dạng và sự bổ túc của mỗi chi thể trong Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô, mà tương quan với toàn thân thể được thiết lập.

admin
11-07-2006, 08:32 AM
Chúng ta là các chi thể của một dân tộc mới: Thực tại Giáo-Hội-hiệp-thông được coi là nội dung của "Mầu nhiệm", tức là ý định cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa. Thiên Chúa không muốn loài người lãnh nhận riêng rẽ sự thánh hóa và ơn cứu độ, ngoài mọi liên đới hỗ tương. Ngược lại, Ngài muốn biến họ thành một dân tộc nhận biết Ngài trong sự sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện. Ý định nhiệm mầu muôn đời của Thiên Chúa được thực hiện khi thời gian viên mãn. Hữu hình và vô hình mật thiết kết hợp với nhau trong thực tại Giáo-Hội - hiệp-thông. Vì thế, sự hiệp thông trong Giáo Hội không thể hiểu trọn vẹn nếu ta chỉ nhìn thấy đó là một thực tại đơn thuần mang tính xã hội và tâm lý học. Bởi lẽ Giáo-Hội - hiệp-thông là một Dân mới, có đặc tính thiên sai, ngôn sứ và tư tế, được Chúa Kitô thiết lập thông truyền sự sống, đức ái và sự thật. Ðức Giáo Hoàng đã trích dẫn bảng tóm lược tuyệt vời của học thuyết Giáo-Hội - hiệp-thông trong Hiến chế Ánh sáng muôn dân: Một cách nào đó trong Chúa Kitô, Giáo Hội là nhiệm tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ vừa là phương tiện của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.

Bí tích Thánh Thể biểu thị và thực hiện sự hiệp thông: Chúng ta sẽ dành trọn một chương (x. chương 5) cho vấn đề này. Chúng tôi xin lưu ý ngay hai điểm sau đây: 1. Bí tích Thánh Thể là nguyên lý hữu hình cho tính duy nhất của Giáo Hội: Vì Mình Thánh Chúa trong Bí tích Thánh Thể thì duy nhất và bất khả phân, nên Thân Thể mầu nhiệm của Ngài là Hội Thánh cũng duy nhất và bất khả phân. 2. Vì thế, Chức vụ của Phêrô, là nền tảng cho sự hiệp nhất của Giám Mục đoàn và cho sự hiệp nhất của Giáo Hội hoàn vũ, có tương quan sâu xa với Bí tích Thánh Thể trong Giáo Hội.
Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp nhất: Ðức Gioan-Phaolô II viết: Duy nhất một Thánh Thần, và luôn luôn cũng một Thánh Thần đó, là nguyên lý năng động cho sự đa dạng và hiệp nhất trong Hội Thánh và của Hội Thánh. Và Ngài trích dẫn Công Ðồng: Chúa Thánh Thần ngự trị trong Giáo Hội, trong tâm hồn các tín hữu, như trong đền thờ (x. 1 Cr 3,16; 6,19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận tư cách làm dưỡng tử của họ (x. Gl 4,6; Rm 8,15-16,26). Ngài dẫn đưa Giáo Hội vào sự thật toàn vẹn (Ga 16,13) và bảo đảm cho Giáo Hội có được tính duy nhất trong hiệp thông và phục vụ, Ngài xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ơn khác nhau theo phẩm trật và đặc sủng, Ngài trang điểm Giáo Hội bằng hoa trái của Ngài (x. Ep 4,11-12; 1 Cr 12,4; Gl 5,22). Nhờ sức mạnh của Tin Mừng, Ngài làm tươi trẻ, không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo Hội đến kết hiệp hoàn toàn với Phu Quân của mình. Thực vậy, Chúa Thánh Thần và Hiền Thê nói với Chúa Giêsu rằng: "Xin hãy đến" (x. Kh 22,17)(GH 4).

Một cách cụ thể, Chúa Thánh Thần làm gì để tạo nên sự hiệp nhất trong hiệp thông? Chính Ðức Ái là mối giây hiệp nhất trong hiệp thông giữa các cá nhân hoặc giữa các giáo hội với nhau. Bởi vì, trên tất cả, Ðức Ái là mối dây của sự toàn thiện (Cl 3,14). Tuy nhiên, sự hiệp nhất của Giáo Hội lữ hành cũng được bảo đảm bằng mối dây liên kết hữu hình của hiệp thông:

- qua việc cùng tuyên xưng một đức tin duy nhất lãnh nhận được từ các tông đồ.
- qua việc cùng cử hành phụng vụ thánh, nhất là các nhiệm tích.
- qua việc tiếp nối các tông đồ bằng bí tích truyền chức, mà hiện nay là sự nhất trí huynh đệ của gia đình Thiên Chúa.

Khuôn mẫu, nguồn mạch và cứu cánh của sự hiệp thông giữa các tín hữu: Ðức Gioan-Phaolô II khẳng định rằng: Sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong ân sủng của Chúa Thánh Thần là khuôn mẫu, nguồn mạch và là cứu cánh của sự hiệp thông giữa Chúa Giêsu và các tín hữu: Khi kết hợp với Chúa Con trong mối giây tình yêu là Thánh Thần thì các tín hữu cũng được kết hợp với Chúa Cha. Sự hiệp thông giữa các tín hữu với nhau nhất thiết bắt nguồn từ sự hiệp thông của họ với Chúa Giêsu-Kitô. Về sự hiệp nhất và nguồn gốc của Giáo Hội với tư cách là Dân Thiên Chúa, tông huấn Christifideles Laici cũng như Công Ðồng đã lập lại câu nói rất nổi tiếng của thánh Cyprianô: Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất bắt nguồn từ sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

admin
11-07-2006, 08:33 AM
3. Hiệp thông và sứ mệnh.

Hai ý niệm hiệp thông và sứ mệnh liên quan với nhau mật thiết để mô tả một thực tại. Lời mời gọi chia sẻ đời sống thần linh là một ân huệ hoàn toàn nhưng không do Thiên Chúa ban, tức là hồng ân trọng đại hiệp thông trong Giáo Hội, phản ánh trong thời gian sự hiệp thông trong tình yêu khôn tả ngàn đời của Thiên Chúa Ba Ngôi Duy Nhất. Một ý định đầy yêu thương như thế quả là nhiệm mầu và vĩnh cửu, công trình sáng tạo được thực hiện chính vì ý định ấy. Nói cách khác, Thiên Chúa Tình Yêu đã tạo dựng vũ trụ và loài người vì Ngài muốn chia sẻ sự sống ấy qua hiệp thông. Nhưng để có thể hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, con người phải kết hiệp với Chúa Kitô qua đức tin và bí tích Rửa Tội. Sự kết hợp này được thực hiện ở mức độ cao nhất trong bí tích Thánh Thể, khi con người rước lấy Thân Thể thật của Chúa Kitô vào lòng để thật sự trở nên chi thể của Thân Thể ấy. Sự kết hợp với Thân Thể Chúa Kitô cho phép con người sống chính sự sống của Chúa Kitô và đương nhiên chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Sự hiệp thông với Chúa Giêsu, là nguồn phát sinh hiệp thông giữa các tín hữu với nhau, và là điều rất cần thiết để sinh hoa kết trái. Và hoa trái cao quí nhất của sự hiệp thông lại chính là sự hiệp thông. Tại sao thế? Là vì hiệp thông lại phát sinh hiệp thông. Như vậy, sự hiệp thông nhất thiết phải được hiểu là hiệp thông trong sứ mệnh: Hiệp thông và sứ mệnh kết hiệp với nhau khắng khít, hòa lẫn và liên hệ với nhau ở chính điểm sự hiệp thông được coi như vừa là nguồn mạch vừa là kết quả của sứ mệnh: Sự hiệp thông có đặc tính là sứ mệnh, và có sứ mệnh là để hiệp thông. Mục đích của sứ mệnh là làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" đã đi vào lịch sử thế giới nhờ Con Thiên Chúa làm Người.

Ðại kết là một khía cạnh không được bỏ qua trong sứ mệnh. Nếu mục đích của sứ mệnh là qui tụ mọi người trong bí tích cứu độ duy nhất là Giáo Hội Chúa Kitô, thì việc bảo vệ và thăng tiến sự hiệp nhất trong Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô là một phần của sứ mệnh phát xuất từ chính bản chất của Giáo Hội là Mầu nhiệm-hiệp thông-sứ mệnh.

Như thế, không thể hiểu một cách đúng đắn ý niệm hiệp thông mà không cần đến ý niệm mầu nhiệm và sứ mệnh. Vì Giáo Hội là một thực tại duy nhất, Mầu nhiệm-hiệp thông-sứ mệnh.

admin
11-07-2006, 08:35 AM
4. Một vài xác định để có quan điểm Kitô giáo đúng đắn về hiệp thông


Sự hiệp thông trong Giáo Hội là một hồng ân Thiên Chúa. Nó không phải là một đòi hỏi thuộc bản tính con người, cũng không phải là một cấu trúc con người theo kiểu Platon luôn luôn tìm kiếm hạnh phúc. Trong chương 2 của tập nghiên cứu này, chúng tôi sẽ minh chứng rằng kể từ khi được tạo dựng, con người đã được Thiên Chúa mời gọi sống hiệp thông. Một cách nào đó, trong lời mời gọi này, đã có sự tiền định mà Tạo Hóa đã đặt trong tâm hồn con người khi tạo dựng nó để chuẩn bị cho nó lãnh nhận ơn hiệp thông của Ngài. Nhưng rõ ràng những thiên hướng ấy không nhất thiết phải có để Thiên Chúa tự nhiên và tất yếu phải ban hồng ân ấy cho con người. Hồng ân ấy chỉ là kết quả sáng kiến của Thiên Chúa được thực hiện trong mầu nhiệm Phục sinh một hồng ân lớn lao của Chúa Thánh Thần, một hồng ân hoàn toàn nhưng không mà con người nhận lãnh với lòng biết ơn và sau đó, có sứ mạng và trách nhiệm chia sẻ hồng ân ấy cho anh chị em mình.

Chúng ta phải hiểu sự hiệp thông trong Giáo Hội theo giáo huấn của Thánh Kinh và của các Giáo Phụ. Chúng ta vừa nói rằng sự hiệp thông là một hồng ân Thiên Chúa ban, là kết quả sáng kiến của Thiên Chúa. Vì thế, nếu Thiên Chúa không mặc khải cho chúng ta, thì chúng ta không thể hiểu được sự hiệp thông ấy. Chính vì thế, khi tìm hiểu Kinh Thánh, ta dần dần khám phá ra nội dung của một ý niệm có khả năng giải thích một cách thích đáng sự sống mầu nhiệm và ý định yêu thương của Thiên Chúa đã được dấu ẩn từ đời đời và đã được mặc khải vào thời viên mãn. Chính Chúa Giêsu-Kitô đã thực hiện ý định ấy của Thiên Chúa trong lịch sử nhờ hy tế của Ngài trên thập giá, một lần hiến tế thay cho muôn lần. Giáo Hội vừa là bí tích vừa là dấu chỉ của công trình cứu độ của Chúa Kitô, được áp dụng cho mọi thời đại và cho mọi người cho đến ngày Chúa quang lâm. Việc nghiên cứu đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai qua các bút tích của các Giáo Phụ cũng là một việc làm rất quan trọng để hiểu được ý nghĩa hiệp thông.

Hai chiều kích hiệp thông: Nhờ công trình cứu độ của Chúa Kitô, con người được tái sinh và được nâng lên hàng dưỡng tử của Thiên Chúa và đồng thừa tự với Chúa Kitô. Như vậy, tương quan giữa con người với Thiên Chúa hoàn toàn mới. Do Chúa Kitô thiết lập, được thông ban qua các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể, những tương quan mới với Thiên Chúa, tự bản chất, bao hàm những tương quan mới giữa con người với nhau, như Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã viết: Sự hiệp thông luôn luôn bao hàm hai chiều: chiều dọc (sự hiệp thông với Thiên Chúa) và chiều ngang (sự hiệp thông giữa con người với nhau). Nếu phải dùng từ ngữ để diễn tả nguồn linh hứng căn bản cho cách hành xử của người Kitô hữu, chúng ta phải nói đến từ "hiệp thông" - hiệp thông với Thiên Chúa và tha nhân trong đức tin, đức ái, đức cậy ... Vì thế, chính Thiên Chúa và tha nhân đã đem lại những yếu tố cần thiết cho sự hiện hữu của người tín hữu Kitô. Sự hiện hữu của người tín hữu Kitô cũng chính là sự hiện hữu của Hội Thánh. Ðây là một xác nhận căn bản. Như thế, con người sống kết hợp không chỉ với Thiên Chúa hay với tha nhân mà phải sống một thực tại duy nhất là hiệp thông với Thiên Chúa va tha nhân.

Tính duy nhất và đa dạng không đối kháng nhau... Khi hiệp thông với Thân Thể Chúa Kitô qua bí tích, nhờ Chúa Thánh Thần, để hình thành một Thân Thể mầu nhiệm duy nhất của Chúa Kitô là Giáo Hội, con người không trở thành những cá thể giống nhau, mà là những con người cá biệt khác nhau. Ðó là những dị biệt về tuổi tác, về khả năng thể lý và tinh thần, khả năng trí tuệ và luân lý, về văn hóa và điều kiện xã hội, vv... Những dị biệt ấy không phải là chướng ngại vật cho sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà trái lại còn làm cho sự hiệp thông ấy phong phú hơn. Bởi vì sự dị biệt, thật ra, đã hàm chứa trong sự hiệp thông.

Ðối với các Giáo Hội cũng vậy. Ðức Gioan-Phaolô II dạy rằng: Tính phổ quát của Giáo Hội vừa có sự hiệp nhất vững chắc nhất vừa có tính phức tạp và đa dạng. Tính phức tạp và đa dạng ấy không gây trở ngại cho sự hiệp nhất, nhưng ngược lại khiến cho Giáo Hội mang đặc tính "hiệp thông". Sự phức tạp mà Ðức Giáo Hoàng muốn nói đến hoặc là tính đa dạng của các thừa tác, các đặc sủng, các bậc sống và công việc tông đồ khác nhau bên trong nội bộ của các giáo hội địa phương, hoặc là tính đa dạng của các truyền thống phụng vụ và văn hóa của các giáo hội địa phương khác nhau. Như thế, sự hiệp thông trong Giáo Hội phổ quát và trong các Giáo Hội địa phương là sự hiệp nhất trong đa dạng.

Công Ðồng Vatican II dạy rằng Giáo Hội là mầu nhiệm, và một cách nào đó tương tự như sự Nhập Thể của Ðức Kitô, bởi vì trong Giáo Hội khía cạnh hữu hình và vô hình kết hợp với nhau. Hơn thế nữa, Giáo Hội là bí tích hiệp nhất của nhân loại. Vì thế, bí tích ấy phải bảo vệ tính bí tích của Giáo Hội và sự hiệp nhất của các Kitô hữu.

Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin viết: Vì thế, ý niệm hiệp thông phải có khả năng diễn tả bản chất bí tích của Giáo Hội khi "chúng ta còn sống lưu đày cách xa Chúa", và diễn tả sự hiệp nhất cá biệt khiến các Kitô hữu thành chi thể trong cùng một thân thể, là Thân Thể mầu nhiệm Chúa Kitô, thành cộng đoàn có tổ chức, thành một "dân tộc được qui tụ trong sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần", và hơn nữa được ban những phương tiện để kết thành một xã hội hữu hình (LG 93).

Bản chất bí tích của Giáo Hội được diễn tả vì sự hiệp thông vừa vô hình vừa hữu hình. Trong thực tại vô hình, sự hiệp thông trong Giáo Hội là sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa Ba Ngôi duy nhất và giữa con người với nhau, với tư cách là những người đồng tham dự vào bản tính Thiên Chúa, trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, trong cùng một niềm tin, trong cùng một Chúa Thánh Thần. Trong thực tại hữu hình, sự hiệp thông của Giáo Hội được thực hiện qua sự gắn bó với giáo lý của các tông đồ, với các bí tích và với hàng giáo phẩm. Tương quan giữa các yếu tố vô hình và hữu hình của sự hiệp thông trong Giáo Hội mật thiết với nhau đến nỗi chúng tạo thành một thực tại duy nhất. Chúa Kitô đã thực thi sứ mệnh ngôn sứ, thượng tế và vương giả của Ngài qua các yếu tố hữu hình và bằng nhiều cách thức khác nhau. Vì thế, Giáo Hội là bí tích của sự cứu độ phổ quát.

Giáo Hội được sai đi để loan báo, làm chứng, hiện tại hóa và phân phát Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi người, qui tụ tất cả mọi sự và mọi người trong Chúa Kitô. Sứ mạng của Chúa Kitô có tính phổ quát, do đó, sứ mạng của Ngài đã trở thành bí tích hiệp nhất cho mọi người. Chính trong Giáo Hội và qua Giáo Hội, một cách cụ thể qua bí tích Rửa Tội và nhất là bí tích Thánh Thể do Giáo Hội cử hành, con người trở thành chi thể của Thân Thể Chúa Kitô. Là chi thể của một thân thể duy nhất của Chúa Kitô nên các tín hữu tạo thành một cộng đoàn có tổ chức, thành một dân tộc "được qui tụ và được trao ban những phương tiện để kết thành một xã hội hữu hình."

Tóm lại, sự hiệp thông trong Giáo Hội phải diễn tả được bản chất của Giáo Hội là Dân Chúa, là Thân Thể của Chúa Kitô, và diễn tả được tính bí tích của Giáo Hội, nghĩa là diễn tả được những tương quan mật thiết giữa các yếu tố hữu hình và vô hình tạo thành Giáo Hội, một thực tại luôn luôn rộng mở trước công cuộc truyền giáo và đại kết đầy sinh động.

admin
11-07-2006, 08:37 AM
III. Công giáo tính của Giáo Hội và mối liên hệ giữa Giáo Hội hoàn vũ với các Giáo Hội địa phương

Ðể làm sáng tỏ ý niệm hiệp thông, chúng ta cần nghiên cứu các tương quan giữa Giáo Hội hoàn vũ với các Giáo Hội địa phương.

Trong Tông Huấn Christifideles Laici được ban hành sau Thượng Hội Ðồng Giám Mục, Ðức Gioan-Phaolô II viết: Giáo Hội địa phương không phải là kết quả sự phân mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, cũng không phải Giáo Hội hoàn vũ chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương. và ngài đã lập lại điều này trong Diễn văn của ngài cho các Giám Mục Hoa Kỳ: Không thể hiểu Giáo Hội hoàn vũ như là tổng số các Giáo Hội địa phương, hay như một liên hiệp các Giáo Hội địa phương. Trong thơ gởi cho các Giám Mục Công Giáo bàn về một vài khía cạnh hiệp thông trong Giáo Hội, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã tiếp nối tư tưởng của Ðức Gioan-Phaolô II. Thánh Bộ viết rằng Giáo Hội hoàn vũ không phải là kết quả do các Giáo Hội địa phương công nhận nhau, cũng không phải là kết quả do sự hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương.

Từ những điều "phủ định" trên đây, ta thấy ngay rằng có sự không am tường hay nói đúng hơn thiếu hiểu biết về ý niệm hiệp thông.

admin
11-07-2006, 08:37 AM
1. Vậy, Giáo Hội hoàn vũ hay phổ quát là gì?


Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô là Giáo Hội phổ quát mang nơi mình bốn thuộc tính bất khả phân: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Ðó là những đặc tính thiết yếu của Giáo Hội và sứ mạng Giáo Hội. Có thể nói Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội phổ quát chăng? Có, bởi vì chữ công giáo có nghĩa là phổ quát xét theo toàn thể tính hoặc theo toàn vẹn tính. Giáo Hội Công Giáo có hai nghĩa:

Giáo Hội là công giáo, bởi vì Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội. Nơi nào có Chúa Giêsu-Kitô hiện diện, thì nơi đó là Giáo Hội công giáo (Thánh Inhaxiô thành Antiôkia, Smyrn. 8,2). Trong Giáo Hội có sự hiện diện đầy đủ của Thân Thể Chúa Kitô được liên kết với Ðầu (x. Ep 1,22-23), điều đó bao hàm việc Giáo Hội lãnh nhận "từ Chúa Kitô đầy đủ các phương tiện cứu rỗi"(Ad Gentes 6) mà Ngài mong muốn, tức là việc tuyên xưng đức tin ngay lành và đầy đủ, đời sống bí tích trọn vẹn và việc lãnh các thánh chức liên tục từ các tông đồ. Với ý nghĩa nền tảng này, Giáo Hội đã là công giáo ngay từ ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. Ad Gentes 4) và Giáo Hội sẽ luôn là công giáo cho tới ngày Chúa quang lâm. Giáo Hội là công giáo bởi vì Giáo Hội được Chúa Kitô sai đi truyền giáo cho toàn thể nhân loại.

Nói tóm lại, Giáo Hội công giáo là Giáo Hội có Chúa Kitô hiện diện qua việc cử hành bí tích Thánh Thể, qua việc loan báo đầy đủ đức tin tông truyền, là Giáo Hội có đầy đủ mọi phương tiện cứu rỗi để tiếp nối các tông đồ, là Giáo Hội được sai đến cho mọi dân tộc để nói cho tất cả mọi người, qua mọi thời đại, vì Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo.

admin
11-07-2006, 08:39 AM
2. Còn Giáo Hội địa phương là gì?


Giáo Hội địa phương (còn gọi là giáo phận hay tông toà) là một cộng đoàn Kitô hữu hiệp thông, trong đức tin và qua các bí tích, với giám mục của mình vốn được tấn phong để kế vị các tông đồ. Giáo Hội địa phương không phải là kết quả do sự phân mảnh của Giáo Hội phổ quát. Các Giáo Hội địa phương được hình thành theo hình ảnh của Giáo Hội phổ quát; chính trong và từ các Giáo Hội địa phương mới có Giáo Hội Công Giáo duy nhất.

Giáo Hội địa phương có phải là công giáo không? Phải, Giáo Hội địa phương cũng là công giáo, vì Giáo Hội phổ quát luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội địa phương với đầy đủ mọi yếu tố cần thiết.


Giáo Hội Chúa Kitô thật sự hiện diện trong các cộng đoàn tín hữu địa phương hợp pháp. Các cộng đoàn ấy, nhờ hiệp nhất với chủ chăn mình, cũng được gọi là Giáo Hội trong Tân Ước... Trong các Giáo Hội địa phương, vì nghe rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô, các tín hữu qui tụ lại với nhau, và mầu nhiệm Bữa Tiệc của Chúa được cử hành... Chúa Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn này, dù bé nhỏ nghèo hèn hay tản mác khắp nơi, nhờ những yếu tố đã làm cho Giáo Hội thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (LG 26). Giáo Hội địa phương thật sự là công giáo nhờ hiệp thông với Giáo Hội Rôma vốn "đứng đầu về Ðức Ái" (Thánh Inhaxiô thành Antiôkia, Rm 1,1)

3. Tương quan giữa Giáo Hội phổ quát và các Giáo Hội địa phương:


Giáo Hội phổ quát là thân thể của các Giáo Hội địa phương; Vì thế, ta cũng có thể áp dụng một cách tương tự ý niệm hiệp thông vào sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội địa phương, và như thế, ta cũng có thể hiểu Giáo Hội phổ quát là sự Hiệp Thông giữa các Giáo Hội địa phương. Nói rằng Giáo Hội địa phương cũng là công giáo, và nói chính trong và từ các Giáo Hội địa phương ấy mà có Giáo Hội Công Giáo duy nhất (x. LG 23), thì dường như khẳng định rằng mỗi Giáo Hội địa phương là một chủ thể tự mình đầy đủ, và do đó, Giáo Hội phổ quát sẽ là kết quả của việc các Giáo Hội địa phương nhìn nhận lẫn nhau.

Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin dựa trên giáo huấn của Công Ðồng Vatican II và của Ðức Gioan-Phaolô II, đã cho rằng cách hiểu ý niệm hiệp thông như thế là thiếu sót và phiến diện. Cách hiểu ấy không những làm nghèo đi ý niệm Giáo Hội phổ quát mà còn làm nghèo đi ý niệm Giáo Hội địa phương nữa. Các Giáo Hội địa phương như là thành phần của Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô một quan hệ tương tác đặc biệt với toàn thể, nghĩa là với toàn thể Giáo Hội phổ quát. Vì trong mỗi Giáo Hội địa phương thật sự có sự hiện diện và hoạt động của Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Chính vì thế, Giáo Hội địa phương không phải là kết quả do sự phân mảnh của Giáo Hội phổ quát và không thể hiểu Giáo Hội phổ quát là tổng số các Giáo Hội địa phương hay một liên hiệp các Giáo Hội địa phương.


Giáo Hội phổ quát cũng không phải là kết quả sự hiệp thông của các Giáo Hội địa phương, bởi vì theo các Giáo Phụ, Giáo Hội phổ quát có trước các Giáo Hội địa phương, và Giáo Hội phổ quát là Giáo Hội Mẹ đã khai sinh các Giáo Hội địa phương. Hơn thế nữa, vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô đã biểu lộ tính chất duy nhất của mình, bởi ngay từ lúc ấy, Giáo Hội đã nói mọi thứ tiếng, và sứ mạng của Giáo Hội là hướng về thế giới. Như thế, trong mầu nhiệm cơ bản, xét về mặt bản thể và thời gian, Giáo Hội phổ quát, là một thực tại có trước mọi Giáo Hội địa phương. Các Giáo Hội địa phương đã được khai sinh trong và từ Giáo Hội phổ quát, chính từ và trong Giáo Hội phổ quát, các Giáo Hội địa phương mới có tính Giáo Hội. Do đó, công thức của Công Ðồng Vatican II như sau: Giáo Hội hiện diện trong và từ các Giáo Hội địa phương (Ecclesia in et ex Ecclesiis) và các Giáo Hội địa phương hiện diện trong và từ Giáo Hội phổ quát (Ecclesiae in et ex Ecclesia), hai công thức ấy không thể tách rời nhau được.

Giáo Hội là mầu nhiệm được tạo thành từ các yếu tố: thần linh và phàm trần, nên tương quan giữa Giáo Hội phổ quát và các Giáo Hội địa phương là duy nhất về mặt chủng loại. Tương quan đó không thể so sánh được với tương quan giữa toàn thể và các thành phần trong mọi đoàn thể con người hoặc xã hội thuần túy nhân loại. Tương quan giữa Giáo Hội phổ quát và các Giáo Hội địa phương mang tính chất tương tác từ bên trong: Giáo Hội phổ quát và Giáo Hội địa phương là hai thực tại bất khả phân.

admin
11-07-2006, 08:40 AM
IV. Tính cách cá nhân và cộng đồng trong sự hiệp thông


Khi đề cập đến Giáo Hội dưới khía cạnh là Dân Thiên Chúa đang sống hiệp thông, là Thân Thể của Chúa Kitô trong đó mỗi Kitô hữu là một chi thể, ta có cảm tưởng rằng sự hiệp thông là một thực tại có tính cộng đồng trong đó mọi cá nhân hòa tan, biến mất hay ít ra là trở thành vô danh trước toàn thể. Vì thế, ta có thể tự hỏi, ai là chủ thể hiệp thông? Cộng đồng hay cá nhân?

Ðọc lướt qua các văn kiện của Công Ðồng Vatican II (như 4 hiến chế Lumen Gentium, Sacrosanctum Concilium, Dei Verbum, Gaudium et Spes, và các sắc lệnh như Unitatis Redintegratio, Ad Gentes, Presbyterorum ordinis), chúng ta có thể ghi nhận rằng, dưới nhiều hình thức và bằng nhiều cách khác nhau, Công Ðồng đã nhiều lần đề cập đến sự hiệp thông của Giáo Hội. Chúng ta cũng nhận thấy rằng chủ thể hiệp thông được nói đến ở số nhiều, chẳng hạn như qua các từ "chúng tôi" , "người ta", "các Kitô hữu", cho dù chủ thể đó được nói ở số ít cũng vẫn mang ý nghĩa tập thể, chẳng hạn như "con người", "tín hữu." Khía cạnh cá nhân dường như không được nhấn mạnh cho lắm. Tuy nhiên, các bản văn khác nhau nói về chủ thể hiệp thông chắc chắn cho phép chúng ta hiểu rằng khía cạnh cá nhân không bao giờ bị quên lãng. Cần phải hiểu sự hiệp thông tự bản chất là sự kết hợp bằng tình yêu, bằng nhận thức, và bằng sự chia sẻ thiện ích chung giữa các nhân vị tự do. Khuôn mẫu, nguồn gốc và nguồn mạch của hiệp thông là Thiên Chúa vừa là một vừa là ba. Thiên Chúa là sự hiệp thông với tư cách là ba ngôi vị. Nếu Thiên Chúa chỉ là một, chỉ có một ngôi vị duy nhất, thì Ngài không còn là Thiên Chúa của hiệp thông nữa.

Một cách đặc biệt, Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng cho thấy rõ khía cạnh cá nhân của hiệp thông trong mọi chiều kích. Hiến chế đã dành trọn một chương (Chương I, phần 2, từ số 11 đến 22) để triển khai phẩm giá con người. Con người đã được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, được Ngài ban cho trí tuệ và tự do để hiểu biết và yêu thương. Thật vậy, nhờ tình yêu và sự cứu chuộc, Chúa Kitô đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ. Chính nhờ sự mặc khải ấy, con người mới có thể nhận ra phẩm giá đích thực của mình.


Như Công Ðồng đã xác nhận, khía cạnh cao cả nhất của phẩm giá con người là việc con người được mời gọi kết hiệp với Thiên Chúa ngay từ khi lọt lòng mẹ, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa: thực thế, con người hiện hữu là do Thiên Chúa vì yêu thương mà tạo dựng nên, và cũng vì yêu thương mà Ngài luôn luôn gìn giữ bảo vệ con người; hơn nữa, con người chỉ sống hoàn toàn đúng với chân lý một khi tự mình nhìn nhận tình yêu ấy và phó mình cho Ðấng tạo thành mình.

Theo cách nhìn của Ðức Gioan XXIII, Ðức Phaolô VI, và của Công Ðồng Vatican II, con người không tự khép mình trong chủ nghĩa cá nhân mà mở rộng hướng đến tha nhân trong rất nhiều tương quan phát xuất từ chính bản tính mình và từ sự phát triển các tiến bộ kỹ thuật của xã hội. Công Ðồng còn dành trọn một chương nữa để triển khai đặc tính cộng đoàn của ơn gọi con người trong chương trình của Thiên Chúa để nhấn mạnh đến sự tôn trọng nhân phẩm con người. Tuy nhiên, một lần nữa, theo quan điểm của Công Ðồng, con người không sống đơn độc nhưng được kêu gọi sống với tha nhân. Cũng thế, Thiên Chúa tạo dựng con người không phải để sống đơn độc, nhưng để họ kết hợp với nhau thành xã hội. Cũng vậy, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ lại thành một dân tộc để họ nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện.


Tiếp nối tư tưởng của Công Ðồng, Ðức Gioan Phaolô II từ những trang đầu tiên trong Tông Huấn Christifideles Laici (trong đó Ngài tổng hợp học thuyết của Giáo Hội về sự hiệp thông) đã làm nổi bật tính chất thánh thiện của con người khi nhấn mạnh tới phẩm giá cá nhân của mỗi người. Phần ngài, ngài đã định nghĩa sự hiệp thông bằng cách lập lại những lời trong bản báo cáo cuối cùng của Thượng Hội Ðồng Giám Mục năm 1985, ngài không đề cập rõ ràng con người như là chủ thể hiệp thông, mà để chúng ta mặc nhiên hiểu ngầm điều đó: Vậy, từ "hiệp thông" phức tạp ấy có nghĩa gì? chính là sự kết hiệp với Thiên Chúa qua trung gian Chúa Giêsu-Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Ta có được sự hiệp thông ấy nhờ đón nhận Lời Chúa và các bí tích. Bí tích Rửa Tội là cửa và là nền tảng của hiệp thông trong Giáo Hội. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và là đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô hữu (x. LG 11). Sự hiệp thông với Thánh Thể Chúa Kitô biểu thị và phát sinh, hay nói cách khác, là xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Thể Chúa Kitô, tức là Giáo Hội (1 Cr 10,16). Trong bản văn này, chủ thể hiệp thông theo khía cạnh nhân loại là mọi Kitô hữu chứ không đặc biệt chú ý đến khía cạnh cá nhân của hiệp thông, nhưng ta cũng có thể hiểu chủ thể đó chính là mỗi Kitô hữu.

Trong thơ gửi cho các Giám Mục, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã nhấn mạnh nhiều tới khía cạnh cá nhân của hiệp thông. Chúng ta đọc thấy: Ý niệm hiệp thông phát xuất từ "chính sự tự nhận thức của Giáo Hội" như là mầu nhiệm hiệp nhất của mỗi người với Thiên Chúa Ba Ngôi và với tha nhân,... Sự hiệp thông của Giáo Hội là... sự hiệp thông của mỗi người với Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, và với tất cả mọi người, là những người cùng tham dự vào bản tính Thiên Chúa... Sự hiệp thông của Giáo Hội trong đó mỗi người được tháp nhập nhờ đức tin và Phép Rửa... Và cuối cùng ở số 10 ta đọc thấy: Mọi tín hữu , nhờ đức tin và Phép Rửa, được tháp nhập vào Giáo Hội... Trong số này, Thánh Bộ cũng cắt nghĩa rằng mỗi Kitô hữu được trực tiếp tháp nhập vào Giáo Hội phổ quát để không còn ai là xa lạ trong Giáo Hội nữa bởi vì sự hiệp thông tự bản chất là phổ quát.


Khi giải thích học thuyết của Công Ðồng Vatican II, sách GLGHCG đã giải thích rõ ràng và đầy đủ hơn khía cạnh cá nhân của sự hiệp thông trong Giáo Hội: sách giáo lý đã giải thích và nhấn mạnh rằng chủ thể hiệp thông chính là những con người riêng biệt. Tuy nhiên, sách giáo lý cũng không quên đặt chủ thể hiệp thông trong hai chiều kích: chiều dọc (với Thiên Chúa) và chiều ngang (với tha nhân). Tương quan giữa con người với con người tuy đa dạng nhưng lại gắn liền với bản tính nhân loại, và nền tảng của các tương quan ấy vẫn luôn luôn là con người. Con người có được nhân phẩm, quyền lợi và bổn phận là do được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài và được mời gọi hiệp thông với Ðấng tạo thành mình.

admin
11-07-2006, 08:40 AM
1. Phẩm giá nhân vị


Ý định nhân hậu của Thiên Chúa vĩnh cửu là tạo dựng con người và cho con người tham dự vào đời sống hạnh phúc của Ngài. Ước muốn của Thiên Chúa toàn năng luôn luôn trở thành hành động. Vì thế, con người đã được tạo dựng và được mời gọi tham dự sự hiệp thông ấy. Việc tạo dựng con người không phải là một việc tầm thường, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh của chính Thiên Chúa, Ðấng tạo thành mình. Chính vì thế, cá nhân con người có phẩm giá nhân vị. Con người không phải là một sự vật nhưng là một ai đó. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ mình, và tự do trao ban và hiệp thông với các nhân vị khác.

Con người không những được tạo dựng có khả năng sống hiệp thông, mà còn được mời gọi và nâng lên tới địa vị siêu việt ấy nhờ ân sủng Chúa Giêsu-Kitô. Nhân vị là tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa tạo dựng nên cho chính nó Vì thế, Công Ðồng Vatican II khẳng định rằng: Khía cạnh cao cả nhất của phẩm giá con người là được mời gọi sống hiệp thông với Thiên Chúa.

Nếu có hình ảnh của Thiên Chúa trong mỗi người, nếu con người được mời gọi và được nâng lên tới một địa vị siêu việt, và nếu con người là tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa tạo dựng nên cho chính họ, thì theo quan điểm về phẩm giá, sự bình đẳng giữa người với người về quyền lợi và bổn phận nhất thiết phải phát xuất từ nhân vị.

Thật ra, con người chỉ có thể hiểu mầu nhiệm của mình, nhận ra phẩm giá và khám phá trọn vẹn thiên chức cao cả của mình nhờ mặc khải của Chúa Kitô. Chính trong Chúa Kitô, là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15; x. 2 Cr 4,4), mà con người được tạo dựng giống hình ảnh Ðấng tạo thành mình. Chính trong Chúa Kitô, Ðấng cứu chuộc và là Ðấng cứu độ, mà hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người - vốn đã bị nguyên tội làm sai lệch - nay đã được phục hồi lại vẻ đẹp nguyên tuyền và được nâng cao phẩm giá nhờ ân sủng của Thiên Chúa (x. GS 221).

Quả vậy, sự hiệp thông chỉ được thực hiện giữa các nhân vị với nhau: giữa mỗi người với Thiên Chúa và giữa mỗi người với những người khác. Chắc chắn có sự tương đồng giữa sự hiệp nhất của các ngôi vị Thiên Chúa với tình huynh đệ mà con người phải thiết lập với nhau trong tình yêu và trong sự thật. Nói cách khác, theo Mặc Khải, khía cạnh cá nhân trong hiệp thông thì luôn luôn nổi bật, vì Thiên Chúa kêu gọi mỗi người bằng chính tên của họ.

admin
11-07-2006, 08:41 AM
2. Ðặc tính cộng đồng trong sự hiệp thông của Giáo Hội


Ơn gọi của con người là làm hiển lộ hình ảnh của Thiên Chúa và tự biến đổi mình theo hình ảnh Chúa Kitô để trở thành con cái trong Người Con duy nhất của Chúa Cha, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Thiên Chúa không kêu gọi con người cách riêng lẻ, nhưng mời gọi cùng với toàn thể nhân loại. Ơn gọi ấy, vừa có hình thức cá nhân vừa mang tính tập thể của cộng đồng nhân loại. Khi hiệp thông với Thiên Chúa, nhân vị không cắt đứt các mối quan hệ hiệp nhất với tha nhân, vì tình yêu tha nhân thì bất khả phân với tình yêu Thiên Chúa. Việc hiệp nhất với tha nhân không phải là một thứ liên đới nhằm sống cho thoải mái và phong phú hơn, nhưng chính là yếu tố tạo nên hiệp thông. Thiên Chúa và tha nhân là những nhân tố chính yếu để Kitô hữu sống hiệp thông với Giáo Hội. Vả lại, Giáo Hội là phương tiện và khí cụ hiệp nhất của nhân loại. Với tư cách là chủ thể của hiệp thông, con người sống những tương quan đa dạng ấy mọi nơi: trong Giáo Hội, trong các xã hội và với toàn thể nhân loại.

Xã hội là yếu tố cần thiết để con người thực hiện ơn gọi của mình. Ngay từ khi con người sinh ra, Thiên Chúa đã ban cho họ nhiều khả năng tiềm tàng, nghĩa là những khả năng còn phôi thai để giúp họ đáp lại ơn gọi sống hiệp thông. Tuy nhiên, con người cần đến đời sống xã hội để phát huy những khả năng ấy, nhờ trao đổi với người khác, nhờ giao dịch và đối thoại với nhau. Ðời sống xã hội là một nhu cầu bẩm sinh thuộc bản tính con người. Mỗi xã hội dù lớn hay nhỏ, dù là gia đình hay cộng đoàn quốc tế, hay thế giới, đều được xác định bằng mục đích của mình và phải tuân theo những quy luật riêng biệt một cách thích đáng. Ta cần phải tôn trọng nguyên lý lệ thuộc (principe de subsidiarité) để tránh rơi vào chủ nghĩa tập thể, hay chủ nghĩa cá nhân, và để điều hòa các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Trong tiến trình xã hội hóa, ta không thể loại bỏ nhân vị cho cái gọi là lợi ích của xã hội, bởi vì nhân vị chính là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội. Ðằng khác, tôn trọng nhân vị là nền tảng cho mọi pháp chế và cho mọi công việc xây dựng thiện ích chung. Việc tôn trọng ấy được thể hiện bằng việc tôn trọng các bậc thang giá trị đúng đắn. Các bậc thang giá trị ấy làm cho những chiều kích thể chất và bản năng lệ thuộc vào các chiều kích nội tại và tinh thần. Nhân vị con người không những được hưởng lợi từ phía xã hội, mà còn được tham dự vào việc xây dựng thiện ích chung để ơn gọi sống hiệp thông của mình được hoàn tất một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn.

Ðiều gì có giá trị đối với con người thì cũng có giá trị đối với người Kitô hữu. Bởi vì ơn gọi sống hiệp thông là phổ quát: Thiên Chúa mời gọi mọi người chia sẻ đời sống thần linh của Ngài. Vì được sinh ra từ Giáo Hội và trong Giáo Hội nhờ sự sát nhập vào Thân Thể Chúa Kitô qua các bí tích gia nhập Hội Thánh, người Kitô hữu trở thành chi thể Chúa Kitô và có các quan hệ đa dạng thiết yếu với Ba Ngôi Chí Thánh, với Giáo Hội cơ chế, với các Kitô hữu khác và với mọi người. Ðặc tính cộng đồng của các mối quan hệ ấy thật rõ ràng. Người Kitô hữu có trách nhiệm về sự cứu rỗi của anh em mình: vì ta không bao giờ được cứu rỗi một cách riêng lẻ. Tuy nhiên, đặc tính cộng đồng ấy không đồng nghĩa với chủ nghĩa tập thể. Trong cộng đồng hiệp thông không có sự loại trừ cũng không phải sự cộng sinh của các cá nhân. Nói cách khác, trong Hội Thánh chẳng có nhân vị nào bị cô lập hay không cần tới người khác.

Kết :


Chắc chắn ý niệm "hiệp thông" là sáng kiến của Công Ðồng Vatican II. Ta thấy từ ngữ "hiệp thông" được nhắc đi nhắc lại hơn 80 lần trong các văn kiện của Công Ðồng, nhất là trong chương II ( Giáo Hội - Dân Thiên Chúa ) của Hiến Chế Lumen Gentium và trong Sắc Lệnh về Ðại Kết Unitatis Redintegratio, trong đó từ "hiệp thông" được sử dụng thường xuyên để diễn tả tính hiệp nhất và tính toàn thể của Giáo Hội. Tuy nhiên, ngay sau Công Ðồng, từ ngữ ấy đã không được hiểu và đón nhận một cách nồng nhiệt. Tại Thượng Hội Ðồng Giám Mục năm 1969, từ ngữ ấy dần dần xuất hiện trở lại. Tại Hội Nghị Quốc Tế các nhà thần học công giáo ở Ba-Lan vào năm 1980, từ "hiệp thông" đã có một chỗ đứng đặc biệt. Chỉ từ Thượng Hội Ðồng Giám Mục năm 1985, nó mới đạt được chỗ đứng quan trọng trong khoa Giáo Hội học. Kể từ đó, từ "hiệp thông" mới thịnh hành trong Giáo Hội.

Tuy nhiên, việc thích sử dụng từ "hiệp thông" chưa hẳn hiểu đúng ý niệm hiệp thông. Từ ngữ ấy chẳng bao giờ bảo đảm cho ta hiểu tư tưởng của Công Ðồng một cách trung thực. Nếu thành ngữ "Giáo Hội - Dân Thiên Chúa" trong quá khứ đã được giải thích một cách thiên vị và phiến diện, thì từ ngữ "hiệp thông" đương nhiên không sao tránh khỏi bị giải thích một cách sai lạc và méo mó. Thật vậy, trong quá khứ đã xẩy ra việc ấy rồi. Vì thế, cần phải phân tích những tác phẩm hiện nay về Giáo Hội học để biết nội dung thực mà các tác giả muốn trình bày. Ðể tránh những sai lầm có thể xảy ra trong thần học hiệp thông, chúng ta phải luôn luôn khích lệ, nâng đỡ những ai tìm hiểu và giải thích tư tưởng của Công Ðồng. Việc đó cũng sẽ giúp chúng ta thấu hiểu tinh thần và bản chất Bộ Giáo Luật, giúp chúng ta thiết lập những cơ cấu thấm nhuần thần học hiệp thông, đồng thời làm nền tảng và diễn đạt khoa thần học này.

Tất cả mọi luật lệ, mọi định chế luật pháp và xã hội phải giúp con người phát triển và thành toàn nhân vị một cách hài hòa và an toàn. Vì thế, khía cạnh cao cả nhất của phẩm giá con người là được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa Sự hiệp thông với Thiên Chúa là ơn gọi và là cùng đích của con người. Trong ơn gọi ấy, ta phải xác định thiện ích chung của con người trong xã hội và của Kitô hữu trong Giáo Hội. Ý niệm hiệp thông đúng là một ý niệm trợ dung: nó thâm nhập mọi khía cạnh của đời sống con người và xã hội, giải thích và diễn tả đời sống ấy. Một khi xác định và lưu ý như thế, chúng tôi không sợ mình quá liều lĩnh nhưng an tâm nghiên cứu chủ đề của sách GLGHCG mới này.

Xem tiếp (http://www.gpnt.net/luananthanh/hiepthong_05.htm) http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/luananthanh/hiepthong_05.htm)