PDA

View Full Version : Phần I - Bài 23. Hôn nhân trong cái nhìn toàn vẹn của con người


admin
11-07-2006, 08:14 PM
Thứ Tư ngày 02/04/1980

23. Hôn nhân trong cái nhìn toàn vẹn của con người

Tin Mừng theo thánh Mátthêu và thánh Máccô đã thuật lại cho chúng ta câu trả lời cho những người Biệt phái của Đức Kitô khi họ chất vấn người về tính bất khả phân ly của hôn phối. Họ đã căn cứ trên luật Môsê cho phép trong một vài trường hợp được ruồng bỏ vợ mình. Ðức Kitô đã nhắc lại cho họ những đoạn đầu tiên của Sách Sáng Thế và trả lời rằng: “Các ông không đọc thấy điều này sao, thuở ban đầu Ðấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ và Nguời đã phán: Vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy họ không còn là hai nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly. Họ thưa với Người: Thế sao ông Môsê truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ? Người bảo họ: Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu” (Mt 19,3tt và Mc 12,2tt (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19 ; Mc 12&FontSize=Txt10)). Khi trả lời, Đức Kitô đã trưng dẫn hai lần “thuở ban đầu”. Và cũng vì thế mà chúng ta cố gắng phân tích và làm sáng tỏ hết sức có thể ý nghĩa của “thuở ban đầu” này. Đây là gia sản đầu tiên của tất cả mọi người trên thế gian, nam cũng như nữ. Đây là lời chứng thực đầu tiên về căn tính con người dựa vào lời mặc khải, nguồn tài liệu đầu tiên cho tính xác thực của ơn gọi của con người như là một nhân vị được tạo dựng theo hình ảnh của chính Thiên Chúa.

Câu trả lời của Đức Kitô mang một ý nghĩa lịch sử, nhưng không phải chỉ đơn thuần là lịch sử. Mọi người vào mọi thời đại đều đặt câu hỏi trên chủ đề đó. Con người hiện đại của chúng ta cũng làm như thế. Nhưng trong câu hỏi của mình, họ không còn căn cứ trên luật cho phép rẫy vợ của Môsê, mà họ đặt câu hỏi ở những trạng huống khác, theo những lề luật khác. Câu hỏi của họ chứa đựng nhiều vấn đề mà những người chất vấn Đức Kitô thuở đó không biết được. Chúng ta biết rõ điều gì đã được hỏi về hôn nhân và gia đình đã được trình lên cho Công Đồng gần đây nhất, cho Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, và vẫn còn được nêu lên vào thời kỳ hậu Công Đồng, ngày này tháng nọ, trong những tình huống rất khác nhau. Những câu hỏi đó được nêu lên do những cá nhân, những cặp vợ chồng, những cặp đính hôn và những người trẻ. Nhưng chúng cũng được nêu lên bởi những nhà văn, nhà báo, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà nhân số học… nói tóm lại, đó là những câu hỏi được nêu lên bởi nền văn hoá và văn minh hiện đại.

Tôi nghĩ rằng trong những câu mà Đức Kitô có thể trả lời cho con người thời nay, và đối với những câu hỏi lắm khi thôi thúc đó, câu trả lời căn bản vẫn luôn là câu mà Người đã trả lời cho những người Biệt phái. Khi trả lời những câu hỏi đó, Người sẽ luôn căn cứ vào “thuở ban đầu”. Có lẽ Người sẽ trả lời một cách rõ rệt và tất yếu hơn thế nữa bởi vì tình trạng nội tâm và văn hoá con người ngày nay hình như đã xa rời thuở ban đầu đó. Một tình trạng đang mặc lấy nhiều dạng thức và chiều kích đi trệch ra khỏi hình ảnh của thuở ban đầu nói trong Kinh Thánh, sa vào những điểm mà chúng ta thấy rõ là càng lúc càng cách biệt.

Tuy nhiên, có lẽ Đức Kitô sẽ không lấy làm ngạc nhiên vì những tình trạng đó, và tôi giả định rằng Người sẽ tiếp tục căn cứ trên thuở ban đầu để trả lời. Bởi vì thế mà những câu trả lời của Đức Kitô đòi hỏi cần phải phân tích thật kỹ. Trong câu trả lời đó, những chân lý nền tảng và nòng cốt của con người, nam và nữ, đã được lặp lại. Đó là câu trả lời mà qua đó chúng ta thoáng thấy cơ cấu của bản vị con người trong chiều kích của mầu nhiệm sáng tạo, và đồng thời trong viễn ảnh của mầu nhiệm cứu chuộc. Không có câu trả lời đó, chúng ta không thể xây dựng nền nhân loại học thần học, và trong bối cảnh này, chúng ta cũng không thể xây dựng nền thần học thân xác. Và từ nguồn gốc đó mà chúng ta có lối nhìn Kitô giáo về hôn nhân và gia đình. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ ra điều này khi Ngài nói đến “cái nhìn toàn diện của con người” (Humanae Vitae 7) trong tông huấn chuyên biệt về hôn nhân và truyền sinh trong ý nghĩa đầy trách nhiệm về con người và các Kitô hữu. Trong câu trả lời cho những người Biệt phái, Đức Kitô đã nêu ra cho những người chất vấn “cái nhìn toàn diện của con người” đó, và nếu không có cái nhìn đó, chúng ta không thể nào trả lời chính xác những câu hỏi về liên quan tới hôn phối và sự truyền sinh. Cái nhìn toàn diện của con người phải được xây dựng trên thuở ban đầu.

Cách nhìn này vẫn thích hợp cho những người chất vấn Đức Kitô với quan niệm hiện đại, như nó đã từng thích hợp cho thời trước, mặc dù bằng một cách khác. Chúng ta là những hậu duệ của một thời đại mà, vì đã phát triển quá nhiều chuyên ngành, cách nhìn toàn diện của con người rất dễ bị bỏ qua hoặc được thay thế bằng vô số các khái niệm phiến diện. Nếu chỉ chuyên chú vào một hoặc vài khía cạnh của cấu trúc con người (compositum humanum) thì ta sẽ không đạt tới tính toàn diện (integrum) của con người hoặc đã để con người ra ngoài tầm nhìn của mình. Và do đó nhiều khuynh hướng văn hoá đã xuất hiện. Dựa trên căn bản những chân lý phiến diện đó, những khuynh hướng văn hoá này đã hệ thống hoá các dự phóng và đưa ra những chỉ dẫn thực tiễn cho cách ứng xử của con người hoặc thậm chí thường xuyên hơn, hướng dẫn cách xử lý với “con người”. Như thế, con người trở thành một vật thể được kỹ thuật nhào nặn định đoạt hơn là một chủ thể có trách nhiệm về hành vi của mình. Câu trả lời của Đức Kitô cho các Biệt phái cũng mong muốn sao cho con người, nam và nữ, được trở nên chủ thể này. Chủ thể này tự định đoạt những hành vi của mình dưới ánh sáng của toàn bộ sự thật về chính bản thân, bởi vì đây là sự thật nguyên thuỷ, hoặc nền móng của những trải nghiệm đích thực của con người. Đây là chân lý Đức Kitô mời gọi chúng ta tìm kiếm ngay từ thuở ban đầu. Cho nên giờ đây chúng ta quay trở lại những chương đầu của Sách Sáng Thế.

Việc nghiên cứu những chương đó, rất có thể là hơn các chỗ khác rất nhiều, đã giúp chúng ta ý thức về ý nghĩa và sự cần thiết về một nền «thần học thân xác». «Thuở ban đầu» nói rất ít với chúng ta về những gì thuộc về thân xác con người, nếu hiểu theo nghĩa tự nhiên và cận đại của cụm từ đó. Và từ góc độ đó, trong lần học hỏi này, chúng ta đang ở trên một bình diện hoàn toàn tiền-khoa-học. Chúng ta khó có thể biết hết mọi thứ về cấu trúc bên trong và những quy luật trật tự điều khiển bên trong cơ thể con người. Tuy nhiên, cũng cùng lúc đó, có thể chính nhờ tính cổ xưa của văn bản mà chân lý quan trọng cho một cái nhìn toàn diện về con người đã được mặc khải với cách thức đơn sơ mà đầy đủ nhất. Chân lý này liên quan đến ý nghĩa của thân xác con người trong cấu trúc của chủ thể nhân vị.

Tiếp đến, suy niệm về văn bản cổ của Sách Sáng Thế cho phép chúng ta có thể khai triển rộng ra ý nghĩa trên bình diện toàn thể này của tính liên chủ thể của con người, nhất là trong mối tương quan thường hằng giữa người nam và người nữ. Nhờ đó, đối với mối tương quan này chúng ta có được một viễn tượng mà nhất thiết chúng ta phải đặt vào vị trí nền tảng của mọi khoa học hiện đại về tính dục con người, theo nghĩa sinh thể lý. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải chối bỏ các ngành khoa học này hoặc tự xa rời những thành quả của họ. Trái lại, khoa học có thể chỉ dạy cho chúng ta nhiều điều về giáo dục con người, trong phái tính nam và phái tính nữ của họ, và về lãnh vực hôn nhân và sinh sản. Nếu phải thực hiện như thế, điều cần thiết là – qua các yếu tố riêng rẽ của khoa học đương đại – luôn phải nhắm đến chỗ đâu là nền tảng và bản chất của con người, vừa nơi mỗi cá nhân, nam hoặc nữ, vừa nơi mối tương quan giữa họ với nhau.

Chính ở điểm này mà việc suy niệm về bản văn cổ của Sách Sáng Thế là không thể thay thế được. Đây chính là khởi điểm của nền thần học thân xác. Việc mà thần học soi xét về thân xác không gây ngạc nhiên cho những ai nhận thức được mầu nhiệm và thực tại của biến cố Nhập Thể. Thần học là khoa học có đối tượng là Thiên Chúa. Bởi vì do việc Ngôi Lời của Thiên Chúa đã trở thành xác thịt, cho nên chúng ta có thể nói được rằng thân xác đã đi vào nền thần học bằng cổng chính. Nhập Thể và Cứu Chuộc bắt đầu từ thân xác cũng đã trở nên cội nguồn vĩnh viễn cho tính bí tích của hôn nhân, mà chúng ta sẽ bàn tới lâu hơn khi cần.

Câu hỏi của con người hiện đại nêu lên cũng chính là câu hỏi của những người Kitô hữu -đang chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Hôn nhân hoặc đang sống trong hôn nhân, bí tích của Giáo Hội. Những câu hỏi này không chỉ là những vấn đề thuộc về tri thức mà hơn nữa còn là những câu hỏi về đời sống con người. Rất nhiều người cũng như rất nhiều Kitô hữu tìm đến sự hoàn tất ơn gọi của họ trong hôn nhân. Có biết bao người mong muốn tìm thấy nơi đó con đường đi tới sự giải thoát và thánh thiện.

Câu trả lời của Đức Kitô cho những người Biệt phái, là những người nhiệt thành theo Cựu ước, đặc biệt rất quan trọng cho họ. Những ai tìm đến sự hoàn tất ơn gọi làm người và làm Kitô hữu của mình trong hôn nhân, trước hết, được mời gọi làm cho thần học thân xác có khởi điểm mà chúng ta đã tìm thấy trong những chương đầu tiên của Sách Sáng Thế, trở thành chất lượng cho cuộc đời và cho cách ứng xử của mình. Một sự hiểu biết lành mạnh về ý nghĩa của thân xác, nơi người nam cũng như nơi người nữ, để đi tới ơn gọi đó thật là cần thiết biết bao! Một sự nhận thức đúng đắn về ý nghĩa hôn nhân và ý nghĩa sinh sản của thân xác thật rất cần thiết. Cần như thế bởi vì tất cả những gì tạo nên chất lượng cho cuộc sống của đôi bạn đã cưới nhau phải liên tục tìm thấy chiều kích nhân vị và toàn diện trong đời sống chung với nhau, trong lối cư xử và cảm nghĩ! Càng cần phải như thế để khắc phục cái bối cảnh của một nền văn minh đang bị chèn ép bởi lối suy nghĩ và lượng định theo chủ nghĩa thực dụng và duy vật. Khoa sinh thể lý học hiện đại có thể cung cấp rất nhiều những thông tin chính xác về tính dục con người. Tuy nhiên sự hiểu biết về phẩm giá nhân vị của thân xác con người và của tính dục vẫn phải được kín múc từ những mạch nguồn khác. Một nguồn mạch đặc biệt là chính Lời Chúa, tích chứa mặc khải về thân xác, ngược lên tận từ thuở ban đầu.

Thật là đầy ý nghĩa khi mà qua câu trả lời cho tất cả những câu hỏi đó, Đức Kitô đã truyền lệnh cho con người, một cách nào đó, phải quay trở về lại ngưỡng cửa lịch sử thần học của con người! Người đã truyền lệnh cho con người phải tự đặt mình vào lằn ranh giữa tình trạng trong trắng, hạnh phúc nguyên thuỷ và tình trạng kế thừa sự sa ngã đầu tiên. Phải chăng Người đã không muốn bảo con người rằng con đường mà Người dẫn con người đi, nam và nữ, trong Bí tích Hôn nhân, con đường «cứu chuộc của thân xác», phải hệ tại ở việc phục hồi lại cái phẩm giá mà nơi đó ý nghĩa đích thực của thân xác con người được trở nên trọn vẹn cùng một lúc với ý nghĩa về nhân vị và ý nghĩa của sự «hiệp thông» sao?

Giờ đây, chúng ta kết thúc phần đầu tiên của loạt bài suy niệm về chủ đề rất quan trọng này. Ðể đưa ra câu trả lời đầy đủ hơn cho những câu hỏi, đôi khi đầy lo lắng về hôn nhân –hay nói chính xác hơn là về ý nghĩa của thân xác- chúng ta không thể nào chỉ dừng lại ở những câu trả lời của Đức Kitô cho những người Biệt phái khi viện dẫn đến thuở ban đầu (x. Mt 19,3tt; Mc 10,2tt (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19 ; Mc 10&FontSize=Txt10)). Chúng ta còn phải xem xét đến tất cả những lời tuyên bố khác của Người, và nhất là hai lời vượt trội có tính bao hàm trọn vẹn cách đặc biệt: lời thứ nhất trong Bài Giảng Trên Núi nói về việc trái tim (lòng) con người có thể liên quan đến sự dâm dật của thân xác (x. Mt 5,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 5:8&FontSize=Txt10)), lời thứ hai là khi Đức Giêsu nói về sự sống lại đời sau (x. Mt 22,24-30; Mc 12,18-27; Lc 20,27-36 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 22:24-30 ; Mc 12:18-27 ; Lc 20:27-36&FontSize=Txt10)).

Hai lời tuyên bố này sẽ là đề tài cho những lần suy niệm sau này của chúng ta.


Nhóm Tâm Biển

admin
20-07-2009, 12:43 PM
Thần Học về Thân Thể với Thuở Ban Đầu: Hôn Nhân theo Nhãn Quan Toàn Vẹn về Con Người

ĐTC GPII – Giáo Lý cho Buổi Triều Kiến Chung hằng tuần Thứ Tư 2/4/1980

Các Phúc Âm theo Thánh Mathêu và Marcô trình thuật câu Chúa Kitô trả lời cho những người Pharisiêu khi họ đặt vấn đề với Người về vấn đề bất khả phân ly của hôn nhân. Họ căn cứ vào luật Moisen, một lề luật mà trong một số trường hợp nào đó chấp thuận việc cấp cái được gọi là chứng nhận ly dị. Khi nhắc nhở họ về những chương đầu tiên của Sách Khởi Nguyên, Chúa Kitô đã đáp lại rằng: ‘Quí vị chẳng nghe thấy hay sao là Ngài đã dựng nên họ từ ban đầu có nam có nữ, và phán: Vì lý do này người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ của mình, rồi cả hai trở nên m ột xác thịt? Bởi thế, những gì Thiên Chúa đã kết liên thì không ai được phép phân ly’. Thế rồi, căn cứ vào vấn đề họ đặt ra về luật Moisen, Chúa Giêsu nói thêm: ‘Vị sự cứng lòng của quí vị mà Moisen đã cho phép quí vị ly dị vợ mình, chứ từ ban đầu không có như thế’ (Mt 19:3ff; Mk 12:2ff). Qua câu trả lời của mình, Chúa Kitô đã hai lần đề cập tới ‘thuở ban đầu’. Bởi thế, trong tiến trình phân tích của mình, chúng ta đã cố gắng làm sáng tỏ bằng cách thức khả dĩ sâu xa nhất cái ý nghĩa của ‘thuở ban đầu’ ấy. Nó là di sản tiên khởi của hết mọi người trên thế giới này, cả nam lẫn nữ. Nó là chứng thực đầu tiên về căn tính của con người theo lời mạc khải, nguồn mạch đầu tiên cho niềm tin tưởng về ơn gọi của con người như một ngôi vị được dựng nên theo hìn h ảnh của chính Thiên Chúa.

Câu trả lời của Chúa Kitô có một ý nghĩa về lịch sử, thế nhưng không phải chỉ là một ý nghĩa v ề lịch sử mà thôi. Dân chúng thuộc mọi thời đại đều nêu lên vấn nạn về cùng một v ấn đề. Thành phần đương thời của chúng ta cũng làm như thế. Thế nhưng, trong các vấn nạn của họ, họ không đề cập tới luật Moisen, mợt luật công nhận giấy chứng thực ly dị, mà là tới những hoàn cảnh khác và lề luật khác. Những vấn đề này của họ liên quan tới các thứ trục trặc mà thành phần đối chất Chúa Kitô không hề biết tới. Chúng ta biết được những vấn đề nào liên quan tới hôn nhân và gia đình được ngỏ cùng Công Đồng vừa rồi, cùng Giáo Hoàng Phaolô VI, và tiếp tục được hình thành ở giai đoạn hậu công đồng, ngày qua ngày, nơi những hoàn cảnh rất khác biệt. Chúng được nói lên bởi những người độc thân, những cặp vợ chồng, những kẻ đính hôn và giới trẻ. Thế nhưng, chúng cũng được đề cập tới bởi thành phần văn gia, phóng sự viên, chính trị giá, kinh tế gia và dân số gia, tắt lại, được đề cập tới bởi nền văn hóa và văn minh đương thời.

Tôi nghĩ rằng trong số các câu trả lời được Chúa Kitô sẽ cống hiến cho dân chúng thuộc thời đại chúng ta đây cũng như các vấn nạn của họ, thường là những vấn nạn nông nỗi, thì câu trả lời Người đã cống hiến cho những người Pharisiêu vẫm là câu trả lời quan trọng. Khi trả lời cho những vấn nạn ấy, Chúa Kitô trước hết sẽ đề cập tới ‘thuở ban đầu’. Có lẽ Người sẽ càng làm như thế một cách quyết liệt và thiết yếu vào thời điểm mà nội tâm cùng với tình hình văn hóa của con người tân tiến dường như đang xa lìa khỏi những gì là thuở ban đầu. Nó là những hình thức và những chiều kích giả tưởng lệch lạc với hình ảnh của Thánh Kinh về thuở ban đầu, đến độ rõ ràng là càng ngày nó càng trở nên xa vời.

Tuy nhiên, Chúa Kitô cũng không ngỡ ngàng trước bất cứ trường hợp nào trong các trường hợp ấy, và tôi cho rằng Người sẽ tiếp tục đề cập chính yếu tới thuở ban đầu. Vì lý do ấy, câu trả lời của Chúa Kitô cần được phân tích một cách đặc biệt tường tận thấu đáo. Nơi câu trả lời ấy, những sự thật trọng yếu và căn bản về con người có nam có nữ đã được nhắc nhở. Nó là câu trả lời nhờ đó chúng ta thoáng thấy được cái cấu trúc về căn tính của con người theo những chiều kích nơi mầu nhiệm tạo dựng, và đồng thời, theo viễn tượng của mầu nhiệm cứu chuộc. Không thế thì chẳng còn cách nào có thể xây dựng được một khoa nhân loại học có tính cách thần học, và theo chiều hướng ấy là một thần học về thân thể. Từ đó phát xuất ra quan điểm trọn vẹn về hôn nhân và gia đình của Kitô Giáo. Đức Phaolô VI đã nêu lên điều này, khi ngài đề cập tới ‘một quan niệm trọn vẹn về con người’ (Humanae Vitae, 7) trong bức thông điệp ngài viết về các vấn đề của hôn nhân và của việc truyền sinh theo ý nghĩa trách nhiệm về lãnh vực nhân bản và Kitô Giáo. Trong câu trả lời cho những người Pharisiêu, Chúa Kitô cũng nêu lên cho thành phần đối chất của Người ‘cái nhãn quan trọn vẹn về con người’ ấy, mà nếu thiếu vắng sẽ không có một câu trả lời thích đáng nào có thể cống hiến cho những vấn đề liên quan tới hôn nhân và việc truyền sinh. Quan điểm trọn vẹn về con người này cần phải được kiến tạo từ thuở ban đầu.

Cái nhãn quan này cũng áp dụng cho cả tâm thức thời đại tân tiến này nữa, như nó vẫn thực hiện, mặc dù bằng cách khác nhau, đối với thành phần đối thoại của Chúa Kitô. Chúng ta là con cái của một thời đại, một thời đại mà vì việc phát triển của những lãnh vực khác nhau, quan niệm trọn vẹn về con người ấy có thể dễ dàng bị loại trừ phủ nhận và được thay thế bằng vô khối những quan niệm hụt hẫng. Chấp nhận khía cạnh này hay khía cạnh khác về compositum humanum – tính cách cấu hợp của con người, những quan niệm ấy không đạt tới tính cách integrum - nguyên vẹn về con người, hay chúng loại trừ tính cách ấy ra khỏi lãnh vực quan niệm riêng của chúng. Bấy giờ những khuynh hướng văn hóa khác nhau nhẩy vào chiếm chỗ. Căn cứ vào những sự thật hụt hẫng này, các khuynh hướng ấy đặt ra những hoạch định của chúng cùng với những qui định cụ thể của chúng về hành vi cử chỉ của con người, thường thậm chí về cách thức làm sao để tác hành với ‘con người’. Bởi thế con người càng trở thành một đối tượng của những thứ kỹ thuật chi phối hơn là chủ thể hữu trách về hành động của mình. Câu trả lời được Chúa Kitô cống hiến cho những người Pharisiêu cũng muốn con người, nam cũng như nữ, trở thành chủ thể này. Chủ thể ấy quyết định các hành động của mình theo ánh sáng của sự thật hoàn toàn về chính mình, vì nó là sự thật nguyên thủy, hay là nền tảng của các cảm nghiệm nhân bản đích thực. Đó là sự thật Chúa Kitô muốn chúng ta tìm kiếm từ thuở ban đầu. Bởi vậy chúng ta hãy trở về với những trang đầu tiên của Sách Khởi Nguyên.

Việc tìm hiểu các chương này, có lẽ hơn là các chương khác, giúp chúng ta nhận thức được ý nghĩa và nhu cầu của thần học về thân thể. Thuở b an đầu tương đối nói cho chúng ta biết ít ỏi về thân xác của con người, theo nghĩa tự nhiên tính hay tân tiến của từ ngữ này. Theo quan điểm này thì trong việc học hỏi của chúng ta, chúng ta hoàn toàn ở vào mức độ tiền khoa học. Chúng ta khó lòng biết được bất cứ sự gì về những cơ cấu nội tâm cũng như về các thứ qui tắc chi phối cơ thể của loài người. Tuy nhiên, đồng thời, có lẽ chính vì tính cách cổ kính của bản văn, mà sự thật hệ trọng đối với nhãn quan trọn vẹn về con người được mạc khải cho biết một cách giản dị và đầy đủ nhất. Sự thật này liên quan tới ý nghĩa về thân thể con người trong cấu trúc của chủ thể cá vị. Bởi thế, việc suy tư về những bản văn cổ xưa ấy giúp chúng ta có thể bao gồm ý nghĩa này cho toàn thể phương diện về liên chủ thể tính của con người, nhất là nơi mối liên hệ vĩnh tại giữa nam nhân và nữ giới. Nhờ đó, về mối liên hệ này, chúng ta có được một viễn ảnh cần chúng ta đặt làm căn bản cho tất cả mọi khoa học tân tiến về tính dục của con người, theo nghĩa sinh thể học. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ khoa học hay làm cho chúng ta mất đi các thành quả của khoa học. Trái lại, nó có thể dạy chúng ta một điều gì đó về vấn đề giáo dục con người, theo nam tính và nữ tính của họ, cũng như về lãnh vực hôn nhân và sản sinh. Nếu làm như vậy thì cần phải – nhờ tất cả mọi yếu tố riêng của khoa học hiện đại – làm sao để bao giờ cũng đạt tới những gì là nền tảng và có tính cách cá nhân thiết yếu, cả nơi từng người nam hay nữ, lẫn nơi những mối liên hệ hỗ tương của họ.

Chính ở chỗ này mà việc suy niệm về bản văn cổ kính Khởi Nguyên là những gì bất khả thay thế. Nó là khởi điểm của thần học về thân thể. Sự kiện là thần học cũng liên quan tới thân thể không được làm cho bất cứ ai ý thức được mầu nhiệm và thực tại Nhập Thể cảm thấy bàng hoàng hay sửng sốt. Thần học là khoa học có chủ đề là thần linh. Nhờ sự kiện Lời Chúa đã hóa thành nhục thể mà thân xác đã qua cửa chính tiến vào thần học. Việc Nhập Thể và cứu chuộc là những gì đều xuất phát từ thân xác cũng đã trở thành một nguồn mạch vĩnh viễn nơi tính cách bí tích của hôn nhân, một tính cách chúng ta sẽ bàn đền nhiều hơn vào thời điểm của nó.

Những vấn nạn được con người tân tiến nêu lên cũng là những vấn nạn của Kitô hữu – những ai đang sửa soạn lãnh nhận bí tích hôn phối hay những ai đang sống cuộc sống hôn nhân là bí tích của Giáo Hội. Đó không phải là những vấn đề của khoa học, mà còn hơn thế nữa, là những vấn đề của đời sống con người. Bởi vậy mà có rất nhiều người và rất nhiều Kitô hữu đang tìm kiếm việc hoàn trọn ơn gọi hôn nhân của mình. Có rất nhiều người muốn tìm nơi nó con đường cứu độ và thánh đức.

Câu trả lời của C húa Kitô cống hiến cho những người Pharisiêu, thành phần nhiệt thành của Cựu Ước, là những gì đặc biệt quan trọng đối với họ. Những ai đang tìm cách hoàn trọn ơn gọi làm người và Kitô hữu của mình nơi hôn nhân đều được kêu gọi để thực hiện thần học về thân thể này, một thứ thần học mà khởi điểm của nó chúng ta tìm thấy nơi những chương đầu tiên của Sách Khởi Nguyên, chất chứa nội dung của đời sống và hành vị cử chỉ của họ. Một kiến thức thấu triệt về ý nghĩa của thân thể nơi nam tính và nữ tính của nó cùng với ơn gọi này thật sự là những gì bất khả thiếu! Cần phải có một nhận thức xác đáng về ý nghĩa phối ngẫu của thân thể, về ý nghĩa sản sinh của nó. Chính vì tất cả những điều ấy làm nên nội dung của đời sống của các cặp vợ chồng mà cần phải liên lỉ tìm thấy chiều kích t rọn vẹn và riêng tư của nó trong cuộc sống chung với nhau, nơi hành vi cử chỉ, nơi những cảm giác xúc động! Điều này lại càng cần thiết trước bối cảnh của một thứ văn minh vẫn còn bị áp lực của đường lối tư duy và thẩm định duy vật chất và duy thực dụng. Khoa sinh thể học tân tiến có thể cung cấp nhiều những kiến thức chính xác về tình dục con người. Tuy nhiên, kiến thức về phẩm giá riêng tư của thân xác con người và của tình dục vẫn cần phải kín múc từ các nguồn mạch khác. Một nguồn mạch đặc biệt đó là chính Lời Chúa, một Lời chất chứa mạc khải về thân thể, trở về với thuở ban đầu.

Quan trọng biết bao khi Chúa Kitô, qua câu trả lời cho tất cả những vấn nạn ấy, truyền cho con người hãy trở về một cách nào đó với ngưỡng cửa thần học của họ! Người truyền cho họ hãy đặt mình ở biên giới giữa tình trạng vô tội, hạnh phúc nguyên thủy với gia sản của việc sa ngã ban đầu. Không phải hay sao Người có ý nói với họ rằng con đường Người dẫn con người nam nhân và nữ giới trong bí tích hôn phối, con đường cứu chuộc của thân xác, cần phải lấy lại cái phẩm giá ấy. Chính nhờ đó cũng mới hoàn trọn được ý nghĩa thực sự của thân xác con người, ý nghĩa cá thể của n ó và ý nghĩa hiệp thông của nó.

Giờ đây, chúng ta hãy kết thúc phần thứ nhất của những suy tư giành cho chủ đề quan trọng này. Để cống hiến tất cả giải đáp cho các vấn đề của chúng ta, đôi khi là nhưng vấn đề lo âu, về hôn nhân – hay thậm chí chính xác hơn, về ý nghĩa của thân thể – chúng ta không thể chỉ dựa vào những gì Chúa Kitô nói với những người Pharisiêu, liên quan tới thuở ban đầu (x Mt 19:3ff; Mk 10:2ff). Chúng ta cũng còn phải chú trọng tới tất cả các câu nói khác của Người nữa. Đặc biệt có hai câu mang một tính chất hỗ tương đặc biệt. Câu thứ nhất từ Bài Giảng trên Núi, về những cơ hội tâm can con người liên quan tới nhục dục của thân xác (x Mt 5:8). Câu thứ hai là câu được Chúa Giêsu đề cập tới việc phục sinh sau này (x Mt 22:24-30; Mk 12:18-27; Lk 20:27-36).

Chúng ta muốn lấy hai câu này làm chủ đề cho những bài suy niệm sau này.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/3/2007
http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/audiences/catechesis_genesis/documents/hf_jp-ii_aud_19800402_en.html
http://www.thoidiemmaria.net/GIAOHOI/Van%20Hoa%20Su%20Song/bai1.htm

admin
26-11-2009, 08:44 PM
XXIII

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HÔN NHÂN
TRONG CÁI NHÌN TOÀN DIỆN VỀ CON NGƯỜI

1. Phúc âm theo thánh Matthêu và Marcô kể lại việc Đức Kitô trả lời cho những người Pharisêu khi họ hỏi Người về việc hôn nhân bất khả phân li. Họ tham chiếu tới luật Môsê cho phép trong một số trường hợp được trao giấy li dị. Đức Kitô nhắc họ nhớ lại những chương đầu của Sách Sáng thế, khi trả lời: «Các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”,và Ngài đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li». Rồi nhắc đến câu hỏi của họ về luật Môsê, Người nói thêm: «Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu» (Mt 19,3tt; Mc 10,2tt.). Trong câu trả lời, Đức Kitô nhắc hai lần tới chữ «thuở ban đầu». Bởi thế, trong những bài phân tích chúng ta cũng đã cố gắng giải thích cái ý nghĩa sâu xa nhất của chữ «thuở ban đầu» này. Đó là gia sản đầu tiên của mỗi con người nam cũng như nữ trong thế giới. Là sự chuẩn nhận đầu tiên căn tính của con người theo lời mạc khải, là nguồn mạch đầu tiên của ơn gọi xác thực của con người như một ngôi vị được tạo dựng theo hình ảnh của chính Thiên Chúa.

2. Câu trả lời của Đức Kitô có ý nghĩa lịch sử, nhưng không chỉ mang tính lịch sử. Con người ở mọi thời đại đều nêu lên cùng một vấn đề đó. Những người thời nay cũng làm thế, nhưng trong những yêu sách của mình, họ không đề cập tới luật Môsê cho phép li dị, mà nại tới những hoàn cảnh khác và những luật lệ khác. Những câu hỏi họ nêu ra đó chất chứa nhiều vấn đề mà những người đàm đạo với Đức Kitô thời ấy không biết đến. Chúng ta biết đó là những vấn đề cụ thể có liên quan đến hôn nhân và gia đình đã được đệ trình lên Công Đồng sau cùng, lên đức Giáo hoàng Phaolô VI, và vẫn tiếp tục được trình bày thời đại sau Công Đồng, từng ngày trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Chúng được nêu lên bởi những người độc thân, có gia đình, những người sắp kết hôn, những bạn trẻ, nhưng cũng có cả các nhà văn, nhà báo, các nhà chính trị, kinh tế và các nhà nhân khẩu học. Nói tóm lại, những vấn đề ấy được đặt ra bởi cả nền văn hóa, văn minh đương đại.

Tôi nghĩ rằng trong số những giải đáp của Đức Kitô cho những vấn đề của con người thời đại chúng ta vốn thường hay nôn nóng, giải đáp mà Người đã trả lời cho những người Pharisêu vẫn là nền tảng. Trả lời cho những chất vần đó Đức Kitô tham chiếu trước hết đến «thuở ban đầu». Có lẽ Người làm như thế một cách càng cương quyết và đi sâu vào nền tảng hơn đối với con người thời đại ngày nay. Bởi lẽ, nội tâm cũng như hoàn cảnh văn hóa của con người thời đại dường như đang rời xa cái «thưở ban đầu» ấy. Họ đang mang lấy những hình thức và chiều kích khác với hình ảnh «thưở ban đầu» của Kinh thánh trong những điểm càng ngày càng thấy rõ là xa lạ.

Thế nhưng, Đức Kitô có lẽ không chút ngạc nhiên vì những hoàn cảnh này, và tôi cho rằng Người vẫn tham chiếu đến cách đặc biệt cái «thưở ban đầu».

3. Chính vì thế, câu trả lời của Đức Kitô đòi phải được phân tích cách đặc biệt sâu xa. Thật vậy, trong câu trả lời ấy, những chân lí nền tảng và cơ bản về con người, nam và nữ, đã được nhắc đến. Đó là câu trả lời nhờ đó chúng ta thoáng thấy được cái cấu trúc của căn tính con người trong những chiều kích của mầu nhiệm tạo dựng và, đồng thời trong cả viễn tượng của mầu nhiệm cứu chuộc. Không có điều đó không có cách nào xây dựng một khoa nhân học thần học và, trong bối cảnh đó, xây dựng một khoa «thần học về thân xác» được. Từ đây mới có thể xuất hiện quan điểm kitô giáo thuần túy về hôn nhân và gia đình. Đức Phaolô VI đã cho thấy điều đó khi, trong thông điệp về những vấn đề hôn nhân và sinh sản trong ý nghĩa trách nhiệm của nó về mặt con người và đức tin, ngài nói đến «cái nhìn toàn diện về con người» (Humanae Vitae 7). Khi trả lời cho những người Pharisêu, Đức Kitô cũng đã cho những người đối thoại với Người thấy «cái nhìn toàn diện về con người» này. Không có cái nhìn đó những vấn đề liên quan tới hôn nhân và sin sản không thể có câu trả lời thích đáng. Cái nhìn toàn diện về con người đó phải được thiết lập ngay từ «thuở ban đầu».

Điều này cũng áp dụng cho não trạng ngày nay, như đã áp dụng cho những người đối thoại với Đức Kitô thời đó, dẫu theo cách khác. Chúng ta là con cháu của một thời đại, trong đó do sự phát triển của những bộ môn khác nhau, cái nhìn toàn diện này về con người có thể bị loại bỏ và thay thế bởi nhiều quan niệm thiên kiến. Những quan niệm ấy ở lại trong phương diện này hay phương diện khác của cái compositum humanum (tổ hợp nên con người), mà không đạt tới cái integrum (toàn thể) của con người, hay chúng để nó ở ngoài cảnh vực nhãn giới của chúng. Rồi, những khuynh hướng văn hóa khác nhau chiếm chỗ. Trên nền tảng những sự thật phiến diện này, những khuynh hướng ấy đưa ra những kế hoạch và những chỉ dẫn Như thế, con người trở thành một đối tượng của những kĩ thuật nhất định hơn là chủ thể chịu trách nhiệm về hành động của mình. Câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu cũng có ý nói con người, dù nam hay nữ, là một chủ thể như thế, nghĩa là, một chủ thể quyết định về những hành động của mình dưới ánh sáng của sự thật toàn diện về chính mình, xét như là sự thật nguyên thủy, đúng hơn như là nền tảng của những kinh nghiệm đích thật của con người. Đây chính là sự thật mà Đức Kitô muốn ta tìm kiếm ngay từ «thưở ban đầu». Bởi thế chúng ta quay trở về với những chương đầu của Sách Sáng thế.

4. Khi nghiên cứu những chương này, có lẽ hơn những chương khác, chúng ta ý thức về ý nghĩa và sự cần thiết của «thần học thân xác». «Thưở ban đầu» nói tương đối ít về thân xác con người, theo nghĩa duy tự nhiên và hiện đại của từ ấy. Từ quan điểm này, trong nghiên cứu hiện tại, chúng ta đang ở một trình độ hoàn toàn tiền khoa học. Chúng ta hầu như chưa biết gì cả về các cấu trúc bên trong và về những qui luật chi phối cơ thể con người. Tuy nhiên, có lẽ bởi tính chất cổ xưa của bản văn sự mà cái nhìn toàn diện về con người, là một chân lí quan trọng, lại được mạc khải một cách hết sức đơn giản và đầy đủ. Chân lí này liên hệ đến ý nghĩa của thân xác con người trong cấu trúc của chủ thể ngôi vị. Hơn nữa, suy tư về những bản văn cổ ấy giúp ta mở rộng ý nghĩa ấy đến toàn thể lãnh vực liên chủ thể (tương quan giữa con người với con người), đặc biệt trong mối tương quan thường tồn giữa người nam và người nữ. Nhờ thế chúng ta có được một cái nhìn căn bản về mối tương quan này, một cái nhìn nhất thiết phải đặt ở nền tảng của mọi khoa học hiện nay về tính dục (theo nghĩa sinh học - sinh lý học) của con người. Điều đó không có nghĩa là ta gạt bỏ khoa học này, không màng tới những thành quả của nó. Ngược lại, khoa học có thể giúp ta hiểu biết về lối giáo dục con người phù hợp với giới tính, và về lãnh vực hôn nhân và sinh sản. Nếu quả thực là nó phải như vậy, trong mọi yếu tố của khoa học hiện nay người ta cần phải làm sao để luôn đạt tới điều căn bản và có thái độ cốt yếu kính trọng nhân vị, đối với mỗi cá nhân, dù nam hay nữ, cũng như đối với những mối quan hệ của họ.

Chính ở chỗ này suy tư về bản văn cổ Sách Sáng thế tỏ ra là không thay thế được. Đó thực sự là «khởi thủy» của thần học về thân xác. Việc thần học cũng xét tới cả thân xác không hề gây ngạc nhiên và bất ngờ cho những ai ý thức về mầu nhiệm và thực tại của nhập thể. Bởi Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người, nên thân xác đi qua cổng chính vào thần học, là khoa học có đối tượng là Thiên Chúa. Nhập thể - và cả Cứu chuộc tuôn chảy ra từ đó – cũng trở thành nguồn suối cuối cùng của bí tích hôn phối. Chúng ta sẽ bàn đến đề tài này về sau cách rộng rãi hơn đúng lúc của nó.

5. Những vấn đề con người thời nay đặt ra cũng là những vấn đề của các Kitô hữu: của những người đang chuẩn bị cho bí tích hôn phối hay những người đã sống đời hôn nhân (vốn là một bí tích của Giáo hội) rồi. Những vấn đề này không chỉ là những vấn đề của khoa học, nhưng còn là những vấn đề của đời sống con người. Rất nhiều người và nhiều Kitô hữu tìm cách hoàn tất ơn gọi của mình trong hôn nhân. Rất nhiều người muốn tìm thấy ở đó con đường cứu độ và nên thánh.

Đối với họ, câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu, là những người nhiệt thành với Giao ước cũ, là đặc biệt quan trọng. Những ai tìm hoàn tất ơn gọi làm người và Kitô hữu trong hôn nhân đều được mời gọi trước hết biến thần học về thân xác này, khởi sự ở nơi những chương đầu Sách Sáng thế, trở thành nội dung của đời sống và lối sống của họ. Quả thật, điều hết sức quan trọng là, trên con đường ơn gọi này, ý nghĩa của thân xác với giới tính (nam tính và nữ tính) của nó phải được ý thức thật sâu sắc. Điều rất cần thiết là phải có một ý thức xác đáng về ý nghĩa hôn phối, ý nghĩa sinh sản của thân xác, bởi lẽ toàn thể đời sống vợ chồng phải thường xuyên toát ra sự sung mãn và tính nhân vị trong cuộc sống chung, trong hành vi ứng xử, trong tình cảm! Điều này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh của nền văn minh hiện nay chịu áp lực của lối tư duy và nhận định theo hướng duy vật và duy lợi. Khoa sinh học – sinh lí học hiện nay có thể cho ta nhiều thông tin chính xác về tính dục con người. Thế nhưng, tri thức về phẩm giá của thân xác con người và giới tính còn cần phải được múc tận những nguồn mạch khác nữa. Một nguồn đặc biệt là chính Lời Thiên Chúa, chứa đựng mạc khải về thân xác, một mạc khải lên đến tận nguồn của «thuở ban đầu».

Thật là ý nghĩa khi Đức Kitô trả lời những vấn đề này, Người đã truyền lệnh cho con người phải quay về bằng cách nào đó đến ngưỡng cửa của lịch sử thần học của mình! Người ra lệnh cho họ đặt mình ở biên giới giữa tình trạng hạnh phúc, vô tội nguyên thủy và cái di sản của sự sa ngã lần đầu tiên. Không phải Người muốn nói với con người rằng con đường Người dẫn họ, người nam và người nữ, đi vào bí tích hôn phối, con đường cứu chuộc thân xác, phải đi qua sự phục hồi phẩm giá này (trong đó ý nghĩa đích thực của thân xác con người, đồng thời ý nghĩa nhân vị và «hiệp thông» của thân xác được thực hiện) hay sao?

6. Giờ đây, chúng ta kết thúc phần thứ nhất của suy tư về đề tài quan trọng này. Để trả lời thật thấu đáo những vấn đề, đôi khi khiến ta rất băn khoăn, về hôn nhân (và chính xác hơn, về ý nghĩa của thân xác), chúng ta không thể chỉ dừng lại ở câu trả lời của Đức Kitô cho những người Pharisêu khi Người nại đến «thuở ban đầu» (x. Mt 19,3tt; Mc 10,2tt). Chúng ta còn phải xét đến những lời tuyên bố khác nữa của Người. Trong số đó đặc biệt có hai đoạn có tính tổng hợp đặc thù. Đoạn thứ nhất, từ diễn từ trên núi, nói về những khả năng của tâm hồn con người liên hệ đến sự ham muốn xác thịt (x. Mt 5,8). Đoạn thứ hai liên hệ khi Đức Giêsu nói đến sự phục sinh trong tương lai (Mt 22,24-30; Mc 12,18-27; Lc 20,27-36).

Hai đoạn này sẽ là chủ đề suy tư kế tiếp của chúng tôi.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch