admin
09-11-2008, 07:32 AM
TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ CỦA ĐỨC JOHN PAUL II -
TRẢ LỜI CÁC VẤN NẠN DARWIN ĐÃ GÂY RA
CHO TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC HIỆN ĐẠI
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng ta chứng kiến sự tiến bộ không ngừng và còn có triễn vọng tiến xa mãi của khoa học. Không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà khoa học mang lại cho đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Tuy nhiên, dưới nhãn quan tư tưởng, chúng ta nhận thấy những phát minh khoa học ở thế kỷ XVI-XVII về thiên văn của Copernic, Kepler, Galilei, về Lực hấp dẫn của Newton và ở thế kỷ XIX về sinh vật học Darwin đã tạo ra không ít vấn nạn cho triết học và thần học trong mấy thế kỷ qua.
Trong bối cảnh đó, Đức John Paul II đã ban hành thông điệp “Đức Tin Và Lý Trí” , năm 1998. Trong Thông điệp này, ngài đề cập đến mối tương quan giữa đức tin và lý trí, bằng cách khẳng định chức năng và khả năng của lý trí đi tìm chân lý và chứng minh giá trị phổ quát của đức tin. Quan điểm này của ngài như phương cách soi sáng cho người Kitô hữu trong cách suy nghĩ về các giá trị mới của khoa học và cách thức làm thần học và triết học trong thời đại hôm nay.
Đúng 20 năm sau ngày ra đời của Thông Điệp Đức tin và lý trí, chúng ta thử khám phá lại tư tưởng của ngài và trả lời cho những vấn nạn mà thuyết Darwin đã làm “lung lay” nền thần học và triết học Kitô giáo trong mấy thập niên qua.
1. Mối Tương Quan Giữa Đức Tin Và Lý Trí.
Bằng lối tiếp cận lịch sử, Đức John Paul II đã phác họa một bức tranh khá rõ ràng về tương quan giữa đức tin và lý trí trong hành trình đi tìm kiếm chân lý. Đó là một tương quan mang tính hỗ tương: “Đức tin và lý trí được ví như đôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên chiêm ngắm chân ly” . Theo ngài, chân lý mặc khải của thần học sẽ cung cấp “nội dung câu trả lời” và sự khôn ngoan của triết học sẽ cho “hình thừc câu hỏi”. Triết học và thần học có một mối quan hệ qua lại theo quy luật của vòng tròn trôn ốc, nghĩa là một khi triết học cung cấp nội dung câu hỏi, thần học trả lời nó và dẫn đến sự hiểi biết chân lý rõ ràng hơn, và lý trí triết học lại tiếp tục suy tư và có những tra vấn mới cao hơn và thần học lại tiếp tục tìm câu trả lời mới…, vòng tròn càng ngày càng đi lên và gần hơn với chân lý tối hậu (x.TĐ, Đức tin và lý trí, Số 105).
Trong lĩnh vực Phúc Am Hoá, con người tìm hiểu văn hoá của một dân tộc và tìm hiểu triết học của tôn giáo của dân tộc đó. Triết học sẽ đóng vai trò trung gian kết nối Lời Chúa với văn hoá địa phương. Theo cách hiểu này thì triết học chuẩn bị “cày xới” miếng đất mới, để cho thần học “gieo vãi” hạt giống chân lý Tin Mừng.
Đức John Paul II cũng quan tâm đến sự tách rời giữa đức tin và lý trí và hậu quả của nó trong việc tìm kiếm chân lý: “Sự tách rời ngày càng lớn hơn giữa đức tin và lý trí triết học” làm cho triết học sao nhãng việc tìm kiếm chân lý tối hậu. Tuy nhiên theo ngài, nếu xem xét tỉ mỉ hơn, người ta sẽ thấy ngay trong suy tư của những người đã góp phần nới rộng thêm hố ngăn cách giữa đức tin và lý trí đôi khi vẫn có những mầm mống tư tưởng quí báu khả dĩ đưa tới việc khám phá ra con đường chân lý, nếu được tiếp tục và phát triển với một tâm trí ngay thẳng” (Số 48).
Trong viễn ảnh đó, ngài nhắm đến việc kết hợp giữa đức tin và lý trí với lý do: “Đức tin và lý trí mà thiếu nhau đều bị làm nghèo đi và bị suy yếu. Bị tước mất những gì Mặc khải cống hiến, lý trí đã đi theo những con đường ngang khiến nó có nguy cơ sao lãng mục đích cuối cùng của mình. Còn đức tin thiếu lý trí, đã nhấn mạnh vào tình cảm và cảm nghiệm, và như thế nó liều mình không còn là một lời đề nghị phổ quát nữa”. Qua đó ngài mời gọi: “Đức tin và triết học phải tìm lại sự hiệp nhất sâu xa cho phép chúng hoà hợp với bản chất của mình mà vẫn tôn trọng tính tự lập của nhau. Đối lại với sự tuân phục [“parrhêsia”] của đức tin phải có sự táo bạo của lý trí” . (Số 48).
2. Các Vấn Nạn Mà Thuyết Darwin Đã Gây Ra Cho Triết Học Và Thần Học
Charles Darwin (1809-1882) là một nhà tự nhiên học người Anh. Sau chuyến khảo sát thực địa theo hành trình của tàu Beagle ở các vùng biển Nam Mỹ và nhất là ở trên quần đảo Galapagos, cộng thêm nhiều năm miệt mài nghiên cứu, ông đã đưa ra một học thuyết toàn diện về “Nguồn gốc của các loài do chọn lựa tự nhiên” vào năm 1859. Thuyết tiến hoá này đã tạo ra nhiều vấn nạn cho triết học và thần học Kitô giáo trong thời gian qua.
• Thử thách Phương pháp làm triết học và thần học.
Nếu phương phát cổ truyền của triết học là suy diễn, đi từ những chân lý siêu hình như: hữu thể, bản chất của Thượng Đế…để đi đến những kết luận về chân lý. Thì Darwin đã chú trọng đến phương pháp quy nạp, đi từ những nghiên cứu thực địa, khảo cổ, các quan sát…để đi đến một kết luận khoa học. Theo đó, phương pháp suy diễn chỉ có chỗ đứng tương đối trong khi làm triết học mà thôi.
Còn đối với phương pháp làm thần học: từ lâu Giáo Hội đã sử dụng hai phương pháp làm thần học là Trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen và trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa ẩn dụ và biểu tượng. Thuyết Tiến hoá thử thách trường phái thứ nhất.
• Thử thách thuyết tạo dựng.
Darwin trong thuyết tiến hoá cho rằng sự sống trong vũ trụ có được là do sự chọn lựa tự nhiên một cách tình cờ từ các “cơ chế sống”. Sự sống còn của các loài không cần có một ý định bên ngoài, cũng không cần một thứ tự hay một sự phác họa nào. Không cần đến “tác giả”, “tác phẩm” chỉ tuân theo luật tự nhiên và cạnh tranh sinh tồn, không có thứ tự, tất cả chỉ là ngẫu nhiên. Do đó, vũ trụ và muôn loài hiện hữu và tồn tại tự mình, không cần đến Thượng Đế. Trong khi đó, thần học tạo dựng cho rằng tạo dựng là hành vi tự do của Thiên Chúa, Đấng làm cho hiện hữu tất cả những gì chưa bao giờ hiện hữu (St 1,1; Rm 4,7) và vũ trụ được tạo thành trong thời gian (x.Thời sự thần học, số 44, trang 77). Đây là một trong những biểu hiện quyền năng vô biên của Thiên Chúa, bởi vì chỉ có người mới có khả năng ban hiện hữu cho vạn vật, khởi đi từ tình trạng phi hiện hữu. Và ngài tiếp tục quan phòng vũ trụ.
• Vấn đề Con Người
Theo quan điểm thuyết tiến hóa của Darwin, các sinh vật đa dạng ngày nay là kết quả của một quá trình tiến hoá lâu dài. Do đó, con người cũng không bị loại trừ, con người cũng nằm trong qui trình tiến hoá đó, con người tiến hoá từ vật chất và con người chỉ là con vật bậc cao mà thôi.
Quan niêm này đi ngược lại quan điểm Giáo Hội về con người cho rằng: “Con người được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người” và “Thân xác con người dự phần vào phẩm giá và hình ảnh Thiên Chúa. Là thân thể con người, vì nó do linh hồn sống động và tất cả nhân vị con người sẽ được trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần trong thân xác Đức Kitô. (x. GLCG, Số 69) và “linh hồn cũng là cái thâm sâu nhất, giá trị nhất trong con người, và Thiên Chúa đã dựng nên linh hồn con người cách trực tiếp và nó bất tử” (x. GLCG, Số 70).
TRẢ LỜI CÁC VẤN NẠN DARWIN ĐÃ GÂY RA
CHO TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC HIỆN ĐẠI
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng ta chứng kiến sự tiến bộ không ngừng và còn có triễn vọng tiến xa mãi của khoa học. Không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà khoa học mang lại cho đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Tuy nhiên, dưới nhãn quan tư tưởng, chúng ta nhận thấy những phát minh khoa học ở thế kỷ XVI-XVII về thiên văn của Copernic, Kepler, Galilei, về Lực hấp dẫn của Newton và ở thế kỷ XIX về sinh vật học Darwin đã tạo ra không ít vấn nạn cho triết học và thần học trong mấy thế kỷ qua.
Trong bối cảnh đó, Đức John Paul II đã ban hành thông điệp “Đức Tin Và Lý Trí” , năm 1998. Trong Thông điệp này, ngài đề cập đến mối tương quan giữa đức tin và lý trí, bằng cách khẳng định chức năng và khả năng của lý trí đi tìm chân lý và chứng minh giá trị phổ quát của đức tin. Quan điểm này của ngài như phương cách soi sáng cho người Kitô hữu trong cách suy nghĩ về các giá trị mới của khoa học và cách thức làm thần học và triết học trong thời đại hôm nay.
Đúng 20 năm sau ngày ra đời của Thông Điệp Đức tin và lý trí, chúng ta thử khám phá lại tư tưởng của ngài và trả lời cho những vấn nạn mà thuyết Darwin đã làm “lung lay” nền thần học và triết học Kitô giáo trong mấy thập niên qua.
1. Mối Tương Quan Giữa Đức Tin Và Lý Trí.
Bằng lối tiếp cận lịch sử, Đức John Paul II đã phác họa một bức tranh khá rõ ràng về tương quan giữa đức tin và lý trí trong hành trình đi tìm kiếm chân lý. Đó là một tương quan mang tính hỗ tương: “Đức tin và lý trí được ví như đôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên chiêm ngắm chân ly” . Theo ngài, chân lý mặc khải của thần học sẽ cung cấp “nội dung câu trả lời” và sự khôn ngoan của triết học sẽ cho “hình thừc câu hỏi”. Triết học và thần học có một mối quan hệ qua lại theo quy luật của vòng tròn trôn ốc, nghĩa là một khi triết học cung cấp nội dung câu hỏi, thần học trả lời nó và dẫn đến sự hiểi biết chân lý rõ ràng hơn, và lý trí triết học lại tiếp tục suy tư và có những tra vấn mới cao hơn và thần học lại tiếp tục tìm câu trả lời mới…, vòng tròn càng ngày càng đi lên và gần hơn với chân lý tối hậu (x.TĐ, Đức tin và lý trí, Số 105).
Trong lĩnh vực Phúc Am Hoá, con người tìm hiểu văn hoá của một dân tộc và tìm hiểu triết học của tôn giáo của dân tộc đó. Triết học sẽ đóng vai trò trung gian kết nối Lời Chúa với văn hoá địa phương. Theo cách hiểu này thì triết học chuẩn bị “cày xới” miếng đất mới, để cho thần học “gieo vãi” hạt giống chân lý Tin Mừng.
Đức John Paul II cũng quan tâm đến sự tách rời giữa đức tin và lý trí và hậu quả của nó trong việc tìm kiếm chân lý: “Sự tách rời ngày càng lớn hơn giữa đức tin và lý trí triết học” làm cho triết học sao nhãng việc tìm kiếm chân lý tối hậu. Tuy nhiên theo ngài, nếu xem xét tỉ mỉ hơn, người ta sẽ thấy ngay trong suy tư của những người đã góp phần nới rộng thêm hố ngăn cách giữa đức tin và lý trí đôi khi vẫn có những mầm mống tư tưởng quí báu khả dĩ đưa tới việc khám phá ra con đường chân lý, nếu được tiếp tục và phát triển với một tâm trí ngay thẳng” (Số 48).
Trong viễn ảnh đó, ngài nhắm đến việc kết hợp giữa đức tin và lý trí với lý do: “Đức tin và lý trí mà thiếu nhau đều bị làm nghèo đi và bị suy yếu. Bị tước mất những gì Mặc khải cống hiến, lý trí đã đi theo những con đường ngang khiến nó có nguy cơ sao lãng mục đích cuối cùng của mình. Còn đức tin thiếu lý trí, đã nhấn mạnh vào tình cảm và cảm nghiệm, và như thế nó liều mình không còn là một lời đề nghị phổ quát nữa”. Qua đó ngài mời gọi: “Đức tin và triết học phải tìm lại sự hiệp nhất sâu xa cho phép chúng hoà hợp với bản chất của mình mà vẫn tôn trọng tính tự lập của nhau. Đối lại với sự tuân phục [“parrhêsia”] của đức tin phải có sự táo bạo của lý trí” . (Số 48).
2. Các Vấn Nạn Mà Thuyết Darwin Đã Gây Ra Cho Triết Học Và Thần Học
Charles Darwin (1809-1882) là một nhà tự nhiên học người Anh. Sau chuyến khảo sát thực địa theo hành trình của tàu Beagle ở các vùng biển Nam Mỹ và nhất là ở trên quần đảo Galapagos, cộng thêm nhiều năm miệt mài nghiên cứu, ông đã đưa ra một học thuyết toàn diện về “Nguồn gốc của các loài do chọn lựa tự nhiên” vào năm 1859. Thuyết tiến hoá này đã tạo ra nhiều vấn nạn cho triết học và thần học Kitô giáo trong thời gian qua.
• Thử thách Phương pháp làm triết học và thần học.
Nếu phương phát cổ truyền của triết học là suy diễn, đi từ những chân lý siêu hình như: hữu thể, bản chất của Thượng Đế…để đi đến những kết luận về chân lý. Thì Darwin đã chú trọng đến phương pháp quy nạp, đi từ những nghiên cứu thực địa, khảo cổ, các quan sát…để đi đến một kết luận khoa học. Theo đó, phương pháp suy diễn chỉ có chỗ đứng tương đối trong khi làm triết học mà thôi.
Còn đối với phương pháp làm thần học: từ lâu Giáo Hội đã sử dụng hai phương pháp làm thần học là Trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen và trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa ẩn dụ và biểu tượng. Thuyết Tiến hoá thử thách trường phái thứ nhất.
• Thử thách thuyết tạo dựng.
Darwin trong thuyết tiến hoá cho rằng sự sống trong vũ trụ có được là do sự chọn lựa tự nhiên một cách tình cờ từ các “cơ chế sống”. Sự sống còn của các loài không cần có một ý định bên ngoài, cũng không cần một thứ tự hay một sự phác họa nào. Không cần đến “tác giả”, “tác phẩm” chỉ tuân theo luật tự nhiên và cạnh tranh sinh tồn, không có thứ tự, tất cả chỉ là ngẫu nhiên. Do đó, vũ trụ và muôn loài hiện hữu và tồn tại tự mình, không cần đến Thượng Đế. Trong khi đó, thần học tạo dựng cho rằng tạo dựng là hành vi tự do của Thiên Chúa, Đấng làm cho hiện hữu tất cả những gì chưa bao giờ hiện hữu (St 1,1; Rm 4,7) và vũ trụ được tạo thành trong thời gian (x.Thời sự thần học, số 44, trang 77). Đây là một trong những biểu hiện quyền năng vô biên của Thiên Chúa, bởi vì chỉ có người mới có khả năng ban hiện hữu cho vạn vật, khởi đi từ tình trạng phi hiện hữu. Và ngài tiếp tục quan phòng vũ trụ.
• Vấn đề Con Người
Theo quan điểm thuyết tiến hóa của Darwin, các sinh vật đa dạng ngày nay là kết quả của một quá trình tiến hoá lâu dài. Do đó, con người cũng không bị loại trừ, con người cũng nằm trong qui trình tiến hoá đó, con người tiến hoá từ vật chất và con người chỉ là con vật bậc cao mà thôi.
Quan niêm này đi ngược lại quan điểm Giáo Hội về con người cho rằng: “Con người được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người” và “Thân xác con người dự phần vào phẩm giá và hình ảnh Thiên Chúa. Là thân thể con người, vì nó do linh hồn sống động và tất cả nhân vị con người sẽ được trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần trong thân xác Đức Kitô. (x. GLCG, Số 69) và “linh hồn cũng là cái thâm sâu nhất, giá trị nhất trong con người, và Thiên Chúa đã dựng nên linh hồn con người cách trực tiếp và nó bất tử” (x. GLCG, Số 70).