admin
12-07-2006, 12:58 PM
Nhà tôi
Phạm Đức Hạnh
Trong tiếng Việt có những kiểu nói mang nghĩa rất gần với nhau, đến mức độ có thể dùng lầm đôi khi, chẳng hạn như “căn nhà” và “nhà”. Thực ra, hai cách nói này có những nghĩa rất khác nhau. Đối với cách nói “cái nhà, toà nhà, hay căn nhà” thì người nói và người nghe thường chỉ biết đến bất cứ một căn nhà nào đó. Căn nhà đó có thể là một căn nhà lớn nhỏ, mới cũ của một người hàng xóm với ta, hoặc nhà của tôi, hay nhà của bạn và cả nhà hoang nữa. Nói đến “căn nhà” là nói đến một hình thể vật chất nơi đó được dùng để che nắng, trú mưa, ngăn cản những luồng gió độc và bảo vệ con người khỏi những muông thú nguy hiểm. Nhắc đến hai chữ “căn nhà” thường không bắt buộc người nói và người nghe phải liên hệ nó với một cá nhân cụ thể nào, nhưng thường chỉ muốn trực tiếp nói về căn nhà đó nó như thế nào mà thôi.
Chức năng của căn nhà là che chở, bảo vệ khỏi những hiểm nguy và còn là nơi cho con người nghỉ ngơi. Vì tính thiết thực của nó nên căn nhà đã luôn gắn liền với đời sống con người từ muôn thủa và sẽ còn mãi với các thế hệ sau. Từ những ngày đầu của đời sống sinh hoạt trong xã hội nguyên thủy, con người đã gắn liền với việc tìm kiếm cho mình một nơi ẩn trú những khi nắng mưa. Khi ấy căn nhà mới chỉ là một cái hang. Sau khi con người đã phát triển hơn thì họ biết dựng lều mà ở thay cho hang. Nếp sống săn bắn đã bớt dần, con người bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi. Thế nhưng chăn nuôi và trồng trọt lúc này vẫn còn là nếp sống du mục, nay đây mai đó, nên việc dựng lều là cách rất tiện lợi và phổ biến. Phải đợi đến khi cuộc sống bắt đầu định cư lúc ấy con người mới biết làm nhà. Người ta biết làm lều rồi mới biết làm nhà. Làm lều thường đỡ tốn công và đỡ vất vả hơn. Người ta dựng lều rồi nhổ đi hay bỏ luôn cũng không thấy tiếc. Dựng nhà thì phức tạp hơn, kiên cố hơn và căn nhà không chỉ là chỗ che mưa, tránh gió, chỗ nghỉ ngơi, nhưng còn là chỗ để dự trữ lương thực và là nơi sinh hoạt chính của gia đình.
Mới đầu căn nhà thường là nhà lá, nhà tranh, rồi nhà đất, sau mới đến nhà gỗ, nhà gạch. Khi xưa, các căn nhà rất đơn giản chỉ một tầng, nhưng rồi dần dần hai tầng và ngày hôm nay có những toà nhà cao đến trăm tầng. Xã hội con người tiến bộ khiến giấc mơ của con người về nơi ăn chốn ở trong từng giai đoạn lịch sử cũng đổi thay. Giấc mơ cuộc sống hạnh phúc cũng leo thang dần ở mọi nơi, Đông cũng như Tây. Khi cuộc sống còn đơn sơ, kham khổ những mộng ước con người cũng rất đơn giản. Những ước mơ đơn sơ ngày xưa ấy còn ẩn hiện nơi những bài hát của những cặp tình nhân trong ngày cưới. Họ không mơ gì hơn, chỉ ước mơ “một mái nhà tranh với hai trái tim vàng.” Đơn sơ thế thôi, nhưng ước mơ đó đã là sức mạnh khiến nhiều người, trong các thế hệ trước chúng ta, tiến đến sống chung trọn kiếp. Một khi cuộc sống tiến bộ hơn, con người không còn mơ mái nhà tranh hai trái tim vàng nữa mà họ ủ cho mình những giấc mơ “nhà ngói cây mít.” Đọc lại những tác phẩm văn học thời 30-45 chúng ta vẫn bắt gặp những ước mơ này. Tại sao lại ước mơ nhà ngói cây mít? Vì nhà ngói thì bền và cây mít là loài cây sống lâu. Khấm khá hơn như cuộc sống hiện đại này, giấc mơ hạnh phúc của con người cũng chỉ quanh quẩn xung quanh cái nhà. Rời Việt Nam qua đến xứ Mỹ này, tôi bắt gặp American dreams (Những giấc mộng Mỹ) cũng lại là những cái nhà. Nhưng cái nhà trong xã hội đương đại và nơi đất Mỹ này đó là những cái nhà kín cổng cao tường, có tường luỹ vây quanh, có hào ngăn cách.
Đó là nói về căn nhà, cái nhà, toà nhà, nhưng nếu bỏ những tiếng đứng trước chữ “nhà” như “căn, cái hay toà” thì nghĩa đã khác lắm rồi. Khi nói đến “nhà” thì người nghe và người nói thường liên tưởng đến mối tương quan giữa căn nhà và người sống trong đó. Người ta chỉ gọi đâu đó là “nhà” khi người ta sống ở đó, cảm thấy thoải mái ở đó và người ta được tự do sinh hoạt trong căn nhà ấy. Nếu nói một “căn nhà” thì dù không có người ở, không phải của tôi nó vẫn là một căn nhà. Nhưng nếu nói “nhà” thì nơi nào đó phải là nơi tôi sống, tôi cảm thấy thoải mái, tự do, ấm cúng và là nơi tôi đi về. Khi đến nhà một người khác, tôi không có cái tự do và thoải mái như ở nhà. Chủ nhà muốn tôi được thoải mái thường nói “Hãy cứ tự nhiên như ở nhà cho.”
Những đặc tính chở che, tạo sự thoải mái, yên lành của căn nhà khiến cho các cách nói sinh hoạt hằng ngày của người Việt Nam cũng gắn bó với nhà cửa của họ. Ngôn ngữ Việt Nam thật hay vì nó đã diễn tả được trọn vẹn mối tương quan của căn nhà và người sống trong đó. Khi một cặp vợ chồng yêu thương nhau, người này là sự bình an, nơi nương tựa và chỗ gởi gắm yêu đương của người kia, họ không gọi người bạn đời của họ bằng tên riêng nhưng gọi là “nhà tôi.” Chẳng hạn một người vợ hay chồng có thể trả lời khi được hỏi: “Anh/chị ấy có nhà không?” “Nhà tôi đi vắng rồi.” Hay “Nhà tôi đang bận chút việc.” Khi vợ chồng còn gọi nhau là nhà của nhau, ta sẽ cảm thấy đó thật là nhà và người đi xa đều muốn trở về, mong cho việc đang làm xong sớm hay thời gian qua mau và đường đi ngắn lại để rồi còn trở về “nhà của mình.” Nhà lúc này không chỉ là một căn nhà bằng gỗ đá nữa nhưng là một con người, nơi tôi tìm được sự yêu đương, cảm thông và nương tựa. Nếu một cặp vợ chồng nào đó không còn gọi nhau là nhà của nhau nữa, mà gọi bằng một đại danh từ nào đó như “ổng” hay “bả,” người nghe có thể đoán bắt được ngay cường độ tình yêu trong gia đình đó như thế nào. Tệ hơn nữa, nếu không gọi là “nhà tôi” nhưng là “thằng cha ấy,” hay “con mẹ đó,” thì đây quả là một thứ tình yêu thiếu máu và xanh xao, nếu không muốn nói là tình yêu đã thật sự trống vắng trong căn nhà đó. Lúc đó nhà không còn là nhà nữa mà là “hoả ngục,” hoặc là “nhà tù” của nhau, mà chúng ta vẫn thường nghe đến quen tai.
Phạm Đức Hạnh
Trong tiếng Việt có những kiểu nói mang nghĩa rất gần với nhau, đến mức độ có thể dùng lầm đôi khi, chẳng hạn như “căn nhà” và “nhà”. Thực ra, hai cách nói này có những nghĩa rất khác nhau. Đối với cách nói “cái nhà, toà nhà, hay căn nhà” thì người nói và người nghe thường chỉ biết đến bất cứ một căn nhà nào đó. Căn nhà đó có thể là một căn nhà lớn nhỏ, mới cũ của một người hàng xóm với ta, hoặc nhà của tôi, hay nhà của bạn và cả nhà hoang nữa. Nói đến “căn nhà” là nói đến một hình thể vật chất nơi đó được dùng để che nắng, trú mưa, ngăn cản những luồng gió độc và bảo vệ con người khỏi những muông thú nguy hiểm. Nhắc đến hai chữ “căn nhà” thường không bắt buộc người nói và người nghe phải liên hệ nó với một cá nhân cụ thể nào, nhưng thường chỉ muốn trực tiếp nói về căn nhà đó nó như thế nào mà thôi.
Chức năng của căn nhà là che chở, bảo vệ khỏi những hiểm nguy và còn là nơi cho con người nghỉ ngơi. Vì tính thiết thực của nó nên căn nhà đã luôn gắn liền với đời sống con người từ muôn thủa và sẽ còn mãi với các thế hệ sau. Từ những ngày đầu của đời sống sinh hoạt trong xã hội nguyên thủy, con người đã gắn liền với việc tìm kiếm cho mình một nơi ẩn trú những khi nắng mưa. Khi ấy căn nhà mới chỉ là một cái hang. Sau khi con người đã phát triển hơn thì họ biết dựng lều mà ở thay cho hang. Nếp sống săn bắn đã bớt dần, con người bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi. Thế nhưng chăn nuôi và trồng trọt lúc này vẫn còn là nếp sống du mục, nay đây mai đó, nên việc dựng lều là cách rất tiện lợi và phổ biến. Phải đợi đến khi cuộc sống bắt đầu định cư lúc ấy con người mới biết làm nhà. Người ta biết làm lều rồi mới biết làm nhà. Làm lều thường đỡ tốn công và đỡ vất vả hơn. Người ta dựng lều rồi nhổ đi hay bỏ luôn cũng không thấy tiếc. Dựng nhà thì phức tạp hơn, kiên cố hơn và căn nhà không chỉ là chỗ che mưa, tránh gió, chỗ nghỉ ngơi, nhưng còn là chỗ để dự trữ lương thực và là nơi sinh hoạt chính của gia đình.
Mới đầu căn nhà thường là nhà lá, nhà tranh, rồi nhà đất, sau mới đến nhà gỗ, nhà gạch. Khi xưa, các căn nhà rất đơn giản chỉ một tầng, nhưng rồi dần dần hai tầng và ngày hôm nay có những toà nhà cao đến trăm tầng. Xã hội con người tiến bộ khiến giấc mơ của con người về nơi ăn chốn ở trong từng giai đoạn lịch sử cũng đổi thay. Giấc mơ cuộc sống hạnh phúc cũng leo thang dần ở mọi nơi, Đông cũng như Tây. Khi cuộc sống còn đơn sơ, kham khổ những mộng ước con người cũng rất đơn giản. Những ước mơ đơn sơ ngày xưa ấy còn ẩn hiện nơi những bài hát của những cặp tình nhân trong ngày cưới. Họ không mơ gì hơn, chỉ ước mơ “một mái nhà tranh với hai trái tim vàng.” Đơn sơ thế thôi, nhưng ước mơ đó đã là sức mạnh khiến nhiều người, trong các thế hệ trước chúng ta, tiến đến sống chung trọn kiếp. Một khi cuộc sống tiến bộ hơn, con người không còn mơ mái nhà tranh hai trái tim vàng nữa mà họ ủ cho mình những giấc mơ “nhà ngói cây mít.” Đọc lại những tác phẩm văn học thời 30-45 chúng ta vẫn bắt gặp những ước mơ này. Tại sao lại ước mơ nhà ngói cây mít? Vì nhà ngói thì bền và cây mít là loài cây sống lâu. Khấm khá hơn như cuộc sống hiện đại này, giấc mơ hạnh phúc của con người cũng chỉ quanh quẩn xung quanh cái nhà. Rời Việt Nam qua đến xứ Mỹ này, tôi bắt gặp American dreams (Những giấc mộng Mỹ) cũng lại là những cái nhà. Nhưng cái nhà trong xã hội đương đại và nơi đất Mỹ này đó là những cái nhà kín cổng cao tường, có tường luỹ vây quanh, có hào ngăn cách.
Đó là nói về căn nhà, cái nhà, toà nhà, nhưng nếu bỏ những tiếng đứng trước chữ “nhà” như “căn, cái hay toà” thì nghĩa đã khác lắm rồi. Khi nói đến “nhà” thì người nghe và người nói thường liên tưởng đến mối tương quan giữa căn nhà và người sống trong đó. Người ta chỉ gọi đâu đó là “nhà” khi người ta sống ở đó, cảm thấy thoải mái ở đó và người ta được tự do sinh hoạt trong căn nhà ấy. Nếu nói một “căn nhà” thì dù không có người ở, không phải của tôi nó vẫn là một căn nhà. Nhưng nếu nói “nhà” thì nơi nào đó phải là nơi tôi sống, tôi cảm thấy thoải mái, tự do, ấm cúng và là nơi tôi đi về. Khi đến nhà một người khác, tôi không có cái tự do và thoải mái như ở nhà. Chủ nhà muốn tôi được thoải mái thường nói “Hãy cứ tự nhiên như ở nhà cho.”
Những đặc tính chở che, tạo sự thoải mái, yên lành của căn nhà khiến cho các cách nói sinh hoạt hằng ngày của người Việt Nam cũng gắn bó với nhà cửa của họ. Ngôn ngữ Việt Nam thật hay vì nó đã diễn tả được trọn vẹn mối tương quan của căn nhà và người sống trong đó. Khi một cặp vợ chồng yêu thương nhau, người này là sự bình an, nơi nương tựa và chỗ gởi gắm yêu đương của người kia, họ không gọi người bạn đời của họ bằng tên riêng nhưng gọi là “nhà tôi.” Chẳng hạn một người vợ hay chồng có thể trả lời khi được hỏi: “Anh/chị ấy có nhà không?” “Nhà tôi đi vắng rồi.” Hay “Nhà tôi đang bận chút việc.” Khi vợ chồng còn gọi nhau là nhà của nhau, ta sẽ cảm thấy đó thật là nhà và người đi xa đều muốn trở về, mong cho việc đang làm xong sớm hay thời gian qua mau và đường đi ngắn lại để rồi còn trở về “nhà của mình.” Nhà lúc này không chỉ là một căn nhà bằng gỗ đá nữa nhưng là một con người, nơi tôi tìm được sự yêu đương, cảm thông và nương tựa. Nếu một cặp vợ chồng nào đó không còn gọi nhau là nhà của nhau nữa, mà gọi bằng một đại danh từ nào đó như “ổng” hay “bả,” người nghe có thể đoán bắt được ngay cường độ tình yêu trong gia đình đó như thế nào. Tệ hơn nữa, nếu không gọi là “nhà tôi” nhưng là “thằng cha ấy,” hay “con mẹ đó,” thì đây quả là một thứ tình yêu thiếu máu và xanh xao, nếu không muốn nói là tình yêu đã thật sự trống vắng trong căn nhà đó. Lúc đó nhà không còn là nhà nữa mà là “hoả ngục,” hoặc là “nhà tù” của nhau, mà chúng ta vẫn thường nghe đến quen tai.