View Full Version : Chúa nhật năm B - Lm. Inhaxiô Hồ Thông
admin
25-01-2008, 06:14 AM
Mùa Vọng - Giáng Sinh B - Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Chúa nhật I Mùa Vọng B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/MuaVongB/CN I Mua Vong B.htm
admin
30-11-2008, 07:20 PM
Chúa Nhật II Mùa Vọng
http://gpnt.net/chugiaiktcn/MuaVongB/CN%20II%20Mua%20Vong%20B.htm
admin
08-12-2008, 07:46 PM
http://gpnt.net/chugiaiktcn/MuaVongB/CN III Mua Vong B.htm
admin
19-12-2008, 09:35 AM
Chúa nhật IV Vọng B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/MuaVongB/CN IV Mua Vong B.htm
admin
22-12-2008, 08:14 PM
Giáng Sinh - Lễ Đêm
http://gpnt.net/chugiaiktcn/giangsinhb/Giangsinh ledem.htm
admin
23-12-2008, 07:33 PM
Lễ Thánh Gia
http://gpnt.net/chugiaiktcn/giangsinhb/Le thanhgiathatb.htm
admin
29-12-2008, 11:55 AM
Lễ Hiển Linh ABC
http://gpnt.net/chugiaiktcn/giangsinhb/Le Hien Linh.htm
admin
04-01-2009, 05:21 PM
Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa B (http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong nien B/Le CGS Chiu Phep Rua B.htm)
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong%20nien%20B/Le%20CGS%20Chiu%20Phep%20Rua%20B.htm
admin
11-01-2009, 07:02 PM
Chúa nhật II Thường niên B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong nien B/CN II TN B.htm
admin
17-01-2009, 04:34 AM
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong nien B/CN III TN B.htm
admin
23-01-2009, 04:04 PM
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong%20nien%20B/CN%20IV%20TN%20B.htm
admin
02-02-2009, 07:50 AM
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong%20nien%20B/CN%20V%20TN%20B.htm
admin
08-02-2009, 07:51 PM
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong%20nien%20B/CN%20VI%20TN%20B.htm
admin
15-02-2009, 02:51 PM
Thứ Tư Lễ Tro
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay B/thutuletro.htm
admin
23-02-2009, 02:41 PM
Chúa Nhật I Mùa Chay B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay B/CN I Mua Chay B.htm
admin
01-03-2009, 05:41 PM
Chúa Nhật II Mùa Chay B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay%20B/CN%20II%20Mua%20Chay%20B.htm
admin
08-03-2009, 01:20 PM
Chúa nhật III Mùa Chay B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay%20B/CN%20III%20Mua%20Chay%20B.htm
admin
16-03-2009, 08:53 AM
Chúa nhật IV Mùa Chay B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay%20B/CN%20IV%20Mua%20Chay%20B.htm
admin
24-03-2009, 07:12 AM
Chúa nhật V Mùa Chay B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay%20B/CN%20V%20Mua%20Chay%20B.htm
admin
29-03-2009, 01:16 PM
Chúa nhật Lễ Lá
http://gpnt.net/chugiaiktcn/Chay B/CN Le La B.htm
admin
04-04-2009, 11:03 AM
Chúa Nhật Phục Sinh
http://gpnt.net/chugiaiktcn/PhucsinhB/CN Phuc Sinh.htm
admin
13-04-2009, 09:10 AM
Chúa Nhật II Phục Sinh B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/PhucsinhB/CN II Phuc Sinh B.htm
admin
20-04-2009, 06:40 AM
Chúa Nhật III Phục Sinh B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/PhucsinhB/CN%20II%20Phuc%20Sinh%20B.htm
admin
26-04-2009, 01:26 PM
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay có chung cùng một chủ đề: Đức Giê-su Ki tô là Đấng cứu độ duy nhất của chúng ta.
Cv 4: 8-12
Khi bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng, thánh Phê-rô giải thích cho họ, những người đã kết án tử Đức Giê-su trước đây, rằng họ đã loại bỏ Đấng, chỉ ở nơi Ngài con người có thể được ơn cứu độ.
1Ga 3: 1-2
Trong thư thứ nhất của mình, thánh Gioan nhắc nhở rằng, được liên kết với Đức Giê-su, chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa và được đảm bảo dự phần vào số phận vinh quang của Ngài.
Ga 10: 11-18
Tin Mừng hôm nay giới thiệu Đức Giê-su là Mục Tử nhân lành, chỉ mình Ngài mới có thể dẫn chúng ta vào ràn chiên của Thiên Chúa, vì Ngài hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.
BÀI ĐỌC I (Cv 4: 8-12)
Việc thánh Phê-rô bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng là kết quả của biến cố mà chúng ta đã đọc câu chuyện vào Chúa Nhật vừa qua: sau khi chữa lành một người què trước cửa Đền Thờ, vị lãnh đạo của các Tông Đồ đã ngỏ lời với đám đông đầy kinh ngạc.
Những lời phát biểu của thánh nhân đã làm xao xuyến các vị lãnh đạo Giê-ru-sa-lem và chắc chắn làm bực tức nhóm Sa-đu-xê-ô.
Chúng ta biết rằng nhóm Sa-đu-xê-ô không tin vào sự phục sinh của thân xác; họ cho rằng quan niệm nầy xuất hiện rất muộn thời trong những tín ngưỡng của Ít-ra-en. Theo họ, sự tinh tuyền đạo lý đòi buộc người ta gắn bó với niềm tin tiền lưu đày; vì thế, họ cảm thấy chướng tai khi nghe nói về cuộc phục sinh của Đức Giê-su.
Thánh Phê-rô và thánh Gioan bị bắt cùng nhau ở Cửa Đền Thờ khi lên Đền Thờ cầu nguyện và chữa lành người què. Họ là hai người bạn đồng hành gắn bó cùng nhau trong thời gian đầu tiên của các Tông Đồ, và cũng là như vậy trong thời gian sau cùng của sứ mạng Đức Giê-su: chính hai người được sai đi chuẩn bị lễ Vượt Qua; chính hai người, sau khi trốn chạy vào lúc Đức Giê-su bị bắt, trấn tỉnh lại và đi theo Ngài xa xa cho đến dinh thượng tế Cai-pha; cũng chính hai người cùng nhau chạy đến ngôi mộ vào sáng sớm Phục Sinh, vân vân). Họ qua đêm trong tù. Sáng hôm sau, họ bị điêu ra trước Thượng Hội Đồng, tức tòa thượng thẩm của Ít-ra-en, để bị tra hỏi.
1. Nơi diễn ra phiên tòa.
Hai vị Tông Đồ bị điệu ra trước những quan tòa mà, trước đây vài tuần, đã kết án Đức Giê-su: Thượng Tế đương nhiệm Cai-pha chủ trì Thượng Hội Đồng; Cựu Thượng Tế Kha-nan, bố vợ của ông Cai-pha, những kỳ mục và những kinh sư.
Phiên tòa diễn ra cũng một nơi trước đây đã xử Đức Giê-su. Vào lúc Đức Giê-su bị bắt, trời đã tối nên các thành viên Thượng Hội Đồng tụ họp vội vàng trong dinh Thượng Tế Cai-pha. Dinh Thượng Tế Cai-pha có lẽ đã nhắc nhở thánh Phê-rô một kỷ niệm đau buồn. Nhưng thật là khác biệt biết bao giữa thái độ của người môn đệ sợ hãi của đêm bi thảm chối thầy mình, và vị Tông Đồ được ơn soi sáng của Biến Cố Phục Sinh và được đầy tràn Thần Khí của lễ Ngũ Tuần.
2. Chứng từ của thánh Phê-rô trước Thượng Hội Đồng.
Giờ của sự thật đã điểm. Thánh Phê-rô phục quyền Đức Giê-su mà họ đã kết án trước đây, buộc tội những kẻ giết Ngài và công bố sự phục sinh của Đấng chịu đóng đinh. Thánh nhân phát biểu bằng giọng nói dạn dĩ: "Vậy, xin tất cả quý vị và toàn dân Ít-ra-en biết cho rằng".
Thật ra, người ta tra hỏi các ngài là nhờ quyền năng nào hay nhân danh ai mà hai vị đã chữa lành người què nầy. Thánh Phê-rô quả quyết rằng chính nhờ danh Đức Giê-su Ki tô, người Na-da-rét. Thánh nhân chủ ý dùng thuật ngữ có một âm vang tiêu cực nầy như câu thành ngữ: "Từ Na-da-rét, làm sao có gì hay được?” (Ga 1: 46). "Chính nhờ danh Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người đứng trước mặt quý vị đây được lành mạnh". Và vị Tông Đồ còn cất cao giọng hơn nữa: "Chính Đấng ấy là viên đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường".
Thật tốt đẹp biết bao khi sứ điệp về sự Phục Sinh được công bố trước hội đồng nầy, hội đồng đã lăng nhục và bêu xấu Đức Giê-su; thật tốt đẹp biết mấy khi những người đại diện chính thức của dân Chúa chọn nghe trực tiếp lời loan báo ơn cứu độ từ nay đạt được nhờ Đấng mà họ đã giết chết. Khi trích dẫn Kinh Thánh (Tv 118), vị Tông Đồ chứng minh rằng chân lý thuộc về phía của mình bởi vì các ngôn sứ đã báo trước rằng chính họ, những người thợ xây nhà Ít-ra-en đã loại bỏ đá tảng góc tường nầy.
Hơn nữa, sự hiện diện của người què được chữa lành trước tòa án nầy không phải là lời chứng hùng hồn rằng Đức Giê-su là căn nguyên của ơn cứu độ sao? Chính sự hiện diện của người què được chữa lành nầy cũng đã cứu hai vị Tông Đồ: hai ông được thả ra, vì Thượng Hội Đồng sợ đám đông dân chúng "tôn vinh Thiên Chúa vì việc đã xảy ra" (4: 21).
Nhưng chẳng bao lâu sau, bị bắt một lần nữa, thánh Phê-rô và thánh Gioan, lần nầy, bị đánh đòn và cấm không được nói đến danh Đức Giê-su; nhưng các ngài không thể nín lặng được và sẽ không bao giờ nín lặng.
BÀI ĐỌC II (1Ga 3: 1-2)
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Gioan hôm nay tập trung vào một chủ đề duy nhất: ơn làm con cái Thiên Chúa. Người Ki tô hữu là con cái Thiên Chúa ngay từ bây giờ, nhờ tình yêu của Chúa Cha. Nhưng ơn nghĩa tử nầy sẽ thăng hoa viên mãn chỉ khi chúng ta nên giống hoàn toàn với Con của Ngài vào ngày Ngài trở lại trong vinh quang.
1. Ơn làm con cái Thiên Chúa:
Thiên Chúa là tình yêu, đó là chủ đề hàng đầu của thần học Gioan. Thánh Gioan ngây ngất trước điều kỳ diệu nầy: Chúa Cha yêu thương chúng ta và gọi chúng ta là con cái của Ngài. Đó không chỉ là tước hiệu mà Ngài ban tặng cho chúng ta, nhưng một thực tại thâm sâu: "Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu chúng ta dường nào: Người yêu chúng ta đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. Theo văn hóa Do thái, một danh xưng diễn tả sự thật thâm sâu của con người: như vậy, Chúa Cha yêu thương chúng ta đến mức Ngài liên kết chúng ta vào Người Con của Ngài khi gọi chúng ta là con cái của Ngài. Phẩm vị nầy làm cho chúng ta khác với thế gian. "Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người". Những từ ngữ nầy vang dội lại những lời của Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài, được tường thuật chính xác trong Tin Mừng Gioan: "Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em" (Ga 15: 18).
Toàn bộ bức thư nầy được cấu trúc theo lối phản đề; cuộc sống người Ki tô hữu đối lập với cuộc sống của những kẻ cứng tin hay những người lạc giáo. Ở đây, lối phản đề bao phủ một vùng rộng lớn: đó là thế gian, được hiểu theo nghĩa tiêu cực, thế giới của tội lỗi, bởi "vì thế gian đã không biết Thiên Chúa".
2. Sự biến đổi trong tương lai.
Đoạn trích nầy có thể được đặt nhan đề: "Từ phép rửa đến sự biến đổi". Thật ra, từ ngữ không nói lên điều nầy, nhưng chính chuyển động của tư tưởng.
Chúng ta đã được biến đổi rồi bởi cuộc sống làm con cái Thiên Chúa của chúng ta, nhưng đây chỉ là giai đoạn đầu tiên. Ơn làm con cái Chúa được hoàn thiện chỉ khi chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài; điều nầy sẽ chỉ xuất hiện vào thời chung cuộc. Bản văn có vẻ như muốn nói rằng được ngắm nhìn Con của Ngài trong vinh quang sẽ biến đổi chúng ta. Thật ra, đây không là ý tưởng mà thánh Gioan thật sự muốn diễn tả, vì sự biến đổi của chúng ta được ươm mầm rồi ở nơi phẩm tính con cái Thiên Chúa của chúng ta.
Lời khẳng định của vị Tông Đồ là một lời khẳng định của đức tin, nhưng cũng dựa trên kinh nghiệm: thánh Gioan đã là nhân chứng của biến cố Biến Hình. Thánh nhân dường như ám chỉ đến kinh nghiệm nầy trong Tựa Ngôn: "Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy trần ân sủng và sự thật" (Ga 1: 14).
Thánh Phao-lô cũng gợi lên sự biến đổi tương lai nầy trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp: "Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người" (Pl 3: 20-21).
TIN MỪNG (Ga 10: 11-18)
Trong cả ba năm Phụng Vụ, Chúa Nhật IV Phục Sinh là Chúa Nhật "Chúa Chiên Lành". Mỗi năm Phụng Vụ chúng ta đọc một đoạn trích bài diễn từ của Đức Giê-su về “Người Mục Tử nhân lành” của chương 10 Tin Mừng Gioan. Vào năm A, chúng ta đã đọc phần đầu (10: 1-10); vào năm B nầy, chúng ta đọc phần tiếp theo (10: 11-18).
Bài diễn từ nầy được Đức Giê-su công bố ở Giê-ru-sa-lem sau khi Ngài cho một anh mù được sáng mắt. Trong bài diễn từ nầy, Đức Giê-su tự nhận mình là người mục tử đích thật. Bài diễn từ nầy được ghi nhận trong cuộc xung đột giữa Đức Giê-su và các đối thủ của Ngài: họ là "quân trộm cướp", "những kẻ tiếm quyền mục tử". Những người Biệt Phái nầy đã trục xuất con chiên lẽ loi cô độc khỏi ràn chiên, tức là anh mù được sáng mắt. Đức Giê-su đã thu nhận anh, soi lòng mở trí cho anh vào ánh sáng đức tin…Như vậy chân dung của người mục tử nhân lành được nêu bật bởi sự đối lập nầy.
Mặt khác, các vị lãnh đạo Ít-ra-en đặt vấn đề về Đức Giê-su và uy quyền của Ngài khi đòi hỏi Ngài thực hiện những điềm thiêng dấu lạ. Đức Giê-su gián tiếp trả lời cho họ khi tự nhận cho mình tước vị Mê-si-a Mục Tử mà các ngôn sứ đã loan báo.
1. Hình ảnh người mục tử:
Hình ảnh người mục tử rất quen thuộc với một dân tộc không quên rằng cha ông của họ đã từng sống kiếp sống du mục và chăn nuôi. Kinh Thánh đã phác họa Đức Chúa là vị mục tử lý tưởng. Ẩn dụ cho phép diễn tả hai khía cạnh của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân Ngài: uy quyền nhưng từ bi nhân hậu. Nhưng tước hiệu mục tử nầy được dành riêng đặc biệt hơn cho Đấng Mê-si-a tương lai. Nhất là ngôn sứ Ê-dê-ki-en – vào đầu thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên – vào thời điểm tai họa lớn lao (Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị đạo quân Ba-by-lon chiếm, Đền Thờ bị phá hủy, và dân chúng bị đưa đi lưu đày) đã tiên báo rằng rồi đến một ngày Thiên Chúa sẽ đòi lại đàn chiên của Ngài khỏi những mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên để giao lại cho Tân Đa-vít, không là vua, nhưng mục tử đích thật, tận tâm tận lực chăn dắt chúng (Ed ch. 34). Chính ở trong hàng dụ ngôn của vị ngôn sứ nầy mà dụ ngôn của Đức Giê-su được định vị.
2. "Tôi là Mục Tử nhân lành".
Trong phần thứ nhất của dụ ngôn (Ga 10: 1-10), Đức Giê-su đã phác họa những nét tiêu biểu của người mục tử nhân lành, nhưng chúng ta không thể ngộ nhận, chính là chân dung của Ngài.
Phần thứ hai (10: 11-18), mà chúng ta đọc hôm nay, đưa chúng ta vào trọng tâm của sứ điệp: Đức Giê-su công khai tuyên bố Ngài là Mục Tử Nhân Lành, nhân lành không chỉ vì Ngài chứa chan lòng nhân ái đối với đàn chiên của mình nhưng vì Ngài là mục tử đích thật, vị mục tử duy nhất mà dân chúng mong đợi. Khi Đức Giê-su công bố: "TÔI LÀ", Ngài cho lời quả quyết nầy một giá trị tuyệt đối, loại trừ tất cả người khác: "Tôi là Đường, Sự Thật và Sự Sống", “Tôi là ánh sáng thế gian", "Tôi là cây nho đích thật", vân vân. Và luôn luôn những "tôi là" nầy mở ra một mặc khải liên quan đến con người của Ngài, chưa nói đến “TÔI LÀ” đứng một mình quy chiếu đến Thần Tính của Ngài.
Khi tuyên bố mình là MỤC TỬ NHÂN LÀNH, Đức Giê-su thủ đắc cho riêng mình tước hiệu Mê-si-a. Và chính Ngài xác định vai trò Mê-si-a của Ngài:
- hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên;
- thiết lập những mối tương giao mật thiết giữa Thiên Chúa và con người;
- quy tụ tất cả những ai tin vào Ngài để chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.
3. “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”:
Đây là mặc khải cốt yếu gây xôn xao; mặc khải nầy mở ra và đóng lại toàn bộ đoạn văn nầy như kỷ thuật đóng khung.
Đức Giê-su loan báo cái chết của Ngài và ý nghĩa của cái chết nầy với một sự trang trọng hết mức. Cũng chính sự trang trọng nầy mà Ngài sẽ bày tỏ trong suốt cuộc Khổ Nạn của Ngài và thánh Gioan sẽ nhấn rất mạnh trong bài tường thuật của mình.
Đức Giê-su nghiêm túc đối mặt với cái chết nhưng cũng hoàn toàn độc lập đối với những kẻ gây ra cái chết của Ngài: các vị lãnh đạo Ít-ra-en hay viên Tổng Trấn Rô-ma: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình”. Nếu Ngài phải chịu như vậy, chính vì Ngài muốn như thế. Đó cũng là lời mà Ngài nói với thánh Phê-rô vào lúc bị bắt: “Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!” (Mt 26: 53).
Đức Giê-su dự kiến trước tất cả những giải thích sai lầm mà người ta có thể có về cái chết của Ngài: cái chết nầy sẽ không là hậu quả tất yếu của một sứ điệp gây xáo trộn, như cái chết của biết bao ngôn sứ, nhưng do ý muốn của chính Ngài. Đây là một sự tự nguyện hiến dâng với sự đồng thuận của Cha Ngài, trong một tình yêu nên một đối với đàn chiên trần thế. Đức Giê-su vén mở cho chúng ta một khía cạnh sâu xa của mầu nhiệm nầy: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình”. Vì thế, khi Chúa Cha bỏ mặc Con Ngài trong sự khốn cùng, chính lúc đó mà Ngài yêu Con Ngài nhất…
Nhưng Đức Giê-su cũng loan báo cuộc Phục Sinh của Ngài: “Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy”. Những lời nầy âm vang biết bao trong thời gian sắp đến. Đức Giê-su đã lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ Lều, lễ diễn ra vào mùa thu. Vào mùa xuân sang năm, lễ Vượt Qua sẽ là lễ Vượt Qua của Ngài, từ Tử nạn đến sự Phục Sinh…
4. “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi”.
Sự kiện người mục tử và đàn chiên quen hơi bén tiếng với nhau chiếm một chỗ quan trọng trong phần thứ nhất của dụ ngôn, ở đó Đức Giê-su nhấn mạnh: “Người giữ cửa cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ…” (10: 3-5). Việc quen hơi bén tiếng nầy cấu thành niềm tin tưởng và tình yêu.
Trong phần thứ hai nầy, Đức Giê-su cho chúng ta nguyên mẫu của việc quen hơi bén tiếng nầy, chính sự hiểu biết nên một lòng một ý giữa Cha và Con. Đây là khuôn mẫu của những mối liên hệ mà Đức Giê-su muốn thiết lập giữa Ngài và con người. Thực hiện một mối tương giao sâu thẳm như thế là công trình của Ngài và giá máu của Ngài. Đây là ý nghĩa căn bản của dụ ngôn.
5. Chỉ có một đàn chiên và một mục tử.
Một niềm hy vọng lớn lao chạy xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh: giờ của Đấng Mê-si-a sẽ là giờ hiệp nhất dân Thiên Chúa. Các ngôn sứ đã ôm ấp giấc mơ nầy sau khi dân Do Thái bị phân chia thành hai vương quốc (thế kỷ thứ mười trước Công Nguyên). Những người lưu đày ở Ba-by-lon (thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên) đặt mọi niềm hy vọng của mình vào sự can thiệp của Đấng Mê-si-a, Đấng đến thực hiện công việc khó khăn, đó là quy tụ mọi con cái Ít-ra-en tản mác khắp nơi. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a hứa: “Đức Chúa sẽ quy tụ đoàn chiên của Ngài còn sót lại từ khắp mọi miền” (23: 3). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en cũng hứa: “Sẽ chỉ có một mục tử duy nhất cho chúng hết thảy” (37: 24). Sự hiệp nhất sẽ là dấu chỉ của kỷ nguyên Mê-si-a và như bước khởi đầu của sự quy tụ cánh chung vĩ đại, vào thời sau hết, khi muôn dân muôn nước đều nghe tiếng gọi của Đức Chúa, vì Ít-ra-en là ánh sáng muôn dân.
Đối với Đức Giê-su đây là một cách thế mới để khẳng định mình là Đấng Mê-si-a khi công bố mình là Đấng kiến tạo sự hiệp nhất của đàn chiên. Nhưng Đức Giê-su không chỉ nghĩ đến những con chiên của nhà Ít-ra-en chưa nhận ra Ngài, Ngài còn nghĩ đến cuộc hoán cải của thế giới lương dân. Khía cạnh Giáo Hội được diễn tả rất rõ rồi trong phần thứ nhất của dụ ngôn với hình ảnh ràn chiên. Trong phần thứ hai nầy, hình ảnh rộng mở; không còn một ràn chiên được rào chắn chung quanh với cửa đóng then cài, nhưng toàn thể thế giới. Chính Giáo Hội có sứ mạng hiệp nhất đàn chiên trong cùng một ràn chiên và dưới cùng một vị mục tử, Đấng đã sinh ra trong hang lừa máng cỏ và đã hiến dâng mạng sống mình cho đàn chiên.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
03-05-2009, 09:25 AM
Chúa Nhật V Phục Sinh B
http://gpnt.net/chugiaiktcn/PhucsinhB/CN V Phuc Sinh B.htm
admin
10-05-2009, 09:27 PM
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tập trung vào chủ đề chính yếu của thánh Gioan: Thiên Chúa là tình yêu.
Cv 10: 25-26; 34-35; 44-48
Đoạn trích sách Công Vụ tường thuật thánh Phê-rô viếng thăm nhà viên sĩ quan Rô-ma, Co-nê-li-ô: Chúa Thánh Thần tuôn đổ những ân ban của Ngài trên viên sĩ quan lương dân nầy và thân bằng quyến thuộc của ông, như vậy, cho thấy rằng tình yêu Thiên Chúa được ban cho hết mọi người không loại trừ bất kỳ ai.
1Ga 4: 7-10
Trong đoạn trích thư thứ nhất của thánh Gioan, thanh nhân ca ngợi Thiên Chúa là tình yêu: “Tình yêu cốt ở điều nầy: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta”.
Ga 15: 9-17
Sau dụ ngôn “cây nho thật” được trích dẫn từ bài diễn từ từ biệt của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài sau bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su nói lên tình yêu của Ngài đối với các môn đệ Ngài và đối với tất cả những ai mà Ngài yêu thương và vì họ Ngài sẽ ban sự sống của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Cv 10: 25-26; 34-35; 44-48)
Câu chuyện nầy là một biến cố đặc biệt nhất trong sự nghiệp tông đồ của thánh Phê-rô và có tính quyết định nhất đối với việc phát triển của Giáo Hội tiên khởi: chấp nhận một lương dân và thân bằng quyến thuộc của người nầy vào trong cộng đoàn Ki tô giáo, không cần qua lề luật Mô-sê, nhất là phép cắt bì. Một cách nào đó, Chúa Thánh Thần đã bắt vị lãnh tụ các Tông Đồ thực hiện điều nầy.
Người lương dân nầy tên là Co-nê-li-ô, một sĩ quan trong quân đội Rô-ma đồn trú ở thành phố Xê-da-rê. Viên sĩ quan nầy là một thiện cảm viên của Do thái giáo, một trong số những người được gọi “những kẻ kính sợ Thiên Chúa”. Họ nhận ra vị Thiên Chúa Ít-ra-en là Thiên Chúa độc nhất, cầu nguyện với Ngài và cứu trợ cộng đồng Do thái, nhưng không gia nhập vào cộng đồng nầy, khác với những tân tòng, nghĩa là những người chấp nhận phép cắt bì, tuân giữ ngày sa-bát và những đòi hỏi khác của lề luật Mô-sê.
1. Thái độ khác thường của thánh Phê-rô.
Thánh Phê-rô chấp nhận lời mời của ông Co-nê-li-ô đến tại nhà ông. Hoạt cảnh mà thánh Lu-ca tường thuật thật cảm động. Việc thánh Phê-rô vào nhà một người lương dân, không sợ tiếp xúc với một “kẻ ô-uế” thì thật khác thường. Như chúng ta biết, những phong tục tập quán, chứ không lề luật, đã thiết lập muôn vàn rào chắn giữa người Do thái và lương dân, trước hết nhằm tránh tất cả sự nhiễm uế tôn giáo; tiếp đó tuân giữ luật thanh sạch một cách nghiêm nhặt và phức tạp như thanh tẩy, kiêng cử thức ăn.
Thái độ của ông Co-nê-li-ô cũng khác thường: “Khi thánh Phê-rô bước vào nhà, ông Co-nê-li-ô đích thân ra đón và phủ phục dưới chân vị Tông Đồ mà bái lạy”. Cử chỉ của viên quan Rô-ma nầy thật đáng ngạc nhiên. Việc phủ phục là một nghi lễ đông phương, được dành cho các vị thần linh và các bậc vua chúa.
Thánh Phê-rô phản ứng liền ngay: một cử chỉ như vậy chỉ dành cho Thiên Chúa: “Bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm”. Có lẽ thánh nhân nghĩ đến hình ảnh của người phong hủi và người đàn bà tội lỗi đã phủ phục dưới chân của Thầy mình: Ngài là Chúa, là Thiên Chúa. Thánh Phê-rô chỉ là một người môn đệ khiêm tốn của Ngài.
2. Bài diễn từ khác thường của vị lãnh tụ Tông Đồ.
Bài diễn từ của thánh nhân cũng khác thường. Số người tham dự thì đông: “Ông Co-nê-li-ô cho mời thân bằng quyến thuộc đến”. Lúc đó, thánh Phê-rô công bố những điều thật bất ngờ: không còn một dân ưu tiên nữa, Thiên Chúa không thiên vị người nào hay dân tộc nào; “nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận”. Vị lãnh tụ Tông Đồ nhận ra chiều kích mới của dân Thiên Chúa
.
3. Hoạt động khác thường của Chúa Thánh Thần.
Sau cùng, hoạt động của Chúa Thánh Thần thì khác thường. Sách Công Vụ làm chứng rằng Chúa Thánh Thần đóng một vai trò lớn lao trong việc phát triển của Giáo Hội tiên khởi. Vì thế không phải là vô căn cứ khi sách Công Vụ Tông Đồ được gọi là “sách Tin Mừng về Chúa Thánh Thần”.
Chính Chúa Thánh Thần đã xếp đặt cuộc gặp mặt giữa thánh Phê-rô và ông Co-nê-li-ô. Chính Ngài đã ban cho cả hai thị kiến hay xuất thần; chính Ngài làm gián đoạn bài diễn từ của vị Tông Đồ để tỏ mình ra và ngự xuống trên mọi người.
Có mấy người anh em ở Gia-phô, tức các tín hữu gốc Do thái, cùng đi với thánh Phê-rô (Cv 10: 23). Họ vô cùng kinh ngạc vì những dấu chỉ đặc sủng làm chứng sự hiện diện của Chúa Thần ở nơi lương dân nữa, ngay cả trước khi những lương dân nầy chịu phép Thánh Tẩy hay nghi thức đặt tay!
Lễ Ngũ Tuần của lương dân nầy, khá giống với Lễ Ngũ Tuần trước đó, cho thấy Thiên Chúa có sáng kiến ban tặng những thiên ân cho những ai ăn ngay ở lành.
Đối với Giáo Hội tiên khởi, đây là một mặc khải và là một cuộc cách mạnh. Chính thánh Phê-rô, vị lãnh tụ Giáo Hội, ý thức đầu tiên về điều nầy. Với những người lương dân nầy mà Chúa Thánh Thần chỉ định, thánh nhân mở rộng cánh cửa Nước Trời khi “truyền làm phép Rửa cho họ nhân danh Đức Giê-su Ki tô”.
BÀI ĐỌC II (1Ga 4: 7-10)
Chúng ta tiếp tục suy niệm thư thứ nhất của thánh Gioan. Trong đoạn trích nầy, chúng ta gặp lại chủ đề mà thánh Gioan không ngừng lập đi lập lại: Thiên Chúa là tình yêu, vì thế, chúng ta hãy yêu thương nhau. Lời khuyên bảo nầy được xoay quanh hai ý tưởng. Trước hết, Thiên Chúa là tình yêu, vì thế tình yêu là lối ngõ đi vào trong cuộc sống tâm giao với Thiên Chúa. Sau nữa, tình yêu Thiên Chúa được chứng thực ở nơi việc Ngài đã ban cho nhân loại Người Con của Ngài.
1. Tình yêu là lối ngõ đi vào trong cuộc sống tâm giao với Thiên Chúa.
Như Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly, thánh Gioan cũng gọi cộng đoàn Ki tô hữu của mình bằng những lời đầy âu yếm nầy: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ”. Cách xưng hô nầy rất xứng hợp để giới thiệu sự phát triển trên tình yêu. Những lời đầy yêu thương nầy khơi động sự chú ý và loan báo tầm quan trọng của giáo huấn.
Trong vài lời, thánh Gioan đặt nền tảng của “cái ngộ” Ki tô giáo đích thật. Trái với những khẳng định của các ngôn sứ mạo danh, những kẻ làm xao động các tín hữu, thánh nhân quả quyết rằng chúng ta biết Thiên Chúa không bởi ơn thần khải, cũng không bởi những suy luận thuần túy trừu tượng, nhưng từ thành quả của một kinh nghiệm: kinh nghiệm của đức ái, yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương chúng ta. “Tình Chúa đối với chúng ta” là khuôn mẫu và là nguồn mạch của mọi tình yêu.
Thần học nầy, thánh Gioan đã nêu lên rồi trong Tin Mừng của mình: “Sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha” (Ga 17: 3). Thuật ngữ “biết” trong Tin Mừng Gioan chất chứa trọn “tâm tư tình cảm”, như từ ngữ Do thái tương đương. Vả lại di sản Do thái rất dể nhận ra ở nơi đoạn trích dẫn nầy. Lời quả quyết vừa theo hình thức khẳng định: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” vừa theo hình thức phủ định: “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” là nét đặc trưng của cách hành văn Do thái.
Như vậy, “biết Thiên Chúa” thông qua đức ái nầy: vừa trải rộng cho hết mọi người vừa hướng về Thiên Chúa là cội nguồn của tình yêu, đưa chúng ta vào trong sự cộng sinh với Thiên Chúa, dự phần vào Thiên Tính. Chúng ta nên ghi nhận rằng thánh Gioan không giới hạn viễn cảnh vào đức ái Ki tô hữu: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra”. Cũng như trong Tựa Ngôn, khi định nghĩa Thiên Chúa là ánh sáng, thánh Gioan nhấn mạnh rằng ánh sáng nầy “đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1: 9).
2. Tình yêu Thiên Chúa được chứng thực ở nơi việc Người ban cho chúng ta Con của Ngài.
Trong bức thư nầy, những lời khuyên bảo và những lời nhắc nhở về đạo lý không ngừng được quyện vào nhau một cách khó nắm bắt. Điều quan trọng là giúp các Ki tô hữu kiên vững trong niềm xác tín của mình khi phải đối mặt với những lời nói vớ vẩn liên quan đến con người của Đức Ki tô, của những kẻ muốn trút bỏ sức nặng của Nhập Thể khỏi Tin Mừng, và vì thế, đánh mất cả ơn Cứu Chuộc.
Ấy vậy, sự kiện Nhập Thể - nhờ đó, Đức Ki tô mới có thể dâng hiến thân xác của mình thành của lễ – hình thành nên bằng chứng xác thực nhất và cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với con người.
“Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian”. Diễn ngữ nầy chỉ được gặp thấy nơi bút pháp của thánh Gioan. Trong bức thư nầy, trong Tựa Ngôn và trong Tin Mừng, tư tưởng đồng nhất với nhau: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3: 16).
Nhập Thể đã dẫn tình yêu Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa: ban Con của Ngài để tha thứ tội lỗi. Như vậy, Nhập Thể, Ơn Cứu Chuộc không thể nào bị loại ra khỏi Ki tô giáo; chúng không là những khái niệm xuất phát từ những suy luận nhân loại nhưng là những sáng kiến đến từ Thiên Chúa và chứng thực chân lý hàng đầu và căn bản nầy: Thiên Chúa là tình yêu.
Trong bốn tác giả Tin Mừng, thánh Gioan nhấn mạnh hơn ai hết tình yêu Thiên Chúa. Bản Tin Mừng hôm nay dâng hiến cũng những âm vang như thư thứ nhất nầy.
TIN MỪNG (Ga 15: 9-17)
Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích dẫn từ “bài diễn từ từ biệt” của Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài sau Tiệc Ly. Đoạn Tin Mừng nầy tiếp liền sau dụ ngôn “cây nho thật” được đọc vào Chúa Nhật trước.
Trong dụ ngôn “cây nho thật” Chúa Giê-su đã cho thấy rằng cành nho chỉ có thể sinh hoa kết trái nếu nó gắn liền với thân nho. Cũng vậy, các môn đệ dự phần vào cuộc sống Thiên Chúa và sinh hoa kết trái chỉ khi nào họ kết hợp với Ngài.
Qua hình ảnh nầy, Đức Giê-su diễn tả mối liên hệ mới mà Ngài đã đến thiết lập giữa Thiên Chúa và con người: mối liên hệ thâm giao của tình yêu.
1. Tình yêu của Đức Giê-su đối với các môn đệ của Ngài.
Vào những giây phút sau cùng nầy, Đức Giê-su nói với các môn đệ của Ngài, những người mà Ngài yêu mến, bằng một cung giọng rất mực trìu mến: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy như thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy”.
Ở đây, chúng ta chạm đến đỉnh cao của Mặc Khải: Chúa Con mặc khải cho chúng ta Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, Đấng mà Chúa Con gìn giữ mối liên hệ của tình Phụ Tử duy nhất. Ấy vậy, điều đáng chú ý chính là trong Tin Mừng thứ tư, những mối liên hệ giữa Cha và Con hiếm khi được nêu lên mà không theo liền ngay những viễn cảnh liên quan đến nhân loại. Điều nầy hé mở rằng tình yêu liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa, thay vì tập trung trên chính mình, tất yếu hướng về thụ tạo. Tất cả những gì Chúa Con lãnh nhận từ Chúa Cha, chính là để ban cho chúng ta. Tình yêu mà Chúa Cha yêu Chúa Con cũng chính là tình yêu Chúa Con yêu các môn đệ của mình.
2. Tình yêu của các môn đệ đối với Ngài.
Đến lượt mình, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ của Ngài hãy yêu mến Ngài, không là một thứ tình cảm trừu tượng, nhưng là một lòng trung thành với các điều răn của Ngài. Ngài đã nói với họ rồi trước đó một chút: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (14: 21).
Chúng ta đã thấy rồi, động từ “ở lại” là một từ chủ chốt của từ vựng Gioan. Trong chương 15 nầy, từ “ở lại” nầy, xuất hiện mười ba lần, nhấn mạnh sự hiện diện thường hằng của Thiên Chúa trong đời sống “nội tâm” của người Ki tô hữu. Như vậy, đức ái mà Đức Giê-su đề cao tạo nên một chuyển động kép: bên ngoài: thực hành những huấn lệnh Tin Mừng, bên trong: tăng cường mối liên hệ với Đức Ki tô.
“Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn”. Thật là mâu thuẩn biết bao, “niềm vui” nầy được công bố bởi người sắp phải đối đầu với những xao xuyến tận mức! Và cũng thật mâu thuẩn biết mấy, Ngài hứa niềm vui tròn đầy cho những người sắp phải chịu cơn choáng váng đến tận cùng tuyệt vọng về cái chết của Ngài. Tuy nhiên niềm vui nầy được định vị vào trung tâm của lập luận: vui trong bầu khí thân tình nầy, đó sẽ là hình thức hiện diện vô hình của Ngài ở nơi họ, sự hiện diện lòng bên lòng, nhờ đó họ sống cuộc sống của Ngài và lòng tràn đầy niềm vui mà “không ai lấy mất đi được” (16: 22) như Ngài sẽ xác định một chốc sau.
3. Tình yêu của các môn đệ đối với nhau.
Bài diễn từ từ biệt này, những lời dặn dò sau cùng nầy, hình thành nên những lời trăn trối của Đức Giê-su, những lời trăn trối nầy được cô động ở nơi một lệnh truyền duy nhất: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”.
Tình yêu Chúa Cha đối với Ngài là khuôn mẫu tình yêu của Ngài đối với họ; đến phiên họ, tình yêu của Ngài đối với họ phải là khuôn mẫu tình yêu của họ đối với nhau.
Đức Giê-su đã công bố lệnh truyền nầy rồi với một cung giọng đầy cảm xúc, vào lúc bữa tiệc vừa chấm dứt, ngay liền sau cuộc ra đi của Giu-đa: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi… Thầy ban cho anh em một giới răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13: 33-34).
“Lệnh truyền mới” nầy cốt yếu là gì? Người ta đã đọc thấy từ lâu trong sách Lê-vi: “Hãy yêu người thân cận như chính mình ngươi”. Diễn ngữ “yêu thương nhau” đã gặp thấy trong những lời khuyên dạy của các kinh sư, nhất là của kinh sư Hillel danh tiếng. Không phải Khổng Tử cũng đã dạy: “Tứ Hải Giai Huynh Đệ” sao?
Tuy nhiên, Đức Giê-su ban cho các môn đệ của Ngài một lệnh truyền mà tầm mức của nó vượt ra ngoài mọi mức độ, sự quy chiếu của nó không còn đến tình yêu mà người ta quy chiếu về chính mình, nhưng đến tình yêu vô biên của Thiên Chúa “hy sinh mạng sống mình cho những người mà Ngài yêu”.
“Những người mà Ngài yêu”, trước hết chính là các môn đệ của Ngài đang vây quanh Ngài và lắng nghe lời Ngài; những người mà Ngài gọi là những bạn tâm phúc của Ngài và trao gởi cho họ sứ điệp của Ngài; những người mà Ngài đã chọn để tiếp tục công việc của Ngài. Sự tuyển chọn nầy tấn phong họ là những người được Ngài sai đi, những nhà truyền giáo “thu được kết quả và kết quả tồn tại mãi”.
“Những người mà Ngài yêu”, chính cũng là, ở bên kía các môn đệ của Ngài, tất cả những ai mà Ngài đã hy sinh mạng sống mình cho họ. Lệnh truyền “hãy yêu thương nhau” phải bao la rộng mở như tình yêu của Đức Giê-su: chết cho tất cả mọi người.
Tuy nhiên, cung giọng trực tiếp của Ngài là cung giọng chứa chan tình thương mến, vừa nhân loại vừa Thiên Chúa. Chính bằng cung giọng chan chứa tình thương mến nầy mà Đức Giê-su ngỏ lời với các Tông Đồ vào lúc từ giả các ông ra đi. Trái tim phàm trần của Ngài để lộ chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa nầy.
admin
18-05-2009, 01:20 PM
Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên
http://gpnt.net/chugiaiktcn/PhucsinhB/CN Thang Thien.htm
admin
25-05-2009, 03:47 PM
LỄ HIỆN XUỐNG
Sau triều đại của Chúa Cha trên dân Thiên Chúa mà Mùa Vọng nhắc nhớ, sau việc Chúa Con đến trong thế gian mà chúng ta đã tưởng niệm từ mầu nhiệm Nhập Thể đến biến cố Thăng Thiên, lễ Ngũ Tuần khai mở kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
Cv 2: 1-11Sự kiện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông đồ, Đức Trinh Nữ, vài người phụ nữ và vài anh em của Đức Giê-su, tụ họp trong phòng Tiệc Ly, được thánh Lu-ca tường thuật trong sách Công Vụ. Biến cố nầy rất thân thuộc với biến cố Xi-nai mà lễ Ngũ Tuần Do thái tưởng niệm vào đúng ngày nầy.
1Cr 12: 3-13Trong thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng tính đa dạng của những ân ban làm chứng về hoạt động của Chúa Thánh Thần. Mỗi một tín hữu lãnh nhận những ân ban của Chúa Thánh Thần, vì chỉ có một Thánh Thần duy nhất để hình thành nên một thân thể duy nhất.
Ga 10: 19-23Tin Mừng Gioan tường thuật tiền Ngũ Tuần, ngay từ ngày Phục Sinh. Đức Giê-su, hiện ra ở giữa các môn đệ, thổi hơi vào họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Chắc chắn những ân ban của Chúa Thánh Thần chỉ được bày tỏ sau nầy; nhưng thánh ký nhấn mạnh rằng biến cố Vượt Qua là biến cố từ đó Giáo Hội khai sinh. Thánh Thần ở với Giáo Hội ngay từ ngày đầu tiên.
BÀI ĐỌC I (Cv 2: 1-11)
Theo thánh Lu-ca, sau khi Chúa Giê-su lên trời trên núi Ô-liu, các Tông Đồ trở về Giê-ru-sa-lem, tuân theo lời căn dặn của Ngài trước khi rời bỏ họ: “Còn anh em, hãy ở lại trong thành , cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24: 49).
Nơi các ông tụ họp là “lầu trên” (Cv 1: 13). Chắc hẳn là phòng Tiệc Ly, căn phòng mà Đức Giê-su đã dùng bữa sau cùng với các ông, và Ngài đã thiết lập bí tích Thánh Thể; chính cũng ở căn phòng đó mà, dù mọi cửa đã đóng kín, Đức Giê-su đã hiện ra cho các ông vào buổi chiều Phục Sinh; chính cũng ở căn phòng đó mà Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên các ông.
1. Mọi người đang tề tựu ở một nơi.
Không nên hiểu “mọi người đang tề tựu ở một nơi” là cộng đoàn gồm một trăm hai mươi người họp mặt vài ngày trước đó để chọn ông Mát-thi-a thay thế ông Giu-đa (Cv 1: 15). Chắc hẳn đây là một nhóm nhỏ hơn được mô tả ở Cv 1: 13-14: “Các Tông Đồ… cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a, thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su”.
Họ cùng nhau chuyên cần cầu nguyện trong khi chờ đợi biến cố mà Đức Giê-su đã hứa: Chúa Thánh Thần ngự xuống.
Ấy vậy, một sự trùng hợp đáng chú ý, Chúa Thánh Thần chọn tỏ mình ra vào ngày đại lễ Do thái được gọi lễ Ngũ Tuần, lễ tưởng niệm cuộc ký kết Giao Ước trên núi Xi-nai, giữa Thiên Chúa và dân Ngài, trong trận cuồng phong và lửa.
2. Lễ Ngũ Tuần.
Được gọi “lễ Ngũ Tuần” vì ngày đại lễ nầy được cử hành vào ngày thứ năm mươi sau lễ Vượt Qua. Lễ Ngũ Tuần Do thái tự nguồn gốc là ngày lễ mùa, ngày lễ kết thúc giai đoạn được khai mạc vào ngày lễ Vượt Qua. Tuy nhiên, những ngày đại lễ của dân Ít-ra-en đều đã chịu một tiến trình tâm linh hóa: chúng đã trải qua từ bình diện tự nhiên đến bình diện Lịch Sử thánh. Đối với dân Chúa chọn, lịch sử cốt yếu là hành động của Thiên Chúa. Lễ Vượt Qua tưởng niệm cuộc xuất hành ra khỏi đất Ai-cập, lễ Lều tưởng niệm cuộc lưu lại trong Sa-mạc; sau cùng, lễ Ngũ Tuần tưởng niệm Giao Ước được ký kết trên núi Xi-nai, năm mươi ngày sau cuộc xuất hành ra khỏi đất Ai-cập. Vào thời kỳ gần với kỷ nguyên Ki tô giáo, lễ Ngũ Tuần không chỉ tưởng niệm việc ký kết giao ước, nhưng còn là dấu chỉ của việc làm mới lại giao ước hằng năm. Vào ngày lễ nầy, dân Do thái lập lại lời cam kết trung thành với Đức Chúa.
3. Núi Xi-nai và phòng Tiệc Ly.
Trên núi Xi-nai, lời hứa Giao Ước và ân ban Lề Luật được diễn ra một cách long trọng. Biến cố nầy được tác giả mô tả theo một văn phong rất gần với phép ngoa dụ. Trong đa số các tôn giáo, những biểu tượng được mượn ở nơi trận cuồng phong đi theo những cuộc thần hiện. Trong Do thái giáo có một ghi nhận đặc thù: Đức Chúa, Thiên Chúa duy nhất và siêu việt, từ chối mọi hình ảnh về Ngài, chấp nhận dấu chỉ lửa (hay ánh sáng, đám mây chói sáng) và dấu chỉ gió (cuồng phong hay gió hiu hiu), cũng là hơi thở hay thần khí, bởi vì đó là những hình ảnh phi vật chất nhất.
Việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ trong khuôn khổ của những cuộc thần hiện Cựu Ước. Thêm nữa, những hình ảnh truyền thống đã trở nên phong phú nhờ những đóng góp của văn chương khải huyền. Chúng ta đọc thấy ở văn chương khải huyền nầy, trận cuồng phong loan báo cuộc quy tụ muôn dân muôn nước vào ngày phán xét; những hình lưỡi lửa thuộc vào cùng một hình tượng của ngày chung cuộc. Thánh Lu-ca liên kết những hình ảnh nầy trực tiếp hơn đến ân ban các ngôn ngữ mà các Tông Đồ nhận được. Kỷ nguyên Ki tô giáo thật sự được loan báo bởi cùng những dấu chỉ với kỷ nguyên cánh chung.
Sau cùng truyền thống Kinh Sư đã suy niệm biến cố Xi-nai và đã khai triển những hàm chứa của nó, theo đó, giọng nói của ông Mô-sê đã được phân chia thành bảy mươi ngôn ngữ ngõ hầu mọi dân tộc đều có thể hiểu được.
Và làm thế nào không gợi lên lời cầu chúc của ông Mô-sê: “Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11: 29).
Như vậy có một sự liên tục từ Cựu Ước đến Tân Ước; Tân Ước đáp trả cho sự mong chờ của Cựu Ước. Mười hai bộ tộc Ít-ra-en ở chân núi Xi-nai; mười hai Tông Đồ ở phòng Tiệc Ly để tiếp tục sự nghiệp. Nhưng những khác biệt thì sâu xa.
4. Phép rửa trong Thần Khí.
“Và ai nấy đều được đầy tràn ơn Thánh Thần”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã báo trước rồi: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước…Còn Đấng đến sau tôi…Người sẽ làm phép rửa cho các anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3: 11).
Các Tông Đồ đều nhận phép rửa trong Thánh Thần và lửa. Giáo Hội xuất phát từ ngày lễ Ngũ Tuần Ki tô giáo nầy.
Những biến cố Xi-nai thiết lập triều đại Lề Luật; những biến cố của phòng Tiệc Ly thiết lập kỷ nguyên Thánh Thần. Xưa kia một dân duy nhất trở thành đối tượng của việc Thiên Chúa tuyển chọn. Từ nay muôn dân đều được mời gọi hưởng cùng một ơn cứu độ. Vì thế, ơn huệ đầu tiên của Chúa Thánh Thần là ân nói các ngôn ngữ, nhờ đó các Tông Đồ mới có thể ngỏ lời với đám thính giả “từ các dân thiên hạ trở về”. Một danh sách liệt kê dài các dân tộc nhấn mạnh chiều kích phổ quát của sứ điệp Tin Mừng.
Như vậy lễ Ngũ Tuần đối lập với chuyện tích Tháp Ba-ben (St 11), ở đó sự lộn xộn của ngôn ngữ và sự phân tán của các dân tộc xuất hiện như một sự trừng phạt. Nầy đây Giáo Hội của Đức Ki tô dâng hiến cho nhân loại một khả năng hiệp nhất được phục hồi.
Một ân huệ khác của Chúa Thánh Thần, có thể nhận thấy ngay, là ân ban Sức Mạnh. Ngay khi được đầy tràn Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ ra khỏi căn phòng cửa đóng then cài; họ loan báo cho tất cả mọi người những kỳ công của Thiên Chúa. Với sự dạn dĩ, họ phục quyền Đấng chịu đóng đinh và làm chứng Ngài đã sống lại.
5. Sự hiện diện của Đức Ma-ri-a.
Như chúng ta đã ghi nhận trên, ở nơi cụm từ: “mọi người đang tề tựu” bao gồm Đức Ma-ri-a cùng với mấy người phụ nữ. Việc Đức Ma-ri-a hiện diện vào ngày khai sinh Giáo Hội trong Chúa Thánh Thần không phải là không quan trọng: Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Mẹ trong bầu khí thinh lặng của căn phòng Na-da-rét: Thiên Chúa kín đáo đến ở giữa nhân loại. Đây là một tình mẫu tử khác, tình mẫu tử của nhiệm thể Con Mẹ mà từ nay Đức Ma-ri-a đảm nhận.
Vài người phụ nữ cũng đón nhận Thánh Thần. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng ở giữa họ có bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Những phụ nữ nầy không phải chịu dãi dầu sương gió trên những dặm đường xa, chịu tù đày bắt bớ như các Tông Đồ; các bà làm chứng theo một cách khác; các bà hoạt động đến mức mà truyền thống gọi bà Ma-ri-a Mác-đa-la “tông đồ của các tông đồ”.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12: 3-7, 12-13)
Thánh Phao-lô viết từ Ê-phê-sô, có lẽ vào mùa xuân năm 55, cho cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô, mà thánh nhân đã thiết lập vài năm trước đó, vào năm 50-52.
Cộng đoàn Cô-rin-tô rất năng động, nhưng cũng gây ra những bất đồng nội bộ khiến thánh Phao-lô phải bận tâm: đây là đối tượng của thư thứ nhất. Giáo đoàn nầy sống ở giữa thế giới lương dân và trong thành phố rộng mở trước những ảnh hưởng bên ngoài, nhất là trước những đạo thần bí đông phương đang hồi cực thịnh. Những trào lưu nầy không phải không có tác động đến cách ăn nếp ở của các tín hữu.
Ngoài ra, đây không là hoàn cảnh riêng biệt của cộng đoàn Cô-rin-tô. Trong những năm đầu tiên, các cộng đoàn Ki tô hữu đã khổ sở vì thiếu cơ cấu: chưa có phẩm trật; tổ chức còn non yếu và chưa đầy đủ. Ông A-pô-lô và ông Ti-mô-thê đến rồi đi chứ chưa bao giờ cư ngụ lâu dài ở đó. Vào lúc đó, mọi việc đều hoàn toàn tự phát và Chúa Thánh Thần bổ túc những thiếu thốn ban đầu nầy. Quả thật, những đặc sủng thì nhiều; sau đó sẽ trở nên hiếm hơn. Đó là một sự kiện.
Các tín hữu Cô-rin-tô xem ra đã được ban cho nhiều đặc sủng khác nhau, đôi khi không phải là không gây ồn ào huyên náo hay phô trương. Vì thế thánh nhân đòi hỏi họ tiên vàn phải hiểu rõ nguồn mạch của những ân huệ nầy.
1. Nguồn mạch duy nhất của muôn vàn ân sủng: Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thật đáng lưu ý rằng thánh Phao-lô đặt những ân sủng và mọi hoạt động Ki tô hữu dưới dấu chỉ của Ba Ngôi, khởi đi từ Chúa Thánh Thần: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa (Đức Ki tô). Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa (Chúa Cha) hoạt động trong mọi người”.
2. Mục đích duy nhất của muôn vàn ân sủng: lợi ích chung.
Thánh Tông Đồ đưa ra một luật vàng: tiêu chuẩn của những ân sủng phải là lợi ích của cộng đoàn, nghĩa là nếu không vì lợi ích cộng đoàn, ân sủng đó chỉ là ngụy tạo, mạo danh.
Tiếp đó, việc so sánh thân thể với Đức Ki tô rất nổi tiếng. Một thân thể làm cho mọi chi thể nên một như thế nào, Đức Ki tô làm cho Giáo Hội nên một như thế ấy, bất chấp vô số thành viên.
Nguyên tắc hiệp nhất, chính là Chúa Thánh Thần, Đấng duy nhất và ban muôn ân sủng cho cho mọi tín hữu trong bí tích Thánh Tẩy. Sự sống Thánh Thần phun trào trong chúng ta như mạch nước hằng sống: “Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thánh Thần duy nhất”.
TIN MỪNG (Ga 20: 19-23)
Chúng ta đã đọc đoạn Tin Mừng nầy rồi vào Chúa Nhật II Phục Sinh, trong một trích dẫn dài hơn và trong quan điểm của biến cố Phục Sinh (xin xem thêm chú giải Chúa Nhật II Phục Sinh).
Hôm nay, bản văn nầy được đề nghị cho chúng ta trong viễn cảnh của lễ Ngũ Tuần. Quả thật, đoạn Tin Mừng nầy được gọi “lễ Ngũ Tuần” của Tin Mừng Gioan. : “Đức Giê-su thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Điều nầy không mâu thuẩn với biến cố mà sách Công Vụ tường thuật, nhưng là một bổ túc thần học: “Giáo Hội khai sinh ngay từ biến cố Phục Sinh”, thậm chí nếu những ân huệ Thánh Thần chỉ được bày tỏ sau nầy.
Chúng ta sẽ nhấn mạnh vài nét đặc trưng mà trong bài chú giải của Chúa Nhật II Phục Sinh chúng ta đã không gợi lên.
1. Cuộc sáng tạo mới:
Đức Giê-su trao gởi sứ mạng tiếp tục công việc của Ngài cho cộng đoàn nhỏ bé nầy, “nhóm còn lại” nầy hình thành Giáo Hội Ngài: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.
Giáo Hội khai sinh dưới dấu chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây là một trong những giáo huấn của bản văn nầy.
Đức Giê-su thổi hơi vào họ, lập lại cử chỉ của Đấng Sáng Tạo, Ngài thổi sinh khí vào con người, và con người trở nên một sinh vật. Động từ mà thánh Gioan dùng ở đây không được gặp thấy ở bất cứ nơi nào khác trong Tân Ước, nhưng chính xác là động từ của bản Bảy Mươi, bản dịch Hy Lạp, của sách Sáng Thế để chỉ cử chỉ của Đấng Sáng Tạo (St 2: 7).
Đây cũng là động từ mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en sử dụng để mô tả cuộc hồi sinh của những bộ xương khô: “Ngươi hãy nói với Thần Khí: ‘Hỡi Thần Khí hãy thổi hơi vào những người đã chết nầy cho chúng được hồi sinh” (Ed 37: 9). Vì thế cốt là đánh dấu một “cuộc sáng tạo mới”, một thế giới mới khởi sự. Đức Giê-su làm cho các môn đệ trở thành một hạt nhân của nhân loại được tái sinh. Chính sự sống của Đấng Phục Sinh mà Ngài chuyển thông cho các ông.
2. Hiệp nhất giữa biến cố Vượt Qua và biến cố Ngũ Tuần.
Thánh ký luôn luôn liên kết sự tuôn trào Chúa Thánh Thần với biến cố Phục Sinh. Ông đã diễn tả tư tưởng nầy khi Đức Giê-su công bố về “những dòng nước hằng sống” vào ngày lễ Lều: “Đức Giê-su nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh” (Ga 7: 39).
Lễ Ngũ Tuần nội tại nầy, được thánh Gioan ghi lại, chỉ là lời dạo đầu của ngày lễ Ngũ Tuần ngoạn mục, ở đó tác động của Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi ngay lập tức các Tông Đồ. Nhưng khi đặt bên cạnh nhau: biến cố Vượt Qua và biến cố Ngũ Tuần, thánh Gioan nhấn mạnh sự hiệp nhất sâu xa của hai biến cố nầy. Hai ngày lễ nầy đã được liên kết rồi trong Do thái giáo; đến lượt mình, Tin Mừng khẳng định sự liên đới của hai biến cố nầy trong một viễn cảnh mới.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
31-05-2009, 09:35 AM
LỄ CHÚA BA NGÔI
Mặc khải Một Chúa Ba Ngôi không thuộc phạm vi của Cựu ước. Cựu Ước bận lòng gìn giữ sự tinh tuyền độc thần giáo không ngừng bị đe dọa bởi ảnh hưởng của các tôn giáo chung quanh.
Tuy nhiên, các bản văn Kinh Thánh để lộ ra vài tiên cảm về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nầy. Tầm quan trọng được ban cho Thần Khí Thiên Chúa, ngôi vị hóa dần dần của Ngôi Lời, đoạn của Đức Khôn Ngoan, nhất là trong những tác phẩm muộn thời, đặt trên lộ trình mặc khải về một Chúa với Ba Ngôi vị.
Ngôi Lời Nhập Thể mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và sự hiệp nhất của hai Ngôi Vị nầy với Chúa Con trong một sự hiệp thông của tình yêu, một sự tuôn tràn liên tục, một sự đổi trao thường hằng, vì thế bản tính của Thiên Chúa là sự trao ban. Chính nhờ tình yêu tự hiến của Chúa Con và sự sai phái của Chúa Thánh Thần mà sự trao ban nầy giúp nhân loại được tham đự vào cuộc sống Ba Ngôi nầy.
Như vậy mặc khải Chúa Ba Ngôi là một dữ kiện đặc biệt của Ki tô giáo, phân biệt với hai tôn giáo độc thần khác, Do thái giáo và Hồi giáo.
Từ ngữ “Một Chúa Ba Ngôi” xuất hiện lần đầu tiên tại một văn sĩ thuộc thế kỷ thứ hai, Théophile d’ Antioche.
Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Ngũ Tuần được liên kết khá sớm với việc cử hành Thiên Chúa Ba Ngôi. Lễ nhớ tôn kính Thiên Chúa Ba Ngôi được cử hành vào thế kỷ thứ bảy. Được ấn định trong lịch Phụng Vụ, việc cử hành nầy dần dần được xem như một ngày lễ đặc biệt. Từ thế kỷ thứ mười, lễ nầy được cử hành long trọng trong nhiều giáo hội địa phương. Vào năm 1334, Đức Thánh Cha Gioan XXII chấp nhận cách dùng nầy cho thành đô Rô-ma. Từ đó, lễ nầy được phổ biến khắp Giáo Hội hoàn vũ.
Vào ngày lễ Chúa Ba Ngôi nầy, ba bài đọc làm nổi bật dần dần Ba Ngôi Thiên Chúa.
Đnl 4: 32-34, 39-40
Bài đọc I, trích từ sách Đệ Nhị Luật, ca ngợi sự cao vời khôn sánh của Đức Chúa, Thiên Chúa duy nhất, siêu việt và hoàn vũ. Đây là dung mạo của Chúa Cha.
Rm 8: 14-17
Trong bài đọc II được trích từ thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô cho thấy tác động biến đổi của Chúa Thánh Thần trên cuộc sống của người Ki tô hữu.
Mt 28: 16-20
Bài đọc III là phần kết thúc Tin Mừng Mát-thêu: Chúa Con Phục Sinh công bố mình là chúa tể hoàn vũ, nguyên lý ơn cứu độ cho muôn dân muôn nước và thường hằng phù trợ Giáo Hội của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 32-40)
Bài đọc I được trích từ sách cuối cùng của bộ Ngũ Thư, được gọi là sách Đệ Nhị Luật, hay đơn giản là sách “Luật thứ hai”. Tuy nhiên, sách không lập lại Luật được diễn tả trong các sách trước đó (sách Xuất Hành, sách Dân Số, sách Lê-vi); sách nầy đánh dấu những phát triển mới để thích ứng luật vào hoàn cảnh của một dân đang định cư và thậm chí đã an cư lập nghiệp đến nỗi có nguy cơ quên ơn gọi của mình.
Bản hiến chương được làm mới lại nầy, được hư cấu trên môi miệng của ông Mô-sê, muốn nói lên rằng nó chỉ là khai triển luật của ông Mô-sê. Ông Mô-sê được cho là đang ngỏ lời với dân Ít-ra-en trước khi dân tiến vào Đất Hứa, nhưng thật ra đây là những thế hệ sau nầy được mời gọi trung thành với Đức Chúa của mình.
Sách Đệ Nhị Luật có chủ ý nhấn mạnh trên những nền tảng lịch sử và thần học của Luật. Đoạn trích mà chúng ta đọc hôm nay thật là có ý nghĩa về phương diện nầy.
1. Nền tảng lịch sử của Luật 4: 32-34)
Bản văn rất nổi tiếng, được soạn thảo theo văn phong đầy cảm xúc, ca ngợi việc Chúa chọn dân Ít-ra-en với cung điệu nồng nàn. Việc tuyển chọn nầy đem lại ý nghĩa cho những đòi hỏi của Luật.
Sự kiện vài ngàn người lưu vong thoát khỏi đất Ai-cập xem ra chẳng có nghĩa lý gì trong lịch sử chung của thế giới; nhưng thật ra, đây là một biến cố độc nhất vô nhị, việc Thiên Chúa can thiệp minh nhiên đầu tiên vào lịch sử thánh kể từ ngày khai thiên lập địa đến nay, vì Thiên Chúa đã chọn cho mình một dân giữa muôn dân: “Anh em cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh em, từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất; cứ hỏi từ chân trời nầy đến chân trời kia: có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế, hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng?”.
Lúc đó, bằng những ám chỉ, tác giả gợi lên những diễn biến của lịch sử đầy kinh ngạc nầy. Trước hết, tác giả nhắc nhớ biến cố chủ chốt: Thiên Chúa đã tỏ mình ra trên núi Xi-nai; mọi người đều được nghe tiếng Ngài mà không phải chết.
Chúng ta lưu ý trong diễn từ nầy, ông Mô-sê không nói lên kinh nghiệm của riêng mình về Thiên Chúa nhưng chỉ kinh nghiệm của dân chúng về Thiên Chúa. Quả thật, đó là một viễn cảnh rất hiển nhiên trong sách Đệ Nhị Luật: dân Ít-ra-en được xem như một cá nhân, một chủ thể duy nhất, đồng nhất với chính mình qua muôn thế hệ.
Tiếp đó, người kể chuyện còn đi ngược dòng thời gian đến cuộc xuất hành khỏi đất Ai-cập: “Hoặc có vị thần nào đã ra công đi chọn lấy cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác, đã dùng bao thử thách, dấu lạ, điềm thiêng và chinh chiến, đã dùng cách tay mạnh mẽ uy quyền, gây kinh hồn táng đỡm, như Đức Chúa của anh em, đã làm cho anh em tại Ai-cập, trước mắt anh em không?” Chúng ta có thể nói Thiên Chúa đã “bứng” dân Do thái khỏi đất Ai-cập để làm thành dân riêng của Ngài.
- “dùng bao thử thách” ám chỉ đến những gian truân vất vả trong sa mạc: đói khát, mệt mõi, lang bạc rày đây mai đó, vân vân
- “những dấu chỉ, điềm thiêng”: nào là nước phun vọt ra từ tảng đá, bánh man-na rơi xuống từ trời, chim cút rơi trên mặt đất, vân vân.
- “những chinh chiến”. Tác giả dành một chỗ lớn cho những cuộc chiến; ông vừa mới kể dong dài cuộc chinh phục đầy gian khổ ở bên kia sông Gio-đan; ông bày tỏ lý tưởng quốc gia chinh chiến, mà ông biết làm cho nó đồng hiện diện với lời dạy về một tôn giáo nội tâm.
- “đã dùng cánh tay mạnh mẽ uy quyền”. Đây là kiểu nói “thần nhân đồng hình”: kiểu nói nầy diễn tả vừa tính chất siêu việt của Thiên Chúa Ít-ra-en: Đấng hoàn toàn khác, vừa tính cách rất mực gần gũi của Ngài: Đấng làm cho mình trở nên gần với nhân loại hơn, trở nên sống động với dân Ngài hơn. Đây cũng là cách thức nhấn mạnh sự bất lực và bất tất của các thần linh ngoại giáo.
Sau cùng, tác giả ngược dòng thời gian xa hơn nữa khi ám chỉ đến những chiến công gây kinh hồn táng đỡm mà Thiên Chúa đã làm tại Ai-cập, nghĩa là những tai ương giáng xuống trên dân Ai-cập để buộc Pha-ra-on phải để cho dân Do thái ra đi.
Sau khi Thiên Chúa đã bày tỏ biết bao ân cần của Ngài đối với dân, làm thế nào dân Chúa chọn có thể tỏ mình bất trung với Ngài được? Đoạn văn cuối cùng suy ra những hậu quả thần học từ ơn tuyển chọn của dân Ít-ra-en.
2. Nền tảng thần học của Lề Luật (4: 39-40).
“Hôm nay đây, anh em phải biết và để tâm suy niệm điều nầy”. Những lời nầy hình thành nên lời khuyên bảo giáo lý đầu tiên rất đặc trưng trong toàn bộ sách. Tôn giáo mà sách Đệ Nhị Luật dạy không quy chiếu đến việc tuân giữ Lề Luật chi li, nó kêu gọi đến những tư thế sẳn sàng nội tâm và đến tình yêu đối với Thiên Chúa.
Vị Thiên Chúa nầy, hiện diện trong lịch sử, chính là Đấng Sáng Tạo, Ngài ngự trị “trên cõi trời cũng như dưới mặt đất, chính Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, chứ không có Thiên Chúa nào khác”.
Lời nhắc nhở đến độc thần giáo tuyệt đối chắc chắn là cần thiết vào lúc nầy. Một phần sách Đệ Nhị Luật xem ra đã được các thầy Lê-vi thuộc vương quốc phương Bắc soạn thảo kể từ thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, vào thời kỳ bội giáo của vương quốc nầy; nhưng rồi vào thế kỷ tiếp sau đó, vương quốc phương Nam, đến phiên mình, phạm tội thờ ngẫu tượng. Lời khẳng định về Thiên Chúa chân thật, duy nhất và siêu việt, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đòi hỏi phải vâng lời và yêu mến Ngài, chính là lời nhắc nhở thần học căn bản, đối mặt với những toan tính cúng tế của dân Ca-na-an.
“Vậy, các giới răn và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em, anh em phải tuân hành”. Từ “hôm nay” của sách Đệ Nhị Luật nhấn mạnh giá trị thường hằng của những huấn lệnh Thiên Chúa. Tuân hành chúng là nguồn mạch của những phúc lộc ở dưới thế nầy: “hạnh phúc và trường thọ”. Vào thời nầy, trong Kinh Thánh chưa có những viễn cảnh về những ân thưởng bên kia nấm mồ.
BÀI ĐỌC II (Rm 8: 14-17)
Thánh Phao-lô viết thư nầy từ Cô-rin-tô, vào mùa xuân 57-58, để chuẩn bị cho cuộc hành trình đến Rô-ma. Tuy nhiên, dự định đã không thành vì thánh nhân bị bắt vào mùa xuân năm sau ở Giê-ru-sa-lem. Chính trong cảnh giam cầm mà thánh nhân bị giải đến thủ đô của Đế Quốc vào đầu năm 61.
Trong những thư của thánh Phao-lô, thư gởi các tín hữu Rô-ma là thư dài nhất và quan trọng nhất về phương diện đạo lý.
Sau bức tranh ảm đạm về nhân loại bị giam hãm trong tội lỗi, thánh nhân phác họa một bức tranh đầy an ủi về nhân loại được ơn tái sinh và sống theo Thần Khí. Đây là chủ đề của chương 8 nầy.
1. Ơn nghĩa tử:
Thánh nhân ngỏ lời với những người chịu phép rửa, nhờ phép rửa, họ trở thành con cái Thiên Chúa. Thánh nhân khích lệ họ sống cho thích đáng với phẩm chất nầy và mời gọi họ sống cuộc sống nội tâm, một cuộc sống cho phép họ lắng nghe Thần Khí, vì Thần Khí sở hữu quyền năng biến đổi.
Như vậy, Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử chứ không trở thành nô lệ. Vào thời đại nầy, sự sánh ví nầy rất hùng hồn. Người nô lệ là người không có quyền lợi gì, không sở hữu bất cứ điều gì, sợ hãi ông chủ của mình. Người con là người thân thưa với cha mình “Cha ơi!” với một tấm lòng yêu thương và tin tưởng.
2. Đồng thừa kế với Đức Ki tô.
Người con không chỉ chắc chắn hưởng được lòng trìu mến thương yêu của Cha, nhưng còn có quyền thừa kế nữa.
Người Ki tô hữu là nghĩa tử nhờ Đức Ki tô, và với Đức Ki tô họ trở nên đồng thừa kế những thiện hảo của Nước Trời. Một viễn cảnh như thế thì trái với pháp lý Do thái, nhưng hợp với luật Hy-lạp và Rô-ma, người con nuôi được hưởng quyền thừa kế như người con ruột. Như vậy, thánh nhân nhấn mạnh ơn ban nghĩa tử trong Chúa Thánh Thần.
Nhưng nếu ơn nghĩa tử nầy làm cho người Ki tô hữu nên anh chị em của Đức Ki tô, nó kéo họ vào trong những gian truân và cái chết, trước khi cho họ được dự phần vào vinh quang của Ngài. Thánh nhân không làm dịu đi sứ điệu của mình.
TIN MỪNG (Mt 28: 16-20)
Chính trên hoạt cảnh uy nghi và hùng vĩ nầy mà sách Tin Mừng Mát-thêu hoàn tất: trên một ngọn núi thuộc miền Ga-li-lê, Đức Ki tô phục sinh xuất hiện cho nhóm Mười Một, họ phủ phục dưới chân Ngài. Ngài mặc khải quyền chủ tể hoàn vũ của Ngài và truyền lệnh cho họ truyền giáo khắp thiên hạ, bằng cách đảm bảo với họ ơn phù trợ của Ngài.
Thánh Mát-thêu không tường thuật bất cứ lần hiện ra nào của Đức Giê-su với nhóm Mười Một nầy sau khi Ngài sống lại ngoại trừ lần hiện ra nầy; thánh ký tập trung chứng từ về cuộc sống của Đấng Phục Sinh và những lời căn dặn sau cùng của Ngài vào cuộc gặp gỡ duy nhất nầy. Như vậy biến cố nầy mang lấy một chiều kích đặc biệt.
1. Miền Ga-li-lê.
Sự kiện xảy ra ở miền Ga-li-lê. Chính ở đó mà Đức Giê-su đã ba lần hẹn gặp các Tông Đồ của Ngài. Lần thứ nhất, Ngài đã báo trước cho họ thánh Phê-rô sẽ chối Ngài và các ông sẽ vấp ngã vì Ngài: “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em” (26: 32). Lần thứ hai vào buổi sáng Phục Sinh, sứ thần đã nói với các người phụ nữ: “Các bà…mau về nói với môn đệ Người như thế nầy: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông” (29: 7). Lần thứ ba, Đức Giê-su đã lập lại cùng một sứ điệp: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (28: 10). Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất nhắc lại ba lần cuộc hẹn gặp ở Ga-li-lê nầy, trong khi thánh Lu-ca đặt cuộc gặp gỡ sau cùng của Đức Giê-su với các Tông Đồ của Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Thánh Mát-thêu không thích thành đô Giê-ru-sa-lem vì nó đã phản bội sứ mạng của mình, vì thế thánh ký dành cho miền Ga-li-lê sứ điệp tối thượng của Đức Giê-su.
Cuộc gặp gỡ được định vị trên một ngọn núi; ngọn núi nào chẳng quan trọng gì: ngọn núi chỉ là biểu tượng. Không phải lời dạy về các mối phúc được vang lên trên núi sao?
2. Họ phủ phục.
“Khi thấy Người, các ông phủ phục, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”.
Dường như chúng ta có ở đây một hoạt cảnh sóng đôi với những hoạt cảnh mà ở đó thánh Mác-cô và thánh Lu-ca mô tả những hoài nghi như thế được gợi lên: “Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16: 14). Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em ngờ vực…” (Lc 24: 36).
Đức Giê-su tiến lại gần họ để họ nhận ra Ngài rõ hơn. Sau khi đã trấn an họ, Ngài cho họ dự phần vào vinh quang của Ngài và trao phó cho họ sứ mạng tối hậu của Ngài.
3. “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”.
Quyền thống trị hoàn vũ nầy đã được ngôn sứ Đa-ni-en loan báo về một nhân vật mầu nhiệm với tược vị Con Người rồi: “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7: 14).
Tiếp đó, Đức Giê-su trao cho các Tông Đồ sứ mạng loan báo Tin Mừng: “Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Đây là một trong những ghi chú về Chúa Ba Ngôi rõ nét nhất trong toàn bộ Tin Mừng Mát-thêu. Quả thật, phép rửa của Chúa Giê-su đã là bày tỏ Ba Ngôi Thiên Chúa: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3: 16-17).
Chính ở dưới dấu hiệu của Ba Ngôi Thiên Chúa nầy mà phép rửa Ki tô giáo được ban cho. Công thức mà thánh Mát-thêu trích dẫn là công thức Thánh Tẩy được Giáo Hội dùng rất sớm. Chúng ta đọc thấy trong chứng liệu rất cổ xưa thuộc cuối thế kỷ thứ nhất, sách “Didaché” (hay “Đạo lý của Mười Hai Tông Đồ”), sưu tập giáo lý và phụng vụ, những hàng nầy: “Khi phép rửa bởi việc dìm vào trong nước không thể, phải rửa trong nước thông thường bằng cách đổ nước ba lần trên đầu nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Didaché 7, 3). Công thức của thánh Mát-thêu càng quý hơn nữa nếu chúng ta so sánh với công thức của thánh Phao-lô: “Anh em đã chịu phép rửa trong Đức Giê-su Ki tô” (Rm 6: 3; Gl 3: 27), hoặc “Chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí” (1Cr 12: 13), hay với sách Công Vụ: “Họ đã chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su” (Cv 8: 16; 19: 5).
4. “Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em”
Chúng ta nên lưu ý rằng trong diễn từ nầy Đức Giê-su nói với cùng uy quyền và hầu như trong cùng những từ ngữ như Đức Chúa của sách Đệ Nhị Luật mà ông Mô-sê nhắc lại sự cao vời khôn ví của Ngài và truyền đạt sứ điệp của Ngài: “Trên cõi trời cũng như dưới mặt đất, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có Thiên Chúa nào khác. Vậy, các giới răn và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em, anh em phải tuân hành…”.
5. “Còn Thầy, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa Giê-su không nói như một lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em”, nhưng như một lời khẳng định: “Thầy ở cùng anh em”. Đây là một lời khẳng định tuyệt vời nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chính nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa trong suốt chiều dài lịch sử mà dân Ít-ra-en đã được hình thành và được phù trợ. Đó cũng lời khẳng định hình thành nên dân Thiên Chúa mới, tức Giáo Hội, được đảm bảo ơn phù trợ của Đức Ki tô mọi ngày cho đến tận thế.
Cuối cùng chúng ta ghi nhận rằng, thánh ký, rất nhạy bén trước chiều kích phổ quát của ơn cứu độ, hoàn tất tác phẩm của mình trên viễn cảnh mênh mông về cuộc hoán cải của muôn dân.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
08-06-2009, 06:49 AM
LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KI TÔLễ Mình Máu Thánh Chúa Ki tô đã được thiết định vào thế kỷ thứ mười ba. Lễ nầy phát xuất từ giáo phận Liège, vào năm 1246. Vào năm 1264, được Đức Thánh Cha Urbano IV phổ biến cho toàn thể Giáo Hội, và vào năm 1312 được Đức Thánh Cha Clément V khẳng định.
Kinh nguyện, các bài đọc cũng như phụng tự được gán cho Thánh Tô-ma A-qui-nô. Những cuộc rước kiệu Mình Thánh Chúa qua các ngã đường xưa kia đem lại cho ngày lễ nầy một sự rực rỡ lớn lao.
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu bật giá trị của giao ước được đóng ấn bởi máu của tế vật.
Xh 24: 3-8
Sách Xuất Hành giới thiệu nghi thức Giao Ước được ký kết giữa Đức Chúa và dân Do thái. Giao Ước được đóng ấn bởi máu của tế vật, máu nầy được rảy trên hai phía ký kết: Đức Chúa, được biểu tượng bởi bàn thờ, và mười hai bộ tộc quy tụ ở chân núi Xi-nai, đối diện với bàn thờ.
Dt 9: 11-15
Thư gởi tín hữu Do thái cho thấy sự cao vời của hy tế Đức Ki tô trên các hy tế Cựu Ước, vì Đức Ki tô đã hiến dâng máu của chính mình.
Mc 14: 12-16, 22-26
Đoạn Tin Mừng Mác-cô tường thuật việc Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh Thể, hy tế Giao Ước mới.
BÀI ĐỌC I (Xh 24: 3-8)
Sách Xuất Hành tường thuật không chỉ cuộc “xuất hành ra khỏi” đất Ai-cập, nhưng còn kinh nghiệm tôn giáo mà dân Do thái đã kinh qua trong sa mạc. Kinh nghiệm không thể chối cãi nầy xác minh kinh nghiệm mà các tổ phụ xưa kia của họ đã được hưởng.
Chính khởi đi từ giây phút nầy mà dân Do thái đã không còn cảm thấy mình là một dân mất gốc, nhưng ý thức mình là dân được Thiên Chúa đích thân che chở phù trợ. Tất cả những ai, sau khi có một mặc khải huyền nhiệm, sống mặc khải nầy trọn cuộc đời của mình như thế nào, dân Ít-ra-en đã luôn luôn quy chiếu đến những biến cố Xuất Hành để hiểu lịch sử của mình và những mối liên hệ ưu tiên của mình với Thiên Chúa như vậy.
Họ đã ghi lại những mối liên hệ nầy bằng những thuật ngữ giao ước, theo cách thức mà nhân loại ký kết ở giữa họ: Thiên Chúa đề nghị che chở bảo vệ họ và đòi hỏi họ vài điều kiện của Ngài (những đòi hỏi của Thiên Chúa cốt yếu được chứa đựng trong Thập Giới). Phía họ phải cam kết tôn trọng những điều kiện nầy.
Tất cả mọi truyền thống liên quan đến Giao Ước Xi-nai đều định vị Giao Ước trong khung cảnh uy nghi và trình bày Giao Ước như một phụng vụ.
Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay tường thuật việc ký kết Giao Ước long trọng, theo một dị bản phát triển nhất trong số những dị bản. Đây là dị bản mà Đức Giê-su sẽ quy chiếu khi thiết lập hy tế Giao Ước mới. Dị bản nầy, thuộc chứng liệu Ê-lô-hít (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 3-8. Một truyền thống khác thuộc chứng liệu Gia-vít (thế kỷ thứ mười và thứ chín trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 1-2 và 9-11. Trong khi truyền thống Gia-vít gợi lên việc ký kết Giao Ước qua một bữa ăn thánh trên núi Xi-nai trước sự hiện diện của Đức Chúa cùng với ông Mô-sê, ông A-ha-ron, các con trai của ông A-ha-ron và bảy mươi kỳ mục của dân Ít-ra-en, thì truyền thống Ê-lô-hít được trích dẫn hôm nay nhấn mạnh nghi thức rẩy máu trên bàn thờ và trên dân. Diễn tiến của nghi thức nầy rất đáng chú ý: nó loan báo sơ đồ sẽ được chấp nhận để cử hành Thánh Thể: trước tiên, phụng vụ Lời Chúa, đoạn, phụng vụ hy tế.
1. Phụng vụ Lời Chúa:
Khi từ trên núi xuống, ông Mô-sê, xướng ngôn viên của Đức Chúa, tường thuật cho toàn thể cộng đồng quy tụ ở dưới núi “mọi lời của Chúa và mọi giới luật”. Dân chúng đồng thanh cam kết: “Mọi lời Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành”. Vì thế, “ông Mô-sê chép lại mọi lời của Chúa”.
“Mọi lời của Chúa” phải được hiểu là “Mười Lời” hay “Thập Giới”. Còn “mọi giới luật” chắc chắn quy chiếu đến các luật luân lý, xã hội và tế tự được trình bày trong các chương 20-23, được gọi dưới tên “Bộ Luật Giao Ước”, nhưng bộ luật nầy rõ ràng không được soạn thảo trong sa mạc; nó thuộc về thời kỳ đầu tiên định cư ở đất Ca-na-an; nó được tháp nhập sau nầy vào Thập Giới và cho Thập Giới những áp dụng thực tiễn.
Như chúng ta đã biết rồi, ông Mô-sê đã lớn lên trong cung của Pha-ra-on và đã được đào tạo thành các thư lại. Ấy vậy, một trong những chức năng của các thư lại là ghi chép những bản hiệp ước. Một cách nào đó, ông Mô-sê làm như vậy khi xác định bằng văn bản những khoản Giao Ước mà dân Ít-ra-en sẽ phải tôn trọng. Mọi hiệp ước ở Đông Phương xưa đều được viết bằng văn bản và phải được đọc theo định kỳ.
2. Phụng vụ hy tế:
Sáng hôm sau diễn ra hy lễ đóng ấn Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Chúa chọn.
Hai bên ký kết diện đối diện với nhau: bàn thờ đại diện Đức Chúa. Dân Ít-ra-en, quy tụ lại, hiện diện vừa hữu hình vừa biểu tượng bởi mười hai thạch trụ đại diện mười hai chi tộc Ít-ra-en.
Như vậy, những thạch trụ nầy sẽ là những chứng nhân bất khả hủy về lời cam kết của dân Ít-ra-en. Cũng vậy, ở đại hội Si-khem, sau khi dân vào Đất Hứa, khi mà Giao Ước được long trọng làm mới lại, ông Giô-su-ê sẽ dựng một tảng đá lớn ghi nhớ muôn đời lời thề hứa trung thành của toàn thể con cái Ít-ra-en (Gs 24: 26-27).
“Rồi ông Mô-sê sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa”. Vào thời ký nầy, chưa tổ chức chức vụ tư tế (ở Ít-ra-en, tư tế là chức vụ chứ không ơn gọi). Trong thời kỳ tiền quân chủ, người ta tự ý chọn các thanh niên thi hành chức vụ mà sau nầy sẽ dành riêng cho các tư tế Lê-vi (cf. Xh 33: 11; Tl 17: 5; 1Sm 3: 3; 7: 1).
Các thanh niên mà ông Mô-sê chỉ định thực hiện hai loại hy lễ:
- Trước hết “hy lễ toàn thiêu”. Như từ chỉ ra, tế vật được hoàn toàn hỏa thiêu. Đây là hình thức hy tế xưa nhất ở Ít-ra-en, tự nguồn gốc, mang đặc tính tạ ơn. Sau nầy, hy tế nầy trở nên thông thường; sẽ có lễ toàn thiêu hằng ngày ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
- Tiếp đó, “hy lễ hiệp thông” theo đó hai bò tơ được sát tế. Nét đặc trưng của hy lễ hiệp thông là một bữa ăn giữa những người tham dự trước thánh nhan Thiên Chúa. Loại hy tế nầy nhằm thiết lập lại những mối quan hệ tốt đẹp giữa Thiên Chúa và các tín hữu của Ngài.
3. Nghi thức rảy máu:
Nghi thức được mô tả tiếp theo là duy nhất trong toàn bộ Cựu Ước.
Những súc vật bị cắt cổ cho máu hoàn toàn chảy ra hết. Điều nầy rất phù hợp với phong tục đặc biệt của dân Ít-ra-en. Nhưng máu nầy, thay vì được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa như trong tất cả những hy tế khác, lại được tách riêng thành hai phần, được rảy trên hai bên ký kết giao ước. Trước hết, ông Mô-sê rảy phần nữa máu trên bàn thờ đại diện Đức Chúa; phần còn lại ông rảy trên dân chúng, sau khi đã lập lại lời hứa cam kết trung thành của họ: “Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời nầy”.
Việc đóng ấn sự thỏa thuận bằng máu, chỗ của sự sống, và chung chung được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa, chính là đem lại cho sự thỏa thuận này hình thức trang trọng nhất, cực thánh nhất mà người ta có thể tưởng tượng được.
Cử chỉ của Đức Giê-su ban máu của chính Ngài để đóng ấn Giao Ước mới mặc lấy một sự trang trọng còn lớn lao hơn nhiều, vì Đức Ki tô không chỉ là Đấng Trung Gian như ông Mô-sê, Ngài đồng thời là tế vật nữa. Không thể nào có một sự cam kết tận căn về phía Thiên Chúa đối với nhân loại đến như thế, không lời hứa nào, không một nghi thức hiệp thông nào giữa Thiên Chúa và nhân loại, lớn lao hơn nghi thức của Giao Ước Mới được thực hiện trong bí tích Thánh Thể.
BÀI ĐỌC II (Dt 9: 11-15)
Thư gởi tín hữu Do thái là bản văn Tân Ước duy nhất giới thiệu Đức Ki tô là Thượng Tế đích thật.
Ngài là Thượng Tế nhưng cũng là tế vật. Vào ngày lễ Mình và Máu Chúa Ki tô nầy, phụng vụ dâng hiến cho chúng ta một đoạn trích thư gởi tín hữu Do thái ở đó tác giả cho thấy máu của Đức Ki tô cao vời khôn sánh so với máu của súc vật bị sát tế dưới Giao Ước Cũ. Nhưng còn hơn nữa, tác giả nhấn mạnh rằng hy tế của Đức Ki tô thuộc bản chất khác: một của lễ tiến dâng tự nguyện thuộc trật tự tinh thần và tính hiệu lực tinh thần của nó.
Chúng ta không biết tác giả lẫn người nhận. Ông chắc chắn là một môn đệ hay người bạn đồng hành của thánh Phao-lô; người nhận là những Ki tô hữu gốc Do thái, kỳ cựu trong đức tin, nhưng mất can đảm bởi những bách hại mà họ là đối tượng. Dường như họ vẫn ôm ấp nỗi nhớ về những nghi lễ uy nghi và trang trọng trong Đền Thờ. Đối với họ, nghi lễ Thánh Thể chắc chắn xem ra quá đơn giản.
1. Đức Ki tô, vị Thượng Tế của Giao Ước Mới:
Tác giả đối chiếu chức tư tế của vị Thượng Tế Cựu Ước và chức tư tế của Đức Ki tô. Những điểm so sánh của ông cốt yếu được vay mượn ở nơi nghi lễ của đại lễ Toàn Xá xảy ra một năm một lần. Vào ngày duy nhất nầy, vị Thượng Tế bước vào nơi cực thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và với máu của tế vật ông tiến hành các nghi thức xá tội để xin tha thứ tội lỗi của chính ông và của toàn dân.
So sánh với sứ vụ của vị Thượng Tế nầy, sứ vụ của Đức Ki tô thì cao vời khôn sánh, vì Đức Ki tô là “vị Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai”.
Tác giả sắp mô tả và cho thấy những phúc lộc của thế giới tương lai nầy mà Đức Ki tô đã đạt được là thế nào: đó là những phúc lộc muôn đời bền vững, đã được hứa ban và từ nay đã đạt được một lần thay cho tất cả; những phúc lộc thần thiêng chứ không vật chất và bên ngoài.
Sự cao cả của sứ vụ của Đức Ki tô xem ra ngay từ đầu do bởi sự cao cả của cung thánh. Trái với vị Thượng Tế Cựu Ước, để gặp gỡ Thiên Chúa, Đức Ki tô không đi qua một đền thờ “do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo nầy”.
Dường như tác giả nhắm đến thân thể của Đức Ki tô được tôn vinh. Việc gặp gỡ Thiên Chúa như vậy là dứt khoát, không cần lập đi lập lại mỗi năm một lần. Đức Ki tô đã mở ra một lần thay cho tất cả một con đường dẫn đến Chúa Cha. Tác giả viết sau nầy: “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10: 10).
Vị Thượng Tế Cựu Ước rảy máu trên bàn thờ, đó không phải máu của chính ông nhưng máu của những tế vật thụ động. Trái lại, Đức Ki tô đã dâng hiến chính máu của mình trong hiến lễ có ý thức và tự nguyện. Vị Thượng Tế Cựu Ước chỉ đạt được ơn tha thứ tội lỗi tạm thời; Đức Ki tô đạt được sự giải thoát dứt khoát.
Những tế vật phải là vô tì vết. Đức Ki tô là tế vật vẹn toàn, tuyệt mức thanh sạch và thánh thiện; vì thế, hy tế của Ngài cũng tác sinh tính hiệu lực tuyệt mức. Việc rảy máu súc vật đem lại sự thanh sạch nghi thức trong khi máu của Đức Ki tô đem lại sự thanh sạch nội tâm.
2. Tính hiệu lực của hy tế Đức Ki tô.
Tại sao hy tế của Đức Ki tô lại cao vời như vậy? Tại sao hy tế của Ngài đem lại tính hiệu lực như vậy? Vì ở nơi Đức Ki tô có Chúa Thánh Thần. Tác giả nói “Thánh Thần hằng hữu” để làm nổi bật sự tương phản đáng kinh ngạc: cái chết của Đức Giê-su đạt được những phúc lộc vĩnh viễn.
Với tư cách là hiến lễ thần linh, hiến lễ tinh thần, hy tế của Đức Giê-su tái sinh nền tảng ngay cả của lương tâm. Những ai đã được thanh tẩy như thế mới có thể dâng lên Thiên Chúa lễ tế xứng với Ngài.
Nên đọc lại toàn bộ thư gởi tín hữu Do thái, vì hiến lễ của Đức Ki tô được gợi lên ở đây không chỉ là hiến lễ đẩm máu của Thập Giá, nhưng là hiến lễ của toàn bộ cuộc sống trần thế của Đức Giê-su từ khi Ngài nhập thể. Tác giả áp dụng cho Đức Giê-su những câu Thánh Vịnh 40: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa nầy con đây, con đến đẻ thực thi ý Ngài” (Dt 10: 5-7).
Tác giả thư gởi tín hữu Do thái gợi lên những nghi lễ Đền Thờ hiện nay, như một phụng vụ vẫn còn sống động (điều nầy khiến nghĩ rằng ông viết thư nầy trước năm 70, năm đánh dấu Đền Thờ bị phá hủy); ông ngỏ lời với các Ki tô hữu gốc Do thái, và muốn cho họ thấy rằng những nghi thức của Giao Ước Cũ chỉ là tiên trưng; chúng chỉ có giá trị tương đối. Thực tế, chính hy tế của Đức Ki tô đã xóa hết “tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ”.
Từ đây, những ai đã nhận lời hứa phúc lộc đời đời đã đạt được nhờ Giao Ước Mới.
TIN MỪNG (Mc 14: 12-16, 22-26)
Đoạn Tin Mừng Mác-cô nầy được trích từ bài Thương Khó vào Chúa Nhật lễ Lá và Khổ Nạn. Chúng tôi quy chiếu đến bài chú giải nầy.
1. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16):
"Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua". Hai ngày đại lễ nầy từ lâu được cử hành cùng một cặp song đôi với nhau: vào lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi, họ giết một con chiên tơ, và lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, họ dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và làm bánh không men với những hạt lúa mạch đầu tiên. Việc hiệp nhất hai lễ nầy đã trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn lễ Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men.
Lễ Vượt Qua buộc phải được cử hành ở Giê-ru-sa-lem; bữa ăn con chiên bị sát tế trong khuôn viên Đền Thờ, "phải được ăn ở trong thành". Điều nầy khiến các môn đệ bận tâm. Đức Giê-su là một tôn sư lưu động không nơi cố định; thêm nữa, Ngài là người Ga-li-lê. Vì thế, họ hỏi Ngài: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?".
Hoạt cảnh theo sau giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh trước đó khi Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a: Đức Giê-su sai hai môn đệ đi trước, họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả cho họ. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa con đang cột sẳn ở đó; còn ở đây, một người mang vò nước đến gặp hai ông. Cả hai lần, những biến cố xảy ra đúng như Chúa Giê-su mong muốn: người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; người mang vò nước dẫn hai môn đệ vào nhà và chỉ cho hai ông một phòng đã được chuẩn bị sẳn sàng cho Ngài với các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua. Thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả, chính Ngài tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng nầy như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc khải hoàn tiến vào thành Giê-ru-sa-lem.
2. Thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể (14: 22-26):
Lễ Vượt Qua Do thái, mà Đức Giê-su cử hành với các môn đệ thành bữa Tiệc Ly, biến thành lễ Vượt Qua Ki tô giáo bởi việc thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể: vừa nối tiếp vừa đoạn tuyệt: song đối sâu xa và mới mẻ tận căn.
Lễ Vượt Qua Do thái tưởng niệm cuộc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, nhờ vào máu con chiên được bôi trên cửa nhà của người Do-thái. Nhờ dấu hiệu nầy, Thiên Chúa đã nhận ra dân của Ngài nên đã tha chết cho họ.
Đức Giê-su loan báo cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ tội lỗi nhờ máu Ngài "đổ ra vì muôn người". Về phương diện lịch sử, cuộc giải phóng khỏi Ai-cập đã hình thành nên dân Ít-ra-en như dân Chúa chọn và cuộc tuyển chọn nầy đã được hiến thánh trên núi thánh Xi-nai, bởi Giao Ước Cũ.
Nhờ ân ban thân thể của Ngài và máu của Ngài, được chia sẻ ở giữa mọi người, Đức Giê-su thiết lập một dân Chúa chọn mới; Giao Ước Mới được đóng dấu trong máu của Ngài. Ở nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su tham dự trước vừa cuộc Tử Nạn của Ngài vừa cuộc Phục Sinh của Ngài.
Nếu khung cảnh lễ Vượt Qua soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của việc cử hành xưa như vậy, thì bữa ăn nầy cũng là bữa tiệc ly, mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó: Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương, những người mà Ngài trao phó truyền đạt sứ điệp của Ngài; Ngài không muốn để họ lại một mình; Ngài gặp thấy phương tiện để ở lại với họ, bằng cách thiết lập quà tặng kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình, nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại.
Thánh Mác-cô cũng nhấn mạnh "giá trị cánh chung" của "bàn tiệc Thánh Thể". Bàn tiệc này là một sự tiếp cận, một sự tham dự trước bàn tiệc Thiên Quốc: "Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa".
Cuộc sống tương lai thường thường được biểu thị như bàn tiệc; và rượu nho như một trong những dấu chỉ của "niềm vui thời Mê-si-a" và niềm vui muôn đời của thế giới sắp đến. Đây đã là một trong những ý nghĩa của dấu lạ tiệc cưới Ca-na, tự nó là khúc dạo đầu của phép lạ bàn tiệc Thánh Thể. Nước biến thành rượu đáp ứng với rược biến thành máu.
Đoạn văn này chứa đựng một chi tiết quý báu: "Hát Thánh vịnh xong…" Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi "Hallel", mà người ta hát sau bữa ăn Vượt Qua. Bài thánh thi tạ ơn này được trích từ các thánh vịnh 113-118 (một trong những Thánh vịnh nầy đã được trích dẫn rồi trong bữa ăn); như vậy, bữa Tiệc Ly của Đức Giê-su đích thực là bữa ăn Vượt Qua, ít ra theo các Tin Mừng Nhất Lãm.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
15-06-2009, 06:44 AM
CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN
Chủ đề nổi bật của Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay được gặp thấy ở bài đọc I và bài Tin Mừng: quyền chúa tể của Thiên Chúa trên các yếu tố thiên nhiên, nhất là trên phong ba bảo táp, biểu tượng các thế lực của sự Dữ.
G 38, 1-11
Bài đọc I, trích từ sách Gióp, gợi lên hành động của Đấng Sáng Tạo, Ngài ấn định những giới hạn cho biển cả.
Mc 4, 35-41
Tin Mừng thường thuật cử chỉ của Đức Giê-su dẹp yên phong ba bảo tố trên Biển Hồ.
2Cr 5, 14-17
Bài đọc II trích từ thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh Phao-lô tiếp tục hiện hộ sứ vụ tông đồ của mình.
BÀI ĐỌC I (G 38,1. 8-11)
Đoạn trích sách Gióp nầy như một lời tựa ngôn cho câu chuyện Tin Mừng tường thuật cử chỉ của Đức Giê-su dẹp yên phong ba bão táp trên biển hồ Ghê-nê-sa-rét. Đức Giê-su sở hữu cùng một quyền năng thần linh như Đức Chúa, khi sáng tạo thế giới, Ngài xác định cho biển cả những giới hạn của nó. Không phải Ngôi Lời đã chủ trì công trình sáng tạo sao?
Theo thể thi ca đối đáp, tác giả vô danh đã phác họa chân dung ông Gióp, một người công chính phải hứng chịu nhiều nỗi bất hạnh. Ông than thân trách phận với ba người bạn và tiếp đó với người bạn thứ tư. Những người bạn nầy một mực trung thành với lời giải thích truyền thống: ác giả ác báo, sự đau khổ của một ai đó cho thấy kẻ ấy đã phạm tội; hay nếu người đó được xem là công chính mà phải chịu đau khổ, chính vì Thiên Chúa muốn ngăn ngừa những lỗi lầm của người ấy để khỏi phải sa vào tính tự cao tự đại.
Lúc đó Gióp nỗi giận đùng đùng; ông kêu gào mình vô tội và xin Thiên Chúa chứng giám sự vô tội của ông. Thiên Chúa trả lời cho ông trong cơn bảo táp, như ở núi Xi-nai khi Ngài ngỏ lời với ông Mô-sê. Đây là câu trả lời uy nghi của Đấng Sáng Tạo vũ trụ. Đức Chúa mô tả công việc của Ngài như nhà kiến thiết tự hào về công trình sáng tạo của mình: Ngài công bố quyền tối thượng của Ngài trên toàn cõi thế, đoạn trên biển cả (đây là đoạn văn được trích dẫn hôm nay), trên ánh sáng và bóng tối, trên gió bảo và mây trời, trên muôn loài muôn vật…
Đây đích thực là bài thi ca về công trình sáng tạo.
Bài thơ nầy là một trong những lý do khiến nghĩ rằng việc soạn thảo sách Gióp được định vị vào thời lưu đày Ba-by-lon.
1. Khung cảnh lịch sử:
Quả thật, hằng năm, ở Ba-by-lon vào lễ Tân Niên, người ta ngâm thiên hùng ca về cuộc sáng tạo ca ngợi cuộc chiến đấu của các vị thần linh chống lại thần hỗn mang và các quái vật của nó, và cuộc chiến thắng khải hoàn của thần Mác-đoút.
Như muốn đáp trả sự tán dương của một vị thần dân ngoại, và các nghi lễ tái diễn hằng năm nầy trong bối cảnh đa thần, những người Do thái lưu đày sáng tác những bài ca và những bài thơ chúc tụng Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, Ngài là Thiên Chúa duy nhất và siêu việt, chỉ mình Ngài thật sự sáng tạo vũ trụ và an bài mọi sự.
Chuyện tích về công trình sáng tạo trong sáu ngày ở đầu Kinh Thánh làm chứng điều nầy. Đoạn trích sách Gióp từ chương 38 nầy cũng làm chứng như vậy. Những ám chỉ hay những vay mượn ở bản văn Ba-by-lon thật rõ ràng.
Bài thơ Ba-by-lon kể như thế nầy: sau khi đã chiến thắng thủy thần Ti-a-mát, hiện thân vị thần của vực thẳm nước nguyên thủy, thần Mác-đoút liền phân đôi tử thi của vị ác thần nầy. Với phân nửa tử thi nầy, thần Mác-đoút bao phủ bầu trời…Thần đóng cửa vực thẳm và đặt ngay tại chỗ những người canh cửa, rồi thần truyền lệnh cho họ không được để nước phun trào ra ngoài.
Những cách diễn tả tương tự gợi nhớ hình tượng Ba-by-lon được gặp lại trong vài Thánh Vịnh, như Tv 89,10-11:
“Chính Ngài (Đức Chúa) chế ngự trùng dương ngạo nghễ,
dẹp yên bao sóng cả sóng cồn.
Chính Ngài giày xéo thủy thần Ra-háp, như giày xéo tử thi,
tay mạnh mẽ đập tan quân thù”.
Hay Thánh Vịnh 74,12-13:
“Thế mà lạy Chúa, Vua chúng con từ muôn thuở,
Đấng từng chiến thắng trên mặt địa cầu,
chính Ngài đã ra oai xẻ đôi lòng biển, trên làn nước biếc,
Ngài đập vỡ sọ thuồng luồng”.
2. Ôn cố tri tân:
Trong sách Gióp, Thiên Chúa nhắc nhớ quyền năng của Ngài được diễn tả bằng những từ ngữ cao vời. Tác giả hướng phần cuối tác phẩm mình về mầu nhiệm của Thiên Chúa. Đức Chúa dạy cho ông Gióp một bài học: ai có thể tự cho mình vô tội? Ai có thể khoác lác khi đòi xét đoán Thiên Chúa và tính sổ với Ngài? Ấy vậy, Thiên Chúa không phải phân minh với bất cứ ai; Ngài siêu vượt trên muôn loài muôn vật.
BÀI ĐỌC II ( 2Cr 5,14-17)
Đoạn trích nầy thuộc vào những trang mà thánh nhân viết để biện hộ sứ vụ tông đồ của mình.
Sau khi đã nêu lên những gian truân và những niềm hy vọng của sứ vụ tông đồ, thánh Phao-lô vén mở cho thấy ngọn lửa nào đã hun đúc lòng nhiệt thành truyền giáo của thánh nhân: tình yêu của Đức Ki tô.
“Tình yêu của Đức Ki tô” nầy vừa diễn tả tình yêu của thánh Phao-lô đối với Đức Ki tô, vừa diễn tả tình yêu của Đức Ki tô đối với nhân loại (danh từ Đức Ki tô ở génitif mặc lấy hai nghĩa). Chính nghĩa thứ hai nầy: tình yêu của Đức Ki tô đối với nhân loại đã nung nấu lòng nhiệt thành truyền giáo của thánh nhân.
1. “Nếu một người đã chết cho mọi người”:
Tính hữu hiệu hoàn vũ của hy tế Đức Ki tô khiến thánh nhân xúc động sâu xa. Niềm xúc động nầy gắn liền với cái chết của Đức Ki tô. Cái chết nầy không thể nào đánh thức những hình ảnh hung bạo được. Sự chừng mực của các thánh ký đã gìn giữ tính khách quan của các bài tường thuật đầy cảm xúc bao nhiêu, các bức thư với cung giọng cá nhân, như những bức thư của thánh Phao-lô, đã cho thấy độ nhạy cảm bấy nhiêu.
Tuy nhiên độ nhạy cảm của thánh Phao-lô đặc biệt sống động khi thánh nhân gợi lên sự liên đới của Đức Giê-su đau khổ với nhân loại tội lỗi. Ơn cứu độ đã không được đem đến cho một mình dân Ít-ra-en, nhưng cho toàn thể nhân loại. Tâm hồn Do thái của thánh Phao-lô xúc động sâu xa về điều nầy. Thánh nhân sẽ khai triển sâu xa khía cạnh đạo lý về mặc khải nầy trong thư gởi các tín hữu Rô-ma.
2. “Thì mọi người đều chết”:
Tư tưởng rất ngắn gọn; từ ngữ rất giản dị chắc chắn âm vang lời dạy của thánh nhân. Để hiểu đoạn trích nầy, tốt nhất nên quy chiếu đến chương 6 của thư gởi các tín hữu Rô-ma.
“Mọi người đều chết”, nghĩa là, chết đối với tội. Chính “con người xưa cũ” của chúng ta đã bị đóng đinh với Đức Ki tô. Chính vì chết đối với tội nầy mà việc dìm vào trong nước thanh tẩy là dấu chỉ: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6: 8) và “Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ” (Rm 6: 10).
3. “Để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình”:
Đây là suy tư thuộc trật tự tổng quát, nhưng đặc biệt nhắm đến các tín hữu Cô-rin-tô và những chia rẽ của họ, vì thánh nhân đặt trọng tâm phần trình bày nầy chung quanh khía cạnh sứ vụ hòa giải. Sống trong Đức Ki tô, chính là không còn biết một ai “theo quan điểm của loài người”, nhưng nhìn tha nhân “theo quan điểm của Thiên Chúa”.
4. “Và cho dù chúng tôi đã được biết Đức Ki tô theo quan điểm loài người, thì giờ đây chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa”:
Phải chăng lời phát biểu nầy muốn nói rằng thánh Phao-lô đã biết Đức Giê-su hay ít ra đã thoáng thấy Ngài, có thể đã lắng nghe Ngài nói; tuy nhiên thánh nhân đã thuộc về số người không tin vào sứ điệp của Ngài? Đoạn văn nầy đã gây nên biết bao lời giải thích, nhưng dấu hiệu quá nhỏ nên người ta không thể rút ra một câu kết luận như vậy. Đúng hơn, phải chăng thánh nhân ám chỉ đến thời kỳ thánh nhân là kẻ bách hại, thời kỳ mà thánh nhân khảo sát Đức Ki tô “theo quan điểm loài người”? Lời giải thích nầy cũng không chắc.
Người ta cũng không loại trừ quan điểm bút chiến; đó có thể là chìa khóa của bản văn nầy. Thánh Phao-lô đã viết không bao lâu sau cái chết của Đức Giê-su. Trong đám thính giả của thánh nhân và trong số những người nhận thư thánh nhân, thánh nhân là một trong số người đã biết Đức Ki tô. Vài người trong số họ kiêu hãnh vì mình thuộc “nguồn gốc Do thái”; thậm chí họ dựa trên sự kiện là Đức Giê-su đã thực hành luật Do thái để áp đặt luật nầy trên những Ki tô hữu gốc lương dân. Dường như trong số những đối thủ của thánh nhân ở Cô-rin-tô có những người Ki tô hữu gốc Do thái thuộc loại nầy. Họ đã đề xuất những lập luận dựa trên một quan niệm về Đức Ki tô “theo xác thịt” như bản văn Hy lạp diễn tả để đòi hỏi áp dụng những yêu sách của họ.
Thánh Phao-lô công bố rằng quan niệm nầy đã lỗi thời. Chính không còn ở nơi cuộc sống “theo xác thịt” nhưng ở nơi cuộc sống “theo Thần Khí” mà người Ki tô hữu được mời gọi dự phần vào: họ đã trở thành “một thọ tạo mới”. “Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi”. Tại thánh Phao-lô có một cái nhìn hướng về tương lai. Không có gì phải kềm chế niềm hưng phấn lao về phía trước của thánh nhân, về Đức Ki tô quang vinh…Thánh nhân nói với các tín hữu Ê-phê-sô khi dùng động từ ở thì hiện tại: “Người cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki tô trên cõi trời rồi” (Ep 2,6). “Cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Ki tô” là chuyện tương lai (Rm 6: 3-11), nhưng hiệp thông với Đức Ki tô, ngay từ bây giờ chúng ta thật sự đã được cùng sống lại và cùng ngự trị với Ngài trên cõi trời rồi.
TIN MỪNG (Mc 4, 35-41)
Bài tường thuật nầy của thánh Mác-cô là một trong những bài tường thuật sống động nhất và ý nhị nhất của sách Tin Mừng nầy. Thánh ký cho thấy mình là một người kể chuyện tài ba. Những bài tường thuật sóng đôi của Mt 8,23-27 và Lc 8,22-26 không cung cấp những chi tiết chính xác đến như vậy, ví dụ: “Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào gối mà ngủ”, và không tường thuật với cung giọng rất quen thuộc: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”.
Chúa Giê-su đã giảng dạy đám đông suốt ngày: Ngài muốn tách mình ra khỏi đám đông để có thể nghỉ ngơi một chút. Vì thế, Ngài yêu cầu các môn đệ đưa Ngài sang bờ bên kia. Các môn đệ vâng lệnh ngay lập tức và chở Đức Giê-su đang khi Ngài “đang ở trên thuyền”, nghĩa là cùng trên một chiếc thuyền Ngài đã vừa mới ngỏ lời với dân chúng hiện đang ở trên bờ, như đã được chỉ rõ ở Mc 4,1-2: “Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám người rất đông tụ họp chung quanh Người nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ. Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều”.
Bằng những dụ ngôn, Đức Giê-su đã gợi lên rằng Nước Trời đến một cách quyền năng; Ngài sắp chứng minh cho họ bằng hành động. Đối với các đối thủ của Ngài, những người Biệt Phái và Luật Sĩ, Ngài đã luôn luôn từ chối cung cấp một dấu chỉ ngoạn mục về uy quyền Mê-si-a của Ngài. Riêng cho các môn đệ của Ngài, Ngài sẽ ban cho dấu chỉ nầy.
1. Con thuyền trong phong ba bảo táp:
Những phong ba bảo táp trên Biển Hồ thường bất ngờ xảy đến. Chúng do từ cuộc gặp gỡ giữa ngọn gió tây thổi từ Địa Trung Hải và gió sa mạc lạnh buốt bất ngờ dâng cao vào lúc đêm xuống.
Sự thanh thản bình an của Đức Giê-su tương phản với trận cuồng phong sóng dữ. Kiệt sức sau một ngày giảng dạy, Đức Giê-su “dựa đầu vào gối mà ngủ”. Gối nầy dành riêng cho người lái thuyền luôn luôn ở đằng lái. Dường như người lái thuyền nhường chỗ đằng lái cho Ngài để Ngài ngủ cho lại sức. Đức Giê-su mệt mõi: Ngài thật sự là một con người, nhưng Ngài sẽ cho thấy Ngài còn hơn cả một con người.
Cũng như, sau một dặm đường dài vừa mệt mõi vừa khát, Ngài đã tựa mình vào thành giếng Gia-cóp ở Xy-kha để nghỉ lại sức và xin người phụ nữ Sa-ma-ri một chút nước để giải khát. Ngài đã chọn thời điểm nầy để mặc khải cho chị và dân tộc chị Ngài là Đấng Mê-si-a.
Sự đối lập giữa sự yếu đuối thể lý và sức mạnh thần thiêng ở nơi câu chuyện của Mác-cô cũng mặc khải mầu nhiệm con người của Ngài: Ngài là chủ tể của mọi yếu tố thiên nhiên.
Trong cảnh đêm tối với sóng to gió lớn, các môn đệ sợ hãi đánh thức Ngài. Họ hoảng loạn đến cực độ và tiếng kêu cứu của họ trộn lẫn vừa niềm tin tưởng lẫn lời trách cứ: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”.
2. Mầu nhiệm của Đức Giê-su.
Đức Giê-su truyền lệnh cho biển như một quyền lực được nhân cách hóa. Với cùng những lời như vậy, Ngài đã buộc quyền lực của quỷ ở trong người bị quỷ ám phải câm lặng. Đức Giê-su là Đấng làm cho quyền lực của sự dữ phải thất bại. Những yếu tố thiên nhiên đang điên cuồng gào thét là một biểu tượng.
Sau khi dẹp yên phong ba bảo tố, Đức Giê-su quở trách các môn đệ vì họ thiếu niềm tin vào Ngài. Chỉ mới trước đây thôi, thánh Mác-cô nói với chúng ta, Ngài đã giảng giải cho họ một cách đặc biệt (4,33-34). Sự quan tâm đặc biệt của Ngài đối với họ đã không có một mảy mai tác dụng sao?
Tất cả câu chuyện được xây dựng trên sự căng thẳng liên tục để rồi đạt đến cao điểm ở nơi sự sợ hãi của các môn đệ về mầu nhiệm của Ngài. Nhưng ở đây, sự sợ hãi của các môn đệ thay đổi bản chất và đối tượng. Nỗi sợ hãi linh thánh xâm chiếm lấy họ: “Ông nầy là ai, mà cả đến gió và biển cũng phải tuân lệnh?”.
3. Ý nghĩa thần học:
Biến cố nầy không đơn thuần chỉ là một phép lạ nhưng còn là một biểu tượng về định mệnh của Đức Giê-su. Khi lôi kéo các môn đệ vào phong ba bảo táp, đó không là một sự tình cờ. Cả cuộc đời Ngài là một cuộc chiến đấu không ngừng chống lại sức mạnh của sữ Dữ. Việc Ngài thanh thản nằm ngủ trong phong ba bảo táp hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong Kinh Thánh giấc ngủ là biểu tượng của cái chết. Như vậy việc Chúa Giê-su bình yên nằm ngủ trong phong ba bảo táp ám chỉ cuộc Tử Nạn của Ngài, cuộc Tử Nạn khiến các môn đệ kinh hoàng vì thiếu niềm tin. Sau giấc ngủ, Đức Giê-su chỗi dậy như một vị Thiên Chúa đầy quyền năng chiến thắng trên quyền lực của sự Dữ và Tử Thần. Trước quyền năng nầy, các môn đệ thắc mắc và nêu lên câu hỏi quan trọng nầy: “Ông nầy là ai mà cả đến gió biển phải tuân lệnh?” Bởi vì trong Kinh Thánh, chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền chế ngự sóng nước của Tử Thần (Tv 107,23-30).
Khi thuật lại câu chuyện nầy, thánh Mác-cô nhắm đến hai mục đích. Trước hết, Đức Giê-su thật sự là một con người, nhưng cũng thật sự là Thiên Chúa. Thứ nữa, các tín hữu Rô-ma đang bị bách hại dữ dội. Trong cơn bách hại dữ dội nầy, dường như Đức Giê-su đang ngủ. Việc Ngài xem ra vắng mặt trong khi họ phải đương đầu với biết bao nỗi truân chuyên, khiến họ nghi nan ngờ vực. Chúa sẽ làm gì để cứu họ khỏi cái chết đang cầm chắc nầy? Câu chuyện nầy là câu trả lời của thánh Mác-cô gởi đến cho họ.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
22-06-2009, 01:14 PM
admin
22-06-2009, 01:15 PM
BÀI ĐỌC II (2Cr 8: 7, 9, 13-15) Thánh Phao-lô đã thực hiện một cuộc lạc quyên giúp Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem: Giáo Đoàn nầy đang lâm cảnh túng thiếu. Sử gia Gio-sê-phút (cuối thế kỷ thứ nhất) kể ra một nạn đói kém dài lâu đã hoành hành xứ Pha-lê-tinh, dưới thời các quan tổng trấn Cút-pi-út Fa-đút và Ti-be A-lê-xan, tức giữa những năm 44-48. Sách Công Vụ 11: 28-30 nói với chúng ta về một nạn đói lớn đã xảy ra dưới thời hoàng đế Cơ-lau-đi-ô (41-45 trước Công Nguyên). “Các môn đệ mới quyết định là mỗi người tùy theo khả năng của mình, sẽ gởi quà giúp đỡ anh em ở miền Giu-đê. Và họ đã làm việc ấy: gởi đến cho hàng kỳ mục qua tay ông Ba-na-ba và ông Sao-lô”.
Vì thế, trong thư gởi cho các tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô nhắc lại việc thánh nhân lên Giê-ru-sa-lem vào thời kỳ nầy (chắc chắn vào năm 46); chính vào thời điểm này thánh Phê-rô, thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê, lãnh đạo Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem, quyết định ủy thác cho thánh Ba-na-ba và thánh Phao-lô nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho “các dân ngoại”, còn họ tiếp tục đảm nhận trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho “những người được cắt bì”. Nhưng với một điều kiện là “chúng tôi phải nhớ đến những người túng thiếu, điều mà tôi vẫn gắng làm” (Gl 2: 10).
Thánh Phao-lô không bao giờ quên lời hứa của ngài, thậm chí cho dù các Ki tô hữu Giê-ru-sa-lem không còn phải lâm vào cảnh quá túng quẫn đi nữa.
Việc lạc quyên giúp đỡ Giáo Hội Giê-ru-sa-lem chiếm một chỗ quan trọng trong những hoạt động của thánh nhân. Thánh nhân đã đặt bầu nhiệt huyết vào công việc nầy, vì ngài thấy ở đó một cơ hội cho những người tân tòng, dù xuất thân từ Do thái giáo hay lương dân, thực hành đức ái huynh đệ và chia sẻ những của cải; cũng như chứng tỏ sự gắn bó của họ với Giáo Hội-Mẹ. Đây là cử chỉ hiệp nhất, lòng biết ơn đối với Giáo Hội Mẹ từ đó Lời Chúa được tỏa sáng và những ân phúc đức tin được trao ban.
Quả thật, trong thư gởi các tín hữu Rô-ma, thánh nhân viết: “Nhưng bây giờ tôi còn phải đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ dân thánh ở đó, vì miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a đã có nhã ý đóng góp để giúp những người nghèo trong số dân thánh ở Giê-ru-sa-lem. Họ đã có nhã ý làm như vậy, nhưng thật ra họ cũng có bổn phận đối với dân thánh ở đó. Bởi vì dân ngoại đã được chia sẻ các phúc lộc thiêng liêng của dân thánh ở Giê-ru-sa-lem, thì họ cũng có bổn phận dùng của cải vật chất mà giúp đỡ lại…” (Rm 15: 16-28). Trong thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân ám chỉ đặc biệt đến điều nầy: “Về điều nầy …vì anh em là những người đầu tiên, chẳng những đã thực hiện công cuộc đó, mà còn đã quyết định làm ngay từ năm ngoái” (2Cr 8: 10).
Trong đoạn trích hôm nay, thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-rin-tô hãy mở rộng tấm lòng giúp đỡ giúp đỡ các anh em đang lâm cảnh túng thiếu.
1. Mở rộng tấm lòng.
Thánh Phao-lô khéo léo kể ra những đức tính trổi vượt của các tín hữu Cô-rin-tô: đức tin, lời Chúa, sự hiểu biết, lòng hăng say trong mọi lãnh vực, vì thế họ phải bổ sung vào đây tấm lòng quảng đại trong dịp lạc quyên nầy nữa.
Nếu họ nhiệt tâm thực hành đức ái, chính vì chính thánh nhân đã truyền đạt ngọn lửa của ngài cho họ. Vì vậy, họ không thiếu bất cứ cái gì cả!
Nhưng động lực chính yếu, chính là mẫu gương của Đức Ki tô (trọng tâm của đoạn văn này). Trong một công thức rất đánh động, thánh Phao-lô gợi lên rằng Đức Ki tô “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có”.
2. “Lá lành đùm lá rách”:
Tuy nhiên, thánh nhân biết rằng các tín hữu Cô-rin-tô không phải là những người giàu có. Thánh nhân tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ khi đòi hỏi họ cho không phải những gì cần thiết cho sự sống của mình, nhưng từ sự dư giả của mình: “Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu; để rồi khi được dư giả, họ cũng sẽ giúp đỡ anh em. Lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế, sẽ có sự đồng đều, hợp với lời đã chép: Kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu”.
TIN MỪNG (Mc 5: 21-43)
Thánh Mác-cô tường thuật cho chúng ta trong cùng một câu chuyện hai phép lạ của Đức Giê-su: phép lạ chữa lành bệnh tật và phép lạ phục sinh kẻ chết. Hai phép lạ được thực hiện một cách kín đáo; phép lạ chữa lành bệnh xuất huyết bất trị của một phụ nữ không thể kiểm chứng được; phép lạ cho một bé gái sống lại chỉ có vài nhân chứng và với lệnh truyền không được để cho ai biết chuyện nầy.
Việc đan kết hai biến cố vào trong cùng một câu chuyện cũng được gặp thấy tại Mt 9: 18-26 và tại Lc 8: 40-56; nhưng câu chuyện của Mác-cô có nhiều tình tiết sinh động nhất. Chúng ta dể dàng nhận thấy ở đây diễn tiến và ý nghĩa của những sự kiện. Đức Giê-su không vội vàng đến nhà ông trưởng hội đường; thời gian trôi qua giữa Đức Giê-su và người phụ nữ mắc bệnh xuất huyết, vì thế đứa bé chết. Cũng vậy, Đức Giê-su không vội vã ra đi khi nghe tin anh La-da-rô đau nặng; Ngài đến sau khi bạn Ngài đã qua đời bốn ngày rồi. Như vậy, trong câu chuyện nầy, Chúa Giê-su có một dấu hiệu khác để loan báo hơn là dấu hiệu chữa lành bệnh tật: Ngài có quyền trên cả sự chết.
1. Bối cảnh và các nhân vật.
Đức Giê-su đã ở vùng đất của dân Ghê-ra-sa, vùng đất dân ngoại, ở đó Ngài đã chữa lành một người bị quỷ ám nguy hiểm; dân làng sợ hãi xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Vì thế, Ngài xuống thuyền, trở sang bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất Ít-ra-en. Tức khắc “một đám rất đông tụ lại chung quanh Ngài”.
Đây là nét tiêu biểu của thánh Mác-cô, ông thích ghi lại những chuyển động của dân chúng: “đám đông tuôn đến với Ngài”, “họ đến với Ngài”, “họ đi theo và chen lấn Ngài”, “họ thích thú lắng nghe Ngài” vân vân.
Và nầy, một viên trưởng hội đường rẻ đám đông đến gặp Ngài. Viên chức sắc Do thái nầy bày tỏ lòng kính trọng và niềm tin tưởng vào Đức Giê-su: phủ phục dưới chân Ngài và khẩn thiết nài xin Ngài đến cứu giúp đứa con gái thập tử nhất sinh của ông. Phải nói rằng bản văn của Mác-cô có nhiều sắc thái sinh động hơn bản văn của Mát-thêu và Lu-ca. Viên trưởng hội đường nói lên ước nguyện của mình: “Xin Ngài đến đặt tay trên cháu”. Ông đã chứng kiến nhiều lần Đức Giê-su chữa lành bệnh tật bằng cách đặt tay. Đáp lại niềm tin tưởng đầy cảm động của ông, Đức Giê-su liền ra đi với ông. Nhưng trên đường đi, trong đoàn người chen chúc nầy, xuất hiện một người phụ nữ mắc bệnh băng huyết từ mười hai năm rồi vẫn vô phương cứu chữa.
2. Chúa Giê-su với người phụ nữ mắc bệnh nan y.
Thánh Mác-cô thường giữ cung giọng trực tiếp và bình dân cho câu chuyện của mình: “Có một người phụ nữ kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều lần đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác”. Thánh Lu-ca, thầy thuốc, sẽ giữ chừng mực hơn trong ngôn từ của mình: “Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, không ai có thể chữa được” (Lc 8: 43).
Theo luật Do thái, bệnh tình của bà là trường hợp nghiêm trọng về luật thanh sạch, vì máu là điều cấm kỵ. Vì thế, tuyệt đối cấm không ai được đụng chạm đến bà để khỏi làm cho mình ra ô uế (Lv 15: 19-30). Vì thế, bà lẫn mình vào trong đám đông để không ai nhận ra và rón rén tiến lại phía sau Ngài vì bà không thể công khai cầu xin Ngài chữa bà. Bà hy vọng mình được chữa lành một cách vụng trộm. Cử chỉ của bà thật khiêm tốn: không tìm kiếm bất cứ điều gì ngoài niềm mong ước chỉ đụng được áo Người, với trọn niềm tin tưởng của bà: “Tôi mà sờ được áo Người thôi, là sẽ được cứu”.
“Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra”. Đừng hiểu những từ ngữ nầy theo mặt chữ. Đức Giê-su biết người phụ nữ nầy là ai và bà đang nghĩ gì trong lòng. Thánh Mác-cô đề cao quyền năng của Đức Giê-su, được xem như một loại năng lực có thể phát huy tác động một cách riêng biệt và hầu như độc lập, ông diễn tả theo quan niệm dân gian về các thầy thuốc vào thời đó. Chúng ta không gặp thấy một tư tưởng như thế tại thánh Mát-thêu: trong câu chuyện của mình, Đức Giê-su liền quay lại thấy bà, và nói với bà mà không cần chờ đợi lời giải thích của bà: “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8: 22).
Trái lại. thánh Lu-ca bày tỏ cùng một cách thức như thánh Mác-cô. Nhiều lần thánh Lu-ca viết: “Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6: 19). Trong câu chuyện nầy, thánh Lu-ca diễn tả như thánh Mác-cô: “Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra” (Lc 8: 47).
Những ghi nhận của Mác-cô và Lu-ca nầy đã làm tốn không biết bao giấy mực; thậm chí người ta tự hỏi phải chăng chúng phát xuất từ cách thức của các sách tin mừng ngụy thư. Đối với cử chỉ của người phụ nữ còn thúc đẩy các nhà chú giải đề nghị biết bao lời giải thích. Calvin phát hiện ở nơi cử chỉ của người phụ nữ nầy thái độ tương tự thái độ tôn thờ các thánh tích mà ông kết án. Theo cùng một tinh thần, các nhà phê bình khác so sánh câu chuyện nầy với các câu chuyện được tường thuật trong sách Công Vụ: bệnh nhân được chữa lành nhờ khăn và áo đã chạm đến da thịt của thánh Phao-lô (Cv 19: 11) hay nhờ cái bóng của thánh Phê-rô chạm đến (Cv 5: 15).
Vấn đề vẫn luôn luôn được đặt ra. Tất cả việc chữa lành nhờ đụng chạm đến thánh tích nào đó được định vị trên một đỉnh núi nguy hiểm mà triền dóc nầy là lòng mộ đạo hay triền dóc kia là mê tín dị đoan.
Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn trọng khi đọc bản văn Tin Mừng; bài học rất sáng tỏ. Rõ ràng Đức Giê-su giúp người phụ nữ hiểu: bà không được chữa lành vì bà đã chạm đến áo của Ngài nhưng vì bà đã có niềm tin: “Nầy bà, đức tin của bà đã chữa bà”. Quả thật, trong đám đông chen chúc quanh Ngài, không thiếu những người đã chạm đến áo của Ngài nhưng không nhận được bất cứ ân ban nào. Nguồn ân sủng của Đức Giê-su là thái độ sẳn sàng bên trong.
Cũng xảy ra như vậy đối với việc phục sinh con gái của viên trưởng hội đường: sự phục sinh của cô bé là lời đáp trả của Đức Giê-su cho đức tin của người cha.
3. Đức Giê-su với viên trưởng hội đường.
“Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?”. Đó là sứ điệp của người nhà viên trưởng hội đường. Đối với họ, quyền năng của Đức Giê-su cũng chỉ là quyền năng chiến thắng bệnh tật. Chắc chắn viên trưởng hội đường cũng đồng quan điểm với họ. Nghe thế, Đức Giê-su nói với ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”. Nếu chúng ta muốn nắm bắt nét nghĩa của động từ được Mác-cô dùng ở đây, phải dịch: “Hãy kiên vững trong đức tin của ông”. Trong khi bản văn Lu-ca dùng động từ ở thể truyền lệnh aoriste, có nghĩa: “Hãy thể hiện một hành vi đức tin”, thì bản văn Mác-cô dùng động từ ở thể truyền lệnh hiện tại, điều đó muốn nói rằng ông trưởng hội đường có đức tin rồi và ông phải tiếp tục tin. Như vậy, Ngài mở cho người cha đau khổ nầy một con đường hy vọng. Vì thế, ông không ngăn cản Đức Giê-su nhưng để Ngài vào nhà ông.
Chúng ta sẽ tham dự vào một hoạt cảnh tương tự ở Bê-ta-ni trong câu chuyện phục sinh La-da-rô, em trai của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày” (Ga 11: 39). Đức Giê-su trả lời bằng cách đòi hỏi chị phải tin vào Ngài: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Ga 11: 40).
“Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy!”. Ngài cũng sẽ nói với các môn đề về La-da-rô một cách như vậy: “La-da-rô, bạn của chúng ta đang yên giấc” (Ga 11: 11). Đây không là một hình ảnh, như chúng ta gặp thấy nhiều lần trong văn chương kinh thánh cũng như ngoài kinh thánh, nhưng là một sự khẳng định mang tính mặc khải: cái chết chỉ là một giấc ngủ mở ra sự sống. Tất cả chi tiết của hoạt cảnh đều đi theo chiều hướng nầy.
Sau khi vào nhà của viên trưởng hội đường, Đức Giê-su truyền lệnh cho mọi người ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ và ba người môn đệ cùng đi với Ngài vào nơi đứa bé đang nằm. Đức Giê-su cầm lấy tay đứa bé và nói: “Ta-li-tha-kum”: “Ta-li-tha” (“cô bé”) – “kum” (“hãy chỗi dậy”). Mác-cô đã gìn giữ những từ A-ram trong bản văn của mình. Toàn bộ câu chuyện của ông bày tỏ nhiều chi tiết sống động của một chứng nhân mắt thấy tai nghe mà thánh ký nhận được từ nguồn của mình hay từ những kỷ niệm của thánh Phê-rô mà ông chuyển tải, ví dụ như câu trả lời của các môn đệ: “Thầy coi, dân chúng chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi là ai đụng vào Thầy”, thánh ký đã xây dựng thành ngôn ngữ nói: “Thầy coi, dân chúng chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ‘Ai đụng vào tôi?’”.
“Hỡi cô bé, hãy chỗi dậy”, động từ “chỗi dậy” sẽ trở thành thuật ngữ để chỉ biến cố Phục Sinh. Cô bé liền chỗi dậy và đi lại được. Đức Giê-su bảo họ cho đứa bé ăn. Lời dặn dò nầy có một mục đích tức thời, nhằm cho cha mẹ của cô bé hiểu rằng cô bé thật sự sống lại chứ không là một bóng ma. Cũng vậy, sau khi sống lại, Đức Giê-su cũng hỏi các môn đệ còn nghi nan ngờ vực: “Ở đây anh em có gì ăn không?” (Lc 24: 41). Tuy nhiên, lời dặn dò nầy còn mặc lấy một ý nghĩa sâu xa hơn nữa, cử chỉ nầy mang tính biểu tượng và ngôn sứ: việc chỗi dậy bên kia cái chết mở ra những thực tại thần thiêng mà các ngôn sứ đã diễn tả bằng những hình ảnh về bàn tiệc Thiên Chúa: bữa ăn cánh chung.
“Cô bé đã mười hai tuổi”. Con số “mười hai” cũng có giá trị dấu chỉ: con số của sự tuyển chọn. Thánh Mác-cô đã dùng con số nầy rồi đối với người phụ nữ mắc bệnh băng huyết đã “mười hai” năm. Trong sách Khải Huyền, con số người được tuyển chọn là “một trăm bốn mươi bốn ngàn” người, tức là gấp ngàn lần của 12 x 12 (Kh 7: 4). Mười hai tông đồ, nối nghiệp mười hai chi tộc Ít-ra-en, là dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa.
4. Những chứng nhân:
Ngoài cha mẹ của đứa bé ra, những nhân chứng về cuộc phục sinh bé gái là ba Tông Đồ, Phê-rô, Gia-cô-bê, và Gioan. Chính ba vị Tông Đồ nầy được Đức Giê-su sẽ dẫn lên núi để làm chứng cuộc Biến Hình của Ngài.
Trong khi “các ông kinh hoàng ngã sấp mình xuống đất, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ” (Mt 17: 7). Cũng là cử chỉ và lời nói mà Ngài đã làm và nói với con gái của viên trưởng hội đường. Có một mối liên hệ giữa biến cố phục sinh và biến cố biến hình; đây là hai khía cạnh bất khả phân sau cái chết.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
22-06-2009, 01:20 PM
CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong nien B/CN XIII TN B.htm
admin
28-06-2009, 07:02 AM
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy nêu lên những khó khăn mà tất cả các ngôn sứ hay các tông đồ gặp phải, đặc biệt khi họ loan báo sứ điệp của mình cho những người đồng hương của mình.
Ed 2: 2-5
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhận được sư điệp phải loan báo cho những người đồng hương của ông, những người lòng chai dạ đá nầy, một sứ điệp cứng rắn về việc phải thay lòng đổi dạ.
2Cr 12: 7-10
Thánh Phao-lô hãnh diện về những ơn đặc sủng mà mình đã lãnh nhận, nhưng thánh nhân cũng đã gặp phải không biết bao nhiêu khó khăn trong suốt sứ vụ tông đồ của mình: thủ thách cá nhân (“như một cái dầm đâm vào thân xác”), những bách hại, chống đối, nhục mạ, vân vân.
Mc 6: 1-6
Đức Giê-su trở về Na-da-rét đem đến cho những người đồng hương của Ngài giáo huấn của mình, nhưng đụng phải thái độ không hiểu và ngờ vực của họ.
BÀI ĐỌC I (Ed 2: 2-5)
Cũng như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en là tư tế Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, đồng thời cũng lãnh nhận ơn gọi ngôn sứ. Đây là trường hợp đặc biệt.
Ê-dê-ki-en đã sống trong một thời đại bi thảm: đế quốc Ba-by-lon đã chinh phục xứ Pha-lệ tinh, triệt hạ thủ đô Giê-ru-sa-lem, phá hủy Đền Thờ và vương quốc Giu-đa. Dân chúng bị đưa đi lưu đày và sống ở đất khách quê người trong cảnh nghèo khổ, trải qua từ những nghi lễ huy hoàng ở Đền Thờ đến một tôn giáo trơ trụi, nội tâm. Sứ mạng chính yếu của ngôn sứ Ê-dê-ki-en là làm cho những kẻ lưu đày hiểu ý nghĩa của sự thử thách mà họ đang phải chịu để họ thay đổi “trái tim bằng đá thành trái tim bằng thịt”.
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay là bài trình thuật về ơn gọi của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Bài trình thuật nầy nêu bật quyền năng bất khả kháng của tiếng gọi Thiên Chúa và trước sự siêu việt của Thiên Chúa, con người cảm thấy mình hư vô và nhỏ bé. Tuy nhiên, bài trình thuật nầy cũng làm cho hiểu rằng dù chỉ là một phàm nhân nhưng ngôn sứ trở nên vĩ đại biết bao dưới tác động của Thiên Chúa.
1. Thần Khí nhập vào tôi:
Thần Khí không là một ngôi vị biệt phân với Đức Chúa, nhưng một sự thôi thúc đến từ Thiên Chúa, “hơi thở của Ngài”.
Thần Khí nhập vào ngôn sứ và làm cho vị ngôn sứ đứng dậy, nghĩa là, nếu chỉ cậy dựa vào sức lực của riêng mình, con người chỉ là thọ tạo yếu đuối và nghiêng ngữa; nhưng khi được Thiên Chúa nắm bắt, vị ngôn sứ là một con người đứng thẳng, kiên cường trong sứ mạng của mình.
2. “Hỡi Con Người”.
Đây là đặc ngữ Do thái, không có nghĩa nào khác ngoài “con người” nhưng muốn nhấn mạnh tính chất “phàm nhân”: một sự đối lập giữa sự vô nghĩa của phàm nhân và chiều kích cao cả của Thiên Chúa. Chính luôn luôn dưới danh xưng nầy: “Hỡi con người, hãy đứng cho thẳng Ta sắp phán với ngươi” mà vị ngôn sứ được Thiên Chúa chỉ định. Một cách nào đó, Thiên Chúa đòi hỏi nơi vị ngôn sứ đức tính khiêm hạ của một kẻ vô danh, như thử Thiên Chúa trao gởi một sứ mạng càng cao trọng bao nhiêu thì thừa tác vụ của ông càng phải khiêm tốn và nhỏ bé bấy nhiêu.
Diễn ngữ nầy sẽ mặc lấy một ý nghĩa khác trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, ở đó “Con Người” vừa là một thành viên của nhân loại vừa thuộc nguồn gốc thần linh. Chính theo ý nghĩa nầy mà Đức Giê-su sẽ áp dụng cho mình tước hiệu nầy.
3. Một dân phản loạn.
Lời của Đức Chúa thì cứng rắn: “Một dân phản loạn…một bọn người mặt dày mày dạn và lòng chai dạ đá”. Đây sẽ là ngôn từ của Ê-dê-ki-en, một trong những ngôn từ nghiêm khắc nhất chưa bao giờ được viết ra chống lại tội lỗi của dân Ít-ra-en. Vị ngôn sứ không khoan nhượng một chút nào. Theo ông, dân Chúa chọn đã chẳng bao giờ thật sự trung thành với Thiên Chúa của mình. Vị ngôn sứ lên án tội lỗi của vua chúa, quần thần, tư tế và của mọi người, và ông loan báo cơn giận khủng khiếp của Thiên Chúa bằng những từ ngữ rắn rõi. Từ cảnh lưu đày của mình, ông thấy thành thánh Giê-ru-sa-lem hoang tàn đổ nát: “Hỡi con người, ngươi hãy nói với con cái dân ngươi; ngươi hãy bảo: Khi Ta cho gươm đến trừng phạt xứ nào, thì dân xứ ấy sẽ chọn một người trong số họ và đặt làm kẻ canh gác cho mình” (33: 2).
Những biến cố của 587 trước Công Nguyên sẽ sớm chứng tỏ cho dân phản loạn nầy rằng “có một ngôn sứ ở giữa họ”. Ảnh hưởng tinh thần của Ê-dê-ki-en rất sâu xa sau cái chết bất ngờ của ông ở giữa cảnh lưu đày vào năm 571 trước Công Nguyên.
BÀI ĐỌC II (2Cr 12: 7-10)
Trong vô vàn những khó khăn nảy sinh giữa vị tông đồ và các tín hữu Cô-rin-tô, đáng kể là những lời chỉ trích phê bình về chức vụ tông đồ của thánh nhân, đến từ “các Tông Đồ siêu đằng” (11: 5), “những kẻ đội lốt tông đồ của Đức Ki tô” (11: 13), họ sửa sai giáo huấn của thánh nhân, và vu khống hoạt động của thánh nhân là “sống theo tính xác thịt” (10: 2).
Để lấy lại niềm xác tín của các tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô buộc phải tự biện hộ cho chính mình. Thánh nhân trình bày những đau khổ mà mình phải chịu và những ơn đặc sủng mà mình đã đón nhận (thị kiến, xuất thần, “được nghe những lời khôn tả mà không được phép nói lại” [12: 4]).
1. “Cái dằm đâm vào thân xác”.
Thánh nhân không muốn để cho mình bị mắc vào thói tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường đã nhận được nầy, vì thế, “để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dầm đâm vào”.
Các nhà chú giải luôn luôn tự hỏi lời nầy ám chỉ đến cái gì. Họ đã so sánh bản văn nầy với một đoạn văn của thư gởi tín hữu Ga-lát: “Anh em biết: nhân khi thân xác tôi đau ốm, tôi đã loan báo Tin Mừng cho anh em lần đầu tiên. Mặc dầu thân xác tôi là một dịp thử thách cho anh em, anh em đã không khinh, không tởm; trái lại anh em đã tiếp đón tôi như một sứ giả của Thiên Chúa, như Đức Giê-su Ki tô” (Gl 4: 13-14). Người ta đã nghĩ đến một khuyết tật bẩm sinh nào đó. Khoa ảnh tượng xưa trình bày thánh nhân lúc thì với đôi mắt lồi, lúc thì với đôi mắt lé. Người ta cũng đã gợi lên những xao xuyến tâm lý, như nỗi buồn phiền của thánh nhân vì đã không hoán cải được những người Do thái, đồng bào của thánh nhân, “anh em trong xác thịt của ngài”.
2. “Đã ba lần, tôi xin Chúa…”
Con số “ba” xem ra chỉ cường độ lời cầu nguyện của thánh nhân; cũng như Đức Giê-su ở trong vườn Ô-liu đã cầu nguyện ba lần.
Thánh nhân đã luôn luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh nhân không cầu nguyện với Đức Ki tô, nhưng luôn luôn cầu nguyện với Chúa Cha mà ngài gọi ở đây là Chúa, tước hiệu mà thánh nhân thích gán cho “Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta” hơn.
3. “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”.
Chúng ta nhận ra rất rõ văn phong của thánh Phao-lô ở nơi biện chứng mạnh mẽ-yếu đuối. Càng xóa nhòa công sức của kẻ làm việc cho Thiên Chúa, càng bày tỏ quyền năng Thần Khí ở nơi mình. Hể có dịp là thánh Phao-lô lập lại tư tưởng nầy.
Lời kết của thánh nhân vừa khái quát vừa ám chỉ đến những xúc phạm và những xao xuyến mà các tín hữu Cô-rin-tô đã bắt ngài phải chịu; ngài cho họ hiểu rằng thái độ của họ sẽ không làm thay đổi thái độ của ngài luôn luôn cậy dựa vào Thiên Chúa.
Chương 12 nầy, mà chúng ta chỉ đọc một đoạn trích, là một chứng liệu duy nhất để hiểu biết thánh Phao-lô. Không có những lời thú nhận nồng nàn nầy, chúng ta chỉ có một cái nhìn đại thể rất bất toàn về những thử thách của thánh nhân và những kinh nghiệm thần bí của ngài. Tâm tính bốc lửa của thánh nhân được bày tỏ ở đây rõ hơn nơi nào khác – một sự trộn lẫn đáng ngạc nhiên của tính tự phụ và đức khiêm hạ - và niềm tin bất trị của thánh nhân vào Đức Ki tô.
TIN MỪNG (Mc 6: 1-6)
Đây là lần đầu tiên Đức Giê-su có dịp trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài kể từ khi Ngài thi hành sứ mạng công khai của mình. Làm thế nào Ngài có thể bỏ quên những người mà Ngài đã chia sẻ cuộc sống trong nhiều năm mà không mang Tin Mừng đến cho họ được chứ?
Chắc chắn Ngài không mong chờ họ sẽ hồ hỡi đón tiếp Ngài. Mới đây thân nhân của Ngài từ làng Na-da-rét đến thành Ca-phác-na-um toan tính bắt Ngài về, vì cho rằng Ngài mất trí. Đức Giê-su đã không bận lòng đến cách hành xử của họ; Ngài cũng đã ám chỉ một sự đoạn tuyệt: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12: 49-50; Mc 3: 35; Lc 8: 21).
Quả thật, chuyến viếng thăm Na-da-rét của Ngài kết cục là một sự thất bại. Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều trình thuật biến cố nầy, bài tường thuật của Lu-ca cung cấp nhiều tình tiết nhất (Lc 4: 16-30).
1. Thân thế và nghề nghiệp.
“Đến ngày sa-bát, Đức Giê-su vào giảng dạy trong hội đường”. Đây là phương thức rao giảng của Ngài. Ngài đã làm như vậy ngay từ đầu sứ vụ công khai của Ngài trong hội đường Ca-phác-na-um (1: 21). Đây cũng là phương thức mà thánh Phao-lô sẽ chọn. Phương thức nầy thành công đến mức các văn sĩ Do thái ghi nhận rằng không có các hội đường, Ki tô giáo sẽ không tràn lan…
Chúng ta nên biết rằng hội đường là nơi tụ họp chứ không tế tự, bởi vì những hy lễ chỉ được tiến dâng ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Các tín đồ quy tụ ở đây để cầu nguyện, đọc và giải thích Kinh Thánh, hát những bài Thánh Vịnh, đặc biệt vào ngày sa-bát.
Người đọc và giải thích Lời Chúa được chỉ định trước hoặc được chọn ở giữa những người tham dự. Vào ngày sa-bát nầy, trong hội đường Na-da-rét mà Đức Giê-su đã thường lui tới, Ngài là người đọc và giải thích (Lu-ca xác định bản văn mà Ngài đã đọc và giải thích). Giáo huấn của Ngài làm mọi người kinh ngạc: “Ông ta được khôn ngoan như thế, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?” Người ta khâm phục tư tưởng của Ngài, và ngưỡng mộ những phép lạ mà Ngài đã thực hiện ở những nơi khác. Nhưng rồi người ta xúc phạm Ngài khi nghĩ đến thân thế và nghề nghiệp trước đây của Ngài. Mọi người trong làng nầy ai không biết gia đình của Ngài; bạn bè, họ hàng, bà con thân thích của Ngài hiện đang sinh sống ở giữa họ: Đức Giê-su đã là một con trẻ sinh ra và lớn lên trong làng nầy; Ngài là con bà Ma-ri-a. Còn về nghề nghiệp của Ngài, Ngài chỉ là một anh thợ mộc trong làng. Làm thế nào đôi tay mà họ đã từng thấy Ngài cưa, bào, đục, đẻo vân vân, lại có thể thực hiện những phép lạ được? Lẽ ra họ phải khởi sự tin vào Ngài, thì từ ngạc nhiên thán phục họ lại bổng trở nên thù địch công khai với Ngài.
2. Con bà Ma-ri-a.
Mác-cô không nhắc đến cha của Ngài, ông Giu-se. Phải chăng từ đó suy ra rằng ông Giu-se đã qua đời? Lý do nầy chưa đủ, vì để xác định căn tính của một người, công thức quen thuộc là phải trích dẫn tên cả cha lẫn mẹ, cho dù nếu một trong hai người, hay thậm chí cả hai đã qua đời đi nữa. Có lẽ đúng hơn, khi thánh Mác-cô soạn cuốn Tin Mừng nầy, Giáo Hội tiên khởi đã tin vào việc Đức Giê-su được thụ thai bởi người mẹ đồng trinh rồi (Mt 1: 18-20; Lc 1: 30-35); vì thế, khi tránh nêu tên cha Ngài, ông Giu-se, thánh ký muốn nhấn mạnh một cách kín đáo đức đồng trinh của Đức Ma-ri-a.
3. Anh em của Ngài:
Những “anh em” nầy là những anh em họ của Đức Giê-su. Từ “anh em” theo ngôn ngữ Hy bá có một phạm vi ngữ nghĩa rất rộng (tiếng Hy bá không có từ ngữ riêng biệt để chỉ anh em họ). Trong Kinh Thánh, từ “anh em” có thể để chỉ mối quan hệ họ hàng thân thích gần xa giữa bác hay chú và cháu (St 13: 8), hay anh em chú bác, cô cậu, hay con dì (Lv 10: 4; 1Sb 23: 21).
Chúng ta biết hai trong số “anh em” nầy của Đức Giê-su: ông Gia-cô-bê, người sau nầy lãnh tụ Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và ông Giô-xê mà mẹ của họ là bà Ma-ri-a, vợ ông Cơ-lô-pát đứng dưới chân thập giá (Mt 27: 56; Mc 15: 40-41; Ga 19: 25).
4. Giá trị lịch sử của câu chuyện:
Thân thế và hoàn cảnh sống của Ngài đã là “chướng ngại làm cho họ không tin vào Ngài”. Phản hứng nầy, về phương diện nhân loại có thể hiểu được, dâng hiến cho chúng ta một lợi ích lớn lao. Không kể đến giai thoại về Đức Giê-su lên mười hai tuổi ở giữa các tiến sĩ Luật trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, phản ứng của dân làng Na-da-rét nầy là ánh sáng duy nhất soi sáng cho chúng ta về cuộc đời ẩn dật của Đức Giê-su trong suốt ba mươi năm: một cuộc đời bình lặng không có gì trổi vượt như cuộc đời của bao nhiêu người Na-da-rét khác. Không ai có thể nghi ngờ căn tính đích thật của Ngài sống ở giữa họ, một cuộc sống của một con người thi hành nghề nghiệp của mình và đã chu toàn công việc của mình; không có bất kỳ một hành động phi thường nào. Thái độ của những người đồng hương của Ngài là một bằng chứng có giá trị.
Trước sự từ chối của họ, Đức Giê-su trả lời bằng trích dẫn câu thành ngữ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình”. Câu thành ngữ nầy đã thường được kiểm chứng trong lịch sử Ít-ra-en. Bài đọc I đã cung cấp cho chúng ta một ví dụ về ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Nhưng biết bao nhiêu ngôn sứ khác có thể được nhắc đến! Ngôn sứ Ê-li-a bị hoàng hậu I-de-ven bắt bớ phải trốn chạy; ngôn sứ I-sai-a, thất vọng trước sự cứng tin của dân Ít-ra-en, cuối cùng dành riêng sứ điệp của mình cho chỉ các môn đệ của mình; ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị nhục mạ, bị bách hại, vân vân.
Dân Na-da-rét từ chối những dấu chỉ của Nước Trời. Đức Giê-su không thể làm được phép lạ nào tại đó, vì Ngài không gặp thấy niềm tin ở nơi họ. Chỉ vài bệnh nhân hưởng được lòng thương xót của Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Mác-cô, không chỗ nào nêu rõ mối tương quan Chúa Giê-su đặt ra giữa đức tin và các phép lạ Chúa làm cho bằng bài trình thuật nầy.
Với bài trình thuật nầy, giai đoạn thứ hai của Tin Mừng đã hoàn tất (3: 7-6: 6). Giai đoạn nầy đã nêu bật chủ đề nền tảng của Tin Mừng. Chúng ta đã gặp thấy nhiều thái độ khác nhau của những người đến và gặp gỡ Ngài, dù dân chúng, môn đệ hay các bà con họ hàng của Ngài, đều đặt ra cho mình “câu hỏi gai góc nhưng then chốt về thân thế sâu xa của Ngài”.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
06-07-2009, 08:55 AM
Chúa Nhật XV Thường Niên
http://gpnt.net/chugiaiktcn/thuong nien B/CN XV TN B.htm
admin
12-07-2009, 08:47 PM
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN
Chúng ta có thể đặt nhan đề cho Chúa Nhật XVI là “tấm lòng của vị mục tử Mê-si-a”.
Gr 23: 1-6
Đối diện với các vị mục tử vô trách nhiệm của dân Ít-ra-en dẫn đưa dân đến cảnh nước mất nhà tan, ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân nắm giữ vận mệnh của đàn chiên Ngài và sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật, thuộc dòng dõi Đa-vít, Đấng ấy sẽ chăn dắt dân trong công minh chính trực.
Ep 2: 13-18
Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô cho thấy ở nơi Đức Ki tô Đấng quy tụ người Do thái và lương dân trong bình an và hòa giải để chỉ có một dân duy nhất và một thân thể duy nhất.
Mc 6: 30-34
Trong bài tường thuật của thánh Mác-cô, Đức Giê-su hành xử như một vị mục tử chân thật, một vị mục tử Mê-si-a. Ngài quy tụ đám đông dân chúng, nuôi dưỡng họ bằng lời của Ngài trước khi cho họ được no thỏa bằng bánh hóa nhiều, tiên trưng bí tích Thánh Thể.
BÀI ĐỌC I (Gr 23: 1-6)
Như ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a sống vào giai đoạn bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa, dưới những cuộc tấn công của đạo quân Ba-by-lon, vào đầu thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
Sấm ngôn của chương 23 nầy được định vị giữa hai cuộc tấn công vào Giê-ru-sa-lem, cuộc tấn công thứ nhất vào năm 597 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ nhất và cuộc lưu đày lần thứ nhất; và cuộc tấn công thứ hai vào năm 587 BC., thành đô Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, Đền Thờ bị phá hủy và những cuộc lưu đày mới.
Trái với ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không bị lưu đày; ông vẫn ở Giê-ru-sa-lem: vị ngôn sứ cực lực tố cáo các vua chúa và các vị lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về tai họa.
Tuy nhiên ngay cả ở giữa lòng thành đô tang thương nầy, vị ngôn sứ thắp lên ngọn lửa hy vọng: Thiên Chúa vẫn trung tín: Ngài không bỏ rơi dân Ngài; đến thời đến buổi, Ngài sẽ sai phái cho họ một vị mục tử đích thật.
1. Những mục tử vô trách nhiệm.
Đó là những vị vua của vương quốc Giu-đa mà vị ngôn sứ nhắm đến trước tiên (tước hiệu mục tử được ban cho các vị vua ở Đông Phương xưa); vị ngôn sứ trách cứ họ là đã không trung thành với sứ mạng của mình, đã “hành xử như những nhà chính trị chứ không như những con người của Thiên Chúa”.
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay là phần đầu của chương 23, chương kết thúc “sách chống lại các vua”.
Nhưng bên kia các vua, Giê-rê-mi-a ngỏ lời với toàn thể tầng lớp lãnh đạo, đạo cũng như đời (nhiều lần ông cho họ tước hiệu mục tử nầy: 2: 8; 10: 21; 25: 34). Ngôn sứ đã nói trước đó, những vị chức sắc của dân đã coi thường quyền lợi và công bình; họ đã sống một cuộc sống thụ hưởng phù phiếm; họ đã xây cho mình những dinh thự đền đài tráng lệ mà không ngó ngàng gì đến cuộc sống của dân chúng (22: 3, 13; vân vân).
Cuối cùng họ đã dẫn dân chúng lâm vào cảnh lầm than nước mất nhà tan và phải tản lạc khắp nơi: “Khốn thay những mục tử đã làm cho đàn chiên trong đồng cỏ của Ta phải tản lạc chết chóc”. Không chỉ những người bị lưu đày phải tha hương ở đất khách quê người, nhưng biết bao dân cư đã rời bỏ Giê-ru-sa-lem để tỵ nạn ở miền quê hẻo lánh, vài người trốn chạy sang tận bên Ai-cập.
“Ta sẽ hỏi thăm các ngươi về những hành vi ngang trái của các ngươi”. Quả thật án phạt đã không chậm trể. Vua Giơ-hô- gia-khin bị dẫn đi giam cầm ở Ba-by-lon. Còn thành phần ưu tú bị lưu đày lần thứ nhất vào năm 597 BC (2V 24: 10-16).
2. Sứ điệp tràn đầy hy vọng: vị mục tử Mê-si-a.
Sau bản cáo trạng nghiêm khắc nầy, vị ngôn sứ công bố một sứ điệp tràn đầy hy vọng.
Bởi vì các vị mục tử đã không chu toàn sứ mạng của mình, Thiên Chúa sẽ can thiệp: Ngài sẽ đích thân đảm nhận việc chăm sóc dân Ngài; Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài bị phân tán khắp nơi và đưa chúng về đồng cỏ của chúng.
Đây là một trong những giấc mơ lớn lao đã làm nức lòng dân chúng trong niềm mong chờ thời Mê-si-a đến để hiệp nhất quốc gia Ít-ra-en. Việc phân tranh giữa các bộ tộc phương Bắc và các bộ tộc phương Nam mặc dầu đã xa xưa nhưng vẫn còn cảm thấy niềm đau trong lòng mọi người. Cuộc sụp đổ của vương quốc phương Bắc đã kéo theo một cuộc tản mác đầu tiên, hoặc do tự nguyện hoặc bi lưu đày (cuộc lưu đày ở Át-sua). Cuộc sụp đổ vương quốc phương Nam gây nên những hậu quả còn thậm tệ hơn.
Trong lời sấm của vị ngôn sứ, chính Đức Chúa sẽ đảm nhận vai trò mục tử nhân lành, Ngài sẽ tập hợp đàn chiên của Ngài vào đồng cỏ của chúng. Viễn cảnh được loan báo là viễn cảnh của cuộc hồi hương trở về quê cha đất tổ từ chốn lưu đày. Đức Chúa sẽ đem lại cho dân Ngài niềm vui hưởng cảnh thái bình thịnh vượng: “Chúng sẽ sinh sôi nẩy nở ra nhiều”. Ở đây còn là dấu chỉ Mê-si-a. Theo các ngôn sứ, thời đại Mê-si-a phải được đánh dấu bởi “sự no thỏa” (“bữa tiệc Mê-si-a” mà bánh hóa nhiều là một trong những biểu tượng tiên trưng).
3. Chân dung của vị mục tử lý tưởng.
Sau cùng, vị mục tử lý tưởng sẽ ngự đến: “Nầy đây sẽ đến thời kỳ Ta khiến mọc lên cho nhà Đa-vít một Mầm Non công chính”.
“Nầy đây sẽ đến những thời kỳ” đây là công thức mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc để giới thiệu một thị kiến tương lai. Có thể ông đã mượn công thức nầy từ ngôn sứ A-mốt (Am 4: 2; 8: 11; 9: 13). Từ “Mầm Non” đã trở thành tước hiệu Mê-si-a. Tước hiệu nầy đã xuất hiện trước tiên tại I-sai-a (4: 2); Giê-rê-mi-a đã trích dẫn tước hiệu nầy hai lần (một ở đây và nơi khác ở 33: 15); chúng ta sẽ gặp lại tước hiệu nầy tại ngôn sứ Da-ca-ri-a (3: 8; 6: 12).
Dưới triều đại của vị vua Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít nầy, “miền Giu-đa sẽ được cứu thoát, miền Ít-ra-en sẽ an cư lạc nghiệp”.
Giu-đa và Ít-ra-en, gợi lên địa danh của hai vương quốc: như vào thời vua Đa-vít, dân Thiên Chúa sẽ chỉ là một dân tộc duy nhất.
Người ta sẽ gọi vị mục tử Mê-si-a nầy là: “Đức Chúa, sự công chính của chúng ta”. Danh xưng nầy các ngôn sứ thường dùng để chỉ Đấng Mê-si-a, nhưng ở nơi tên gọi nầy ngôn sứ Giê-rê-mi-a đặt một lời châm biếm cay độc: một trong “những vị mục tử vô trách nhiệm” là vua Xê-đê-xi-át, vương hiệu nầy có nghĩa “Đức Chúa, sự công chính của tôi”.
Trái lại, vị vua Mê-si-a tương lai sẽ truyền đạt sự công minh chính trực của Ngài cho toàn thể dân chúng của mình.
BÀI ĐỌC II (Ep 2: 13-18)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi các tin hữu Ê-phê-sô. Trong đoạn trích của Chúa Nhật trước, thánh Phao-lô đã trình bày kế hoạch cứu độ muôn thuở của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Ki tô. Trong đoạn trích hôm nay, thánh nhân mô tả sự hòa giải mà Đức Ki tô thực hiện: chết cho mọi người, cả người Do thái lẫn lương dân. Như vậy, Đức Ki tô muốn kiến tạo nên một nhân loại mới và quy tụ họ vào trong Giáo Hội của Ngài.
1. Người Ki tô hữu gốc lương dân.
Trước tiên, thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki tô hữu gốc lương dân, họ chiếm đa số trong những cộng đoàn Ki tô hữu miền Tiểu Á. Thánh nhân dùng thuật ngữ “xa-gần” đã được I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ hậu lưu đày, sử dụng rồi (Is 57: 19).
Dụng ngữ nầy đã trở nên phổ biến trong Do thái giáo. Qua dụng ngữ “xa-gần” nầy, thánh nhân muốn nói rằng những người Ki tô hữu gốc lương dân, trước kia là những người xa lạ, bây giờ trở thành những người nhà của Thiên Chúa, vì từ nay họ được dự phần vào những lời hứa của Giao Ước, bởi vì chính họ cũng được ban cho ơn tha thứ tội lỗi.
2. Một dân duy nhất.
Vì thế, những người Ki tô hữu, dù gốc lương dân cũng như gốc Do thái, đều có thể nói: Đức Ki tô “là sự bình an của chúng ta”.
Chúng ta khó mà đo lường được việc liên kết giữa những người Ki-tô hữu gốc lương dân và gốc Do thái đã mang đến tính cách mạng đến mức độ nào cho các cộng đoàn Ki tô hữu, ở đó nảy sinh biết bao sự ngộ nhận và khinh bĩ qua lại ở giữa đôi bên.
Những Ki tô hữu gốc Do thái ý thức mình là một dân được tuyển chọn và được tách riêng ra, dân mang mặc khải; họ tự hào về nét đặc thù tôn giáo họ, việc tuân giữ lề luật giúp họ khỏi những uế nhiễm của dân ngoại; họ tránh những giao tiếp với những kẻ không chịu cắt bì chừng nào có thể. Trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, một lan can bằng đá cẩm thạch ngăn chia khuôn viên của dân ngoại khỏi khuôn viên của dân Ít-ra-en. Qua ngôn từ: “Bức tường ngăn cách là sự thù ghét”, Thánh Phao-lô ám chỉ đến bức lan can phân cách nầy. Chắc chắn thánh nhân đã nghĩ đến những kẻ xách động đồng bào Do thái tra tay bắt ngài được tường thuật trong sách Công Vụ 21: 28: “Hỡi đồng bào Ít-ra-en, giúp một tay nào! Nó kia kìa, tên vẫn đi mọi nơi dạy cho mọi người những điều phản dân, phạm đến Lề Luật và Nơi Thánh nầy! Nó còn đem cả mấy người Hy lạp vào cả Đền Thờ mà làm cho Nơi Thánh nầy ra ô uế”.
Ngược lại, những thái độ bài Do thái thường xảy ra, như được chứng thực trong nhiều thành phố của người Hy lạp, kể cả thành phố A-lê-xan-ri-a. Chúng ta đừng quên sách Khôn Ngoan được soạn thảo vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thời kỳ những người Do thái bị chính quyền phiền nhiễu. Thái độ bài Dp thái nầy cũng gặp thấy trong thế giới Rô-ma, ở đó người ta không ưa những người Do thái vốn không làm việc vào ngày thứ bảy, cũng như không chỉ đường cho những ai không chịu cắt bì hỏi đường (như thi sĩ Junéval kể ra vài ví dụ trong bài thơ châm biếm của ông vào cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên).
Đức Ki tô đã hủy bỏ ngăn cách nầy: tinh thần duy luật khiến những kẻ thực hành tỉ mĩ Lề Luật tự thu mình lại vào trong thế giới của riêng mình. Luật Mới không còn chia cách nữa, nhưng hòa giải.
3. Một thân thể duy nhất.
Thánh Phao-lô thật bạo dạn khi khẳng định rằng: đôi bên, người Ki tô gốc lương dân và gốc Do thái, hình thành nên chỉ một con người duy nhất, một người mới. Người Ki tô hữu là một con người được tái tạo và tất cả những người Ki tô hữu được quy tụ là những chi thể của một thân thể duy nhất, thân thể của Đức Ki tô.
Thánh Phao-lô đã sử dụng từ vựng thần học nầy rồi trong các thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô và Cô-lô-sê. Đây là đề tài chủ đạo của thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô nầy, diễn tả ơn gọi phổ quát của Giáo hội.
4. Bình an và hiệp nhất, công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Cuối cùng, thánh Phao lô cho thấy rằng nhờ Đức Ki tô, “cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha”. Nhờ Đức Ki tô, con đường đến cùng Chúa Cha rộng mở cho tất cả mọi người. Chúa Thánh Thần, Đấng hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con, dẫn đưa các tín hữu vào trong cung lòng cuộc sống Ba Ngôi.
TIN MỪNG (Mc 6: 30-34)
Đức Giê-su đã sai các tông đồ ra đi thi hành sứ vụ khắp miền Ga-li-lê. Thánh Mác-cô tường thuật những diễn biến khi họ trở về.
Thánh Mác-cô luôn luôn cho chúng ta bài tường thuật đầy tình tiết sống động; và thánh ký nầy luôn luôn cho chúng ta những xác định nêu bật con người của Đức Giê-su.
1. Các tông đồ tụ họp quanh Đức Giê-su.
Danh xưng “tông đồ” được dùng để chỉ nhóm Mười Hai chỉ xuất hiện ở đây trong Tin Mừng của ông; cách dùng nầy được biện minh: các tông đồ đã “được Đức Giê-su sai đi”. Như chúng ta đã nhắc lại điều nầy trước đây, các tác giả Tin Mừng chung chung tránh dùng danh xưng nầy cho nhóm Mười Hai, bởi vì chỉ mình Đức Giê-su xứng với tước hiệu nầy. Ngài là Đấng được Chúa Cha sai phái.
Nhóm Mười Hai quy tụ lại chung quanh Đức Giê-su, chắc chắn ở Ca-phác-na-um, thành phố mà Đức Giê-su chọn làm bản doanh cho sứ vụ của Ngài. “Các ông kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã giảng dạy”. Đây là hai khía cạnh của sứ vụ đã được trao gởi cho các ông: lời giảng dạy đi kèm theo các dấu chỉ, theo gương Thầy mình. Vào ngày hôm ấy, Đức Giê-su sắp đưa ra cho các ông một mẫu gương: sau khi đã giảng dạy đám đông dân chúng nhiều điều, Ngài sẽ cho họ được ăn no nê, khi làm phép lạ bánh hóa nhiều, một trong những dấu chỉ quan trọng bậc nhất của thừa tác vụ của Ngài.
“Kẻ lui người tới quá đông”, trong số đó có những kẻ hiếu kỳ còn muốn hỏi các ông thêm nhiều điều nữa. Trong bối cảnh đó, các ông khó thuật lại cho Đức Giê-su sứ vụ mà họ vừa mới thi hành theo lệnh của Ngài. Thánh Mác-cô không xác định khung cảnh, nhưng chỉ ghi lại một chi tiết theo ông có ý nghĩa nhất “nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa”.
Ấy vậy, các tông đồ mệt mõi. Đức Giê-su lưu ý sự mệt mõi của các ông, vì thế, nếu cứ ở lại đây, họ không tài nào thoát ra khỏi đám đông quấy nhiễu nầy: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”.
Thái độ của Đức Giê-su nói lên tấm lòng của một vị thầy ân cần quan tâm đến các môn đệ mình. Các môn đệ đồng thuận và xuống thuyền lánh sang một nơi khác.
2. Lánh xa một nơi khác.
Đây không là lần đầu tiên Đức Giê-su tìm cách lánh xa đám đông để được ở lại một mình với các môn đệ mình và dạy riêng cho họ. Trước đây, thánh Mác-cô ghi nhận, sau khi giảng dạy cho đám đông nhiều dụ ngôn, “khi chỉ có Thầy trò với nhau, thì Người giải thích hết cho họ” (4: 34). Nhưng việc thầy trò lánh đi như vậy không phải luôn luôn là dể dàng. Thánh Mác-cô cũng đã còn viết: “Đức Giê-su cùng với các môn đệ của Người lánh về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê người ta lũ lượt đi theo Người” (3: 7).
Cũng xảy ra đúng y như vậy vào lúc các môn đệ trở về sau khi thi hành sứ mạng của mình.
3. Tấm lòng của đám đông dân chúng.
Việc dân chúng lũ lượt kéo nhau đến với Đức Giê-su là một trong những nét tiêu biểu của Tin Mừng Mác-cô, như chúng ta đã ghi nhận rồi. Sự kiện nầy không phải là không có tương quan với sự thành công của sứ vụ của Ngài.
Thánh Mác-cô không cho chúng ta địa danh nơi gặp gỡ của đám đông với Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài. Theo Lu-ca, Đức Giê-su “đem các ông đi riêng ra với mình, lui về thành kia gọi là Bết-xai-đa” (Lc 9: 10), đây là thành phố ở phía đông nam Biển Hồ, bên kia sông Giô-đan, dòng sông đổ nước vào Biển Hồ.
Cách thành Ca-phác-na-um đến thành Bết-xai-đa khoảng 12 cây số, vì thế có lẽ đám đông cùng nhau theo đường bộ vượt qua một khoảng cách như vậy đến trước cả các ngài. Cách diễn tả: “nhiều người hiểu ý” gợi lên một mối tương quan gần gũi thân thiết giữa đám đông dân chúng nầy với Đức Giê-su như cách nói của Tin Mừng Gioan: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10: 14).
4. Tấm lòng mục tử của Đấng Mê-si-a.
Tấm lòng nhiệt thành nầy của đám đông dân chúng làm ngăn trở cho ý muốn của Đức Giê-su và các môn đệ là được lánh riêng một nơi thanh vắng. Ấy vậy, thay vì bực mình, Đức Giê-su “chạnh lòng thương”. Dịch như thế chưa lột hết ý nghĩa của động từ Hy lạp, động từ nầy gợi lên một sự xúc động sâu xa dâng lên tận đáy lòng. Quả thật, động từ nầy phát xuất từ danh từ “ruột gan” để diễn tả niềm thương mến cuộn lên tận ruột gan như tấm lòng của Thiên Chúa đối với dân Ngài: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta rối bời” (Hs 11: 8). Đặc biệt trong các sách Tin Mừng, động từ nầy thường chỉ được dùng cho Đức Giê-su; và luôn luôn với động tự nầy, Ngài không thể nào kềm lòng được mà không ra tay hành động.
Đức Giê-su thương mến tận đáy lòng khi thấy đám đông dân chúng cùng nhau chạy đến với Ngài “như bầy chiên không người chăn dắt”. Ở đây phảng phất chủ đề căn bản của Cựu Ước. Dân Ít-ra-en là đàn chiên thương mến của Thiên Chúa. Ngài đã trao gởi đàn chiên của mình cho sự chăm sóc của các vị mục tử; nhưng những vị mục tử vô trách nhiệm nầy chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến cảnh sống của đàn chiên Ngài, khiến đàn chiên của Ngài phải lạc lõng bơ vơ. Đức Giê-su sẽ ra tay ân cần săn sóc họ và chứng tỏ mình là vị mục tử Mê-si-a được ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo. Công việc của người mục tử là tìm kiếm cho đàn chiên của mình cánh đồng cỏ tốt tươi. Lương thực mà Ngài trao ban cho đám đông nầy trước hết là lương thực của Lời Ngài; chính cái đói nầy phải được đáp ứng trước tiên: “Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều”. Phép lại bánh hóa nhiều được nối tiếp theo sau. Từ xưa Giáo Hội đã ghi nhận điều nầy là luôn luôn nối kết “hai bàn tiệc” với nhau: trước hết là bàn tiệc Lời Chúa, rồi sau đó là bàn tiệc Thánh Thể.
Khi ngỏ lời với đám đông suốt ngày hôm ấy quên cả nghĩ ngơi, Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài một giáo huấn rõ ràng: “người mục tử nhân lành là người hiến dâng trọn vẹn bản thân của mình cho đàn chiên”.
Bài tường thuật của Mác-cô nầy chứng tỏ Đức Giê-su ân cần săn sóc các môn đệ mệt mõi của Ngài sau khi hoàn thành sứ vụ, cũng như đám đông dân chúng sau khi đi một quảng đường xa đến gặp Ngài. Bài tường thuật nầy là một trong số các bài tường thuật bày tỏ ở nơi Đức Giê-su một tấm lòng từ bi nhân hậu: vừa độ nhạy cảm sâu xa của con tim nhân loại vừa tấm lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa trước nỗi khổ đau của đám đông dân chúng bơ vơ lạc lõng, tìm nơi nương tựa vào Ngài. Đó cũng là mẫu gương cho tất cả các vị mục tử của Giáo Hội Ngài, không tìm cách trốn tránh dưới chiêu bài nầy hay chiêu bài khác, nhưng tìm cách đáp trả nỗi khổ đau của dân chúng, bởi vì: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10: 11).
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
20-07-2009, 06:42 AM
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN
Chúa Nhật XVII là Chúa Nhật phép lạ bánh hóa nhiều.
2V 4: 42-44
Phép lạ bánh hóa nhiều đã là cử chỉ của ngôn sứ Ê-li-sa vào thờii kỳ đói kém ở miền Pha-lệ-tinh, vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên. Số người được thụ hưởng thành quả phép lạ thì khiêm tốn.
Ga 6: 1-15
Phép lạ bánh hóa nhiều là cử chỉ của Đức Giê-su cho đông đảo dân chúng ăn thỏa thích mà trước đó Ngài đã nuôi dưỡng bằng lời của Ngài. Cử chỉ nầy tiên báo “ân ban bánh ban sự sống”.
Ep 4: 1-6
Ở Bài Đọc II, chúng ta đọc trong thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô lời tuyên xưng đức tin theo đó thánh Phao-lô ca ngợi sự hiệp nhất của các tín hữu theo hình ảnh của sự hiệp nhất Thiên Chúa: chỉ có một thân thể, một Thánh Thần, một Đức Chúa, một niềm tin, một phép rửa.
BÀI ĐỌC I (2V 4: 42-44)
Ngôn sứ Ê-li-sa, đồ đệ và người đồng hành trung thành của ngôn sứ Ê-li-a. Ông đã tiếp tục sự nghiệp của ngôn sứ Ê-li-a và sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc phương Bắc. Ông thi hành thừa tác vụ của mình chủ yếu dưới triều đại vua Giô-ram (852-841 B.C.).
Sách Các Vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai, sưu tập những tiểu sử vương triều (19 vua Ít-ra-en và 20 vua Giu-đa), dành một chỗ lớn cho vai trò của các ngôn sứ. Vai trò tôn giáo: họ là những người bảo vệ phụng tự tinh tuyền của Đức Chúa; họ tố cáo những nhiễm uế của dân ngoại và tất cả hình thức thờ ngẫu tượng; vai trò luân lý: họ lên tiếng chống lại bạo lực và bất công xã hội; vai trò chính trị: họ là những nhà cải cách các triều đại thối nát.
Trong số các tác phẩm Cựu Ước, hai sách Các Vua là những cuốn sách chứa đựng nhiều giai thoại ý nhị nhất, những chuyện tích về các nhân vật như chuyện thật người thật.
Ngôn sứ Ê-li-sa xuất hiện ở đây một chân dung kém huyền nhiệm hơn chân dung ngôn sứ Ê-li-a. Ông gần với người phàm hơn, dù ông không phải kém thần thông biến hóa.
1. Thời kỳ đói kém.
“Hồi ấy, trong miền có nạn đói”. Sự cố nầy không phải là hi hữu. Cựu Ước nhiều lần trích dẫn những trường hợp đói kém ở miền Pha-lê-tinh; chính vì lý do đó mà ông Áp-ra-ham xuống Ai-cập và sau nầy các anh em ông Giu-se đi xuống đất nước của các Pha-ra-on. Đôi khi nhiều năm hạn hán liên tục. Sách Sa-mu-en trích dẫn một nạn đói kéo dài ba năm, và sách Các Vua quyển thứ hai kể lại một nạn đói khác kéo dài bảy năm. Có lẽ vào lúc diễn ra nạn đói này mà câu chuyện của chúng ta được định vị.
“Có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem biếu ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, sản phẩm đầu mùa…”. Đây là của lễ đầu mùa. Vào đầu mùa thu hoạch, người ta trích ra một phần để biếu cho các tư tế hay “những người của Thiên Chúa”, tức “các ngôn sứ”. Sách Lê-vi viết: “Cho đến chính ngày đó, khi các ngươi mang lễ phẩm của Thiên Chúa các ngươi đến, các ngươi không được ăn bánh, ăn gié lúa rang và hột lúa mới” (Lv 23: 14).
Chúng ta lưu ý rằng mối quan tâm của chuyện tích nầy rõ ràng tập trung vào phép lạ nên truyền thống đã không lưu giữ tên của người biếu tặng vật: “có một người”; cũng không cho biết địa danh biến cố đã xảy ra nhưng chỉ nói trống “trong miền”.
2. Quà tặng của tấm lòng biết chia sẻ:
Vị ngôn sứ chia sẻ ngay tức khắc những quà biếu cho mình và những quà biếu nầy sẽ hóa nhiều. Quà tặng nầy được biếu cho ngôn sứ Ê-li-a: qua cử chỉ của vị ngôn sứ của Ngài, chính Thiên Chúa làm cho tặng phẩm phàm nhân trở nên phong phú. Chính đó là cách thức mà Thiên Chúa thường sử dụng.
Chuyện tích về ngôn sứ Ê-li-sa làm phép lạ bánh hóa nhiều từ hai mươi chiếc bánh lúa mạch có nhiều điểm tương đồng với những bản văn của các sách Tin Mừng tường thuật Đức Giê-su làm phép lạ bánh hóa nhiều từ năm chiếc bánh lúa mạch.
- Ngôn sứ Ê-li-sa bảo: “Hãy cho người ta ăn”. Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6: 37; Mt 14: 16; Lc 9: 13).
- Đầy tớ của vị ngôn sứ thưa: “Có bằng nầy, thì làm sao con có thể cho cả trăm người ăn được?”. Một trong các môn đệ của Đức Giê-su thưa: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với bằng ấy thì thấm vào đâu !” (Ga 6: 9).
- Vị ngôn sứ nói: “Cứ cho người ta ăn ! Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư”. Các thánh ký viết: “Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những mẫu bánh được mười hai thúng đầy”.
“Cả trăm người” được hưởng thành quả của phép lạ nầy nầy là ai? Những người đồng hành của vị ngôn sứ và chắc chắn những người khác nữa. Cách nói “cả trăm người” hiển nhiên là biểu tượng, theo nghĩa “rất đông người”. Ngôn sứ Ê-li-sa làm no thỏa nhu cầu của những người túng thiếu vật chất. Quả thật, Đức Giê-su cũng vậy làm mãn nguyện nhu cầu thể lý của đám đông đang mệt và đói, nhưng cử chỉ của Ngài chất chứa biết bao ý nghĩa: Ngài là “dấu chỉ”, dấu chỉ của chiếc bánh khác, “chiếc bánh ban sự sống”: “Chính tôi là bánh ban sự sống. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ !” (Ga 6: 35).
BÀI ĐỌC II (Ep 4: 1-6)
Bản văn nầy chúng ta đã đọc rồi vào ngày lễ Thăng Thiên, với đoạn trích dẫn dài hơn (Ep 4: 1-13).
Xin nhắc lại rằng sau khi đã trình bày thần học liên quan đến mầu nhiệm cứu độ và Giáo Hội, thân thể của Đức Ki tô, thánh Phao-lô gởi đến các tín hữu của mình những lời khuyên bảo luân lý. Nhờ máu của Đức Ki tô đổ ra, người Do thái và lương dân trở nên một dân duy nhất, vì thế, mỗi tín hữu phải ra sức hiệp nhất với nhau.
Về phần chú giải đoạn thư nầy, tôi xin lấy lại ở Bài Đọc II Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên năm B.
Thánh Phao-lô đã viết thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô khi thánh nhân bị cầm tù ở Rô-ma vào những năm 61-63.
Lời chào của bức thư nầy rất tổng quát gởi đến “các tín hữu trong Đức Giê-su Ki tô”, điều nầy khiến nghĩ rằng bức thư nầy nhằm lưu chuyển giữa các cộng đoàn (các cộng đoàn khác miền Tiểu Á).
Bức thư được chia thành hai phần: phần thứ nhất về đạo lý và phần thứ hai về luân lý và khích lệ. Phần thứ hai được liên kết chặc chẽ với phần thứ nhất như một phần bất khả phân. Đoạn trích hôm nay là đoạn mở đầu của phần thứ hai.
1. “Tôi là người đang bị tù vì Chúa”.
Để tăng thêm sức mạnh cho những lời khích lệ của mình, thánh Phao-lô trước tiên nhắc nhở rằng ngài đang bị giam cầm, như vậy thánh nhân muốn nói rằng ngài không chỉ là vị tông đồ giảng dạy, nhưng còn là một nhân chứng chịu thương chịu khó vì Đức Ki tô.
Trong phần thứ nhất về đạo lý, thánh Phao-lô đã chú tâm trình bày “mầu nhiệm cứu độ” như thánh nhân đã được chính Đức Ki tô mặc khải và truyền cho thánh nhân truyền đạt lại cho Giáo Hội của Ngài: trong kế hoạch của Thiên Chúa, mọi người, dù Do thái hay lương dân, đều được mời gọi hưởng nhận cùng một ơn cứu độ.
2. Ơn gọi làm người Ki tô hữu.
Vì thế, thánh nhân nhắc nhở với hết mọi người Ki tô hữu, dù họ xuất thân từ đâu, hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho họ.
Thánh nhân khuyến khích họ hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Chúng ta ghi nhận rằng thánh nhân đã đặt lên hàng đầu những nhân đức mà chính Đức Giê-su trở thành mẫu gương: “Tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Đoạn thánh nhân mời gọi họ hãy hiệp nhất với nhau qua việc “ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau”. Trước đó, thánh nhân đã gợi lên sự bình an mà Đức Giê-su mang lại: “Thật vậy, chính Người là sự bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tương ngăn cách là sự thù ghét” (2: 14).
Lời kêu gọi “sống thuận hòa với nhau” không là nét đặc thù trong các thư của thánh Phao-lô. Việc chung sống giữa những người Ki tô hữu gốc Do thái và những người Ki tô gốc lương dân đã là vấn đề trong lòng Giáo Hội tiên khởi.
3. Lời tuyên xưng đức tin.
Đoạn, trong một niềm hưng phấn, thánh Phao-lô công bố lời tuyên xưng đức tin được xoay quanh chủ đề duy nhất: chỉ có một thân thể, một Thần Khí, một Chúa, một niềm tin, một phép rửa, vân vân.
Công thức nguyên thủy có thể là một lời công bố phụng vụ mà những người chịu phép rửa công bố khi khẳng định niềm tin của mình, và chắc chắn được thánh Phao-lô quảng diễn. Những thuật ngữ của lời tuyên xưng nầy rõ ràng đã có ảnh hưởng trên kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê.
Thật kỳ lạ và có thể có chủ ý, khi ngỏ lời cả với những Ki tô hữu gốc Do thái lẫn những Ki tô hữu gốc lương dân, thánh Phao-lô sử dụng những diễn ngữ nhắc nhớ trước hết lời tuyên xưng độc thần của Ít-ra-en: chỉ có một Chúa; đoạn sử dụng từ vựng rất gần với từ vựng của phái Khắc Kỷ.
Thiên Chúa của phái Khắc Kỷ, nguyên lý hiệp nhất, là “cha của muôn loài muôn vật”, Đấng duy trì sự cố kết và sự hòa điệu của vũ trụ.
Đức Ki tô cũng là nguyên lý hiệp nhất, nhưng không là một vị thần linh vũ trụ. Vai trò siêu việt của Ngài (chứ không nội tại) chính là hiệp nhất tất cả mọi sinh linh: Ngài là “Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người”.
Công thức hoàn vũ của thánh Phao-lô cũng thay thế những suy luận Do thái giáo. Những suy luận nầy đề cao những quyền lực trung gian giữa Thiên Chúa và con người và nhất là gán cho các thiên sứ trật tự vũ trụ.
TIN MỪNG (Ga 6: 1-15) Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã đọc đoạn trích Tin Mừng Mác-cô, theo đó Đức Giê-su đã động lòng thương dân chúng tuôn đến với Ngài như “đàn chiên bơ vơ không người chăm sóc”. Ngài đã đáp ứng nhu cầu của họ, trước tiên bằng lời ban sự sống của Ngài và tiếp đó, phép lạ bánh hóa nhiều, loan báo Ngài là bánh ban sự sống từ trời xuống. Nhưng đoạn trích Tin Mừng chỉ dừng lại ở nơi việc Chúa Giê-su ban lời Ngài cho dân chúng.
Tuy nhiên, đoạn trích Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay không tiếp tục Tin Mừng Mác-cô tường thuật việc Chúa Giê-su làm phép lạ bánh hóa nhiều cho dân chúng ăn no nê. Thay vì đó, phụng vụ đề nghi cho chúng ta đoạn trích Tin Mừng Gioan, cùng một câu chuyện với Tin Mừng Mác-cô. Thánh Gioan sử dụng câu chuyện nầy để mở đầu bài diễn từ dài của Đức Giê-su về “bánh ban sự sống”, mà chúng ta sẽ đọc bốn tuần Chúa Nhật tiếp theo.
Phép lạ bánh hóa nhiều là một trong những phép lạ được viện dẫn nhiều nhất: nó là phép lạ duy nhất được cả bốn thánh ký tường thuật, thêm nữa thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô lại tường phép lạ nầy đến hai lần từ một dị bản khác: bảy chiếc bánh.
Quả thật phép lạ nầy đánh dấu đỉnh cao thừa tác vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê.
1. Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ.
Bài tường thuật của Gioan bắt đầu thật bất ngờ. Trong chuyện kể trước Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem. Ngài trở về miền Ga-li-lê. Ngài băng qua biển hồ Ti-bê-ri-a, nhưng Ngài đến từ đâu?
Chúng ta khó xác đinh nơi diễn ra phép lạ bánh hóa nhiều. Thánh Lu-ca nói về các làng mạc chung quanh thành Bết-sai-đa, thành phố được định vị ở đông bắc biển hồ, phía bên bờ sông Giô-đan đối với thành Ca-phác-na-um.
2. Đức Giê-su lên núi.
Đức Giê-su không lưu lại trên bờ. Ngài lên núi. Núi là nơi ưu tiên để đánh dấu một sứ điệp siêu việt: núi của các Mối Phúc, đỉnh núi cao của cuộc Biến Hình, ngọn đồi của phép lạ bánh hóa nhiều, vân vân.
3. Sắp đến lễ Vượt Qua.
Móc điểm thời gian nầy rất quý. Trước tiên nó giải thích tầm quan trọng của đám đông. Chính ở Ca-phác-na-um và trong các thành phố ven biển mà những người hành hương đến từ khắp nơi quy tụ lại: từ đó mà người ta khởi hành thành từng nhóm đến thành thánh Giê-ru-sa-lem để tham dự đại lễ Vượt Qua.
Nhưng nhất là, lễ Vượt Qua sắp đến đem lại một cung điệu sâu xa cho cử chỉ của Đức Giê-su; đại lễ nầy làm cho cử chỉ của Ngài thành cử chỉ ngôn sứ, loan báo lễ Vượt Qua mới ở đó một phép lạ bánh hóa nhiều khác được thực hiện, bí tích Thánh Thể.
4. Đức Giê-su thấy đông đảo dân chúng đến với mình.
Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, chính các môn đệ lưu ý Đức Giê-su là giờ đã khá muộn nên giải tán đám đông nầy để “họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” (Mc 6: 35-36). Trong Tin Mừng Gioan, chính Đức Giê-su ý thức hoàn cảnh và đề xuất sáng kiến.
Ngài ngỏ lời với ông Phi-líp. Ông Phi-líp (chúng ta biết người môn đệ nầy chỉ nhờ Tin Mừng thứ tư) bày tỏ tâm trí rất năng động và thiết thực. Khi ông Na-tha-na-en chất vấn ông về Đức Giê-su, ông trả lời: “Cứ đến mà xem!” (Ga 1: 46). Khi Đức Giê-su gợi lên sự thân mật của Ngài với Chúa Cha, ông Phi-líp hỏi ngay: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14: 8). Ở trong câu chuyện bánh hóa nhiều nầy, có thể câu hỏi gây bối rối mà Đức Giê-su đặt ra cho ông Phi-líp: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” hàm chứa một sự dí dõm: nếu một môn đệ có tài xoay xở nhất trong các môn đệ mà cũng không thể gặp thấy một giải pháp, chính vì hoàn cảnh bế tắc, lúc đó phép lạ sẽ là thích đáng nhất.
Mặt khác, chúng ta không thể không lưu ý rằng chỉ có hai môn đệ can dự, ông Phi-líp và ông An-rê, cả hai đều xuất thân từ Bết-sai-đa. Nếu phép lạ bánh hóa nhiều đã xảy ra gần Bết-sai-đa, thông thường Đức Giê-su hỏi những môn đệ biết rõ nơi nầy nhất để giải quyết vấn đề.
Dù thế nào, câu hỏi được nêu lên cho ông Phi-líp chỉ để thử ông: phải chăng ông ý thức rằng nếu chỉ nhờ vào những phương tiện nhân loại, ông đành bất lực không thể nào chu toàn công việc nầy được hay ông nhận ra rằng không có gì khác ngoài việc đặt trọn niềm tin tưởng vào Đức Giê-su ?
Ông Phí-líp tính toán một cách chính xác: “Thưa, có mua đến hai trăm đồng bạc bánh, cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Tiền lương của một ngày làm việc là một đồng bạc (chúng ta biết điều nầy nhờ dụ ngôn về người làm thuê vào giờ thứ mười một), vậy thì hai trăm đồng bạc mua được bao nhiêu bánh lúa mạch. Ấy vậy, ba Tin Mừng Nhất Lãm nói cho chúng ta biết có “năm ngàn người, không kể đàn bà và trẻ con”.
Vì thế, ông Phí-líp nhận ra về phương diện nhân loại không thể đáp ứng nhu cầu cho một đám người đông đảo như thế.
5. Quà tặng của tấm lòng biết chia sẻ.
“Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”.
Em bé trao tặng lương thực của riêng mình; như ngôn sứ Ê-li-a, ông trao tặng quà biếu của mình và quà tặng của ông sẽ hóa nhiều. Chính cũng một bài học. Phải nói thêm, Đức Giê-su không bao giờ làm phép lạ từ hư không; ở nơi nền tảng của một phép lạ luôn luôn có một yếu tố vật chất, tự nhiên. Giáo Hội cũng sẽ thực hiện như vậy đối với các bí tích.
6. Vị Mục Tử Mê-si-a.
Thánh Gioan nói: “Chỗ ấy có nhiều cỏ”. Thánh Mác-cô xác định “Cỏ xanh” (6: 39). Đây là cỏ xanh non vào thời điểm mùa xuân ở miền Pha-lê-tinh. Điều nầy không muốn nói rằng Đức Giê-su là vị mục tử nhân lành mà các ngôn sứ loan báo Ngài dẫn đàn chiên của mình vào đồng cỏ xanh tươi sao? Thánh Mác-cô gợi ra điều nầy. Đối diện với các vị lãnh đạo Ít-ra-en, Đức Giê-su hành xử như vị Mục Tử Mê-si-a tận tình chăm lo dân Ngài.
7. Dấu chỉ Thánh Thể.
Không ai chối cải được phép lạ bánh hóa nhiều đã làm sáng tỏ việc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Các Tông Đồ đã hiểu như vậy, các thánh ký cũng đã ghi lại như vậy.
“Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát…”. Lời nói và cử chỉ nầy tương tự với lời nói và cử chỉ của Tiệc Ly. Và chỉ một mình bánh được kể ra trong lời nguyện tạ ơn.
Tấm lòng chia sẻ và bánh hóa nhiều trên đồi Ga-li-lê tiên trưng tấm lòng chia sẻ và bánh hóa nhiều khác, bánh Thánh Thể, tức là tấm lòng chia sẻ và sự hiện diện hóa nhiều của thân thể vinh quang của Đức Ki tô, không còn chỉ cho vài ngàn người, nhưng cho hằng triệu, đồng một lúc, và trong khắp hoàn vũ, cho đến thời cánh chung.
8. Mười hai thúng.
Như rượu được ban cho một cách dồi dào ở tiệc cưới Ca-na, bánh cũng được ban cho một cách dư dật, phần dư được thu lại đến mười hai thúng đầy. Con số mười hai đại diện mười hai bộ tộc Ít-ra-en, và cũng là mười hai Tông Đồ đại diện dân Chúa chọn mới. Không phải những phần dư lại muốn nói rằng có chỗ cho nhiều người khác được mời vào bàn tiệc Thiên Chúa sao?
Quả thật, sự dồi dào dư dật là dấu chỉ bữa ăn Mê-si-a. Các sấm ngôn của các ngôn sứ (Am 9: 13; Is 49: 10; 55: 1-3; Ge 4: 18), những Thánh Vịnh (Tv 132; 15: 78; 24-27), các sách minh triết đã loan báo rồi: triều đại Mê-si-a sẽ được đóng ấn bởi một dấu chỉ của sự phú túc và mãn nguyện, hình ảnh tiên trưng bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa sẽ ban tặng cho tất cả những người được chọn trong vương quốc của Ngài, biểu tượng của niềm hoan lạc thiên giới cụ thể và mọi của cải tinh thần. (Bàn tiệc Mê-si-a và bàn tiệc cánh chung thường được định vị trong cùng một viễn cảnh).
Phấn khởi trước vị Mô-sê mới, Đấng đã cho họ ăn dư dật “ở nơi hoang vắng nầy”, đám đông đã không thấu hiểu dấu chỉ vương quốc Thiên Chúa, nhưng chỉ nghĩ đến vương quốc trần thế và muốn “bắt Ngài đem đi mà tôn làm vua”.
Đức Giê-su không muốn một chút nào chủ nghĩa Mê-si-a chính trị hẹp hòi và nông cạn nầy, nên “Ngài lại lánh mặt, đi lên núi một mình”.
Thánh Gioan là thánh ký duy nhất trong các thánh ký tường thuật phản ứng nầy của dân chúng. Còn các môn đệ, nhờ Mác-cô chúng ta biết rằng lòng trí các ông vẫn còn ngu muội. Vì cũng chính đêm tiếp theo sau phép lạ bánh hóa nhiều là đêm Đức Giê-su đi trên mặt biển, thánh Mác-cô nói “các ông thấy bàng hoàng sửng sốt, vì các ông không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều” (Mc 6: 52).
admin
27-07-2009, 06:29 AM
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN
Trong bốn Chúa Nhật tiếp theo sau, từ Chúa Nhật XVIII đến Chúa Nhật XXI, phụng vụ đề nghị cho chúng ta một trong những bản văn chính yếu của Tin Mừng Gioan: bài diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống.
Xh 16: 2-4, 12-15
Các bài đọc I đều được chọn theo viễn cảnh nầy. Như vậy, vào Chúa Nhật nầy, chúng ta đọc đoạn trích sách Xuất Hành tường thuật bánh man-na, “bánh bởi trời” nầy giứp dân Do thái sống còn trong hoang địa.
Ep 4: 17, 20-24
Trong đoạn trích thư nầy, thánh Phao-lô mời gọi người Ki tô hữu đổi đời tận căn để trở nên một con người mới, được tái tạo theo hình ảnh Thiên Chúa.
Ga 6: 24-35
Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta phần đầu của bài diễn từ bánh ban sự sống, vào ngày hôm sau của phép lạ bánh hóa nhiều.
BÀI ĐỌC I (Xh 16: 2-4, 12-15)
Sách Xuất Hành không chỉ là chuyện tích về cuộc xuất hành khỏi đất Ai-cập và cuộc hành trình của dân Do thái trong hoang địa, nhưng cũng là bản phác thảo lộ trình tâm linh.
Hoang địa tự nó đã mặc khải chỗ ưu tiên cho phép dân khám phá kế hoạch của Thiên Chúa trên mình, nhưng cũng còn là nơi thử thách nữa.
1. Thử thách của hoang địa.
Để đạt đến Đất Hứa, ông Mô-sê đã có thể dẫn dân Do thái đi theo một lộ trình ngắn nhất, tức là con đường chạy dọc theo Địa Trung Hải (thật ra con đường nầy đã được quân đội Ai-cập xây dựng những đồn lủy để chận đứng mọi cuộc xâm nhập của ngoại bang). Ông luôn luôn chọn con đường băng qua hoang địa đầy gian khổ và khó khăn.
Một tháng đã trôi qua kể từ lúc ra khỏi đất Ai-cập: dân Do thái vừa mới đóng trại trong ốc đảo trù phú mà sách Dân Số nói có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là (Ds 33: 9); bây giờ họ đi sâu vào trong sa mạc Xin trên đường tiến về sa mạc Xi-nai, ở đây họ lâm vào cảnh đói và khát.
Đây là lần đầu tiên, nhưng không là lần cuối cùng trong suốt cuộc hành trình dài lâu nầy, toàn thể “cộng đồng” con cái Ít-ra-en kêu trách: khi còn ở Ai-cập, chúng tôi đâu có thiếu thịt và bánh (thuật ngữ “cộng đồng” ở đây chỉ cho thấy rằng dân Ít-ra-en chưa là một quốc gia, nhưng mang nét đặc trưng của cộng đồng tôn giáo).
Bất chấp những kêu ca của dân, Thiên Chúa đáp trả bằng cách bày tỏ lòng từ bi nhân hậu của Ngài, nhưng đáp lại Ngài đòi hỏi ở nơi họ một niềm tin chứ không sự nghi nan ngờ vực: “các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Chúa các ngươi”.
2. Chim cút và bánh man-na.
Đoạn trích sách Xuất Hành nầy tập hợp hai biến cố để cho thấy tấm lòng ân cần chăm sóc của Thiên Chúa: chim cút bay đến rợp cả trại và bánh man-na mưa xuống trên mặt đất. Thật ra hai biến cố nầy đã không xảy ra cùng một ngày. Ít ra sách Dân Số trong cùng một câu chuyện cho thấy điều nầy (Ds 11 cho thấy hai truyền thống được trộn lẫn với nhau; trong hai truyền thống, truyền thống Gia-vít chỉ kể ra hiện tượng bánh man-na).
Biến cố chim cút bay đến rợp cả trại xem ra là đàn chim thiên di từ lục địa Phi-Châu vượt qua Địa trung Hải và khi đến hoang địa thì kiệt sức sà cánh xuống rất dể tóm bắt. Man-na có thể do từ nhựa cây liễu bách tiết ra khi bị những côn trùng châm vào; khi đêm xuống khí trời lạnh, nhựa đông cứng lại và rơi trên mặt đất thành những hạt nho nhỏ mịn màng có vị mật ngọt. Theo sách Dân Số, “man-na như hạt ngò và trông nó như nhựa hương. Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nối nấu bánh, và mùi vị của nó như mùi vị bánh chiên dầu. Đêm về sương rơi trên doanh trại, thì manna cũng rơi xuống” (Ds 11: 7-9).
Chúng ta không thể tin rằng trong hoang địa dân Do thái được nuôi dưỡng chỉ bằng bánh man-na; họ còn sống bằng những sản phẩm từ đàn vật của họ và từ những ốc đảo. Nhưng bánh man-na đã là lương thực phụ thêm trong suốt cuộc lữ hành nầy.
Với tư cách là thiên ân, bánh man-na cũng là dịp thử thách: “Ta muốn thử thách chúng xem chúng có tuân theo luật pháp của Ta hay không”.
Đức Chúa phối hợp thiên ân với sự thử thách qua lời căn dặn rõ ràng: “Dân sẽ ra mà lượm lấy khẩu phần từng ngày một”, mỗi người tùy theo nhu cầu của mình. Không được tích trữ. Không được bận lòng đến ngày mai, nghĩa là hoàn toàn tin tưởng vào Lời của Chúa (từ đó một mối giây liên kết chặc chẽ hầu như cho đến mức đồng hóa, giữa bánh man-na và Lời Chúa).
Đó cũng là bài học Đức Giê-su ban cho các môn đệ Ngài khi dạy họ kinh “Lạy Cha”: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”.
2. Bánh bởi trời.
Cho đến lúc đó, đối với dân Do thái, đây là lương thực bất ngờ và lạ thường can dự vào thời điểm khó khăn, bánh man-na được truyền thống tôn giáo lý tưởng hóa và thần thiêng hóa.
Rồi, nhà biên soạn sách Xuất Hành nói rằng “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn”. Theo sách Đệ Nhị Luật, Đức Chúa “đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông của anh em đã chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời Đức Chúa phán ra” (8: 3). Thánh Vịnh 78: 25 gợi lên bánh man-na là “bánh của những kẻ mạnh” mà bản Bảy Mươi đã chuyển dịch “bánh thiên thần”. Sách Khôn Ngoan ca ngợi bánh man-na là lương thực bởi trời, “bánh có muôn hương vị, thỏa mãn mọi sở thích” (16: 20-29). Văn chương kinh sư loan báo rằng bánh man-na sẽ là lương thực của thời đại thiên sai, khúc dạo đầu cho bàn tiệc cánh chung. Đối với thánh Phao-lô, theo cùng giải thích của truyền thống Cựu Ước, bánh man-na là thức ăn linh thiêng (1Cr 10: 3).
Chính ở nơi truyền thống nầy mà Đức Giê-su tham chiếu, dù minh nhiên hay mặc nhiên, trong bài diễn từ của Ngài về bánh ban sự sống.
BÀI ĐỌC II (Ep 4: 17, 20-24)
Tiếp theo sau phần đạo lý (ch. 1-3), mà chúng ta đã đọc nhiều trích đoạn, thánh Phao-lô gởi đến các tín hữu của ngài những lời khuyên luân lý: trước hết ngài kêu gọi hiệp nhất với nhau (chủ đề của bài đọc Chúa Nhật vừa qua) và sống một cuộc sống mới trong Đức Ki tô, đó là chủ đề của đoạn trích thư hôm nay.
Để trở thành một người Ki tô hữu đích thật, thánh Phao-lô đưa ra ba chỉ thị tổng quát:
- đừng ăn ở như dân ngoại;
- học biết Đức Giê-su để mà sống như Ngài đã sống;
- đổi đời tận căn và mặc lấy con người mới.
1. Đừng ăn ở như dân ngoại.
Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu trong các cộng đoàn Tiểu Á, đa số họ xuất thân từ dân ngoại; nhưng lời khuyên dạy của thánh nhân cũng có giá trị đối với những tín hữu gốc Do thái giáo. Thư gởi cho tín hữu Rô-ma, như thư gởi cho các tín Cô-lô-sê, chứa đựng những cảnh giác tương tự.
Trước khi tiếp tục những khảo sát nầy, thánh nhân ngừng lại để nêu lên phẩm chất là người Ki tô hữu, đòi buộc phải thay đổi đời sống.
2. Học biết Đức Giê-su để mà sống như vậy.
Thánh nhân nhắc nhở cho các tín hữu giáo huấn mà họ đã lãnh nhận khi họ “học biết Đức Giê-su”, nghĩa là “thuộc về Đức Ki tô”. Cách dùng động từ “học biết” với túc từ chỉ người thì hiếm, nhưng ý nghĩa thật đặc biệt: là Ki tô hữu, chính là gắn bó không với đạo lý trừu tượng, nhưng với một con người, con người nầy chính là “sự thật hiện thân”.
3. Đổi đời tận căn và mặc lấy con người mới.
Thánh Phao-lô khai triển tư tưởng của mình bằng cách tập hợp những lời khuyên của mình dưới ba mệnh lệnh:
- Phải cỡi bỏ con người cũ với nếp sống xưa;
- Phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em;
- Phải mặc lấy con người mới.
Đây là chương trình giáo lý về Phép Rửa. Ý tưởng chủ đạo là đổi mới tận căn đời sống Ki tô hữu.
- Phải cỡi bỏ con người cũ, con người trước đây phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối.
- Cuộc sống của người Ki tô hữu, nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, cho phép đổi mới tâm trí, chủ đề mà thánh Phao-lô chủ ý lấy lại để minh chứng rằng Ki tô giáo mở ra phía sự khôn ngoan cao vời.
- Cuối cùng, người Ki tô hữu là một con người mới, mà Phép Rửa đã tái sinh, đã tái tạo, đã phục hồi trong tình trạng ban đầu “theo hình ảnh Thiên Chúa để sống theo sự công chính và thánh thiện đích thật”.
TIN MỪNG (Ga 6: 24-35)
Với đoạn trịch Tin Mừng nầy, chúng ta bắt đầu bài diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống mà thánh Gioan xác định vào ngày hôm sau phép lạ bánh hóa nhiều.
Việc định vị biến cố thật là quan trọng; phép lạ bánh hóa nhiều đánh dấu đỉnh cao thừa tác vụ Ga-li-lê của Đức Giê-su. Khởi đi từ lúc nầy, thế phải chọn lựa sắp được nêu lên càng lúc càng quyết liệt hơn: tin vào Đức Giê-su hay từ chối Ngài. Diễn từ về bánh ban sự sống là một trắc nghiệm có tính quyết định: nó mở ra giai đoạn hoặc quay lưng lại với Ngài mà ra đi hay khẳng định niềm tin của mình vào Ngài. Vì thế Đức Giê-su sắp nhấn mạnh, tiên vàn phải “tin” vào Ngài.
Bài diễn từ bắt đầu ở bên biển hồ Ghê-nê-sa-rét và chấm dứt ở trong hội đường Ca-phác-na-um.
1. Bối cảnh.
Vào buổi chiều phép lạ bánh hóa nhiều, Đức Giê-su đã buộc các môn đệ lên thuyền trở lại thành Ca-phác-na-um. Còn Ngài thì lánh mặt đám đông cuồng nhiệt nầy đi lên núi một mình, đoạn, giữa đêm Ngài đã đi trên Biển Hồ mà đến với các ông. Đám đông đã thấy các môn đệ ra đi một mình mà Đức Giê-su không cùng xuống thuyền đó cùng với họ (thánh Gioan xác định ở đó chỉ có một con thuyền [6: 22]). Sáng hôm sau, mọi người nhận thấy rằng Đức Giê-su không còn ở trên bờ Biển Hồ nữa; họ quyết định quá giang những thuyền đến từ Ti-bê-ri-a mà trở về Ca-phác-na-um để tìm Ngài (6: 23).
Khi đến Ca-phác-nu-um, họ ngạc nhiên gặp thấy Đức Giê-su ở đây: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy”. Câu hỏi mà họ nêu lên mang đến một lời chứng gián tiếp về việc Đức Giê-su đi trên mặt biển.
Đức Giê-su không trả lời câu hỏi; Ngài đề cập thẳng vấn đề căn bản: ý định nào hướng dẫn đám đông mong ước được gặp lại Ngài? “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Trong Tin Mừng Gioan, lời khẳng định gấp đôi nầy (“Thật, tôi bảo thật”) đem lại một cung giọng trang trọng cho những lời nói theo sau: Đức Giê-su quở trách tâm trí của những người Ga-li-lê nầy quá phàm trần: họ chỉ thấy ở nơi Ngài một người phép thuật thần thông đã cho họ ăn no nê. Lúc đó cuộc đối thoại sắp được thiết lập mà tuyến phát triển của nó, rõ ràng cùng một tuyến phát triển như cuộc đối thoại của Đức Giê-su với người phụ nữ xứ Sa-ma-ri.
2. Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với đám đông dân chúng.
Trước tiên Đức muốn họ biết rằng Ngài là một con người mầu nhiệm, Ngài có khả năng ban cho con người những thiện hảo còn hơn cả bánh vật chất nữa.
Với người phụ nữ xứ Sa-ma-ri, Đức Giê-su đã nói: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã hẳn ban cho chị nước hằng sống” (4: 10).
Với những người Ga-li-lê, Đức Giê-su nói: “Các ông hãy ra công làm việc không phải lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”.
Trong nhiều trường hợp, lời hứa mầu nhiệm của Đấng chỉ tỏ mình ra một cách bí ẩn, nhưng ở đây – như luôn luôn trong Tin Mừng Gioan – gợi lên mối liên hệ của Ngài với Chúa Cha.
Những lời nầy gây ấn tượng trên họ, vì thế vài người đặt ra cho Đức Giê-su một câu hỏi, có thể với ý định ngay thẳng, nhưng cũng có thể với mục đích làm cho Ngài lúng túng: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?”.
“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”. Đức Giê-su không muốn giản lược “những công việc” vào chỉ “đức tin”, nhưng những lời mà Ngài sắp công bố quá mạnh mẽ đến mức khó mà hiểu được, nếu trước hết những người đối thoại với Ngài không có niềm tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Đức tin phải là thái độ đầu tiên mà Ngài đòi hỏi ở nơi họ.
Nhưng ngay lập tức dân chúng tỏ thái độ nghi ngờ Ngài và bắt bẻ Ngài: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Người đã cho họ ăn bánh bởi trời”. Ở nơi lời bắt bẻ nầy, chúng ta gặp lại cũng một lời bắt bẻ của người phụ nữ xứ Sa-ma-ri trong cuộc đối thoại với Ngài: “Thưa ông, ông không có gàu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lại lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng nước nầy? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy” (4: 11).
Với từ “tổ tiên chúng tôi” trong lời bắt bẻ của những người Ga-li-lê nầy, Đức Giê-su đáp lại bởi “Cha tôi”, bằng cách đồng hóa “Cha tôi” với “Cha trên trời”, Đấng đã cho họ bánh bởi trời đích thật và bằng cách đồng hóa bản thân của Ngài với bánh ban sự sống nầy.
Chúng ta lưu ý rằng Đức Giê-su nói về “bánh bởi trời ban sự sống cho thế gian”, trong khi bánh man-na trong sa mạc “nuôi sống chỉ một mình dân Ít-ra-en”. Nói cách khác Ngài là Mô-sê mới nhưng cao vời vô tận trên ông Mô-sê.
Lúc đó, những người Ga-li-lê thốt lên: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh nầy”; cũng như người phụ nữ xứ Sa-ma-ri đã thưa: “Thưa ông, xin cho tôi thứ nước ấy , để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước” (4: 15).
3. Mở lòng ra trước mầu nhiệm.
Lúc đó, Đức Giê-su vén thêm một chút bức màn mầu nhiệm của Ngài: “Chính tôi là bánh ban sự sống”.
Trong Tin Mừng Gioan đây là lần thứ ba xuất hiện công thức: “Chính tôi là” (lần thứ nhất, Đức Giê-su ngỏ lời với người phụ nữ xứ Sa-ma-ri khi chị gợi lên việc Đấng Mê-si-a đến: “Đấng ấy chính là tôi” [theo sát nghĩa của từ: “Chính tôi là”: ego eimi] và lần thứ hai Đức Giê-su nói với các môn đệ kinh khiếp khi thấy một người đi trên mặt nước: “Thầy đây mà, đừng sợ” [theo nghĩa văn tự: “Chính tôi là”: ego eimi]).
Công thức: “Chính tôi là bánh ban sự sống” nầy khai mạc một loạt “tôi là” đi theo với thuộc ngữ: “tôi là đường, là sự thật và là sự sống”, “tôi là mục tử nhân lành”, vân vân (những lời khẳng định luôn luôn được liên kết với viễn cảnh của ơn cứu độ).
“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Ở đây cốt là cái đói và cái khát thần thiêng. Cách nói nầy quy chiếu đến Kinh Thánh, chính xác là đến bản văn của sách Huấn Ca, nhưng trái với gợi ý của sách nầy. Lời mà Sách Huấn ca áp dụng cho Đức Khôn Ngoan theo hình thức khẳng định: “Hỡi những ai khao khát Ta, nào hãy đến…Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát” (Hc 24: 19-21). Hiền nhân nầy muốn nói rằng ai nếm lương thực của sự khôn ngoan thì người ấy ước muốn mãi không thôi. Trái lại Đức Giê-su lập lại lời nầy và áp dụng vào chính mình theo hình thức phủ định, nghĩa là Ngài hứa những thiện hảo siêu nhiên làm mãn nguyện mọi cái đói và cái khát tâm linh.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
03-08-2009, 08:14 AM
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN
Diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống tiếp tục ngự trị phụng vụ Lời Chúa.
1V 19: 4-8
Bài đọc I kể lại một trong những giai thoại tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a. Bị trục xuất khỏi vương quốc phương Bắc, đơn độc và nãn lòng trong sa mạc, ngôn sứ Ê-li-a được thần lương bồi dưỡng lấy lại sức lực và thẳng tiến đến núi thánh của Đức Chúa.
Ep 4: 30-5: 2
Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô đưa ra cho các Ki tô hữu mẫu gương hoàn thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thần Khí, bắt chước Thiên Chúa, thực hành đức ái như Đức Giê-su đến mức tận hiến bản thân mình.
Ga 6: 41-51
Tin Mừng trình bày cho chúng ta phần tiếp theo của diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống. Mặc khải Thánh Thể được xác định. Đức Giê-su công bố chính Ngài là bánh hằng sống xuống từ trời, nguồn mạch sự sống đời đời.
BÀI ĐỌC I (1V 19: 4-8)
Đây là một trong những giai thoại tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a, vị ngôn sứ sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc phương Bắc, vào thời vua A-kháp trị vì (874-853 B.C.).
1. Bối cảnh lịch sử:
Vua A-kháp kết hôn với công chúa I-de-ven, ái nữ của Ét-ba-an, vua Xi-đôn, lại còn đi làm tôi thần Ba-an và sụp lạy nó. Vua lập một bàn thờ để kính thần Ba-an trong đền thờ mà vua đã xây dựng tại Sa-ma-ri.
Hoàng hậu I-de-ven không những nhiệt thành truyền bá việc phụng thờ thần Ba-an trong vương quốc phương Bắc, bà còn chu cấp cho các tăng lữ của thần Ba-an trong lầu đài của bà ở Sa-ma-ri.
Ngôn sứ Ê-li-a kịch liệt chống lại việc thờ thần ngoại giáo nầy. Ông đã đạt được một chiến thắng vang dội của Thiên Chúa Ít-ra-en trên thần Ba-an ở trên núi Các-men. Trong một cuộc thách đố của vị ngôn sứ của Thiên Chúa Ít-ra-en với các tăng lữ của thần Ba-an, hy lễ và lời cầu nguyện dâng lên thần Ba-an để xin trời đổ mưa vào thời kỳ hạn hán chẳng đem lại kết quả gì; trái lại, chỉ lời cầu nguyện và hy lễ dâng lên Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, được nhậm lời ngay lập tức. Do đó, các tăng lữ của thần Ba-an bị sát hại.
Hoàng hậu I-de-ven nổi cơn thịnh nộ; bà ra lệnh cho ngôn sứ Ê-li-a phải rời khỏi vương quốc ngay, nếu không ông sẽ phải chịu cùng chung số phận như vậy.
2. Cuộc hành trình đến núi thánh.
Ngôn sứ Ê-li-a ra đi hướng về sa mạc phương Bắc, với ý định đến núi Kho-rếp (cũng còn được gọi là núi Xi-nai). Ông muốn đi lại lộ trình mà trước đây ông Mô-sê đã đi để tôi luyện niềm tin của mình ở nơi mà Đức Chúa đã tỏ mình ra.
Sau một ngày đường trong sa mạc, vị ngôn sứ kiệt sức và nãn lòng muốn bỏ cuộc, vì vậy ông xin Chúa cho ông được chết đi: “Lạy Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Lời khẩn nguyện của ông ám chỉ đến những người Do thái phải chết trong sa mạc mà không được nhìn thấy Đất Hứa vì họ đã nghi ngờ.
Nhà vô địch nhiệt thành của Đức Chúa ngã lòng đến như vậy. Thình lình xuất hiện một thiên sứ mời gọi vị ngôn sứ chỗi dậy mà bồi dưỡng sức lực: “Dậy mà ăn”. Ông đưa mắt nhìn, một chiếc bánh nướng và một hũ nước đặt sẳn bên cạnh ông. Đây quả thật là đồ ăn thức uống rất quý trong sa mạc hoang vu và nóng cháy nầy.
Nhưng thiên sứ phải can thiệp đến lần thứ hai mới có thể lay động tâm trí của vị ngôn sứ. Cuối cùng, nhờ thần lương tiếp sức, vị ngôn sứ lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông đi một mạch bốn mươi ngày đêm tới núi Kho-rếp, là núi của Thiên Chúa. “Bốn mươi” là con số biểu tượng đặc biệt gắn liền với kỷ niệm bốn mươi năm dân Do thái hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa; cũng là bốn mươi ngày ông Mô-sê ăn chay cầu nguyện trước khi lãnh nhận hai tấm bia Lề Luật.
Vị ngôn sứ đã đạt được mục đích cuộc hành hương của mình nhưng sứ mạng của ông chưa hoàn tất. Ông sẽ phải trở về Sa-ma-ri và tiếp tục công việc của mình.
Bốn trăm năm đã trôi qua giữa ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a. Danh tiếng của hai vị được liên kết với kỷ niệm của đỉnh núi thánh. Hai nhận vật Cựu Ước danh tiếng lừng lẫy nầy sẽ cùng nhau tái xuất hiện trên đỉnh núi Biến Hình.
BÀI ĐỌC II (Ep 4: 30-32-5: 2).
Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư gởi tín hữu Ê-phê-sô; đây là phần luân lý và khuyên bảo.
Nét đặc trưng của đoạn trích hôm nay chính là lời kêu gọi các tín hữu sống hoàn thiện theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa.
- Sống theo Thánh Thần.
- Bắt chước Thiên Chúa.
- Thực hành đức ái như Đức Ki tô.
1. Sống theo Thần Khí:Người tín hữu đã lãnh nhận dấu ấn của Chúa Thánh Thần vào ngày chịu phép Rửa Tội, họ được đảm bảo ơn cứu độ, ơn cứu độ chỉ đạt đượt viên mãn “vào ngày giải thoát” (hoặc sau khi qua đời, hoặc vào ngày Đức Ki tô quang lâm, thánh nhân không xác định). Trong khi chờ đợi, điều quan trọng là sống làm sao đừng làm phiền lòng Chúa Thánh Thần.
Thánh Phao-lô không ngại gợi lên nỗi đau khổ mà cách ăn nếp ở của con người gây ra cho Thiên Chúa.
Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thất vọng trước những bất tín của dân Ngài, điều nầy thường được diễn tả bằng cơn thịnh nộ hơn sự phiền lòng. Tuy nhiên, sự phiền lòng nầy cũng được gợi lên nhiều lần. Quả thật, ngôn sứ I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ của thời hậu lưu đày, đã minh nhiên kể ra điều nầy bằng những từ ngữ loan báo những từ ngữ của thánh Phao-lô. Trong lời khẩn nguyện thống thiết, vị ngôn sứ nhắc lại những ân huệ mà con cái Ít-ra-en đã nhận được trong suốt lịch sử của mình. Ông kêu gào: “Nhưng chính họ đã nổi loạn, đã làm phiền thần khí thánh của Người” (Is 63: 10).
Truyền thống Do thái không quên lời nói bạo dạn nầy. Sách Khôn Ngoan nói về Chúa Thánh Thần: “Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt, và ghê tỡm những chuyện bất công” (Kn 1: 5).
2. Bắt chước Thiên Chúa:
Phải nói rằng thánh Phao-lô rất hiếm khi khuyên bảo các tín hữu bắt chước Thiên Chúa, bởi vì thánh nhân đặt ưu tiên cho việc bắt chước Đức Ki tô. Chúng ta nên lưu ý rằng lời kêu mời bắt chước Chúa Cha nầy được dẫn nhập bởi việc tha thứ, ám chỉ rất rõ nét đến lời kinh Lạy Cha: “biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, trong Đức Ki tô”.
3. Thực hành đức ái như Đức Ki tô:
Lời kêu gọi sống hoàn thiện theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa được hoàn tất trên lời khuyên khẩn thiết “sống cuộc đời bác ái như Đức Ki tô”. Từ “tha thứ” đã dẫn vào lời khuyên bắt chước Chúa Cha như thế nào, từ “yêu thương” dẫn vào lời khuyên bắt chước Đức Ki tô như vậy.
“Như những người con yêu dấu, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, và sống cuộc đời bác ái như Đức Ki tô, Đấng đã yêu thương chúng ta…” Chúng ta lúu ý rằng động từ “yêu thương” đồng xuất hiện với tỉnh từ “yêu dấu” và danh từ “bác ái” trong cùng một câu.
Tình yêu của Chúa Con đối với nhân loại đã được bày tỏ một cách cao vời qua việc “tự hiến mình làm của lễ thơm tho dâng lên Thiên Chúa”; thánh Phao-lô lập lại diễn ngữ mà Cựu Ước dùng đối với hy tế toàn thêu, theo đó lễ vật được hoàn toàn hỏa tế trên bàn thờ. Đức Ki tô là tế vật hoàn hảo, tận hiến chính bản thân mình.
TIN MỪNG (Ga 6: 41-51)
Chúng ta tiếp tục đọc diễn từ của Đức Giê-su về bánh ban sự sống. Hướng nhắm của bản văn vẫn là Thánh Thể, nhưng đề tài trung tâm là đức tin: Đức Giê-su đòi hỏi những người lắng nghe Ngài hãy tin vào Ngài, vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài ban sự sống vì Ngài từ Chúa Cha mà đến.
Thế nhưng, thánh ký nhấn mạnh ngay “tin” không phải là một chuyện dể dàng: “Người Do thái xầm xì phản đối”. Chung chung danh xưng “người Do thái” mang nét nghĩa tiêu cực trong Tin Mừng thứ tư; danh xưng này chỉ rõ những người Do thái cứng lòng tin trong khi danh xưng “người Ít-ra-en” được dành riêng cho những ai tin vào Đức Giê-su (Ga 1: 47). Việc thay đổi danh xưng ở đây rất có ý nghĩa. Theo cách nầy, tác giả loan báo cho chúng ta rằng cuộc tranh luận sắp diễn ra và được đinh vị theo cùng một hàng như những cuộc tranh luận đã được tường thuật trước đây (nhất là cuộc tranh luận của chương 5).
1. Vấn đề đức tin:
“Ông nầy chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Đức Giê-su: Ngài đang sống ở giữa họ, bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống.
Chúng ta gặp thấy những suy nghĩ tương tự và biết bao những suy nghĩ khác nữa đến từ những người mà thánh Gioan nhắm đến một cách mãnh liệt trong thư thứ nhất của mình. Về phương diện lịch sử, nhiều thế hệ sau nầy nẩy sinh những nghi ngờ như thế.
Đức Giê-su trả lời: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy đến với tôi”. Đức tin là một ân ban đến từ Chúa Cha, nhưng cũng đòi hỏi con người phải mở rộng cõi lòng mà đón nhận. Đức Giê-su ngầm quở trách thính giả của Ngài không có được một thái độ như thế; có những dấu chỉ mà họ phải biết đọc; những thành kiến mà họ phải cởi bỏ, và tiên vàn phải lắng nghe Chúa Cha. Đức Giê-su sẽ khai triển khía cạnh đức tin nầy, nhưng trước hết Ngài muốn tăng độ nhạy bén của thính giả Ngài và thậm chí khơi lên sự tò mò ở nơi họ, để chuẩn bị tâm trí họ đón nhận những lời mặc khải mà Ngài sắp ban cho: “Ai đến với tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.
Dường như những thính giả của Ngài là những người Biệt Phái, những người chấp nhận thân xác sống lại; trái với những người Sa-đu-xê-ô, những người không chấp nhận thân xác sống lại. Đức Giê-su tự đặt mình trên lập trường của những người tin vào thân xác sống lại nầy mà tranh luận. Vì thế, Ngài khẳng định rằng chính Ngài nắm giữ trong tay quyền cho các vong nhân được sống lại. Cựu Ước đã thiết lập rồi mối liên hệ giữa bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân và sự phục sinh, nhất là Is 25: 6-8: “Ngày ấy trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc…Trên núi nầy, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người…” Tại các ngôn sứ, lời loan báo bữa tiệc cánh chung được nhiều lần nối kết với bữa tiệc thiên sai. Đây là điều Đức Giê-su xem ra ám chỉ ở đây.
2. “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”.
Đức Giê-su trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a đệ nhị về Giê-ru-sa-lem vào thời thiên sai: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Qua đó, Đức Giê-su muốn thính giả của Ngài hiểu rằng thời điểm nầy đã đến, lời hứa đã được ứng nghiệm; chính Ngài, Đấng được Chúa Cha sai đến, đem đến cho con người sự hiểu biết về Thiên Chúa. “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến”, như vậy Ngài khẳng định nguồn gốc và giáo huấn siêu việt của Ngài, tức Lời ban sự sống. Vì ai đón nhận và gắn bó với giáo huấn của Ngài, “có sự sống đời đời”. Ở nơi khác, Đức Giê-su cũng khẳng định như vậy: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giê-su Ki tô” (Ga 17: 3).
Đức Giê-su chủ ý trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a, vì sấm ngôn nầy tiếp tục mời gọi dự phần vào bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân. Ở bàn tiệc Thiên Chúa, con người được phục vụ không chỉ với Lời Thiên Chúa, lời nuôi sống, nhưng còn với thần lương làm no thỏa một cách tròn đầy và dứt khoát.
3. Từ Lời ban sự sống đến Bánh ban sự sống.
Thính giả của Đức Giê-su là những người Do thái chắc chắn biết Kinh Thánh. Bánh man-na được tiên báo vào thời thiên sai không phải là bánh ban sự sống mà Đức Giê-su hứa ban, bánh thuộc một bản chất khác, đem lại sự sống muôn đời sao? Đức Giê-su lay động tâm trí của họ. Họ phải hiểu! Trong ánh sáng của các bản văn tâm trí họ phải mở ra!
Lúc đó, Đức Giê-su khẳng định thêm một lần nữa: “Tôi là bánh ban hằng sống. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh nầy là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”. Lần nầy, không rào trước đón sau, Ngài tuyên bố không úp mở: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.
Mặc khải Thánh Thể bật sáng rực rỡ ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế.
admin
10-08-2009, 06:43 AM
CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN
Hai chủ đề đan xen vào nhau trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay:
- Lời mời gọi nuôi dưỡng mình bằng thần lương Thiên Chúa thiết đãi (bài đọc I và Tin Mừng).
- Đề tài khôn ngoan ngự trị trong bài đọc I và bài đọc II nhưng xuất hiện trong Tin Mừng như lời thách đố của Thiên Chúa.
Cn 9: 1-16
Bài đọc I trích từ sách Châm Ngôn trình bày Đức Khôn Ngoan mời gọi nhân loại và đặc biệt những người túng thiếu, hãy đến mà dùng thần lương mà mình thiết đãi. Bàn tiệc Đức Khôn Ngoan tiên trưng bàn tiệc Thiên Sai.
Ep 5: 15-20
Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô khuyên bảo các tín hữu của mình sống theo sự khôn ngoan độc đáo của Ki tô giáo.
Ga 6: 51-58
Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta phần cuối của diễn từ “bánh ban sự sống”, trong đó, bằng những từ ngữ rất hiện thực, Đức Giê-su loan báo ân ban Thánh Thể: thịt và máu của Ngài, bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi theo sự khôn ngoan khôn dò của Ngài, nhưng xem ra điên rồ đối với con người.
BÀI ĐỌC I (Cn 9: 1-6)
Sách Châm Ngôn thuộc trường phái minh triết Cựu Ước. Trường phái văn chương nầy có hai nguồn gốc: nguồn gốc bình dân và nguồn gốc bác học.
Về nguồn gốc bình dân, sự khôn ngoan là thành quả kinh nghiệm được tích lủy qua nhiều thế kỷ; nó được diễn tả bằng những châm ngôn, thường rất phổ biến. Chúng ta gặp thấy trào lưu nầy khắp bốn phương trời, hình thành nên “túi khôn của loài người”.
Về nguồn gốc bác học, thậm chí hoàng gia nữa, như ở Ít-ra-en vua Sa-lô-mon là một bằng chứng điển hình: nhiều châm ngôn được gán cho vua (sách Châm Ngôn được đặt dưới quyền bảo trợ của vua). Trong miền Cận Đông cũng vậy, có nhiều tác phẩm giáo huấn ở đó vua (hay một quan đại thần) cho con mình hay người kế nghiệp của mình những lời khuyên bảo khôn ngoan. Su-me, A-khát, Ai-cập đã để lại cho chúng ta nhiều sử liệu thuộc thể loại văn chương nầy.
Sách Châm Ngôn kết hợp hai nguồn gốc nầy; đặc tính của sách đó là, ở giữa những châm ngôn rất dị biệt, sách dâng hiến một phân đoạn, có thể được soạn thảo muộn thời, đề tặng cho chính Đức Khôn Ngoan.
Ở đây Đức Khôn Ngoan được nhân cách hóa thành một một nữ chủ nhân hiếu khách mở tiệc khoản đãi. Việc nhân cách hóa nầy vẫn mang tính chất thi ca; Đức Khôn Ngoan được ca ngợi ở đây cốt yếu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, tự nó không thể cấu thành một thực thể biệt phân. Độc thần giáo tuyệt đối của dân Ít-ra-en: “Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, ngoài Ngài ra, không có vị Chúa nào khác”, không thể quan niệm khác đi được. Trong Cựu Ước, sự khôn ngoan của Đức Chúa cũng như thần khí của Ngài là những quyền năng của Thiên Chúa chứ không là những ngôi vị biệt phân.
1. Bữa tiệc Đức Khôn Ngoan thiết đãi.
Trong đoạn văn được đề nghị cho chúng ta, giáo huấn Đức Khôn Ngoan ban cho được sánh ví với một bàn tiệc mở ra cho tất cả những ai muốn làm môn đệ của mình.
“Đức Khôn Ngoan đã dựng xong nhà, đẻo bảy cột”, điều nầy giả sử một nội thất nguy nga lộng lẫy, ở đó các khách mời có thể trò chuyện thân mật. “Bảy” là con số chỉ sự hoàn hảo. Đức Khôn Ngoan đích thân“ hạ thú vật”, tự tay mình “chế rượu” và “dọn bàn”; nghĩa là chủ nhân muốn thiết đãi khách những món ăn thức uống tuyệt hảo.
Đức Khôn Ngoan “sai nữ tỳ lên các nơi cao trong thành phố rao mời”. Câu nầy xem ra không quan trọng lại là câu then chốt của bản văn. Trong Kinh Thánh việc sai phái các tôi tớ của mình ra đi thi hành sứ mạng quan trọng là cử chỉ của Thiên Chúa; truyền thống sẽ xem cử chỉ nầy thậm chí như cử chỉ thiên sai. Đó là lý do tại sao các tác giả Tin Mừng thường nhấn mạnh cử chỉ nầy được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su khi “Ngài sai hai môn đệ ra đi” để chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua (Mc 14: 13; Lc 22: 8); trong dụ ngôn Tiệc Cưới, vua sai các gia nhân của mình ra đi mời khách dự tiệc, như Đức Khôn Ngoan đã làm.
2. Lời mời được gởi đến hết mọi người.
Đức Khôn Ngoan đòi hỏi lời mời của mình phải được vang lên từ những nơi cao ngõ hầu mọi người đều có thể nghe được; lời mời nầy mang tính phổ quát. Đức Khôn Ngoan mời mọi người tham dự bàn tiệc mà mình thiết đãi: Ở bữa tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su mời gọi: “Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn và uống”.
Tuy nhiên lời kêu mời trở nên trực tiếp hơn và khẩn thiết hơn được gởi đến cho những ai “ngây ngô”. Đó là những người khao khát sự hiểu biết và muốn vươn lên cuộc sống trí tuệ, nhưng không những bậc thông thái tự mãn với sự hiểu biết của mình. Ngôn sứ I-sai-a tiên báo rằng rồi sẽ đến một ngày Đức Chúa sẽ thực hiện những điềm thiêng dấu lạ cho dân Ngài: “Bấy giờ sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan sẽ chuốc lấy sự thất bại, và trí thông minh của những kẻ thông minh sẽ tan thành mây khói” (Is 29: 14).
Chúng ta đang ở ngưỡng cửa Tin Mừng hôm nay. Dự định của Thiên Chúa, được chuẩn bị trong sự khôn ngoan khôn dò của Ngài, xem ra điên rồ dưới con mắt của con người dù họ đã được báo trước đi nữa.
BÀI ĐỌC II (Ep 5: 15-20)
Thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô được trích hôm nay thuộc chương 5, ở đó thánh Phao-lô phô bày cách sống mới mẽ mà người Ki tô hữu đem lại; những lời khuyên nhũ ở đây hòa điệu tuyệt vời với những lời khuyên của sách Châm Ngôn.
1. Cẩn thận xem xét cách ăn nếp ở của mình.
Đây không cốt là một lời khuyên mới nhưng lời kêu mời tổng quát và có tính nhắc nhở. Cách ăn nếp ở của người Ki tô hữu phải là cách sống của một người khôn ngoan, đây là sự khôn ngoan đặc thù Ki tô giáo mà thánh Phao-lô chủ ý kêu mời. Ở môi trường chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp, sự khôn ngoan Hy lạp mà người ta tìm kiếm là một cuộc sống quân bình, điều độ và mực thước, thánh nhân đề cao sự khôn ngoan Ki tô giáo, sự khôn ngoan cao vời khôn ví, vì nó mở đường đến sự hiểu biết Thiên Chúa và ơn cứu độ đời đời.
2. Hãy biết tận dụng thời buổi hiện tại.
Chúng ta đừng quên rằng thánh nhân viết thư nầy đang khi ngài đang bị giam cầm ở Rô-ma để gởi đến các cộng đoàn Ki tô hữu hiện đang gặp phải những khó khăn và quấy nhiễu. Lời khuyên của thánh Phao-lô ở đây có thể được quảng diễn như sau: “Anh em có dịp sống vào thời buổi khó khăn, đó là dịp thuận tiện tuyệt vời để anh em hoàn thiện chính mình và sống theo Đức Ki tô. Hãy tận dụng tận mức cơ hội nầy”.
3. Chớ say sưa rượu chè.
Một mẫu gương khác cho thấy cách sống của người khôn ngoan: sống điều độ. Thánh nhân dường như nhắm đến sự lạm dụng xảy ra vào những bữa ăn cộng động Ki tô hữu; vì thánh nhân gợi lên những buổi nhóm họp nầy liền ngay sau khi mong ước rằng những buổi họp phải tập trung vào lời cầu nguyện.
Thánh nhân đối lập việc thấm nhuần Thần khí với việc say sưa rượu chè: “Hãy thấm nhuần Thần Khí”.
4. Hãy cùng nhau xướng đáp những bài thánh vịnh.
Chúng ta biết rằng những người Ki tô hữu tiên khởi đã được gợi hứng từ những tập tục hội đường để cấu trúc những buổi hội họp của họ: xướng đáp những bài thánh vịnh, thánh thi, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, vân vân. Sơ đồ của Thánh Lễ làm chứng như vậy.
Nhưng các cộng đoàn Ki tô hữu đã rất sớm sáng tác các bài thánh thi của riêng mình, đọc kinh Lạy Cha và “những lời ca ngợi chúc tụng Chúa” tự phát. Thánh Phao-lô luôn luôn nhấn mạnh tâm tình tạ ơn như yếu tố cốt yếu của lời cầu nguyện.
TIN MỪNG (Ga 6: 51-58).
Với đoạn trích nầy, chúng ta hoàn tất bài diễn từ “bánh ban sự sống”.
1. Bí tích Thánh Thể:
Đức Giê-su vừa công bố một lời gây sửng sốt: “Bánh tôi ban tặng, chính thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Lời công bố không thể nào hiểu được nầy gây phản ứng ngay tức khắc từ phía những người Do thái, vốn nghi ngờ trước đây, tranh luận sôi nổi với nhau: “Làm sao ông nầy có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”.
Lời công bố của Đức Giê-su ở đây rất gần với lời công bố của Ngài vào lúc thiết lập bí tích Thánh Thể trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Tuy nhiên, ở đây, thánh Gioan không dùng từ “mình Thầy” (“sôma”) như các sách Tin Mừng Nhất Lãm, mà lại từ “thịt tôi” (“sarsh”), từ nầy theo tiếng A-ram cũng như tiếng Hy-bá, chỉ toàn bộ con người; chúng ta có thể khẳng định rằng đây chính là từ gốc mà Đức Giê-su đã sử dụng khi thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly, từ “thịt tôi” đã được thay thế bởi từ “mình Thầy” cho phù hợp với công chúng nói ngôn ngữ Hy lạp. Dù thế nào, với từ “thịt tôi”, thánh ký thiết lập mối liên hệ chặc chẽ giữa “Nhập Thể” và “Thánh Thể”. “Ngôi Lời làm người (“sarsh”) trở thành bánh Thánh Thể”.
Đức Giê-su nhận ra thái độ ngập ngừng của những người đối thoại, Ngài lại càng nhấn mạnh hơn nữa; lời nầy còn gây sửng sốt hơn nữa: chẳng những gợi lên “thịt của Ngài”, lại còn thêm “máu của Ngài”: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”.
Đây không còn là lời khẳng định không thể tin được nhưng còn gây kỳ chướng nữa. Người Do thái không bao giờ dùng máu; máu là trung tâm sự sống, được dành riêng cho Thiên Chúa: trong mỗi hy lễ, máu hoàn toàn được dâng tiến cho Thiên Chúa.
Chắc chắn trong ngôn ngữ sê-mít, cách nói thông thường “thịt và máu” chỉ “toàn thể con người” như Đức Giê-su nói với Phê-rô sau khi ông tuyên xưng đức tin: “Nầy anh Si-mon con Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải thịt và máu (phàm nhân) mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16: 17). Nhưng khi khảo sát hai từ thịt và máu nối tiếp nhau nầy, Đức Giê-su gợi lên rằng máu sẽ được đổ ra để mà uống, cũng như thịt sẽ được trao ban để mà ăn. Ngài loan báo rằng bí tích Thánh Thể không thể tách khỏi cuộc Tử Nạn của Ngài trên đồi Can-vê. Ngoài ra để tránh việc hiểu bí tích Thánh Thể quá vật chất, quá phàm trần, Đức Giê-su sử dụng cách nói “ăn thịt và uống máu Con Người”, một nhân vật thần linh đến trên mây trời ở trong sách Đa-ni-en; như vậy, thịt và máu Ngài ban cho để ăn và uống ngõ hầu có sự sống muôn đời, không là thịt và máu của Đức Giê-su thành Na-da-rét, con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, mà là thịt và máu của Đấng Phục Sinh.
2. Lời hứa ban sự sống:
Toàn thể phần cuối của diễn từ nhấn mạnh lời hứa ban sự sống; lời hứa nầy được lập đi lập lại hầu như ở mỗi hàng. Chúa Con xuất thân từ Chúa Cha hằng sống; vì thế, Ngài nắm trong tay mọi nguồn phong phú của sự sống thần linh mà Ngài thông truyền cho nhân loại khi hiến thân mình thành của ăn thức uống, nghĩa là trong một sự hiệp thông mật thiết đến nỗi không thể nào sánh ví được: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì sống mãi trong tôi, và tôi sống mãi trong người ấy”.
Như thường hằng trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su nhắc lại mối liên hệ của Ngài với Chúa Cha. Cũng vậy, động từ “ở trong” là một động từ tâm đắc đối với thánh Gioan, qua đó, thánh ký diễn tả tính nội tại của vương quốc Thiên Chúa.
Cuối cùng, Đức Giê-su nhấn mạnh thêm một lần nữa sự sống bất khả hư nát mà Ngài ban cho, làm mới lại lời hứa ban sự phục sinh của Ngài. Như vậy Ngài mạnh mẽ khẳng định ý nghĩa cánh chung của “Bánh Ban Sự sống”.
Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã không tường thuật việc Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh Thể, nhưng trong chương 6 nầy, thánh nhân muốn chúng ta thấm nhập mầu nhiệm vĩ đại nầy, còn hơn cả các sách Tin Mừng Nhất Lãm có thể làm trong những bài trình thuật thanh đạm của mình.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
17-08-2009, 11:17 AM
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy có thể được tóm gọn ở nơi những từ ngữ nầy: “Tấn thảm kịch của sự chọn lựa”. Có những chọn lựa mang tính quyết định đối với cá nhân hay dân tộc.
Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b
Bài Đọc I nhắc lại sự chọn lựa mà ông Gio-suê đề nghị cho dân Ít-ra-en định cư ở đất dân ngoại: chọn phụng thờ ngẫu tượng hay phụng thờ Đức Chúa, Đấng đã bảo vệ họ và dẫn đưa họ đến tận miền Đất Hứa.
Ga 6: 60-69
Tin Mừng trình bày một chọn lựa khác: tin vào Đức Giê-su và lời hứa ban thịt và máu của Ngài, hay từ chối tin tưởng Ngài và không chấp nhận mầu nhiệm. Đây là thời điểm của lòng trung tín hay khước từ.
Ep 5: 21-32
Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô hôm nay, Thánh Phao-lô thiết lập tình yêu giữa chồng và vợ Ki tô hữu với sự kết hiệp của Đức Giê-su với Hội Thánh của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b)
Sách Gio-suê tiếp liền ngay sau bộ Ngũ Thư; sách kể việc dân Thiên Chúa định cư ở Đất Hứa (thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên), những diễn biến của cuộc chinh phục, đoạn việc phân chia lãnh thổ giữa mười hai chi tộc Ít-ra-en.
Ông Gio-suê, kế nghiệp ông Mô-sê, lãnh đạo dân Do thái; ông là vị anh hùng chính của sách mang tên ông. Vào lúc cuối đời, noi gương ông Mô-sê, ông Gio-suê muốn căn dặn dân Do thái lần cuối, vì thế, ông quyết định triệu tập toàn thể các chi tộc ở Si-khem.
Địa điểm mà ông chọn lựa ở trung tâm Đất Hứa, về phương diện địa lý rất thuận tiện (miền nầy sau nầy được gọi là miền Sa-ma-ri); nhưng ngoài ra, miền nầy chất chứa biết bao kỷ niệm tôn giáo rất ý nghĩa: Si-khem là nơi tổ phụ Áp-ra-ham lưu trú đầu tiên khi đặt chân lên đất Ca-na-an và là nơi vị tổ phụ dựng bàn thờ đầu tiên kính Chúa. Đó cũng là nơi mà tổ phụ Gia-cóp đã tậu một thuở đất và đã chôn dưới gốc cây những thần linh ngoại giáo mà thân nhân của ông còn đem theo với mình, dấu chỉ từ bỏ đa thần giáo của họ trước đó, cử chỉ nầy báo hiệu đặc biệt độc thần giáo. Ông Gio-suê đòi hỏi một sự từ bỏ tương tự ở nơi con cái Ít-ra-en.
1. Tấn thảm kịch của sự chọn lựa:
Đoạn văn hôm nay được trích từ bài diễn từ của ông Gio-suê. Khung cảnh là phụng vụ: ông Gio-suê và tất cả các lãnh tụ dân Ít-ra-en “ra trình diện trước nhan Thiên Chúa”. Đây là biểu thức quen thuộc chỉ ra rằng có một đền thánh ở Si-khem (chắc chắn đền thánh chứa đựng hòm giao ước).
Ông Gio-suê đặt các chi tộc trước một sự chọn lựa cơ bản: phụng thờ đa thần giáo của dân ngoại hay phụng thờ Đức Chúa. Sự quyến rủ của đa thần giáo có thể bắt nguồn từ các vị thần linh mà các tổ tiên của họ đã thờ phượng, hay từ sự thờ thượng của dân Ê-mô-ri nơi họ định cư. Dân Chúa chọn phải chọn lựa. Ông Gio-suê đòi hỏi họ long trọng làm mới lại giao ước. Lập luận cốt yếu mà ông đề xuất là sự trung tín của Đức Chúa, chính Ngài đã hướng dẫn dân Do thái đến tận Đất Hứa nầy bất chấp mọi trở ngại và đã thực hiện lời hứa của Ngài. Dân Ít-ra-en phải đáp trả sự trung tín của Thiên Chúa bằng cách cam kết phụng thờ Ngài “vì Đức Chúa là Thiên Chúa chúng tôi”.
2. Giao ước ở Si-khem:
Trên bình diện lịch sử, một cuộc triệu tập như vậy rất có thể cho thấy là cần thiết để cấu trúc lại sự duy nhất của dân Chúa chọn, vì dân Do thái vào Đất Hứa, đất mà các tổ phụ đã sống và gặp lại những hậu duệ đã không rời quê hương sang Ai-cập cùng với các con của tổ phụ Gia-cóp. Cốt là sáp nhập các thị tộc khác nhau nầy vào lòng các chi tộc Xuất Hành. Cuối cùng sự hiệp nhất thì cần thiết trước khi phân tán khắp sứ sở Ca-na-an. Chỉ cùng một lời tuyên xưng đức tin mới có thể gắn bó những yếu tố rời rạc của dân Thiên Chúa.
Nhưng về phương diện lịch sử, giao ước Si-khem chắc chắn sao chép phụng vụ, được cử hành theo chu kỳ để công bố sự canh tân Giao Ước. Sách Đệ Nhị Luật xem ra làm chứng điều nầy, một bài thuyết giáo về Giao Ước theo sát sơ đồ của bài diễn từ ông Gio-suê; hay đúng là trong sách Đệ Nhị Luật, ông Mô-sê căn dặn hằng năm dân Ít-ra-en phải tưởng niệm lời cam kết của mình đối với Đức Chúa.
Một ngàn năm sau, việc tưởng niệm như vậy cấu thành yếu tố cốt yếu của “lễ Ngũ Tuần”; hằng năm người ta làm mới lại giao ước Xi-nai (thật lạ kỳ, bài diễn từ của ông Gio-suê không được kể đến).
Cuối cùng chúng ta ghi nhận rằng chính trong suốt cuộc triệu tập vĩ đại ở Si-khem, vào năm 931 trước Công Nguyên sự duy nhất của dân Chúa chọn bị thách đố: mười chi tộc thiết lập vương quốc phương Bắc, còn hai chi tộc thiết lập vương quốc phương Nam, hay vương quốc Giu-đa, thủ đô là Giê-ru-sa-lem. Sự phân ly đau đớn hình thành nên phản đề với hành động hiệp nhất của ông Gio-suê.
BÀI ĐỌC II (Ep 5: 21-32)
Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư thánh Phao-lô gởi các tín hữu Ê-phê-sô, phần luân lý và khuyên bảo.
Sau khi đã nói về đời sống mới của người Ki tô hữu, được phép Rửa khai mạc, thánh nhân đưa ra vài lời căn dặn liên quan đến đời sống gia đình: thánh nhân liên tục gợi lên những mối liên hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, chủ và tớ.
Mối liên hệ giữa chồng và vợ mà đoạn văn chúng ta bàn đến hôm nay.
Chúng ta cần thiết phải nhận ra hai khía cạnh khác nhau trong bản văn nầy: một khía cạnh đã lỗi thời, sự phát triễn của những phong tục tập quán đã khiến cho những lời đề nghị của thánh nhân không còn thích hợp nữa; một khía cạnh khác, luôn luôn có giá trị và luôn luôn hiện thực: sự hiệp nhất của Đức Ki tô với Giáo Hội của Ngài được sánh ví với sự hiệp nhất của chồng với vợ Ki tô giáo.
1. Khía cạnh lỗi thời:
Bản văn của thánh Phao-lô không còn đáp ứng tâm thức hiện nay của chúng ta. Quả thật, trong bối cảnh tôn giáo, văn hóa và xã hội của thánh nhân, cần phải điều chỉnh lại lời khuyên “vợ phải tùng phục chồng” trong thế giới “bình đẳng nam nữ” hôm nay. Mặc dầu viết từ Rô-ma, thánh nhân vẫn đứng trong truyền thống Do thái khi nghĩ đến trước tiên bổn phận của người vợ Do thái. Chúng ta cũng phải khảo sát hậu cảnh tôn giáo của lời đề nghị nầy: Giáo Hội tùng phục Đức Ki tô, chấp nhận Tin Mừng của Ngài và tuân giữ các huấn lệnh của Ngài như thế nào thì người vợ phải phục tùng chồng như vậy. Cuối cùng chúng ta nên nhắc lại rằng, về phương diện pháp lý, việc vợ tùng phục chồng, thậm chí ở Đông Phương, ngay cả ở Việt Nam: “xuất giá tòng phu” của chúng ta, từ lâu đã bị hủy bỏ rồi.
Còn đối với lời khuyên: “còn người chồng phải yêu vợ mình như yêu chính thân thể mình” không phải là không xúc phạm đến người phụ nữ sao? Phải nói thực, linh đạo hôn nhân, sau một lịch sử lâu dài đã vượt qua những cách nói như vậy. Tình nghĩa vợ chồng được sống theo Ki tô giáo là lời mời gọi thường hằng ra khỏi cái tôi của mình, yêu người bạn đời như chính người ấy, quên đi bản thân mình. Thánh Phao-lô đã không tiên cảm điều đó khi nói rằng người chồng phải bắt chước Đức Ki tô, Ngài đã “yêu thương và hiến thân mình vì Hội Thánh” đó sao?
Vì thế, trước tiên phải vượt qua những cách nói nầy và những mâu thuẩn bên ngoài, mà cố gắng thấu hiểu tư tưởng của thánh nhân chủ yếu thuộc loại suy.
2. Truyền thống kinh thánh:
Thánh Phao-lô áp dụng cho Đức Ki tô và Hội Thánh Ngài ngôn ngữ của các ngôn sứ, họ diễn tả tình yêu của Đức Chúa đối với dân Ít-ra-en, dân Ngài, bằng những từ ngữ hôn nhân. Hình ảnh lên đến tận ngôn sứ Hô-sê (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên), vị ngôn sứ nầy đã trình bày hình ảnh nầy một cách thống thiết; hình ảnh nầy trở thành kinh điển; chúng ta gặp lại hình ảnh nầy nhất là tại ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en, I-sai-a đệ nhị, hình ảnh xuất hiện một lần nữa, được thiêng liêng hóa, trong sách Khôn Ngoan (thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên). Chính trong trào lưu nầy mà viễn cảnh của thánh Phao-lô được định vị.
Việc so sánh tình nghĩa vợ chồng phàm nhân với tình nghĩa thần linh thì tuyệt vời, dù rằng không phải mọi yếu tố đều thích đáng. Quả thật, sự so sánh vẫn kiếm khuyết ở nơi mức độ người chồng được đồng hóa với Đức Ki tô, được tô điểm bằng sự hoàn thiện, cao cả, uy quyền; trái lại, người vợ xem ra bị lệ thuộc, nhiều kiếm khuyết, cần được tinh tuyền và thánh thiện “để ra mắt Người”.
Cũng vậy, trong Cựu Ước, Đức Chúa là vị hôn phu rất mực thủy chung, không bao giờ quên những lời thề hứa của mình; trong khi vị hôn thê, dân Do thái, thường bội thề, phản bội Thiên Chúa của mình, vi phạm các huấn lệnh của Ngài, chạy theo các ngẫu tượng.
3. Tôn giáo tình yêu:
Nhưng vì so sánh như vậy, tình yêu của vị hôn phu kèm theo những đòi hỏi đặc thù; vị hôn phu đòi buộc phải yêu thương vị hôn thê của mình “cũng như Đức Ki tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh”.
Lời mời gọi chan chứa tình nghĩa chồng vợ nầy tạo nên một dấu nhấn mới làm xôn xao ở giữa lòng xã hội ở đó chỉ người chồng mới có quyền rẩy vợ và ở đó chỉ người phụ nữ ngoại tình bị trừng phạt (dù rằng tội đồng lõa cũng bị trừng trị [Lv 20: 10; Đnl 22: 22], tuy nhiên chúng ta ghi nhận rằng việc người chồng ngoại tình hiếm khi bị kết án).
Trong mức độ rộng lớn, đây cũng là sự mới mẽ giới thiệu những bổn phận hổ tương giữa “kẻ mạnh” và “người yếu”. Kẻ mạnh phải có bổn phận đối với người yếu: đó cũng là bổn phận của cha mẹ đối với con cái, chủ đối với tôi tớ.
Chính ở nơi sự biến đổi sâu xa của tâm thức nầy mà thánh nhân mời gọi khi đề nghị bắt chước Đức Ki tô như mẫu gương tuyệt vời nhất.
4. Hội Thánh là hôn thê và thân thể của Đức Ki tô.
Đoạn trích thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô nầy, vốn phát triển một trực giác đã xuất hiện kể từ thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô (2Cr 11: 2), đây là cách diễn tả đạo lý rõ ràng nhất của thánh Phao-lô về Hội Thánh là “thân thể của Đức Ki tô”.
Đức Ki tô đã thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh, tức các chi thể, “bằng nước và lời hằng sống”, theo nguyên ngữ của bản văn Hy lạp “bằng việc tắm rửa kèm theo lời”. Thánh Phao-lô sử dụng từ “tắm rửa” vì phép Thánh Tẩy được thực hiện bởi việc nhận chìm vào bể nước, nhưng cũng ám chỉ đến nghi thức tắm rửa của vị hôn thê theo tập tục Do thái cũng như Hy lạp. Còn việc kể ra “kèm theo lời” rõ ràng là biểu thức phép Thánh Tẩy. Dù xác định thoáng qua nhưng thật quý báu biết bao.
Có thể cũng có một sự quy chiếu đến phép Thánh Thể, khi thánh nhân gợi lên “người chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, không ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi dưỡng và săn sóc thân xác mình”; đó là điều Đức Giê-su làm đối với Hội Thánh của Ngài.
5. Chiều kích cao cả của hôn nhân:
Sự kết hợp của Đức Giê-su với Hội Thánh vừa là sự nâng đỡ vừa là dấu chỉ hiệp nhất của đôi vợ chồng trần thế, đó là ý muốn của Đấng Tạo Hóa, vì “cả hai sẽ trở thành một xương một thịt” , như cách diễn tả của sách Sáng Thế mà thánh nhân nhắc lại.
Như vậy, sự hiệp nhất chồng vợ được tháp nhập vào trong một thực tại thánh, thực tại nầy siêu thăng đời sống hôn nhân. Mầu nhiệm thật là cao cả vì hình ảnh hôn ước giữa Đức Giê-su và Hội Thánh nâng đỡ sự cao cả của tình yêu hôn nhân.
TIN MỪNG (Ga 6: 60-69)
Đây là một trong những trang Tin Mừng thống thiết nhất.
Đức Giê-su đã hoàn tất diễn từ của Ngài về bánh ban sự sống; Ngài đã loan báo quà tặng thịt và máu của Ngài bằng những từ ngữ hiện thực nhất. Như vậy Ngài đặt để các môn đệ của Ngài trước một sự lựa chọn: hoặc tin vào điều không thể nào tin được và tin tưởng vào Ngài, hay nghi ngờ Ngài và từ bỏ Ngài vì “lời nầy chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”. Đức Giê-su đã không một chút đắn đo, dám liều vì sự thật.
1. Nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa:
Các môn đệ, tức là một nhóm đông hơn nhiều Nhóm Mười Hai, đã hiểu lời của Đức Giê-su theo nghĩa thuần túy vật chất: “lời nầy chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”. Đức Giê-su thử làm cho họ hiểu rằng để có thể hiểu những lời của Ngài, có một cách giải thích khác với cách giải thích của họ, không quá duy vật và “xác thể”, nhưng một cách “thần thiêng”.
“Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?”. Từ “chướng” theo nghĩa đầu tiên, có nghĩa sự trở ngại mà người ta vấp phải, như hòn đá trên đường.
“Thế khi anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” Ngài muốn hướng tâm trí của họ về tương lai và ở bên kia cuộc tử nạn của Ngài, khi Ngài trở về nơi từ đó Ngài đến. Lúc đó ý nghĩa của những lời Ngài hiện ra một cách sáng tỏ.
“Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”. Lời của Đức Giê-su là thần khí và là sự sống, nghĩa là lời Đức Giê-su là Thần Khí làm cho sống, vì chỉ có Thần Khí mới làm cho người tín hữu thấu hiểu được những lời Đức Giê-su nói, những phép lạ Người làm (3: 6) và những thực tại thiêng liêng Người đã biểu lộ qua bản thân của Người (Ga 15: 26a). Trái lại “xác thịt”, tức phàm nhân, chỉ vuông tròn trong ánh sáng của riêng mình, không thể hiểu mầu nhiệm ân ban mà Đức Giê-su hứa. Thật mà nói, lập ngôn như vậy, cộng đoàn Ki tô hữu trung thành với bàn tiệc Thánh Thể dể hiểu hơn các môn đệ chán chường nầy.
2. Nỗi buồn của Đức Giê-su:
“Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người”. Tư tưởng của ông Giu-đa được nối kết rồi với tư tưởng của Tiệc Ly, điều nầy hé cho thấy rằng ông Giu-đa đã vấp ngã trên mầu nhiệm Thánh Thể và đã bắt đầu nghi ngờ Thầy mình khởi đi từ giáo huấn của Ngài về bánh ban sự sống.
“Từ đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa”. Trước việc các môn đệ rút lui không theo Ngài nữa và trước viễn cảnh về một sự phản bội, Đức Giê-su đặt một câu hỏi đượm buồn cho Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa , anh em cũng muốn bỏ thầy đi sao?”.
Nhan danh các môn đệ, thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại đời sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”.
Thánh Phê-rô đặt đức tin trước tiên, rồi mới đến sự hiểu biết. Đức tin, được sinh ra trong ánh sáng của ơn gọi, mở đường đến những ánh sáng còn lớn lao hơn.
Mặc khải phép Thánh Thể đã đặt ra một sự chọn lựa bi thảm. Mặc khải nầy vẫn và sẽ vẫn “mầu nhiệm đức tin” đối với các tín hữu của mọi thời đại.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
24-08-2009, 05:55 PM
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Cả ba bài đọc Chúa Nhật nầy đều quy tụ về một điểm: cả ba đều xem những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.
Đnl 4: 1-2, 6-8
Lề Luật là cách diễn tả sự khôn ngoan và thánh thiện của Thiên Chúa; mỗi người phải lắng nghe và sống.
Gc 1: 17-18, 21-22, 27
Lời Chúa không chỉ phải được tiếp đón nhưng còn đem ra thực hành nữa.
Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23
Những huấn lệnh của Thiên Chúa không được thay thế bởi những quy tắc phàm nhân. Trong khi những quy tắc phàm nhân làm biến chất những huấn lệnh của Thiên Chúa và xem những tuân giữ bên ngoài là tầm quan trọng, thì những huấn lệnh Thiên Chúa biến đổi con người từ bên trong.
BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 1-2, 6-8)
Tác phẩm nầy cốt yếu được cấu thành bởi ba diễn từ của ông Mô-sê, được đặt trong bối cảnh hư cấu ở đó ông Mô-sê ngỏ lời với dân Do thái trước khi họ tiến vào Đất hứa, để cảnh giác họ coi chừng những nguy hiểm đang rình rập họ khi sống ở giữa môi trường ngoại giáo và khẩn khoản họ trung thành với các huấn lệnh của Thiên Chúa.
Thật ra, con cái Ít-ra-en đã định cư ở đất Ca-na-an từ lâu rồi; họ đã để cho mình bị quyến rủ bởi những thực hành đa thần giáo, như họ đã để cho mình bị tiêm nhiểm bởi hoàn cảnh duy vật của một cuộc sống dể dãi, thậm chí xa hoa đối với vài người, với những lạm dụng và những bất công từ đó mà ra.
Khung cảnh hư cấu nầy cho phép trình bày một bài giáo lý đích thật về Giao Ước, được đặt dưới sự bảo lãnh của ông Mô-sê và mặc lấy cung giọng khuyên bảo khẩn thiết.
Bài giáo lý nầy bắt đầu ở chương 4 (các chương trước đó là phần dẫn nhập lịch sử) và bắt đầu với lời tán dương Lề Luật:
1. Lề Luật, nguồn mạch sự sống:
“Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe…” Biểu thức nầy thường được lập đi lập lại trong sách Đệ Nhị Luật, thường nhất được dùng một cách tuyệt đối, không có túc từ: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (Đnl 5: 1; 6: 4; 9: 1; 20: 3; 27: 9). Kinh nguyện truyền thống Do thái, được tụng niệm thường ngày, bắt đầu với những từ nầy: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (“Shema Israel”), được mượn ở 6: 6-9.
“Như vậy, anh em sẽ được sống”. Điều mà bản văn Đệ Nhị Luật nầy nhắm đến chính xác hơn, chính là cuộc sống của dân Ít-ra-en với tư cách dân Giao Ước. Không tuân giữ Lề Luật, chính là vi phạm Giao Ước và, vì thế đánh mất những phúc lộc của những lời hứa của Thiên Chúa. Vì thế, tiếp liền ngay sau những lời nầy là: “Như vậy, anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, là Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em”. Việc thực hành các huấn lệnh gắn liền với niềm tin vững chắc rằng Thiên Chúa đến phiên mình đảm bảo cho các tín hữu của Ngài cuộc sống trường thọ và thịnh vượng. Vào thời điểm nầy, những viễn cảnh vẫn ở trong chân trời trần thế; những hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được dự kiến.
Đối với dân Ít-ra-en, việc tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa là vấn đề sống chết. “Thế phải chọn lựa” này được đặt ra nhiều lần một cách nghiêm túc: “Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng ở giữa anh em, là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nổi cơn thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em” (Đnl 6: 14-15) hay còn: “Nhưng nếu chẳng may anh em quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong” (Đnl 8: 19).
Những hoàn cảnh lịch sử đã đem lại cho thế chọn lựa nầy một tính cách bi thảm. Quả thật, có thể nghĩ rằng sách Đệ Nhị Luật, trong cấu trúc đầu tiên của nó, được soạn thảo bởi các tư tế của vương quốc phương Bắc, họ với tư cách những chứng nhân về những bất trung của dân Ít-ra-en, đã đưa ra lời mời gọi như cơ hội cuối cùng. Ấy vậy, vào năm 721 trước Công Nguyên vương quốc phương Bắc bị các đạo quân At-sua tận diệt! Vài tư tế trốn thoát được khỏi cuộc lưu đày và lánh nạn sang vương quốc phương Nam và đem theo bản văn của mình. Bản văn nầy đuwọc cất dấu trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem trong triều đại Mơ-na-sê, vị vua vô đạo (687-642 BC.); nó bị quên lãng và được gặp thấy vào lúc trùng tu Đền Thờ; lúc đó nó được dùng làm nền tảng cho việc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (622 BC.). Nó đã được duyệt xét lại và bổ túc. Đây là điều mà người ta gọi ấn bản thứ hai của sách Đệ Nhị Luật.
Những huấn lệnh Tin Mừng cũng xuất hiện như những quy luật cuộc sống. Đức Giê-su sẽ sử dụng hầu như cùng những từ ngữ như ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật, nhưng Ngài cho từ “sống” ý nghĩa tròn đầy của nó khi nói với chàng thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19: 16-17).
2. Lề Luật bất khả xâm phạm:
“Anh em đừng thêm gì…cũng đừng bớt gì…” Lời căn dặn kép nầy là nổi bận lòng của nhà lập pháp; biểu thức nầy được diễn tả trong Bộ Luật của vua Hammourabi ở Ba-by-lon vào thế kỷ thứ mười tám trước Công Nguyên; nó kèm theo nhiều lần những hiệp ước giữa các dân tộc; nó được các pha-ra-ô Ai-cập sử dụng và người ta biết rằng trong Tân Ước, câu sau cùng của sách Khải Huyền: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách nầy! Ai mà bớt điều gì trong các lời của sấm ngôn nầy, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành được mô tả trong sách nầy” (Kh 22: 18-19).
Nhưng ông Mô-sê khéo léo hơn bất cứ ai công bố tính bất khả xâm phạm của Lề Luật: ông chỉ là người trung gian truyền đạt những huấn lệnh của Thiên Chúa.
3. Lề Luật là lẽ khôn ngoan:
Lề Luật là lẽ khôn ngoan cho mỗi người, vì nó là kim chỉ nam cho cuộc sống đức hạnh (đây là ý nghĩa của từ Hy bá To-ra để chỉ Lề Luật).
Trong toàn bộ đoạn văn nầy, tác giả đặt trên môi miệng của ông Mô-sê ngôn ngữ của một bậc hiền nhân; văn phong rất gần với văn phong của sách Châm Ngôn như để tâm suy niệm lẽ khôn ngoan mà chúng ta gặp thấy trong sách Ba-rúc, ở đó những từ ngữ cũng tương tự:
“Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en,
những mệnh lệnh tặng ban sự sống,
hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan.
Đức khôn ngoan
là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật,
Luật tồn tại cho đến muôn đời.
Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống;
còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết” (Br 3: 9; 4: 1)
4. Nhờ Lề Luật, dân Ít-ra-en được xem là một dân tộc vĩ đại:
“Khi nghe nói về tất cả những chỉ thị đó, họ sẽ bảo rằng: Dân tộc vĩ đại nầy chỉ có thể là một dân khôn ngoan và thông minh”.
Sứ mạng phổ quát của dân Ít-ra-en không là nỗi bận lòng ưu tiên của sách Đệ Nhị Luật, được xoay quanh Giao Ước, vì lẽ sứ mạng phổ quát nầy rất hiếm kể ra trong tác phẩm nầy. Tính siêu việt của Lề Luật ban cho dân tộc nầy một tính cách mẫu mực và cho phép một dân tộc nhỏ bé đã tiếp nhận kho tàng nầy được gọi “một dân tộc vĩ đại”. Chúng ta gặp lại ở đây văn phong nồng nàn và cường điệu đặc trưng của vài đoạn văn Đệ Nhị Luật. Dân Ít-ra-en bé nhỏ, bị nghiền nát bởi vóc dáng to lớn của những đế quốc chung quanh, mặc dầu thế, được gọi “một dân tộc vĩ đại” vì Lề Luật của nó đảm bảo cho nó tính ưu việt tinh thần trên muôn dân.
5. Nhờ Lề Luật, Thiên Chúa ở gần dân.
“Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Ngài”.
Lời khẳng định nầy đáp trả cho câu hỏi đầy xao xuyến của dân Ít-ra-en. Các thần linh dân ngoại được đúc tượng vẽ hình xem ra gần với các tín đồ hơn vị Thiên Chúa phi vật chất của dân Chúa chọn, đến mức Ngài không cho phép bất cứ hình tượng nào được dùng để tôn kính Ngài.
Thật ra, Thiên Chúa của Ít-ra-en rất gần với những ai kêu cầu Ngài. Hiệu quả của lời cầu nguyện đó là làm cho Thiên Chúa hiện diện ở trong lòng của mỗi người tín hữu.
Vả lại, cung giọng khái quát của sách Đệ Nhị Luật được ngự trị bởi ý tưởng về một Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và ở giữa họ, một vị Thiên Chúa mà họ phải “yêu mến hết lòng hết dạ”. Nói thật ra, luật của Thiên Chúa không áp đặt từ bên ngoài vì “Lời rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” mà chúng ta đọc thấy ở Đnl 30: 14, một bản văn loan báo giáo huấn Tin Mừng.
BÀI ĐỌC II (Gc 1: 17-18, 21-22, 27)
Chúng ta bắt đầu đọc Thư của thánh Gia-cô-bê trong suốt năm Chúa Nhật.
Chung chung, tác giả được nhận dạng với ông Gia-cô-bê, người anh em họ của Đức Giê-su, lãnh đạo đầu tiên của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem; vì thế ông không là Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại, ở đầu bức thư của mình, tác giả không giới thiệu mình là Tông Đồ: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô” (Gc 1: 1). Để phân biệt hai vị thánh tiên khởi có cùng tên Gia-cô-bê nầy, người ta đặt biệt danh cho Gia-cô-bê Tông Đồ là “Gia-cô-bê Tiền”, và Gia-cô-bê anh em họ của Đức Giê-su là “Gia-cô-bê Hậu”. Chính Gia-cô-bê Hậu mà Đức Giê-su đã hiện ra sau khi Ngài sống lại, theo thánh Phao-lô (1Cr 15: 6-7); thánh nhân bị ném đã vào năm 62 do sự xúi dục của Thượng Tế lúc đó.
Thư được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, sống rải rác trong thế giới Hy lạp-Rô ma (2: 2). Chung chung, người ta nghĩ rằng bức thư được viết vào khoảng giữa năm 58 và 62.
Những lời khuyên trong thư cấu thành một nền tảng giáo lý theo cung giọng cổ xưa: không có bát kỳ ám chỉ đến việc cùng chung sống giữa những tín hữu gốc Do thái và những tín hữu gốc lương dân. Giáo huấn được định vị vào truyền thống của các sách khôn ngoan Cựu Ước, được canh tân và soi sáng bởi sứ điệp Tin Mừng, nhất là bởi bài diễn từ “Các Mối Phúc Thật”, cho dù không được trích dẫn nhưng được gợi hứng từ những lời khuyên dạy luân lý.
Vài lời mở đầu đi trước các lời khuyên nầy.
1. Chúa Cha, nguồn mạch của mọi ân huệ tốt lành:
Thánh Gia-cô-bê bắt đầu gợi lên nguồn mạch đầu tiên của cuộc sống Ki tô giáo: mọi ân huệ đều xuất phát từ “Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú”, ám chỉ đến công trình tạo dựng: trước hết là ánh sáng, đoạn các vầng sáng lớn nhỏ, theo chương thứ nhất của sách Sáng Thế; nhưng chắc chắn cũng phải hiểu theo nghĩa của những ánh sáng tâm linh.
“Nơi Người không hề có sự đổi thay, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng”. Những từ ngữ được sử dụng ở đây khiến chúng ta nghĩ đến chuyển động của các tinh tú. Người xưa chủ ý đồng hóa sự bền vững với chân lý, sự chuyển động với sự sai lạc. Tấm lòng quảng đại của Thiên Chúa được đảm bảo muôn năm bền vững, không hề “vật đổi sao dời”.
2. Người Ki tô hữu được sinh ra từ Thiên Chúa.
“Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thụ tạo của Người”.
Các Ki tô hữu được sinh vào cuộc sống đầy ánh sáng nhờ Lời chân lý, ân huệ tuyệt vời nhất của Chúa Cha, tức Chúa Con, Đức Giê-su Ki tô. Vì thế, họ trở thành “của đầu mùa trong các loài thọ tạo của Người”.
Phải chăng tác giả muốn nói rằng các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân muốn ngỏ lời hình thành nên một sự khởi đầu của nhân loại mới? Hay đúng hơn phải chăng nên hiểu: theo ý muốn của Chúa Cha, những người Ki tô hữu được xem như là hiến lễ đầu tiên của toàn thể nhân loại? Diễn ngữ “của đầu mùa” gợi lên ý tưởng thánh hiến cho Thiên Chúa.
3. Đức tin năng động:
Từ lời nhắc nhở đạo lý ngắn gọn nầy về ơn gọi Ki tô hữu, thánh Gia-cô-bê rút ra những kết luận thực tiển: quan trọng là phải có một đức tin tích cực và, đặc biệt, phải quan tâm đến những người nghèo, hai lời khuyên được lập đi lập lại như điệp khúc xuyên suốt Thư nầy.
Thật có ý nghĩa biết bao khi tác giả trích dẫn như mẫu gương sự giúp đỡ cô nhi quả phụ, đây là lời căn dặn truyền thống Cựu Ước (Xh 22: 21; Đnl 14: 29; 16: 11; 24: 19; Tv 68: 6; 14: 6, 9; Is 1: 7; Gr 7: 6; vân vân). Như vậy, thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh sự liên tục từ luân lý Mô-sê đến luân lý Tin Mừng; không có đoạn giao nhưng kiện toàn. Đây là ghi chú căn bản của bức thư nầy vừa Do thái giáo vừa Ki tô giáo.
Hành xử như vậy chính là “giữ mình khỏi mọi vết nhơ của thế gian”, cách nói nầy vang dội Tin Mừng Mác-cô được trích dẫn hôm nay về sự thanh sạch trong lòng.
TIN MỪNG (Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23)
Chúng ta lại tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô, bị gián đoạn để nhường chỗ cho diễn từ bánh ban sự sống được trích từ Tin Mừng Gioan.
Mác-cô tường thuật cuộc tranh luận của Đức Giê-su với những người Biệt Phái, những người Biệt Phái miền Ga-li-lê nầy mà Ngài đã có chuyện xích mích rồi khi họ liên kết với vài kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống, để một lần nữa điều tra lãnh vực hoạt động của Ngài, và chắc chắn với ý định cũng chẳng tử tế gì như lần đầu tiên, khi đó họ đã tuyên bố Đức Giê-su “bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám” (Mc 3: 22). Tại Tin Mừng Mác-cô, những kinh sư thường hiện diện như đối thủ tiêu biểu của Đức Giê-su, trái với Mát-thêu, đôi khi ông tránh nêu tên họ, có thể vì ông đã là một trong số họ.
1. Thanh sạch và ô uế theo Do thái giáo:
Khái niệm thanh sạch và ô uế chiếm một chỗ quan trọng trong Do thái giáo. Thật ra, mọi dân tộc đều đã phân biệt những cử chỉ thanh sạch và không thanh sạch để thiết lập ranh giới giữa phàm tục và thánh thiêng. Chẳng có gì phải ngạc nhiên nếu chúng ta gặp thấy những quy luật về sự thanh sạch và ô uế được trình bày trong sách Lê-vi, sách kim chỉ nam cho các tư tế. Nhưng những tín hữu bình thường cũng có thể bị uế nhiễm, vả lại thường nhất là uế nhiểm một cách tự nhiên chứ không có tương quan gì với tội lỗi như đụng chạm đến máu, một xác chết, việc ăn nằm, việc sinh đẻ, vân vân).
Tại người Do thái, hai quan niệm nhấn mạnh thái độ của họ:
- “Tính cao vời khôn ví của Thiên Chúa”. Không phải Thiên Chúa của họ có những yêu sách cao hơn những yêu sách mà các thần linh dân ngoại đòi hỏi sao?
- “Tính duy nhất của con người”. Con người là một thực thể bất khả phân giữa xác và hồn.Vì thế, tất cả nghi thức thanh tẩy những ô uế của con người bên ngoài cũng là thanh tẩy con người bên trong.
Sau cuộc lưu đày, người Do thái đã mất đi nền độc lập của dân tộc mình nên họ càng gắn bó hơn nữa vào chủ nghĩa đặc thù của dân tộc mình và đã tăng thêm những nghi thức cho phép họ phân biệt mình chừng nào có thể khỏi thế giới dân ngoại và nhấn mạnh phẩm chất của dân tộc mình là dân được Thiên Chúa tách riêng.
Về hiện tượng tăng thêm các nghi thức thanh tẩy, chúng ta có thể đưa ra một ví dụ chính xác: vài thập niên trước Chúa Ki tô, hai vị kinh sư danh tiếng, ông Hillel và ông Schmmaï, đứng đầu hai trường phái cạnh tranh nhau, đồng ý cùng nhau công bố một bản tuyên ngôn chỉ ra mười tám quy luật thanh sạch nghi thức.
2. Thanh sạch và ô uế theo Đức Giê-su:
Người ta đoán rằng những người Do thái đạo hạnh tuân theo muôn vàn lệnh cấm và tất cả mọi sự chú ý của họ đều hướng về những cử chỉ bên ngoài, do nỗi bận lòng về sự thanh sạch bên trong. Giáo Huấn của Đức Giê-su không chỉ nhắm đến thiết lập lại những viễn cảnh đúng, nhưng còn muốn nói rằng từ nay luật sống theo Thần Khí khởi đầu. “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người, lại có thể làm ô uế con người được; ; nhưng cái gì từ con người xuất ra, mới là cái làm cho con người thành ô uế”.
Đức Giê-su bắt đầu hủy bỏ ranh giới giữa những thức ăn thanh sạch và những thức ăn ô uế, cuộc cách mạng nầy sẽ được tiếp tục bởi các Tông Đồ (cf. Cv 10: 10) và thánh Phao-lô (1Cr 6: 12 và 10: 12-20). Việc mở ra cho thế giới lương dân đòi buộc phải trả bằng giá nầy và còn hơn nữa việc nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Giê-su không ngừng công bố.
Trong bài trình thuật của Mác-cô, Đức Giê-su làm cho hiểu rằng mọi người đều có thể dự phần vào bàn tiệc của Ngài, không còn phân biệt Do thái hay lương dân nữa; chỉ những ai mà tấm lòng của họ muốn được thanh sạch là đủ.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
31-08-2009, 06:37 AM
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN
Vào Chúa Nhật XXIII nầy, Phụng Vụ Lời Chúa cho chúng ta thoáng thấy, qua những dấu chỉ, cuộc thay hình đổi dạng của con người được ơn tha thứ tội lỗi.
Is 35: 4-7
Bài đọc I là sấm ngôn loan báo cuộc giải phóng gần kề của những người lưu đày Ba-by-lon. Thiên Chúa sắp can thiệp; những dấu chỉ báo trước ơn cứu độ mà Ngài sẽ đem đến, sẽ là việc chữa lành những bệnh hoạn tật nguyền của con người và biến đổi sa mạc hoang vu và khô cằn thành vùng đất màu mỡ tốt tươi.
Gc 2: 1-5
Đoạn Thư của thánh Gia-cô-bê nhắc nhở cuộc thay đổi những quan hệ giữa những ai đón nhận Tin Mừng, và chỗ ưu tiên được ban cho người nghèo.
Mc 7: 31-37
Tin Mừng là bài trình thuật của Mác-cô về việc Đức Giê-su chữa lành một người vừa câm vừa điếc ở miền Thập Tỉnh, việc chữa lành là giáo huấn và dấu chỉ thời Mê-si-a về ơn tha thứ của Thiên Chúa.
BÀI ĐỌC I (Is 35: 4-7)
Bản văn nầy được đưa vào trong tác phẩm I-sai-a, vị ngôn sứ của thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, nhưng có những cung giọng của vị ngôn sứ của thời lưu đày, I-sai-a đệ nhị, với một viễn cảnh đặc thù của ông: ngày giải phóng những người lưu đày ở Ba-by-lon sắp đến rồi.
1. Ngày giải phòng sắp đền gần rồi:
Vị ngôn sứ loan báo cho những người lưu đày: “Hãy can đảm lên, đừng sợ!”, vì sắp tới ngày Thiên Chúa báo phục cho dân Ngài và giải phóng họ khỏi những kẻ áp bức họ. Và ông cho hai dấu chỉ cho thấy ơn cứu độ sắp đến rồi: những bệnh hoạn tật nguyền thể lý sẽ biến mất và sa mạc sẽ không còn vùng đất khô cằn nữa, vì trên con đường hồi hương trở về (từ Ba-by-lon đến Giê-ru-sa-lem, phải băng qua sa mạc Sy-ri) Thiên Chúa sẽ làm những điều kỳ diệu: đất đai, cũng như con người, sẽ hoan hĩ vui mầng.
Chắc chắn những hình ảnh nầy là lối nói ngoa dụ để diễn tả niềm hân hoan của những người lưu đày khi gặp lại cố hương. Nhưng sâu xa hơn, những hình ảnh nầy diễn tả một thực tại tinh thần. Thiên Chúa đã bày tỏ lòng xót thương; Ngài đã quên đi những tội lỗi của dân Ngài và đưa họ trở về Đất Hứa, theo cách nào đó, Ngài làm mới lại Giao Ước của Ngài với họ.
2. Giải phóng khỏi những quyền lực của sự ác:
Những người mù sẽ được sáng mắt để được nhìn thấy ý nghĩa sâu xa của biến cố; những người què sẽ nhảy nhót vì vui mừng hớn hỡ. Trong một đoạn văn trước đó theo cùng văn mạch, chúng ta đọc thấy: “Ngày ấy, kẻ điếc sẽ được nghe những lời trong sách, mắt người mù sẽ thoát khỏi cảnh mù lòa tối tăm và sẽ được nhìn thấy. Nhờ Đức Chúa, những kẻ hèn mọn sẽ ngày thêm phấn khởi, và vì Đức Thánh của Ít-ra-en, những người nghèo túng sẽ nhảy múa tưng bừng” (Is 29: 18-19). Chúng ta có thể xác định thêm nữa. Vào thời nầy, cũng như vào thời của Đức Giê-su, những tật nguyền thể lý được coi như những hình phạt vì tội lỗi (Ga 9: 1-3). Vì thế, nếu những người mù được mở đôi mắt để thấy, nếu những người điếc được mở đôi tai để nghe, chính vì những nguyên nhân gây nên những đau khổ của họ đã biến mất: những tội lỗi đã được tha thứ.
Không thể chối cải, sấm ngôn mang cung giọng Mê-si-a: “Chính Người sẽ đến cứu anh em”, nghĩa là Ngài bày tỏ lòng xót thương và ban ơn tha thứ cho tội lỗi của thế giới. Việc chữa lành những tật nguyền là tiên báo việc chữa lành tâm hồn. khi Gioan Tẩy Giả băn khoăn muốn biết phải chăng Đức Giê-su thật sự là Đấng Mê-si-a, Đức Giê-su trả lời cho những người được thánh nhân sai đến: “Các ông cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được…” (Mt 11: 4).
Các ngôn sứ đã loan báo như vậy: đây là những dấu chỉ thời Mê-si-a. Tin Mừng hôm nay khẳng định lời loan báo nầy.
BÀI ĐỌC II (Gc 2: 1-5)
Chúng ta tiếp tục đọc Thư của thánh Gia-cô-bê. Bản văn là kim chỉ nam thực hành nhân đức ở đó lý tưởng đức khó nghèo chiếm một chỗ quan trọng.
1. Thái độ phản chứng những giá trị Tin Mừng.
Sự kiện kẻ giàu người nghèo được đối xử khác nhau, trong buổi họp cộng đoàn Kitô hữu, là một lời nhắc nhở mạnh mẽ đến thái độ phản chứng những giá trị mà Tin Mừng. Thái độ ân cần vồn vã và khúm núm đối với người giàu và thái độ khinh thường đối với người nghèo lại trở nên kỳ chướng hơn nữa khi những người Kitô hữu họp nhau lại là để cầu nguyện và tán dương “Đức Giê-su Chúa chúng ta, là Chúa vinh quang”.
2. Tình huynh đệ Ki tô hữu:
Thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh rằng tình huynh đệ Ki tô hữu phải được bày tỏ không một chút kỳ thị nào đối với bất cứ ai; xem ra trong cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân ngỏ lời có một sự khác biệt đáng kể giữa những người nghèo và những người giàu của cải và có địa vị trong xã hội. Nên nhắc nhở cho những người giàu chỗ mà Thiên Chúa đã ban cho những người nghèo trong ý định của Ngài. Phù hợp với truyền thống kinh thánh liên quan đến “những người nghèo của Đức Chúa”, thánh Gia-cô-bê liên kết tấm lòng rộng mở và tràn đầy niềm tin với quan niệm về sự nghèo khổ: người nghèo thì “giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc”.
TIN MỪNG (Mc 7: 31-37)
Trong thời kỳ thi hành sứ vụ của Ngài, Đức Giê-su tìm kiếm sự yên tỉnh ngoài miền Ga-li-lê; Ngài lánh xa đám đông dân chúng làm Ngài thất vọng, lánh xa nhóm Biệt Phái quấy rầy Ngài và lánh xa uy quyền của vua Hê-rô-đê mà Ngài có những lý do để sợ. Nỗi bận lòng của Ngài là tận tâm tận lực huấn luyện các Tông Đồ của Ngài. Việc chữa lành người vừa điếc vừa câm là một minh họa.
1. Bối cảnh của câu chuyện:
Trước tiên, Đức Giê-su bỏ vùng Tia, đi qua thành Xi-đon, theo con đường băng qua miền Thập Tỉnh mà đến biển hồ Ga-li-lê, vùng đất không thuộc thẩm quyền của vua Hê-rô-đê. Chính miền Thập Tỉnh này mà chính quyền Rô-ma đã nhượng quyền tự trị chính trị. Đa số dân cư là dân ngoại.
Ở vùng Tia, Đức Giê-su đã chữa lành người con gái của một người phụ nữ xứ Ca-na-an; ở miền Thập Tỉnh, Đức Giê-su chữa lành một người vừa câm vừa điếc.
2. Hiệu quả của việc chữa lành:
Thánh Mác-cô đã dàn dựng cảnh chữa lành nầy khá đặc biệt: “Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh”. Vào thời Đức Giê-su, nước miếng có những hiệu lực chữa lành, đặc biệt hơn đối với mắt, như một trong những bản văn của sử gia La-tin, Tacite, làm chứng điều nầy (Tacite, Histoire, IV, 8, 1.). Đức Giê-su cũng sẽ dùng cách thức nầy trong việc chữa lành người mù ở Bết-xai-đa (Ga 9: 6). Đang ở giữa vùng đất dân ngoại nên Chúa Giê-su đã thích ứng với lối chữa bệnh phổ biến của môi trường và thời buổi lúc đó, nên chẳng có gì làm ngạc nhiên những đọc giả đầu tiên của Tin Mừng Mác-cô là những người hiểu biết các tập tục chữa bệnh của những người đương thời với họ.
Tuy nhiên, thành quả chữa lành chính là nhờ vào lời của Đức Giê-su mà thánh Mác-cô trích dẫn bằng tiếng A-ram “Ép-pha-ta” nghĩa là “hãy mở ra”. Ở giữa bản văn Hy ngữ, thánh ký cũng đã gìn giữ bằng tiếng A-ram những lời mà Đức Giê-su đã phán để phục sinh con gái của ông Gia-ia: “Ta-li-tha-khum”, nghĩa là: “Này cô bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” (5: 41). Đừng thấy ở đây ý muốn gây nên một điều kỳ lạ đến sửng sốt, nhưng đúng hơn nổi bận lòng về tính xác thực: chính những lời nầy của Đức Giê-su chứ không gì khác, đã có hiệu lực chữa lành và cho người chết sống lại
Người ta có thể nghĩ rằng ở nơi việc Đức Giê-su chữa lành người vừa câm vừa điếc nầy có kèm theo lời cầu nguyện: “Người ngước mắt lên trời” chỉ cho thấy chuyển động của lời cầu nguyện. Sau nầy, Đức Giê-su chữa lành bằng lời cầu nguyện một em bé bị quỷ ám, việc chữa lành nầy khiến các môn đệ phải ngạc nhiên vì họ đã không thể làm nổi vì không kèm theo lời cầu nguyện (Mc 9: 28-29).
3. Ý nghĩa cử chỉ của Đức Giê-su:
Dù thế nào, chúng ta cũng thắc mắc những cử chỉ nầy của Đức Giê-su có ý nghĩa gì, khi kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông và chỉ có các môn đệ Ngài là những chứng nhân. Lời giải thích chắc chắn được gặp thấy ở nơi toàn cảnh của các chương 6, 7 và 8 của Tin Mừng Mác-cô. Kể từ phép lạ bánh hóa nhiều, thánh ký nhấn mạnh tâm trí quá ngu muội của các môn đệ: “Các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội” (6: 52). Đức Giê-su quở trách sự mù lòa và câm điếc của các ông trước sứ điệp của Thầy mình: “Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư?” (8: 18).
Đúng là những lời quở trách nầy được thốt lên vào thời điểm phân cách hai việc chữa lành: việc chữa lành người vừa câm và vừa điếc ở đây và chữa lành một người mù ở Bết-xai-đa (8: 22-26). Hai việc chữa nầy được trình thuật gần giống nhau. Trong cả hai trường hợp, Đức Giê-su cách ly bệnh nhân; trong cả hai trường hợp, việc chữa lành không ngay lập tức (việc chữa lành anh mù ở Bết-xai-đa được thực hiện qua hai giai đoạn), trong khi anh mù ở Giê-ri-cô được chữa lành ngay lập tức bởi lời của Đức Giê-su mà không cần đến bất kỳ sự đụng chạm nào (Mc 10: 52). Cuối cùng, trong cả hai trường hợp, chỉ các môn đệ là những chứng nhân.
Làm thế nào chúng ta không hiểu ở nơi cử chỉ nầy ý định biểu tượng, một dấu chỉ được diễn tả bằng hành động như hành động biểu tượng mà các ngôn sứ thực hiện kèm theo những lời cảnh báo của họ. Những hành động biểu tượng được diễn tả bằng những cử chỉ điệu bộ như ngôn sứ Giê-rê-mi-a đập vỡ từng mãnh một bình gốm trước cổng thành Giê-ru-sa-lem để loan báo cuộc tàn phá thành thánh Giê-ru-sa-lem sắp đến gần rồi, hay như ngôn sứ Ê-dê-ki-en thực hiện dáng điệu của một người bị phát lưu trong nhiều ngày liền để loan báo cho đồng bào của mình số phận đang chờ đợi họ. Theo cách nầy, Đức Giê-su lên án sự chậm hiểu của các môn đệ Ngài; Ngài muốn họ hiểu những nổ lực nào mà Ngài phải phô bày để mở tâm trí của họ trước sứ điệp và con người của Ngài: “Hãy mở ra” cũng được gởi đến từng môn đệ của Ngài như với người vừa câm vừa điếc.
4. Bí mật Đấng Mê-si-a:
Một lần nữa, Đức Giê-su truyền cho các môn đệ của Ngài giữ kín chuyện chữa lành nầy, vì thường hằng Ngài sợ họ hiểu lầm phẩm tính Mê-si-a của Ngài. Thánh ký thường hay nhấn mạnh điều nầy mà các nhà chuyên môn gọi là “Bí Mật Đấng Mê-si-a”.
Còn đám đông dân chúng, họ kinh ngạc và tuyên bố: “Ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được” nhắc nhớ sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a…Những cử chỉ của Đức Giê-su là những cử chỉ mà ngôn sứ I-sai-a đã loan báo, những dấu chỉ về sự giải thoát khỏi tội lỗi.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
06-09-2009, 07:03 PM
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊNChúa Nhật XXIV nầy được định vị vào trong viễn cảnh của cuộc Khổ Nạn mà lần đầu tiên Đức Giê-su loan báo theo Tin Mừng Mác-cô.
Is 50: 5-9
Bài đọc I trích từ tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị là bài ca thứ ba trong bốn bài ca về Người Tôi Trung chịu đau khổ; Người Tôi Trung nầy tìm gặp nơi Chúa sức mạnh của mình và chấp nhận mọi đau thương thử thách.
Gc 2: 14-18
Trong đoạn trích thư của thánh Gia-cô-bê hôm nay, thánh nhân dạy rằng “đức tin không hành động là đức tin chết”.
Mc 8: 27-35
Trong Tin Mừng Mác-cô, sau khi đã nghe lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô, Đức Giê-su loan báo cuộc Khổ Nạn sắp đến của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Is 50: 5-9)
Bản văn nầy được trích dẫn từ một trong bốn bài thơ về một dung mạo bí ẩn của một Người Tôi Trung hoàn hảo của Đức Chúa trong tác phẩm của I-sai-a đệ nhị. Hai bài thơ sau cùng cho thấy Người Công Chính nầy chịu mắng nhiếc phỉ nhổ (bài thơ thứ ba mà chúng ta đọc hôm nay), đoạn bị giết chết một cách nhục nhã nhưng tiếp đó tràn đầy vinh quang (bài thơ thứ tư). Ở nơi các bài thơ về Người Tôi Trung chịu đau khổ nầy, Mặc Khải về dung mạo của Đấng Mê-si-a không còn là dung mạo của một vị vua vinh quang, nhưng dung mạo của một Người Công Chính chịu đau khổ để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại.
1. Dung mạo của Người Tôi Trung đau khổ.
Người Tôi Trung nầy là một sứ giả của Thiên Chúa, ông đã được thông báo cho biết; sứ mạng được trao phó cho ông không là dễ dàng, nhưng ông “không cưỡng lại cũng chẳng tháo lui”, đó là sứ mạng được xác định ở đoạn trên: “biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức”. Ông chẳng đón nhận gì ngoài những vô ơn bạc nghĩa: bách hại, đánh đòn, nhục mạ; ông cam chịu mà không hề than vãn một lời. Sức mạnh và sự thanh thản của ông đến từ niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng phù trợ ông, Đấng tuyên bố rằng ông công chính, Người ở kề bên ông. Vì thế chẳng có gì phải nao núng cả: “Ai tranh tụng với tôi? Cùng nhau ta hầu toà! Ai muốn kiện cáo tôi ? Cứ thử đến đây coi!”.
2. Dung mạo của Đức Ki tô.
Ở nơi dung mạo của Người Tôi Trung nầy chúng ta đọc thấy số phận của Đức Kitô. Chính Ngài cũng là Đấng được Thiên Chúa sai đến; sứ điệp mà Ngài mang đến là Tin Mừng cho những người nghèo khổ, ấy vậy chính Ngài phải gánh chịu muôn vàn bách hại, đối mặt với những đau khổ mà không hề than van một lời; chính Ngài công bố: “Ai có thể bắt lỗi tôi điều gì?” Ngài biết rằng Chúa Cha sẽ tôn vinh Ngài và Chúa Thánh Thần sẽ minh oan cho Ngài.
BÀI ĐỌC II (Gc 2: 14-18)
Chúng ta tiếp tục đọc Thư của thánh Gia-cô-bê. Bức thư nầy khai triển hai chủ đề chính yếu: ca ngợi người nghèo và cảnh báo nghiêm khắc người giàu.
1. Đức tin không hành động là đức tin chết:
Đoạn trích hôm nay tập trung vào một chủ đề: “đức tin không hành động là đức tin chết”, đức tin sống động là đức tin hướng đến việc thực thi đức ái. Lời khuyên bảo của thánh Gia-cô-bê rất thực tế: lời khuyên nầy đặt nền tảng trên một ví dụ cụ thể, được trình bày một cách thấm thía. Những lời hay ý đẹp chỉ là như gió thoảng qua, thậm chí chỉ là giả hình nếu người ta không đề ra những phương cách cứu giúp những đau khổ của anh em chúng ta.
2. So sánh giáo huấn của thánh Gia-cô-bê và giáo huấn của thánh Phao-lô:
Liệu có nên nghĩ rằng thánh Gia-cô-bê có lập trường trái ngược với thánh Phao-lô được trình bày trong các thư gởi tín hữu Ga-lát và Rô-ma: “Con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Kitô” (Gl 2: 16)?. Chính xác hơn, thánh Gia-cô-bê cố gắng cảnh giác những người Ki tô hữu gốc Do thái coi chừng một lối giải thích lạm dụng giáo huấn của thánh Phao-lô. Người ta không thể trách cứ thánh Phao-lô là không ca ngợi những việc làm, đặc biệt là đức ái, vì không có đức ái đức tin “chỉ là tiếng phèn la inh ỏi”. Nhưng vị Tông Đồ dân ngoại muốn chứng minh rằng những việc lành phúc đức của luật Mô-sê không thể đạt được ơn cứu độ, từ nay chỉ có một nguồn ơn cứu độ duy nhất là “tin vào Đức Kitô”. Mục đích của thánh Gia-cô-bê là làm nổi bật những thành quả của luật mới, mà thành quả hàng đầu là tình yêu thương đồng loại. Đành rằng đức tin là Thiên Ân và nhờ đức tin chứ không vì công nghiệp mà chúng ta được nên công chính hóa, nhưng việc làm của chúng ta chứng tỏ rằng đức tin ấy đầy sức sống, chứ không èo uột héo khô.
Liệu có nên nghĩ rằng ở bên kia những tư tưởng, có một dư âm nào đó về hai thái độ của hai vị thánh nầy xuất hiện ở Công Đồng Giê-ru-sa-lem? Thánh Gia-cô-bê bày tỏ lập trường phải giữ vài mối giây ràng buộc với luật Mô-sê, trong khi thánh Phao-lô muốn giải thoát các Ki tô hữu tiên khởi khỏi những thực hành Lề Luật…Có thể lắm chứ.
TIN MỪNG (Mc 8: 27-35)
Chúng ta đang ở giai đoạn Đức Giê-su tìm kiếm một sự yên tỉnh ngoài biên giới miền Ga-li-lê để được ở một mình với các môn đệ và dành trọn thời gian vào việc huấn luyện họ.
1. Bối cảnh của cuộc chuyện trò:
Như chúng ta đã biết, Đức Giê-su đã rút lui vào vùng Tia, đoạn miền Thập Tỉnh. Bây giờ Ngài rời Bết-sai-đa để tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp, vùng cực Bắc xứ Pha-lê-tinh. Lãnh địa nầy không thuộc quyền của tiểu vương Hê-rô-đê, nhưng em của ông là Phi-líp, một nhà cai trị cẩn trọng và khôn ngoan. Chính Phi-líp là người xây dựng thành Xê-da-rê mang tên ông để phân biệt với thành Xê-da-rê duyên hải. Như vậy Đức Giê-su đã dẫn các môn đệ đi sâu vào vùng đất lương dân, lên đến thượng nguồn của dòng sông Giô-đan.
Trên lãnh địa nầy, người ta có thể đi lại một cách yên tỉnh. Đức Giê-su đồng hành với các môn đệ của Ngài; những dòng suối của sông Giô-đan thì rất gần, cảnh vật êm ả, chính trong khung cảnh êm ả và bầu khí thanh bình nầy mà cuộc nói chuyện giữa Thầy trò diễn ra.
Thánh Lu-ca đặt câu chuyện nầy vào trong bối cảnh Đức Giê-su cầu nguyện một mình và có các môn đệ ở đó với Ngài (Lc 9: 18-21: thánh Lu-ca không bao giờ quên kể ra việc Đức Giê-su cầu nguyện vào những giờ phút trang trọng), trong khi thánh Mác-cô nói với chúng ta rằng Đức Giê-su và các môn đệ vừa đi vừa trò chuyện với nhau. Chính nhờ đồng hành với Đức Giê-su, lắng nghe Ngài đặt ra câu hỏi mà chúng ta có thể hiểu được khuôn mặt đích thật của Ngài hơn.
2. Thăm dò niềm tin của các môn đệ về Ngài:
Trước hết Đức Giê-su hỏi các môn đệ về dư luận quần chúng về Ngài ngõ hầu giúp các ông hiểu rõ hơn niềm tin của họ vào Ngài. Các môn đệ đáp: “Họ bảo Thầy là Gioan Tẩy Giả; có kẻ bảo là ông Ê-li-a; kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó”. Trong những dư luận nầy, việc đồng hóa Đức Giê-su với ông Gioan Tẩy Giả thật lạ lùng nhưng nhắc nhớ lời phát biểu của tiểu vương Hê-rô-đê khi nghe danh tiếng Đức Giê-su: “Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ” (Mt 14: 1-2). Việc dân chúng nhận biết Đức Giê-su là một trong những đại ngôn sứ đã là một bước tiến đáng kể trên con đường đức tin rồi, tuy nhiên vẫn còn xa với chân lý.
Vì thế, Đức Giê-su muốn trắc nghiệm niềm tin của họ về Ngài sau những ngày tháng được sống bên Ngài, lắng nghe những lời Ngài nói và thấy những việc Ngài làm: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Thay mặt cho các môn đệ, ông Phê-rô đáp: “Thầy là Đấng Kitô”. Tại Mát-thêu, thánh Phê-rô còn nói thêm: “Con Thiên Chúa hằng sống”. Tại Lu-ca, thánh Phê-rô nói: “Thầy là Đấng Ki tô của Thiên Chúa”. Quả thật, đây là một câu trả lời vượt quá khả năng của thánh nhân mà trong cùng một câu chuyện, thánh Mát-thêu ghi lại nhận xét của Đức Giê-su: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều nầy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16: 17), bởi vì chỉ mới vừa trước đây thôi Ngài đã quở trách các ông vì lòng trí các ông quá chậm hiểu trước sứ điệp và con người của Ngài.
Ngay lập tức Đức Giê-su cấm ngặt các ông không được nói với ai về Ngài. Lệnh cấm nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong Tin Mừng Mác-cô mà các nhà chuyên môn gọi “bí mật Đấng Mê-si-a”. Bí mật Đấng Mê-si-a nầy thường liên quan đến các phép lạ, bây giờ chính là căn tính Mê-si-a của Ngài. Tại sao lại có lệnh cấm nầy? Bởi vì Ngài sợ người ta hiểu lầm tước hiệu Mê-si-a trên bình diện trần thế và chính trị. Mặt khác, lúc nầy các môn đệ không thể hiểu hết được mầu nhiệm Mê-si-a hàm chứa trong ý định của Thiên Chúa. Chính xác, Đức Giê-su sắp vén bức màn mầu nhiệm.
3. Loan báo đầu tiên về cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài:
Đây là lần đầu tiên Đức Giê-su loan báo cho họ cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, các thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại.” Cái tất yếu mà Đức Giê-su nêu lên: “Con Người phải…”, không là tất yếu của định mệnh, nhưng là cái tất yếu thuộc trật tự thần học, chính là cái tất yếu của chương trình Thiên Chúa. Cuộc Khổ Nạn không là một tai nạn mà biến cố Phục Sinh sẽ sửa sai, nhưng là một phần của mầu nhiệm cứu độ nhân loại. Vào giây phút nầy, Đức Giê-su không cho các ông bất cứ lời giải thích nào khác ngoài cái tất yếu (“phải”) nầy.
4. Phản ứng của thánh Phê-rô:
Trong lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ Nạn của Ngài, Đức Giê-su cẩn trọng tránh nói đến việc Ngài bị đánh đập và bị đóng đinh vào khổ giá. Nhưng như thế cũng đủ gây nên một sự choáng váng ở nơi các môn đệ. Một cách tế nhị, “thánh Phê-rô liền kéo riêng Người ra mà trách”. Chúng ta có thể hiểu được phản ứng của thánh Phê-rô; trong tâm trí của thánh nhân đã hình thành nên ở nơi Thầy mình một Đấng Mê-si khải hoàn và vinh quang: thánh nhân ôm ấp những kỳ vọng trần thế; nhưng chắc chắn lời trách cứ của thánh nhân hàm chứa lòng yêu mến của mình đối với Thầy mình. Không ai có thể chấp nhận người mình yêu có thể bị đau khổ.
5. Phản ứng của Đức Giê-su:
Đức Giê-su phản ứng rất mãnh liệt; thái độ của thánh Phê-rô làm hiện ra trong tâm trí của Ngài cơn cám dỗ mà Ngài đã kinh qua trong hoang địa; Đức Giê-su đáp trả vị Tông Đồ của Ngài cũng bằng những lời mà Ngài đã dùng để trục xuất Tên Cám Dỗ: “Xa-tan kia, xéo đi!” (Mt 4:10), nhưng với thánh Phê-rô, Ngài còn nói thêm: “Lui ra đằng sau Thầy”, nghĩa là “Hãy theo Thầy, anh không hiểu rằng nếu là môn đệ trung thành, anh phải bước đi theo con đường của Thầy”.
Và với tất cả những ai muốn làm môn đệ của Ngài, Đức Giê-su cũng căn dặn một lời như vậy: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Hễ mỗi lần gợi lên cuộc Khổ Nạn của Ngài, Đức Giê-su đều liên kết các môn đệ của Ngài, và qua họ, tất cả các Ki tô hữu, vào con đường đau khổ nầy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì cứu được mạng sống ấy”. Ở đây Đức Giê-su sử dụng một từ hai nghĩa: “mạng sống” vừa có nghĩa cuộc sống tạm thời ở đời nầy vừa cuộc sống đời đời ở mai sau.
Những lời nầy âm vang xuyên suốt nhiều thế kỷ và đã tạo nên niềm tin tưởng và phó thác của các thánh tử đạo mọi thời, hôm qua cũng như hôm nay.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
14-09-2009, 01:09 PM
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN
Như Chúa Nhật trước, chủ đề nổi bật của Chúa Nhật nầy vẫn là viễn cảnh Tử Nạn của Đức Giê-su được gợi lên lần thứ hai trong Tin Mừng. Ở nơi chủ đề nầy, ngầm chứa những tranh cãi phàm nhân có thể dẫn đến ghen tuông và thù hằn, thậm chí đến việc sát hại đối thủ của mình. Người Công Chính (bài đọc I và Tin Mừng) là nạn nhân tiêu biểu cho sự ghen tuông và thù hận nầy.
Kn 2: 12, 17-20
Bài đọc I được trích dẫn từ sách Khôn Ngoan. Chính vì cuộc đời đạo hạnh và trung tín của mình mà Người Công Chính bị những người vô đạo lại bách hại cho đến chết.
Gc 3: 16-4: 3
Thư của thánh Gia-cô-bê là cuộc bút chiến lên án những ghen tuông tranh chấp, hậu quả của những đam mê và những khuynh hướng xấu trong khi Đức khôn ngoan của Thiên Chúa là lòng yêu thương anh em mình, quên mình, niềm nở đón tiếp anh em mình, mưu tìm sự hòa đồng.
Mc 9: 29-36
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo lần thứ hai cho các môn đệ của Ngài cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài, nhưng các ông chưa hiểu và tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong họ. Chúa Giê-su muốn khai lòng mở trí cho họ hiểu rằng trong Giáo Hội của Ngài người lớn nhất là người hầu hạ mọi người. Đó là hình ảnh thân thương của một gia đình: cha mẹ là người lớn nhất trong gia đình lại trở thành con sen đứa ở phục vụ con cái của mình.
BÀI ĐỌC I (Kn 2: 12, 17-20)
1. Bối cảnh:
Tác giả sách Khôn Ngoan là một người Do thái sinh quán ở thành A-lê-xan-ri-a, ông đã viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Thành A-lê-xan-ri-a lúc đó là một trong những trung tâm rực rỡ nhất của văn hóa Hy lạp và đồng thời một trong những thành phố quan trọng nhất của những người Do thái Hải Ngoại.
Quả thật, cộng đồng Do thái ở đây gìn giữ nét đặc thù của mình; tuy nhiên sức cám dỗ của ngoại giáo chung quanh là một thực tại hằng ngày: tính đa dạng của những lý luận triết học, sự phát triển của các bộ môn, tôn giáo tổng hợp, sức hấp dẫn của những tôn giáo mầu nhiệm, vân vân. Ở đây cũng có những người bội giáo càng lúc càng đông. Tác giả viết để phòng ngừa những sa ngã mới cho những đồng đạo của ông. Với sự sáng suốt của một hiền nhân, ông làm chưng hửng tiến trình ghen ghét được phát triển ở giữa họ, từ ước muốn dập tắt những lời quở trách gây phiền hà họ, cho đến ước muốn làm khổ, đoạn làm hại người công chính lòng dạ sắc son.
1. Lập luận cực đoan của quân vô đạo:
Đoạn văn của sách Khôn Ngoan nầy không trực tiếp là một sấm ngôn liên quan đến cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô; đây là một phân tích tâm lý mô tả tình trạng tinh thần của những người Do thái bội giáo trước cuộc sống đạo hạnh của người công chính. Tấm lòng trung tín của người công chính đối với họ là một lời trách cứ thường hằng. Sự phẩn nộ của họ đã đẩy họ đến lập luận quá khích, dẫn họ đến làm khổ và sát hại người công chính: “Ta hãy gài bẩy hại người công chính, vì nó làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm luật Chúa và hạch ta không giữ lễ giáo. Ta hãy xem những lời nó nói có thật không và nghiệm xem cuối cùng nó sẽ ra sao”. Tiến trình thù ghét nầy một ngày kia được áp dụng chống lại Người Công Chính tuyệt hảo. Vì thế, sứ điệp nầy mặc lấy một khía cạnh ngôn sứ.
2. Người công chính chịu đau khổ:
“Nếu người công chính là con Thiên Chúa, thì Người sẽ phù hộ nó”.
Tước hiệu “con Thiên Chúa” là tước hiệu dân Chúa chọn, họ tự kiêu, hãnh diện vì Thiên Chúa đã công bố họ là con cái của Ngài; nhưng trong trường hợp nầy tước hiệu nầy mặc lấy một cung giọng ngôn sứ, vì đây sẽ là lý do mà Thượng Hội Đồng Do thái sẽ nại đến để kết án tử Đức Giê-su: “Người nầy tự xưng mình là Con Thiên Chúa”.
“Ta hãy lên án cho nó phải chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm”.
Những lời nầy nhắc nhớ Tv 22, mô tả người công chính bị bách hại kêu gào nỗi khốn khổ của mình nhưng cũng niềm cậy trông của mình vào Đức Chúa. Chính Thánh vịnh này mà trên Thập Giá Đức Giê-su trích dẫn: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”.
Những kẻ thù của Đức Giê-su sẽ trích cũng câu nầy đối mặt với nạn nhân của họ đang hấp hối trên thập giá: “Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 43). Tác giả sách Khôn Ngoan áp dụng những lời nầy vào dung mạo của Người Công Chính lý tưởng gần một trăm năm trước đó.
BÀI ĐỌC II (Gc 3: 16-4: 3)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Gia-cô-bê. Những lời khuyên nhũ theo hình thức của những châm ngôn nhắc nhớ cách thức của các sách minh triết Cựu Ước, nhưng mang hơi thở Tin Mừng.
Thánh Gia-cô-bê đã nhiều lần khai triển mối phúc: “Phúc thay những người nghèo khổ!”. Đoạn văn nầy minh họa một mối phúc khác, “Phúc thay ai xây dựng hòa bình!”.
Đoạn văn nầy có hai phần:
1. Phần thứ nhất (3: 16-18)
Trong phần thứ nhất, tác giả đối lập những tranh chấp gây gỗ của con người với đức khôn ngoan của Thiên Chúa, Đức khôn ngoan “làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mền dẻo, mến chuộng điều lành, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình”. Việc liệt kê dài những phẩm chất của đức khôn ngoan nhắc nhớ bài ca đức mến trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Ccô-rin-tô: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13: 4-7). Nhưng thánh Gia-cô-bê đặt dấu nhấn chủ yếu trên sự hòa bình, hòa bình dập tắt những tranh chấp cải cọ vì “người xây dựng hòa bình là người gieo giống trong hòa bình; và hoa trái họ thu hoạch được là cuộc đời công chính”.
2. Phần thứ hai (4: 1-3)
Trái ngược với đức khôn ngoan của Thiên Chúa là những xung đột ở bên trong con người, ở đó những ham muốn là nguyên do sâu xa nhất của “những hành động hung ác”. Cung giọng của tác giả trở nên khẩn thiết, văn phong được đẩy cao đến mức ngoa dụ: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột nhau, gây chiến với nhau”.
Cách diễn tả dữ dội nầy, chúng ta cũng gặp thấy thánh Gioan sử dụng trong thư thứ nhất của thánh nhân: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân” (1Ga 3: 15). Những từ ngữ và hình ảnh ở đây thuộc thể loại bút chiến.
Là Giám mục Giê-ru-sa-lem, thủ lãnh Giáo Hội Mẹ, thánh Gia-cô-bê cảm thấy mình chịu trách nhiệm về những tín hữu xa xôi của mình; thánh nhân đặt tất cả hồn tông đồ của mình trong những lời kêu gọi sống cuộc sống Ki tô hữu chân chính.
TIN MỪNG (Mc 9: 30-37)
Trong đoạn trích Tin Mừng này, ý tình đan quyện vào nhau, tâm tư tình cảm dạt dào đầy cảm xúc.
Đức Giê-su thực hiện giai đoạn sau cùng của sứ vụ Ga-li-lê của Ngài; Ngài trở lại lần cuối cùng thành Ca-phác-na-um được xem là bản doanh sứ vụ của Ngài. Từ đó, Ngài sẽ lên Giê-ru-sa-lem để bước vào con đường Tử Nạn của Ngài. Chúng ta biết rằng tại các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su chỉ lên Giê-ru-sa-lem một lần, trong khi Tin Mừng Gioan tường thuật Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem nhiều lần vào dịp các ngày đại lễ.
1. Loan báo lần thứ hai cuộc Tử Nạn và Phục Sinh.
Khi đi ngang qua miền Ga-li-lê, Đức Giê-su tránh đám đông; Ngài giới hạn giáo huấn của Ngài chỉ vào các môn đệ của Ngài. Khi Thầy trò đang đi trên đường, Ngài gợi lên lần thứ hai viễn cảnh cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài; Ngài lấy lại các từ ngữ hầu như y hệt lời loan báo thứ nhất: “Con Người sẽ bị nốp vào tay người đời”.
Động từ “nộp” ở đây có nghĩa rất mạnh, nhưng được dùng ở thể thụ động “bị nộp” muốn nói lên điều gì? Sau nầy, thánh Mác-cô sẽ vạch mặt chỉ tên những kẻ nộp Đức Giê-su để đưa Ngài đến cái chết: đó là ông Giu-đa (14: 10), các thượng tế (15: 1) và quan tổng trấn Phi-la-tô (15: 15). Tuy nhiên, đây cũng là hình thức thông dụng mà người Do thái thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân mà tránh nêu danh Người ra vì lòng tôn kính. Vì thế, cái chết của Đức Giê-su có thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra, nhưng đó không là một sự cố đơn giản xảy ra trong lịch sử. Các Ki tô hữu sẽ cắt nghĩa “điều kỳ chướng” nầy bằng cách cho thấy nó nằm trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó cũng là điều mà lời loan báo đầu tiên diễn tả: “Con người phải chịu nhiều đau khổ”.
“Vào tay người đời”, đây là diễn ngữ kinh thánh để chỉ những kẻ thù không có lòng xót thương; ở đây, diễn ngữ nầy hình thành nên một sự đối chiếu thống thiết với danh xưng “Con Người”. Với danh xưng “Con Người” nầy, Đức Giê-su nhấn mạnh nhân tính của Ngài. Như bao nhiêu con người khác, Ngài cũng biết đau khổ và sự chết đang chờ đợi Ngài, nhưng vận mệnh của Ngài được hoàn tất theo thị kiến của Đa-ni-en trong vinh quang. Vì thế, như sau lần loan báo đầu tiên về cuộc Tử Nạn của mình, Đức Giê-su lại nói thêm lời hứa về cuộc Phục Sinh của Ngài.
2. Sự cô đơn của Đức Giê-su:
Mỗi lần Chúa Giê-su loan báo rõ ràng cuộc Tử Nạn của Ngài, thánh Mác-cô đều nhấn mạnh đến “sự ngu muội” chậm hiểu của các môn đệ (8: 32; 9: 32). Các ông không hiểu, nhưng không dám hỏi Ngài; thay vì đó, các ông lại nghĩ đến việc khác. Các ông đinh ninh rằng việc đi lên Giê-ru-sa-lem lần nầy chắc hẳn Thầy mình sẽ thực hiện sứ mạng của Đấng Mê-si-a, Ngài sẽ thiết lập vương quốc của Ngài; vì thế, các ông bắt đầu tranh luận về những đặc quyền đặc lợi của họ giữa nhóm, xem ai là người lớn hơn cả.
Đức Giê-su không dự phần vào cuộc tranh luận của họ; chắc chắn Ngài đi riêng một mình: thánh Mác-cô ghi nhận rằng vào lúc loan báo lần thứ ba cuộc Tử Nạn của Ngài, “Ngài dẫn đầu các ông” (10: 32). Không ai trong nhóm Mười Hai, những người mà Ngài đã gắn bó suốt ba năm nay, hỏi Ngài về vận mệnh đau thương mà Ngài mời gọi họ dự phần vào. Nói cho cùng, ở nơi họ Ngài không gặp thấy sự đồng hội đồng thuyền với Ngài. Đây là khúc dạo đầu cho việc bỏ rơi hoàn toàn mà Ngài sẽ nhận biết vào lúc Ngài bị bắt. Chúng ta cảm thấy nỗi đau đớn của Ngài qua cách trình bày giản dị của đoạn Tin Mừng nầy.
3. Bài học về sự phục vụ:
Khi đến thành Ca-phác-na-um, vào trong nhà, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Dọc đường, anh em tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?” Các ông làm thinh, không ai dám thú nhận đề tài làm họ bận lòng. Nhưng Đức Giê-su không cần ai nói với Ngài. Vả lại, bài học mà Ngài sắp cho họ có thể giúp cho họ hiểu một cách gián tiếp những lời của Ngài mà vào giây phút nầy, họ đã không thể hiểu được: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
Với giáo huấn về sự phục vụ nầy, Đức Giê-su đả đảo ngược trật tự thông thường của phẩm trật nhân loại: ăn trên ngồi trước, hưởng những đặc quyền đặc lợi, mà Ngài đã rất dị ứng ở nơi cách sống của những người Biệt Phái. Có lần Ngài đã nói lên ý nghĩa của sứ mạng của Ngài: “Con Người đến không để được phục vụ nhưng để phục vụ”.
Đức Giê-su sẽ đưa ra một mẫu gương rõ ràng hơn nữa vào bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ, Ngài rời chỗ ngồi danh dự của Ngài, mặc bộ đồng phục kẻ hầu người hạ và cúi xuống mà rửa chân cho các môn đệ của Ngài (Ga 13: 4-16) với lời dạy rõ ràng: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13: 13-15).
Nhưng ngay từ bây giờ, Ngài ban cho họ một bài học đặc biệt, soi sáng mặc khải trên con đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường tiến về cuộc Khổ Nạn của Ngài, ở đó Ngài đích thân minh họa sứ điệp của Ngài: Ngài sẽ bị đối xử như người rốt hết và sẽ chịu khổ hình của những kẻ nô lệ. Sau điều đó, Ngài sẽ là người đầu hết, trưởng tử của một nhân loại mới. Ngài ngầm hướng tư tưởng của các môn đệ Ngài về sấm ngôn Người Tôi Trung của I-sai-a.
4. Bài học về đức khiêm hạ:
Để có thể nhổ tận gốc rể tính tự cao tự đại và tự mãn của các môn đệ Ngài, Đức Giê-su cho một ví dụ khác. Ngài đem một em nhỏ đặt giữa các ông và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em nầy vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Chúa Giê-su đối lập thế giới người lớn tự phụ và tham vọng với thế giới trẻ thơ. Trẻ thơ có nhiều đức tính mà người môn đệ của Ngài phải học: chúng biết rõ thân phận yếu đuối nhỏ bé của mình, vì thế, chúng không phô trương sự khôn ngoan và quyền hành của mình, nhưng bày tỏ một niềm tin tưởng đơn sơ và chân thành. Hơn thế nữa, trong Tin Mừng, những kẻ yếu đuối nhỏ bé lại là đàn chiên của Ngài mà Ngài tận tình chăm sóc và hy sinh mạng sống mình cho chúng (Ga 10: 11-15), đó cũng là những “chiên con” mà Ngài sẽ trao gởi cho thánh Phê-rô chăm sóc với lời căn dặn đến ba lần phải yêu mến Ngài hơn bất cứ ai (Ga 21: 15-16).
Trang Tin Mừng nầy là một trong những trang làm chứng về sự chân thật của các sách Tin Mừng. Các Tông Đồ đã không có lý lẽ để tự phụ về mình ở nơi tình tiết nầy; tuy nhiên họ đã để lại tình tiết nầy cho những thế hệ sau nầy, vì nhận ra một cách khiêm tốn tâm trí chậm hiểu và thiếu độ nhạy bén của mình.
Sức hấp dẫn và lôi cuốn của Giáo Hội Đức Ki tô không phải ở nơi việc phô trương những quyền cao chức trọng, nhưng là ở nơi thái độ khiêm tốn hạ mình xuống mà phục vụ những người anh em bé nhỏ đơn sơ chân thành. Nói cho cùng, đây là tâm tình của một gia đình, ở đó cha mẹ là người lớn nhất nhưng đã biến mình thành con sen, đứa ở để phục vụ con cái của mình.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
21-09-2009, 06:54 AM
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN
Ý lực sống của Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay có thể được gọi là “chia sẻ”.
Ds 11: 25-29
Chia sẻ những ân ban của Thần Khí hướng đến chia sẻ những trách nhiệm, mà không bất kỳ áp lực phàm nhân nào có thể giới hạn tác động của Thần Khí Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa của chuyện tích trong sách Dân số về việc tấn phong các Kỳ Mục Ít-ra-en để là những công tác viên của ông Mô-sê.
Gc 5: 1-6
Chia sẻ những của cải trong các cộng đoàn Ki tô hữu hướng đến cùng một lý tưởng của đức khó nghèo Tin Mừng, đó là lời khuyên của thánh Gia-cô-bê.
Mc 9: 38-43, 45, 47-48
Chia sẻ những ân ban Thần Khí, thậm chí bên ngoài cộng đoàn Ki tô hữu, đó là giáo huấn của Đức Giê-su trong Tin Mừng Mác-cô.
BÀI ĐỌC I (Ds 11: 25-29)
Sách Dân Số là sách thứ tư trong số năm cuốn sách của bộ Ngũ Thư; sách nầy được đặt ở giữa sách Lê-vi và sách Đệ Nhị Luật; tên sách do từ việc điều tra dân số của dân Do thái mà ông Mô-sê tiến hành trước khi rời bỏ miền Si-nai. Việc điều tra dân số chiếm trọn những trang đầu tiên.
Tiếp đó, sách tiếp tục chuyện tích về cuộc hành trình của dân Do thái qua sa mạc. Vài tình tiết, đã được tường thuật rồi trong sách Xuất Hành, được lập lại, thường với những biến thể hay những viễn cách khác. Như vậy chúng ta có hai bản văn về việc ông Mô-sê chọn những cộng tác viên để giúp đỡ ông trong công việc của mình: một bản văn “phàm trần” và một bản văn “đặc sủng”; chính bản văn thứ hai, mà chúng ta đọc ở chương 11 của sách Dân số.
1. Bản văn phàm trần:
Trong bản văn phàm trần (Xh 18: 13-26), chính bố vợ của ông Mô-sê đến gặp con rể của mình. Ông Gít-rô lo lắng khi nhận thấy ông Mô-sê đảm nhận công việc quá nặng nhọc và kiệt sức, vì thế, ông khuyên ông Mô-sê chọn “những ai là người có tài, biết kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy, không ham của bất chính, thì đặt họ làm những người chỉ huy…Họ sẽ thường trực xử kiện cho dân” (Xh 18: 21-22). Ông Mô-sê vâng theo lời khuyên nầy.
2. Bản văn đặc sủng:
Bản văn đặc sủng của sách Dân Số thuộc một nhà biên soạn khác. Ông Mô-sê phàn nàn với Thiên Chúa về công việc vất vả khó khăn mà ông đảm nhận. Việc dẫn dắt dân nầy, một dân không ngừng kêu ca ta thán, là một công việc quá nặng nề khó mà gánh vác nổi. Đức Chúa khuyên ông Mô-sê chọn cho mình những cộng tác viên ở giữa các Kỳ Mục của dân Ít-ra-en.
Những Kỳ Mục nầy là ai? Chắc chắn những tộc trưởng mà chức vụ của họ có nhiều điểm song song trong nhiều tổ chức bộ lạc của các xứ sở khác (Phi Châu, Á Châu). Ở Ít-ra-en, chúng ta mất dấu vết của định chế nầy khởi đi từ thế kỷ thứ mười hai trước Công Nguyên. Tước vị Kỳ Mục tái xuất hiện chỉ vào thời đại Ba tư, nhất là trong việc thiết lập Thượng Hội Đồng.
Ông Mô-sê chọn, nhưng chính Thiên Chúa tấn phong.
3. Việc Tấn Phong:
Cách thức Thiên Chúa tấn phong bảy mươi Kỳ Mục thật lạ lùng nhưng có ý nghĩa. Đức Chúa lấy một phần thần khí đang ngự trên ông Mô-sê mà đặt trên bảy mươi vị Kỳ Mục, cách thức nầy nhấn mạnh rằng các Kỳ Mục nầy lãnh nhận cùng một sứ mạng như ông Mô-sê và chia sẻ những trọng trách của ông, trong khi vẫn lệ thuộc ông và đường lối của ông.
“Khi thần khí ngự xuống trên các ông, các ông xuất thần như ngôn sứ”, nghĩa là cuộc tấn phong của các ông được bày tỏ bằng những dấu chỉ bên ngoài. Được thần khí chiếm đoạt, các Kỳ Mục phát ngôn, nghĩa là có những hành động như các ngôn sứ thời xưa: “xuất thần nhập định” (1Sm 10: 10-13; 19: 20-24). Hiện tượng ấy chỉ ngắn ngũi. Những cách bày tỏ theo loại nầy sẽ biến mất với truyền thống ngôn sứ lớn sau nầy. Chúng hãy ghi nhận ở đoạn văn nầy rằng những tình trạng nầy chỉ là phụ, không bao giờ do những nghi thức chè chén say sưa hay theo những phương thức đồng bóng của dân ngoại. Trường hợp Ê-li-sê cần đến âm nhạc để xuất thần ngôn sứ, vẫn cá biệt (2V 3: 15). Các ngôn sứ Ít-ra-en vẫn luôn luôn ý thức về nguồn gốc thần hứng của mình.
4. Sự tự do của thần khí:
Hai thành viên của nhóm Kỳ Mục, được ghi trong danh sách các Kỳ Mục, nhưng đã không thuộc nhóm bảy mươi có mặt tại Lều Thánh, lý do không được nêu lên. Do hờn dỗi? hay sợ trách nhiệm? Dù sao đi nữa, thần khí không quên họ, mặc dầu họ vẫn ở trong trại; các ông cũng được lãnh nhận ơn xuất thần ngôn sứ.
Một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Mô-sê. Ông Giô-suê, từng hầu ông Mô-sê từ hồi còn nhỏ, lo lắng. Những người được Đức Chúa tuyển chọn nầy đã không tham dự buỗi nhóm họp chính thức của Lều Hội Ngộ, liệu họ sẽ hành xử ơn gọi ngôn sứ mà không vâng phục ông Mô-sê chứ? Ông Mô-sê trả lời: “Phải chi Chúa ban thần khí trên toàn dân của Người để họ đều làm ngôn sứ!”.
Qua câu trả lời nầy, chúng ta hiểu ông Mô-sê, ông ước mong rằng dân nầy quá khó khăn để hướng dẫn, cần phải được thần khí thực sự ở cùng. Nếu dân để cho mình được sự khôn ngoan của Thiên Chúa hướng dẫn, họ sẽ thay đổi biết mấy!
Lời cầu chúc của ông Mô-sê đi xa hơn ước muốn tức thời của ông nhiều; lời cầu chúc nầy sẽ được lập lại trong những viễn cảnh ngôn sứ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a và ngôn sứ Ê-dê-ki-en và sẽ được ứng nghiệm một cách viên mãn vào ngày lễ Hiện Xuống (Cv 2: 16-21) và trong Giáo Hội (Ep 4: 3-4; 1Cr 12: 4-11). Tác động của Thần Khí thì không bị giới hạn vào bất cứ ranh giới nào được xem là chính thức, vì Thần Khí hoàn toàn tự do trong việc ban phát Thiên Ân của Ngài. Đây là bài học vĩ đại của đoạn văn sách Dân Số nầy; bài học nầy được Tin Mừng hôm nay xác nhận.
BÀI ĐỌC II (Gc 5: 1-6)
Đoạn trích thư của thánh Gia-cô-bê hôm nay trình bày một trong những đề tài chủ đạo: bênh vực những người nghèo và nhắc nhở lý tưởng Tin Mừng về sự nghèo khó.
Thánh Gia-cô-bê vừa mới chê bai sự khôn ngoan của thế gian (4: 13-17); bây giờ thánh nhân buộc tội những người giàu tích trữ của cải và những kẻ áp bức bốc lột những người nghèo. Thánh nhân định vị những cảnh báo của mình vào trong viễn cảnh của cuộc phán xét chung cuộc. Những lời kêu trách của ngài thì dữ dội: “Hỡi những người giàu có, các ông hãy khóc lóc than van”, những lời nầy nhắc nhớ ngôn từ của các ngôn sứ, như ngôn từ của ngôn sứ I-sai-a gởi đến cư dân Ba-by-lon: “Hãy khóc lóc than van! Vì ngày của Đức Chúa sắp đến gần”. Ý tưởng thì cũng như nhau ở đây, viễn cảnh cũng là cánh chung. Những bất hạnh đang chờ đợi những người giàu có là những bất hạnh họ phải chịu vào ngày xử án.
1. Sự phù du của nhũng giàu có.
Chất đống của cải có ích gì? Được nhìn ở trong ánh sáng của vương quốc Thiên Chúa, của cải được chất đống, được giữ cho riêng mình, tiền bạc tích trử này, là gì ? Đó là “tài sản của các ông đã hư nát, quần áo của các ông đã bị mối ăn”. Hình ảnh kinh thánh nầy rất kinh điển. Đức Giê-su đã dùng cũng những hình ảnh như vậy: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi.” (Mt 6: 19-20).
Thánh Gia-cô-bê thêm vào ở đây một sự gợi ý “vàng bạc của các ông bị rĩ sét”. Thật ra, vàng không bị oxi hóa và tiền bạc thì khá bền vững, nhưng hình ảnh thì rất mạnh: việc bị rĩ sét làm chứng, trước tòa án Thiên Chúa, về sự không chia sẻ của những giàu có.
“Các ông đã lo tích trữ làm giàu trong những ngày sau hết”, nghĩa là trong thời kỳ nầy được khai mạc bởi kỷ nguyên Thiên Sai và sẽ hoàn tất bởi ngày Quang Lâm của Chúa. Xưa kia, trong thời Cựu Ước, sự giàu có của cải có thể xem ra như lời chúc của Đức Chúa thưởng cho sự trung thành tuân giữ Lề Luật. Một phán đoán như vậy không còn có thể nữa. Vương quốc Thiên Chúa đã đến: những của cải tinh thần được dâng hiến cho con người thì khôn sánh và đòi hỏi một sự siêu thoát khỏi những của cải trần thế. Từ đó, thái độ ích kỷ của những người giàu có không chỉ là có tội, nhưng cũng là ngu xuẩn.
2. Người nghèo:
Còn thậm tệ hơn! “Các ông trở nên giàu do từ mồ hôi nước mắt của những kẻ nghèo”. Ở đây, thánh Gia-cô-bê không còn nhắm đến những nhà tài chánh hay những thương nhân, nhưng những điền chủ.
Luật đòi buộc rằng tiền lương của người thợ được trả ngày nào theo ngày đó. Vì người nghèo sống theo tiền công nhật của mình. “Chính ngày hôm ấy, anh em phải trả công cho họ, đừng để mặt trời lặn mà không trả công, vì họ nghèo khổ và nóng lòng mong đợi được trả công; như vậy họ sẽ không kêu lên Đức Chúa tố cáo anh em, và anh em sẽ không mang tội” (Đnl 24: 15).
Người giàu giữ lại tiền lương của người thợ, dù chỉ một thời gian, là phạm đến sự bất công. Hiền nhân Si-rác đã diễn tả nổi công phẩn tương tự: “Người túng nghèo còn chút bánh độ thân, ai lấy đi là kẻ hút máu. Cướp phương tiện sống của kẻ khác là giết người; đoạt lương của người làm thuê là gây đổ máu” (Hc 34: 21-22).
3. Thiên Chúa của những người nghèo khổ:
Đức Chúa, Chúa Tể hoàn vũ, là Đấng bênh vực những người cùng khổ. Thánh Gia-cô-bê đối lập thái độ của những kẻ giàu có “trên cõi đất” nầy, những kẻ khinh bĩ người nghèo và sống xa hoa vô độ với thái độ của Thiên Chúa, vua của trời đất. Giờ phán xét sẽ bất ngờ ập xuống trên họ trong khi họ “đã ăn uống linh đình, đã buông theo khoái lạc, lòng họ đã được thỏa thuê vui thú trong ngày sát sinh”. Quả thật, hình ảnh về ngày của Chúa đôi khi được diễn tả bằng hình ảnh về “ngày sát sinh”, vì Đức Chúa sẽ hủy diệt vào ngày đó mọi kẻ thù của Ngài.
Câu kết thúc của đoạn văn nầy quả thật khó hiểu. Ai là người ông chính đã bị kết án và bị giết hại bởi những người giàu có mà đã không thể cưỡng kháng lại? Người ta có thể nghĩ rằng thánh Gia-cô-bê trở lại hình ảnh của người nghèo bị tước đoạt tiền lương của mình, mà người giàu là kẻ sát nhân của họ, theo cách diễn tả của hiền nhân Si-rác. Vài người gợi ra rằng đây cốt là Đức Ki tô, những người khác cho rằng Người Công Chính nầy là Người Công Chính theo cách chung chung đối lập với những kẻ gian ác như các sách minh triết thường hay gợi lên.
Ý tưởng căn bản vẫn là vào ngày phán xét người nghèo và người công chính sẽ được Thiên Chúa báo oán.
TIN MỪNG (Mc 9: 38-43, 45, 47-48)
Trong phân đoạn Tin Mừng nầy, thánh Mác-cô tường thuật những giáo huấn khác nhau của Chúa Giê-su, ở giữa chúng chỉ có những liên hệ khá lỏng lẽo. Tuy nhiên, Đức Giê-su không đánh mất mục đích của mình: huấn luyện các môn đệ của Ngài, tức Giáo Hội tương lai của Ngài. Nỗi bận lòng đối với Giáo Hội nầy là tuyến phát triển nối kết các yếu tố xem ra rời rạc.
1. Tinh thần khoan dung rộng mở của người môn đệ Chúa Ki tô. Giáo huấn đầu tiên trong các giáo huấn nầy được khơi lên bởi câu chuyện về một sự cố: một người trừ quỷ, không thuộc nhóm các ông, đã nhân danh Đức Giê-su mà trừ quỷ. Thánh Gioan và các môn đệ khác đã cố ngăn cản, vì người đó không theo chúng ta. Thái độ bất khoan dung nầy của thánh Gioan, một trong hai anh em vừa mới được phong biệt danh là “Con của Sấm Sét” (3: 17), sau nầy chính ông là người hỏi Chúa Giê-su có muốn các ông sai lửa từ trời xuống thiêu hủy những người Sa-ma-ri, vì họ không đón tiếp Ngài cũng như nhóm Mười Hai (Lc 9: 54). Đối mặt với người trừ quỷ, thánh Gioan có cùng một phản ứng như ông Giô-suê của sách Dân Số: phải chận đứng kẻ trừ quỷ nhân danh Đức Giê-su mà không thuộc nhóm môn đệ của Ngài.
Chúa Giê-su giữ thái độ thanh thản của một bậc thầy khôn ngoan và trả lời với một lương tâm ngay lành: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy”. Nếu người nầy nhận ra quyền năng siêu nhiên của Đức Giê-su, chính rằng có nơi người ấy rồi một bước khởi đầu chấp nhận sứ điệp. Ngài truyền cho họ phải trải lòng ra tối đa với mọi kẻ không công khai thù địch họ: “Ai không chống đối chúng ta là ủng hộ chúng ta”.
Lời chú giải tốt nhất của những lời nầy chắc chắn được gặp thấy trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô: “Chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: ‘Giê-su là đồ khốn kiếp!’; cũng không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giê-su là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1Cr 12: 3).
Chúa Giê-su còn đi xa hơn khi cho họ một ví dụ: “Ai cho anh em uống một ly nước vì lẽ anh em là người của Đức Ki tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Cử chỉ của người ấy là một cử chỉ tiếp đón; người ấy bày tỏ thái độ thiện cảm rồi.
2. Thần Khí hoàn toàn tự do trong hành động:
Như vậy bài học thì rõ ràng; bài học móc nối với bài học về tình tiết của sách Dân Số. Giáo Hội không được tin rằng mình giữ độc quyền những ân ban của Thần Khí; vì Thần Khí hoàn toàn tự do trong hoạt động của Ngài.
Quả thật, ơn gọi của các ngôn sứ Cựu Ước cho chúng ta thấy điều đó. Trong Cựu Ước, ơn gọi ngôn sứ không là một định chế cha truyền con nối như định chế tư tế, nhưng là đặc sủng. Vì thế, không phải tất cả các ngôn sứ đều là các tư tế. Trong số những vị ngôn sứ bút ký thời danh, chỉ có hai người: Giê-rê-mi-a và Ê-dê-ki-en là tư tế trước khi lãnh nhận sứ vụ ngôn sứ, còn đa số còn lại đều là những con người bình thường với những nghề nghiệp khác nhau trước khi được gọi làm ngôn sứ. Trong những hoàn cảnh Thiên Chúa thấy cần lên tiếng, Ngài chọn những ngôn sứ của Ngài để thay Ngài chuyển giao sứ điệp của Ngài đến những đối tượng mà Ngài muốn. Câu trả lời của ngôn sứ A-mốt với ông A-mát-gia, tư tế đền thánh Bết-Ên cũng đủ nói lên điều đó: “Tôi không phải ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Thiên Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn súc vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi: Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en, dân Ta” (Am 7: 14-15).
Một trong những nét đặc trưng của các ngôn sứ Cựu Ước đó là, họ ý thức rất rõ họ được Chúa sai đi để chỉ nói lời Thiên Chúa không được nói lời của mình hay bất kỳ lời của ai khác. Tuy nhiên, trong bối cảnh mà các ngôn sứ giả cũng tự cho mình là phát ngôn viên của Thiên Chúa, một trong những tiêu chuẩn để phân biệt giữa ngôn sứ giả và ngôn sứ thật khiến chúng ta phải suy nghĩ: ngôn sứ thật nhân danh Thiên Chúa lên án những bất công xã hội, bênh vực những kẻ nghèo khổ, những người bị áp bức; trong khi các ngôn sứ giả lại tâng bốc bợ đỡ những kẻ có quyền có thế, những kẻ áp bức và bốc lột những người nghèo hèn cô thế. Cuộc tranh cãi giữa ông Kha-nan-gia, vị ngôn sứ giả, và ông Giê-rê-mi-a, vị ngôn sứ thật, cho thấy điều đó (Gr 28: 1-17). Chính nhờ truyền thống ngôn sứ nầy mà Do thái giáo không chỉ đóng khung trong việc tôn kính Thiên Chúa nhưng còn trong mối liên đới với anh em đồng loại của mình. Chúng ta có thể nói họ chuẩn bị con đường mặc khải viên mãn nơi giáo huấn của Đức Ki tô: “mến Chúa và yêu người là một”.
Thêm nữa, ân ban ngôn sứ đôi khi không chỉ giới hạn trong dân Chúa chọn nhưng tràn ra bên ngoài nữa như câu chuyện của ông Bi-lơ-am trong Ds 22-24. Quả thật, ngày hôm nay, chúng ta cũng gặp thấy những người, đôi khi họ không phải là những người Ki tô hữu, nhưng vì lương tâm ngay thẳng, lại xả thân bênh vực những người nghèo, lên án những bất công trong xã hội. Một cách nào đó, họ cũng đang thi hành ơn gọi ngôn sứ mà Thần Khí Chúa thúc đẩy. Nói cho cùng, Thần Khí hoàn toàn tự do trong hoạt động của Ngài như lời khẳng định của Đức Giê-su trong cuộc nói chuyện với ông Ni-cô-đê-mô: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu” (Ga 3: 8).
3. Kinh trọng những kẻ bé mọn. Nghiêm túc đối với chính mình.
Trong tất cả mọi cộng đoàn, đều có những người vững mạnh và những những người yếu nhược. “Những kẻ bé mọn đang tin đây” chắc chắn là những người mà đức tin của họ cần được soi sáng và được nâng đỡ bởi mẫu gương của những người vững mạnh trong đức tin nhất và được giáo dục nhất. Thánh Lu-ca, trong một đoạn văn sóng đôi, nói một cách giản dị: “những kẻ bé nhỏ”; qua diễn ngữ nầy, thánh ký nhấn mạnh đức khiêm tốn, tự xóa nhòa của những người khiêm hạ nầy. Dù thế nào, Đức Giê-su nhấn mạnh trách nhiệm nghiêm trọng của những người mà qua cách hành xử của mình, khiến những kẻ bé mọn đang tin đây có nguy cơ lầm đường lạc lối. Thái độ đòi buộc là một sự nghiêm túc đối với chính mình. Trong một bút pháp mãnh liệt với lối nói ngoa dụ nhắc nhớ ngôn từ của các ngôn sứ, Đức Giê-su khuyên chặt tay, chặt chân, móc mắt nếu chúng gây cớ vấp ngã của những người bé mọn đang tin nầy.
Bởi vì có gì quý giá hơn sự sống đời đời. Nếu không, giòi bọ và lửa hỏa ngục sẽ là hình phạt cho kẻ gây cớ vấp ngã; đây là hình ảnh truyền thống được dành cho cái chết tinh thần của quân vô đạo.
Việc bảo vệ những kẻ bé mọn và những người khiêm hạ cho đến tận trong đức tin mõng dòn của họ, thì rõ ràng ở trong hàng của sứ điệp Tin Mừng. Đức Giê-su phối hợp sứ điệp nầy với những yêu sách cứng rắn mà một môn đệ chân chính và đặc biệt những người hướng dẫn cộng đoàn trên con đường của Nước Trời phải bị đòi buộc.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
28-09-2009, 06:55 AM
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN (Kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi)
Trong ngày lễ kinh trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử của Đức Ma-ri-a. Chính ở nơi Tình Mẫu Tử của Đức Ma-ri-a mà Chúa Cha đã trao phó “Con Một làm người” của Ngài cho Mẹ để Mẹ nuôi dưỡng và săn sóc. Và cũng chính nơi Tình Mẫu Tử nầy mà Đức Giê-su đã trao phó cho người mẹ tuyệt vời của Ngài ân cần săn sóc Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, tức Giáo Hội mà Ngài đã mang nặng đẻ đau trên thập giá (Ga 19: 25-37).
Mỗi lần chúng ta lần tràng chuổi Mân Côi là mỗi lần chúng ta chiêm ngắm Tình Mẫu Tử tuyệt vời nầy ở nơi niềm vui thầm lặng nhưng sâu thẩm của Mẹ khi đón nhận Người Con mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ (Năm Sự Vui), ở nơi sự kết hợp của tình Mẹ với Con trên con đường khổ nạn (Năm Sự Thương), và ở nơi niềm vui vỡ òa của Mẹ khi Mẹ gặp lại Con Mẹ phục sinh để từ nay sự sống đã chiến thắng sự chết. vận mệnh của con người đã sang trang (Năm Sự Mầng).
Cv 1: 12-14
Sau khi chứng kiếnĐức Giê-su lên trời, các Tông Đồ theo lời căn dặn của Thầy trở về nhà ở Giê-ru-sa-lem: “Các ngài đã đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ và Đức Ma-ri-a thân mẫu của Đức Giê-su”. Ngay từ những bước khởi đầu của Giáo Hội tiên khởi, Đức Ma-ri-a đã ở bên và che chở Giáo Hội với trọn tấm lòng từ mẫu.
Gl 4: 4-7
Khi viết: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà”, thánh Phao-lô nhấn mạnh Con Thiên Chúa đã thực sự đảm nhận trọn vẹn thân phận con người. Lời nầy được đọc trong ánh sáng của Tin Mừng Truyền Tin hôm nay mặc khải rằng Con Thiên Chúa không sinh ra bởi bất kỳ một người đàn bà nào, nhưng là một người đàn bà được tuyển chọn, một Tình Mẫu Tử được viết hoa, kiệt tác của công trình sáng tạo người nữ.
Lc 1: 26-38
Tin Mừng là bài tường thuật biến cố Truyền Tin. Nơi Thiên Chúa chuẩn bị để Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài là cung lòng thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Đền Thờ đẹp nhất, được Thiên Chúa sủng ái nhất.
BÀI ĐỌC I (Cv 1: 12-14)
Đoạn trích của sách Công Vụ Tông Đồ nầy được định vị trong bối cảnh các Tông Đồ, sau khi chứng kiến việc Đức Giê-su khuất dạng trong đám mây trời, liền trở về Giê-ru-sa-lem. Các ông tề tựu một nơi và chuyên tâm cầu nguyện trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến như lời căn dặn của Thầy mình trước khi từ giả các ông: “Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24: 49).
1. Trở về nhà, các ông lên lầu trên.
Căn phòng được định vị ở lầu trên, là nơi các ông thường đến trọ. Lầu trên, thường là căn phòng chính trong nhà Do thái; chắc hẳn đây là phòng Tiệc Ly, nơi các ông đã dùng bữa ăn cuối cùng với Đức Giê-su. Như vậy nơi mà Đức Giê-su cử hành thánh lễ đầu tiên với các ông trước khi Ngài bước vào con đường Tử Nạn, cũng là nơi các ông chờ đợi để đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng đưa các ông vào trong sự thật của công trình cứu độ của Thầy mình.
2. Tất cả mười một Tông Đồ đều hiện diện ở đó:
Việc kể tên mười một Tông Đồ dâng hiến một nét đặc thù đáng chú ý. Trong các sách Tin Mừng, thánh Phê-rô và thánh An-rê được nêu tên trước tiên. Ở đây lại là thánh Phê-rô và thánh Gioan. Sách Công Vụ giới thiệu hai vị Tông Đồ nầy như hai trụ cột của Giáo Hội tiên khởi, thường hằng hoạt động cùng nhau.
3. Chuyên tâm cầu nguyện:
“Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện”. Thánh Lu-ca thường nhấn mạnh các tín hữu tiên khởi đồng tâm nhất trí và siêng năng cầu nguyện.
Các Tông Đồ làm Tuần Cửu Nhật chuyên tâm cầu nguyện giữa biến cố Thăng Thiên và biến cố Hiện Xuống.
4. Mấy người phụ nữ, và Đức Ma-ri-a, Thân Mẫu của Đức Giê-su:
Trong số các người phụ nữ tề tựu với các Tông Đồ, chỉ một mình Đức Mẹ được nêu tên, cùng với mối liên hệ với Đức Giê-su: “Đức Ma-ri-a, Thân Mẫu của Đức Giê-su”. Đây là lần cuối cùng trong Tân Ước kể ra Đức Trinh Nữ. Sau biến cố nầy, Mẹ sẽ không còn xuất hiện nữa, người ta không còn nói gì về Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ ở đây, giữa các Tông Đồ, là một dấu chỉ có một tầm mức vĩ đại. Đức Ma-ri-a, Mẹ đã ban cho nhân loại thân thể hữu hình của Đức Ki tô dưới quyền năng của Chúa Thánh Thần vào lúc Truyền Tin; Mẹ cũng có mặt ở đây vào lúc sinh hạ thân thể mầu nhiệm của Đức Giê-su, tức Giáo Hội, cũng dưới tác động của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống.
Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những người phụ nữ ở bên cạnh Đức Ma-ri-a cũng chính là những người phụ nữ đã ở bên cạnh Đức Mẹ đứng gần Thập Giá. Sự hiện diện của những người phụ nữ nầy gợi nhớ hoạt cảnh trên thập giá ở đó Đức Giê-su đã trao gởi Giáo Hội của Ngài cho Mẹ của Ngài làm Mẹ của Giáo Hội Ngài khi nói với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” và nói với người môn đệ Chúa yêu: “Đây là mẹ của con” (Ga 19: 26-27).
5. Anh em của Đức Giê-su.
Cùng có mặt với các Tông Đồ là “anh em” của Đức Giê-su, nghĩa là những anh em họ của Ngài. Ngôn ngữ Do thái cũng như ngôn ngữ Hy-lạp đều không có chữ đặc biệt để chỉ mức độ bà con thân thuộc nầy. Cựu Ước sử dụng cùng một từ “anh em” để chỉ mối liên hệ bà con họ hàng rộng lớn hơn: chú cháu (St 13: 8; 14: 14; 14: 16) hay bà con gần (G 19: 13-17) hoặc thậm chí bà con họ hàng xa (cf. Lv 10: 1). Trong Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô kể ra bốn người anh em họ của Đức Giê-su: ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn (Mc 6: 3).
Sự hiện diện của những bà con thân thuộc của Đức Giê-su ở phòng Tiệc Ly vào lúc nầy chứng thực thái độ của họ đã thay đổi đối với Đức Giê-su. Trước đây, thánh Gioan nói “Anh em Người không tin vào Người”; thậm chí họ không hiểu chút gì về sứ mạng của Ngài và cố tìm cách ngăn cản Ngài thi hành sứ mạng của mình nữa (Ga 7: 3-5; cf. Mt 12: 46; Mc 3: 31-35; Lc 8: 19-21).
Họ thay đổi thái độ lúc nào? Các bản văn Tân Ước không cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào. Chắc chắn họ sắp lãnh nhận Chúa Thánh Thần như các Tông Đồ và họ sẽ cho thấy niềm tin tích cực của họ. Thánh Gia-cô-bê hậu sẽ là vị lãnh tụ của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và được phúc tử đạo vào năm 62. Người kế vị thánh nhân, một ông Si-môn hay Si-mê-on nào đó, bị đóng đinh vào thời Trajan, cũng là bà con họ hàng của Chúa. Như vậy, những người bà con nghi kỵ xưa kia đều đã làm chứng về Ngài bằng máu.
BÀI ĐỌC II (Gl 4: 4-7)
Các tín hữu Ga-lát bị những người Ki tô hữu gốc Do thái làm lung lạc. Những người Ki tô hữu gốc Do thái nầy muốn đưa vào trong Ki tô giáo những nghi thức Do thái được cho là luôn luôn có giá trị, như phép cắt bì, vì thế, thánh Phao-lô chứng minh cho thấy Luật xưa là sự nô lệ, Luật mới là sự tự do. Thánh nhân sánh ví Luật Mô-sê với thời kỳ người thừa kế “phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định” (4: 2). Tuy nhiên, vai trò của Luật là tạm thời. Với Đức Giê-su, kế hoạch của Thiên Chúa đã đến hồi viên mãn, chúng ta không còn phải sống dưới chế độ của Lề Luật nữa, nhưng trong sự tự do của những người làm con cái Thiên Chúa, mà đã là con thì cũng đã là người thừa kế.
1. Con Thiên Chúa làm con của loài người (4: 4-5)
“Khi thời gian đến hồi viên mãn” : thánh Phao-lô so sánh sự bảo hộ của lề luật (4: 2) với thời điểm khi Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử để thực hiện công trình cứu độ bởi Con của Ngài là Đức Giê-su. Sự tự do của con người đã đạt được nhờ Đức Ki tô. “Thiên Chúa đã sai Con mình tới”: động từ “sai” phát triển trong Giáo Hội tiên khởi một nét nghĩa tôn giáo đặc thù: sai ai đó vào việc phục vụ Nước Trời là ban cho người đó đầy đủ uy quyền ở nơi Thiên Chúa. Ở đây cuộc sống tiền hữu của Chúa Con không được nói một cách minh nhiên, nhưng mặc nhiên.
“Sinh làm con một người đàn bà”: động từ “sinh” được dùng ở thể a-ô-rít để chỉ một “tình trạng hay một hành động đã xảy ra trong quá khứ và hoàn tất trong quá khứ”, nhằm nhấn mạnh rằng Đức Giê-su đảm nhận trọn vẹn thân phận con người cho sứ mạng của Ngài. Cách nói nầy bắt nguồn từ Cựu Ước (G 14: 1; 15: 14; 25: 4). Được sinh ra như vậy, Đức Giê-su chịu phục tòng lề luật “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.
2. Để con người trở thành con Thiên Chúa (4: 6-7).
“Để chứng thực anh em là con cái”. Giới từ “hoti” có thể hiểu theo nghĩa “vì”, và đoạn “anh em là con cái” sẽ là nền tảng cho việc sai Thánh Thần đến với người Ki tô hữu một cách nhưng không. Tuy nhiên, Rm 8: 14-17 xem ra gợi ý rằng ân ban Thánh Thần cấu thành địa vị làm con cái Thiên Chúa của người Ki tô hữu; vì thế nhiều nhà chú giải thích hiểu giới từ nầy theo nghĩa “sự kiện là”, hay “để chứng thực” hơn.
“Thánh Thần của Con”: Thánh Thần cũng là đối tượng của sứ mạng từ Chúa Cha; ở nơi khác, chính là ân ban của Chúa Con Phục Sinh. Thánh Thần của Chúa Con Phục Sinh là một nguyên lý năng động của chức năng làm con Thiên Chúa. Nhờ Ngài, người Ki tô hữu mới có thể gọi Thiên Chúa “Áp-ba, Cha ơi!” với trọn niềm xác tín tận đáy lòng. Không có Thánh Thần người Ki tô hữu sẽ không thể thốt lên tiếng kêu đầy trìu mến thân thương nầy. Vì thế, thánh Phao-lô kết luận: “Anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.
admin
28-09-2009, 06:55 AM
TIN MỪNG (Lc 1: 26-38). Hoạt cảnh “truyền tin cho Đức Ma-ri-a” nầy (1: 26-38) hình thành nên một bức tranh bộ đôi với hoạt cảnh “truyền tin cho ông Da-ca-ri-a” trước đó (1: 5-25). Nhờ kỷ thuật song đối nầy, thánh Lu-ca nêu bật hai thời kỳ: Cựu Ước và Tân Ước, hai nhân vật tinh hoa của hai thời kỳ: ông Da-ka-ri-a, vị tư tế ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và Đức Ma-ri-a, cô thôn nữ ở miền quê hẻo lánh làng Na-da-rét, và đặc biệt hai hài nhi của họ: Gioan Tẩy giả và Đức Giê-su.
1. Khung cảnh truyền tin.
Sau câu chuyển tiếp: “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng” như nhịp cầu nối của hai hoạt cảnh truyền tin, chúng ta rời bỏ đền thờ Giê-ru-sa-lem, thành đô của Do thái giáo, thuộc miền Giu-đê được xem là thuần chủng và thấy mình ở trong một ngôi nhà dân giả, thuộc thị trấn Na-da-rét nhỏ bé, khiêm hạ, của miền Ga-li-lê, được gọi “miền đất của dân ngoại”. Thay vì một đôi vợ chồng tư tế đã cao tuổi, biểu tượng của những truyền thống Ít-ra-en xưa và trung tín, bây giờ chúng ta gặp cô Ma-ri-a, đã đính hôn với chàng Giu-se, hướng đến cuộc sống hôn nhân của mình.
Hoạt cảnh truyền tin trước đó đã xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi cực thánh nhất của việc Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài. Chính ở nơi cực thánh nầy mà Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho tư tế Da-ka-ri-a, nhưng cốt để hướng đến một nơi khác còn thánh thiêng hơn, nơi Thiên Chúa chọn để ở giữa dân Ngài, đó là cung lòng của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.
Vì thế, ngay từ khởi đầu Tin Mừng của mình, thánh Lu-ca cho chúng ta thấy có một sự hoán chuyển vai trò: Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài sẽ được thay thế bởi cung lòng của Đức Trinh Nữ, nơi Thiên Chúa chọn cho Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài.
2. Lời chào của sứ thần:
Sứ thần vào nhà và chào Đức Ma-ri-a: “Hãy vui lên, hỡi bà đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà”.
“Hãy vui lên” là cách thức chào hỏi của người Hy lạp, tuy nhiên, “Hãy vui lên” cũng thuộc về diễn ngữ của các ngôn sứ, đặc biệt trong viễn cảnh thời Mê-si-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với Ngươi” (Dcr 9: 9); hay: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on…Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi” (Xp3: 14-15).
Niềm vui thời Mê-si-a nầy, chính là niềm vui mà “sứ thần Thiên Chúa” sẽ loan báo cho các mục đồng trong hoạt cảnh Giáng Sinh: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân…” (Lc 2: 10).
Như vậy lời mời gọi “hãy vui lên” được ngỏ lời với Đức Ma-ri-a là nhằm hướng lòng Đức Mẹ về thời đại Mê-si-a và chuẩn bị Đức Mẹ trước sứ điệp gây sửng sốt sau đó.
“Hỡi bà đầy ân sủng”. Đức Ma-ri-a được gọi là người đầy ân sủng hay được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt không chỉ vì Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Đức Giê-su, Con của Ngài. Suy tư thần học còn thấy ở đây lòng sủng ái đặc biệt mà Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ, “ơn vô nhiễm nguyên tội” (“được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, kể cả tội tông truyền”).
“Thiên Chúa ở cùng bà”. Lời nói trấn an nầy thường thường được gặp thấy trong Cựu Ước. Nó được ngỏ lời với những nhân vật run sợ và e ngại trước sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó cho họ, như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê như thế trong hoạt cảnh “bụi cây bốc cháy” (Xh 3: 12).
Tổng quát hơn, xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa lập lại lời nầy cho dân Ngài chọn. Lời nầy cũng chính là định nghĩa Giao Ước. Vào giây phút nầy, Đức Ma-ri-a cô động mười tám thế kỷ của việc Thiên Chúa tuyển chọn ở nơi mình. Mẹ đưa vận mệnh của dân Chúa chọn vào vận mệnh của riêng Mẹ. Mẹ là “Thiếu Nữ Xi-on” tuyệt vời. Thiên Chúa ở với Mẹ.
3. Sứ điệp về Đức Giê-su.
Cũng như ông Da-ca-ri-a, nghe những lời chào ấy, Đức Ma-ri-a hoảng sợ. Sứ thần trấn an Mẹ, đoạn xác định mặc khải của mình.
3.1- Mẹ của Đấng Ki tô (Mê-si-a).
Tên của Hài Nhi, Giê-su, nghĩa là “Đức Chúa là Đấng Cứu Độ”. Ơn cứu độ được Thiên Chúa hứa từ ngàn xưa sẽ được thực hiện qua con trẻ của Đức Ma-ri-a. Người sẽ được gọi là “Con Đấng Tối Cao” hay “Con Thiên Chúa”. Tước hiệu “Con Thiên Chúa” xảy ra chỉ ba lần trong Cựu Ước, mỗi lần đều quy chiếu đến vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít (2Sm 7: 14; Tv 2: 7; Tv 89: 27-28). Vì thế, cũng như bà Ê-li-sa-bét, Đức Ma-ri-a sẽ được thụ thai và sinh hạ một con trai, tuy nhiên, con trẻ của Đức Ma-ri-a là Đấng Mê-si-a, Đấng mà ở nơi Ngài lời hứa cho vua Đa-vít được thành tựu. Trong bối cảnh nầy, tước hiệu “Con Thiên Chúa” không có nghĩa nào khác hơn là một tước hiệu dành cho một hậu duệ của vua Đa-vít, nhưng tước hiệu nầy chuẩn bị mặc khải tiếp theo sau.
3.2- Mẹ của Con Thiên Chúa.
Một vấn đề được đặt ra và Đức Ma-ri-a đã thẳng thắng nêu lên: “Làm sao có chuyện ấy được, vì tôi không biết đến chuyện vợ chồng?”
Lời thắc mắc nầy cho thấy rằng Mẹ ý thức Lời Thiên Chúa mà sứ thần truyền đạt cho Mẹ được ứng nghiệm ngay từ bây giờ. Vì thế, Mẹ tin vào Lời Chúa nhưng Mẹ muốn niềm tin của mình được soi sáng. “Biết” là động từ kinh thánh được dùng để chỉ chuyện vợ chồng như “ông A-đam biết bà E-và. Bà đã thụ thai và sinh hạ…” (St 4: 1). Đức Ma-ri-a chưa chung sống với vị hôn phu của mình. Vấn nạn Đức Ma-ri-a nêu lên trùng khớp với bản văn của thánh Mát-thêu: “Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai…” (Mt 1: 18).
Vấn nạn nầy giúp sứ thần khai triển mặc khải của mình: “Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ phủ bóng trên bà, vì thế hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”.
Sứ thần muốn Mẹ nhớ lại vai trò của Thần Khí theo Kinh Thánh: “Thần Khí là quyền năng Thiên Chúa ban sự sống”. Vào lúc bắt đầu công trình Tạo Dựng, “Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1: 2). Qua đó, sứ thần ngầm loan báo một công trình tạo dựng mới mà Đức Ma-ri-a được mời gọi dự phần vào.
Để Đức Ma-ri-a có thể thấu hiểu rằng đây là công trình của Thiên Chúa chứ không là công trình của phàm nhân, sứ thần nói thêm: “Quyền năng Đấng Tối Cao phủ bóng trên bà”. Động từ “phủ bóng” là động từ kinh thánh, như xưa kia, trong hoang địa “đám mây phủ bóng trên Lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Xh 40: 34). Thật ý nghĩa biết bao, cũng chính thánh Lu-ca sử dụng động từ nầy để mô tả biến cố Biến Hình: “Bổng có một đám mây phủ bóng…và từ đám mây có tiếng nói rằng: Đây là Con Ta…” (Lc 9: 34). Do đó, sứ thần khẳng định: “Vì thế Hài Nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”. Ở đây, sứ thần xác định rõ ràng hơn mặc khải của mình:“Con Thiên Chúa” không là một tước hiệu được dành cho Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng là căn tính thần linh của Hài Nhi, Con của Đức Ma-ri-a.
4. Sứ điệp về Đức Ma-ri-a.
Đức Ma-ri-a không xin dấu lạ. Chính sứ thần tự mình đề nghị ban cho Mẹ một dấu lạ: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi mà cũng đã thụ thai: một người vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”, điều mà về phương diện con người không thể được. Vì thế, sứ thần chấm dứt bởi cùng những lời mà Thiên Chúa đã ngỏ lời với tổ phụ Áp-ra-ham, trước sự ngạc nhiên của ông, vì vợ ông, bà lão Sa-ra có thể sinh cho ông một cậu con trai : “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (St 18: 14).
Đây là một trong số những chủ đề xuyên suốt Tin Mừng và sách Công Vụ: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Trong hoạt cảnh trước đó, dù bà Ê-li-sa-bét son sẽ, cũng không thể ngăn cản mục đích của Thiên Chúa. Cũng như vậy đối với bà Sa-ra (St 11: 30), bà Rê-bê-ca (St 25: 21), bà Ra-ken (St 29: 31) và mẹ của ông Sam-son (Tl 13: 2). Với Đức Ma-ri-a, Mẹ của Đấng Ki tô, Con Thiên Chúa, chúng ta gặp thấy điều gì đó thậm chí còn kỳ diệu hơn nữa. Chính Thánh Thần Thiên Chúa thực hiện một công trình sáng tạo mới nơi cung lòng của Đức Nữ Trinh.
“Phủ bóng trên bà” nhắc lại Lều Hội Ngộ, nơi vinh quang Thiên Chúa cư ngụ ở giữa dân Ngài. Đức Ma-ri-a được vây phủ bởi vinh quang rạng ngời của Ngài, và Thần khí của tình yêu Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào trong lòng Mẹ. Sự sống nầy là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa đối với Đức Ma-ri-a và lời đáp trả tròn đầy của Mẹ. Chính từ mối hiệp thông thánh thiện nầy mà hài nhi được cưu mang trong cung lòng Mẹ.
Không có gì có thể ngăn cản kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Tuy nhiên, tình yêu tự nó không thể nào ép buộc được. Thiên Chúa trao ban cho Mẹ tình yêu đặc biệt của Ngài. Tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi ở nơi Mẹ, chính là tin vào tình yêu của Ngài. Đức Ma-ria tự nhận mình là “tớ nữ của Thiên Chúa”. Mẹ mở rộng tấm lòng mình để đón nhận tình yêu nầy với lời“Xin Vâng” tròn đầy. Chính vì thế qua Mẹ Thiên Chúa có thể thực hiện dự định yêu thương của Ngài cho nhân loại.
Nơi Thiên Chúa chọn để Con của Ngài đến với con người là con người của Đức Ma-ri-a, thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng trên Mẹ. Vì thế, cung lòng của Đức Nữ Trinh là Lều Hội Ngộ, là Đền Thờ đẹp nhất, là nơi cực thánh của Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
05-10-2009, 04:17 PM
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này mời gọi chúng ta suy gẫm về vấn đề vinh hoa phú quý đối chiếu với lý tưởng minh triết hay lý tưởng Tin Mừng về đức nghèo khó.Kn 7: 7-11
Bài đọc I, được trích từ sách Khôn Ngoan, ca ngợi giá trị khôn sánh của Đức Khôn Ngoan, còn quý hơn mọi vinh hoa phú quý trần thế.
Dt 4: 12-13
Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Do thái, Lời Chúa được gợi lên với tất cả quyền năng của nó: ban sự sống, chức năng xét xử; Lời Chúa xuyên thấu tận cõi thâm sâu nhất của con người chúng ta.
Mc 10: 17-30
Tin Mừng tường thuật câu chuyện một người giàu có. Đức Giê-su đề nghị anh từ bỏ của cải mà theo Ngài, nhưng anh không thể. Đức Giê-su nêu vấn đề về sự giàu có là một trở ngại trên con đường cứu độ.
BÀI ĐỌC I (Kn 7: 7-11)
Sách Khôn Ngoan được viết bằng tiếng Hy-lạp vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, bởi một người Do thái quê A-lê-xan-ri-a. Trước những nguy hiểm của việc Hy lạp hóa đang đe dọa Do thái giáo, tác giả lại tôn vinh những giá trị khôn sánh của Đức Khôn Ngoan Kinh Thánh.
Tác phẩm bao gồm ba phần. Phần thứ nhất về Đức Khôn Ngoan và vận mệnh con người; phần thứ hai về bản chất và nguồn gốc của Đức Khôn Ngoan; và phần thứ ba về hành động của Đức Khôn Ngoan trong lịch sử. Trong phần thứ hai tác phẩm của mình, tác giả, bằng hư cấu văn chương, đặt lời trên môi miệng của vua Sa-lô-mon, vị vua được truyền tụng là người khôn ngoan nhất. Đoạn văn chúng ta đọc được trích dẫn từ diễn từ của vua Sa-lô-mon. Vị quân vương vừa mới nhắc nhớ rằng ông không khác với những con người khác, ông chia sẻ thân phận con người như bao nhiêu người khác; đức khôn ngoan ở nơi vua không là một đặc sủng mà tự nhiên ông được ban cho khi trở thành quân vương: vua đã đạt được đức khôn ngoan là do thành tâm cầu nguyện.
1. Lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon.
“Tôi đã nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết; tôi đã kêu cầu, và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi”.
Việc vua Sa-lô-mon cầu xin Thiên Chúa ban cho mình sự khôn ngoan là một sự kiện truyền thống được kể ra trong sách Các Vua quyển thứ nhất (1V 3: 4-14), được nhắc lại trong sách Sử Biên quyển thứ hai (2Sb 1: 1-12) và tác giả của sách Khôn Ngoan sáng tác một đoạn văn từ câu chuyện nầy (9: 1-18). Vua Sa-lô-mon, xúc động vì được kế nghiệp thân phụ của mình là vua Đa-vít khi hãy còn tuổi niên thiếu, cầu xin Đức Chúa ban cho mình những đức tính cần thiết để hướng dẫn một dân tộc quan trọng như thế.
Sách Khôn Ngoan trình bày lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon không có trong bối cảnh gốc, nhưng theo cách riêng của mình để đánh động những đọc giả của thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên: vị vua Ít-ra-en xưa đã không có gì phải tự hào vì mình được sở hữu những ân ban của Thiên Chúa; ông phó thác sự yếu đuối của mình vào chỉ một mình Thiên Chúa đích thật, Đấng phân phát sự khôn ngoan, ngược lại với các bậc quân vương thời Hy lạp.
2. Lòng quý chuộng Đức Khôn Ngoan:
Vua Sa-lô-mon công bố lòng quý chuộng Đức Khôn Ngoan của mình. Bản văn nhắc lại câu trả lời của Đức Chúa cho vị vua trẻ theo 1V 3: 11, được tô điểm bằng những chủ đề truyền thống minh triết.
“Tôi đã trọng Đức Khôn Ngoan hơn vương trượng, ngai vàng”, nói như thế, không có nghĩa vua Sa-lô-mon đã muốn từ chối ngai vàng của vua Đa-vít, nhưng vì “vì Đức Khôn Ngoan đưa ông lên hàng vương đế”. Tác giả đã khai triển chủ đề nầy ở trên: “Như vậy, chính lòng khao khát Đức Khôn Ngoan đưa chúng ta lên hàng vương giả. Thế nên, hỡi chư vị lãnh đạo các dân, nếu chư vị quý chuộng ngai báu và vương trượng, thì hãy tôn trọng Đức Khôn Ngoan, để chư vị được trị vì mãi mãi ” (Kn 6: 20-21).
Những châm ngôn theo sau là di sản chung mà chúng ta gặp lại trong sách Châm Ngôn, sách Huấn Ca, vân vân, chưa nói đến các Thánh Vịnh. Ví dụ như “Khôn ngoan quý hơn cả trân châu, không bảo vật nào của con so sánh nổi” (Cn 3: 15) hay còn: “Hãy đón nhận lời nghiêm huấn của ta quý hơn cả bạc, hãy đón nhận tri thức quý hơn cả vàng ròng. Khôn ngoan quý hơn cả trân châu, không báu vật nào so sánh nổi” (Cn 8: 10-11).
“Tôi đã quý Đức Khôn Ngoan hơn ánh sáng”; bằng những lời nầy, vua Sa-lô-môn nhắc nhớ rằng ông đã không cầu xin Thiên Chúa một cuộc sống trường thọ. Rời bỏ cuộc sống hay rời bỏ ánh sáng là những cách nói tương đương trong văn chương kinh thánh cũng như trong văn chương của các dân tộc Đông Phương và ở Hy-lạp.
3. Thành quả của Đức Khôn Ngoan:
Trong sách Các Vua, Đức Chúa đã ca ngợi phẩm chất của lời nguyện xin của vua Sa-lô-mon; để tưởng thưởng cho vua, Ngài đã ban cho ông không chỉ Đức Khôn Ngoan nhưng mọi vinh hoa phú quý mà nhà vua đã không xin.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học gần như thế. Mến chuộng Đức Ki tô hơn sự giàu có là con đường dẫn đến Nước Trời, và “đối với những ai từ bỏ mọi sự vì Ngài và vì Tin Mừng, thì ngay ờ đời nầy sẽ nhận được gấp trăm và đời sau sẽ được hưởng sự sống đời đời ”.
BÀI ĐỌC II (Dt 4: 12-13)
Thư gởi các tín hữu Do thái được gởi đến những người Ki tô hữu gốc Do thái, họ sống xa Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và luyến nhớ các nghi lễ Cựu Ước; hơn nữa, vì những bách hại, vài người mất can đảm đã muốn bỏ rơi niềm tin Ki tô giáo của mình. Bức Thư nầy nhằm an ủi họ và tăng cường đức tin của họ.
Đoạn văn chúng ta đọc hình thành nên một phần của những lời khuyến dụ dài mời gọi hãy trung tín và kiên trì. Tác giả vừa mới gợi lên tấn thảm kịch đối với những ai bất tuân; họ đã không được chấp nhận vào Đất Hứa nhưng phải vùi thây trong sa mạc.
Vì thế, chúng ta hãy giữ mình khỏi bất trung nếu chúng ta muốn đi vào Đất Hứa đích thật, vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa: “Vậy, chúng ta hãy cố gắng vào chốn yên nghỉ nầy, kẻo có ai cũng theo gương bất trung đó mà sa ngã” (Dt 4: 11).
1. Nhân cách hóa Lời Chúa.
“Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi”. Đây không là lần đầu tiên Kinh Thánh dâng hiến cho chúng ta nhân cách hóa Lời Chúa như vậy. Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã mô tả Lời Chúa, xuống từ trời để đem lại sống cho toàn cõi thế và chỉ trở về với Ngài một khi sứ mạng đã được hoàn thành (Is 55: 10-11). Sách Đệ Nhị Luật cũng đã trình bày Lời Chúa như một sức mạnh nội tại, nguồn sống, nhưng cũng là chứng nhân lên án: “Hãy để tâm vào tất cả những lời mà hôm nay tôi cảnh báo anh em, hãy truyền những lời đó cho con cái anh em, để chúng lo đem ra thực hành tất cả những lời của Luật nầy. Thật vậy, đó không phải là một lời trống rỗng đối với anh em, mà đó là sự sống của anh em, và nhờ lời ấy, anh em sẽ được sống trên đất mà anh em sắp qua sông để chiếm hữu” (Đnl 32: 46-47).
2. Chức năng xét xử của Lời Chúa.
Lời Chúa được nêu lên như vậy vì Lời Chúa có chức năng giáo huấn. Tác giả của thư gởi tín hữu Do thái chuyển từ Lời Chúa có chức năng giáo huấn đến Lời Chúa có chức năng xét xử, đây không phải là một ví dụ độc nhất. Thánh Gioan cũng chuyển dời viễn cảnh như vậy: “Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Ga 12: 48).
Tác giả thư gởi các tín hữu Do thái so sánh Lời Chúa với thanh gươm hai lưỡi; không cốt là thanh gươm Công Lý, mà sách Khải Huyền trang bị cho Con Người vào ngày tận thế, vào ngày Chung Thẩm (Kh 1: 16; 19: 15). Từ ngữ gợi lên một dụng cụ của nhà giải phẩu, như một con dao mổ, Lời Chúa “xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó là lời phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người”. Cuối cùng, tác giả đồng hóa Lời Chúa với chính Thiên Chúa: “Vì không có loài thụ tạo nào mà không hiện rõ ra trước lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ”.
Đây là lời cảnh báo nghiêm khắc được gởi đến cho các Ki tô hữu mà đức tin của họ đang chao đảo, nhưng tác giả ngay tức khắc liên kết vị Thượng Tế biết cảm thương, là Đức Ki tô với những nỗi yếu hèn của chúng ta.
TIN MỪNG (Mc 10: 17-30)
Câu chuyện về một người giàu có nầy đều được cả ba Tin Mừng nhất lãm tường thuật, bởi vì đây là dịp thuận tiện, là cơ hội dể thấy mà Đức Giê-su lợi dụng để minh họa bài học kiểu mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài. Cả ba đều đã cho bài trình thuật của mình tính cách xúc động và thống thiết, nét đặc trưng rất dể thấy tại Mác-cô.
Đức Giê-su vừa lên đường về Giê-ru-sa-lem bằng cách băng qua thung lũng của sông Gio-đan, thì “có một người chạy đến”. Thánh Mác-cô thích làm sinh động những bài trình thuật của mình bởi những động từ chuyển động; ở đây, chi tiết nầy có giá trị của nó: nó chỉ ra sự hối hã và thiện chí, chuẩn bị tương phản với thái độ sau cùng.
1. Sự sống đời đời:
“Sự sống đời đời” là diễn ngữ then chốt của toàn bộ câu chuyện nầy; nó được nêu lên ngay từ đầu với câu hỏi mà người nầy nêu lên và ở cuối với câu trả lời của Đức Giê-su. Đây không chỉ là một ví dụ điển hình về kỷ thuật văn chương đóng khung, nhưng còn định vị tấm thảm kịch sắp diễn ra trong chiều kích cốt yếu của nó. Vấn đề về những mối tương quan giữa người Ki tô hữu và của cải được đặt ra tùy thuộc vào vấn đề cốt yếu nầy: cuộc sống tương lai; vì thế, các môn đệ xao động tận đáy lòng.
Nỗi ưu tư của người nầy phù hợp với những nỗi bận lòng của những môi trường đạo hạnh Do thái giáo ở đó người ta tranh luận về những viễn cảnh cánh chung: sự sống đời đời, chính là gia nghiệp mà Thiên Chúa hứa vào thời tận thế. Phải làm gì để đảm bảo sự sống đời đời?
Người nầy ca ngợi Ngài “Thưa Thầy nhân lành” với một cử chỉ hết mực cung kính: “quỳ xuống trước mặt Người”. Thái độ nầy làm chứng rằng Đức Giê-su nổi tiếng là một vị kinh sư đặc biệt và người nầy tin rằng chỉ có Ngài mới có thể ban cho ông những lời khuyên có giá trị.
Tại sao Đức Giê-su thoái thác phẩm chất “nhân lành” nầy, trong khi lòng nhân hậu của Ngài thì hiển nhiên? Nếu không để hướng tâm trí của người đối thoại về Đấng là nguồn mạch của mọi lòng nhân hậu? Nếu Đức Giê-su thì nhân hậu, chính vì Ngài đón nhận lòng nhân hậu từ Thiên Chúa. Tại Mát-thêu, sắc thái thì hơi khác. Chàng thanh niên hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?”. Đức Giê-su đáp: “Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi” (Mt 19: 16). Tại các thánh ký có mối bận lòng là không quên thân phận con người của Đức Giê-su, nhất là tại Mác-cô.
Sau khi đã hiệu chính, Đức Giê-su sắp trả lời một cách tích cực, như minh chứng rằng: “Tôi không đến hủy bỏ, nhưng kiện toàn Lề Luật”.
2. Lời kêu gọi kép được gởi đến cho người giàu có:
Thập Giới là nền tảng hàng đầu của Lề Luật. Đức Giê-su chỉ trích dẫn phần thứ hai của Thập Giới, phần liên quan đến những bổn phận đối với anh em đồng loại của mình. Như thế, đối với Đức Giê-su, thực thi giới luật mà Đức Chúa đã truyền dạy là con đường bình thường và đầy đủ để đạt đến “sự sống đời đời”. Người này mau mắn trả lời: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ”. Điều nầy chứng tỏ tấm lòng thành tâm thiện chí của anh trên con đường khao khát sự sống đời đời. Câu trả của anh gây ấn tượng mạnh nơi Đức Giê-su. Mác-cô là thánh ký duy nhất cung cấp chi tiết cảm động nầy: “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”.
Đối với con người thành tâm thiện chí nầy, Đức Giê-su đề nghị đi xa hơn trên con đường sự sống đời đời: “Hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Sau đó, hãy đến theo tôi”. Đây không chỉ là tinh thần siêu thoát mà Đức Giê-su đòi hỏi anh, nhưng một sự từ bỏ của cải để đạt cho bằng được: “kho tàng trên trời”. Đây là theo cách Thiên Chúa. Đối với ai muốn bước đi trên con đường nhân đức, Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi thêm nữa. Những ai Thiên Chúa đem lòng yêu mến, Ngài không để cho kẻ ấy sống trong một cuộc sống tầm thườngnhư bao nhiêu người khác. Thiên Chúa đã xử sự với các ngôn sứ của Ngài như vậy; Đức Giê-su hành xử với các môn đệ của Ngài cũng theo một cách như vậy. Nhưng “nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”. Chỉ mãi đến lúc nầy chúng ta mới biết được người ấy rất giàu và chính sự giàu có đã ngăn cản không cho anh tích cực đáp lại tiếng gọi trở thành môn đệ của Đức Giê-su.
Tuy nhiên, lý tưởng của sự nghèo khó không xa lạ gì đối với Do thái giáo; các ngôn sứ đã ca ngợi lý tưởng nầy; họ đã công kích những kẻ giàu có; họ đã công bố ơn cứu độ của Ít-ra-en nhờ một nhóm nhỏ còn lại, bị tước đoạt tất cả, chỉ còn lại một niềm tin tưởng vào Đức Chúa…tuy nhiên, vẫn hiện diện trong tâm thức ý tưởng Thiên Chúa hứa ban muôn vàn của cải như phần thưởng cho ai trung thành tuân giữ Lề Luật. Vì thế, ở nơi người Do thái trung thành với luật Mô-sê ngay từ khi còn bé nầy chúng ta gặp thấy lý tưởng của những người Do thái đạo hạnh, họ lấy Thập Giới làm quy luật sống để hướng tới “sự sống đời đời” là kho tàng Thiên Chúa hứa ban cho dân Ngài.
Còn ở đây, Chúa Giê-su được trình bày như là Đấng Mê-si-a đến mặc khải một lý tưởng còn cao hơn lý tưởng của dân Ít-ra-en: “Anh chỉ còn thiếu có một điều”: trung thành với giới luật của Thiên Chúa thì chưa đủ, còn phải bước theo Đấng mà Thiên Chúa sai đến. Trọng tâm của câu chuyện nầy không phải hệ tại ở việc từ bỏ của cải nhưng là gắn bó với Đức Giê-su, yêu mến Ngài trên tất cả. Chúng ta đừng quên rằng câu chuyện về ơn gọi bất thành nầy được ghi lại trên con đường Đức Giê-su quyết liệt tiến về cuộc khổ nạn của Ngài. Như vậy, đức tin Ki tô giáo vừa kiện toàn vừa hoàn tất đức tin Do thái giáo. Người ta không thể trở thành người Ki tô hữu nếu không xem Đức Giê-su là trung tâm và là cứu cánh cuộc đời của mình được. Như một người gặp được viên ngọc quý hay kho tàng chôn dấu trong ruộng, người ta sẳn sàng đánh đổi tất cả để sở hữu cho bằng được Ngài như lời của thánh Phao-lô: “Ai có thể tách tôi ra khỏi lòng mến đối với Đức Ki tô”.
3. Lời mời gọi được gởi đến với mọi người:
“Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh”. Đây là một ghi nhận đặc trưng của thánh Mác-cô (3: 5; 5: 32; 9: 8; 10: 23; 11: 11). Đây không nhằm chi tiết điểm tô; ý nghĩa của nó thì rõ ràng: Đức Giê-su ngỏ lời với dân chúng, chắc chắn đám đông vây quanh Ngài, nhưng không được kể ra, và đám đông vô hình của những Ki tô hữu của mọi thời: “Những người có của mà vào được Nước Thiên Chúa, thật khó biết bao!”.
Vì các môn đệ hết sức kinh ngạc, Đức Giê-su lập lại đến hai lần lời cảnh giác của Ngài: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa, thật khó biết bao!”.
Việc sánh ví với con lạc đà chui qua lổ kim còn dể hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa là một kiểu nói khoa trương Đông Phương để kích thích sự chú ý. Sự giàu có là một trở ngại trên con đường cứu độ. Đức Giê-su đã nói rồi: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6: 24). Sự cố mà các môn đệ đã chứng kiến mang đến một bằng chứng tỏ tường.
“Thế thì ai có thể được cứu?”, các môn đệ nêu lên câu hỏi nầy không vì những người gắn bó với của cải thì đầy dẫy chung quanh họ, nhưng họ sửng sốt bởi những lời nghiêm khắc của Thầy mình. Đức Giê-su trấn an họ bằng cách khai mở tâm trí của họ vào mầu nhiệm Thiên Chúa, không có gì là không thể đối với Thiên Chúa, mầu nhiệm ân sủng, mầu nhiệm của lòng xót thương…
Thánh Lu-ca tường thuật câu chuyện của ông Da-kêu không xa mấy sau câu chuyện nầy, như vậy cho một ví dụ về ơn cứu độ của một người giàu có. Ông Da-kêu đã không bao giờ nghĩ bố thí một phần của cải của mình cho những người nghèo, nếu Đức Giê-su đã không viếng thăm gia đình của ông. Vấn đề là câu trả lời của con người trước việc Thiên Chúa đi bước trước.
4. Một phần thưởng kép?
Các tông đồ không thể không so sánh thái độ của họ với thái độ của người giàu có nầy: họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài; ông Phê-rô nhân danh tất cả môn đệ nhắc lại điều đó.
Đức Giê-su trả lời khi nêu lên hai loại phần thưởng: phần thưởng được ban cho “bây giờ, ngay ở đời nầy” và phần thưởng được ban cho trong thế giới tương lai: “sự sống đời đời”.
Có lẽ phải hiểu một chuỗi những phần thưởng đầu tiên theo nghĩa đen. Chắc chắn, ai từ bỏ các người thân yêu và của cải quý giá của mình vì Đức Giê-su, người ấy sẽ gặp thấy ở lòng cộng đoàn Ki tô hữu, một đại gia đình. Nhưng lời giải thích tinh thần thì có vẻ thật hơn; thánh Mác-cô xem ra hiểu như vậy bởi vì thánh ký đặt sự bách hại giữa những phần thưởng trần thế.
Chính ở nơi những của cải nầy mà những Ki tô hữu đã sở hữu rồi, thánh Phao-lô ám chỉ đến khi thánh nhân viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “…coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 6: 10).
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
12-10-2009, 06:52 AM
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN (Chúa Nhật Truyền Giáo)
Mỗi người Ki tô hữu phải là nhà truyền giáo, vì đó là bản chất của Giáo Hội. Khi nói về công việc truyền giáo, chúng ta thường nghĩ ngay đến việc loan báo Tin Mừng. Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay xác định cho chúng ta nội dung của việc loan báo Tin Mừng được cô động ở nơi lời phát biểu của Đức Giê-su: “Con Người không đến để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Nếu công việc truyền giáo được định nghĩa theo truyền thống Đông Phương “kể cho nhau nghe cuộc đời của Đức Ki tô”, thì mỗi người Ki tô hữu phải kể về cuộc đời của Đức Giê-su cho anh chị em mình không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc sống của mình, nghĩa là, tự đặt mình vào trong tình liên đới với những anh chị em chung quanh mình, biến cuộc đời mình thành cuộc đời phục vụ và những đau khổ của mình thành giá cứu chuộc muôn người. Đó là lời loan báo Tin Mừng cụ thể nhất, sống động nhất và hữu hiệu nhất.
Trong tuyến phát triển của Tin Mừng Mác-cô, chúng ta theo Đức Giê-su trên bước đường lên Giê-ru-sa-lem của Ngài, ở đó cái chết đang chờ đợi Ngài. Viễn cảnh Thương Khó ở trung tâm của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay; hai trong số ba bài đọc: bài đọc I và bài đọc II, được mượn ở Thứ Sáu Tuần Thánh.
Is 53: 10-11
Bài đọc I được trích từ bài thơ về Người Tôi Trung chịu đau khổ. Những khốn cùng và cái chết của Người Tôi Trung đã được Thiên Chúa chấp thuận như hiến lễ xóa tội, nhờ đó muôn người nên công chính.
Dt 4: 14-16
Bài đọc II, cũng là một trong những bản văn của Thứ Sáu Tuần Thánh, được trích dẫn từ thư gởi các tín hữu Do thái. Tác giả chứng minh ở nơi Đức Giê-su vị Thượng Tế đầy lòng cảm thương, Ngài đã tự mình liên đới với nhân loại, cho đến mức chịu đau khổ và chịu chết để đưa con người đến bên lờng xót thương của Thiên Chúa.
Mc 10: 35-45
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su trả lời cho những tham vọng của hai anh em nhà Dê-bê-đê và cho tất các môn đệ của Ngài nữa, bằng cách phác họa chân dung người tôi tớ lý tưởng, biến cuộc đời mình thành đời phục vụ và những đau khổ của mình thành giá chuộc cho muôn người.
BÀI ĐỌC I (Is 53: 10-11)
Đoạn văn này được trích từ bài ca thứ tư về Người Tôi Trung đau khổ, trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Bài thơ nầy mô tả số phận của một người tôi trung mầu nhiệm của Đức Chúa: chịu đau khổ và bị giết chết, đoạn được tôn vinh, số phận tương tự với số phận của Đức Ki tô, một tiên trưng đầy cảm động về số phận của Ngài.
1. Hy lễ của vị ngôn sứ:
Người thuật chuyện, chắc chắn chính là vị ngôn sứ, hoàn tất suy niệm của mình về số phận đau thương của Người Tôi Trung bởi một ước nguyện mà ông ngỏ lời với Đức Chúa: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu”.
“Kẻ nối dõi” chắc chắn có cùng một ý nghĩa như trong nhiều đoạn văn Cựu Ước, tức là hậu duệ của tổ phụ Áp-ra-ham, chính xác hơn, đông đảo những người tín hữu được hưởng nhờ qua việc Người Tôi Trung hiến thân mình làm của lễ đền tội.
Người “sẽ được trường tồn” (cũng như xa hơn: “Người sẽ nhìn thấy ánh sáng”) có thể được hiểu ngầm ám chỉ đến sự “phục sinh”.
2. Lời đáp trả của Đức Chúa:
Lúc đó, Đức Chúa trả lời cho vị ngôn sứ bằng cách hứa ban một số phận vinh quang cho Người Tôi Trung của Ngài, vì những đau khổ mà ông đã phải hứng chịu, và nhờ ông gánh lấy tội lỗi của muôn dân mà họ được nên công chính và thánh thiện.
Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su sẽ tự đồng hóa mình với “người tôi tớ”, “Ngài đến để phục vụ” và Ngài sẽ lập lại bằng những từ ngữ tương tự: “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”.
BÀI ĐỌC II (Dt 4: 14-16)
Bài đọc II tiếp tục trích thư gởi các tín hữu Do thái. Trong đoạn trích trước, tác giả ngôi vị hóa Lời Chúa: Lời Chúa thấu suốt lòng trí của chúng ta, xét xử tận cõi thâm sâu của tiếng nói lương tâm mỗi người chúng ta. Tiếp đó, trong đọan văn hôm nay, tác giả mang đến một viễn cảnh trấn an: Đức Ki tô là Đấng chuyển cầu lý tưởng của chúng ta, vì Ngài “thông cảm được những nỗi yếu hèn của chúng ta; vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội”. Ngài là vị Thượng Tế tuyệt vời; Ngài đã không đơn giản băng qua Đền Thờ Giê-ru-sa-lem để đi vào nơi Cực Thánh – như vị Thượng Tế Cựu Ước – Ngài đã băng qua các tầng trời để tiến đến ngai Thiên Chúa và dẫn đưa chúng ta theo Ngài đến tận đây; vì thế, chính nhờ Ngài mà chúng ta nhận được nguồn ân sủng để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.
Lời chuyển cầu đầy quyền năng của Đức Ki tô có nguồn ơn ở nơi những đau khổ mà Ngài đã chấp nhận hứng chịu khi mặc lấy thân phận con người. Bản văn âm vang bài đọc I và loan báo bài học mà Đức Giê-su cho các môn đệ Ngài trong Tin Mừng.
TIN MỪNG (Mc 10: 35-45)
Cuộc vận động của hai anh em nhà Dê-bê-đê, Gia-cô-bê và Gioan, được Mác-cô và Mát-thêu thuật lại (thánh Mát-thêu quy cuộc vận động nầy cho bà mẹ của họ). Cả hai thánh ký đều đặt tình tiết nầy ngay liền sau lời loan báo thứ ba của Đức Giê-su về cuộc Thương Khó của Ngài. Lời loan báo thứ ba nầy thì chính xác hơn hai lần loan báo trước; Đức Giê-su kể ra: Ngài sẽ phải chịu những lời nhạo báng, nhục mạ, đánh đòn và bị giết chết.
Thánh ký đã không ghi nhận bất kỳ phản ứng nào của các môn đệ, ngoài việc họ im lặng, không hiểu và chắc chắn cũng sợ hãi nữa. Ngay trước lời loan báo thứ ba về cuộc Thương Khó của Ngài này, thánh Mác-cô viết: “Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi” (Mc 10: 32).
1. Phản ứng của các môn đệ:
Cứ mỗi lần Đức Giê-su loan báo về cuộc Thương Khó và Tử Nạn sắp đến của mình, các môn đệ của Ngài luôn luôn tìm cách xua đuổi khỏi tâm trí của mình những hình ảnh đau thương và lại nghĩ đến những vấn đề về quyền hành, chức tước, bổng lộc. Sau lời loan báo thứ nhất, ông Phê-rô tìm cách ngăn cản Ngài và Chúa Giê-su yêu cầu các bạn hữu Ngài hãy từ bỏ chính mình để theo Ngài (8: 31-9: 1). Sau lời loan báo thứ hai, họ bày tỏ một thái độ hoàn toàn hờ hững đối với những lời bi thảm của Thầy mà chỉ tranh nhau về những đặc quyền đặc lợi giữa họ. Lúc đó, Chúa Giê-su đã mạnh mẽ đòi hỏi họ phải tự hạ mình “làm người phục vụ mọi người”. Sau lời loan báo thứ ba nầy, sự tương phản cũng không kém dữ dội: hai trong số họ có tham vọng riêng của mình.
2. Hai anh em nhà Dê-bê-đê:
Hai ông Gia-cô-bê và Gioan là những người thợ được gọi vào giờ thứ nhất: hai ông đã là đối tượng được chú ý một cách đặc biệt: Đức Giê-su đã chấp nhận hai ông cùng với thánh Phê-rô được tham dự vào cuộc phục sinh của bé gái ông Gia-ia; Ngài đã còn dẫn hai ông cùng với thánh Phê-rô theo Ngài lên núi Biến Hình: chỉ hai ông cùng với thánh Phê-rô Đức Giê-su đã đặt tên mới Bô-a-nê-ghê, nghĩa là “con của thiên lôi” (Mc 3: 17); sau nầy, chỉ hai ông cùng thánh Phê-rô và thánh An-rê, hỏi riêng Ngài khi nào thì Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá và những điềm báo nào về hồi chung cuộc (Mc 13: 3). Cuối cùng, chỉ hai anh em nầy cùng với thánh Phê-rô sẽ chứng kiến cơn xao xuyến tận mức của Ngài tại vườn Ghết-sê-ma-ni. Chắc chắn hai người con của ông Dê-bê-đê đã được hưởng sự gần gũi thân tình với Đức Giê-su hơn các môn đệ khác; họ mong muốn được tiếp tục sự thâm giao nầy trong Nước Chúa và chiếm những chỗ thân tình nhất bên cạnh Thầy mình. Quả thật, đầy tham vọng, họ sẳn sàng chịu đựng tất cả để đạt cho bằng được những chỗ ưu tiên nầy; nhưng dù thế nào, lòng yêu mến của họ và sự ngây thơ của họ khiến chúng ta cảm động. Liệu họ có thể đoán được rằng những chỗ mà họ thỉnh cầu trước hết sẽ là hai chỗ của hai tên cướp bị đóng đinh bên cạnh Thầy mình không?
3. Được chia xẻ cùng số phận với Ngài:
Đức Giê-su hứa với họ, họ sẽ dự phần vào vận mệnh đau khổ của Ngài: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu”. “Chén” để uống là hình ảnh kinh thánh được dùng để tượng trưng những đau khổ phải chịu (Tv 75: 9; Is 51: 17-22; vân vân). Diễn ngữ “uống cạn chén” đồng nghĩa các thử thách phải chịu. Vào những giờ phút xao xuyến tận mức trong vườn Ghết-xê-ma-ni, chính Đức Giê-su sẽ nài xin Cha Ngài: “Xin cất chén nầy xa con” (14: 36). Còn về phép rửa mà Ngài sắp chịu, đó là những giờ phút cam go, những giờ phút Ngài sắp phải bị dìm ngập trong những cơn sóng đau khổ và cái chết bi thảm. Ngài sẽ chuẩn bị cho hai anh em những bách hại và phúc tử đạo; nhưng Ngài tự chối lời thỉnh nguyện của họ được ngồi bên hữu bên tả của Ngài, bởi vì đó không thuộc thẩm quyền của Ngài; vai trò của Ngài thì khác: “Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3: 17). Các môn đệ chỉ có một cách hành xử phải theo: phó thác vào bàn tay của Chúa Cha.
4. Lý tưởng phục vụ:
Lời thỉnh cầu của hai anh em nhà Dê-bê-đê đã dấy lên một làn sóng tranh dành quyền cao chức trọng giữa các môn đệ, vốn đã tiềm tàng từ lâu trong lòng họ, nhưng chưa có cơ hội để bộc phát. Đức Giê-su đã hiểu rõ rằng các ông còn nghĩ đến một vương quốc trần thế mà họ tin triều đại nầy sắp đến gần. Với một sự kiên nhẫn vô tận, không gây thất vọng cho họ, Ngài lấy lại giáo huấn của Ngài về sự thay đổi tận căn của những giá trị mà Ngài đến để thực hiện:“Ai muốn làm môn đệ của Ngài, không có tham vọng nào khác ngoài tham vọng phục vụ”. Ngài muốn Giáo Hội của Ngài không được bắt chước những xã hội trần thế. Nếu những kẻ quyền cao chức trọng trong xã hội trần thế được hưởng những đặc quyền đặc lợi, được ăn trên ngồi trước, được kẻ hầu người hạ, thì trong Giáo Hội của Ngài “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em”.
Để làm cho rõ nghĩa lý tưởng “phục vụ” nầy, Đức Giê-su còn bổ túc thêm: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”. Trong bất kỳ xã hội nào, đầy tớ là hạng người thấp kém nhất và ai cũng biết người đầy tớ phải làm những gì rồi: lắng nghe để khám phá những nhu cầu của những người khác mà tìm cách đáp ứng. Một nhà tư tưởng đã viết: “Nét tinh tế nhất của tình yêu, chính là nhận ra nhu cầu của kẻ khác”. Hơn nữa, việc phục vụ không chỉ dừng lại trong vòng anh em của mình, hay cho một tiểu số nào, mà phải trải rộng cho hết “mọi người”.
Như vậy, bài học thật sống động cụ thể, nhưng còn trở nên sống động và cụ thể hơn nữa khi được rút ra từ chính cuộc đời của Đức Giê-su: “Con Người không đến để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Những từ ngữ nầy được mượn ở nơi hình ảnh của Người Tôi Trung đau khổ mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã tiên báo trong bài đọc I. Chúa Giê-su sẽ trao ban mạng sống của mình “làm giá cứu chuộc”, nghĩa là Ngài sẽ phải trả giá cho mọi tội lỗi của nhân loại, không trừ một ai hết.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
18-10-2009, 06:42 PM
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN
Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay nêu bật một chủ đề duy nhất: tấm lòng của Thiên Chúa đối với sự khốn cùng của nhân loại.
Gr 31: 7-9
Bài đọc I được trích từ sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Vị ngôn sứ ca ngợi tấm lòng ưu ái của Đức Chúa; khi đã quyết định dẫn đưa những người lưu đày trở về quê cha đất tổ, Ngài bày tỏ tình phụ tử đối với họ.
Dt 5: 1-6
Thư gởi tín hữu Do thái phác họa chân dung vị Thượng Tế Tân Ước biết cảm thương qua dung mạo của vị thượng tế Cựu Ước. Đức Giê-su là vị Thượng Tế thập toàn vì Ngài là Con Thiên Chúa.
Mc 10: 46-52
Thánh Mác-cô tường thuật việc anh mù thành Giê-ri-cô được nhìn thấy. Đức Giê-su đã lắng nghe lời khẩn cầu đầy lòng tin của anh và đã đáp trả ước nguyện của anh.
BÀI ĐỌC I (Gr 31: 7-9)
Bản văn nầy được trích từ chương 31 tác phẩm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Chương 31 nầy liên kết với chương 30 trước đó để hình thành nên một đơn vị. Đây là một trong những bản văn cảm động nhất mà vị ngôn sứ đã viết để ca ngợi tấm lòng ưu ái của Thiên Chúa.
1. Bối cảnh:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thực thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem vào khoảng những năm 626-587 trước Công Nguyên. Ông đã chứng kiến những năm tháng bi thương của đồng bào ông dưới gót dày xâm lược của đế quốc Ba-by-lon, nào cảnh nước mất nhà tan, cảnh hoang tàn đổ nát của thành thánh và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đây là thảm họa mà ông có sứ mạng loan báo, nhưng đã không thuyết phục được đồng bào của ông.
Trước khi những biến cố bi thảm nầy xảy đến, ông đã trải qua một thời kỳ hạnh phúc dưới triều đại của vua Giô-si-gia-hu (522-509 BC.); chính từ thời kỳ nầy mà bản văn đầy hân hoan nầy được viết; cốt yếu liên quan đến những dân cư Ga-li-lê và Sa-ma-ri. Những miền này vào thế kỷ trước đó đã bị đế quốc Át-sua chiếm đóng; một phần dân cư đã bị dẫn đi lưu đày. Ấy vậy, đế quốc Át-sua trở nên suy yếu và bị đe dọa. Nhờ thế, vua Giô-si-gia-hu mới có thể trải rộng quyền hành của mình trên toàn cõi đất nước.
2. Giấc mơ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a tràn đầy hy vọng. Phải chăng giờ phục hưng Ít-ra-en và thống nhất dân Thiên Chúa đã điểm? Ông mơ ước, vì ít ra một sấm ngôn về giấc mơ được miêu tả ở 30 và 31: 1-22. Tấm lòng nhạy cảm của Giê-rê-mi-a cùng chung nhịp với tấm lòng của Thiên Chúa; vị ngôn sứ phác họa niềm cảm xúc của Đức Chúa trước cảnh khốn cùng của con cái Ngài (30: 1-11); chắc chắn Ngài đã trừng trị họ vì những lỗi phạm của họ (30: 11, 15), nhưng Ngài không bao giờ ngừng yêu thương họ “bằng mối tình muôn thuở” (31: 3). Và Giê-rê-mi-a tưởng tượng Đức Chúa kêu mời muôn dân: “Reo lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân!”. “Đứng đầu chư dân” vì dân này đã được Thiên Chúa tách riêng ra giữa chư dân và được Ngài rất mực yêu thương.
“Nào loan tin, ca ngợi và công bố: Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn lại của Ít-ra-en”. “Số còn lại của Ít-ra-en” nhắm đặc biệt hơn đến những người đã chịu sự thử thách của cuộc lưu đày; số còn lại nầy sẽ như một chất xúc tác đối với toàn dân Chúa chọn. Cũng danh xưng nầy sẽ được ban cho những người lưu đày ở Ba-by-lon vào thế kỷ theo sau.
3. Ngày trở về:
“Nầy Ta đưa chúng từ đất Bắc trở về”: đây là cách nói kinh điển để chỉ ách thống trị của ngoại bang, dù đế quốc Át-sua hay đế quốc Ba-by-lon. “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng”. Ngay cả những kẻ yếu nhược nhất, thông thường không thể tự mình trở về, Đức Chúa sẽ an ủi và nâng đỡ để không một ai vấp ngã trên đường, vì Đức Chúa là Người Cha tận tình săn sóc: “Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng”. “Ép-ra-im chính là con trưởng”: tên “Ép-ra-im” được dùng để chỉ toàn bộ các chi tộc phương Bắc và “con trưởng” để chỉ đứa con rất mực yêu dấu.
Giấc mơ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không được thực hiện. Đế quốc Ba-by-lon đã thay thế đế quốc Át-sua; cảnh đời nô dịch nầy thay thế cảnh đời nô dịch khác. Vì thế, những viễn cảnh của vị ngôn sứ chỉ được ứng nghiệm vào thời kỳ lưu đày Ba-by-lon sáu mươi năm sau: Chính cho những người lưu đày Ba-by-lon nầy mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị sẽ lấy lại và khai triển những chủ đề của vị tiền nhiệm mình.
Tuy nhiên, ngôn sứ Giê-rê-mi-a, trong trực giác sâu xa của mình, đã không bị đánh lừa. Khi mô tả tình phụ tử của Thiên Chúa: cảm thương thân phận con cái của Ngài, nhân loại vừa tội lỗi vừa đau khổ, vị ngôn sứ đã cho giấc mơ của mình một tầm mức mà chính ông không thể ngờ được, một tầm mức Mê-si-a.
BÀI ĐỌC II (Dt 5: 1-6)
Trọng tâm của thư gởi các tín hữu Do thái là sứ vụ của Đức Ki tô được xem như một vị Thượng Tế thập toàn và vô cùng siêu vượt trên vị thượng tế Cựu Ước.
Hai khía cạnh cốt yếu tiêu biểu chức tư tế: một mặt, vị thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm; mặt khác, ông là người của Thiên Chúa, vai trò của ông là vai trò trung gian giữa con người và Thiên Chúa.
Dưới ánh sáng của sự đòi hỏi kép nầy, tác giả thiết lập một sự đối chiếu giữa chức tư tế của vị thượng tế Cựu Ước và chức tư tế của Đức Ki tô, ở nơi sứ vụ đầy lòng xót thương đối với con người yếu đuối và tội lỗi.
1. Vị thượng tế Cựu Ước biết cảm thương:
Tác giả nhấn mạnh những phẩm chất phàm nhân của vị thượng tế: là một con người, ông chia sẻ những yếu đuối của con người; ông lại càng cảm thương hơn nữa đối với những tội lỗi của họ mà chính ông cũng là một tội nhân: “Mà vì yếu đuối, nên ông phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy”.
Nhưng không ai có thể tự phong cho mình quyền là người của Thiên Chúa, nhưng phải lãnh nhận chức vị nầy từ chính Thiên Chúa. Thật ra, chức tư tế Cựu Ước là một chức vụ cha truyền con nối. Thiên Chúa đã gọi ông A-ha-ron một lần cho tất cả, hàm chứa ở đây hậu duệ của ông (Xh 28: 1 và Lv 18: 1-13).
2. Đức Ki tô, vị Thượng Tế Tân Ước:
Tác giả sẽ đối lập vị thượng tế biết cảm thương của Cựu Ước với Đức Ki tô, vị thượng tế biết cảm thương của Tân Ước. Ông tiến hành theo trật tự đảo ngược khi bắt đầu gợi lên lễ tấn phong của Đức Giê-su, lễ tấn phong mặc hai khía cạnh:
- Đức Ki tô là một vị Thượng Tế có phẩm chất khôn sánh, vì Ngài là Con Thiên Chúa.
- Đức Ki tô là vị Thượng Tế không theo phẩm trật A-ha-ron, nhưng theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.
Khi bắt đầu gợi lên tính siêu việt của chức tư tế Đức Ki tô, tác giả thư gởi tín hữu Do thái lưu ý rằng Đức Ki tô là vị Thượng Tế biết cảm thương tuyệt vời vì Ngài là vị Trung Gian trực tiếp của lòng xót thương Thiên Chúa; chức tư tế độc nhất vô nhị của Ngài diển tả một chuyển động từ trên xuống: chuyển động của Tình Phụ Tử Thiên Chúa đối với con người.
Quả thật, chính sáng kiến của Chúa Cha mà Chúa Con nhận được lễ tấn phong của mình: Tv 2 được trích dẫn để làm bằng chứng: “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con”. Thánh Vịnh nầy là một Thánh Vịnh phong vương. Vào ngày phong vương, thời quân chủ Đa-vít, vị tân vương được công bố là Thiên Tử. Tước hiệu Thiên Tử của vị tân vương là biểu tượng, tước hiệu Thiên Tử của Đức Ki tô là đích thực; tước hiệu nầy hàm chứa cuộc Nhập Thể (“Cha đã sinh ra con”) nhưng cũng là tính cách vương đế của chức tư tế Đức Giê-su. Đức Ki tô vừa là vua vừa là tư tế, như vậy làm trọn giấc mơ Mê-si-a tuyệt vời.
3. Vị Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê:
Đức Giê-su không thuộc chi tộc Lê-vi; Ngài không thể tự nhận mình là tư tế theo luật Mô-sê. Chức tư tế của Ngài thuộc phẩm trật khác, phẩm trật Men-ki-xê-đê.
Men-ki-xê-đê là một nhân vật huyền nhiệm mà sách Sáng Thế nói về ông (14: 18-20). Ông vừa là “vua thành Sa-lem” (xem ra thành Giê-ru-sa-lem tương lai) vừa là “tư tế của Thiên Chúa Tối Cao”; ông đã chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và đại diện vị tổ phụ, ông tiến dâng bánh và rượu lên Thiên Chúa; còn ông Áp-ra-ham biếu con người của Thiên Chúa nầy một phần mười chiến lợi phẩm của mình.
Truyền thống đối lập chức tư tế A-ha-ron với chức tư tế Men-ki-xê-đê với, một chức tư tế không giới hạn, không lai lịch, chức tư tế muôn đời, thuộc nguồn gốc từ trời. Chính ở nơi khuôn mẫu của chức tư tế Men-ki-xê-đê nầy mà Tv 110 quy chiếu đến: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men Ki-xê-đê” (Tv 110: 4). Thánh Vịnh này cũng là một Thánh Vịnh phong vương và phóng chiếu dung mạo của vị thượng tế lý tưởng trong tương lai, vì thế, Thánh Vịnh nầy có một cung giọng Mê-si-a. Những sấm ngôn nầy được ứng nghiệm nơi Đức Ki tô. Đức Ki tô là vị Thượng Tế biết cảm thương, Ngài thực thi chức năng trung gian của Ngài muôn đời bên cạnh Chúa Cha.
TIN MỪNG (Mc 10: 46-52)
Việc chữa lành anh mù thành Giê-ri-cô được cả ba sách Tin Mừng nhất lãm thuật lại (tại Mát-thêu, có đến hai người mù được chữa lành). Câu chuyện nầy có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi vì nó đóng chức năng như bản lề giữa lời loan báo thứ ba về cuộc Thương Khó và cuộc khải hoàn của Đức Giê-su vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.
1. Bối cảnh:
Chúa Giê-su rời thung lũng sông Gio-đan và trực chỉ về thành thánh Giê-ru-sa-lem, bằng qua thành Giê-ri-cô. Giê-ri-cô là một trong những thành phố cổ xưa nhất miền Pha-lệ-tinh; những cuộc khai quật cho thấy nhiều di tích tường thành niên biểu lên đến thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên. Đây cũng là một trong những ốc đảo xanh tươi nhất ở dưới chân của những ngọn đồi khô cằn sa mạc Giu-đê. Vua Hê-rô-đê và triều thần của ông đã xây dựng nơi nghĩ đông ở đây.
Chính ở thành Giê-ri-cô nầy mà vào thời điểm lễ Vượt Qua những người hành hương từ Pê-rê và miền Thập Tỉnh quy tụ lại trước khi lên thành thánh Giê-ru-sa-lem, cách đó khoảng hai mươi sáu cây số. Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua; nếu đám đông quy tụ đông đúc chung quanh họ, như thánh ký ghi nhận, chính thật ra vì ngày đại lễ nầy sắp đến: thành Giê-ri-cô đông đúc các khách hành hương rồi.
Thánh Mác-cô và thánh Lu-ca nói khi Đức Giê-su ra khỏi thành Giê-ri-cô, còn thánh Lu-ca nói khi Đức Giê-su đến gần thành Giê-ri-cô, có một người mù “đang ngồi ăn xin bên vệ đường”.
2. Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh mù thành Giê-ri-cô:
Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh mù thành Giê-ri-cô được mô tả một cách sinh động và ngoạn mục. Mọi người đang lũ lượt kéo nhau đi trong khi anh ngồi mà lại ngồi một mình bên vệ đường. Tư thế này diễn tả cảnh ngộ của anh, anh hoàn toàn bị gạt ra ngoài cuộc sống, bị khai trừ khỏi cộng đoàn đang hoạt động nhộn nhịp chung quanh anh. Tuy nhiên, anh không cam chịu hoàn cảnh bị khai trừ của mình. Anh lắng nghe dư luận quần chúng mà biết rằng Đức Giê-su đang đi qua đây, vì thế, lòng anh tràn đầy hy vọng. Chắc chắn anh đã nghe nói về việc ông Giê-su Na-da-rét nầy đã chữa lành nhiều người mù. Vì thế, anh kêu gào hết sức mình, và bạo dạn gọi Đức Giê-su “Con vua Đa-vít”, tước hiệu của Đấng Mê-si-a mà dân chúng từ lâu mong đợi (2Sm 7: 1-17). Nhiều người quát nạt bảo anh im đi. Không thể loại trừ những yếu tố thù nghịch trà trộn trong đám đông, có thể có vài người Biệt Phái lắm chứ, họ không thể chịu nỗi bất cứ ai áp dụng tước hiệu “Con Thiên Chúa” nầy cho Đức Giê-su. Nhưng mặc kệ, không chịu thua cuộc, anh mù lại càng kêu to hơn nữa át cả những lời quát tháo ngăm đe bảo anh im đi.
Đức Giê-su cứ để mặc anh mù kêu to tước hiệu Mê-si-a mà không ngăn cản anh phải im lặng như trước đây nữa. Thời kỳ nầy đã qua, thời Ngài đã cố giữ mầu nhiệm chung quanh con người của Ngài để tránh những giải thích sai lạc về vai trò Mê-si-a của Ngài. Bây giờ Ngài đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường mặc khải tuyệt mức tước hiệu Mê-si-a của Ngài ở nơi biến cố Tử Nạn và Phục Sinh. Giờ của sự thật đã điểm. Chẳng bao lâu nữa dân thành Giê-ru-sa-lem sẽ tung hô Ngài dưới tước hiệu nầy.
3. Đức tin của anh mù thành Giê-ri-cô:
Đức Giê-su không thể nào làm ngơ trước những tiếng kêu đầy niềm tin vào Ngài của anh mù thành Giê-ri-cô nầy được, vì thế, Ngài dừng bước và nói: “Gọi anh ta lại đây!”. Một lần nữa, Đức Giê-su biểu lộ cho thấy Ngài muốn liên lụy đến những kẻ mà người ta khăng khăng muốn khai trừ, loại bỏ. Đám đông tức khắc thay đổi thái độ và còn khuyến khích anh mù: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”.
Như thử mình đã được nhìn thấy rồi vậy, “anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su”. Trong Kinh Thánh, y phục tượng trưng cho nhân cách người mặc nó. “Vất áo choàng” chính là vất thân phận bị khai trừ của mình. “Áo choàng” còn là của cải duy nhất mà người nghèo có (Xh 22: 25-26). Khi vất áo choàng, anh đã bỏ tất cả những gì anh có mà đến với Đức Giê-su, lời đáp trả mà Đức Giê-su đã mong đợi nhưng không gặp thấy ở nơi chàng thanh niên giàu có. “Đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giê-su” trong khi mắt vẫn mù, thì đúng là thái độ của đức tin.
Khi diện đối diện với anh mù, Ngài hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Dĩ nhiên, Đức Giê-su biết rõ ước muốn của anh, nhưng Ngài luôn luôn trọng tự do của những người đến gặp Ngài, vì thế Ngài muốn anh phải tự mình nói lên ước nguyện của mình: “Rabbouni, xin cho tôi nhìn thấy được”. Thánh Mác-cô đã gìn giữ từ A-ram nầy. Khi ngỏ lời với thầy mình, các môn đệ Do thái thường gọi đơn giản: “Rabbi” (“Thưa Thầy”). Còn ở đây, từ “Rabbouni” mang một sắc thái đầy kính trọng và thân ái hơn, nghĩa là “Thưa Tôn Sư của tôi” hay “Thưa Ngài của tôi”.
4. Anh mù đón nhận nhiều hơn anh ước mong:
Anh mù được nhìn thấy ngay tức khắc do lời của Đức Giê-su: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”. Lời của Đức Giê-su mang lấy một chiều kích sâu xa bất ngờ đối với anh mù cũng như đối với đám đông vây quanh. Lệnh truyền “Anh hãy đi” hàm chứa một sứ mạng. Thay vì “lòng tin của anh đã chữa lành anh”, Đức Giê-su lại nói với anh: “lòng tin của anh đã cứu anh!”, nghĩa là, nhờ đức tin, Đức Giê-su không chỉ cứu chữa anh khỏi đôi mắt mù lòa của thể xác, mà còn ban cho anh được ơn cứu độ mà Ngài đem đến nữa.
Anh mù không chỉ được sáng mắt mà còn sáng cả cõi lòng trước sứ điệp Tin Mừng: “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi”. Rõ ràng đây là dáng dấp của người môn đệ của Đức Giê-su. Động từ “đi theo” diễn tả lời đáp trả của anh trước động từ “gọi” ở nơi môi miệng của Chúa Giê-su: “Gọi anh ta lại đây!” và ở nơi lời công bố của đám đông: “Người gọi anh đấy!”. Đức Giê-su đã gọi anh mù ăn xin thành Giê-ri-cô, như Ngài đã gọi các môn đệ khác, “họ đã đi theo Ngài” (1: 18; 2: 14). Xem ra anh mù Ba-ti-mê đã trở thành môn đệ của Ngài, và chắc chắn vì lý do đó mà tên anh đã vẫn lưu lại trong ký ức của các Ki tô hữu tiên khởi.
Như vậy, câu chuyện anh mù thành Giê-ri-cô là dịp làm chứng về đức tin đầy tâm huyết và kiên vững trái ngược với thái độ không hiểu và cứng tin của các Tông Đồ; câu chuyện nầy cũng đã đánh dấu việc vén mở bí mật Mê-si-a, chuẩn bị cho việc dân chúng hân hoan đón tiếp Ngài vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.
Một lần nữa, chúng ta thấy nghệ thuật kể chuyện của Mác-cô đã đạt đến độ hoàn hảo. Trong bốn tác giả Tin Mừng, thánh Mác-cô là người kể chuyện với nhiều chi tiết sinh động nhất và phong phú nhất.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
25-10-2009, 09:14 PM
LỄ CHƯ THÁNH
Vào ngày đại lễ Chư Thánh, Giáo Hội công bố đức tin của mình vào cuộc sống mai hậu. Giáo Hội ca ngợi đoàn người đông đảo không tài nào đếm được, họ vui hưởng cuộc sống chan chứa bình an và ngập tràn ánh sáng bên cạnh Thiên Chúa. Đối với những ai đang lữ hành trên trần thế nầy, Giáo Hội đề nghị “các mối phúc thật” sẽ đưa dẫn họ về cuộc sống đời đời nầy. Ngày lễ Chư Thánh là ngày đại lễ của niềm hy vọng.Kh 7: 2-4, 9-14
Bài đọc I, được trích từ sách Khải Huyền của thánh Gioan, miêu tả một đoàn người không kể siết cử hành phụng vụ hùng vĩ tràn đầy niềm vui và bày tỏ tâm tình cảm tạ và tri ân trước ngai Thiên Chúa.
1Ga 3: 1-3
Trong thư thứ nhất của mình, thánh Gioan nhắc nhở vận mệnh của người Ki tô hữu: trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, họ được mời gọi nên giống với Người Con Một, Đức Giê-su Ki tô, và vì thế, dự phần vào vinh quang của Ngài.
Mt 5: 1-12
Trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su công bố “các mối phúc thật”, bản Hiến Chương Nước Trời.
BÀI ĐỌC I (Kh 7: 2-4, 9-14)
Bài đọc I được trích từ sách Khải Huyền của thánh Gioan miêu tả một đoàn người đông đúc không tài nào đếm nổi vui hưởng nhan thánh Chúa và niềm hoan lạc thiên quốc. Lễ Chư Thánh được mừng trước Lễ Các Đẳng hình thành nên bộ đôi diễn tả niềm hy vọng của mỗi người Ki tô hữu.
1. Bối cảnh:
Bối cảnh thật kỳ lạ. Nhà thị kiến diễn tả những xuất thần của mình bằng thể loại văn chương khải huyền. Thể loại văn chương nầy đã được tác giả sách Đa-ni-en khai mạc vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên. Tác giả nầy được gợi hứng từ các vị tiền nhiệm của mình, đặc biệt các thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, từ đó sách Khải Huyền Gioan mượn một số lượng biểu tượng của mình.
Tuy nhiên, giữa khải huyền của thế kỷ thứ hai và thứ nhất trước Công Nguyên (thể loại nầy nở rộ) và khải huyền của Gioan, có một sự khác biệt vô tận; kỷ nguyên Mê-si-a được loan báo bây giờ đã xảy ra. Thời Mê-si-a đã đi vào trong Lịch Sử; từ đây, nó đã chiếu soi kỷ nguyên cánh chung. Trong sách Khải Huyền của Gioan, một dung mạo ngự trị: dung mạo Con Chiên, hình ảnh của Đức Ki tô. Con Chiên vẫn mang những vết thương hy tế của mình, nhưng là Con Chiên khải hoàn. Như vậy viễn cảnh mở ra niềm hy vọng, niềm hy vọng nầy không còn là một ước mơ nhưng một sự thật: mọi lời hứa đã được ứng nghiệm.
Sách Đa-ni-en được viết vào thời kỳ bách hại của Antiochus Epiphane, khoảng năm 175-164 trước Công Nguyên, để an ủi dân Do thái trong thử thách. Cũng vậy, sách Khải Huyền của Gioan được viết vào thời kỳ bách hại của hoàng đế Rô-ma, Domitien, cuối thế kỷ thứ nhất (91-96) - vài phần có thể được đặt vào niên biểu của cuộc bách hại dưới thời hoàng đế Nê-ron (64-68) - cũng nhằm mục đích tương tự: gởi đến cho các Ki tô hữu sứ điệp chứa chan hy vọng, cho họ thoáng thấy niềm hoan lạc thiên quốc, vì niềm hy vọng nầy thật đáng phải chịu những đau khổ kể cả sự chết.
Sách Khải Huyền là một cuốn sách mã hóa: các tín hữu bị bách hại có thể đọc và chuyền tay nhau mà không phải sợ những kẻ bách hại mình đọc được. Rô-ma không bao giờ được nêu tên, nó được gọi dưới biệt hiệu Ba-by-lon hay Con Thú, hay Con Điếm hoặc số 666 (con số 666 dường như tương ứng với Nê-ron Xê-da theo cách tính số của mẫu tự Do thái. Về giá trị biểu tượng, con số nầy muốn nói lên sự bất toàn tận căn, đối lập với con số 7 chỉ sự hoàn hảo). Nhưng cũng vì thế, chúng ta không thể nào giải mã tất cả. Tác phẩm tiên báo cuộc sụp đổ của đế quốc Rô-ma, cuộc khải hoàn của Giáo Hội và miêu tả những viễn cảnh của thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc.
2. Hai viễn cảnh:
Bản văn mà chúng ta đọc hôm nay trình bày hai viễn cảnh nối tiếp nhau: viễn cảnh thứ nhất xảy ra trên mặt đất, gợi ra Giáo Hội đang chịu cảnh gian nan khốn khó và ơn cứu độ của những người công chính ở giữa những gian truân nầy. Viễn cảnh thứ hai là phụng vụ tạ ơn ở trên trời được cử hành bởi một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc đủ mọi dân, mọi nước.
2.1- Những nỗi gian truân trên trần thế (7: 2-4):
Để hiểu ý nghĩa của thị kiến thứ nhất nầy, phải đặt nó trở lại vào trong bối cảnh lịch sử của nó.
- Thời kỳ bách hại:
Những Ki tô hữu bị bách hại đã tự hỏi là những nỗi khốn cùng nầy sẽ kéo dài cho đến khi nào? Khi nào những kẻ bách hại bị trừng trị? Nhà thị kiến rõ ràng nêu lên những vấn đề nầy, và trả lời trong chương 6: 9-11, trước đoạn trích của chúng ta: “Tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng. Họ lớn tiếng kêu: ‘Lạy Cha chí thánh và chân thật, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải nền nợ máu chúng con?’ Bấy giờ mỗi người trong số họ được lãnh một áo trắng; và có lời phán bảo họ cứ nghỉ yên một thời gian ngắn nữa, chờ cho đủ số những người cũng là tôi tớ Thiên Chúa và là anh em của họ, sắp bị giết như họ” .
Như vậy, những Ki tô hữu được báo trước: thời kỳ bách hại không chấm dứt. Nhưng giờ trừng phạt của những ác nhân sẽ đến. Những tai ương khủng khiếp được loan báo trong viễn cảnh khải huyền về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vào thời cánh chung: chiến tranh, nạn đói, ôn dịch, động đất xảy đến trước khi Thiên Chúa xét xử.
- Thời kỳ cứu độ:
Tuy nhiên, các Ki tô hữu không phải lo lắng, vì Con Chiên cứu độ ngự trên ngai xét xử muôn dân. Những người công chính sẽ được Ngài đóng ấn.
“Tôi lại thấy một thiên thần khác, mang ấn của Thiên Chúa hằng sống, từ phía mặt trời mọc đi lên”. Đây là biểu tượng kinh điển: chính từ phía mặt trời mọc nầy mà ánh sáng và sự sống đến, trong khi phía Tây là dấu chỉ của bóng tối và sự chết.
Hình tượng “ấn” được mượn từ Ed 9: 4: “Hãy rảo khắp thành, khắp Giê-ru-sa-lem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành”. Xuất xứ của đề tài nầy còn xa hơn nữa, từ sách Xuất Hành, trong đó sứ thần hủy diệt, lãnh sứ mạng gieo rắc các tai ương khắp xứ Ai-cập, trừ các nhà của dân Do thái, được bôi máu con chiên vượt qua trên khung cửa.
Ấn tín được ghi trên trán các Ki tô hữu thì khác, thuộc thực tại tâm linh. Thánh Gioan dùng từ “ấn tín” theo tiếng Hy-lạp mà không xác định. Chắc chắn đọc giả của ông biết ấn tín cốt là gì: thuật ngữ nầy được dùng để chỉ Phép Rửa ngay từ thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Ý nghĩa của nó xuất hiện rồi trong thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô (1: 21-22) và trong mạch văn Ba Ngôi.
Như vậy, qua mật mã và các biểu tượng nầy, những Ki tô hữu bị bách hại được mời gọi nhớ lại rằng họ được Thiên Chúa đóng ấn, vì thế họ thuộc về gia đình đông đúc sở hữu những đảm bảo của ơn cứu độ đời đời.
Con số những người được đóng ấn là 144.000 người. Rõ tàng 144.000 là con số biểu tượng. 144 là tổng số của 12 x 12, để chỉ con số viên mãn, được nhân lên gấp ngàn lần: 144.000, con số viên mãn vô tận. 12 chi tộc là 12 chi tộc của dân Ít-ra-en mới, 12 Tông Đồ tiếp tục sự nghiệp của 12 người con của Gia-cóp / Ít-ra-en.
Trong viễn cảnh của mình, truyền thống khải huyền có thói quen lồng vào với nhau quá khứ, hiện tại và tương lai. Ở đây Giáo Hội, đương đầu với “quyền phá hoại đất trời”, đó là Giáo Hội muôn đời, đối mặt với biết bao gian nan thử thách, nhưng được Thiên Chúa bảo vệ và che chở.
2.2- Phụng vụ cảm tạ và tri ân trên trời (7: 9-14):
Viễn cảnh thứ hai là việc tham dự trước thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, được mô tả ở phần cuối sách. Sau khi đã loan báo những tai ương sắp xảy đến, ngay từ bây giờ cần phải mang đến một sứ điệp chứa chan hy vọng.
- Một đoàn người đông đảo:
Một đoàn người thật đông không tài nào đếm được của thị kiến thứ hai nầy phải chăng cũng là một đoàn người được đóng ấn biểu tượng bởi con số 144.000 của thị kiến thứ nhất, hay nhà thị kiến đồng thời đã thoáng thấy một đoàn người công chính, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước mọi ngôn ngữ, đã thuộc về thân thể mầu nhiệm của Giáo Hội? Dù thế nào, “chiều kích ơn cứu độ phổ quát” được hàm chứa trong việc mô tả nầy, như trước đây: “…Ngài đã bị giết và lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân…” (5: 9-10).
Chỗ danh dự được ban cho những ai đã được phúc tử đạo: “Họ đứng trước ngai Thiên Chúa và trước Con Chiên”. “Họ mặc chiếc áo trắng”, biểu tượng của sự vô tội và vinh quang; “tay cầm nhành lá thiên tuế”, biểu tượng của sự khải hoàn; “họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao”, bởi vì “họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên”.
Phụng vụ thiên quốc nầy rất trang trọng. Những người được tuyển chọn công bố rằng ơn cứu độ của họ phát xuất từ Thiên Chúa và Con Chiên. Các thiên thần và những nhân vật khác đều phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô: “A-men! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! A-men!” (chúng ta gặp thấy một tán tụng ca tương tự ở 5: 12).
Chúng ta ghi nhận rằng Thiên Chúa không được miêu tả ngoại trừ “ngai” chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, được bao quanh bởi triều thần bao gồm các thiên thần, Kỳ Mục và bốn Con Vật.
- Hai mươi bốn Kỳ Mục:
Ở chương 4, hai mươi bốn Kỳ Mục được trình bày đang ngồi trên các ngai, mình mặc áo trắng, đầu đội triều thiên bằng vàng. Họ có chức năng vừa tư tế vừa vương đế. Họ ngồi bên cạnh ngai Thiên Chúa. Đây không là thiên thần nhưng là những con người. Ở Ít-ra-en, tước hiệu Kỳ Mục được ban cho các thủ lãnh của dân (70 Kỳ Mục bên cạnh ông Mô-sê), cho những vị hữu trách của các hội đường và cho một phần thành viên của Đại Hội Đồng. Trong Giáo Hội tiên khởi, đây cũng là tước hiệu dành cho các người hữu trách của các cộng đoàn Ki tô hữu. Ý nghĩa của họ vẫn mầu nhiệm.
- Bốn Con Vật:
Bốn Con Vật kỳ bí nầy cũng được miêu tả ở chương 4: “Con Vật thứ nhất giống như sư tử, Con Vật thứ hai giống như bò tơ, Con Vật thứ ba có mặt như mặt người, Con Vật thứ bốn giống như đại bàng đang bay. Bốn Con Vật ấy, mỗi con có sáu cánh, chung quanh và bên trong đầy những mắt” (4: 7-8).
Những dung mạo nầy được gợi hứng từ thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en (Ed 1: 5-21). Xuất xứ của chúng là từ Ba-by-lon. Bốn bức tượng của bốn con vật thần thoại canh giữ cung đìện Ba-by-lon. Đó là các Karibu (ngữ căn của từ “chérubin”), các sinh vật đầu người, mình sư tử, chân bò rừng và cánh đại bàng, bốn biểu tượng của sức mạnh và quyền năng. Trong thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, những sinh vật lai tạp nầy được thắng vào xe của Đức Chúa, diễn tả sự siêu việt của Thiên Chúa Ít-ra-en.
Bốn Con Vật của sách Khải Huyền lấy lại bốn biểu tuợng, được phân phối trên bốn con vật tách biệt. Chúng cũng được gộp vào trong một thị kiến về Thiên Chúa ngự trên ngai tòa vinh quang của Ngài, nhưng ý nghĩa của chúng thì hơi khác. Bốn con vật gợi lên bốn phương trời, nói chính xác hơn, số bốn là số của vũ trụ (biểu tượng của nghệ thuật và kiến trúc tôn giáo). Chúng biểu thị sự vĩ đại, sức mạnh, sự hoàn thiện của công trình sáng tạo và sự toàn tri của Thiên Chúa trong công trình của Ngài (chung quanh và bên trong đầy những mắt); chúng được đồng hóa với các thiên thần, ngày đêm không ngừng ca ngợi kỳ công sáng tạo của Ngài.
Chúng ta biết rằng thánh I-rê-nê thành Ly-on đã thấy trong bốn Con Vật nầy biểu tượng bốn tác giả Tin Mừng, việc giải thích của thánh nhân đã xuất hiện trong tranh thánh Ki tô giáo. Thị kiến được hoàn tất với việc gợi lên niềm hoan lạc của những người được tuyển chọn: “Và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt của họ.
BÀI ĐỌC II (1Ga 3: 1-3)
Đoạn văn nầy được trích từ thư thứ nhất của thánh Gioan tập trung vào một chủ đề duy nhất: “nghĩa tử của Thiên Chúa”. Người Ki tô là con cái của Thiên Chúa ngay từ bây giờ, nhờ tình yêu của Chúa Cha, nhưng nghĩa tử nầy sẽ trở nên viên mãn chỉ khi chúng ta nên giống với Đức Ki tô vào ngày quang lâm của Ngài.
1. Nghĩa tử của Thiên Chúa.
“Thiên Chúa là Tình Yêu”, đó là chủ đề cốt yếu của thần học Gioan. Thánh Gioan ngây ngất trước điều kỳ diệu nầy: Chúa Cha yêu thương chúng ta đến nổi chúng ta được gọi là con cái của Ngài. Đây không là một tước hiệu mà Ngài ban thưởng cho chúng ta, nhưng một thực tại thâm sâu: “thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. Theo văn hóa Sê-mít, danh xưng diễn tả chân lý thâm sâu của con người: như vậy Chúa Cha yêu thương chúng ta đến nổi liên kết chúng ta với Con Một của Ngài khi gọi chúng ta là “con của Ngài”. Phẩm chất nầy làm cho chúng ta khác với thế gian: đó là lý do tại sao “thế gian không nhận biết chúng ta”. Những lời nầy xem ra vang dội lời của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài, được tường thuật chính xác trong Tin Mừng Gioan: “Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15: 19).
Toàn bộ bức thư nầy được xây dựng theo cách phản đề. Cuộc sống Ki tô hữu đối lập với cuộc sống của những người không tin hay những người theo lạc giáo. Ở đây, phản đề bao phủ một phạm vi rộng lớn: thế gian, theo nghĩa tiêu cực, là thế giới tội lỗi “đã không nhận biết Thiên Chúa”.
2. Sự biến đổi trong tương lai.
Đoạn trích nầy có thể đặt nhan đề: “từ phép rửa tội đến sự biến đổi”. Chúng ta được biến đổi rồi bởi cuộc sống con cái Thiên Chúa, nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu tiên. Việc chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa chỉ thành tựu viên mãn khi chúng ta nên giống như Con Một của Ngài vào thời cánh chung. Bản văn như muốn nói rằng việc chiêm ngắm vinh quang của Người Con Một sẽ biến đổi chúng ta. Đó không là ý tưởng vì việc chúng ta được thay hình đổi dạng đã được ươm mầm rồi ở nơi phẩm chất Nghĩa Tử của chúng ta.
Lời khẳng định của vị tông đồ là một lời khẳng định của đức tin, nhưng cũng dựa trên kinh nghiệm: thánh Gioan đã là chứng nhân của cuộc Biến Hình, xem ra được ám chỉ trong lời Tựa Ngôn của Tin Mừng Gioan: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” (Ga 1: 14).
Chúng ta cũng gặp thấy sự biến đổi tương lai nầy trong thư của thánh Phao-lô gởi cho giáo đoàn Phi-líp-phê: “Còn chúng ta, quê hương của chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki tô từ trời xuống cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3: 20-21).
(xem tiếp) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=8267&page=4)
admin
25-10-2009, 09:15 PM
TIN MỪNG (Mt 5: 1-12) Tin Mừng hôm nay được trích từ bài diễn từ đầu tiên trong loạt năm bài diễn từ hình thành nên cấu trúc của Tin Mừng Mát-thêu. Bài diễn từ đầu tiên nầy bao gồm các chương 5 đến 7, bắt đầu với Các Mối Phúc (5 : 3-12) được kèm theo hai lời khuyến dụ mời gọi các tín hữu hãy trở nên « muối cho đời » và « ánh sáng cho trần gian » (5 : 13-16). Tin Mừng hôm nay chỉ trích dẫn các Mối Phúc.
Trong khi Lu-ca đặt bối cảnh của bài diễn từ các Mối Phúc “trên đồng bằng” (Lc 6: 17), Mát-thêu đặt bối cảnh “trên núi” (5: 1-2) nên còn được gọi « Bài Giảng trên núi ». Núi là nơi thuận tiện cho những mặc khải thần linh. Chính trên núi Si-nai Thiên Chúa ban Lề Luật cho dân Ngài qua ông Mô-sê (cf. Xh 24: 1-2, 9). Chính cũng trên núi Ga-li-lê Chúa Giê-su đích thân ban “các Mối Phúc” với uy quyền của Ngài. Nhưng đó không là Lề luật, càng không phải là những huấn lệnh: Đức Giê-su đề xuất những cách sống mở lối vào Nước Trời, vì chúng cho phép họ hành xử như con cái đích thật của Thiên Chúa. Thánh Mát-thêu còn định vị bài diễn từ nầy vào giai đoạn Chúa Giê-su khai mạc sứ vụ của Ngài ở Ga-li-lê, như một “loại diễn từ hoạch định một chương trình hành động” vì thế, còn được gọi là “Hiến Chương Nước Trời”.
1. Chiều kích phổ quát (5: 1-2) :
“Thấy dân chúng từ khắp nơi kéo về đông đảo, Đức Giê-su lên một ngọn núi. Khi Người ngối xuống, thì các môn đệ đến gần bên. Người lên tiếng dạy họ”. Thính giả của Đức Giê-su bao gồm “đám đông” và « các môn đệ ». « Đám đông » nầy sẽ tái xuất hiện ở cuối bài diễn từ (7: 28) để tạo thành thể đóng khung cho toàn bộ bài diễn từ trên núi nầy. Vì thế, sứ điệp được gởi đến cho tất cả mọi người, đặc biệt hơn cho các môn đệ: Quả thật, con đường thì hẹp; tuy nhiên nó rộng mở cho hết mọi người không trừ một ai: cho đám đông tụ họp chung quanh Ngài và cho đám đông mênh mông, vô danh, tản mác trong thời gian và không gian, đám đông của những ai, dù không biết Ngài, đều thuộc về Nước Trời, nếu đức hạnh của họ phù hợp với sứ điệp nầy, phù hợp với Giao Ước Mới của Thiên Chúa với nhân loại. Với các Mối Phúc nầy, Đức Giê-su đã mở rộng “Ki tô giáo”.
2. Các Mối Phúc (5 : 3-12) :
Những “ lời chúc phúc” thuộc về thể loại văn chương Cựu Ước và khá thịnh hành trong văn chương Do thái gần thời Chúa Giê-su. Chung chung, những lời chúc phúc được đặt trong sự đối lập với những lời chúc dữ, theo sự cân đối rất sê-mít, như cách trình bày song đối nghịch đảo : “Phúc cho anh em…” và “Khốn cho anh em…” của bản văn Lc 6: 20-23.
Vì thế, « Hiến Chương Nước Trời » nầy không hoàn toàn mới mẽ; nó đã được chuẩn bị lâu dài bởi giáo huấn của các ngôn sứ và các bậc hiền nhân Cựu Ước. Những người nghèo, khiêm hạ, công chính, những người có tấm lòng thanh sạch… cũng đã được các thánh vịnh gia tán dương. Đức Giê-su minh nhiên quy chiếu đến những bản văn Cựu Ước nầy. Nhưng những đức hạnh hoàn thiện được phác họa ở đây xem ra có thể được thực hiện chỉ trong thời đại Mê-si-a. Đúng là Đức Giê-su đã kiện toàn tất cả những Mối Phúc nầy ở nơi con người của Ngài. Khi công bố những mối phúc nầy, Chúa Giê-su mặc khải cho chúng ta rằng hạnh phúc đích thật chỉ gặp thấy ở nơi Ngài, bởi vì Ngài là Thiên Chúa, cội nguồn của tất cả những gì có thể làm cho chúng ta mãn nguyện.
2.1- “Phúc thay ai có tấm lòng nghèo khó…”
Thánh Lu-ca nói một cách giản dị: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” (Lc 6: 20). Thánh Mát-thêu mở rộng viễn cảnh cho tất cả những ai có tấm lòng nghèo khó, theo đúng chiều hướng nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Ki tô muốn. Đức nghèo khó không hệ tại ở nơi sự nghèo khó vật chất, nhưng ở nơi sự giải thoát khỏi mọi gắn bó với của cải trần thế và mở lòng ra trước sự giàu có tinh thần.
Cuối cùng, khía cạnh Mê-si-a của mối phúc nầy thật hiển nhiên: Đức Giê-su sinh ra trong cảnh nghèo hèn và chết trong sự trần trụi để là quà tặng của Thiên Chúa được trao ban trọn vẹn cho con người. Đối với những ai lắng nghe Ngài và từ bỏ mọi sự mà theo Ngài, Ngài sẽ sai họ ra đi trên mọi nẽo đường thế giới, không tiền bạc không bao bị, hoàn toàn trơ trụi, nhưng giàu có tận mức sứ điệp tinh thần mà họ công bố, như thánh Phao-lô phát biểu trong thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô: “Coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 6: 10).
2.2- “Phúc thay ai hiền lành…”
“Đất Hứa” là đất Ca-na-an. Chủ đề nầy vang vọng lên đến lời hứa của Thiên Chúa cho tổ phụ Áp-ra-ham (St 15: 7; 28: 4), được phát triển phong phú trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 1: 8, 39; 4: 1, 5, 14…), nhưng mặc lấy sắc thái cánh chung trong sách I-sai-a (Is 57: 13; 60: 21; 65: 9), và sẽ vang dội trong sách Khải Huyền trong đó cốt là thành thánh Giê-ru-sa-lem trên trời (Kh 21: 2). Trong Tin Mừng Mát-thêu, “Đất Hứa” không còn là đất Ca-na-an nữa, nhưng mang một ý nghĩa biểu tượng và Mê-si-a như trong các mối phúc khác. Chủ đề “gia nghiệp” thường trở lại trong Tân Ước: chung chung, cách nói “được Nước Trời làm gia nghiệp” (Mt 25: 34; 1Cr 6: 9-10…) hay “được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp ” (Mt 19: 29; Mc 10: 27; Lc 10: 25…) được ưa chuộng hơn là: “được Đất Hứa làm gia nghiệp” .
Đức hiền lành được nêu lên là một sự hiền lành không nhu nhược: đó cũng là sự hiền lành của Đức Ki tô, mà thánh Mát-thêu, tác giả Tin Mừng duy nhất, nhấn mạnh nhiều lần. “Hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11: 29). Ở chương 12 của mình, thánh Mát-thêu nhắc lại cung cách hiền lành của “Người Tôi Tớ,” dung mạo được hiện thực nơi Đức Giê-su.
2.3- “Phúc thay ai sầu khổ…”
Theo mạch văn chung của bản văn Mát-thêu về các mối phúc, người ta có khuynh hướng tinh thần hóa sự sầu khổ nầy. Tuy nhiên, xem ra thật khó xác định đối tượng của nỗi sầu muộn khóc than nầy.
Đây là mối phúc mâu thuẫn nhất trong các mối phúc, nhưng có thể cũng mang chiều kích Mê-si-a nhất. Đã trải qua mọi gian nan thử thách của mình, dân Ít-ra-en luôn luôn trông chờ được Thiên Chúa ủi an. Trong truyền thống Do thái, Đấng Mê-si-a mà dân chúng mong đợi được gọi là “niềm an ủi của Ít-ra-en”, như trong Tin Mừng Lu-ca, cụ già Si-mê-on cũng mong chờ “niềm an ủi của Ít-ra-en” (Lc 2: 25).
Không thể chối cải, Đức Giê-su là Đấng an ủi những người nghèo khó, đau khổ, bệnh hoạn tật nguyền: Ngài chữa lành, nâng dậy, đổi mới cuộc đời của họ: “Tất cả những ai vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11: 28). Cuối cùng, Ngài dâng hiến cho những ai sầu khổ một niềm an ủi tuyệt mức khi Ngài đích thân dự phần vào những cơn hấp hối khủng khiếp của cái chết.
Ngài không đề nghị hủy bỏ sự đau khổ, nhưng rút ra từ đó một giá trị vượt qua nó, nâng cao nó và có thể biến nó thành nguồn mạch của niềm vui. Niềm vui hiện tại – khó đạt được – được bổ túc bởi viễn cảnh của niềm an ủi tương lai, trong Nước Trời: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 4).
Tuy nhiên, không nên ngộ nhận viễn cảnh Mát-thêu: tác giả Tin Mừng nầy rất quan tâm đến chiều kích tinh thần của các Mối Phúc. Thánh ký chắc chắn chủ ý nhắm đến nổi sầu khổ của các tín hữu đối diện với thực tại trong đó sự ác chiến thắng trên những ý định của Thiên Chúa. Trên hết, Đức Giê-su hoàn lại niềm hy vọng cho những người công chính và đảm bảo cho họ sự chiến thắng tối hậu của sự thiện và sự sống trên sự ác và sự chết.
2.4- “Phúc thay ai đói khát sự công chính…”
Thánh Lu-ca viết: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no thỏa.” (Lc 6: 21), nghĩa là, sẽ có một sự đảo lộn những hoàn cảnh trong Vương Quốc Thiên Chúa. Thánh Mát-thêu, như trước đây, tinh thần hóa mối phúc nầy: “Phúc cho ai đói khát sự công chính”.
Chữ “công chính” mà Đức Giê-su công bố, chất nặng lịch sử kinh thánh nên không thể được hiểu trọn vẹn theo nghĩa thông thường hiện nay của sự công bình trần thế. Chắc chắn sự công bình trần thế hàm chứa ở đây, nhưng rất gián tiếp. Người công chính trong Cựu Ước và trong Tin Mừng (cụ già Si-mê-on, thánh Giu-se, vân vân) là một con người mà cách hành xử của họ luôn luôn phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa; tức là một con người đạo hạnh nhắm đến lý tưởng hoàn thiện bản thân mình theo Lề Luật. “Đức công chính” chính là lý tưởng nầy. Vì thế, chữ “thánh thiện” là từ thích hợp nhất. Đức Giê-su định vị sự công chính nầy vừa tiếp nối vừa vượt qua sự công chính của Lề Luật: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng vào Nước Trời.” (Mt 5: 20).
Bởi vì sự thánh thiện của những “người công chính” đích thật nầy, theo hình ảnh sự công chính của Thiên Chúa, là một nhân đức siêu việt, nó vốn nội tại trong cõi thâm sâu của đời sống. Những ai hết lòng hết dạ khao khát nhân đức nầy, sẽ được mãn nguyện– trên bình diện tinh thần.
2.5- “Phúc thay ai xót thương người…”
Trong Cựu Ước, lòng xót thương thường được liên kết với sự công chính (theo nghĩa pháp lý). Quả thật, lòng xót thương là nhân đức cho phép tình yêu và sự công chính gặp gở nhau: vì công chính, Thiên Chúa trừng phạt tội lỗi của dân, nhưng vì tình yêu, Thiên Chúa thứ tha tội lỗi của họ. Vì thế, lòng xót thương của Thiên Chúa được biểu lộ đặc biệt đối với tội nhân. Ít-ra-en đã thụ hưởng tấm lòng nhân hậu nầy nhiều lần trong suốt lịch sử của mình và đã ca ngợi “Đức Chúa là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu lòng nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34: 6; Đnl 4: 31; Tv 78: 38; 86: 15; …; Cn 21: 11).
Trong Tin Mừng Lu-ca, Đức Giê-su khai triển mối phúc nầy: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ…Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6: 36-38).
2.6- “Phúc thay ai có tấm lòng thanh sạch…”
Cách nói: “tấm lòng thanh sạch” là diễn ngữ kinh thánh: đây là sự thanh sạch luân lý đối lập với sự thanh sạch nghi thức, tức là sự thanh sạch hoàn toàn bên ngoài, không thể mang lại sự thanh sạch bên trong.
Các thánh vịnh gia ca ngợi “kẻ tay sạch lòng thanh” (Tv 24); “Thiên Chúa nhân hậu biết là dường nào …với những kẻ có lòng trong sạch!” (Tv 73). Trong lời cầu nguyện của mình, các tín hữu kêu cầu cùng Thiên Chúa xin “tạo cho con một tấm lòng trong trắng.” (Tv 51).
Chữ “tấm lòng” theo tiếng Hy bá chỉ cõi thâm sâu bên trong con người. Chúa Giê-su lấy lại cách diễn tả nầy vì nó nêu bật chiều kích nội tâm hóa luật luân lý. Sau nầy, Ngài quở trách những người Pha-ri-sêu chỉ “rửa sạch bên ngoài chén dĩa, nhưng bên trong thì đầy những gian ác” (Mt 9: 6; 23: 25)
2.7- “Phúc thay ai xây dựng hòa bình…”
Mối phúc nầy mang đậm nét chiều kích Mê-si-a. “Vị vua công chính” tương lai đã được loan báo là “Hoàng Tử Bình An” (Is 9: 6.). Thật vậy, “hòa bình” và “công lý xã hội” được liên kết mật thiết với nhau trong Cựu Ước. Mối phúc nầy đích thật là lời mời gọi gởi đến cho nhân loại để mời gọi con người hãy làm cho công lý ngự trị giữa họ.
Theo truyền thống, ngôn sứ Ê-li-a phải tái xuất hiện để chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a ngự đến qua sứ mạng hòa giải: “Nầy Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi…Nó sẽ đưa tấm lòng cha ông trở lại với con cháu, và đưa tấm lòng con cháu trở lại với cha ông.” (Ml 3: 23-24).
Ngay trước thời Đức Giê-su, các kinh sư đã đề ra những cử chỉ hòa giải trong gia đình, giữa bà con hàng xóm láng giềng…Đức Giê-su đòi hỏi phải hòa giải ngay cả trước khi dâng lễ vật lên Thiên Chúa: “Vậy nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5: 24).
Trong Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã để lại cho các môn đệ của Ngài “Bình An của Ngài,” (Ga 14: 27); vả lại, bình an nầy được định vị trong dòng chảy liên tục của tình yêu. Theo bước chân của Ngài, những người thợ kiến tạo hòa bình sẽ được gọi “con Thiên Chúa” như Ngài.
2.8- “Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính…”
“Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị bách hại…”
Mối phúc thứ nhất mở ra và mối phúc thứ tám đóng lại với cùng một diễn ngữ: “Vì Nước Trời là của họ” (5: 3 và 10), vừa hình thành nên thể loại đóng khung vừa loan báo cho chúng ta rằng Nước Trời hiện diện rồi; trong khi sáu mối phúc còn lại, nằm ở giữa thể loại đóng khung nầy, vẫn còn là lời hứa, trong tương lai: “Vì họ sẽ được…” . Sự căng thẳng giữa hiện thực và lời hứa, giữa hiện tại và tương lai cho thấy tính chất vừa tuyệt đối vừa lịch sử của Nước Trời nầy đang được trương rộng ra trên trần thế ở nơi con người của Đức Giê-su. Sự căng thẳng nầy bày tỏ điều mà chúng ta gọi tính chất “cánh chung” của Nước Trời.
Ở câu 11, bài diễn từ đột nhiên chuyển từ ngôi thứ ba số ít: “Phúc thay ai” sang ngôi thứ hai số nhiều: “Phúc thay anh em”. Trong Tin Mừng Mát-thêu, mối phúc thứ tám và thứ chín nầy đều ca ngợi những người bị bách hại. Trong khi mối phúc thứ tám mang chiều kích phổ quát, được gởi đến với toàn thể nhân loại: “Phúc thay ai bị bách hại…”, mối phúc thứ chín được ngỏ lời trực tiếp với các môn đệ: “Phúc thay anh em khi vì Thày mà bị bách hại…” Mối phúc thứ chín đóng chức năng hiện tại hóa và cụ thể hóa mối phúc thứ tám vào trong hoàn cảnh của các môn đệ Đức Giê-su như chuyển từ lý tưởng được đề nghị: “vì sự công chính” sang thực tại cụ thể được cảm thấy và được sống: “vì Thầy.” Ở vào giây phút các môn đệ bị bách hại và bị giết chết, nếu họ chấp nhận đặt mối liên hệ trực tiếp với Đấng công bố những mối phúc nầy, họ có thể khám phá rằng mối phúc được thành tựu ở nơi họ.
Vào giây phút mà người môn đệ cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc tử nạn của Đức Ki tô, người ấy nhận thức rằng Nước Trời thực sự đã đến. Cũng thế, phần thưởng lớn lao dành cho họ là ở trên trời (5: 12), phần thưởng nầy, nói một cách chính xác, không bất cứ cái gì khác ngoài hiện thực hóa sự thành tựu mà Đức Giê-su mang đến, Đấng đưa họ vào “trong Nước Trời,” nghĩa là, trong thực tại của Cha ở trên trời. Ai khám phá, ở nơi những đau khổ mà mình phải chịu vì Đức Ki tô, hạnh phúc của những người được Thiên Chúa gọi “người con chí ái”, người ấy bắt đầu bày tỏ cho những người khác sự hiện diện tại thế nầy của Chúa Cha, Đấng ở trên trời.
Như vậy mối phúc thứ chín thăng hoa những mối phúc khác. Các nhà thần học nhấn mạnh tính chất Ki tô học của mối phúc thứ chín nầy: ai dám hứa phần thưởng Nước Trời cho những người phải chịu đau khổ “vì mình,” nếu không là Đấng có thể sánh ngang bằng với Chúa Cha?
Chúa Giê-su đã nhiều lần báo trước cho các môn đệ mình về những bách hại mà họ sẽ phải chịu. Vào lúc thánh Mát-thêu biên soạn sách Tin Mừng của mình, những lời báo trước nầy đã trở thành những thực tại khắc nghiệt. Giáo Hội Palestine chịu những cuộc công kích liên tục của những người Do thái nhiệt thành với Luật cũ, họ xem những người cải đạo Ki tô như những kẻ bội giáo. Rồi, thánh Tê-pha-nô bị một đám đông giận dữ ném đá, thánh Gia-cô-bê, anh của thánh Gioan, bị xử trảm vào năm 44. Thánh Phao-lô, thánh Bác-na-bê và những người đồng hành của họ bị truy nã, đánh đập, giam tù…Tiếp đó là những cuộc bách hại của chính quyền dân sự Rô-ma. Nhưng sách Công Vụ nói với chúng ta rằng các tông đồ, dù bị bách hại như thế, “lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Ki tô.” (Cv 5: 41).
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
01-11-2009, 05:55 PM
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊNPhụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật nầy mời gọi chúng ta suy gẫm về tấm lòng quảng đại của những người nghèo, họ biết cho tất cả những gì mình có với trọn niềm tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa.
1V 17: 10-16
Bài đọc I thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa xứ Sa-rép-ta ngoại giáo, bà cho vị ngôn sứ Ê-li-a tất cả phần còn lại của mình trong thời kỳ đói kém để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa.
Dt 9: 24-28
Đoạn trích thư gởi các tín hữu Do thái ca ngợi việc Đức Giê-su đã tận hiến một lần cho tất cả để vĩnh viễn tiêu hủy tội lỗi và thánh hóa những ai tin vào Ngài.
Mc 12: 38-44
Tin Mừng thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa nghèo khổ, bà cho tất cả những gì mình có. Xét về lượng, hai đồng xu của bà là của dâng thật khiêm tốn, nhưng về phẩm, của dâng nầy chất chứa biết bao lòng yêu mến và niềm tin của bà.
BÀI ĐỌC I (1V 17: 10-16)
Trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước, hai cuốn sách Các Vua chứa đựng một số lượng lớn nhất những giai thoại ngoạn mục; truyện dài nhiều tập về ngôn sứ Ê-li-a và ngôn sứ Ê-li-sa là một minh họa rõ nét nhất điều nầy. Được lưu truyền lâu dài trong dân gian trước khi được biên soạn, những chuyện tích nầy được thêu dệt thành những chuyện anh hùng ca, nhưng cũng chứa đựng tính lịch sử.
Cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rép-ta là “cổ học tinh hoa” minh chứng về tấm lòng quảng đại của những người nghèo và chuẩn bị cho câu chuyện Tin Mừng về tấm lòng quảng đại của một bà góa. Hơn nữa, hoàn cảnh, nơi chốn, các nhân vật đem lại cho câu chuyện một tầm mức tôn giáo.
1. Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-li-a:
Ngôn sứ Ê-li-a sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên, trong vương quốc phương Bắc, dưới triều đại vua A-kháp (874-853 BC). Vị ngôn sứ thực thi sứ vụ ngôn sứ của mình trong một hoàn cảnh rất gian nan, vì vua đã cưới công chúa I-da-ven, ngoại giáo. Bà hoàng hậu nầy rất sùng đạo thờ thần Ba-an nên tìm mọi cách loại bỏ việc phụng thờ Đức Chúa trong vương quốc Ít-ra-en, trong khi vị ngôn sứ ra sức bảo vệ việc phụng thờ Đức Chúa.
Ngôn sứ Ê-li-a tuyên sấm trước vua A-kháp một cơn hạn hán sẽ giáng xuống xứ sở vì tội thờ ngẫu tượng. Cơn hạn hán nầy sẽ kéo dài trong suốt ba năm. Ngôn sứ Ê-li-a rời miền Sa-ma-ri, nơi không dung thứ cho ông vì lòng oán hận của hoàng hậu I-da-ven đối với ông; ông đến tá túc ở phía bắc sông Gio-đan, bên con suối vẫn còn nước chảy. Nhưng khi con suối nầy cạn khô, ngôn sứ Ê-li-a ra đi tìm một nơi lánh nạn khác. Ông đi về miền duyên hải Phê-ni-xi ngoại giáo và đến làng Xa-rếp-ta, cách địa hạt Xi-đôn khoảng mười lăm cây số về phía đông và ở lại đó.
2. Cuộc gặp gỡ của vị ngôn sứ với một bà góa xứ Xa-rếp-ta:
Một bà góa xứ Xa-rếp-ta nhận ra người khách lạ xin bà một chút nước và miếng bánh là một người Do thái, bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh”.
Được đặt lại vào trong bối cảnh sứ vụ của ngôn sứ Ê-li-a, tình tiết mang đến một lời chứng đáng chú ý khác về những người khiêm hạ mà các ngôn sứ Cựu Ước luôn luôn nói đến; nhưng ngoài ra, tình tiết nầy nêu bật sự tương phản giữa thái độ của một bà góa nghèo xứ Xa-rếp-ta, bà bày tỏ niềm tin tưởng vào Đức Chúa khi phó thác vào lời hứa của vị ngôn sứ của Ngài, và cách hành xử của một người phụ nữ ngoại đạo khác, hoàng hậu I-da-ven, bà nầy dùng quyền lực và sự giàu có của mình để lôi kéo dân Chúa chọn sa vào tội bội giáo. Bà góa ngoại giáo xứ Xa-rép-ta sẽ được trích dẫn trong Tin Mừng như tiên trưng cuộc hoán cải của lương dân (Lc 4: 25-26).
Mặt khác, được đặt lại vào trong khung cảnh của cuộc khủng hoảng tôn giáo khắp vương quốc Ít-ra-en, cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến Xa-rép-ta cung cấp cho vị ngôn sứ một dịp chứng tỏ rằng chính Đức Chúa – chứ không thần Ba-an – là Đấng phân phát đích thật những của cải trần gian và Ngài ban cho những ai tin tưởng phó thác vào Ngài, ngay cả vào lúc túng thiếu.
BÀI ĐỌC II (Dt 9: 24-28)
Tác giả thư gởi các tín hữu Do thái tiếp tục chứng minh chức tư tế của Đức Ki tô cao vời trên chức tư tế Cựu Ước. Viễn cảnh của tác giả được định vị trên hai bình diện: bình diện “trên trời”: Đức Ki tô vinh quang là Đấng Trung Gian bên cạnh Chúa Cha; bình diện “dưới thế”: Chức vụ trung gian đòi hỏi Đức Ki tô phải vượt qua cuộc Tử Nạn.
Như trước đây, tác giả sử dụng những so sánh của mình, mặc nhiên hay minh nhiên - nghi thức lễ Đền Tội ở đó vị thượng tế cầu nguyện và dâng hy lễ lên Thiên Chúa để cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi mà mình và toàn thể cộng đoàn con cái Ít-ra-en đã phạm phải trong năm.
1. Chức vụ cao trọng của Vị Thượng Tế Tân Ước:
Vào ngày đại lễ Đền Tội, để lời chuyển cầu của mình có thể thấu đến Thiên Chúa chừng nào có thể, vị thượng tế Cựu Ước vào tận nơi cực thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, “do bàn tay người phàm làm ra”. Còn Đức Ki tô “đã vào chính cõi trời”. Vị thượng tế Cựu Ước không thể đến tận nơi Thiên Chúa, nhưng chỉ đến chỗ mà xưa kia đặt Hòm Giao Ước, biểu tượng nơi ở cõi thế của Đức Chúa; trong khi Đức Ki tô “đứng trước mặt Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta”.
2. Phẩm chất cao trọng của Hy Lễ Tân Ước:
Vị thượng tế Cựu Ước dâng máu của tế vật chứ không phải máu của chính mình. Đức Ki tô dâng máu của chính mình. Thế nên người ta có thể dâng hiến mạng sống mình chỉ một lần. Vì thế, hiến lễ tự nguyện và tự hiến của Đức Giê-su có một hiệu quả dứt khoát. Những hy lễ được vị thượng tế Cựu Ước hằng năm dâng lên để xin ơn tha thứ tội lỗi; hy lễ của Đức Giê-su có giá trị cho mọi thời và mọi thế hệ.
3. Một thế giới mới không bóng dáng tội lỗi:
Việc Đức Ki tô nhập thể đã đặt Ngài vào trong mối liên đới với các tội nhân, nhằm tiêu diệt tội lỗi, như sấm ngôn về người tôi trung của Đức Chúa “đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53: 12).
Việc Đức Ki tô xuất hiện lần thứ hai sẽ không còn bất kỳ liên hệ nào với tội lỗi. Đức Ki tô sẽ phục hồi một thế giới không bóng dáng của sự chết và tội lỗi; Ngài sẽ cứu độ những ai trông đợi Ngài.
TIN MỪNG (Mc 12: 38-44)
Mới đây, những người Pha-ri-sêu đã ca ngợi nhân cách của Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa” (Mc 12: 14). Tiếc thay họ đã sử dụng lời ngợi ca nầy để gày bẩy Đức Giê-su, nhưng điều ấy càng minh chứng đây là nhân cách thường hằng của Ngài mà đoạn Tin Mừng hôm nay bày tỏ rõ nét nhất.
Khi đặt hai lời dạy bên cạnh nhau, thánh ký muốn nêu bật sự tương phản giữa cách sống đạo của các kinh sư, tiêu biểu thành phần có trí thức, uy thế và địa vị, và thái độ khiêm hạ và quảng đại của một bà góa, đại diện thành phần thấp kém nhất.
1. Tránh xa thói giả hình của những kinh sư:
Các kinh sư là những người học rộng biết nhiều về Kinh Thánh và được ký thác truyền thống các tiền nhân, vì thế họ là những nhà chú giải có thẩm quyền. Nhưng vì tự hào và tự phụ về kiến thức của mình, họ hình thành nên một giai cấp tách biệt ra khỏi quần chúng. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su thẳng thắn vạch mặt chỉ tên họ và phác họa chân dung của họ với vài nét tiêu biểu mang tính châm biếm: “Những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa thích chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cổ nhất trong đám tiệc”.
Nhưng lời tố cáo nặng nề nhất mà Ngài gởi đến cho các kinh sư chính là: “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa”. Bản văn không nói cho chúng biết làm thế nào những kinh sư nuốt hết tài sản của các bà góa. Phải chăng họ đã khai thác sự nhẹ dạ cả tin của những người hiền lành chất phát mà thu góp tiền của cho riêng mình? Hay họ lợi dụng uy tín của những người giải thích lề luật có thẩm quyền mà giải thích lề luật theo chiều hướng có lợi cho riêng mình? Hoặc với tư cách những nhà thông luật, họ biết rất rõ luật Mô-sê lên án nghiêm khắc những ai ức hiếp mẹ góa con côi và hứa cho những kẻ ấy cơn giận của Đức Chúa (Xh 22: 21), nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước thực trạng bất công của những kẻ có thế có quyền hà hiếp bóc lột những người thấp cổ bé miệng? Chúng ta không biết chính xác, nhưng quả thật, ngôn sứ I-sai-a đã nghiêm khắc tố cáo thái độ nầy rồi: “Khốn thay những kẻ đặt ra các luật lệ bất công, những kẻ viết nên các chỉ thị áp bức, để cản người yếu hèn hưởng công lý, tước đoạt quyền lợi người nghèo trong dân tôi, để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10: 1-2).
Về đời sống tôn giáo, “họ còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”. Việc đọc kinh cầu nguyện lâu giờ là một nhu cầu tâm linh tất yếu của bất cứ tín hữu đạo hạnh nào; nhưng điều đáng nói ở đây chính là “họ làm bộ” chứ không thực tâm, chỉ cốt phô trương đạo hạnh của mình trước mặt người đời. Quả thật, họ cầu nguyện tại những nơi và theo những cách mà ai cũng phải thấy rằng họ là những người đạo hạnh. Ngay từ bài diễn từ trên núi của Ngài, Đức Giê-su đã lên án nghiêm khắc thói đạo đức giả này rồi: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt 6: 5).
Đức Giê-su kết thúc những lời lên án những kinh sư nầy với những lời như sau: “Cho nên, họ sẽ bị kết án nghiêm khác hơn” mà Ngài đã khai triển trong phần kết thúc dụ ngôn “Phải sẳn sàng chờ Chủ trở về”: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị săn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều…Hể ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều, và được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12: 47-48).
Lời kết án của Đức Giê-su xem ra quá cứng rắn, nếu không muốn nói vơ đủa cả nắm; bởi vì ngay trước đoạn Tin Mừng này, thánh Mác-cô kể cho chúng ta một người kinh sư thành tâm thiện chí tìm kiếm Nước Thiên Chúa đến nổi Đức Giê-su đã khen: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (12: 34).
Dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận tính lịch sử của đoạn Tin Mừng nầy, chính vì sự xung đột giữa Đức Giê-su và những gia cấp lãnh đạo Do thái đã dẫn đến cuộc Tử Nạn của Ngài. Nhưng đoạn Tin Mừng nầy khó thoát khỏi những ảnh hưởng của những cuộc khẩu chiến giữa Giáo Hội non trẻ và Hội Đường Do thái khi Tin Mừng được biên soạn.
Tuy nhiên, khi đoạn Tin Mừng được công bố trong cộng đoàn Ki tô hữu tiên khởi, nó mang tính thời sự và vẫn tiếp tục mang tính thời sự xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội tại thế. Việc Đức Giê-su lên án nghiêm khắc thói giả hình của các kinh sư là những lời nhắc nhở cho các môn đệ của Ngài. Đến phiên mình, các môn đệ của Ngài sẽ là những người có nguy cơ đi lại lối mòn xưa cũ của những người kinh sư nầy, khoe khoang vì đã được sống mật thiết với Thầy, đã nhận được trực tiếp lời giáo huấn của Thầy, nên đòi hỏi được hưởng những đặc quyền đặc lợi trong các cộng đoàn Ki tô hữu. Các môn đệ của Đức Giê-su phải tránh xa đừng để mình rơi vào những thói giả hình của các kinh sư nầy bằng cách noi gương cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đạo của một bà góa nghèo. Sứ vụ của họ phải là phục vụ một cách khiêm tốn và vô vị lợi…Đây là bài học mà các môn đệ của Đức Giê-su sẽ không bao giờ được quên.
2. Noi gương cách sống đạo của một bà góa:
Xét về hình thức, thánh ký đã nối kết rất khéo hai lời dạy khác nhau của Đức Giê-su vào cùng một đơn vị. Lời dạy về các kinh sư đóng lại với việc lên án “nuốt hết tài sản của các bà góa”, thì cũng chính “một bà góa” mở ra lời dạy thứ hai. Xét về nội dung, việc liên kết hai lời dạy vào thành một đem lại một bài học nhớ đời. Các môn đệ phải tránh xa cách sống đạo giả hình của các kinh sư, những người đại diện hàng lãnh đạo của dân Chúa chọn, trong khi cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa, đại diện hạng người rốt hết, lại trở nên mẫu gương cho các môn đệ Ngài noi theo.
Đức Giê-su cùng với các môn đệ đang ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng vào việc chi phí cho việc phụng tự hằng ngày và chi phí của Đền thờ. Ngài quan sát thấy nhiều người giàu có đến dâng cúng những món tiền lớn, nhưng Ngài chỉ để ý đến một bà góa nghèo đến dâng cúng hai đồng xu. Theo Kinh Thánh, các bà góa được liệt vào số những người nghèo khổ nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24: 17-22). Số tiền bà bỏ vào thùng dâng cúng chẳng đáng là bao so với những món tiền lớn của những người giàu có. Nhưng Chúa Giê-su không đánh giá của dâng cúng dựa trên số lượng mà trên chất lượng, và Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải ghi khắc điều nầy: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút ra từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà nầy, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Của dâng cúng của bà góa nầy, xét về số lượng, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng xét về chất lượng, lại chất nặng đức tin, đức cậy và đức mến của bà, vì bà đã đặt mọi ngày sắp đến của mình vào trong niềm tin tưởng và phó thác vào Chúa.
Dung mạo của bà góa nầy là dung mạo sau cùng xuất hiện trong sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Giáo huấn của Ngài đã bắt đầu với “Phúc cho những người nghèo khó” và đóng lại với lời ca ngợi một người ngheo khó biết cho tất cả những gì mình có để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa và để Thiên Chúa trở nên tất cả cuộc đời mình.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
08-11-2009, 08:25 PM
CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
Kn 3: 1-9
“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.
1Cr 1: 17-25
Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.
Mt 10: 17-22
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-tinh: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.
BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)
Những khẳng định của sách Khôn Ngoan là một khúc quanh quan trọng. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.
1. Tiến trình phát triển quan niệm về sự sống lại của Cựu ước:
Trong lịch sử dài nầy, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Những người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đời nầy phát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giả cõi đời nầy đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.
Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế nầy. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 BC) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với những kẻ ác tâm ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).
Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái ở Palestine thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).
Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè của người Do thái. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp nầy không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng kinh thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.
2. Quan niệm sai lầm về con người.
Trước đoạn văn trích dẫn hôm nay, tác giả sách Khôn Ngoan đả phá quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật nầy, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.
Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở Alexandrie cho những đồng bào của mình, họ đang bị cám dỗ bởi những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.
3. Quan niệm đích thật về con người.
Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt mặc khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.
Tất cả những khai triển nầy mang đậm nét kinh thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên Thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).
Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .
4. Vinh quang chung cuộc.
“Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”
“Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng trên ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng nầy mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết: “Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26).
Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Vương Quốc Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.
5. Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm.
Niềm hy vọng lớn lao nầy được đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm c