admin
14-07-2006, 04:46 AM
LẠM BÀN VỀ PHIÊN DỊCH KINH-SÁCH SANG VIỆT NGỮ.
Những nhận xét sau đây, chỉ là lời “lạm bàn”, vì vượt khả năng của một cá nhân, nên không nhằm phê phán hay tranh luận về phương pháp Dịch Thuật các KINH-SÁCH từ nguyên bản tiếng LaTinh sang Việt Ngữ. Đây là một công trình lớn lao và khó khăn, cần sự cộng tác rộng lớn của các nhà chuyên môn về các Khoa Thần Học, Giáo Lý, Kinh Thánh, và về Văn Hóa, Ngôn Ngữ Việt Nam.
Theo thiển ý, việc xây cất một Thánh Đường bằng vôi, xi măng, gạch, đá, hay cẩm thạch, cẩm lai, gỗ quí..là cần để dùng làm nơi thờ phượng. Nhưng không thể sánh ví những kiến trúc đồ sộ, nguy nga đó với niềm TIN-CẬY-MẾN được tràn ngập trong TÂM HỒN các chi thể trong Nhiệm Thể Chúa KyTô, khi tham dự Thánh Lễ, khi đọc Kinh, nghe Sách Thánh, hay nghe bản Thánh Ca, nhờ ngôn ngữ Việt vừa tinh tế, phong phú, súc tích đầy ý nghĩa, vừa có sức truyền cảm những Tâm Tình đạo đức. “Lâu Đài Thiêng Liêng, Huyền Bí” này, có thể tạo dựng lên, nơi những túp lều tranh nghèo nàn chốn rừng núi, và tồn tại với thời gian, không sợ bị chiến tranh, hay cách mạng phá đổ. Tuy bớt tốn kém hơn việc xây cất, nhưng công trình “DỊCH THUẬT” là một công cuộc khó khăn, đòi hỏi khả năng chuyên môn, và ý chí thống nhất các từ ngữ trong các bản văn Phụng vụ, Kinh Thánh, Giáo lý.
Sau đây, xin nêu ra một số thắc mắc về hiện tình các bản dịch Sách Kinh, Sách Giáo Lý, Sách Kinh Thánh và Sách Phụng Vụ, Sách Lễ đang lưu hành khắp nơi.
a/ Có những bản dịch mới, muốn sửa đổi lời văn cho “hợp thời”, nhưng vì không am tường tinh túy của tiếng Việt, đã loại bỏ những danh từ thuần túy Việt Nam, vừa sát nghĩa, lại có âm điệu nhịp nhàng, khiến người ngoài-công giáo, chuyên khảo về ngữ học Việt Nam, phải lấy làm tiếc. Chẳng hạn, người ta đã thay cụm từ: “VÂNG Ý” Cha dưới đất bằng trên trời vậy(Kinh Lạy Cha), bằng danh từ hán-việt, tối nghĩa, khô khẳng, âm thanh nặng nề, trục trặc, chói tai “thể hiện”(?). Theo phong tục Việt Nam, một em bé ngoan từ khi bập bẹ nói đã được mẹ dạy:”gọi dạ ,bảo vâng”; tiếng “dạ vâng”phải luôn luôn trên môi miệng em. Cả cuộc đời Mẹ Maria được tóm gọn vào câu: “Xin Vâng như lời Thiên thần truyền.” Vâng, ở đây chính là: vâng lời, vâng phục. Chữ “Vâng, Dạ” đã ăn sâu vào văn hóa Việt nam từ bao nhiêu đời, nơi bản thân, trong nếp sống gia đình, quốc gia xã hội, không dễ gì thay đổi được! Khi nghe đứa trẻ trả lời ông bà bằng tiếng: “O.K.”, thì biết nó đã lạc xa với văn hóa, nguồn gốc Việt nam rồi!
b/ Ngày nay, vẫn thường nghe những lời than phiền về bản dịch trong Sách Lễ, và bài đọc Sách Thánh (Cựu Ước và Tân Ước), được đọc lớn tiếng trong nhà thờ, nhưng không “xuôi” tiếng Việt, vì thiếu chú ý đến sắc thái biểu lộ tình cảm tế nhị, phong phú của Việt ngữ. Chẳng hạn, chữ “porter” ( Pháp) hay “carry” (Anh) có nghĩa là đem đi. Nhưng trong Việt ngữ được diễn tả bằng nhiều danh từ biểu lộ nhiều kiểu cách khác nhau như: mang, xách, đội, vác, quẩy...Kinh Thánh dạy: “bởi KHÔNG” mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (creatio ex nihilo). Chúa chỉ “PHÁN MỘT LỜI”, thì liền có trời đất. Tiếng Latinh "dicere”(nói). Nhưng trong Việt ngữ, phải tuỳ người, tùy văn cảnh, văn mạch, trang trọng hay bình thường mà dùng chữ cho thích hợp, như phán, truyền, dạy, bảo, rao...thì mới diễn tả được hết sắc thái tinh tế. Do đó, để tỏ uy quyền tuyệt đối của Chúa, nên Kinh Thánh viết: “Chúa “PHÁN” MỘT LỜI, thì liền có trời đất. Công việc Chúa Giêsu biến bánh và rượu thành “Mình và Máu” Chúa, thiết tưởng còn là một phép lạ cả thể hơn thế nữa. Vậy tại sao, bản dịch đã thay thế chữ “PHÁN” bằng một chữ quá tầm thường: “Người cầm lấy bánh, bẻ ra , trao cho các môn đệ và nói”. Thiếu trân trọng cung kính hay không am hiểu sắc thái tinh tế của tiếng Việt?
c/. Kiểu dùng chữ “Đức Chúa”, trong những bản dịch Kinh Thánh, và Lời Nguyện. Thử tìm hiểu xem tại sao có sự ta thán như vậy? Theo tài liệu lịch sử, danh xưng “ĐỨC CHÚA TRỜI”( Blời, Lời, Giời) do Cha Đắc Lộ đã sáng tác ra với sự hợp tác của các Thày Giảng Việt Nam là những vị nho sĩ, hay cựu tu sĩ Phật giáo. Ngài đã không dùng chữ Hán “THIÊN CHỦ”( THIÊN CHÚA) mà Cha Matêô RICCI, đã đặt ra cho giáo hữu Trung Hoa. Ngài cũng không dùng những danh xưng cổ như Thượng Đế, vì là gốc chữ Hán xa lạ với giới bình dân. Nhưng Ngài đã chọn chữ Việt thuần túy “Ông Trời” rất quen thuộc trong ca dao tục ngữ, trong cách than thở, kêu cầu như câu: “Lạy Trời mưa xuống”....“Trời ơi!” “ Ông Trời có mắt”...Cũng như Cha Ricci đã thêm chữ “Chủ” vào chữ “Thiên” thành ra “Thiên-Chủ”, cha Đắc Lộ đã thêm chữ “Chúa” hợp với chữ “Trời”, thành ra: “CHÚA TRỜI”.
Những nhận xét sau đây, chỉ là lời “lạm bàn”, vì vượt khả năng của một cá nhân, nên không nhằm phê phán hay tranh luận về phương pháp Dịch Thuật các KINH-SÁCH từ nguyên bản tiếng LaTinh sang Việt Ngữ. Đây là một công trình lớn lao và khó khăn, cần sự cộng tác rộng lớn của các nhà chuyên môn về các Khoa Thần Học, Giáo Lý, Kinh Thánh, và về Văn Hóa, Ngôn Ngữ Việt Nam.
Theo thiển ý, việc xây cất một Thánh Đường bằng vôi, xi măng, gạch, đá, hay cẩm thạch, cẩm lai, gỗ quí..là cần để dùng làm nơi thờ phượng. Nhưng không thể sánh ví những kiến trúc đồ sộ, nguy nga đó với niềm TIN-CẬY-MẾN được tràn ngập trong TÂM HỒN các chi thể trong Nhiệm Thể Chúa KyTô, khi tham dự Thánh Lễ, khi đọc Kinh, nghe Sách Thánh, hay nghe bản Thánh Ca, nhờ ngôn ngữ Việt vừa tinh tế, phong phú, súc tích đầy ý nghĩa, vừa có sức truyền cảm những Tâm Tình đạo đức. “Lâu Đài Thiêng Liêng, Huyền Bí” này, có thể tạo dựng lên, nơi những túp lều tranh nghèo nàn chốn rừng núi, và tồn tại với thời gian, không sợ bị chiến tranh, hay cách mạng phá đổ. Tuy bớt tốn kém hơn việc xây cất, nhưng công trình “DỊCH THUẬT” là một công cuộc khó khăn, đòi hỏi khả năng chuyên môn, và ý chí thống nhất các từ ngữ trong các bản văn Phụng vụ, Kinh Thánh, Giáo lý.
Sau đây, xin nêu ra một số thắc mắc về hiện tình các bản dịch Sách Kinh, Sách Giáo Lý, Sách Kinh Thánh và Sách Phụng Vụ, Sách Lễ đang lưu hành khắp nơi.
a/ Có những bản dịch mới, muốn sửa đổi lời văn cho “hợp thời”, nhưng vì không am tường tinh túy của tiếng Việt, đã loại bỏ những danh từ thuần túy Việt Nam, vừa sát nghĩa, lại có âm điệu nhịp nhàng, khiến người ngoài-công giáo, chuyên khảo về ngữ học Việt Nam, phải lấy làm tiếc. Chẳng hạn, người ta đã thay cụm từ: “VÂNG Ý” Cha dưới đất bằng trên trời vậy(Kinh Lạy Cha), bằng danh từ hán-việt, tối nghĩa, khô khẳng, âm thanh nặng nề, trục trặc, chói tai “thể hiện”(?). Theo phong tục Việt Nam, một em bé ngoan từ khi bập bẹ nói đã được mẹ dạy:”gọi dạ ,bảo vâng”; tiếng “dạ vâng”phải luôn luôn trên môi miệng em. Cả cuộc đời Mẹ Maria được tóm gọn vào câu: “Xin Vâng như lời Thiên thần truyền.” Vâng, ở đây chính là: vâng lời, vâng phục. Chữ “Vâng, Dạ” đã ăn sâu vào văn hóa Việt nam từ bao nhiêu đời, nơi bản thân, trong nếp sống gia đình, quốc gia xã hội, không dễ gì thay đổi được! Khi nghe đứa trẻ trả lời ông bà bằng tiếng: “O.K.”, thì biết nó đã lạc xa với văn hóa, nguồn gốc Việt nam rồi!
b/ Ngày nay, vẫn thường nghe những lời than phiền về bản dịch trong Sách Lễ, và bài đọc Sách Thánh (Cựu Ước và Tân Ước), được đọc lớn tiếng trong nhà thờ, nhưng không “xuôi” tiếng Việt, vì thiếu chú ý đến sắc thái biểu lộ tình cảm tế nhị, phong phú của Việt ngữ. Chẳng hạn, chữ “porter” ( Pháp) hay “carry” (Anh) có nghĩa là đem đi. Nhưng trong Việt ngữ được diễn tả bằng nhiều danh từ biểu lộ nhiều kiểu cách khác nhau như: mang, xách, đội, vác, quẩy...Kinh Thánh dạy: “bởi KHÔNG” mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (creatio ex nihilo). Chúa chỉ “PHÁN MỘT LỜI”, thì liền có trời đất. Tiếng Latinh "dicere”(nói). Nhưng trong Việt ngữ, phải tuỳ người, tùy văn cảnh, văn mạch, trang trọng hay bình thường mà dùng chữ cho thích hợp, như phán, truyền, dạy, bảo, rao...thì mới diễn tả được hết sắc thái tinh tế. Do đó, để tỏ uy quyền tuyệt đối của Chúa, nên Kinh Thánh viết: “Chúa “PHÁN” MỘT LỜI, thì liền có trời đất. Công việc Chúa Giêsu biến bánh và rượu thành “Mình và Máu” Chúa, thiết tưởng còn là một phép lạ cả thể hơn thế nữa. Vậy tại sao, bản dịch đã thay thế chữ “PHÁN” bằng một chữ quá tầm thường: “Người cầm lấy bánh, bẻ ra , trao cho các môn đệ và nói”. Thiếu trân trọng cung kính hay không am hiểu sắc thái tinh tế của tiếng Việt?
c/. Kiểu dùng chữ “Đức Chúa”, trong những bản dịch Kinh Thánh, và Lời Nguyện. Thử tìm hiểu xem tại sao có sự ta thán như vậy? Theo tài liệu lịch sử, danh xưng “ĐỨC CHÚA TRỜI”( Blời, Lời, Giời) do Cha Đắc Lộ đã sáng tác ra với sự hợp tác của các Thày Giảng Việt Nam là những vị nho sĩ, hay cựu tu sĩ Phật giáo. Ngài đã không dùng chữ Hán “THIÊN CHỦ”( THIÊN CHÚA) mà Cha Matêô RICCI, đã đặt ra cho giáo hữu Trung Hoa. Ngài cũng không dùng những danh xưng cổ như Thượng Đế, vì là gốc chữ Hán xa lạ với giới bình dân. Nhưng Ngài đã chọn chữ Việt thuần túy “Ông Trời” rất quen thuộc trong ca dao tục ngữ, trong cách than thở, kêu cầu như câu: “Lạy Trời mưa xuống”....“Trời ơi!” “ Ông Trời có mắt”...Cũng như Cha Ricci đã thêm chữ “Chủ” vào chữ “Thiên” thành ra “Thiên-Chủ”, cha Đắc Lộ đã thêm chữ “Chúa” hợp với chữ “Trời”, thành ra: “CHÚA TRỜI”.