PDA

View Full Version : Ý nghĩa sâu xa của Hang đá Bê-lem


admin
16-12-2008, 02:19 PM
Ý nghĩa sâu xa của Hang đá Bê-lem

§ Lm Nguyễn Hữu Thy

http://www.christianodyssey.com/images/children/nativity%20scene.jpgBiến cố lịch sử Chúa Giáng Sinh và Hang đá Bê-lem là hai sự kiện luôn gắn chặt với nhau bất khả tách rời, đến nỗi người ta không thể tưởng tượng được một Lễ Giáng Sinh mà lại thiếu sự hiện diện một Hang đá tại các Giáo đường cũng như tại đa số các gia đình. Nhưng một điều mà nhiều người chưa hiểu rõ được về Hang đá Bê-lem, nơi Chúa giáng sinh, đó là ý nghĩa đặc trưng của những hình tượng được trình bày trong đó.
Trước hết các kiểu cách và hình thức trưng bày Hang đá trên thế giới rất đa dạng và phong phú, tuỳ thuộc vào quan niệm và truyền thống văn hóa của các dân tộc. Nhưng tất cả mọi trưng bày về Hang đá đều mang một nội dung đồng nhất: Trình bày quang cảnh mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh!
Về nguồn gốc sự trưng bày Hang đá Bê-lem người ta có thể nói được rằng, đó là một khám phá của thánh Phanxicô Assisi. Vào năm 1223 trước khi thuyết giảng ở Greccio về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa giáng sinh làm người trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nghèo hèn, thánh nhân đã cho dàn dựng lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội một Hang đá bằng gỗ, bên cạnh có các con bò lừa. Từ thế kỷ XV, các hình tượng bằng nhựa được tưng bày đầy đủ để mọi người có thể chiêm ngắm. Nhưng một điều mà nhiều người chưa biết rõ được là những hình tượng được trưng bày trong Hang đá Giáng Sinh còn mang những ý nghĩa rất sâu xa, chứ không chỉ dừng lại nơi hình thức trình diễn nghệ thuật mà thôi. Mỗi hình tượng có một ý nghĩa tượng trưng riêng biệt.
1) Chúa Hài Đồng
Hình tượng nhỏ nhất trong Hang đá phải kể là tượng Chúa Hài Đồng, và tuy nhỏ nhất nhưng lại là trọng tâm của Hang đá, được đặt nằm trong một chiếc máng ăn của loài vật lót đầy cỏ khô và được bọc một chiếc khăn trắng. Chiếc máng ăn của chiên bò và nắm cỏ khô lót trên đó là tượng trưng cho sự nghèo hèn tột độ, đến trở thành vô sản đúng nghĩa. Còn chiếc khăn trắng bọc lấy Hài Nhi Giêsu là dấu hiệu báo trước chiếc khăn trắng liệm xác Người sau cái chết thảm thương trên núi sọ vì tội lỗi nhân loại.
2) Mẹ Maria
Từ năm 1400 trở đi, tượng Mẹ Maria được trưng bày trong Hang đá như một người Mẹ đang chìm sâu vào trong sự thờ lạy và suy ngắm mầu Giáng sinh của Chúa Cứu Thế mà Mẹ đã từng được diễm phúc cưu mang và sinh hạ. Nhưng lòng Mẹ Maria cũng không tránh được những băn khoăn lo âu như bao người mẹ khác khi sinh con đầu lòng, với như tư tưởng buồn vui lẫn lộn, chẳng hạn như: rồi đây Con Mẹ sẽ lớn lên thế nào trong một gia đình vô sản như gia đình Mẹ và Thánh Giuse, trăm bề thiếu thốn nghèo nàn? Hay: Con Mẹ sẽ sống ra sao trong một thế giới thiếu tình người và chỉ biết ích kỷ, hận thù và ghen ghét? Đó là tất cả những điều được trình bày trên nét mặt đầy suy tư của tượng Mẹ Maria. Dĩ nhiên, tuy Mẹ băn khoăn suy nghĩ, nhưng Mẹ không buồn phiền thất vọng, vì Mẹ tín thác tất cả cho sự quan phòng của Thiên Chúa tình thương.
3) Thánh Giuse
Thánh Giuse mang một chiếc áo choàng rộng, tượng trưng cho sứ mệnh cao cả nhưng đầy khó khăn mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho thánh nhân. Đó là bảo vệ Con Một của Người, Ấu Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế của cả nhân loại cũng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thánh của Người. Chiếc đèn thắp sáng mà thánh nhân cầm trong tay muốn nói lên sứ mệnh săn sóc gìn giữ Chúa Hài Đồng Giêsu, ánh sáng vĩnh cửu «chiếu soi mọi người đang nồi trong bóng tối sự chết». Tượng Thánh nhân được đặt đứng ở phía phải, bên cạnh các con bò và đang chiêm ngắn Chúa Hài Đồng với vẻ mặt vui sướng và tin tưởng.
4) Các Thiên thần
Trong đêm Thiên Chúa giáng sinh trong hang chiên lừa xa xôi hẽo lánh, thiếu bóng người qua lại thăm viếng, nhưng ca đoàn các Thiên Thần từ trời cao hiện đến thờ lạy và ca hát mừng Chúa Hài Đồng với những điệu nhạc thiên đàng du dương huyền diệu: «Gloria in excelsis Deo»: Vinh Thiên Chúa trên chốn trời cao thẳm! Chính các Thiên thần là những vị đã báo tin cho các chú mục đồng đang ngủ vùi trong đêm đông về tin vui hồng ơn cứu độ của nhân loại.
5) Các Mục đồng
Các chú mục đồng với nét mặt vô cùng vui mừng và ngạc nhiên chiêm ngắm Ấu Chúa Giêsu mới giáng sinh, họ là biểu tượng cho từng lớp nhân loại nghèo hèn mà Thiên Chúa đặc biệt quan tâm ưu ái. Chính họ là đối tượng được Chúa Cứu Thế sau này yêu thương, bảo vệ và đề cao, vì «họ sẽ chiếm hữu được Nước Thiên Chúa làm của mình». Chính Người đã muốn trở nên một người trong họ và hoàn toàn đứng vào hàng ngũ của họ qua sự sinh hạ trong cảnh cực kỳ thiếu thốn nghèo hèn. Hơn thế nữa, Người đã tự đồng hóa với họ khi tuyên bố: «Những gì các ngươi làm hay không làm cho một kẻ nghèo hèn bé mọn nhất, là các ngươi đã làm hay không làm cho chính Ta vậy.»
6) Các con bò và lừa
Các con loài vật thực sự là «các bầy tôi» dễ thương phục dịch cho Ấu Chúa Giêsu, Vua của các vua, ngay từ giờ phút đầu tiên khi Người cất tiếng chào đời. Những con bò tượng trưng cho Do-thái giáo đang phải gồng mình dưới sức nặng của Luật pháp, nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Còn những con lừa tượng trưng cho dân ngoại đang phải mang kiếp con vật chuyên chở trên mình bao gánh nặng tội lỗi, trong đó có gánh nặng nề nhất là tội không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tối Cao duy nhất và Tạo Hoá muôn loài. Nhưng những con lừa cũng tượng trưng cho sự lao công và sự thờ tự. Sự hiện diện của những con bò và lừa trong Hang đá Bê-lem muốn nói lên rằng Đức Kitô gánh vác mọi tội lỗi nhân loại và sau cùng sẽ hiến tế thân mình làm lễ đền tội cho họ.
7) Ba Vua
• Melchior quì gối dâng lên Ấu Chúa Giêsu vàng, tượng trưng cho quyền lực và sự giàu sang. Ông là một người Âu Châu.
• Balthasar đứng ôm trên tay bình đựng nhũ hương, tượng trưng của lễ hiến tế và sự cầu nguyện. Ông là người Á Châu.
• Caspar là vị đạo sĩ trẻ nhất, đứng sau hai vị kia và ôm trên tay bình đựng mộc dược, tượng trưng cho sự đau khổ và sự chết. Ông là người gốc Phi Châu với nước da đen sậm.
• Một vị vua thứ bốn tên là Artaban, ít khi được được nhắc đến và được trưng bày trong Hang đá, tượng trưng bằng viên đá quý.
Ở Đức quốc, hằng năm vào dịp Lễ Chúa Hiển Linh hay cũng được gọi là Lễ Ba Vua, tất cả các thiếu niên Công Giáo trong các Giáo Xứ và Giáo Họ trên toàn quốc tổ chức thành các nhóm nhỏ - gồm có ba em đóng vai ba vị vua, một em cầm ngôi sao lạ đi đầu và một em cầm bị đựng tiền - để đi thăm viếng tất cả mọi gia đình trong Giáo xứ, mang đến cho họ sứ điệp Giáng Sinh và đồng thời lạc quyên tiền bạc cho các trẻ em ở các nước nghèo, mỗi năm số tiền lên tới từ 40 đến 50 triệu Euro. Khi đến thăm các gia đình như thế, các em đã viết lên cửa nhà các gia đình dấu hiệu: 20+C+M+B +08. Đó là tên Ba Vua như đã nói trên. Nhưng ý nghĩa thực sự của ba chữ viết tắt đó là câu chúc lành bằng tiếng La-tinh: «Christus mansionem benedictat»-2008: xin Chúa Kitô chúc lành cho nhà này trong năm 2008.
8) Các hình tượng khác
Tuỳ theo quan niệm văn hóa và sở thích của mỗi nơi, mỗi miền, người ta còn trưng bày trong Hang đá những hình tượng khác nữa, mặc dù trên thực tế những tượng đó không có chỗ đứng chính thức và quen thuộc trong số các hình tượng của Hang đá, nhưng mỗi hình tượng cũng mang một ý nghĩa tượng trưng rất sâu sắc. Ví dụ: tượng bác nông phu đang cầm cày, tượng trưng cảnh thiên nhiên chốn thiên đàng trong Đêm Giáng Sinh. Bác tiều phu, tượng trưng cho người quản trị những mầu nhiệm nguyên thuỷ của nhân loại, mà ngày nay trong thời đại kỹ thuật đã bị đào thải. Bác ngư phủ tượng trưng cho sự cứu thoát đã được thực hiện. Và sau cùng là các nhạc công tượng trưng cho sứ mệnh đi loan báo Tin Mừng cho mọi người.
Nguyện xin Chúa Hài Đồng, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, ban cho quý vị và các bạn một Lễ Giáng Sinh đầy ơn phúc Thiên đàng và niềm vui tâm hồn.
Lm Nguyễn Hữu Thy

admin
16-12-2008, 06:54 PM
Hang đá Giáng sinh có từ khi nào?

Vào dịp lễ mừng Chúa giáng sinh, khắp nơi hang đá được tạo dựng trang hoàng theo nhiều kiểu khác nhau. Lễ mừng Chúa giáng sinh mà không có hang đá, thì kể như chưa là lễ Giáng sinh, ở bên ta cũng như bên tây!

Người ta dựng hang đá mừng lễ không phải chỉ trong thánh đường hay tại các tư gia. Nhưng ngày nay hang đá được bày dựng trong cả các cửa tiệm hoặc để trang hoàng hấp dẫn khách qua lại đến xem mua hàng hóa, hoặc làm việc thương mại bán hang đá.

Chúa sinh ra làm người mang chúc lành từ trời cao: Sứ điệp tình yêu của Chúa cho tâm hồn con người.

Ngày nay ở những nước văn minh tiêu thụ, mùa mừng lễ Chúa giáng sinh là dịp rất thuận tiện bán được nhiều hàng hóa, thiệp mừng, qùa tặng và qua đó thúc đẩy mãi lực nền kinh tế quốc gia phát triển tích cực.

Đó cũng là tin mừng cho nhân gian. Nhưng mừng kỷ niệm Chúa sinh ra làm người đâu chỉ dừng lại ở điểm đó.

Tin Mừng Thánh Luca (2,7) thuật lại: Đức Mẹ Maria hạ sinh Hài nhi Giêsu giữa cánh đồng Bethlehem trong chuồng thú vật ngoài cánh đồng và nôi nằm của hài nhi là một máng đựng thức ăn cho súc vật. Có những chuồng thú vật thời đó trên cánh đồng Bethlehem được xây dựng trong một hang của gò núi đá hay được làm bằng gạch đá.

Hang đá cùng chiếc máng Hài nhi Giêsu đêm giáng sinh nằm như thế nào, không ai biết rõ. Dựa theo Phúc Âm và theo dòng lịch sử người ta đã làm ra nhiều kiểu về hang đá cùng máng cỏ Chúa giáng sinh.

Theo tập tục bên Đông phương: máng cỏ, nôi Chúa nằm lúc sinh ra, được làm bằng đá có hình thể trông giống như một quan tài. Và hài nhi Giêsu được quấn khăn tã đặt nằm trong đó như xác một người qua đời.

Hình ảnh này muốn diễn tả Chúa Giêsu sinh ra trong hang đá và lúc qua đời cũng được mai táng trong mồ đá. Trong hang đá sự sống đã khởi đầu khi Chúa Giêsu sinh ra làm người và cũng trong mồ đá Chúa Giêsu đã sống lại, khởi đầu một đời sống mới. Đời sống cứu độ.

Nghệ thuật cùng tập tục bên phương tây xây dựng hang đá máng cỏ như một bàn thờ. Hình ảnh này muốn diễn tả lễ tế Tạ ơn, Bí tích Thánh Thể. Bethlehem có nghĩa là "nhà làm bánh mì“. Khi cử hành Bí tích Thánh thể là tưởng nhớ lại sự sinh ra làm người của Chúa khi xưa trong hang đá ngoài cánh đồng Bethlehem. Và trong mỗi Thánh lễ chúng ta cùng tiếp nhận Tấm Bánh Thánh thể từ trời cao, ngày xưa đã sinh xuống trên đồng Bethlehem "ngôi nhà làm bánh mì“, là lương thực cho niềm tin vào Chúa.

Hang đá máng cỏ vì thế không nhất thiết phải bằng đá thiên nhiên, nhưng đa số làm bằng gỗ. Trong đó Chúa Giêsu được đặt nằm trên rơm cỏ, có đàn súc vật bò lừa ngồi nằm thở hơi ấm chung quanh. Hình ảnh này nói lên sự khó nghèo, khiêm hạ của Chúa.

Người ta cũng không biết rõ hình thù hang đá máng cỏ lúc Chúa sinh ra như thế nào. Máng cỏ (có năm mảnh ván nhỏ ghép lại) Chúa Giêsu nằm khi sinh ra ở Bethlehem, theo tương truyền còn lưu giữ ở đền thờ Đức Bà cả S. Maria Maggiore bên Roma. Điều này không có gì chắc chắn đúng 100% cả.

Lòng đạo đức kính thờ Chúa sinh ra làm người đã thúc đẩy con người vẽ kiểu làm ra hang đá máng cỏ Chúa giáng sinh. Việc này không có gì xấu cả, trái lại tốt lành và nâng đỡ niềm tin con người rất nhiều.

Thánh Phanxicô thành Assisi năm 1223 ở vùng Walde von Grecco đã cùng với các anh em Dòng của ngài dựng làm ra hang đá Chúa giáng sinh đầu tiên dựa theo những lời thuật lại trong phúc âm về đêm Chúa sinh ra năm xưa và theo kiểu ru con trong một chiếc nôi.

Nhạc điệu và nôi ru con là một hình thái rất phổ thông được qúy trọng trong dân gian. Và từ thế kỷ 14 xuất hiện nhiều kiểu hang đá Chúa giáng sinh theo hình thức này. Hài nhi Giêsu được đặt trong một máng như một nôi cho em bé nằm, trong đó có lót cỏ rơm khô cho êm ấm, có Mẹ Maria và Thánh Giuse đứng bên cạnh. Chung quanh là các thú vật bò, lừa, cừu, các mục đồng đến thăm viếng trò truyện, trên cao chỗ tường vách có Thiên Thần bay lượn ca hát.

Hình ảnh này thật đẹp, thơ mộng và mang tính trẻ thơ hoang đường. Nhưng nó gợi lên tâm tình đầm ấm trong một mái nhà, tuy nghèo hèn đơn sơ, nhưng là quê hương tổ ấm cho con người.

Rơm cỏ lót cho Hài nhi nằm êm ấm trong máng cỏ cũng là sứ điệp nhắn gửi: Hang đá máng cỏ do con người chế biến làm ra và tâm hồn con người cũng có thể là nơi Chúa Giêsu sinh ra. Khi ta sống bác ái tình người, khi làm việc thiện hảo tốt lành cho người đồng loại.

Ngày nay, người dựng hang đá máng cỏ Chúa giáng sinh phần nào theo truyền thống hang đá Thánh Phanxicô Khó Khăn đã nghĩ làm ra.Nhưng vật liệu xây dựng khác nhau hoặc bằng gỗ, hoặc bằng giấy rồi sơn phết mầu xám của đá. Ngoài những bộ tượng giáng sinh đặt trong đó, đèn điện cũng được chăng mắc thêm vào tùy theo văn hóa, thẩm mỹ cùng lòng cung kính đạo đức của từng dân tộc thời đại.

Hang đá máng cỏ Chúa giáng sinh dù xây dựng bằng vật liệu gì , theo kiểu cách nào và trang trí thế nào đi nữa, đều muốn gợi lại tình yêu của Chúa xuống trần gian làm người và cũng phần nào nói lên tâm tình yêu mến của con người với Đấng là tình yêu cho tâm hồn con người.

<!-- / message --><!-- Send link to friends -->

admin
16-12-2008, 06:55 PM
Hang Đá Giáng Sinh
Đây là một biểu tượng đặc biệt của Mùa Lễ Giáng Sinh. Thánh Phanxicô Khó Khăn được xem là người đầu tiên làm cảnh Giáng Sinh sống động.
http://cdmedongcong.net/GiangSinh/HinhGS/joyful3.jpgĐược phép của Đức Thánh Cha Honorius III và sự giúp đỡ của nhà quý tộc Giovanni Velita, Thánh Phanxicô đã chuẩn bị cảnh Hang Đá sống động vào Đêm Vọng Giáng Sinh năm 1223 ở Tu viện Greccio. Vào đêm đó, người ta đặt một đứa bé vào trong máng cỏ trong khi một con bò và con lừa đứng bên, và có những người giả làm Đức Mẹ, Thánh Giuse, các mục đồng...
Từ đó, cảnh Hang đá Giáng Sinh được phổ biến khắp nước Ý và thế giới. Lúc đầu, chỉ có nhà thờ là nơi dựng cảnh Hang đá trong mùa Giáng Sinh, nhưng về sau những người giàu sang và danh giá làm hang đá nơi nhà mình. Có người còn bỏ tiền sai những nhà tạc tượng nổi tiếng tạc các tượng để làm bộ Hang đá và sai thợ may y phục, cũng như gắn các đồ trang sức trên tượng. Hang đá Giáng Sinh cũng được trưng ở các công viên, công trường. Ngày nay, Hang đá Giáng Sinh là một phần không thể thiếu được của Mùa Giáng Sinh.
Cây Giáng Sinh
http://cdmedongcong.net/GiangSinh/images/Xmastree.gifVào thế kỷ 16, tại nước Đức, vào mùa Giáng Sinh, cây linh sam (fir) được trưng bày bên trong nhà lẫn ngoài trời, được gắn những trái táo, hoa hồng, cây kẹo, và giấy màu. Cây linh sam với những trái táo treo lủng lẳng tiêu biểu cho Vườn Địa Đàng.
Người ta cho rằng chính Martin Luther, người khởi xướng Phong trào Tin Lành ở Đức, là người đầu tiên đã có sáng kiến trang hoàng các cây Giáng sinh với ánh đèn. Ông đã đặt các cây nến trên các nhành cây linh sam trong nhà ông.
Sau đó, cây Giáng Sinh được chồng của Nữ hoàng Victoria của Anh là Hoàng tử Albert, vốn sinh trưởng tại Đức đã đưa truyền thống cây Giáng Sinh này đến Anh. Còn tục lệ cây Giáng Sinh ở Hoa Kỳ do người Đức ở Pennsyvalnia đem đến từ quê hương của họ vào thế kỷ 19. Khi điện lực bắt đầu được sử dụng rộng rãi, các cây Giáng Sinh bắt đầu xuất hiện trong các công viên khắp Hoa Kỳ, và truyền thống "bật sáng cây Giáng Sinh" mau chóng trở thành những biểu tượng chính thức của việc bắt đầu Mùa lễ Giáng Sinh.

admin
16-12-2008, 07:00 PM
Nguồn Gốc Máng Cỏ, Hang Đá
Thật khó có thể nói một cách chính xác về sự ra đời của máng cỏ, hang đá như thế nào. Có thể lịch sử máng cỏ được bắt đầu từ thế kỷ thứ 2 dưới hình thức những bức họa trong các hầm mộ ở Rôma và các bức chạm trổ trên các mộ. Theo các tài liệu cổ, đầu tháng 12 năm 1233, thánh Phanxico Atxidi và ông Gioan Vilate đã làm một máng cỏ trong một hang động ở Ghetxion vùng Omrime miền trung nước Ý. Ông đã chọn một hang động lớn để tín đồ đến dự lễ. Ông lấy cây dựng chuồng bò, lấy bùn xây với đá như căn phòng kín của các tu sĩ trên núi. Tại đây, ông đã dựng một bàn thờ và đặt một máng cỏ ở phía dưới. Chiều áp lễ, ông dắt một con bò và một con lừa đến để chúng ngủ hai bên máng cỏ. Chỉ còn thiếu một hài nhi đóng vai Chúa Hài Đồng là không bà mẹ nào muốn cho mượn con mình đặt vào máng cỏ. Đêm đó, dân chúng xách đuốc lên dự lễ sáng rực cả vùng xung quanh, miệng luôn hát thánh ca đánh tan đêm tối tĩnh mịch. Thầy cả Phanxico cử hành Đại lễ khi giờ đã đến. Đúng lúc dàn hợp xướng hân hoan cất vang bài ca Vinh Danh Chúa thì bỗng dưng có tiếng hài nhi khóc ré lên. Lúc ấy mọi người mắt đẫm lệ, lòng rộn ràng sống lại Đêm Cực Thánh này. Bà mẹ nào đó đã thật dũng cảm cho con mình được đóng vai Chúa Hài Đồng. Thánh Phanxico hết sức vui mừng trước sự việc bất ngờ này. Ngài lại bên máng cỏ, xúc động ẵm Chúa Hài Đồng trên tay...

Từ đó, các nhà điêu khắc, hội họa thường vẽ hay chạm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ hay trên tay thánh nhân. Tại các Nhà thờ, các gia đình, các công sở, và các nhà hàng, mỗi khi mùa Giáng Sinh về, mọi người đều đua nhau trang hoàng Máng cỏ Bêlem. Nhiều nhà điêu khắc đủ mọi trình độ, ở khắp mọi nơi đã trình bày các máng cỏ với muôn sắc thái khác nhau, từ tầm thường đến cao siêu. Có điều, khi trình bày các máng cỏ, các quốc gia thường xây dựng theo ý riêng của dân tộc mình.

Nguyễn Nguyễn
http://thaithanh.vnweblogs.com

admin
16-12-2008, 07:13 PM
Mùa giáng sinh đã tới

Mùa giáng sinh năm 1818 tại một ngôi nhà thờ nhỏ thuộc làng Oberndorf, nằm giữa những rặng thông quanh năm tuyết phủ ở miền Tyrol nước Áo. Đây là một ngôi làng yên tĩnh trầm lặng, trong đó có linh mục Mohn, ngoài việc giảng đạo, ông còn là một thi sĩ, thường sáng tác những bài thơ về tôn giáo và được người bạn thân vốn là giáo viên trong làng tên Franz Gruber phổ nhạc... Năm đó, cũng như bao năm qua, ngày giáng sinh lại về, trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nhưng thật buồn vì đã vắng tiếng phong cầm, vì cây đàn quá cũ nên phải đem sữa chữa.

Để làm bớt nỗi cô tịch trong đem thánh vô cùng, Cha và những con chiên trong làng đã hợp ca bài hát :" Silent night, holy night, all is calm, all is bright... do chính ngài vừa sáng tác và Franz phổ nhạc. Cũng từ đó, bài hát lan truyền khắp nước Áo và những miền lân cận rồi khắp hoàn cầu trong đêm giáng sinh, với đủ mọi ngôn ngữ của con người. Tại Châu Âu, khi chờ đón lễ nửa đêm, ngồi nơi ánh lửa bập bùng, quanh quanh bông tuyết rơi trắng lạnh, các cụ thường kể cho con cháu nghe câu chuyện cảm động về bài hát giáng sinh trên cũng như tác giả đã sáng tác, cho mãi tới năm 1830, mới được nhà vua nước Saxe cũng là một nhạc sĩ tài danh, đưa ra ánh sáng. Mùa giáng sinh năm nay lại tới, đêm NOEL đang về trong khung trời giá lạnh tuyết rơi và nỗi lo lắng của thế nhân về một cuộc chiến vô hình. Nhưng mặc kệ, giống như xưa nay, tại khắp hết các thành phố,đô thị... kể cả làng quê biển xóm, từ Nữu Ước, Luân Đôn, La Mã, Ba Lê, Bá Linh, Ba Lan, Đông Kinh, Tân Gia Ba, Hồng Kông... cho tới Saigon, Hà Nội trong xã nghĩa thiên đường, nơi nào cũng mỗi ngày mỗi thêm nhộn nhịp, từ đầu tháng 12 dương lịch, cho tới nửa đêm 24 thì hầu như mọi người, từ tín đồ cho tới kẻ ngoại đạo, đều đổ xô ra đường, trong muôn sắc lập lòe của đủ loại pháo và ánh sáng rạng ngời của những ngôi sao trên trời, để cùng đón mừng đêm giáng sinh huyền diệu, đêm thánh vô cùng.
1. Những tập tục về ngày Giáng sinh qua 2000 năm lịch sử :
Từ cái đêm huyền thoại đó vào năm 1 sau tây lịch, giữa cánh đồng mông quạnh của thành phố nhỏ bé Bethlehem, thuộc đất Vua David, theo thánh kinh là nơi Đức Cha Jésus Christ ra đời. Thành phố này hiện thuộc lãnh thổ của Palestine, điểm hành hương và đất thiêng của tín đồ Thiên Chúa giáo trên khắp thế giới. Vùng này trước đây gọi là Ephrath, nằm cách kinh thành Jerusalem về phía nam chừng 9 km. Xa hơn nơi chúa ra đời về phía lục địa Âu Châu là Via Francigena, tên gọi của một con đường thời trung cổ, nơi các quốc gia phương bắc kể cả Anh Cát Lợi dùng để tới vương quốc Y Pha Nho cũng là nước Chúa thời đó, để hành hương từ năm 944 sau tây lịch (STL). Việc này có ghi trong những trang nhật ký du hành (travel diary) của Tổng giám mục Sigerico, thành Canterbury, Anh quốc, kéo dài từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ thứ XIV (STL). Đây là con đường quan trọng vì đã ghi đầy dấu ấn cũng như nhiều huyền thoại có liên quan tới sự phát triển của Ky tô giáo. Do trên, Tòa Thánh La Mã đã quyết định dựng lại con đường hành hương thời trung cổ trên, để cho bốn nước Anh, Pháp, Thụy Sĩ và Ý, chuyển bốn hòm thánh tích của nước mình, về Vatican trong ngày kỷ niệm năm toàn xá 2000. Lịch sử vốn là một tái diễn vô thường, ngày giáng sinh của Đức Chúa Jésus cũng theo dòng đời biến chuyển càng lúc càng phong phú và sôi động, dù tựu trung nhân loại cũng chỉ nhắm vào mục đích tôn vinh đấng toàn năng, toàn thiện, đã đem tình thương và nhân ái tới cho mọi người.

admin
16-12-2008, 07:13 PM
Tìm hiểu ngày Giáng sinh :
Dù cho có dùng bất cứ một thứ ngôn ngữ nào trên thế giới như Dies Natalis DOmini (La Tinh), Il Natale Ý),Noel (Pháp), La Navidad (Tây ban Nha, Mễ), Weihnacht (Đức), Rozh Destro Krista (Nga), Christmas (Anh, Úc, Hoa Ký...) tất cả đều giống nghĩa sinh nhật Chúa hay lễ giáng sinh của VN. Về niên lịch Chúa ra đời, các thánh kinh không nhắc tới, mãi tới khi hoàn thành kinh đô Rôma của đế quốc La Mã, Linh mục Dionysius Exignus mới xét lại lịch sử, tính năm Chúa ra đời, nhằm năm 754 trước tây linh (TTL), và lấy đó làm mốc thời gian đầu tiên của kỷ nguyên mới. Sau này những nhà làm lịch tính lại, thấy sai xuất 4 năm nhưng vì sự việc đã thuộc vào quá khứ hơn 14 thế kỷ qua, nên đành chấp nhận. Thật ra nguồn gốc lễ giáng sinh đầu tiên bắt nguồn từ các lễ hội dân gian của người La Mã, qua chu kỳ hằng năm vía thần Mặt Trời và Thổ Tinh. Tại vùng Trung Đông trước Thiên chúa giáng sinh, cũng đã có nhiều lễ hội mừng mùa đông chấm dứt. Tập tục này truyền vào Âu Châu và rất được các nước phương bắc ưa chuộng vì không mấy ai thích cảnh mùa đông băng giá, ngày ngắn đêm dài. Việc đón mừng Chúa giáng sinh cũng có nhiều khác biệt, trước khi nhân loại thống nhất như bây giờ. Căn cứ vào giáo sử, trong ba thế kỷ đầu (STL), giáo dân mừng sinh nhật vào ngày lễ Ba Vua (6-1). Riêng giáo hội Đông phương (Chính thống giáo), vẫn còn giữ tới ngày nay, còn giáo hội tây phương (Tòa thánh La Mã), từ năm 353 (STL), thời vua La Mã Constantino, chọn ngày 25-12 cho tới hôm nay. Đây cũng là sự phù hợp với ngày 25-3 hằng năm, lễ mừng Đức Mẹ thụ thai Chúa rất hợp lý, theo thời gian biến tuần lễ cuối cùng của tháng 12 dương lịch thành một lễ hội thu hút, vui nhộn và đầy ý nghĩa nhất của Ky tô giáo.

Giáng sinh trong văn nghệ :
Từ thời trung cổ, khắp Âu Châu hằng năm vào mùa giáng sinh, lập ra các sân khấu lộ thiên để các đoàn văn nghệ lưu động biểu diễn các vở kịch soạn theo những tình tiết trong thánh kinh, nhờ vậy nền kịch nghệ của tây phương đã phát triển mạnh trong giai đoạn này, cho tới đầu thế kỷ XVIII mới chấm dứt phong trào kịch diễn thánh kinh. Riêng trong lãnh vực văn chương, trong qua bao nhiêu thế kỷ đã có nhiều tác phẩm viết về ngày giáng sinh nhưng theo nhận xét của văn học sử tây phương thì tác phẩm "On the morning of Christ's nativity" của thi sĩ Anh quốc Milton (1608-1674) hay nhất nên đã được phổ quát rộng rãi khắp thế giới, chẳng những về giá trị nghệ thuật mà còn mang tính chất trung thực vì tác giả là tín đồ tân giáo.
Về âm nhạc, ngoài bài hát Silent night của một linh mục người Áo năm 1818 nổi tiếng dù từ thế kỷ XVI đã có nhiều bài hát về giáng sinh như Lucas Le Moigne, Barthélémy Aneau, Nicolas Sabelỵ.. song song với những thánh ca giáng sinh của Michel Corrette (1709-1795), Louis Claude D'aquin (1694-1772), Claude Balbastre (1729-1799). Theo tài liệu thì bài thánh ca "Jesus, ánh sáng muôn dân" của thánh Hilerio là bài hát đầu tiên về Ky tô giáo vào thế kỷ thứ 4 STL Thế kỷ thứ 13 STL mới có nhiều bài thánh ca vui nhộn bằng tiếng Latin, trong đó nổi tiếng là bài Adeste Fideles. Tại VN trước kia, cũng có bài hát "Đêm đông lạnh lẽo" của nhạc sĩ Hải Linh, rất được ưa thích và phổ quát... Cũng đã có nhiều phim ảnh kể lại cuộc đời của Chúa Jesus như Ben Hur do đạo diễn Fred Nibro thực hiện, có trình chiếu tại VN năm 1932-1934. Truyện phim phỏng theo quyển lịch sử tiểu thuyết của nhà văn danh tiếng Lewis Wallace, thực hiện tại các thành phố cổ tích liên quan tới cuộc đời Chúa Jesus như Jesusalem, Bethlehem, Nazareth.. trong lãnh thổ của Do Thái và Palestine.

Những bức tranh Thiên Chúa nổi tiếng :

Từ khi Ky tô giáo phương đông du nhập và phát triển tại Âu Châu, bàng bạc qua mấy trăm năm thời trung cổ cho đến cuối thế kỷ thứ XV, Tòa thánh La Mã hầu như quyết định hoàn toàn việc phát hành mọi tranh ảnh vẽ các vị thiên thần, thánh, mẹ Maria và Chúa hài đồng. Do sự hạn hẹp trên, nên nhà kiến trúc và hội họa đã phải sáng tạo những tác phẩm vô cùng ước lệ, công thức và kiểu mẫu, từ hình thức đến nội dung đầy tính chất thần thánh, siêu phàm và bất động. Chính họa sư người Ý là Giotto sống trong thế kỷ XIV là một trong những người đã có công sáng tạo nên những bức tranh nổi tiếng về Mẹ Maria và Chúa Ky tô, trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thời trung cổ và phục hưng tại Âu Châu.
Sự khác biệt lớn lao nhất là nền hội họa mới, hướng theo tinh thần hội họa Hy Lạp, lấy người thật làm đối tượng, để sáng tạo nên hình ảnh những vị thần thánh trong tín ngưỡng. Hai họa sư người Ý là Leonard De Vincy và Raphael trong thời phục hưng đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Leonard De Vincy thành công tuyệt đỉnh trong bức tranh "Đức Mẹ Benois". Đây là họa phẩm đầu tay và ông đã mượn hình ảnh của một thiếu phụ trẻ đẹp, khả ái đang mĩm cười nhìn hai nụ hoa tím đang hé nở trên tay một hài nhị Người mẹ tương trưng cho Mẹ Maria hiền từ và hài nhi là biểu tượng của chúa Ky tô. Toàn bộ bức tranh thật sống đọng qua đôi mắt của chú bé lúc hướng nhìn vào cánh hoa, đồng thời đưa một ngón tay chạm vào hoa như sợ mất. Bức tranh này có nội dung và hình thức khác biệt với những tranh vẽ thời trước rất rườm rà và mầu sắc loè loẹt khó coị Ngoài tuyệt tác phẩm trên, họa sư còn có nhiều tranh khác như Đức Mẹ Lita, Đức Mẹ và Thánh Anạ.. cũng là những thành công tuyệt đỉnh đối với nền hội họa thời phục hưng tại Âu Châu.
Raphel Santy sống đồng thời với Leonard và cũng nổi danh về những tuyệt tác phẩm vẽ về Chúa và Mẹ Mariạ Tuy nhiên giữa hai ông có sự khác biệt trong cách dựng nền của bức tranh. Điều này dễ hiểu vì Raphel sinh trưởng và sống trọn quãng đời niên thiếu của mình tại Urbino, một vùng quê thơ mộng và xinh đẹp của miền bắc Ý. Phong cảnh hữu tình đã ảnh hưởng lớn đến tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ. Sau này, ông đến sống tại Florence và Roma, những bức tranh cũng được vẽ ở đó nhưng trong các danh họa như Đức Mẹ Cadatempi, Đức Mẹ với hài nhi, Cậu bé Jean Baptist, Người Nẹ Elizabeth... đều được ông chọn đồng quê qua cảnh vườn cây thơ mộng, bãi cỏ xanh mượt chen lẫn với muôn hoa, tháp chuông nhà thờ cao vòi vọi, im lìm soi bóng trên mặt sông, hồ xanh ngắt tĩnh lặng. Ông qua đời sớm vào năm 37 tuổi, trước khi ra đi đã để lại cho thế nhân và Tòa Thánh bức danh họa được xem như là một tiêu biểu của nền nghệ thuật Ý xưa nay "Đức Mẹ Sixtine" vì đã viên mãn trong sự kết hợp giựa niềm tin của thiên chúa và nghệ thuật, lấy tình mẫu tử của thế nhân để đạt tới chủ đề lòng vị tha cũng như đức hy sinh cao cả của thiên chúa và mẹ Maria.

admin
16-12-2008, 07:14 PM
Huyền thoại và tập tục về máng cỏ :

Theo truyền thuyết, chính Thánh Francois là người đầu tiên sáng tạo máng cỏ vào năm 1223 STL, khi ông từ quê hương tại Assie thuộc tỉnh Pérouse, Y pha Nho, tới dẫn dắt con chiên trong ngôi làng Greccio miền sơn cước. Đêm giáng sinh năm đó, ngài cử hành lễ Misa trong khu rừng, trước một hang động nơi đặt bàn thờ Chúa là cảnh thật với máng cỏ và đàn bò cừu đang vô tư gặm nhắm thức ăn. Theo thời gian, miền Greccio trở thành một Bethlem thứ hai trong tâm trí những người thiên chúa giáo và cũng từ đó khắp Âu Châu lan tràn toàn thế giới, ước vọng sáng tạo khung cảnh đêm thánh vô cùng thân thương và quen thuộc mau chóng thành công và tiếp tục tới ngày nay. Bao nhiêu thế kỷ qua, cứ tới mùa giáng sinh, các tín dồ Ky tô lại làm máng cỏ trong cảnh Chúa sinh ra đời. Nhưng tuỳ theo tập quán của mỗi dân tộc, cho nên không cái nào giống nhau.
Tại thành phố Naples của Ý vào thế kỷ XVIII, nghệ thuật làm máng cỏ tại đây nhờ có Vua Charles 3 và triều thần chú trọng nên đã đạt tới đỉnh cao của thời hoàng kim và trở thành một cái mốt thời thượng trong mọi giới. Nghề làm máng cỏ từ đó cũng phát triển khắp Âu Châu và Hội chợ máng cỏ mỗi năm lại được khai mạc vào tháng chạp tại Khu Canebière ở Marseille Pháp, tại đây bày bán đủ thứ các pho tượng các Thánh, nhỏ nhắn xinh đẹp, bò cừu lừa thời xưa luôn cả tưọng cư dân của miền Provence là nơi nổi tiếng làm máng cỏ. Ngày nay tại các viện bảo tàng tại Naples, Trapani, Munich... đều có trưng các máng cỏ lịch sử của mọi thời. Tại miền nam nước Ý, các ngư phủ ở Amalfi đặt máng cỏ trong động Bích Ngọc dưới làn nước xanh, trong khi đó vùng Lombadie cạnh hồ Majeur, giữa biên giới Ý-Thụy Sĩ, hằng năm vào đêm 24-12, các thợ lặn đặt tượng Chúa trong một máng cỏ làm bằng chiếc vỏ sò lớn ở độ sâu 23m.

Bí ẩn về ngôi sao Bethlehem :

Trong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng, rực rỡ, thánh kinh gọi đó là ngôi sao Bethlehem, đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao giáng sinh, một supernova, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên văn học. Mới đây Nibel Henbest, một khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong thái dương hệ, đển giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngội sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được. Theo Nibel thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa giáng sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước tây lịch, có nghĩa là sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng 8 năm 3 trước tây linh, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ là một ngôi sao sáng. Ngày 17-6-2 trước tây lịch, hai sao trên lại gặp nhua nhưng không va chạm, như tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà thánh kinh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra với người Ky tô giáo xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, đưọc coi là biểu tượng của Đấng Cứu thế, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là Đấng bổn mạng. Đây là hai ngôi sao sáng nhất trong thái dương hệ và cái hiện tượng hội ngộ giao thoa, chỉ xảy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, đưọc xem là giả thuyết hợp lý về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.

Cây thông :

Theo huyền thoại thì vào một đêm đông giá lạnh nơi khu rừng cô tịch, có một chú bé vào xin trọ trong một túp lều nghèo nàn của vợ chồng bác tiều phu và được tiếp đãi tử tế. Chú bé đó là Chúa Jesus hài đồng, đã đền ơn cho bác tiều phu bằng cách hóa phép biến cành thông có đầy các trái vàng bạc. Đây cũng là cây thông đầu tiên trong mùa giáng sinh... Cây Noel còn được gọi là cây Sapin, xuất xứ từ Bắc Âu, được quân Thụy Điển mang vào Đức, trong cuộc chiến Guerre de Trentes Ans (30 năm). Đến thế kỷ thứ XIX, thông vượt biển Manche vào Anh quốc rồi theo công chúa nước này là Mercklembourg tới Pháp khi theo chồng là công tước Orléans. Từ đó về sau, cây được mọi người trang hoàng với đèn hoa và các đồ vật đủ màu sắc trong mùa giáng sinh. Theo thống kê của Nha Kiểm Lâm Hoa Kỳ, thì hằng năm dân Mỹ tiêu thụ trên hai triệu cây thông đưọc trồng trong các trang trại tư nhân. Tại Bạch Cung ở Hoa Thịnh Đốn, mỗi năm đều có lễ dựng cây thông lớn nhất trên đất Mỹ, do chính tay Tổng Thống và Phu Nhân trang hoàng.

admin
16-12-2008, 07:16 PM
Ông già Noel :

Cách đây hơn 100 năm, tờ nhật báo The New York Sun, đã đăng bài trả lời câu hỏi của cô bé Virginia "ông già Noel có thật hay không ?" trong đó có đoạn :"..tất nhiên là ông già Noel có thật. Đó là một sự thật hiển nhiên như tình thương, lòng bác ái, sự thành kính không thể thiếu trên hành tinh chúng tạ." Cũng kể từ đó bài viết này đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng và đưa vào chương trình bậc đại học Mỹ ngành báo chí. Theo truyền thuyết, giám mục thành Myra, sinh tại Thổ nhĩ Kỳ năm 279 sau tây lịch (STL), nổi tiếng vì những hoạt động bác ái, vì vậy đã đưọc phong thánh bổn mạng cho trẻ em, vào thế kỷ IX (STL). Từ đó tại các quốc gia Anh, Mỹ gọi là Santa Clauss, xuất phát từ St. Nicholas Sinterklass. Lúc sinh thời, ngài hay bố thí tiền bạc cho trẻ con nghèo, có một lần đã bỏ những đồng tiền vàng từ ống khói xuống các đôi bít tất của ba cô gái nghèo, treo bên lò sưởi... khởi đầu tập tục trẻ con treo vớ trên đầu giường, để nhận quà của ông già Noel trong đêm giáng sinh. Tại Hoa Kỳ, huyền thoại về ông già Noel sống ở vùng Bắc cực, với công việc duy nhất là theo dõi mọi trẻ em trên thế giới để coi ai tốt, xấu. Ông bà Noel có một xưởng với nhân công toàn là những chú lùn, chuyên chế tạo đồ chơi cho trẻ con, vì vậy đến mùa giáng sinh, trẻ con khắp nơi viết thư về xin quà. Vào đêm 24 tháng 12, ông già Noel ngồi trên xe chở đầy quà, do đàn tuần lộc kéo, bay trên trời tới từng nhà phát quà cho trẻ con. Từng nhà, ông mang theo một gói quà lớn, theo đường ống khói vào nhà. Do trên, các em đều đi ngủ sớm trong đêm lễ, với hy vọng thức dậy sẽ có đầy quà trong đôi bít tất treo trước giường... Theo bưu điện Hoa Kỳ, hằng năm đã nhận hằng chục triệu bức thơ của trẻ em nghèo gởi ông già Noel tại bắc cực xin quà và dĩ nhiên các em sẽ được các ông già Noel giả của các hội từ thiện tới nhà cho quà.

Gà tây :

Còn được gọi là gà lôi, turkey hay Dinde, được các nhà thám hiểm từ tâm thế giới (Châu Mỹ) mang vào Âu Châu từ thế kỷ XVỊ Năm 1521 Hernan Cortes chiếm Mễ tây Cơ và lấy giống gà này mang về Tây ban Nhạ Người Pháp gọi gà mái tây là Poule d"Inde hay là Dinde, còn gà trống là Dindon vì lúc đó Âu Châu lầm tưởng Tân thế giới là Ấn Độ. Tại Pháp, gà mái tây lần đầu được đưa vào bàn tiệc cưới của vua Charles XIX vào năm 1570. Từ đó, gà tây được coi như món ăn của Hoàng gia và giới thượng lưu, trong các ngày lễ, tiệc và đặc biệt là bữa ăn tối đêm Noel. Ngày nay gà tây là món ăn thông dụng, nhất là tại Hoa Kỳ. Gà tây còn được dùng trong lễ Tạ ơn theo truyền thuyết vào năm 1621 khi cha Pilgrim, đi tàu Mayflower tới vùng Tân Anh Cát Lợi. Trong đêm tổ chức Lễ tạ ơn, thổ dân tại đây đã tặng ông một con gà tây. Tập tục này được giữ tói ngày nay và trở thành món truyền thống, không thể thiếu được trong bữa tiệc đêm Noel. Ngoài ra còn phải kể tới chiếc bánh Buche de Noel có hình khúc củi, xuất xứ tại các gia đình Âu Châu thời trung cổ, đã dùng củi đốt suốt đêm trong lò sười, để chống lại băng giá mùa đông và cầu phước lành. Bánh trở thành món ngọt trong tiệc giáng sinh từ sau thế chiến II, làm bắng bột, đường, bơ, kem và chocolat. Cùng hiện diện trong mùa giáng sinh với cây thông, hang đá, còn có Hoa giáng sinh (Christmas Flower) mà VN gọi là Hoa trạng nguyên và hoa rất đặc biệt vì hoa là lá, có màu đỏ hay vàng bao quanh cụm hoa.

2. Tinh thần Giáng sinh :

Dù người xưa hay nay đã bày ra nhiều tập tục để mừng lễ giáng sinh, vừa mang tính chất đạo lẫn đời. Tuy nhiên trên hết vẫn là tinh thần bác ái mà Chúa Jesus đã mang đến cho nhân loại hơn 20 thế kỷ quạ Tiệc, quà hay thiệp giáng sinh đều mang nội dung chúc lành, giống như chân lý của thiên chúa : "phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ..." Tóm lại tinh thần giáng sinh là tình thương thế nhân chân thật, thiếu nó, con chiên chĩ thuần túy là người giữ đạo mà thôi. Trong ý hướng sống đạo trên, năm thánh 2000 vừa qua đã có hơn một tỷ người thiên chúa giáo hướng về Toà Thánh Vatican ở La Mã để xám hối hầu đón nhận hồng ân. Trước đây năm thánh được cử hành 50 năm, một lần. Ngày nay thời gian là 25 năm. Đức Giáo Hoàng Phao Lồ II đã chính thức phát động Năm Thánh 2000, mở đầu đệ tam thiên kỷ cho Giáo Hội Thiên Chúa giáo La Mã. Nhiều kỷ niệm năm toàn xá 2000 mang tính cách thiêng liêng và đầy ý nghĩa như đúc chuông năm thánh do chính đương kim Giáo Hoàng đã đến chủ tọa lễ đúc chuông năm thánh vào ngày 19-3-1995 tại xưởng đúc Marinelli ở thị trấn Agnone, miền trung nước Ý thực hiện.

Chuông đúc bằng đồng, nặng 5 tấn có đường kính 2 m. Điêu khắc gia Armando Marinelli là người trang trí. Chuông được treo tại quảng trường Thánh Phêrô và sẽ đánh vào đêm 31-12-1999, báo hiệu bắt đầu thiên kỷ thứ bạ Bưu ảnh hành hương thánh địa về nguồn cũng đưọc Toà Thánh thực hiện từ những bức danh họa, xuất bản tại Đức từ thế kỷ XIX gồm các địa điểm mà Chúa Jesus sinh ra, lớn lên và hành đạo như Bethlehem (Nơi Chúa ra đời), Nazareth, Hồ Tiberrias, thánh địa Jerusalem và núi Tabor. Tất cả các địa danh trên nay thuộc Do Thái và Palestinẹ Đêm nay giáng sinh lại về trên quê ngươi, gió đông hiu hắt lành lạnh, khiến kẻ ngoại đạo càng thêm cô đơn và thèm bữa Réveillon như năm nào còn sống tại Phan Thiết. Trên bầu trời đen đặc, dường như đã thấy xuất hiện một ngôi sao sáng rực rỡ. Bắt chước thế nhân, ta đón chào niềm vui bất tận để mừng đêm Chúa ra đời và chúc một mùa giáng sinh an lành đến với tất cả mọi người. Chợt đâu có tiếng ai đang hát bản Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, khiến đang vui bỗng ngậm ngùi thương nhớ quê hương-

Xóm Cồn
Đông 2005
Tài liệu tham khảo :
Courrier International 370
Cinemonde 93
Paecours, 11-1996
Tour Savoir et Constellation Nous Deux et Nouvel Observateur.
http://www.vn.net

admin
16-12-2008, 07:45 PM
Giáng Sinh và Hang Ðá
Sư huynh Trần Công Lao

Hằng năm, cứ vào ngày 25 tháng chạp dương-lich, toàn thể nhân-loại, đặc-biệt là hơn một tỷ tín-hữu công giáo khắp toàn cầu, long-trọng đón mừng một biến-cố lịch-sử lớn-lao vô tiền khoán hậu: ngày ‘Ngôi Hai xuống thế làm người’ [Jn 1, 14] đã sinh ra tại Bê-lem và được đặt nằm trong ‘’máng cỏ’’

Lễ Giáng-Sinh

Lễ Giáng-sinh là một trong những lễ cổ nhất của đạo công-giáo, đã được cử-hành lần đầu tiên vào năm 336 tại Roma. Hình như ở Phi châu cũng đã bắt đầu mừng lễ này vào thời-kỳ đó, vì hai giáo-hội Bắc-Phi và La-mã luôn có sự liên-lạc mật-thiết với nhau. Sự-kiện Ngôi hai giáng trần, sinh ra ở Bê-lem trong cảnh khó-nghèo, được Ðức Maria đặt nằm trong "máng cỏ’’, có thiên-thần loan báo cho các mục-đồng đến thờ lạy, đều được phúc-âm mô-tả đầy đủ [Cf. Lc 2,1-20], nhưng ngày tháng nào thì trong cả 4 Phúc-âm, không một nơi nào đề-cập, chỉ cho biết cách mông-lung là dưới thời hoàng đế Xê-sa, khi Xy-rin làm tổng trấn xứ Xyria [Cf.Lc 1-3] vì thế, lúc ban đầu, lễ Giáng-sinh khi thì cử-hành vào tháng Giêng, lúc lại được mừng vào tháng Năm dương-lịch.
Về sau, theo lời đề nghị của thánh Cyrille, Ðức Giáo Hoàng Juluis đệ nhất đã dạy các nhà thần-học nghiên-cứu và thảo-luận vấn-đề, nên năm 350, nhật-kỳ mừng lễ đã được công-khai ấn-định vào ngày 25 tháng 12 mỗi năm, ngày mà người ngoại-giáo La-mã mừng lễ thần Mặt trời tái-sinh [Natalis Solis invicti], vị thần chiến-thắng bóng tối, theo họ tin-tưởng. Vấn-đề ánh-sáng, đối với Giáo-hội sơ-khai và thời các thánh giáo-phụ rất được chú trọng "ChúaKitô là Mặt Trời công-chính’’ [Mal.3,20]. Chính Chúa Giê-su cũng đã phán; "ta là ánh-sáng thế-gian" [Jn 8,12]. Chính do sự tương-hợpđó mà Hội thánh không ngần-ngại chọn 25 tháng chạp để mừng lễ Chúa Giáng-Sinh, thay cho ngày lễ của người dân ngoại.
Máng Cỏ
Cái đập mạnh vào thị-giác tín-hữu trong mùa Giáng-sinh chính là ‘Hang Ðá’. Ở các thánh-đường và các gia-đình, tùy từng địa-phương và tùy năng-khiếu, người ta trưng dọn nhiều kiểu hang đá. Nhiều cái làm thật công-phu, trình-bày rất ngoạn mục; Giữa cánh đồng mờ sương với núi non chập-chùng, trong một hang đá, có Chúa Hài-nhi bé-bỏng nằm giữa "máng cỏ", đôi tay tay giăng ra như đón tiếp, như muốn ôm ấp những ai đến với ngài. Hai bên, Ðức mẹ và thánh Giu-se nghiêm-trang quỳ chầu với đôi bò lừa hiền-hoà nằm gác mõm vào máng cỏ, như đang dùng sức mình để hà hơi cho ấm Hài nhi. Lại có vài chú mục-đồng, người ôm chiên, kẻ thổi sáo đang quỳ hoặc đứng. Tất cả cảnh-tượng đó được diễn ra dưới bầu trời trăng sao mờ ảo... Nhưng thật ra, Bê-lem ngày đó có những gì ? Phúc-âm thánh Luca chép : ‘ Xê-sa đại-đế truyền khai dân số... Giu-se thuộc dòng dõi Ða-vít, nên đã bỏ Na-gia-rét- xứ Ga-li-lê lên thành Ða-vít, tức là Bê-lem, hầu khai tên mình, và Maria, bạn mình đang có thai. Khi hai Ðấng đến đó, Maria đã đến ngày sinh nở. Người sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con, đặt trong máng cỏ, vì hai Ðấng ấy không có nơi trọ’[Lc 2,1-7].
Qua đoạn nầy, ta thấy phúc-âm chỉ nói đến ‘Máng Cỏ’, chứ không đề-cập gì đến ‘Hang Ðá’. Máng cỏ là nơi người chăn nuôi làm để chứa rơm cỏ cho bò chiên ăn. Có lẽ sẽ có người tò-mò muốn biết ‘máng cỏ’ thời đó được làm bằng vật-liệu-gì. Nếu căn-cứ theo lời phát-Biểu của thánh Giê-rôm, thì máng cỏ tại Bê-lem được làm bằng đất sét. Vì vào năm 420, khi thấy các giáo-hữu không tôn-trọng tình-trạng nguyên-thủy các nơi thánh, ngày đã than phiền ; ‘Tôi ao ước nhìn thấy máng ăn, nơi chúa đã sinh hạ. Nhưng than ôi, vì lòng tôn-kính Ðức Kitô, người ta đã vất bỏ máng ăn bằng đất sét và thay thế vào một máng ăn bằng bạc. Ðối với tôi, máng ăn mà người ta đã vất bỏ, nó quý giá biết ngần nào’’! [G. Morin, Anecdocta Maredsolana, in-8, Maredsokì, 1897,3, par 2, p.393]. Tuy-nhiên, hiện nay ở Rô-ma, trong đại-vương-cung thánh-đường Ðức Bà Cả, tại bàn thờ giáo-hoàng, có 5 miếng gỗ để trong hòm pha-lê mà người ta tin là Máng cỏ Bê-lem, hay ít ra, nó cũng là một phần của máng cỏ ấy.
Hang Ðá
Vào những thế-kỷ đầu tiên của Giáo-hội, trừ thời-kỳ bị bách-hại hoặc bị Hồi-giáo chiếm đóng, hang đá Bê-lem, nơi được xem là Chúa sinh ra, đã có những cuộc hành-hương kính viếng. Sau đó, trong các xứ công-giáo, người ta đã làm những ‘hang đá Bê-lem’, (như bây giờ ta làm hang đá Lộ-đức vậy), tại các nhà thờ và tư-gia. Vào thế-kỷ 15, ở Ý-đại-lợi, đã bắt đầu xuất-hiện những "Hang Ðá Thường-trực’’ trong một vài thánh-đường, tức là khi hang đá đã làm xong thì để luôn cho giáo-hữu kính viếng hoặc du-khách đến xem. Chẳng hạn như hang đá ở nhà thờ thánh Cót-ma và Ðaminanaô hiện nay tại Roma. Còn "Hang Ðá Nhất Thời’’(chỉ dựng lên trong dịp giáng-sinh) lần lần phát-triển rộng-rãi và những truyền-thống đã được triển-khai trong việc sản-xuất các nhân-vật "máng cỏ" bằng gỗ, đất sét, thạch-cao, bột mì, sáp... Tại Pháp, những hình đất (santons) ở Provence rất nổi tiếng.
Song-song với việc sùng kính Sinh-nhật Chúa Ki-tô, những hình-thức trình-bày nảy sinh, những cách cử-hành phục-vụ trong các nhà thờ ở giữa thánh-đường, đúng theo tư-tưởng bàn thờ là máng cỏ đích-thực. Vì chính trên bàn thờ mà Ðức Ki-tô sẽ hiện diện trong hình bánh rượu hiến-tế. Giáng-sinh chỉ mang ý-nghĩa trong viễn-cảnh mầu-nhiệm Phục-sinh. Chính trong tinh-thần ấy mà vào năm 1223, thánh phan-xi-cô khó-khăn đã cử-hành một lễ Giáng-sinh lịch-sử. Mấy ngày trước lễ, thánh-nhân đã nhờ người quý-phái tên là Gioan, chủ-nhân lâu-đài Greccia ở vùng Umbria, thuộc miền Trung nước Ý, dọn một hang đá, có bò lừa sống-động. Người muốn ông ta trình-bày khung-cảnh sao cho thật giống những gì đã xảy ra tại Bê-lem năm xưa. Thế rồi khi màn đêm buông xuống, thánh- nhân qui- tụ các thầy trong dòng và đoàn lũ dân chúng tại ở thung-lũng Greccia. Trong ánh-sáng tưng-bừng của hàng ngàn vạn cây nến cháy lung-linh mọi người hiệp nhau trong niền tin, sốt-sắng đọc kinh cầu nguyện và say-sưa hát mừng Ðấng Cứu-thế giáng-sinh. Ðến nửa đêm, Người cử-hành Thánh lễ trên Máng cỏ, hát Phúc-âm và giảng về Hài-nhi Thiên-chuá, khiến mọi người vô cùng xúc động. Sau lễ giáng-sinh đầy kỷ-niệm đó, hàng năm khi mùa giáng-sinh về, khắp nơi trong nước Ý, dân chúng bắt chước sáng-kiến thánh-nhân, dọn ‘’Hang Ðá’’ trong nhà thờ và các tư gia. Chưng-bày tượng Ba Ðấng; mục-đồng với bầy chiên lại thêm hai con bò lừa để diễn-tả lời sách tiên-tri ‘’Con bò biết người tậu nó, con lừa biết chuồng chủ nuôi’’ (1s.1,3).Tập-tục tốt đẹp nầy, từ đó, lan ra khắp nơi và cũng do việc cử-hành mang đầy ý-nghĩa ấy mà truyền-thống cho rằng đó chính là ‘’máng cỏ đầu tiên’’.

admin
16-12-2008, 07:54 PM
Thánh Phanxicô và sự tích hang đá.

Theo tác giả Omer Englebert, hai tuần lễ trước Giáng sinh năm 1223, trên đường từ Rôma về Assise, thánh nhân dừng chân ở thị trấn Greccio (khoảng giữa đường từ Roma tới Assise), và gặp Jean Velita, một điền chủ giầu có vừa từ bỏ binh nghiệp để nhập dòng. Kế cận Greccio là dải núi đá bao quanh một thung lũng rộng. Trên núi đá thẳng đứng có một cái hang, được che khuất bằng một hàng cây. Phanxicô nói : ‘‘Ta mong ước cử hành lễ Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bê Lem, nhưng làm sao thể hiện được nỗi cơ cực và khổ đau của Ngài ngay từ thuở còn thơ để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô. Con dẫn theo một con lừa và một con bò, giống như bò lừa đã chầu quanh Chúa Hài đồng năm xưa.’’ Theo Celano kể lại, trong đêm Noël, các anh em ẩn sĩ quanh vùng và dân làng đốt đuốc sáng trưng địa điểm hành lễ. Đoàn người lặn lội men theo đường núi gập ghềnh, khúc khuỷu tới trước hang đá. Bao nhiêu hang động xung quanh dội lại lời ca nguyện của các thầy trợ sĩ, chen lẫn đồng ca điệp khúc của cộng đoàn. Thánh lễ cử hành trên một bàn thờ treo. Thánh nhân bận chiếc áo thụng (dalmatique) của thầy phó tế, giúp vị chủ lễ. Ngài hát bài phúc âm, công bố Tin Mừng cho những người thiện tâm và chia sẻ lời Chúa. Ngài dùng những lời dịu ngọt để nhắc lại sự tích vị ‘‘Hoàng đế nghèo’’ sống trước thánh nhân 12 thế kỷ, chào đời ở Bê Lem. Người ta kêu ngài là Giêsu, hoặc Hài đồng Bê Lem (Enfant de Bethléem). Thánh Phanxicô bắt chước tiếng chiên lừa khi phát âm hai tiếng : ‘’Bethléem’’. Jean Velita kể lại lúc thánh nhân bắt chước tiếng chiên lừa, hài nhi Giêsu đang ngủ yên trong hang đá chợt thức giấc, nhoẻn miệng cười. Trong bút ký của thánh Bonaventura có đoạn chép rằng : ‘‘Ba năm trước khi từ trần, thánh Phanxicô quyết định mừng lễ Giáng sinh trọng thể. Sau khi được Đức Thánh Cha cho phép, Ngài sai làm máng cỏ, bảo người mang cỏ khô và dẫn một con lừa và một con bò. Máng cỏ Greccio đã ban ơn thiêng cho nhiều người và cho cả những gia súc bị bệnh tới gậm cỏ khô. Kể từ máng cỏ đầu tiên tại Greccio (1223), hàng năm, tại các giáo đường và tư gia trên khắp thế giới, người ta lại bầy máng cỏ cùng với cây thông để mừng lễ Giáng sinh.

Lê Đình Thông, Giáng Sinh: ngày lễ của thương yêu và hoà giải (http://catholicvideo.org/Media/giangsinh.pdf)

admin
19-12-2008, 08:19 AM
Ba Vua và Ngôi Sao Lạ

Mùa đông tới với những cành cây xám khô bơ vơ trơ trụi lá. Mùa đông buông rơi những hạt bông tuyết lất phất bay bay. Mùa của cây xám khô và của bông tuyết trắng nhắc nhở tới mùa Giáng Sinh, mùa của thanh bình và của hy vọng. Giáng Sinh rộn ràng thương xá, người người mua sắm, chuông vàng chuông bạc vang vang một góc trời. Giáng Sinh đốt đèn sáng rực những bầu trời đêm đen của Châu Âu, Bắc Mỹ, và Úc Châu. Giáng Sinh giăng mắc đèn mầu nơi nơi, đèn bám mái nhà, đèn viền cửa sổ, đèn sáng lấp lánh cây thông xanh trong căn phòng khách ấm cúng. Đặc biệt người Kitô hữu Việt Nam còn có phong tục làm hang đá. Bên trong hang đá lấp lánh dây kim tuyến là tượng Chúa Hài Đồng nhỏ bé nằm trong máng cỏ nở nụ cười ngây thơ. Bao bọc chung quanh Hài Nhi Giêsu là thánh Giuse, Đức Mẹ Maria, và những mục tử chăn chiên; tất cả đều đang im lặng chiêm ngắm mầu nhiệm Ngôi Hai ra đời làm người. Sánh vai với thánh thợ mộc Giuse, Mẹ Maria, và những mục đồng là Ba Vua. Trên tay ôm những món quà, vàng bạc, mộc dược, và nhũ hương, ba người khách lạ năm xưa của thôn làng Bethlehem trầm ngâm nghiêng mình thờ lạy Hài Nhi Thánh. Nhắc đến Ba Vua, chúng ta không thể nào quên được ngôi sao lạ đã hiện ra trên bầu trời thông báo cho Ba Vua biết đại tin mừng là Thiên Chúa đã mặc lấy thân xác con người qua mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.
Ba Vua và Ngôi Sao Lạ là một trong những khuôn mặt quan trọng không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến ngôi sao lạ. Nhắc đến ngôi sao lạ là nhắc đến Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu Việt Nam nói riêng và người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về sự tích Ba Vua và Ngôi Sao Lạ. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” hoặc “Ngôi sao lạ tên chi?”, nhiều người Kitô hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng không ít thì nhiều với hai câu hỏi vừa được nêu ra. Bởi vậy, trong bài tiểu luận Ba Vua và Ngôi Sao Lạ, chúng ta sẽ cùng nhau khăn gói lên đường đi tìm kiếm hình ảnh của những người khách hành hương năm xưa. Họ là ai? Tên chi? Sau khi diện kiến, chuyện trò, hàn huyên, và tâm sự với Ba Vua, chúng ta sẽ tạm biệt các ngài, tiếp tục lên đường tìm kiếm một dung nhan khác của tháng Mười Hai. Lần này chúng ta sẽ không đi tìm người nữa, nhưng là truy lùng dấu vết của ngôi sao lạ, ngôi sao của một thời chiếu sáng đưa đường dẫn lối Ba Vua tới thị trấn Bethlehem, nơi có Hài Nhi Thánh đang nhắm mắt say nồng trong tiếng ầu ơ ví dầu của người mẹ Nữ Vương Thiên Đàng Maria.
I. Ba Vua, Mágòi
Theo như thánh sử Matthew khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bethlehem, xứ Judea, trong đời vua Herod, mágòi (μáγoi) từ phương Đông tìm đến Jerusalem. Các ông hỏi,
— Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1).
Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μáγος) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μáγος), có nghĩa là chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và tu sĩ của nền văn hóa Trung Đông thời cổ.
A. Chiêm Tinh Gia
Mágòi là những nhà chiêm tinh gia bởi vì họ có những kiến thức và khả năng đặc biệt về thiên văn học. Căn cứ vào những dữ kiện thâu thập được từ những vòng quay quỹ đạo, tốc độ vận hành, và năng lượng ánh sáng của những vị tinh tú trong vũ trụ, mágòi có khả năng dự liệu hoặc tiên đoán được những biến chuyển hoặc những biến cố sẽ xảy đến trên mặt quả địa cầu. Đặc biệt tương tự như người phương Đông chúng ta, người Trung Đông tin rằng khi một hài nhi chào đời, trên trời một ngôi sao mới cũng sẽ xuất hiện. Nếu hài nhi là con vua cháu chúa hoặc một đấng minh quân, ngôi sao bản mệnh này sẽ chiếu sáng rực rỡ trên vòm trời trong một khoảng thời gian khá lâu; thí dụ, khi Đức Giêsu hạ sinh tại thành phố Bếtlêhem, ngôi sao bản mệnh của ngài đã xuất hiện trên bầu trời thông báo cho nhân loại biết Con Một Thiên Chúa đã hạ sinh làm người. Từ phương Đông của nước Do Thái, những nhà chiêm tinh gia đã nhìn thấy ngôi sao lạ. Dựa vào khả năng thiên văn học của mình, những nhà chiêm tinh gia biết rằng ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời này chính là ngôi sao bản mệnh của Đông Cung Thái Tử của vuơng quốc Do Thái. Bởi thế các ông hành trang lên đường đi thẳng tới kinh thành Jerusalem là thủ đô chính trị của nước Do Thái vào thời bấy giờ để triều bái Ngài. Rất tiếc, Đức Giêsu lại không hạ sinh ở thủ đô Jerusalem, nhưng tại một thôn làng Bethlehem, cho nên các nhà chiêm tinh gia lạc đường bí lối khi họ đặt chân tới kinh thành Jerusalem. Bởi thế họ phải mở miệng hỏi thăm tin tức về vị Đông Cung Thái Tử,
— Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu?

admin
19-12-2008, 08:20 AM
B. Giải Mộng Gia
Ngoài tài thiên văn nhìn trời ngắm sao, những nhà mágòi còn có tài giải đoán những cơn mơ và giấc mộng. Nếu những người mágòi của thánh sử Matthew còn sống cho tới ngày hôm nay, người ta có thể dừng chân ghé vào tịnh thất của họ. Sau khi đặt một quẻ tiền lên trên đĩa giấy, những nhà mágòi năm xưa sẽ diễn giải chi li phân tích tỉ mỉ ý nghĩa của những cơn mơ và giấc mộng đã xuất hiện trong giấc ngủ chập chờn đêm qua của thân chủ. Bởi thế, theo như sử gia Philos, trước khi hài nhi Moses chào đời, vua Pharaoh đã phải triệu tập những nhà mágòi người Ai Cập vào trong cung điện để diễn giải cho nhà vua nghe ý nghĩa của một giấc mơ đã khiến vị hoàng đế sông Nile băn khoăn trằn trọc suốt một đêm trường. Lắng tai nghe vua Pharaoh kể lại tất cả những chi tiết của cơn mơ, những nhà mágòi tiên đoán rằng không bao lâu một trẻ sơ sinh của người nô lệ Do Thái sẽ chào đời. Hài nhi này có khả năng thách đố vương quyền của hoàng đế Kim Tự Tháp, bởi sau khi lớn lên, người thanh niên này sẽ đứng lên xúi dục dân Do Thái vùng dậy đòi lại quyền tự do và quyền làm người. Dưới sự lãnh đạo của chàng thanh niên, người nô lệ Do Thái sẽ quyết định ngưng, thôi không tiếp tục đời sống làm nô lệ tôi mọi cho người Ai Cập nữa. Nhận được hung tin dữ, vua Pharaoh tưởng chừng như sét vừa đánh ngang qua tai. Hoàng đế Ai Cập quyết định ra tay hành động, giết rắn phải giết từ trong trứng nước. Ông liền ký một sắc chỉ ra lệnh giết chết hết tất cả những nam hài nhi sơ sinh của người Do Thái.
C. Phù Thủy
Ngoài thiên tài giải đoán mộng mị, mágòi cũng còn là những nhà phù thủy. Họ có khả năng biểu diễn pháp thuật, bay trên không trung, hô phong đảo vũ, miệng đọc thần chú biến trắng thành đen, biến nước không mùi không vị hóa thành máu đỏ. Bởi thế, một lần kia cũng trong cung điện hoàng gia của vua Ai Cập, Thiên Chúa ra lệnh cho Aaron, anh của Moses, làm phép lạ quẳng cây gậy xuống trước mặt vua Pharaoh. Bỗng nhiên cây gậy của Aaron biến thành một con rắn trườn bò trước mặt vua Pharao và bá quan văn võ người Ai Cập. Trước phép thuật của Aaron, vua Pharaoh cười nửa miệng. Ông cũng cho đòi những nhà mágòi người Ai Cập tới trước sân rồng. Theo lệnh của vua Pharaoh, những nhà mágòi Ai Cập cũng quẳng cây gậy của họ xuống đất. Ngay lập tức những cây gậy của những ông mágòi của đất Kim Tự Tháp cũng lại hóa thành những con rắn lớn (Xuất Hành 7:10-12).
Một lần kia, trên con đường viễn chinh tiến về vùng Đất Hứa, trong khi đang chuẩn bị cho những bước chân đầu tiên tiến qua đường biên giới lãnh thổ của vương quốc Moab, những người dân du mục Do Thái đã đụng độ giáp mặt với một ông phù thủy mágọs lạ nhất trên trần đời. Nhận được tin tức tình báo là đoàn quân viễn chinh bách chiến bách thắng Do Thái đang mấp mé ở đường biên giới, vua Balak của người Moab mất ngủ; bởi ông e ngại cho nền thịnh vượng và sự tồn vong của vương quốc một khi đất nước Moab ngập bóng đoàn quân thiện chiến du mục Do Thái. Sau nhiều đêm trằn trọc, cuối cùng ông nghĩ ra một kế. Vua Balắc đích thân triệu mời phù thủy mágọs Balaam từ phương đông tới cung điện hoàng gia. Với hy vọng chận đứng vó ngựa bách chiến bách thắng của dân du mục Do Thái, vua Balắc nhờ ông mágọs Balaam mở miệng chúc dữ Moses và toàn thể dân riêng của Giavê Thiên Chúa. Nhưng rất tiếc, trước khi ông phù thủy có dịp mở miệng chúc dữ kẻ thù của người Môáp, thần khí của Thiên Chúa ngự vào ông mágọs Balaam. Cho nên, thay vì chúc dữ, Balaam lại mở miệng chúc lành dân Do Thái, không phải chỉ một lần, mà là ba lần. Thấy vậy, vua Balak nổi giận cự mắng ông phù thủy Balaam không tiếc lời (Dân Số 22-24).
Những nhà mágòi phù thủy không chỉ xuất hiện trong dòng lịch sử Cựu Ước, lần giở những trang sách của Tân Ước, ngoài câu chuyện Ba Vua hay là Ba Ông Phù Thủy của thánh sử Mátthêu, bạn cũng sẽ nhận ra hình dạng của hai ông mágòi khác trong Sách Tông Đồ Công Vụ (8, 13). Theo như Tông Đồ Công Vụ 8, sau khi thánh Phêrô và Gioan đặt tay lên trên đầu của những người tân tòng người Samaria, Chúa Thánh Linh từ trời cao ngự xuống tràn ngập tâm hồn của những người mới gia nhập đạo. Thấy chuyện lạ lùng như vậy, ông tân tòng phù thủy mágọs Simon liền nổi máu tham-và có lẽ cũng bởi tại méo mó nghề nghiệp muốn học thêm pháp thuật. Ông mágọs Simon liền chìa tiền ra mua chuộc chức thánh với thánh Peter. Trước lời yêu cầu sặc mùi tiền bạc của phù thủy Simon, người ngư phủ Biển Hồ năm xưa nổi giận chúc dữ ông tân tòng mágọs (Tông Đồ Công Vụ 8:9-27). Rất may cho ông phù thủy, sau khi tỏ lòng ăn năn thống hối, mở miệng xin lỗi, thánh Peter vui lòng chín bỏ làm mười bỏ qua câu chuyện hối lộ mua quan bán chức.
Mágọs Elymas người Do Thái trên đảo Sairus trong chương 13 thì không gặp may mắn như ông bạn đồng nghiệp mágọs Simon người Samaria trong chương 8. Biết rằng Quan Thống Đốc đảo Sairus muốn gặp mặt Paul và Banabas để lắng tai nghe những lời vàng ngọc của Thiên Chúa, mágọs Elymas tìm đủ mọi cách ngăn cản ông Quan Thống Đốc; bởi ông phù thủy e ngại rồi đây địa vị pháp sư và quyền lợi của ông sẽ lung lay hoặc tan theo mây khói một khi Quan Thống Đốc gia nhập đạo Thiên Chúa. Biết rõ âm mưu đen tối của ông mágọs Elymas, vốn nóng tính như Trương Phi, ông cựu Biệt Phái Paul nổi giận mở miệng chúc dữ ông mágọs của Quan Thống Đốc không tiếc lời. Thế là mágọs Elymas hóa thành người mù dở, phải nhờ người khác dắt đi những bước chân chập chững đầu tiên trong đêm đen và bóng tối (Tông Đồ Công Vụ 13:4-12).
Một nhân vật thiếu niên nổi tiếng đương thời của thiên niên thứ ba đang làm say mê bao nhiêu tâm hồn thiếu niên và người lớn cũng lại là một cậu mágọs phù thủy, đó là cậu bé Harry Potter của nữ tiểu thuyết gia người Anh J. K. Rowling. Theo như những cuốn tiểu thuyết viết về cuộc đời của cậu phù thủy Harry Potter, Harry đã từng được dậy dỗ và huấn luyện trong ngôi trường chuyên môn đào tạo những ông và bà mágòi phù thủy.

admin
19-12-2008, 08:27 AM
D. Tư Tế
Ngoài phù thuật, mágòi cũng là những nhà lãnh đạo tôn giáo. Tương tự như những thầy tư tế Lêvi Do Thái, Linh Mục Công Giáo, Đạo Sĩ Lão Giáo, hay Pháp Sư Việt Nam, mágòi là những người đại diện cho dân chúng để cử hành những nghi thức tế lễ thuộc về tôn giáo, thí dụ, lập trai đàn cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Ông tư tế Imhotev trong phim Mummy và Mummy Returns, hai bộ phim nổi tiếng của điện ảnh Holywood bàn về cuộc tình giữa thầy Thượng Phẩm Imhotep và vương phi Anck Su Namun vợ của Pharao Seti I, cũng là một ông mágọs. Bởi sức mạnh của tình yêu, thầy magọs thượng tế Imhotev đã liên tiếp làm hết phép thuật này sang phép thuật kia với hy vọng hồi sinh lại mạng sống cho người tình Anck Su Namun.
Bởi họ thuộc về đẳng cấp giáo sĩ trong xã hội, mágòi được hưởng rất nhiều đặc quyền đặc lợi chỉ dành riêng cho giới tu sĩ. Thông thường, mágòi sống trong cung điện hoàng gia kề cận vua chúa hoàng hậu. Thí dụ, ông mágọs Elymas của Quan Thống Đốc đảo Sairus trong Tông Đồ Công Vụ (13:7), hay là bà mágọs trong bộ phim Nữ Hoàng Ai Cập Cleopatra do đại tài tử mắt tím Elizabeth Taylor thủ vai nữ hoàng được trình chiếu lần đầu vào năm 1963. Bà mágọs này xuất hiện hai lần trong bộ phim Cleopatra; lần thứ nhất, bà báo cho nữ hoàng Ai Cập Cleopatra biết bà ta sẽ hạ sinh một người con trai; lần thứ hai, bà phù thủy báo cho nữ hoàng biết tin hoàng đế Cêsar sẽ bị sát hại. Bà magọs này sống trong cung điện của nữ hoàng Ai Cập. Khi nữ hoàng viễn du sang kinh thành Rôma diện kiến hoàng đế Cêsar, bà mágọs cũng được đi theo thuyền rồng viễn du vượt Địa Trung Hải tới kinh đô của đế quốc La Mã.
E. Mágòi: Tu Sĩ Trung Đông
Bởi sự khác biệt quá lớn giữa hai nền văn hóa, thần học gia Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong khi phiên dịch danh từ mágòi của văn hóa Trung Đông sang văn hóa Đông Phương. Đương nhiên không thần học gia Việt Nam nào dịch danh từ mágòi của thánh sử Mátthêu là phù thủy hoặc là pháp sư, nhưng Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn và một số bản văn Phụng Vu dịch mágòi là những đạo sĩ. Có nơi dịch là những chiêm tinh gia. Nơi khác dịch là những nhà thông thái.
Bởi nét đặc thù của vùng đất Trung Đông, như đã được trình bày ở trên, thật sự ra
(1). Mágòi không thể chỉ hiểu đơn thuần như là những nhà đạo sĩ của Lão Giáo.
(2). Mágòi cũng không chỉ thuần túy là chiêm tinh gia, bởi chiêm tinh gia trong văn hóa Việt Nam không bao hàm ý nghĩa của những nhà tu sĩ.
(3). Mágòi cũng không chỉ là những nhà thông thái.
Mà thật ra mágòi vừa là đạo sĩ, vừa là chiêm tinh gia, vừa là những nhà thông thái, vừa là giải mộng gia, và là những nhà tu sĩ.
(1). Mágòi là những nhà đạo sĩ vì họ có thể làm phép thuật biến cây gậy thành chú rắn khổng lồ như đã được trình bày trong sách Xuất Hành.
(2). Mágòi là những chiêm tinh gia và nhà thông thái bởi kiến thức rộng rãi về thiên văn học, thí dụ, câu chuyện Ba Vua.
(3). Mágòi là những giải mộng gia bởi họ có khả năng giải thích được những cơn mơ và giấc mộng như đã được trình bày và nhắc đến trong cuốn Chronicle of Moses của nhà sử gia nổi tiếng Philos.
(4). Mágòi cũng là tu sĩ, bởi họ đại diện cho vua chúa cử hành những nghi thức phụng vụ dâng hương trong đền thờ bụt thần.
Bởi vậy, nói cho chính xác nhất, mágòi là những nhà tu sĩ của những tôn giáo đa thần Trung Đông thời cổ. Nói cho ngắn gọn, mágòi là những Nhà Tu Sĩ Trung Đông.
II. Ba Vua, Ba Tên Tuổi, Ba Nhân Dáng
Mágòi không phải là vua mà là những nhà tu sĩ Trung Đông. Nhưng ngày hôm nay, rất nhiều người Kitô hữu vẫn quen miệng gọi họ là Ba Vua. Tự dưng những nhà tu sĩ Trung Đông không phải là con cháu của vua chúa được rất nhiều người Kitô hữu yêu mến đội lên đầu ba cái vương miện hoàng gia.
A. Thánh Vịnh 72
Nguyên nhân chính đã góp phần vào hiện tượng hoàng gia hóa những nhà tu sĩ Trung Đông có lẽ đã bắt nguồn từ bài Thánh vịnh 72:10-11.
Từ Tarshish và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống,
Cả những vua Sheba, Seba.
Cũng đều tới thờ lạy, tiến dâng lễ vật.
Mọi quân vương phủ phục trước ngai rồng.
Nếu mang hai câu chuyện, chuyện Tu Sĩ Trung Đông trong Matt 2:1-12 và Thánh Vịnh 72:10-11, lên bàn cân phân tích và so sánh, độc giả Kinh Thánh sẽ nhận ra hai câu chuyện này có rất nhiều nét tương đồng. Theo như Thánh Vịnh 72:10-11, từ phương xa, vua của các sắc dân sẽ lên đường hành hương tiến về vùng đất thành để thờ lạy và thượng tiến lễ vật dâng lên Giavê Thiên Chúa. Trong trường hợp của những nhà tu sĩ Trung Đông, từ phương Đông của những vương quốc Ả Rập, vùng đất của "Alađin và Cây Đèn Thần", các ngài cũng đã lần tìm đi theo dấu sao tiến về kinh thành Jerusalem dò hỏi tông tích của Tiểu Hoàng Đế Giêsu. Khi kiếm ra được Con Một Thiên Chúa trong hình dạng trẻ thơ, các nhà tu sĩ Trung Đông đã bái phục thờ lạy trước ngai rồng của Hài Nhi Đông Cung Thái Tử. Sau cùng, họ dâng lên Thiên Chúa lễ vật vàng, nhũ hương, và mộc dược.
B. Bao Nhiêu Tu Sĩ Trung Đông?
Theo như thánh sử Matthew, “Khi Đức Giêsu sinh ra tại thôn làng Bethlehem, tại Judea, trong thời Vua Herod, những nhà tu sĩ Trung Đông lần tìm đến kinh thành Jerusalem” (2:1). Nguyên thủy trong câu văn vừa được trích dẫn, tác giả Matthew chẳng nhắc nhở, ngài cũng không buồn ngồi nhẩm đếm con số thành viên của phái đoàn phương Đông đã từng dừng chân tại kinh thành hòa bình Jerusalem để hỏi thăm tin tức về tung tích của Hài Nhi Giêsu. Lần tìm từng nét, lần đọc từng chữ trong 12 câu văn của bài Tin Mừng Tu Sĩ Trung Đông và Ngôi Sao Lạ (Matt 2:1-12), chẳng ai nhìn thấy con số 3 ẩn hiện thấp thoáng ở bất cứ nơi nào. Nhưng lạ lùng vô cùng, đến ngày hôm nay, vẫn có rất nhiều quen miệng gọi những ông tu sĩ Trung Đông là Ba Vua.
Thực sự ra, mặc dù thánh sử Matthew không nhắc nhở đến con số tu sĩ Trung Đông đã ghé ngang vào kinh thành Jerusalem năm xưa, trong phần cuối của câu chuyện, thánh sử Matthew kể lại, sau khi diện kiến và thờ lạy Hài Nhi Thánh, những nhà tu sĩ đã tiến dâng lên vị Tiểu Hoàng Đế 3 lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược.
Dựa theo con số 3, tổng số của những lễ vật đã được dâng tiến này, Giáo Hội thời sơ khai làm một con toán cộng rất đơn giản,
1 vàng + 1 nhũ hương + 1 mộc dược = 3 người
Cuối cùng dựa vào phương trình toán học đại số căn bản và đơn giản ở trên, Giáo Hội thời tiên khởi kết luận rằng đã có Ba Vua từ phương Đông lên đường đi tìm kiếm Hài Nhi Thánh.
Nhưng con số 3 không phải là một con số duy nhất xuất hiện trong dòng lịch sử ơn cứu độ. Chỉ có 2 vua xuất hiện trong những bức tranh tại hầm mộ Sts. Peter và Marcellinus. Nhưng lại có tới những 4 ông vua đã xuất hiện trong một bức tranh tại hầm mộ St. Domitilla. Và sau cùng, có tới những 12 ông vua đã được nhắc tới, với đầy đủ tên tuổi theo như truyền thống của Giáo Hội Đông Phương thời trung cổ.
C. Nhân Dáng
Chuyện về Ba Vua không chỉ tạm dừng bước tại nơi này. Theo như truyền thống của Giáo Hội Tây Phương cũng là một truyền thống phổ thông được nhiều người biết đến, tên của Ba Vua là Melchior, Gaspar, và Balthasar. Vua Melchior cao niên, râu tóc bạc trắng như cước. Vua Melchior đã tiến dâng vàng lên Tiểu Hoàng Đế Giêsu. Ngược lại với vua Melchior, Vua Gaspar là một thanh niên còn rất trẻ, người to lớn, vạm vỡ. Vua Gaspar đã tiến dâng lên Hài Nhi Thánh lễ vật nhũ hương. Sau cùng, Balthasar, hoàng đế gốc Phi Châu, ngài tiến dâng mộc dược lên Hài Nhi Thánh.
Ngược lại với truyền thống Tây Phương, theo như Giáo Hội Đông Phương thời trung cổ, tên của Ba Vua là: Hormizdah, vua của xứ Persia, Yazdegerd, vua xứ Saba, và Perosadh, vua của xứ Sheba. Theo như Giáo Hội Ethiopia, tên của Ba Vua là Hor, vua xứ Persia, Basanater, vua xứ Saba, và vua Karsudan của đông phương.

admin
19-12-2008, 08:28 AM
III. Ngôi Sao Lạ
Ngoài Ba Vua, Ngôi Sao Lạ xuất hiện trên vòm trời thủ đô của Do Thái vào những ngày đầu tiên của thiên niên kỷ thứ nhất là một chi tiết cũng đã từng gây nên rất nhiều tranh luận giữa những nhà thần học gia. Theo như thánh sử Matthew, những nhà tu sĩ Trung Đông đã dừng bước hỏi thăm dân chúng của kinh thành Jesuralem, “Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông Phương, và chúng tôi đến để triều bái Người”.
Tương tự như Ba Vua, thánh sử Matthew cũng không hề nhắc nhở đến tên tuổi của ngôi sao lạ. Ngài cũng không buồn ngồi vẽ lại hình ảnh của ngôi sao một thời chiếu sáng rực rỡ vòm trời Bethlehem. Bởi không tên không tuổi, một số người vẫn quen miệng gọi ngôi sao lạ năm xưa là ngôi sao Bethlehem. Bởi không biết tên tuổi và hình dạng của ngôi sao lạ, thần học gia và khoa học gia lại phải vất vả khăn gói lên đường tìm kiếm tung tích của ngôi sao. Nhắc đến hành trình tìm kiếm tông tích của ngôi sao năm xưa, một trong những ứng cử viên sáng chói nhất của ngôi sao lạ cho tới ngày hôm nay vẫn là ngôi sao chổi Halley với cái đuôi dài lê thê đã từng xuất hiện trên bầu trời vào năm 1986. Sao chổi Halley với đường quỹ đạo 76 năm một lần cũng đã từng ghé thăm Thái Dương Hệ vào năm 12 trước Tây Lịch. Nhưng Đức Giêsu sinh ra vào khoảng giữa năm thứ 4 và thứ 6 trước Tây Lịch. Thời gian khác biệt giữa sao chổi Halley và năm Đức Giêsu sinh ra là khoảng 6 năm. 6 năm, một khoảng cách quá dài quá khác biệt để chúng ta có thể kết luận rằng sao chổi Halley chính là ngôi sao lạ của năm xưa.
Bởi thế cho tới ngày hôm nay, thật sự ra vẫn không có một thần học gia hoặc khoa học gia nào đã giải được bài toán ngôi sao lạ. Cho nên gốc tích và thân thế của ngôi sao lạ vẫn là một ẩn số (x). Tuy nhiên, nếu thảo luận dưới lăng kính của thần học, ngôi sao lạ có thể được hiểu như là một biểu tượng, một dấu hiệu đã được Giavê Thiên Chúa gửi đến, qua đó Ngài đã hiển linh cho dân ngoại biết rõ hơn về chương trình cứu chuộc của Ngài dành cho con người. Đặc biệt, ngôi sao lạ xuất hiện tại vùng đất phương Đông, nơi dân ngoại sinh sống đã loan báo tới muôn dân một tin mừng, đó là Thiên Chúa luôn luôn thương yêu con người, mặc dù dân ngoại đã được sinh ra và lớn lên trong đêm đen bóng tối của tội lỗi và của tà thần. Bởi thương yêu con người yếu đuối, Giavê Thiên Chúa đã đích thân gửi ngôi sao lạ soi sáng vùng đất Trung Đông của dân ngoại. Ngôi sao lạ chiếu sáng bầu trời đêm đen tương tự như một bản tình ca bất hủ báo cho những người dân ngoại biết về một chương trình cứu chuộc nhân loại trong giai đoạn mới của một Thiên Chúa từ bi và đại lượng. Trong giai đoạn mới này, Thiên Chúa sẽ đích thân nhập thế. Ngài sống với nhân loại. Ngài chuyện trò với nhân loại. Ngài chết cho nhân loại. Và sau cùng Ngài sống lại, mang tất cả dân ngoại thoát ra khỏi xiềng xích của tội lỗi đã trói buộc họ từ bao lâu nay.
IV. Tu Sĩ Trung Đông và Ngôi Sao Lạ
Rời bỏ vùng đất Trung Đông của những năm thứ nhất Công Nguyên, giờ đây chúng ta quay về lại với thiên niên kỷ thứ ba. Sau cuộc hành hương vất vả về lại vùng đất thánh, chúng ta đã có dịp diện kiến những nhà tu sĩ Trung Đông, hỏi tên hỏi tuổi của các ngài, và chiêm ngắm dung nhan của Ngôi Sao Lạ. Để kết thúc bài tham khảo Tu Sĩ Trung Đông và Ngôi Sao Lạ, có lẽ điều mà mọi người Kitô hữu nên tự hỏi mỗi người sau cuộc hành hương, đặc biệt trong mùa Giáng Sinh, là chúng ta đã học hỏi được điều chi qua bài Tin Mừng Tu Sĩ Trung Đông và Ngôi Sao Lạ (Matt 2:1-12)?
Ngày xưa những nhà tu sĩ Trung Đông đã mau chóng đáp trả lại tiếng mời gọi Thiên Chúa vào bữa tiệc Nước Trời. Có những lúc các ngài lạc đường, lạc lối, bối rối, bơ vơ, và bỡ ngỡ giữa thị trấn Jerusalem, nhưng các ngài không hề ngã lòng trông cậy vào Thiên Chúa. Cuối cùng, đúng như họ đã từng hy vọng, ngôi sao lạ tái xuất hiện trên bầu trời, chỉ đường dẫn lối, dẫn dìu các ngài đi thẳng tới nơi Hài Nhi Thánh đang say nồng giấc ngủ thiên đàng.
Ngày nay trên con đường hành hương về Nước Trời, ai trong chúng ta chẳng có những giây phút bị lạc lối, những giây phút chúng ta có cảm tưởng mình đang bị bỏ rơi, hoặc cảm thấy hình như niềm tin vào Thiên Chúa và Tình Yêu của Ngài đang dần dần tan biến vào trong thinh không. Trong những giây phút yếu đuối, thất vọng, và chập chờn với ngọn nến của niềm tin như vậy, mời bạn và tôi, chúng ta hãy cùng nhau hướng về Thiên Chúa, dõi mắt tìm kiếm nguồn trợ lực của trời cao. Ngôi sao lạ đã xuất hiện trên bầu trời soi đường dẫn lối cho những nhà tu sĩ Trung Đông năm xưa. Tương tự như vậy, nếu chúng ta cầu xin, Thiên Chúa sẽ nghiêng người, lắng tai nghe lời cầu nguyện. Từ trong cõi chết đầy dẫy đêm đen bóng tối, Ngài sẽ gửi ngôi sao lạ tới hướng dẫn chúng ta về cõi ngập tràn ánh sáng, nơi đó chỉ có mùa xuân, thanh bình, và hạnh phúc vĩnh cửu.

---------------
Thư Mục Tham Khảo
Bauer, David. “The Kingship of Jesus in the Matthean Infancy Narrative: A Literary Analysis,” Catholic Biblical Quarterly 57 (1995) 306-323.
Blomberg, Craig. “The Liberation of Illegitimacy: Women and Rulers in Matthew 1-2,” Biblical Theology Bulletin 21:145-150.
Brown, Raymond. An Adult Christ at Christmas. Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1977.
Brown, Raymond. The Birth Of The Messiah. New York: Doubleday, 1993.
Farquharson, J. F. “The Star of Bethlehem,” Journal of the British Astronomical Association89 (1978) 8-20.
Ferrari-D’Occhieppo, K. “The Star of the Magi and Babylonian Astronomy,” in Chronos, Kairos, Christos. Ed. Jerry Vardaman and Edwin Yamauchi. Winona Lake, IN: Eisenbrauns, 1989. Pp. 41-53.
Filas, F. L. “The Star of the Magi,” Irish Ecclesiastical Record 85 (1956) 432-33.
Freitag, R. S. The Star of Bethlehem: A List of References. Washington, D. C.: Library of Congress, 1979.
Gardner, Richard. Matthew. Scottdale, PA: Herald Press, 1991.
Gonzalez, Justo. The Story of Christianity, Vol. I. New York, NY: HarberCollins Publishers, 1984.
A Grammatical Analysis of The Greek New Testament. Rome: Editrice Pontificio Istituto Biblico, 1993.
Hare, Douglas. Interpretation: Matthew. Louisville, Kentucky: John Knox Press, 1993.
Metzger, Bruce M. “Names for the Nameless in the New Testament: A Study in the Growth of Christian Tradition,” in Kyriakon: Festschrift Johannes Quasten. Ed. Patrick Granfield and Josef A. Jungmann. Münster Westfalen: Aschendorff, 1970. Pp. 79-86.
Murphy, Frederick J. Pseudo-Philo. New York, NY: Oxford University, 1993.
Nguyễn Thế Thuấn, Kinh Thánh, La Verne, CA: El Camino Press, 1980.
Overman, J. Andrew. Church and Community In Crisis. Valley Forge, PA: Trinity Press International, 1996.
Sách Lễ Giáo Dân, Houston, TX: Cơ Sở Xuất Bản Zieleks, trang 147.
Saldarini, Anthony. Matthew’s Christian-Jewish Community. Chicago: The University of Chicago Press, 1994.
Senior, Donald. Matthew. Nashville, TN: Abingdon Press, 1998.
Kinh Thánh: Tân Ước, Westminster, CA: Nhà Xuất Bản Du-Sinh Saint Joseph, 1994.
www.nguyentrungtay.com/index.html (http://www.nguyentrungtay.com/index.html)
LM Nguyễn Trung Tây, SVD