View Full Version : Kinh Thánh vượt qua Toán học hay Nan đề của Tù nhân - Prisoner’s Dilemma
Kinh Thánh vượt qua Toán học
hay
Nan đề của Tù nhân - Prisoner’s Dilemma.
Đối với người Do thái tại Babylone, cuốn Talmud là một thứ kinh điển, ghi lại những tập tục, truyền thống, luật lệ, chú giải cùng những bài giảng cắt nghĩa Kinh Thánh được trước tác trong vòng 5 thế kỷ đầu Công Nguyên. Cùng với Kinh Thánh, đó là toàn bộ nền tảng luật lệ, và tôn giáo làm nên Do thái giáo ngày nay.
Có hai bộ Talmud: một xuất phát từ Giêsusalem, và một do nhóm Do thái tại Babylone san định.
Trong bộ Talmud gốc Babylone, một bài toán được ghi lại đã gây thắc mắc suốt gần 2000 năm. Bài toán liên quan đến vấn đề chia gia tài cho vợ, nội dung như sau:
Người kia có ba bà vợ. Theo thoả thuận lúc cưới, khi ông chồng qua đời, ba bà vợ tuần tự từng người lãnh được 100, 200, và 300 tiền.
Nhưng sách Talmud lại đưa ra những đáp án khác nhau, thoạt nhìn tưởng chừng “ngược đời”:
1- Nếu ông chồng chỉ để lại 100, thì ba bà vợ được chia đều, mỗi người được 33 ⅓
2- Nếu tài sản ông để lại là 300, thì sách Talmud giải quyết bằng cách chia cho ba bà theo tỷ lệ, tuần tự mỗi bà được 50, 100, và 150.
3- Nhưng nếu tài sản ông chỉ có 200, sách Talmud lại giải quyết như sau: một bà được 50 còn hai bà kia thì mỗi người được 75.
Lối giải quyết ở trường hợp thứ ba gây khó hiểu và thắc mắc.
Thắc mắc đến độ, sau này, hai ông Aumann, Maschler và một bộ óc xuất chúng là ông John Von Neumann dựa vào đó, đề xuất Lý thuyết Trò chơi – Game Theory.
Neumann cho rằng các mô hình toán học dùng để giải các vấn đề kinh tế không thực tế và không bao gồm đủ các yếu tố để phản ảnh đúng thực tại ngoài xã hội. Khách hàng dùng lý trí, dùng lương tri để chọn món hàng. Đúng, Nhưng nhiều khi việc quyết định không đơn thuần là kết quả sau khi so đo tính toán hơn thiệt cách hữu lý.
Lại có những quyết định dựa trên những yếu tố không hữu lý, không biết trước được.
Vì thế vào năm 1944, Neunamm đưa ra điều mà ông gọi là Lý thuyết Trò chơi, một mô hình toán học dưa trên điều kiện bất xác. Sáu năm sau, lý thuyết này cho ra một nan đề nổi tiếng, gọi là Nan đề của tù nhân, Prisoner’s Dilemma, đại để như sau:
Có hai người, A và B, bị cảnh sát bắt trong một vụ trọng án. Vì không đủ chứng cớ để kết tội cả hai phạm trọng án, nhưng chỉ có thể kết án hai người một tội hình sự nhẹ hơn, nên cảnh sát giam riêng hai người hai nơi cách biệt, và tìm cách khiến họ tố cáo lẫn nhau. Cảnh sát điều đình, đưa ra đề nghị cho từng người như sau:
a- Nếu ai trưng ra bằng chứng buộc tội người kia, thì mình được tha bổng và người kia lãnh đủ án tù 10 năm.
b- Nếu mình im lặng, mà người kia lại trưng chứng cớ tố cáo mình, mình sẽ lãnh án 10 năm còn người kia được tha bổng.
c- Nếu cả hai cùng trưng chứng cớ ra tố cáo nhau, mỗi người sẽ lãnh án 5 năm.
d- Nếu cả hai cùng giữ im lặng, không tố nhau, thì vì không đủ chứng cớ buộc tội, cả hai chỉ bị phạt một tội hình sự nhẹ hơn và chỉ ngồi tù 1 năm.
Nan đề ấy đưa ra cho nhiều nhà toán học giải. Đa số đều chọn giải pháp cả hai tố cáo lẫn nhau để chỉ ngồi tù 5 năm là đáp án tốt nhất!
Nhưng điều nghịch lý ở đây là, giải pháp tố cáo lẫn nhau không phải là đáp án tối ưu, mà giữ im lặng mới là điều tốt nhất cho cả hai người, vì họ chỉ ngồi tù có MỘT năm.
Nhưng không ai chọn quyết định này, chỉ vì giải pháp này cần đến sự cộng tác lẫn nhau của cả hai tù nhân.
Tuy nhiên vì bị giam cách biệt nhau, không liên lạc được với nhau, nên cứ lý, hai tù nhân không thể chọn điều rủi ro là “thủ khẩu như bình”.
“Nan đề của tù nhân” trở thành nổi tiếng, vì nó cho thấy dù hai người hành động rất hữu lý, vẫn đưa tới một kết quả bất lợi cho cả hai.
Sau này người ta tìm ra được một giải pháp.
Sỡ dĩ có cái tên “Nan đề”, là vì hai tù nhân trên đây chỉ sa vào hoàn cảnh này một lần duy nhất. Nếu sự việc xảy đi xảy lại, hẳn họ sẽ có kinh nghiệm, họ sẽ học khôn, hay ít ra họ có dịp để thảo luận với nhau, nghĩa là, biết đâu, họ có cơ hội để cộng tác với nhau mà nhận ra rằng phải tin tưởng nhau và cộng tác với nhau thì mới mong thoát cảnh ngục tù sớm nhất.
Vì thế từ “Nan đề của tù nhân” manh nha một giải đáp. Thái độ ích kỷ tự tìm lợi nhuận cho riêng mình, sẽ đưa đến một kết quả không chỉ tồi mà còn là thảm hại. Bất cứ ai, hay nhóm nào, biết cộng tác thay vì tranh chấp, sẽ mang lại được lợi ích chung cho mình và cho cả đối phương.
Giải pháp này sỡ dĩ được chứng minh là tối ưu, nếu chúng ta cứ lập đi lập lại nan đề này nhiều lần, hầu tìm ra đáp án. Bây giờ bài toán mang tên “Iterated Prisoner’s Dilemma”, “Nan đề phân lặp”.
Vào cuối thập niên 1970’s, người ta mở cuộc thi tìm thuật toán đưa ra đáp án tối ưu cho bài toán này.
Người thắng giải là Anatole Rapoport, người Canada. Thuật toán của ông gọi là “Tit-for-Tat” có thể dịch nôm na là “Ăn miếng trả miếng”, hay “mắt đền mắt, răng đền răng”!
Thuật toán này rất đơn giản, bắt đầu bằng hợp tác, đối phương vừa đi nước nào, thì mình đi lại nước ấy. Nghĩa là “anh đong cho tôi đấu nào, thì tôi đong lại cho anh đấu ấy”.
Nói cách khác, đây là chứng cớ toán học đầu tiên cho bất cứ nền luân lý sơ khai nào.
Chúng ta tìm được thí dụ cho thuật toán này, ở một chỗ rất bất ngờ. Đó là trong Kinh Thánh, chương Sáng thế Ký 9 câu 6.
Sau trận hồng thủy, trong giao ước với Noe, Thiên Chúa nói: “Shofech dam ha'adam ba'adam damo yishafech ki betzelem Elokim asah et-ha'adam. - He who spills the blood of man, through man shall his blood be spilled, for in the image of God, He made man. - Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa.”
Nếu chúng ta phân tích cấu trúc câu văn Do thái, chúng ta sẽ thấy rõ hơn quan niệm công bằng báo phục “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay nói cách khác “middah keneged middah = đấu đền đấu” nghĩa là “đong đấu nào, trả đấu đấy”.
Sáu chữ đầu tiên trong câu được xếp đặt đối xứng nhau, như qua một tấm gương phẳng:
[1]Shofech (Ai đổ) [2]dam (máu) [3]ha'adam (của người)... [3a]ba'adam (do người) [2a]damo (máu nó) [1a]yishafech (sẽ bị đổ)
Hậu quả chúng ta nhận, là tấm gương phản ánh điều chúng ta đã gây ra cho người khác.
Thú vị ở chỗ nguyên tắc luân lý đầu tiên Kinh Thánh nhắc đến, quan niệm công bằng báo phục, lại là một thuật toán được máy điện toán chứng minh.
Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt.
Hai mươi năm sau, vào năm 1989, thuật toán “Tit-for-Tat” bị một thuật toán khác vượt qua. Nhà toán học Marin Nowak, người Ba Lan, đưa ra một thuật toán mới gọi là “Generous”, “Quảng đại”, ưu việt hơn “Tit-for-Tat”.
Điểm yếu của “Tit-For-Tat” là khi gặp một đôi thủ lỳ lợm, nếu cứ ăn miếng trả miếng thì cả hai sẽ rơi vào tình trạng “câu thương lưỡng bại ”, cả hai đều bị thiệt hại. Thuật toán Generous tránh tình trạng này bằng cách ngẫu nhiên nhưng đều đặn “quên” bước đối phương vừa đi, không ăn miếng trả miếng, mà bắt đầu một bước mới và khác, khởi đầu một chu kỳ tương giao mới.
Nghĩa là Nowak đưa thêm khái niệm “Tha thứ” vào thuật toán. (Xem bài ở http://www.fas.harvard.edu/~ped/people/faculty/publications_nowak/ApplMathComp89.pdf (http://www.fas.harvard.edu/~ped/people/faculty/publications_nowak/ApplMathComp89.pdf))
Lần này, chúng ta lại thấy có một sự trùng lặp – “trùng lặp” hay “tiên liệu”? - cùng một chỗ trong Kinh Thánh.
Sau cơn đại lụt, Thiên Chúa nói: “Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như Ta đã làm !” (St 8,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:21&FontSize=Txt10))
Thiên Chúa không trả oán theo tội con người gây ra nữa. Ngài không “Tit-for-Tat” mà Ngài quên tội con người, không “chấp” tội. Ngài quảng đại tha thứ để bắt đầu một chu kỳ tương giao mới.
Vậy ra, bài học và tấm gương Tha thứ đã được mạc khải từ lâu cho nhân loại.
Người Do thái gọi điều này là phẩm tính “thương xót” của Thiên Chúa, middat rachamim. Rachamim là từ Do thái mang nghĩa “lòng tốt”, lòng “nhân hậu”, lòng “xót thương”. Theo huấn giáo Do thái, nơi Thiên Chúa có sự dung hoà tuyệt hảo giữa maddat rachamim và middat ha-din, giữa “thương xót” và “công thẳng”.
Như thế, trong mọi lãnh vực của đời sống nhặt khoan thường nhật, cộng tác với nhau cũng quan trọng không kém tranh đua. Cộng tác cần tin tưởng. Tin tưởng cần công bình. Và công bình sẽ thiếu sót nếu không có tha thứ bổ túc cho.
Đó là bài học Thiên Chúa ban sau cơn đại lụt thời Noe.
Tổ phụ Noe, nhìn từ mặt trái
1-
“ 5 ĐỨC CHÚA thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày.6 ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng.7 ĐỨC CHÚA phán: "Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng."8 Nhưng ông Nô-ê được đẹp lòng ĐỨC CHÚA.
9 Đây là gia đình ông Nô-ê: Ông Nô-ê là người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời, và ông đi với Thiên Chúa.10 Ông Nô-ê sinh ba con trai là Sêm, Kham và Gia-phét.
13 Thiên Chúa phán với ông Nô-ê: "Ta đã quyết định giờ tận số của mọi xác phàm, vì tại chúng mà đất đầy bạo lực: này Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất.14 Ngươi hãy làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ bách.... Phần Ta, Ta sắp cho hồng thuỷ, nghĩa là nước lụt, xuống trên đất, để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời; mọi loài trên mặt đất sẽ tắt thở.18 Nhưng Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi; “ (St 6,5-13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:5-13&FontSize=Txt10) ...)
”1 ĐỨC CHÚA phán bảo ông Nô-ê: "Ngươi hãy vào tàu, ngươi và cả nhà ngươi, vì Ta chỉ thấy ngươi là người công chính trước nhan Ta trong thế hệ này....” (St 7,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:1&FontSize=Txt10))
“15 Thiên Chúa phán với ông Nô-ê rằng:16 "Ngươi hãy ra khỏi tàu cùng với vợ ngươi, các con trai ngươi và vợ của các con trai ngươi. ... 18 Ông Nô-ê ra khỏi tàu cùng với các con trai ông, vợ ông và vợ của các con trai ông.19 Mọi loài vật, mọi gia súc, mọi chim chóc, mọi vật bò dưới đất ra khỏi tàu, theo từng giống.” (St 8,15-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:15-18&FontSize=Txt10)...)
”20 Ông Nô-ê làm nghề nông, ông là người thứ nhất trồng nho.21 Ông uống rượu say và nằm trần truồng giữa lều.22 Ông Kham, cha ông Ca-na-an, thấy chỗ kín của cha mình và báo cho hai anh ở ngoài biết.23 Ông Sêm và ông Gia-phét lấy cái áo choàng, cả hai đặt áo lên vai mình, rồi đi giật lùi mà che chỗ kín của cha. Mặt họ quay về phía sau, nên họ không trông thấy chỗ kín của cha.24
Khi tỉnh rượu, ông Nô-ê hay biết điều mà đứa con nhỏ nhất của ông đã làm đối với ông; 25 ông liền nói:
"Ca-na-an đáng bị nguyền rủa!
Nó phải là đầy tớ các đầy tớ của các anh em nó! " (St 9,18-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 9:18-25&FontSize=Txt10)...)
Chúng ta vừa đọc lại vài đoạn Kinh Thánh ngắn, rời rạc, chấm phá ghi lại ít nét về cuộc đời của tổ phụ Noe. Những câu in đậm là những câu cố ý nhấn mạnh để lưu ý đôi điều lý thú về con người và cá tính của Noe.
Khung cảnh đời ông Noe như sau:
Sau vụ án mạng thứ nhất, nhân loại càng ngày càng sa đoạ. Tội lôi kéo thêm tội và càng ngày càng chồng chất. Kinh Thánh nhận định về tình hình nhân loại lúc bấy giờ chỉ trong hai câu ngắn: “Lòng con người chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày” (St 6,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:5&FontSize=Txt10)) đến độ “ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. ” (St 6,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:6&FontSize=Txt10))
Trong toàn thể thế giới lúc bấy giờ chỉ có mình ông Noe là “người công chính”. Sáng Thế ký khen ông Noe: “Ông Nôê là người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời, và ông đi với Thiên Chúa. – Noach ish tzaddik, tamim haya bedorosov es-ho'elokim hitalech Noach “(St 6,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:9&FontSize=Txt10))
Vì thế Thiên Chúa quyết định chỉ cứu một mình ông và gia đình, và phạt toàn thể thế gian, bằng cách huỷ diệt trong cơn hồng thuỷ.
Câu chuyện nước lụt xảy ra như thế nào thì chúng ta đã biết.
Nói cho ngay chúng ta không thấy ai thâu được nhiều lời ca ngợi như ông. Từ Abraham, Isaac, Jacob đến Mosê, thậm chí cả Giuse hay Đavid, Salomon sau này, chỉ có mình ông được tiếng là vừa “công chính”, “hoàn hảo” lại vừa “đi với Thiên Chúa” .
Từ Do thái “tzaddik”, “người công chính”, nghĩa là không can dự vào những hành vi hung đồ để tìm lợi cho cá nhân mình.
Câu 11 trong đoạn này miêu tả tình cảnh trái ngược với tzaddik: “Đất ra hư hỏng trước mặt Thiên Chúa và đầy bạo lực -Vatishachet ha'aretz lifnei ha'Elokim vatimale ha'aretz chamas”. Nghĩa là tội không chỉ hoen ố con người, mà còn làm hư hỏng cả thiên nhiên: “Đất ra hư hỏng -Vatishachet ha'aretz.”
Có một chi tiết đầy ý nghĩa mà các bản dịch không thể nào diễn tả. Thay vì từ “Hashem - Tên” mà bản PVCGK dịch thành “Đức Chúa” thì ngay câu này, bản văn Do thái dùng từ “Elohim” trở lại để chỉ Thiên Chúa: “Vatishachet ha'aretz lifnei ha'Elokim - The earth was corrupt before God - Đất ra hư hỏng trước mặt Thiên Chúa”
Danh xưng “Elohim” nhấn mạnh tới phẩm tính “công chính” của Thiên Chúa. Muốn cho chính xác chúng ta phải dịch cả sự tương phản hàm ngụ trong câu 11 thành “Đất ra hư hỏng trước mặt Thiên Chúa Công Chính”.
Tình trạng tội lội tràn ngập thế gian còn được bản văn miêu tả bằng cách lập lại hai lần công thức: vatimale ha'aretz - "and the earth was filled with violent crime" và trong lời nhận định của Thiên Chúa ở câu 13: “vì tại chúng mà đất đầy bạo lực - ki-male'ah ha'aretz - "the earth is filled with violent crime" (câu 13).
Đức hạnh thứ hai của Noe là tamim - hoàn hảo, nghĩa là ông kiên trì bền chí tu tâm dưỡng tánh. Kinh Thánh thường gán từ tamin với từ parah adamah - con bò tơ lông thuần đỏ, nghĩa là con bò tơ có màu lông đỏ, không pha một sợi lông nào khác màu, nghĩa là một con vật vẹn tuyền, không tì vết.
Từ “tamin” là do từ “mum”. “Mum” là tì vết trong con người, cả thể lý lẫn luân lý. Vậy “Noach tamin” là “Noe là người không tì vết, toàn hảo”.
Đức hạnh thứ ba của Noe được miêu tả qua công thức: “et-ha'Elokim hithalech Noach. - đi với Thiên Chúa .” Giữa đời ô trọc, không đi theo đường lối kẻ ác, không sống buông thả theo ý mình, mà “Noe đi với Thiên Chúa”, thời hỏi trên đời còn có ai hơn ông được chăng?
Với phần mở đầu huy hoàng như thế thì đời ông hẳn hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp.
2-
Vậy mà không ai ngờ đến cuối đời, nhiều chuyện vừa không đẹp mắt vừa không đẹp nết xảy ra.
Sau trận lụt, nông dân Noe canh tác đất đai và trồng nho. Được mùa nho, ông ép rượu. Có rượu thì Noe uống. Uống vào thì nông dân Noe trở thành kẻ nát rượu xay xỉn nằm ngủ loã lồ. Con cái thấy thế cười chê ông. Tỉnh cơn say, biết chuyện, ông mở miệng ... chúc dữ cháu mình!
Lý do nào đã khiến một người ban đầu là “công chính, hoàn hảo, đi với Thiên Chúa”, nhưng chỉ sau một hai năm, đã thành kẻ nát rượu bê tha như thế?
Để tìm cách lý giải cho vấn đề, có lẽ chúng ta nên lưu ý tới các chi tiết sau:
A-
Noe biết vâng lời Thiên Chúa, nhưng ông chỉ biết làm những gì Thiên Chúa ra lệnh MÀ THÔI.
Trong những câu Kinh Thánh liên quan đến đời ông, chúng ta thấy những gì ông làm, ông CHỈ làm sau khi nhận lệnh từ Thiên Chúa
St 6,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:13&FontSize=Txt10): “Thiên Chúa phán với ông Noe:.. Ngươi hãy làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ bách.” Thế là ông ngoan ngoãn đi đóng tàu. Hì hà hì hục vài năm, tàu đóng xong ... chúng ta tưởng ông vào tàu ngay chăng? Không, ông không vào, ông ngồi đó ...chờ.
St 7,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:1&FontSize=Txt10): “Đức Chúa phán bảo ông Noe: Ngươi hãy vào tàu, ngươi và cả gia đình ngươi ...” Lúc bấy giờ ông mới vào.
Thế rồi “trời mưa rơi xuống, nước dưới sông dâng lên ... trời mưa rơi xuống, nước dưới sông dâng lên.”
Nhân đây chúng ta thử hỏi: trận lụt kéo dài bao lâu?
“Năm sáu trăm đời ông Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy tháng ấy, vào ngày đó, tất cả các mạch nước của vực thẳm vĩ đại bật tung, các cống trời mở toang.12 Mưa đổ xuống đất bốn mươi ngày bốn mươi đêm.” (St 7,11-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:11-12&FontSize=Txt10))
Như thế được 40 ngày đêm, mưa lớn nước dâng tràn - câu 7,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:17&FontSize=Txt10) “Cơn hồng thủy kéo dài bốn mươi ngày trên mặt đất. Nước tăng thêm và nâng tàu lên, khiến tàu ở cao hơn mặt đất”.
Từ ngày thứ 41 đến ngày thứ 149, nước phủ đầy mặt đất, rồi từ từ rút – đó là câu 8,1-3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:1-3&FontSize=Txt10) “trời tạnh mưa. Nước từ từ rút khỏi mặt đất; hết một trăm năm mươi ngày thì nước xuống.”
Hết 150 ngày, nước rút xuống đủ để tàu chạm đất trên đỉnh rặng Ararat – chúng ta đọc thấy ở câu St 8,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:4&FontSize=Txt10) “Vào tháng bảy, ngày mười bảy tháng ấy, tàu đậu lại trên vùng núi A-ra-rát.”
Từ ngày này, ngày 17 tháng 7 cho đến ngày mồng Một tháng Mười, tức là hai tháng và 14 ngày (74 ngày ), hay đến ngày thứ 224, thì đỉnh núi ló ra khỏi mặt nước- câu St 8,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:5&FontSize=Txt10) cho biết thế: “Nước tiếp tục xuống cho đến tháng mười; và ngày mồng một tháng mười, các đỉnh núi xuất hiện.”
Sau đó câu St 8,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:6&FontSize=Txt10) ghi rằng: “Hết bốn mươi ngày, ông Nô-ê mở cửa sổ ông đã làm trên tàu, và ông thả con quạ ra.” Như thế là đã 224 + 40 ngày, đó là ngày thứ 264.
Các câu St 8,10-11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:10-11&FontSize=Txt10) cho biết thêm: “Ông đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra khỏi tàu một lần nữa.” Cộng thêm bảy nữa, vị chi là ngày thứ 271.
Chưa xong.
Câu St 8,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:12&FontSize=Txt10) thêm cho ông “bảy ngày đợi mong” nữa: “Ông lại đợi thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu ra, nhưng nó không trở về với ông nữa.” Như thế cơn lụt đã được 271 + 7 = 278 ngày
Nếu tính từ câu St 7,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:11&FontSize=Txt10) “Năm sáu trăm đời ông Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy tháng ấy”, cho đến câu này, St 8,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:13&FontSize=Txt10): “Năm sáu trăm lẻ một đời ông Nô-ê, tháng giêng, ngày mồng một tháng ấy, nước đã khô ráo trên mặt đất.” chúng ta có [601 năm + 1 tháng + 1 ngày) - (600 năm + 2 tháng + 17 ngày) = 314. Trận lụt đã kéo dài 314 ngày. Kể từ khi con chim bồ câu không trở về cho đến khi “nước khô ráo trên mặt đất”, thời gian là 36 ngày.
Nhưng mãi cho đến câu St 8,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 8:14&FontSize=Txt10), Kinh Thánh mới ghi lại rõ ràng: “Tháng hai, ngày hai mươi bảy tháng ấy, đất đã khô.” Nghĩa là từ ngày mồng Một tháng Giêng, đến ngày 27 tháng Hai, có thêm 56 ngày nữa.
Đại để ta có thể kết luận trận lụt kéo dài tổng cộng 370 ngày.
Suốt từ lúc tàu mắc cạn trên đỉnh núi, cho đến khi mặt đất hoàn toàn khô ráo, nghĩa là suốt 220 ngày ròng rã, ông Noe cứ ru rú trong tàu, không dám bước chân ra khỏi tàu, dù ông biết chắc cây cối đã mọc.
Tất cả chỉ vì Thiên Chúa chưa ra lệnh. Hai lần Sáng thế ký nhấn mạnh: “Ông Nô-ê đã làm như vậy; ông làm đúng như Thiên Chúa đã truyền cho ông.” (St 6,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:22&FontSize=Txt10)) và “Ông Nô-ê làm đúng như ĐỨC CHÚA đã truyền.” (St 7,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:5&FontSize=Txt10))
Noe vâng lời đến thế thì thôi! Thái độ vâng lời triệt để của ông nói lên một niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa. Nhất là khi ông vẫn lui cui đóng tàu, bất chấp những thắc mắc, và – cười nhạo - của người chung quanh.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
3-
B-
Noe vâng lời Thiên Chúa, nhưng chính ông thì hà tiện lời nói.
Noe đã nói gì khi Thiên Chúa quyết định phạt loài người? Ông không mở miệng nói một lời nào ! Không phải là Thiên Chúa không cho ông biết ý định của Ngài. Câu St 6,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:13&FontSize=Txt10) nói rõ "Thiên Chúa phán với ông Nô-ê: "Ta đã quyết định giờ tận số của mọi xác phàm, vì tại chúng mà đất đầy bạo lực: này Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất."
Suốt thời gian đóng tàu, suốt thời gian mưa lũ 40 đêm ngày, và suốt thời gian ngập lụt hơn năm trời, ông Noe vẫn ngậm tăm!
Bù lại, chúng ta đọc được bốn lần ông im lặng vâng lời Thiên Chúa: “Ông Nô-ê đã làm như vậy; ông làm đúng như Thiên Chúa đã truyền cho ông.” (St 6,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:22&FontSize=Txt10)) , “Ông Nô-ê làm đúng như ĐỨC CHÚA đã truyền.” (St 7,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:5&FontSize=Txt10) ) “như Thiên Chúa đã truyền cho ông Nô-ê” (St 7,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:9&FontSize=Txt10)) , “theo như Thiên Chúa đã truyền cho ông Nô-ê.” (St 7,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:16&FontSize=Txt10)).
Vâng lời Thiên Chúa là đúng và tốt. Thế mà dường như câu chuyện cơn lụt và ông Noe cho chúng ta thấy rằng vâng lời chưa phải là điều cao trọng. Đem so với những biến cố trong đời Abraham. Noe không phải là khuôn mặt nổi bật trong truyền thống Do thái.
Như trong bài “Vụ án mạng đầu tiên” nhà cháu đã đề cập, Abraham trổi vượt hơn Noe trong tinh thần trách nhiệm của mình. Abraham huy động nhân lực là 318 gia đinh của mình đi cứu ông Lot, cháu mình, khi ông này bị vua Cơlôdaome bắt (St 14,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 14:12&FontSize=Txt10)).
Abraham cầu xin can thiệp tha mạng cho hai thành Sodoma và Gomorha. Dân cư hai thành này vốn chỉ là người dưng nước lã, chẳng họ hàng bà con xa gần chi với Abraham.
Abraham đã cả gan nói điều “phải trái” với Thiên Chúa: “Hashofet kol ha'aretz lo yaseh mishpat. - Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao? " (St 18,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 18:25&FontSize=Txt10)) Ông đã mặc cả tối đa với Thiên Chúa cho đến lúc không thể được nữa!
Vẻ uy dũng táo bạo của ông được biểu hiện qua câu nói: “Anochi afa ve'efer - I'm dust and ashes - Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi” (St 18,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 18:27&FontSize=Txt10)) Đứng trước Đấng Thượng Đế Sáng tạo, ông cả gan lập lại lời Ngài đã nói lúc sáng tạo: “Người chỉ là tro bụi” (St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=Txt10))
Nhấn mạnh đến phận hèn hạ của mình, để lớn tiếng cầu bầu cho người dưng nước lã, cho những người đồng phận, nhưng tội lỗi trong hai thành đáng bị huỷ diệt kia. Noe có so sánh được không?
Abraham quảng đại hơn Noe. Abraham không cầu xin cho người thân trong nhà, không cầu xin cho người đồng hương, đồng tộc, hay đồng đạo. Ông cầu xin cho hai thành xa lạ và tội lỗi, Sodoma và Gomorah! Dường như ông lo lắng cho người “ngoài” nhiều hơn là người “trong nhà”, đến độ dân bản địa là “con cái ông Khết”, nghĩa là dân Hi-tít (St 23,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 23:6&FontSize=Txt10)) ca tụng ông, gọi ông là: “Nesi elokim atah betocheinu. - "You are a prince of God in our midst.” - Ngài là một vị hoàng tử của Thiên Chúa ở giữa chúng tôi".
Nếu Abraham sống vào thời hồng thuỷ, hẳn Abraham cũng đã mặc cả để cứu thế giới. Thành công hay không, điều ấy dành cho Thiên Chúa quyết định. Nhưng ít ra ông đã có tiếng nói. Có thể Abraham sẽ thất bại, nhưng vẫn hơn Noe, vì Noe chẳng bận lòng mở miệng nói thử một tiếng.
Kết quả? Noe say sưa, trần truồng. Con cái xấu hổ vì ông. Noe chỉ cứu được mỗi gia đình của mình.
Khi chỉ biết cứu mình, hậu quả cuối cùng là chính mình cũng...chẳng cứu nổi.
Đâu là lý do của sự khác biệt?
Chìa khoá của thành công (và thất bại) nằm ở sự khác biệt trong hai câu miêu tả.
Noe “đi với Thiên Chúa” (St 6,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 6:9&FontSize=Txt10))
Còn Thiên Chúa phán với Abraham : “HASHEM el-Avram vayomer elav ani Kel-Shakai hithalech lefanai veheyeh tamim. - Hashem appeared to Avram and said to him: "I am Almighty Shakai, walk before Me and be perfect. - Hãy đi trước mặt Ta và hãy hoàn hảo ” (St 17,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 7:1&FontSize=Txt10))
Noe "đi với Thiên Chúa", còn Abraham “đi trước Thiên Chúa”
Noe như một đứa bé chưa đủ trưởng thành, Noe phải đi với Thiên Chúa. Ông cần có Ngài bên cạnh bảo ban từng chút một. Ông chỉ làm theo lệnh.
Còn Abraham đã như một người con trưởng thành, chững chạc đi trước Thiên Chúa, không cần tay nâng tay đỡ . Ông đã biết ý thức trách nhiệm, đến độ Thiên Chúa đã phải “tư lự” trước khi có quyết định quan trọng về phần số của hai thành Sodoma và Gomorah : “ĐỨC CHÚA phán: "Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng? “ (St 18,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 18:17&FontSize=Txt10))
Hai giới từ “với” và “trước” nói lên sự khác biệt quan trọng giữa hai tổ phụ.
Noe là người công chính. Nhưng thế gian sau cơn đại lụt chắc hẳn cần những người xông xáo nhậm lẹ nhiều sáng kiến để tái tạo địa cầu. Abraham và Môse hẳn thích hợp hơn Noe lúc này.
Lý luận thế để chúng ta đưa ra nhận định rằng tổ phụ Noe thiếu nhiều thành tố của một nhà kiến thiết tầm cỡ. Quả vậy, sau trận lụt, Noe trồng gì không trồng lại trồng nho (*).
Nhân loại lúc bấy giờ hẳn cần thực phẩm nuôi sống hơn là nước trái cây giải khát mà !
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Ghi chú (*)
Đoạn Midrash Tanhuma 58 cho ta một câu chuyện lý thú. Người ta thường kể lại đế lý giải về tác hại của rượu. Nhưng chúng ta hãy nghĩ tới sự yếu kém của Noe trong câu chuyện:
Khi thấy ông Noe mướt mồ hôi để vỡ đất trồng nho, Satan mon men tới gần, hỏi:
-“Ông định trồng gì thế?”
-"Trồng nho ấy mà."
-"Trái nó ra sao?"
-"Trái nó tươi cũng ngọt mà khô cũng ngọt. Nước ép nó làm rượu, khiến lòng người hân hoan."
-"Vậy chúng ta cùng cộng tác trồng nho nhé?"
Noe đồng ý.
Thế là Satan tuần tự giết con cừu, con sư tử, con khỉ và cuối cùng con heo, để lấy xác và máu bón phân cho vườn nho.
Satan đã khiến cho rượu có những đặc tính như ngày nay.
Nếu chỉ uống một ly, người ta sẽ hiền như cừu.
Hai ly sẽ làm cho người ta hưng phấn lồng lộn lên như sư tử.
Sau ba bốn ly, người ta sẽ nghêu ngao rồi múa may như khỉ.
Đến lúc mềm môi, người ta chẳng khác nào con heo.
Thay cho lời kết
Noe không mạnh dạn cầu xin cho thế giới có lẽ vì bản tính Noe ít nói chăng?
Noe sống sót sau trận lụt. Sống sót nhưng cô đơn. Ông đã cô đơn từ trước những ngày mưa bão. Chung quanh ông, mọi người điên cuồng sống trong tội lỗi, còn ông thì “tzaddik” và “tamin” nên ông chỉ “một mình”.
Rồi khi cơn giận Thiên Chúa ập đổ xuông nhân loại, lênh đênh trong con tàu lẻ loi giữa trời và nước, Noe hẳn phải cảm thấy ngậm ngùi.
Chúng ta có thể ngờ là Noe có chút xót xa cho phận số loài người và áy náy vì mình đã hà tiện lời cầu xin tha mạng cho thế giới. Nên ông tìm quên trong men rượu chăng?
Hơn nữa trong cái mênh mông vắng lặng của thế giới sau trận lụt, tìm đâu ra được nguồn vui, ngoài trái nho? Bonum vinum laetificat cor hominis - Rượu ngon làm phấn chấn lòng người.
Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi: “Ông Nô-ê làm nghề nông, ông là người thứ nhất trồng nho. Ông uống rượu say và nằm trần truồng giữa lều." (St 9,20-21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 9:20-21&FontSize=Txt10)) Nên chúng ta tha hồ mà suy diễn.
Đến lúc Noe có “rượu vào” rồi, thời “lời ra”. Lời đầu tiên ông nói là lời chúc dữ: “Ca-na-an đáng bị nguyền rủa! Nó phải là đầy tớ các đầy tớ của các anh em nó! " (St 9,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 9:25&FontSize=Txt10)...)
Lời chúc tạo thành một hệ luỵ cho con cháu của Shem và Canaan. Hai dòng tộc này xung khắc nhau suốt dòng lịch sử. Chúng ta còn thấy được dư lụy này trên các đời con cháu của cụ tổ Abraham, Isaac và Giacóp.
Giữa đời gian truân cùng khốn, nhiều điều dữ và nhiều lời chúc dữ đã được nói ra, chúng ta đành phải sống với nó và cải thiện thế giới bất chấp nó.
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.