admin
26-12-2008, 08:32 AM
Tư Liệu Thánh Kinh: người và tôn giáo Canaan
Trên Núi Xi-nai, Chúa truyền cho dân Ít-ra-en không được thờ chúa nào khác ngoài Ngài. Vì thế khi vào đất Ca-na-an, người Ít-ra-en phải tránh mọi tiếp xúc với tôn giáo bản địa. Nhưng trước cả lúc họ vào đất Ca-na-an, người Ít-ra-en đã thờ thần Ba-an, vốn là thần của dân Ca-na-an, rồi. Khi họ định cư xong tại Ðất Hứa, Ba-an trở thành địch thủ nghiêm trọng đối với Thiên Chúa của Ít-ra-en.
Sách Thủ Lãnh miêu tả những rắc rối do việc trên tạo nên và cho thấy những người như Ghít-ôn đã chống đối việc thờ ngẫu thần Ba-an ra sao. Mặc dầu việc thờ ấy ít được nhắc đến dưới thời Đa-vít và Sa-lô-môn, nhưng sau đó, dưới thời A-kháp trị vì vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc, thì Ba-an gần như loại hẳn Thiên Chúa của Ít-ra-en qua một bên. Ðó là do công trình của I-de-ven, vợ A-kháp, người vốn xuất thân từ thành Xi-đôn của Ca-na-an và mang theo nhiều giáo sĩ Ba-an với mình. Xh 20:3; 23:23, 24. 1V 16:29 và các chương kế tiếp.
Các thần Ca-na-an: Các thần nam và nữ của Ca-na-an đều là những sức mạnh trong thiên nhiên được bản vị hóa. Ba-an, có nghĩa là ‘chúa’, chính là tước hiệu của Ha-đát, thần khí hậu (tên này có âm gần giống như sấm sét). Hắn kiểm soát mưa, sương mù, và sương sa, và do đó, giữ chìa khóa mùa màng là điều cốt yếu sinh tồn của dân Ca-na-an. Vợ của Ba-an là Astarte, cũng có tên là Anat, nữ thần tình yêu và chiến tranh. Cha của Ba-an là El, chúa tể các thần, nhưng đến thời dân Ít-ra-en vào đất Ca-na-an, hắn chỉ còn hư vị. Vợ của El là Át-sê-ra, nữ thần mẹ và là nữ thần biển cả. Cả Át-sê-ra lẫn Astarte đôi khi được gọi là ‘Bà Chúa’ (Ba-anat).
Các thần hàng đầu khác là Shamash, mặt trời; Reshef, thần chiến tranh và âm phủ; Dagon, lúa; và nhiều thần nhỏ khác tạo thành gia đình và triều đình các thần lớn hơn. Bức tranh tổng quát này thay đổi từ nơi này qua nơi khác vì mỗi thị trấn đều có thần hộ mệnh hay thần sùng kính riêng, cũng được gọi là “chúa’ hay ‘bà chúa’ riêng của họ.
Sự tích các thần: Sự tích các thần nam, thần nữ được các nguồn Ca-na-an và ngoại quốc cung cấp. Tất cả đều tàn bạo, khát máu, thích đấm đá lẫn nhau, và thoả mãn nhục dục hoang dâm vô độ với nhau. Các thần này can thiệp vào thế sự chỉ là vì tính ngông cuồng đùa nghịch của họ mà thôi, không hề để ý đến những hậu quả đau khổ gây nên.
Dĩ nhiên những câu truyện trên gây nhiều tác dụng trên việc thờ phượng của người Ca-na-an. Những hội hè tôn giáo trở thành những cử hành hạ cấp, thoả mãn khía cạnh thú vật trong bản chất con người. Ngay các nhà văn Hy Lạp và La Mã cũng ngỡ ngàng trước những sự việc người Ca-na-an thực hiện nhân danh tôn giáo. Bởi thế không lạ gì khi Thánh Kinh hoàn toàn lên án các tội ác của họ. Ðnl 18:9; 1V 14:22-24; Hs 4:12-14.
Ðền thờ và giáo sĩ: Các thần quan trọng được dâng kính những đền thờ nguy nga tại các thành phố lớn, có đủ giáo sĩ, ca đoàn và gia nhân phục dịch. Vào những ngày lễ thánh, vua chúa xếp hàng dâng hy lễ. Một số được toàn thiêu; một số chừa lại phân phối cho dân. Vào những dịp lễ trọng, người dân thường cũng được gia nhập đoàn rước hay chứng kiến đoàn rước từ xa. Nhưng chính đền thờ thì không lớn, nên chỉ một số nhỏ vào được bên trong.
Vấn đề danh dự khiến ông vua nào cũng muốn làm cho đền thờ càng tráng lệ bao nhiêu càng hay, lát tượng thần cũng như các bức tường của đền thánh bằng đủ thứ qúy kim, và cung cấp những chén dĩa bằng vàng để đựng thức ăn cho các thần. Ngoài tượng thần, hay một con vật biểu tượng cho vị thần ấy (Ba-an được biểu tượng bằng con bò đực, Át-sê-ra bằng con sư tử), còn có bàn thờ để dâng lễ, bàn thờ để niệm hương, và vô số trụ đá nữa. Những cột này vốn được tin là nơi ngự của các thần. Cũng có những trụ đá, bàn thờ, và cột gỗ hay thân cây dựng tại những ngôi đền trống mái để thường dân có thể tới đó dễ dàng mà dâng lễ vật hay cầu khấn. Trụ thường biểu tượng cho Ba-an, còn cột tượng trưng cho Át-sê-ra (xem Ðnl 12:3). Khi dâng của lễ, giáo sĩ thường quan sát bộ lòng của con vật để tiên đoán vận hên sui cho người thờ phượng (xem Tôn giáo Át-sua và Tôn giáo Ba-by-lon). Những cách bói toán khác là ngắm các vì sao, liên lạc với người chết, và thôi miên. Các giáo sĩ cũng được yêu cầu chữa bệnh bằng cầu khấn hay niệm thần chú.
Của lễ: Của lễ dâng cho các thần thường là thú vật hay thực phẩm. Sự kiện Ít-ra-en được truyền phải tránh lấy người làm hy lễ, và sau này tư liệu từ các văn bản Hy Lạp cũng như La Mã, chứng tỏ việc này có xẩy ra, nhưng không rõ có xẩy ra thường xuyên hay không. Có lẽ hình thức dâng lễ ấy chỉ xẩy ra trong những hoàn cảnh bất thường mà thôi, như giải pháp cuối cùng để có thể được thần thương đoái. Thần Molech, vị được nêu danh khi hình thức hy lễ này được nhắc tới hình như là vị thần của âm phủ.
Ngôn ngữ Ca-na-an và ngôn ngữ Hi-bá-lai có một số từ ngữ chung chỉ về hy lễ, giáo sĩ, và những vấn đề tôn giáo khác. Ngoài ra còn có những thuật ngữ khác giống nhau nữa. Hiển nhiên hai ngôn ngữ này đều có một kho từ ngữ chung; nhưng các ý niệm được chúng biểu hiệu thì khác nhau tùy theo nơi và tín ngưỡng. Lv 18:21; Ðnl 12:31; 2V 3:27.
Trên Núi Xi-nai, Chúa truyền cho dân Ít-ra-en không được thờ chúa nào khác ngoài Ngài. Vì thế khi vào đất Ca-na-an, người Ít-ra-en phải tránh mọi tiếp xúc với tôn giáo bản địa. Nhưng trước cả lúc họ vào đất Ca-na-an, người Ít-ra-en đã thờ thần Ba-an, vốn là thần của dân Ca-na-an, rồi. Khi họ định cư xong tại Ðất Hứa, Ba-an trở thành địch thủ nghiêm trọng đối với Thiên Chúa của Ít-ra-en.
Sách Thủ Lãnh miêu tả những rắc rối do việc trên tạo nên và cho thấy những người như Ghít-ôn đã chống đối việc thờ ngẫu thần Ba-an ra sao. Mặc dầu việc thờ ấy ít được nhắc đến dưới thời Đa-vít và Sa-lô-môn, nhưng sau đó, dưới thời A-kháp trị vì vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc, thì Ba-an gần như loại hẳn Thiên Chúa của Ít-ra-en qua một bên. Ðó là do công trình của I-de-ven, vợ A-kháp, người vốn xuất thân từ thành Xi-đôn của Ca-na-an và mang theo nhiều giáo sĩ Ba-an với mình. Xh 20:3; 23:23, 24. 1V 16:29 và các chương kế tiếp.
Các thần Ca-na-an: Các thần nam và nữ của Ca-na-an đều là những sức mạnh trong thiên nhiên được bản vị hóa. Ba-an, có nghĩa là ‘chúa’, chính là tước hiệu của Ha-đát, thần khí hậu (tên này có âm gần giống như sấm sét). Hắn kiểm soát mưa, sương mù, và sương sa, và do đó, giữ chìa khóa mùa màng là điều cốt yếu sinh tồn của dân Ca-na-an. Vợ của Ba-an là Astarte, cũng có tên là Anat, nữ thần tình yêu và chiến tranh. Cha của Ba-an là El, chúa tể các thần, nhưng đến thời dân Ít-ra-en vào đất Ca-na-an, hắn chỉ còn hư vị. Vợ của El là Át-sê-ra, nữ thần mẹ và là nữ thần biển cả. Cả Át-sê-ra lẫn Astarte đôi khi được gọi là ‘Bà Chúa’ (Ba-anat).
Các thần hàng đầu khác là Shamash, mặt trời; Reshef, thần chiến tranh và âm phủ; Dagon, lúa; và nhiều thần nhỏ khác tạo thành gia đình và triều đình các thần lớn hơn. Bức tranh tổng quát này thay đổi từ nơi này qua nơi khác vì mỗi thị trấn đều có thần hộ mệnh hay thần sùng kính riêng, cũng được gọi là “chúa’ hay ‘bà chúa’ riêng của họ.
Sự tích các thần: Sự tích các thần nam, thần nữ được các nguồn Ca-na-an và ngoại quốc cung cấp. Tất cả đều tàn bạo, khát máu, thích đấm đá lẫn nhau, và thoả mãn nhục dục hoang dâm vô độ với nhau. Các thần này can thiệp vào thế sự chỉ là vì tính ngông cuồng đùa nghịch của họ mà thôi, không hề để ý đến những hậu quả đau khổ gây nên.
Dĩ nhiên những câu truyện trên gây nhiều tác dụng trên việc thờ phượng của người Ca-na-an. Những hội hè tôn giáo trở thành những cử hành hạ cấp, thoả mãn khía cạnh thú vật trong bản chất con người. Ngay các nhà văn Hy Lạp và La Mã cũng ngỡ ngàng trước những sự việc người Ca-na-an thực hiện nhân danh tôn giáo. Bởi thế không lạ gì khi Thánh Kinh hoàn toàn lên án các tội ác của họ. Ðnl 18:9; 1V 14:22-24; Hs 4:12-14.
Ðền thờ và giáo sĩ: Các thần quan trọng được dâng kính những đền thờ nguy nga tại các thành phố lớn, có đủ giáo sĩ, ca đoàn và gia nhân phục dịch. Vào những ngày lễ thánh, vua chúa xếp hàng dâng hy lễ. Một số được toàn thiêu; một số chừa lại phân phối cho dân. Vào những dịp lễ trọng, người dân thường cũng được gia nhập đoàn rước hay chứng kiến đoàn rước từ xa. Nhưng chính đền thờ thì không lớn, nên chỉ một số nhỏ vào được bên trong.
Vấn đề danh dự khiến ông vua nào cũng muốn làm cho đền thờ càng tráng lệ bao nhiêu càng hay, lát tượng thần cũng như các bức tường của đền thánh bằng đủ thứ qúy kim, và cung cấp những chén dĩa bằng vàng để đựng thức ăn cho các thần. Ngoài tượng thần, hay một con vật biểu tượng cho vị thần ấy (Ba-an được biểu tượng bằng con bò đực, Át-sê-ra bằng con sư tử), còn có bàn thờ để dâng lễ, bàn thờ để niệm hương, và vô số trụ đá nữa. Những cột này vốn được tin là nơi ngự của các thần. Cũng có những trụ đá, bàn thờ, và cột gỗ hay thân cây dựng tại những ngôi đền trống mái để thường dân có thể tới đó dễ dàng mà dâng lễ vật hay cầu khấn. Trụ thường biểu tượng cho Ba-an, còn cột tượng trưng cho Át-sê-ra (xem Ðnl 12:3). Khi dâng của lễ, giáo sĩ thường quan sát bộ lòng của con vật để tiên đoán vận hên sui cho người thờ phượng (xem Tôn giáo Át-sua và Tôn giáo Ba-by-lon). Những cách bói toán khác là ngắm các vì sao, liên lạc với người chết, và thôi miên. Các giáo sĩ cũng được yêu cầu chữa bệnh bằng cầu khấn hay niệm thần chú.
Của lễ: Của lễ dâng cho các thần thường là thú vật hay thực phẩm. Sự kiện Ít-ra-en được truyền phải tránh lấy người làm hy lễ, và sau này tư liệu từ các văn bản Hy Lạp cũng như La Mã, chứng tỏ việc này có xẩy ra, nhưng không rõ có xẩy ra thường xuyên hay không. Có lẽ hình thức dâng lễ ấy chỉ xẩy ra trong những hoàn cảnh bất thường mà thôi, như giải pháp cuối cùng để có thể được thần thương đoái. Thần Molech, vị được nêu danh khi hình thức hy lễ này được nhắc tới hình như là vị thần của âm phủ.
Ngôn ngữ Ca-na-an và ngôn ngữ Hi-bá-lai có một số từ ngữ chung chỉ về hy lễ, giáo sĩ, và những vấn đề tôn giáo khác. Ngoài ra còn có những thuật ngữ khác giống nhau nữa. Hiển nhiên hai ngôn ngữ này đều có một kho từ ngữ chung; nhưng các ý niệm được chúng biểu hiệu thì khác nhau tùy theo nơi và tín ngưỡng. Lv 18:21; Ðnl 12:31; 2V 3:27.