PDA

View Full Version : Phần II - Bài 25. Nhân loại học và luân lý trong: “Ngươi không được ngoại tình”


admin
18-07-2006, 09:30 AM
Thứ Tư, ngày 23/04/1980

25. Nội dung nhân loại học và luân lý trong giới răn: “Ngươi không được phạm tội ngoại tình”

Xin nhớ lại những lời trong bài giảng trên núi mà chúng ta đã dựa vào đấy trong phần suy niệm ngày thứ tư này của chúng ta. Chúa đã nói: «Anh em đã nghe Luật dạy chớ ngoại tình, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10)).

Con người mà Đức Kitô nói ở đây là chính con người lịch sử, tức là con người mà chúng ta đã thấy «từ thuở ban đầu» vào những lần phân tích trước đây, trong thời tiền-thần-học. Đó cũng chính là con người đã nghe Bài Giảng Trên Núi bằng chính đôi tai của mình. Nhưng cùng với con người lịch sử, đó cũng chính là bất cứ người nào đang đối diện với khoảnh khắc lịch sử ấy, dù họ đang ở trong cõi mênh mông của quá khứ hay họ đang ở trong cõi ngút ngàn của tương lai. Đối diện với Bài Giảng Trên Núi, hiện tại của chúng ta và tính đương đại của chúng ta đều thuộc về cái “tương lai” đó.
<o></o>
Trên một bình diện nào đó, con người lịch sử là “mọi” người, từng người trong chúng ta. Dù đó là con người của quá khứ hoặc của tương lai, đó có thể là con người nhận biết giới răn minh bạch “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” như đã “ghi trong Lề Luật” (x. Rm 2,22-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:22-23&FontSize=Txt10)). Nhưng đó cũng có thể là con người được nói đến trong thơ gởi tín hữu Rôma, mà giới răn này chỉ “được ghi khắc trong lòng” họ thôi (Rm 2,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:15&FontSize=Txt10))[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1). Nhờ những suy niệm trước đây soi sáng, con người ấy chính là con người “từ thuở ban đầu” hiểu được ý nghĩa chính xác về ý nghĩa của thân xác. Con người đó đã đạt được điều này ngay cả trước khi vượt qua “ngưỡng cửa” của kinh nghiệm lịch sử, trong mầu nhiệm sáng tạo, kinh nghiệm mà từ đó con người xuất hiện như là “nam và nữ” (x. St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:27&FontSize=Txt10)). Con người đó là con người lịch sử mà “từ thuở ban đầu” của cuộc sống thăng trầm trên trái đất đã ngộ được bản thân “ngay trong” sự nhận biết điều lành điều dữ khi phá bỏ giao ước với Đấng Tạo Hóa. Con người đó là con người nhận biết người nữ vợ mình và nhận biết nhiều lần. Bà ta “đã thụ thai và sinh con” (x. St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%204:1-2&FontSize=Txt10)) theo chương trình của Đấng Tạo Hóa, một chương trình đã có từ lúc con người còn ở trong tình trạng trong trắng nguyên thủy(x. St 1,18 và 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:18,2:24&FontSize=Txt10)).<o></o>

Đức Kitô với Bài Giảng Trên Núi, nhất là những lời trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), đã nói cho chính con người đó. Người đã nói cho con người trong một thời điểm nhất định của lịch sử và đồng thời Người cũng nói với hết tất cả những con người có cùng một lịch sử làm người. Như chúng ta đã vừa nhận thấy, Người đã nói cho con người “bên trong”. Những lời của Đức Kitô chứa đựng một nội dung nhân loại học rất rõ rệt. Chúng liên quan tới những ý nghĩa muôn thuở và qua trung gian những lời đó, một nền nhân loại học “tương thích” được thành hình.

Đồng thời, qua nội dung có tính cách luân lý, những lời đó đã tạo thành một nền nhân loại học như thế. Những lời ấy đòi hỏi con người phải đạt đến cái hình ảnh sung mãn của chính mình. Con người có “xác thịt”, vì là người nam nên phải liên kết với người nữ qua thân xác và tính dục (Giới răn “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” nói lên điều này). Dưới sự soi dẫn của những lời này của Chúa Kitô, con người chắc chắn sẽ tìm lại được chính bản thân mình ngay từ phía bên trong, ngay trong cõi tâm/lòng[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) mình. Cõi tâm/lòng là chiều kích của nhân loại được gắn liền với cái lý lẽ của ý nghĩa về thân xác và với cái thứ bậc của lý lẽ này. Đây chính là vấn đề của cả hai ý nghĩa mà, trong những phân tích trước đây, chúng ta đã gọi là “hôn phối”, và “sinh sản”. Nhưng đó là thứ bậc nào?

Chắc chắn phải có lời giải đáp cho vấn nạn này trong phần suy tư của chúng ta đây. Nhưng lời giải đáp của chúng ta không phải chỉ dựa trên những nhân duyên mang tính cách luân lý mà còn có tính cách nhân loại học nữa, bởi vì chúng có mối liên hệ hỗ tương với nhau. Trước hết, chúng ta cần phải tuần tự xác định rõ ý nghĩa của đoạn Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), ý nghĩa của những kiểu nói được dùng trong đoạn ấy và mối liên hệ hỗ tương giữa chúng với nhau.

Tội ngoại tình mà điều luật đã nói có nghĩa là sự phá vỡ tính đơn nhất mà người nam và người nữ, mà chỉ khi là vợ chồng, có thể hợp nhất mật thiết với nhau để trở thành “một xương một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:24&FontSize=Txt10)). Người nam sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nữ không phải vợ mình. Cũng thế, người nữ sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nam không phải là chồng mình. Từ đó, chúng ta phải nghiệm ra rằng việc người nam phạm tội “ngoại tình trong lòng” khi “nhìn người nữ mà thèm muốn” là một hành vi hoàn toàn bên trong rõ rệt. Đó là một thèm muốn có định hướng, trong trường hợp này, của người nam về phía người nữ không phải vợ mình để kết hợp như thể người nữ ấy là vợ mình, nghĩa là, nhắc lại theo lời của Sáng Thế 2,24, họ kết hợp để cả hai “thành một xương một thịt”. Sự thèm muốn đó, là một hành vi bên trong, được biểu lộ ra bên ngoài bằng thị giác, tức là nhìn ngắm, như trong trường hợp của Đavít với bà Betxabê, nếu lấy thí dụ từ trong Kinh Thánh (x. 2 Sm 11, 2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2%20Sm%2011:2&FontSize=Txt10))[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3). Sự kết nối giữa thèm muốn và việc nhìn ngắm đã được nêu rõ một cách đặc biệt trong những lời của Đức Kitô.

Những lời này không nói rõ là người nữ -đối tượng của sự thèm muốn- có là vợ của người khác hoặc không thực sự là vợ của người nam đang nhìn ngắm như thế hay không. Người nữ đó có thể là vợ của một người khác nhưng cũng có thể là một người nữ chưa có ràng buộc hôn nhân. Vậy chúng ta cần phải nghiệm ra điều đó bằng cách dựa trên câu nói xác định rõ ràng về tội ngoại tình mà người nam mắc phạm “trong lòng” khi anh ta nhìn ngắm. Từ đó suy ra một cách chính xác rằng cái nhìn thèm muốn hướng về phía vợ mình thì không phải là tội ngoại tình “trong lòng”. Hẳn là đúng như thế bởi vì hành vi bên trong của người nam quy chiếu về người nữ vợ mình thì không thể gọi là ngoại tình được. Như thế, việc ăn ở vợ chồng, là một hành vi bên ngoài, qua đó “cả hai trở thành một xương một thịt”, là hợp luật trong quan hệ giữa người nam nói đây và người nữ vợ mình. Và tương tự như vậy, mà hành vi bên trong của cùng mối quan hệ đó, cũng phù hợp với luân lý.

<o>Mặt khác, sự ham muốn trong câu “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn” có một chiều kích kinh thánh và thần học mà chúng ta cần phải làm sáng rõ thêm ở đây. Mặc dù chiều kích đó không được trực tiếp biểu hiện trong một câu nói cụ thể độc đáo là Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), nhưng nó đã đâm rễ thật sâu trong bối cảnh liên quan tới mặc khải về thân xác. Chúng ta phải trở lại bối cảnh đó để những lời của Đức Kitô kêu gọi tới cõi tâm/lòng, tới con người bên trong, được vang dội với toàn bộ sự sung mãn của chân lý.

Đoạn trích trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5,27-28) cơ bản có tính biểu thị. Việc Đức Kitô nói về người nam “nhìn phụ nữ với lòng thèm muốn” không có nghĩa rằng, trong ý nghĩa luân lý, những lời đó không nói về người nữ. Đức Kitô nói như thế để đưa ra một thí dụ cụ thể giúp hiểu thế nào là “thi hành luật” theo ý nghĩa mà Thiên Chúa, Đấng làm nên Luật Lệ, đã ban ra. Hơn nữa, việc đó cũng giúp để hiểu và thấy rõ sự “sung mãn công chính” trong con người đang thi hành giới răn thứ sáu của Mười Điều Răn.

Khi nói như thế, Đức Kitô muốn chúng ta đừng nên dừng lại ở thí dụ đó, nhưng chúng ta cần phải đi sâu vào ý nghĩa luân lý và nhân loại học của câu đó. Câu này có ý nghĩa biểu thị và có nghĩa là khi theo dấu vết của chúng, chúng ta sẽ hiểu được chân lý toàn thể về con người lịch sử. Điều này cũng đúng cho nền thân học thân xác. Những lần suy niệm sau, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu sâu xa hơn về chân lý này.

-----<o></o>

[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Và như thế, nội dung của chủ đề mà chúng ta đang suy niệm có lẽ đã chuyển qua địa hạt của “luật tự nhiên”. Những lời được trích trong thơ gởi tín hữu thành Rôma (2,5) vẫn luôn được xem như là nguồn gốc của những chứng cứ cho một lề luật tự nhiên. Như thế, khái niệm luật tự nhiên cũng đã mang một ý nghĩa thần học.
Xin xem D. Composta, Teologia del diritto naturale, status quaestionis, 1972 (Éd. Civiltà), n. 7-22, 11-53 ; J. Fusch, S.J., Lex naturae. Zur Theologie des Naturrrechts, Düsseldorf 1955, p. 22-30 ; E. Hamel</o>, S.J., Loi naturelle et loi du Christ, Bruges-Paris 1964 (Desclée de Brouwer), p. 18 ; A. Sacchi, « La legge naturale nella Bibbia » in : La legge naturale. Le relazioni Bologna 1970 (Éd. Dehoniane), p. 53 ; F. Böckle, « La legge naturale e la legge cristiana », ibid. p. 214-215 ; A. Feuillet, « Le fondement de la morale ancienne et chrétienne d’après l’Épitre aux Romains », Revue Thomiste 78 (1970), 357-386, Th. Herr, Naturrecht aus der kritischen Sicht des Neuen Testaments, Munchen 1976 (Schoningh), p. 155-164.

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Như đã phản ánh trong Tân Ước, lối dùng chữ cách đặc biệt đó của người Do Thái, có thể giúp chúng ta suy diễn ra khái niệm về con người như một sự hợp nhất của tư tưởng, ý chí và tình cảm. Lối dùng chữ đó tả con người như một toàn thể, được nhìn từ góc độ dụng ý. Cõi tâm/lòng, hiểu như là trung tâm của con người, đã được xem như là nguồn gốc của ý chí, của xúc cảm, của tư tưởng và của tình cảm.
Quan niệm đó của đạo Do Thái truyền thống đã được thánh Phaolô thông diễn bằng những phạm trù Hy Lạp như là «tâm trí», «thái độ», «tư tưởng» và «ước muốn». Chúng ta có thể tìm gặp sự liên hệ giữa những phạm trù Do Thái và Hy Lạp trong Ph 1,7; 4,7; Rm 1,21.24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%201:7,4:7%20;%20Rm%201:21,24&FontSize=Txt10). Ở những đoạn Kinh Thánh này, «cõi tâm/lòng» được xem như là một trung tâm mà từ đó ta có tất cả mọi sự. (R. Jewett, Paul’s Anthropological Terms. A Study of their Use in Conflict Settfngs, L<st1:city w:st="[/IMG]Brescia</st1:City"></st1:city><st1:state w:st="[/IMG]del</st1:State"> Convegno dei teologi moralisti dell’Italia settentrionale (11-13 septembre 1969), <st1:city w:st=" /><st1:City w:st=" on="">eiden</st1:city>. 1971, Brill, p. 448.)</st1:state>
«Cõi tâm/lòng» là trung tâm và cội rễ ẩn kín trong lòng của con người và của thế giới của con người đó (...), và nó cũng là căn nguyên đệ nhất và là sức sống của tất cả mọi cảm nghiệm và của tất cả mọi quyết định của hữu thể» (H. Schlier, Das Menschenherz nach dem Apostel Paulus, in: Lebendiges Zeugnis, 1965, p. 123.) Cũng xin xem F. Baumgärtel-J. Behm, «Kardia», in Theologisches Worterbuch zum Neuen Testament, II, <st1:city w:st="on">Stuttgart</st1:city> 1933 (Kohlhammer), tr. 609-616.

[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Có thể đây là thí dụ trong Kinh Thánh được biết nhiều nhất, nhưng chúng ta cũng có thể thấy nhiều thí dụ khác tương tự (x. St 34,2; Tl 14,1; 16,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2034:2%20;%20Tl%2014:1,16:1&FontSize=Txt10)).


Nhóm Tâm Biển

admin
20-12-2009, 05:57 PM
XXV

NỘI DUNG ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ NHÂN HỌC
CỦA GIỚI RĂN «CHỚ NGOẠI TÌNH»

1. Chúng ta hãy nhớ lại những lời Chúa nói trong Bài Giảng Trên Núi được nhắc tới trong phần 2 này của suy tư: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28).

Con người mà Chúa Giêsu nhắc tới ở đây đúng là con người «lịch sử», kẻ mà chúng ta đã lùng dấu vết đến tận «thuở ban đầu» và thời «tiền lịch sử thần học» trong chuỗi những phân tích trước đây. Cách trực tiếp, đó chính là kẻ đã nghe tận tai diễn từ về Bài Giảng Trên Núi. Nhưng cùng với người ấy, còn có những con người khác, mỗi người được đặt trước thời điểm lịch sử ấy, hoặc trong không gian mênh mông của quá khứ, hoặc trong khoảng không cũng rất mênh mông của tương lai. Đứng trước Bài Giảng Trên Núi, hiện tại, thời cận đại này của chúng ta, cũng thuộc về «tương lai» ấy. Con người đó, theo nghĩa nào đó, là «mỗi» người, «mỗi» chúng ta. Cả con người của quá khứ, cả con người của tương lai cũng đều có thể là kẻ nhận biết lệnh truyền tích cực «chớ ngoại tình» như «đã có ở trong Lề Luật» (x. Rm 2,22-23). Nhưng người đó cũng có thể là kẻ mang lệnh truyền ấy chỉ «được ghi khắc trong lòng» (Rm 2,15) theo Thư gửi tín hữu Rôma [1]. Dưới ánh sáng của những suy tư tư trước đây, chính con người là kẻ từ «thuở ban đầu» của mình đã có được một cảm thức chính xác về ý nghĩa của thân xác, cả trước khi bước qua «ngưỡng cửa» của những kinh nghiệm lịch sử của mình, trong chính mầu nhiệm tạo dựng, vì con người xuất phát từ đó như «là nam và là nữ» (St 1,27). Đó là con người lịch sử, là kẻ ngay từ «thuở ban đầu» của những biến cố lịch sử trần thế của mình đã nhận thấy mình «ở trong» nhận thức về thiện ác rồi, đã bẻ gãy Giao ước với Đấng Tạo Hóa của mình rồi. Đó là người đàn ông, kẻ «đã biết (người phụ nữ) vợ mình» và đã «biết» nàng nhiều lần. Nàng «đã mang thai và sinh con» (x. St 4,1-2) phù hợp với kế hoạch của Đấng Tạo Hóa, một kế hoạch lên đến tận tình trạng vô tội nguyên thủy (x. St 1,28; 2,24).

2. Trong diễn từ trên núi, đặc biệt với những lời của Mt 5,27-28 Đức Kitô nói với chính người ấy. Người nói với một con người thuộc một thời gian lịch sử nhất định, nhưng đồng thời cũng nói với mọi người thuộc cùng lịch sử loài người. Như ta đã nhận xét, Người nói với con người «bên trong» chúng ta. Những lời của Đức Kitô có một nội dung nhân học rõ ràng. Chúng liên hệ tới những ý nghĩa thường tồn, nhờ đó mà ta có một nhân học «thích đáng». Do nội dung đạo đức học, những lời này đồng thời tạo nên một nhân học như thế, và đòi hỏi con người phải bước vào trong hình ảnh viên mãn của mình[3] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1272#_ftn3). Người đàn ông, vốn luôn là «xác thịt» và là đàn ông, vẫn luôn tương giao với phụ nữ qua thân xác và giới tính của mình. (Điều này thật ra cũng ám chỉ câu nói «Chớ ngoại tình»). Nhờ những lời này của Đức Kitô soi dẫn, con người ấy phải khám phá lại chính mình trong nội tâm, trong «lòng» («trái tim») mình [2]. «Tâm hồn» hay «lòng» người là một chiều kích của nhân tính, liên hệ trực tiếp với ý thức về ý nghĩa của thân xác con người, và trật tự của ý thức này. Vấn đề nói ở đây là cả ý nghĩa (mà ta gọi là) «hôn phối», như đã được phân tích trước đây, lẫn ý nghĩa (được gọi là) «sinh sản». Và nói đến trật tự nào đây?

3. Phần khảo sát này chúng ta phải trả lời cho câu hỏi đó. Câu trả lời phải không làm sao không chỉ nêu lên những lí lẽ đạo đức học, mà cả lí lẽ nhân học. Thật vậy, những lí do đạo đức học và nhân học vẫn luôn có liên hệ với nhau. Giờ đây, trước hết ta cần xác định ý nghĩa của đoạn văn Mt 5,27-28, ý nghĩa của những thành ngữ được sử dụng trong đó cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau. Sự ngoại tình mà giới răn này trực tiếp nói tới, làm đổ vỡ sự hợp nhất vợ chồng, vốn là sự kết hợp đặc biệt thân mật đến mức thành «một xương một thịt» (St 2,24) chỉ giữa những người nam và người nữ là vợ chồng của nhau. Người đàn ông phạm tội ngoại tình khi kết hợp như thế với một người đàn bà không phải là vợ mình. Người phụ nữ phạm tội ngoại tình khi kết hợp như thế với một người đàn ông không phải là chồng mình. Từ đó ta cần suy ra rằng «ngoại tình trong lòng» khi người đàn ông «nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn» là một hành vi nội tâm xác định rõ. Đó là một sự thèm muốn mà người đàn ông (như trường hợp ở đây) hướng trực tiếp tới một người phụ nữ không phải là vợ mình, nhằm như thể giao hợp với người ấy, nghĩa là muốn «cả hai nên một xương một thịt». Sự thèm muốn đó, như một hành vi nội tâm, được bộc lộ qua giác quan của con mắt nghĩa là bằng cái nhìn, như trườnghợp Đavít và Betsabê của Kinh thánh (x. 2Sm 11,2) [3]. Mối liên hệ giữa sự thèm muốn và cái nhìn của con mắt đã được lưu ý trong lời của Đức Kitô.

4. Những lời của Đức Kitô không nói rõ người phụ nữ - đối tượng của sự thèm muốn kia – là vợ của người khác hay chỉ đơn giản không là vợ của người đàn ông đã nhìn nàng với cái nhìn thèm khát đó. Người phụ nữ đó có thể là vợ của người khác, nhưng cũng có thể là người độc thân không bị ràng buộc hôn nhân. Đúng hơn, ta cần trực giác điều đó, đặc biệt dựa trên cơ sở câu nói đã xác định minh nhiên điều mà con người đã phạm «trong lòng» bởi cái nhìn đó, là tội ngoại tình. Nhưng một cái nhìn như thế hướng đến chính người vợ mình thì không phải là sự ngoại tình «trong lòng». Đó chính là vì hành vi nội tâm ấy đã hướng đến một đối tượng là người phụ nữ là vợ của mình, cái nhìn như thế hướng đến người vợ thì không thể gọi là ngoại tình. Nếu hành vi giao hợp vợ chồng (bởi đó «hai người kết hợp nên một xác thân») như là một hành vi ngoại tại là hợp pháp, thì tương tự hành vi nội tâm kia, cũng trong tương quan ấy giữa người đàn ông với người phụ nữ là vợ mình, cũng hợp đạo đức.

5. Tuy nhiên, sự thèm muốn ấy, điều mà câu nói «ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn» muốn diễn tả, có chiều kích Kinh thánh và thần học mà ở đây chúng ta không thể không làm sáng tỏ. Cho dẫu chiều kích đó không được bộc lộ trực tiếp trong câu nói cụ thể độc đáo của Mt 5,27-28, nhưng nó bén rễ sâu xa trong bối cảnh chung liên hệ đến mạc khải thân xác. Chúng ta phải trở về bối cảnh này để tiếng Đức Kitô mời gọi «con tim», con người nội tâm, được vang lên trong toàn thể sự thật của nó. Lời tuyên bố này trong Diễn Từ Trên Núi (Mt 5,27-28) về căn bản có một đặc tính ngụ ý. Việc Đức Kitô nói trực tiếp về người đàn ông, kẻ «nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn», không có nghĩa là những lời ấy về mặt đạo đức không ám chỉ tới cả phía phụ nữ. Đức Kitô diễn tả như thế để minh họa bằng một ví dụ cụ thể phải hiểu làm sao «việc kiện toàn Lề Luật» theo nghĩa Thiên Chúa-Nhà Lập Luật muốn nói, hơn nữa, phải hiểu thế nào về «đức công chính dồi dào» nơi người thực hành giới răn thứ sáu của Thập Giới. Nói như thế, Đức Kitô muốn chúng ta không chỉ dừng lại ở trong ví dụ ấy, nhưng còn phải đào sâu ý nghĩa đạo đức học và nhân học đầy đủ của lời tuyên bố. Lời tuyên bố ấy có đặc tính ngụ ý có nghĩa là dõi theo dấu vết của nó chúng ta có thể đạt tới sự thật tổng quát về con người «lịch sử», vốn là sự thật cũng có giá trị cho cả thần học về thân xác. Những bài sau chúng ta sẽ hướng tới việc tìm hiểu sát hơn sự thật này.

-------------------------------------------
[1] Như thế, nội dung của suy tư của chúng ta có lẽ sẽ được chuyển sang lãnh vực «luật tự nhiên» theo nghĩa nào đó. Những lời được trích từ Thư gửi tín hữu Rôma (2,15) đã luôn được xem như là nguồn mạc khải xác nhận sự hiện hữu của luật tự nhiên. Như vậy, khái niệm luật tự nhiên cũng co một ý nghĩa thần học.

X. D. Composta, Teologia del diritto naturale, «Status quaestionis», Ed. Civiltà, Brescia 1972, pp.7-22, 41-53; J. Fuchs S.J., Lex naturae. Zur Theologie des Naturrechts, Düsseldorf 1955, pp. 22-30; E. Hamel S.J., Loi naturelle et loi du Christ, Desclée de Brouwer, Bruges-Paris, 1965, p.18; A. Sacchi, La legge naturale nella Bibbia, in La legge naturale. Le relazioni del Convegno dei teologi moralisti dell’Italia settentrionale (11-13 settembre 1969), Ed. Dehoniane, Bologna 1970, p.53; F. Böckle, La legge naturale e la legge cristiana, ivi, pp.214-215; A. Feuillet, Le fondement de la morale ancienne et chrétienne d’après l’Épître aux Romains, in «Revue Thomiste», 78 (1970), pp. 357-386; Th. Herr, Naturrecht aus der kritischen Sicht des Neuen Testaments, Schöningh, München 1976, pp. 155-164.

[2] «Tiếng Do thái (cổ) tiêu biểu quen dùng được phản chiếu trong Tân ước ngầm hiểu con người như một hữu thể thống nhất gồm tư tưởng, ý chí và cảm nghĩ... mô tả con người như một toàn thể, được nhìn từ ý hướng của mình; trái tim như trung tâm điểm của con người được nghĩ như là nguồn mạch của mọi ý muốn, xúc cảm, ý nghĩ và tình cảm.

Quan niệm do thái truyền thống này được Phaolô liên kết với những phạm trù văn hóa hy lạp (cổ), chẳng hạn như «lòng trí», «lòng dạ», «suy tưởng», «dục vọng». Người ta thấy sự kết hợp giữa những phạm trù do thái và hy lạp đó nơi Pl 1,7; 4,7; Rm 1,21.24, ở đó «trái tim» (lòng) được nghĩ như là trung tâm từ đó xuất phát ra những sự này» (R. Jewett, Paul’s Anthropological Terms. A Study of their Use in Conflict Settings, Brill, Leiden 1971, p.448).

«Trái tim... là trung tâm và là cội rễ kín ẩn bên trong của con người và thế giới con người..., là đáy dạ không thể dò thấu và là nghị lực sống động của toàn thể kinh nghiệm-phán quyết về cuộc sống» (H. Schlier, Das Menschenherz nach dem Apostel Paulus, in Lebendiges Zeugnis, 1965, p.123).

X. thêm F. BaumgÄrtel – J. Behm,Kardía, in Theologisches Wörterbuch zum neuen Testament, II, Kohlhammer, Stuttgart 1933, pp.609-616.

[3] Ví dụ này nổi tiếng nhất. Nhưng trong Kinh thánh có thể tìm thấy những ví dụ khác tương tự (x.St 34,2; Tl 14,1; 16,1).

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1272#_ftnref1) Max Scheler (1874-1928) là triết gia đạo đức học thuộc trường phái Husserl

[2] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1272#_ftnref2) Thuật ngữ «ethos» thường xuất hiện trong những bài huấn giáo. Nó không có nghĩa chính xác là đạo đưc học (etica) như một khoa học triết lí, càng không có nghĩa như một cách thức cụ thể của hành vi ứng xử của con người. «Ethos» đồng thời vừa là một nhận thức giá trị (từ đó mới có tri thức-ý thức về nghĩa vụ [công nhận giá trị được hấp thu]) vừa là một hành động của nhân vị, vốn có thể phù hợp hay dị nghĩa với giá trị được nhìn nhận.

[3] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1272#_ftnref3) Đây là một khái niệm quan trọng và thường xuyên trong các bài huấn giáo của đức giáo hoàng : sự gắn kết không thể tách rời giữa nhân học và đạo đức học. Mỗi luật luân lí luôn diễn tả một chân lí về con người (nói cho đúng, đó là một chân lí nhân học), vì chân lí này đòi phải được nhìn nhận bởi tự do của nhân vị. Và ngược lại, mỗi chân lí về con người là một lề luật cho con người, chủ thể tự do.