admin
18-07-2006, 09:30 AM
Thứ Tư, ngày 23/04/1980
25. Nội dung nhân loại học và luân lý trong giới răn: “Ngươi không được phạm tội ngoại tình”
Xin nhớ lại những lời trong bài giảng trên núi mà chúng ta đã dựa vào đấy trong phần suy niệm ngày thứ tư này của chúng ta. Chúa đã nói: «Anh em đã nghe Luật dạy chớ ngoại tình, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10)).
Con người mà Đức Kitô nói ở đây là chính con người lịch sử, tức là con người mà chúng ta đã thấy «từ thuở ban đầu» vào những lần phân tích trước đây, trong thời tiền-thần-học. Đó cũng chính là con người đã nghe Bài Giảng Trên Núi bằng chính đôi tai của mình. Nhưng cùng với con người lịch sử, đó cũng chính là bất cứ người nào đang đối diện với khoảnh khắc lịch sử ấy, dù họ đang ở trong cõi mênh mông của quá khứ hay họ đang ở trong cõi ngút ngàn của tương lai. Đối diện với Bài Giảng Trên Núi, hiện tại của chúng ta và tính đương đại của chúng ta đều thuộc về cái “tương lai” đó.
<o></o>
Trên một bình diện nào đó, con người lịch sử là “mọi” người, từng người trong chúng ta. Dù đó là con người của quá khứ hoặc của tương lai, đó có thể là con người nhận biết giới răn minh bạch “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” như đã “ghi trong Lề Luật” (x. Rm 2,22-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:22-23&FontSize=Txt10)). Nhưng đó cũng có thể là con người được nói đến trong thơ gởi tín hữu Rôma, mà giới răn này chỉ “được ghi khắc trong lòng” họ thôi (Rm 2,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:15&FontSize=Txt10))[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1). Nhờ những suy niệm trước đây soi sáng, con người ấy chính là con người “từ thuở ban đầu” hiểu được ý nghĩa chính xác về ý nghĩa của thân xác. Con người đó đã đạt được điều này ngay cả trước khi vượt qua “ngưỡng cửa” của kinh nghiệm lịch sử, trong mầu nhiệm sáng tạo, kinh nghiệm mà từ đó con người xuất hiện như là “nam và nữ” (x. St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:27&FontSize=Txt10)). Con người đó là con người lịch sử mà “từ thuở ban đầu” của cuộc sống thăng trầm trên trái đất đã ngộ được bản thân “ngay trong” sự nhận biết điều lành điều dữ khi phá bỏ giao ước với Đấng Tạo Hóa. Con người đó là con người nhận biết người nữ vợ mình và nhận biết nhiều lần. Bà ta “đã thụ thai và sinh con” (x. St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%204:1-2&FontSize=Txt10)) theo chương trình của Đấng Tạo Hóa, một chương trình đã có từ lúc con người còn ở trong tình trạng trong trắng nguyên thủy(x. St 1,18 và 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:18,2:24&FontSize=Txt10)).<o></o>
Đức Kitô với Bài Giảng Trên Núi, nhất là những lời trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), đã nói cho chính con người đó. Người đã nói cho con người trong một thời điểm nhất định của lịch sử và đồng thời Người cũng nói với hết tất cả những con người có cùng một lịch sử làm người. Như chúng ta đã vừa nhận thấy, Người đã nói cho con người “bên trong”. Những lời của Đức Kitô chứa đựng một nội dung nhân loại học rất rõ rệt. Chúng liên quan tới những ý nghĩa muôn thuở và qua trung gian những lời đó, một nền nhân loại học “tương thích” được thành hình.
Đồng thời, qua nội dung có tính cách luân lý, những lời đó đã tạo thành một nền nhân loại học như thế. Những lời ấy đòi hỏi con người phải đạt đến cái hình ảnh sung mãn của chính mình. Con người có “xác thịt”, vì là người nam nên phải liên kết với người nữ qua thân xác và tính dục (Giới răn “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” nói lên điều này). Dưới sự soi dẫn của những lời này của Chúa Kitô, con người chắc chắn sẽ tìm lại được chính bản thân mình ngay từ phía bên trong, ngay trong cõi tâm/lòng[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) mình. Cõi tâm/lòng là chiều kích của nhân loại được gắn liền với cái lý lẽ của ý nghĩa về thân xác và với cái thứ bậc của lý lẽ này. Đây chính là vấn đề của cả hai ý nghĩa mà, trong những phân tích trước đây, chúng ta đã gọi là “hôn phối”, và “sinh sản”. Nhưng đó là thứ bậc nào?
Chắc chắn phải có lời giải đáp cho vấn nạn này trong phần suy tư của chúng ta đây. Nhưng lời giải đáp của chúng ta không phải chỉ dựa trên những nhân duyên mang tính cách luân lý mà còn có tính cách nhân loại học nữa, bởi vì chúng có mối liên hệ hỗ tương với nhau. Trước hết, chúng ta cần phải tuần tự xác định rõ ý nghĩa của đoạn Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), ý nghĩa của những kiểu nói được dùng trong đoạn ấy và mối liên hệ hỗ tương giữa chúng với nhau.
Tội ngoại tình mà điều luật đã nói có nghĩa là sự phá vỡ tính đơn nhất mà người nam và người nữ, mà chỉ khi là vợ chồng, có thể hợp nhất mật thiết với nhau để trở thành “một xương một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:24&FontSize=Txt10)). Người nam sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nữ không phải vợ mình. Cũng thế, người nữ sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nam không phải là chồng mình. Từ đó, chúng ta phải nghiệm ra rằng việc người nam phạm tội “ngoại tình trong lòng” khi “nhìn người nữ mà thèm muốn” là một hành vi hoàn toàn bên trong rõ rệt. Đó là một thèm muốn có định hướng, trong trường hợp này, của người nam về phía người nữ không phải vợ mình để kết hợp như thể người nữ ấy là vợ mình, nghĩa là, nhắc lại theo lời của Sáng Thế 2,24, họ kết hợp để cả hai “thành một xương một thịt”. Sự thèm muốn đó, là một hành vi bên trong, được biểu lộ ra bên ngoài bằng thị giác, tức là nhìn ngắm, như trong trường hợp của Đavít với bà Betxabê, nếu lấy thí dụ từ trong Kinh Thánh (x. 2 Sm 11, 2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2%20Sm%2011:2&FontSize=Txt10))[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3). Sự kết nối giữa thèm muốn và việc nhìn ngắm đã được nêu rõ một cách đặc biệt trong những lời của Đức Kitô.
Những lời này không nói rõ là người nữ -đối tượng của sự thèm muốn- có là vợ của người khác hoặc không thực sự là vợ của người nam đang nhìn ngắm như thế hay không. Người nữ đó có thể là vợ của một người khác nhưng cũng có thể là một người nữ chưa có ràng buộc hôn nhân. Vậy chúng ta cần phải nghiệm ra điều đó bằng cách dựa trên câu nói xác định rõ ràng về tội ngoại tình mà người nam mắc phạm “trong lòng” khi anh ta nhìn ngắm. Từ đó suy ra một cách chính xác rằng cái nhìn thèm muốn hướng về phía vợ mình thì không phải là tội ngoại tình “trong lòng”. Hẳn là đúng như thế bởi vì hành vi bên trong của người nam quy chiếu về người nữ vợ mình thì không thể gọi là ngoại tình được. Như thế, việc ăn ở vợ chồng, là một hành vi bên ngoài, qua đó “cả hai trở thành một xương một thịt”, là hợp luật trong quan hệ giữa người nam nói đây và người nữ vợ mình. Và tương tự như vậy, mà hành vi bên trong của cùng mối quan hệ đó, cũng phù hợp với luân lý.
<o>Mặt khác, sự ham muốn trong câu “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn” có một chiều kích kinh thánh và thần học mà chúng ta cần phải làm sáng rõ thêm ở đây. Mặc dù chiều kích đó không được trực tiếp biểu hiện trong một câu nói cụ thể độc đáo là Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), nhưng nó đã đâm rễ thật sâu trong bối cảnh liên quan tới mặc khải về thân xác. Chúng ta phải trở lại bối cảnh đó để những lời của Đức Kitô kêu gọi tới cõi tâm/lòng, tới con người bên trong, được vang dội với toàn bộ sự sung mãn của chân lý.
Đoạn trích trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5,27-28) cơ bản có tính biểu thị. Việc Đức Kitô nói về người nam “nhìn phụ nữ với lòng thèm muốn” không có nghĩa rằng, trong ý nghĩa luân lý, những lời đó không nói về người nữ. Đức Kitô nói như thế để đưa ra một thí dụ cụ thể giúp hiểu thế nào là “thi hành luật” theo ý nghĩa mà Thiên Chúa, Đấng làm nên Luật Lệ, đã ban ra. Hơn nữa, việc đó cũng giúp để hiểu và thấy rõ sự “sung mãn công chính” trong con người đang thi hành giới răn thứ sáu của Mười Điều Răn.
Khi nói như thế, Đức Kitô muốn chúng ta đừng nên dừng lại ở thí dụ đó, nhưng chúng ta cần phải đi sâu vào ý nghĩa luân lý và nhân loại học của câu đó. Câu này có ý nghĩa biểu thị và có nghĩa là khi theo dấu vết của chúng, chúng ta sẽ hiểu được chân lý toàn thể về con người lịch sử. Điều này cũng đúng cho nền thân học thân xác. Những lần suy niệm sau, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu sâu xa hơn về chân lý này.
-----<o></o>
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Và như thế, nội dung của chủ đề mà chúng ta đang suy niệm có lẽ đã chuyển qua địa hạt của “luật tự nhiên”. Những lời được trích trong thơ gởi tín hữu thành Rôma (2,5) vẫn luôn được xem như là nguồn gốc của những chứng cứ cho một lề luật tự nhiên. Như thế, khái niệm luật tự nhiên cũng đã mang một ý nghĩa thần học.
Xin xem D. Composta, Teologia del diritto naturale, status quaestionis, 1972 (Éd. Civiltà), n. 7-22, 11-53 ; J. Fusch, S.J., Lex naturae. Zur Theologie des Naturrrechts, Düsseldorf 1955, p. 22-30 ; E. Hamel</o>, S.J., Loi naturelle et loi du Christ, Bruges-Paris 1964 (Desclée de Brouwer), p. 18 ; A. Sacchi, « La legge naturale nella Bibbia » in : La legge naturale. Le relazioni Bologna 1970 (Éd. Dehoniane), p. 53 ; F. Böckle, « La legge naturale e la legge cristiana », ibid. p. 214-215 ; A. Feuillet, « Le fondement de la morale ancienne et chrétienne d’après l’Épitre aux Romains », Revue Thomiste 78 (1970), 357-386, Th. Herr, Naturrecht aus der kritischen Sicht des Neuen Testaments, Munchen 1976 (Schoningh), p. 155-164.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Như đã phản ánh trong Tân Ước, lối dùng chữ cách đặc biệt đó của người Do Thái, có thể giúp chúng ta suy diễn ra khái niệm về con người như một sự hợp nhất của tư tưởng, ý chí và tình cảm. Lối dùng chữ đó tả con người như một toàn thể, được nhìn từ góc độ dụng ý. Cõi tâm/lòng, hiểu như là trung tâm của con người, đã được xem như là nguồn gốc của ý chí, của xúc cảm, của tư tưởng và của tình cảm.
Quan niệm đó của đạo Do Thái truyền thống đã được thánh Phaolô thông diễn bằng những phạm trù Hy Lạp như là «tâm trí», «thái độ», «tư tưởng» và «ước muốn». Chúng ta có thể tìm gặp sự liên hệ giữa những phạm trù Do Thái và Hy Lạp trong Ph 1,7; 4,7; Rm 1,21.24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%201:7,4:7%20;%20Rm%201:21,24&FontSize=Txt10). Ở những đoạn Kinh Thánh này, «cõi tâm/lòng» được xem như là một trung tâm mà từ đó ta có tất cả mọi sự. (R. Jewett, Paul’s Anthropological Terms. A Study of their Use in Conflict Settfngs, L<st1:city w:st="[/IMG]Brescia</st1:City"></st1:city><st1:state w:st="[/IMG]del</st1:State"> Convegno dei teologi moralisti dell’Italia settentrionale (11-13 septembre 1969), <st1:city w:st=" /><st1:City w:st=" on="">eiden</st1:city>. 1971, Brill, p. 448.)</st1:state>
«Cõi tâm/lòng» là trung tâm và cội rễ ẩn kín trong lòng của con người và của thế giới của con người đó (...), và nó cũng là căn nguyên đệ nhất và là sức sống của tất cả mọi cảm nghiệm và của tất cả mọi quyết định của hữu thể» (H. Schlier, Das Menschenherz nach dem Apostel Paulus, in: Lebendiges Zeugnis, 1965, p. 123.) Cũng xin xem F. Baumgärtel-J. Behm, «Kardia», in Theologisches Worterbuch zum Neuen Testament, II, <st1:city w:st="on">Stuttgart</st1:city> 1933 (Kohlhammer), tr. 609-616.
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Có thể đây là thí dụ trong Kinh Thánh được biết nhiều nhất, nhưng chúng ta cũng có thể thấy nhiều thí dụ khác tương tự (x. St 34,2; Tl 14,1; 16,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2034:2%20;%20Tl%2014:1,16:1&FontSize=Txt10)).
Nhóm Tâm Biển
25. Nội dung nhân loại học và luân lý trong giới răn: “Ngươi không được phạm tội ngoại tình”
Xin nhớ lại những lời trong bài giảng trên núi mà chúng ta đã dựa vào đấy trong phần suy niệm ngày thứ tư này của chúng ta. Chúa đã nói: «Anh em đã nghe Luật dạy chớ ngoại tình, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10)).
Con người mà Đức Kitô nói ở đây là chính con người lịch sử, tức là con người mà chúng ta đã thấy «từ thuở ban đầu» vào những lần phân tích trước đây, trong thời tiền-thần-học. Đó cũng chính là con người đã nghe Bài Giảng Trên Núi bằng chính đôi tai của mình. Nhưng cùng với con người lịch sử, đó cũng chính là bất cứ người nào đang đối diện với khoảnh khắc lịch sử ấy, dù họ đang ở trong cõi mênh mông của quá khứ hay họ đang ở trong cõi ngút ngàn của tương lai. Đối diện với Bài Giảng Trên Núi, hiện tại của chúng ta và tính đương đại của chúng ta đều thuộc về cái “tương lai” đó.
<o></o>
Trên một bình diện nào đó, con người lịch sử là “mọi” người, từng người trong chúng ta. Dù đó là con người của quá khứ hoặc của tương lai, đó có thể là con người nhận biết giới răn minh bạch “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” như đã “ghi trong Lề Luật” (x. Rm 2,22-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:22-23&FontSize=Txt10)). Nhưng đó cũng có thể là con người được nói đến trong thơ gởi tín hữu Rôma, mà giới răn này chỉ “được ghi khắc trong lòng” họ thôi (Rm 2,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%202:15&FontSize=Txt10))[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1). Nhờ những suy niệm trước đây soi sáng, con người ấy chính là con người “từ thuở ban đầu” hiểu được ý nghĩa chính xác về ý nghĩa của thân xác. Con người đó đã đạt được điều này ngay cả trước khi vượt qua “ngưỡng cửa” của kinh nghiệm lịch sử, trong mầu nhiệm sáng tạo, kinh nghiệm mà từ đó con người xuất hiện như là “nam và nữ” (x. St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:27&FontSize=Txt10)). Con người đó là con người lịch sử mà “từ thuở ban đầu” của cuộc sống thăng trầm trên trái đất đã ngộ được bản thân “ngay trong” sự nhận biết điều lành điều dữ khi phá bỏ giao ước với Đấng Tạo Hóa. Con người đó là con người nhận biết người nữ vợ mình và nhận biết nhiều lần. Bà ta “đã thụ thai và sinh con” (x. St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%204:1-2&FontSize=Txt10)) theo chương trình của Đấng Tạo Hóa, một chương trình đã có từ lúc con người còn ở trong tình trạng trong trắng nguyên thủy(x. St 1,18 và 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:18,2:24&FontSize=Txt10)).<o></o>
Đức Kitô với Bài Giảng Trên Núi, nhất là những lời trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), đã nói cho chính con người đó. Người đã nói cho con người trong một thời điểm nhất định của lịch sử và đồng thời Người cũng nói với hết tất cả những con người có cùng một lịch sử làm người. Như chúng ta đã vừa nhận thấy, Người đã nói cho con người “bên trong”. Những lời của Đức Kitô chứa đựng một nội dung nhân loại học rất rõ rệt. Chúng liên quan tới những ý nghĩa muôn thuở và qua trung gian những lời đó, một nền nhân loại học “tương thích” được thành hình.
Đồng thời, qua nội dung có tính cách luân lý, những lời đó đã tạo thành một nền nhân loại học như thế. Những lời ấy đòi hỏi con người phải đạt đến cái hình ảnh sung mãn của chính mình. Con người có “xác thịt”, vì là người nam nên phải liên kết với người nữ qua thân xác và tính dục (Giới răn “Ngươi không được phạm tội ngoại tình” nói lên điều này). Dưới sự soi dẫn của những lời này của Chúa Kitô, con người chắc chắn sẽ tìm lại được chính bản thân mình ngay từ phía bên trong, ngay trong cõi tâm/lòng[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) mình. Cõi tâm/lòng là chiều kích của nhân loại được gắn liền với cái lý lẽ của ý nghĩa về thân xác và với cái thứ bậc của lý lẽ này. Đây chính là vấn đề của cả hai ý nghĩa mà, trong những phân tích trước đây, chúng ta đã gọi là “hôn phối”, và “sinh sản”. Nhưng đó là thứ bậc nào?
Chắc chắn phải có lời giải đáp cho vấn nạn này trong phần suy tư của chúng ta đây. Nhưng lời giải đáp của chúng ta không phải chỉ dựa trên những nhân duyên mang tính cách luân lý mà còn có tính cách nhân loại học nữa, bởi vì chúng có mối liên hệ hỗ tương với nhau. Trước hết, chúng ta cần phải tuần tự xác định rõ ý nghĩa của đoạn Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), ý nghĩa của những kiểu nói được dùng trong đoạn ấy và mối liên hệ hỗ tương giữa chúng với nhau.
Tội ngoại tình mà điều luật đã nói có nghĩa là sự phá vỡ tính đơn nhất mà người nam và người nữ, mà chỉ khi là vợ chồng, có thể hợp nhất mật thiết với nhau để trở thành “một xương một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:24&FontSize=Txt10)). Người nam sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nữ không phải vợ mình. Cũng thế, người nữ sẽ phạm tội ngoại tình nếu kết hợp như thế với người nam không phải là chồng mình. Từ đó, chúng ta phải nghiệm ra rằng việc người nam phạm tội “ngoại tình trong lòng” khi “nhìn người nữ mà thèm muốn” là một hành vi hoàn toàn bên trong rõ rệt. Đó là một thèm muốn có định hướng, trong trường hợp này, của người nam về phía người nữ không phải vợ mình để kết hợp như thể người nữ ấy là vợ mình, nghĩa là, nhắc lại theo lời của Sáng Thế 2,24, họ kết hợp để cả hai “thành một xương một thịt”. Sự thèm muốn đó, là một hành vi bên trong, được biểu lộ ra bên ngoài bằng thị giác, tức là nhìn ngắm, như trong trường hợp của Đavít với bà Betxabê, nếu lấy thí dụ từ trong Kinh Thánh (x. 2 Sm 11, 2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2%20Sm%2011:2&FontSize=Txt10))[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3). Sự kết nối giữa thèm muốn và việc nhìn ngắm đã được nêu rõ một cách đặc biệt trong những lời của Đức Kitô.
Những lời này không nói rõ là người nữ -đối tượng của sự thèm muốn- có là vợ của người khác hoặc không thực sự là vợ của người nam đang nhìn ngắm như thế hay không. Người nữ đó có thể là vợ của một người khác nhưng cũng có thể là một người nữ chưa có ràng buộc hôn nhân. Vậy chúng ta cần phải nghiệm ra điều đó bằng cách dựa trên câu nói xác định rõ ràng về tội ngoại tình mà người nam mắc phạm “trong lòng” khi anh ta nhìn ngắm. Từ đó suy ra một cách chính xác rằng cái nhìn thèm muốn hướng về phía vợ mình thì không phải là tội ngoại tình “trong lòng”. Hẳn là đúng như thế bởi vì hành vi bên trong của người nam quy chiếu về người nữ vợ mình thì không thể gọi là ngoại tình được. Như thế, việc ăn ở vợ chồng, là một hành vi bên ngoài, qua đó “cả hai trở thành một xương một thịt”, là hợp luật trong quan hệ giữa người nam nói đây và người nữ vợ mình. Và tương tự như vậy, mà hành vi bên trong của cùng mối quan hệ đó, cũng phù hợp với luân lý.
<o>Mặt khác, sự ham muốn trong câu “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn” có một chiều kích kinh thánh và thần học mà chúng ta cần phải làm sáng rõ thêm ở đây. Mặc dù chiều kích đó không được trực tiếp biểu hiện trong một câu nói cụ thể độc đáo là Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10), nhưng nó đã đâm rễ thật sâu trong bối cảnh liên quan tới mặc khải về thân xác. Chúng ta phải trở lại bối cảnh đó để những lời của Đức Kitô kêu gọi tới cõi tâm/lòng, tới con người bên trong, được vang dội với toàn bộ sự sung mãn của chân lý.
Đoạn trích trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5,27-28) cơ bản có tính biểu thị. Việc Đức Kitô nói về người nam “nhìn phụ nữ với lòng thèm muốn” không có nghĩa rằng, trong ý nghĩa luân lý, những lời đó không nói về người nữ. Đức Kitô nói như thế để đưa ra một thí dụ cụ thể giúp hiểu thế nào là “thi hành luật” theo ý nghĩa mà Thiên Chúa, Đấng làm nên Luật Lệ, đã ban ra. Hơn nữa, việc đó cũng giúp để hiểu và thấy rõ sự “sung mãn công chính” trong con người đang thi hành giới răn thứ sáu của Mười Điều Răn.
Khi nói như thế, Đức Kitô muốn chúng ta đừng nên dừng lại ở thí dụ đó, nhưng chúng ta cần phải đi sâu vào ý nghĩa luân lý và nhân loại học của câu đó. Câu này có ý nghĩa biểu thị và có nghĩa là khi theo dấu vết của chúng, chúng ta sẽ hiểu được chân lý toàn thể về con người lịch sử. Điều này cũng đúng cho nền thân học thân xác. Những lần suy niệm sau, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu sâu xa hơn về chân lý này.
-----<o></o>
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Và như thế, nội dung của chủ đề mà chúng ta đang suy niệm có lẽ đã chuyển qua địa hạt của “luật tự nhiên”. Những lời được trích trong thơ gởi tín hữu thành Rôma (2,5) vẫn luôn được xem như là nguồn gốc của những chứng cứ cho một lề luật tự nhiên. Như thế, khái niệm luật tự nhiên cũng đã mang một ý nghĩa thần học.
Xin xem D. Composta, Teologia del diritto naturale, status quaestionis, 1972 (Éd. Civiltà), n. 7-22, 11-53 ; J. Fusch, S.J., Lex naturae. Zur Theologie des Naturrrechts, Düsseldorf 1955, p. 22-30 ; E. Hamel</o>, S.J., Loi naturelle et loi du Christ, Bruges-Paris 1964 (Desclée de Brouwer), p. 18 ; A. Sacchi, « La legge naturale nella Bibbia » in : La legge naturale. Le relazioni Bologna 1970 (Éd. Dehoniane), p. 53 ; F. Böckle, « La legge naturale e la legge cristiana », ibid. p. 214-215 ; A. Feuillet, « Le fondement de la morale ancienne et chrétienne d’après l’Épitre aux Romains », Revue Thomiste 78 (1970), 357-386, Th. Herr, Naturrecht aus der kritischen Sicht des Neuen Testaments, Munchen 1976 (Schoningh), p. 155-164.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Như đã phản ánh trong Tân Ước, lối dùng chữ cách đặc biệt đó của người Do Thái, có thể giúp chúng ta suy diễn ra khái niệm về con người như một sự hợp nhất của tư tưởng, ý chí và tình cảm. Lối dùng chữ đó tả con người như một toàn thể, được nhìn từ góc độ dụng ý. Cõi tâm/lòng, hiểu như là trung tâm của con người, đã được xem như là nguồn gốc của ý chí, của xúc cảm, của tư tưởng và của tình cảm.
Quan niệm đó của đạo Do Thái truyền thống đã được thánh Phaolô thông diễn bằng những phạm trù Hy Lạp như là «tâm trí», «thái độ», «tư tưởng» và «ước muốn». Chúng ta có thể tìm gặp sự liên hệ giữa những phạm trù Do Thái và Hy Lạp trong Ph 1,7; 4,7; Rm 1,21.24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%201:7,4:7%20;%20Rm%201:21,24&FontSize=Txt10). Ở những đoạn Kinh Thánh này, «cõi tâm/lòng» được xem như là một trung tâm mà từ đó ta có tất cả mọi sự. (R. Jewett, Paul’s Anthropological Terms. A Study of their Use in Conflict Settfngs, L<st1:city w:st="[/IMG]Brescia</st1:City"></st1:city><st1:state w:st="[/IMG]del</st1:State"> Convegno dei teologi moralisti dell’Italia settentrionale (11-13 septembre 1969), <st1:city w:st=" /><st1:City w:st=" on="">eiden</st1:city>. 1971, Brill, p. 448.)</st1:state>
«Cõi tâm/lòng» là trung tâm và cội rễ ẩn kín trong lòng của con người và của thế giới của con người đó (...), và nó cũng là căn nguyên đệ nhất và là sức sống của tất cả mọi cảm nghiệm và của tất cả mọi quyết định của hữu thể» (H. Schlier, Das Menschenherz nach dem Apostel Paulus, in: Lebendiges Zeugnis, 1965, p. 123.) Cũng xin xem F. Baumgärtel-J. Behm, «Kardia», in Theologisches Worterbuch zum Neuen Testament, II, <st1:city w:st="on">Stuttgart</st1:city> 1933 (Kohlhammer), tr. 609-616.
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Có thể đây là thí dụ trong Kinh Thánh được biết nhiều nhất, nhưng chúng ta cũng có thể thấy nhiều thí dụ khác tương tự (x. St 34,2; Tl 14,1; 16,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2034:2%20;%20Tl%2014:1,16:1&FontSize=Txt10)).
Nhóm Tâm Biển