admin
19-07-2006, 06:33 PM
Gia phả Gia Đình Giáo Hội Việt Nam (1659-2005)
VietCatholic News (22/12/2005)
LTS. ĐHY Saigon đã nhân cách hoá và họ hàng hoá các giáo phận Việt Nam
nhân dịp GHVN có đứa con mới : giáo phận thứ 26
Năm 1659, Mẹ Giáo Hội sanh ra trên đất nước Việt Nam 2 người con và đặt tên là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Trên thửa đất màu mỡ của cánh đồng lúa Việt Nam, và qua gần 350 năm, 2 người chị em song sinh nầy lần lượt sanh ra nhiều con cháu chắt chít cho gia đình Giáo Hội Việt Nam.
Năm 1679, tức năm 20 tuổi, người chị Đàng Ngoài sanh đôi 2 con và đặt tên là :
Tây Đàng Ngoài , đến năm 1924 đổi tên là Hà Nội;
Đông Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Hải Phòng.Năm 1844, tức năm 185 tuổi, người em Đàng Trong cũng sanh đôi 2 con và đặt tên là :
Đông Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Qui Nhơn;
Tây Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Sài Gòn.Dưới đây là dòng họ của 4 người con, 2 của chị Đàng Ngoài và 2 của em Đàng Trong.
I. Tây Đàng Ngoài - Hà Nội (1679-2005)
Tây Đàng Ngoài - Hà Nội, từ năm 1846, tức từ năm 167 tuổi, sanh ra 3 người con và 1 người cháu :
Năm 1846, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Nam Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Vinh.
Năm 1895, sanh ra người con thứ II, đặt tên là Đoài, đến năm 1924 đổi tên là Hưng Hoá.
Năm 1901, sanh ra người con thứ III, đặt tên là Thanh, đến năm 1924 đổi tên là Phát Diệm.
Năm 1932, Phát Diệm là người con út của Tây Đàng Ngoài - Hà Nội, sanh ra cho Hà Nội một cháu ngoại, đặt tên là Thanh Hoá.II. Đông Đàng Ngoài - Hải Phòng (1679-2005)
Đông Đàng Ngoài-Hải Phòng, từ năm 1848, tức từ năm 169 tuổi, sanh ra 2 người con và 2 người cháu:
Năm 1848, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Trung Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Bùi Chu.
Năm 1883, sanh ra con thứ II, đặt tên là Bắc Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Bắc Ninh.
Năm 1913, Bắc Ninh, con thứ II của Hải Phòng, sanh ra cho Hải Phòng cháu ngoại thứ I, đặt tên là Phủ Doãn Lạng Sơn, đến năm 1939, đổi tên là Lạng Sơn.
Năm 1936, Bùi Chu, con cả của Đông Đàng Ngoài-Hải Phòng, sanh ra cho Hải Phòng cháu ngoại thứ II, đặt tên là Thái Bình.GC. Từ năm 1960, cả 10 người con cháu chắt của Đàng Ngoài được quy tụ trong gia đình Giáo tỉnh Hà Nội:
III. Đông Đàng Trong - Qui Nhơn (1844-2005)
Đông Đàng Trong - Qui Nhơn, từ năm 1850, tức từ năm 6 tuổi, lần lượt sanh ra 4 người con và 2 người cháu :
Năm 1850, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Bắc Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Huế.
Năm 1932, sanh ra người con thứ II, đặt tên là Kontum.
Năm 1957, sanh ra người con thứ III, đặt tên là Nha Trang.
Năm 1963, sanh ra người con thứ IV, đặt tên là Đà Nẵng.
Năm 1967, Kontum, con thứ II, sanh ra cho Qui Nhơn cháu ngoại thứ I, đặt tên là Buôn Mê Thuột.
Năm 1975, Nha Trang, con thứ III, sanh ra cho Qui Nhơn cháu ngoại thứ II, đặt tên là Phan Thiết.Người cháu nầy lại về sống trong gia đình Bà Dì Saigon, có lẽ vì lý do gần gủi với gia đình nầy hơn, vả lại một phần đất Phan Thiết trước kia thuộc Saigon, rồi thuộc Xuân Lộc là con của Saigon.
GC. Từ năm 1960, trừ Phan Thiết (1975), cả 6 người con cháu chắt thuộc phía Đông của Đàng Trong được quy tụ trong gia đình Giáo tỉnh Huế.
IV. Tây Đàng Trong - Saigon (1844-2005)
Tây Đàng Trong-Saigon, từ năm 1850, tức từ năm 6 tuổi, lần lượt sanh ra 6 người con, 2 người cháu và 1 chắt :
1. Năm 1850, sanh ra người con thứ I, đặc tên là Nam Vang, nằm trên đất Kampuchia.
2. Năm 1938, sanh người con thứ II, đặt tên là Vĩnh Long.
3+4. Năm 1960, sanh đôi 2 người con thứ III và IV là Đà Lạt và Mỹ Tho.
5+6. Năm 1966, cho ra đời một cặp song sinh thứ hai là người con thứ V và VI, đặt tên là Phú Cường và Xuân Lộc.
7. Năm 1955, Nam Vang, người con cả của Tây Đàng Trong-Saigon, nhà ở Kampuchia, sanh ra cho Saigon cháu ngoại thứ I, đặt tên là Cần Thơ.
8. Năm 1960, Cần Thơ, cháu ngoại thứ I, sanh ra cho Saigon 1 người chắt, đặt tên là Long Xuyên.
9. Năm 2005, Xuân Lộc, người con thứ VI của Saigon, sanh ra cho Saigon một cháu ngoại thứ II, đặt tên là Bà Rịa.
GC. Trừ Nam Vang thuộc đất nước Kampuchia, 9 người con cháu chắt của Tây Đàng Trong, cộng thêm Phan Thiết là cháu ngoại Đông Đàng Trong và là cháu dì Tây Đàng Trong, hợp thành gia đình Giáo tỉnh Saigon-TP.HCM.
5. 12. 2005 đánh dấu ngày Bà Rịa mở mắt chào đời.
Người mẹ Xuân Lộc chuyển bụng 4 năm nay, may có Hồng Y từ Bộ Loan Báo Tin Mừng ở Rôma đến tiếp đỡ, nên mẹ tròn con vuông. Xin chúc mừng. Và xin cám ơn Xuân Lộc đã cống hiến cho gia đình Mẹ Giáo Hội Việt Nam được thêm một thành viên mới, thành viên thứ 26.
Người con Bà Rịa được Chúa thương cho sanh ra trên mảnh đất tô thắm máu đào của nhiều trăm chứng nhân đức tin, và từ năm 1965, đã cống hiến cho Giáo Hội VN 3 vị mục tử, một chăm sóc đoàn chiên của Chúa ở Cần Thơ, một ở Vĩnh Long, một là mục tử tiên khởi của Bà Rịa. Có lẽ vì thế mà có người nói rằng vừa khi mở mắt chào đời, Bà Rịa đã làm Bà rồi, Bà Rịa. Xin chúc mừng. Ước mong Bà Rịa, với sự trợ lực của Mẹ Xuân Lộc, luôn vun tưới cho những hạt giống kitô hữu trên mảnh đất Bà Rịa tiếp tục sanh nhiều hoa trái cho Mẹ Giáo Hội Việt Nam.
http://www.vietwebs.org/phansinh/News/Chiase0601/phansinh_data/chiase-main_data/IMAGE064.JPG
VietCatholic News (22/12/2005)
LTS. ĐHY Saigon đã nhân cách hoá và họ hàng hoá các giáo phận Việt Nam
nhân dịp GHVN có đứa con mới : giáo phận thứ 26
Năm 1659, Mẹ Giáo Hội sanh ra trên đất nước Việt Nam 2 người con và đặt tên là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Trên thửa đất màu mỡ của cánh đồng lúa Việt Nam, và qua gần 350 năm, 2 người chị em song sinh nầy lần lượt sanh ra nhiều con cháu chắt chít cho gia đình Giáo Hội Việt Nam.
Năm 1679, tức năm 20 tuổi, người chị Đàng Ngoài sanh đôi 2 con và đặt tên là :
Tây Đàng Ngoài , đến năm 1924 đổi tên là Hà Nội;
Đông Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Hải Phòng.Năm 1844, tức năm 185 tuổi, người em Đàng Trong cũng sanh đôi 2 con và đặt tên là :
Đông Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Qui Nhơn;
Tây Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Sài Gòn.Dưới đây là dòng họ của 4 người con, 2 của chị Đàng Ngoài và 2 của em Đàng Trong.
I. Tây Đàng Ngoài - Hà Nội (1679-2005)
Tây Đàng Ngoài - Hà Nội, từ năm 1846, tức từ năm 167 tuổi, sanh ra 3 người con và 1 người cháu :
Năm 1846, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Nam Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Vinh.
Năm 1895, sanh ra người con thứ II, đặt tên là Đoài, đến năm 1924 đổi tên là Hưng Hoá.
Năm 1901, sanh ra người con thứ III, đặt tên là Thanh, đến năm 1924 đổi tên là Phát Diệm.
Năm 1932, Phát Diệm là người con út của Tây Đàng Ngoài - Hà Nội, sanh ra cho Hà Nội một cháu ngoại, đặt tên là Thanh Hoá.II. Đông Đàng Ngoài - Hải Phòng (1679-2005)
Đông Đàng Ngoài-Hải Phòng, từ năm 1848, tức từ năm 169 tuổi, sanh ra 2 người con và 2 người cháu:
Năm 1848, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Trung Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Bùi Chu.
Năm 1883, sanh ra con thứ II, đặt tên là Bắc Đàng Ngoài, đến năm 1924 đổi tên là Bắc Ninh.
Năm 1913, Bắc Ninh, con thứ II của Hải Phòng, sanh ra cho Hải Phòng cháu ngoại thứ I, đặt tên là Phủ Doãn Lạng Sơn, đến năm 1939, đổi tên là Lạng Sơn.
Năm 1936, Bùi Chu, con cả của Đông Đàng Ngoài-Hải Phòng, sanh ra cho Hải Phòng cháu ngoại thứ II, đặt tên là Thái Bình.GC. Từ năm 1960, cả 10 người con cháu chắt của Đàng Ngoài được quy tụ trong gia đình Giáo tỉnh Hà Nội:
III. Đông Đàng Trong - Qui Nhơn (1844-2005)
Đông Đàng Trong - Qui Nhơn, từ năm 1850, tức từ năm 6 tuổi, lần lượt sanh ra 4 người con và 2 người cháu :
Năm 1850, sanh ra người con thứ I, đặt tên là Bắc Đàng Trong, đến năm 1924 đổi tên là Huế.
Năm 1932, sanh ra người con thứ II, đặt tên là Kontum.
Năm 1957, sanh ra người con thứ III, đặt tên là Nha Trang.
Năm 1963, sanh ra người con thứ IV, đặt tên là Đà Nẵng.
Năm 1967, Kontum, con thứ II, sanh ra cho Qui Nhơn cháu ngoại thứ I, đặt tên là Buôn Mê Thuột.
Năm 1975, Nha Trang, con thứ III, sanh ra cho Qui Nhơn cháu ngoại thứ II, đặt tên là Phan Thiết.Người cháu nầy lại về sống trong gia đình Bà Dì Saigon, có lẽ vì lý do gần gủi với gia đình nầy hơn, vả lại một phần đất Phan Thiết trước kia thuộc Saigon, rồi thuộc Xuân Lộc là con của Saigon.
GC. Từ năm 1960, trừ Phan Thiết (1975), cả 6 người con cháu chắt thuộc phía Đông của Đàng Trong được quy tụ trong gia đình Giáo tỉnh Huế.
IV. Tây Đàng Trong - Saigon (1844-2005)
Tây Đàng Trong-Saigon, từ năm 1850, tức từ năm 6 tuổi, lần lượt sanh ra 6 người con, 2 người cháu và 1 chắt :
1. Năm 1850, sanh ra người con thứ I, đặc tên là Nam Vang, nằm trên đất Kampuchia.
2. Năm 1938, sanh người con thứ II, đặt tên là Vĩnh Long.
3+4. Năm 1960, sanh đôi 2 người con thứ III và IV là Đà Lạt và Mỹ Tho.
5+6. Năm 1966, cho ra đời một cặp song sinh thứ hai là người con thứ V và VI, đặt tên là Phú Cường và Xuân Lộc.
7. Năm 1955, Nam Vang, người con cả của Tây Đàng Trong-Saigon, nhà ở Kampuchia, sanh ra cho Saigon cháu ngoại thứ I, đặt tên là Cần Thơ.
8. Năm 1960, Cần Thơ, cháu ngoại thứ I, sanh ra cho Saigon 1 người chắt, đặt tên là Long Xuyên.
9. Năm 2005, Xuân Lộc, người con thứ VI của Saigon, sanh ra cho Saigon một cháu ngoại thứ II, đặt tên là Bà Rịa.
GC. Trừ Nam Vang thuộc đất nước Kampuchia, 9 người con cháu chắt của Tây Đàng Trong, cộng thêm Phan Thiết là cháu ngoại Đông Đàng Trong và là cháu dì Tây Đàng Trong, hợp thành gia đình Giáo tỉnh Saigon-TP.HCM.
5. 12. 2005 đánh dấu ngày Bà Rịa mở mắt chào đời.
Người mẹ Xuân Lộc chuyển bụng 4 năm nay, may có Hồng Y từ Bộ Loan Báo Tin Mừng ở Rôma đến tiếp đỡ, nên mẹ tròn con vuông. Xin chúc mừng. Và xin cám ơn Xuân Lộc đã cống hiến cho gia đình Mẹ Giáo Hội Việt Nam được thêm một thành viên mới, thành viên thứ 26.
Người con Bà Rịa được Chúa thương cho sanh ra trên mảnh đất tô thắm máu đào của nhiều trăm chứng nhân đức tin, và từ năm 1965, đã cống hiến cho Giáo Hội VN 3 vị mục tử, một chăm sóc đoàn chiên của Chúa ở Cần Thơ, một ở Vĩnh Long, một là mục tử tiên khởi của Bà Rịa. Có lẽ vì thế mà có người nói rằng vừa khi mở mắt chào đời, Bà Rịa đã làm Bà rồi, Bà Rịa. Xin chúc mừng. Ước mong Bà Rịa, với sự trợ lực của Mẹ Xuân Lộc, luôn vun tưới cho những hạt giống kitô hữu trên mảnh đất Bà Rịa tiếp tục sanh nhiều hoa trái cho Mẹ Giáo Hội Việt Nam.
http://www.vietwebs.org/phansinh/News/Chiase0601/phansinh_data/chiase-main_data/IMAGE064.JPG