admin
24-07-2006, 07:29 AM
Thứ Tư, 30/04/1980
Bài 26. Thèm muốn là hậu quả của việc vi phạm giao ước với Thiên Chúa
Trong bài suy niệm trước, chúng ta đã nói rằng những lời của Đức Kitô trong Bài Giảng Trên Núi đã trực tiếp ám chỉ sự thèm muốn đã nảy sinh lập tức trong lòng con người. Nhưng một cách gián tiếp, những lời đó đã giúp chúng ta hiểu biết về một sự thật mang tầm vóc phổ quát về con người.
Những lời của Đức Kitô trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10) đã đưa chúng ta tới chân lý này về con người lịch sử với một tầm vóc phổ quát. Những lời đó muốn nói tới giáo thuyết về ba dục vọng trong Kinh Thánh. Chúng ta sẽ căn cứ vào thư thứ nhất của thánh Gioan 2, 16-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:16-17&FontSize=Txt10): “Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi”.
Để hiểu những lời này, dĩ nhiên cần phải để ý tới bối cảnh của chúng, tức là bối cảnh của toàn bộ thần học thánh Gioan[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1). Tuy thế, những lời đó cũng đồng thời nằm trong bối cảnh của toàn thể Kinh Thánh. Chúng thuộc vào toàn thể chân lý mặc khải về con người và chúng rất quan trọng đối với nền thần học thân xác. Chúng không giải thích phần hình thức của ba dục vọng đó bởi vì hình như chúng mặc định rằng “dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của” đều là những khái niệm đã rõ ràng và đã được hiểu rõ. Trái lại, chúng giải thích nơi xuất phát của ba dục vọng đó, bằng cách chỉ rõ xuất xứ, không phải là “từ Chúa Cha” mà “từ thế gian”.
Dục vọng của xác thịt cùng với dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của đều ở “trong thế gian” và đồng thời “phát xuất từ thế gian”, không phải như là hoa quả của mầu nhiệm sáng tạo mà là hoa quả của cây biết lành biết dữ trong lòng con người (x. St 2,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:17&FontSize=Txt10)). Những gì kết quả nơi ba dục vọng không phát xuất từ “thế giới” được Thiên Chúa tạo dựng mà chúng ta đã đọc nhiều lần trong Sáng Thế 1: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp ... Thế là rất tốt đẹp”. Trái lại, chính sự phá bỏ giao ước với Đấng Tạo Hóa, với Đức Chúa Elohim, với Đức Chúa Giavê đã phát sinh hoa quả nơi ba hình thức của dục vọng. Giao ước này đã bị phá bỏ ngay trong lòng con người. Chúng ta cần phải phân tích thật kỹ những biến cố được ghi lại trong St 3,1-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-16&FontSize=Txt10). Nhưng, ở đây, chúng ta chỉ đề cập một cách tổng quát về mầu nhiệm tội lỗi, vào thuở ban đầu của lịch sử con người. Thực vậy, “thế giới” của Sách Sáng Thế đã trở thành “thế gian” mà thánh Gioan đã nói tới (1 Ga 2,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:15-16&FontSize=Txt10)), tức là một nơi phát xuất dục vọng, chỉ khi nào nó là hậu quả của tội lỗi, và là hoa quả của việc phá bỏ giao ước với Thiên Chúa trong lòng người, trong nội tâm của con người.
Như thế, một lần nữa, câu “không phải phát xuất từ Chúa Cha mà phát xuất từ thế gian” muốn đưa chúng ta về “thuở ban đầu” của Kinh Thánh. Sự phát xuất ba dục vọng, mà Thánh Gioan đã nói, được giải thích lần đầu tiên và cơ bản trong thuở ban đầu đó. Giải thích đó rất cần thiết cho nền thần học thân xác. Để hiểu chân lý có tầm quan trọng phổ quát này về con người lịch sử, một chân lý chứa trong những lời của Đức Kitô trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10)), một lần nữa chúng ta phải đọc lại Sách Sáng Thế. Chúng ta phải ngừng lại thêm một lần nữa trước ngưỡng cửa của mặc khải về con người lịch sử. Điều này lại càng cần thiết bởi vì ngưỡng cửa lịch sử cứu chuộc được mặc khải đồng thời với ngưỡng cửa kinh nghiệm của con người đích thực, như chúng ta sẽ rõ hơn trong những bài phân tích tới. Những ý nghĩa cơ bản mà chúng ta đã rút ra từ những phân tích trước đây sẽ sống động trở lại, như là những yếu tố cấu tạo thành một nền nhân loại học thích hợp và sâu xa, tức là nền tảng của thần học thân xác.
Có thể hỏi rằng chúng ta có được phép chuyển đổi nội dung tiêu biểu của thần học thánh Gioan, chứa trong toàn thể thơ thứ nhất (nhất là 1 Ga 2,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:15-16&FontSize=Txt10)) tới địa hạt của Bài Giảng Trên Núi theo thánh Mátthêu hay chính xác hơn, tới địa hạt của sự khẳng định của Đức Kitô trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10) (“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”). Chúng ta sẽ trở lại để xem luận chứng đó nhiều lần nữa. Tuy nhiên, bây giờ đây, chúng ta sẽ bàn đến bối cảnh của toàn thể Kinh Thánh, và trên toàn vẹn chân lý về con người như đã được mặc khải và biểu thị. Chính bởi vì nhân danh chân lý đó mà chúng ta sẽ tìm hiểu tới tận gốc con người mà Đức Kitô đã chỉ cho thấy trong đoạn Mt 5,27-28, tức là con người đã nhìn người phụ nữ mà thèm muốn.
Có phải là cách nhìn như thế có thể đã không giải thích việc con người chính là “con người của dục vọng” theo ý nghĩa trong thơ thứ nhất của thánh Gioan ? Cả hai, người nam khi nhìn thèm muốn và người nữ khi là đối tượng của cách nhìn đó, đều ở trong chiều kích của ba dục vọng, một chiều kích không “phát xuất từ Chúa Cha mà phát xuất từ thế gian”. Chúng ta cần phải hiểu thế nào là dục vọng, hay nói rõ hơn, cần phải hiểu thế nào về “con người của dục vọng” trong Kinh Thánh. Điều này rất cần để hiểu sâu xa hơn những lời của Đức Kitô ghi trong Mt 5,27-28. Và chúng ta cần phải giải thích ý nghĩa của việc những lời đó qui chiếu về cõi lòng người, một điều rất quan trọng cho nền thần học thân xác.
Chúng ta hãy xem lại câu chuyện thuộc truyền thống Giavê. Trong câu chuyện này, thuở ban đầu, con người, nam và nữ, đã xuất hiện trong trạng thái trong trắng nguyên thủy trước khi phạm nguyên tội. Sau đó, con người đã xuất hiện như một người hoàn toàn mất sự trong trắng bởi vì đã phá huỷ giao ước với Đấng Tạo Hóa. Chúng ta không muốn biến phân tích ở đây về những cám dỗ và tội lỗi theo St 3,1-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-5&FontSize=Txt10), thành giáo lý của Giáo Hội về thần học và về vấn đề này. Chỉ nên quan sát rằng, trong Kinh Thánh, những miêu tả đó hình như muốn nêu rõ giây phút quyết định mà ân huệ đã bị hồ nghi trong cõi lòng con người. Con người đã hái trái của “cây biết điều lành điều dữ” và đồng thời đã quyết chọn và hành động chống lại ý muốn của Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa - Giavê, bằng cách chấp nhận những lý lẽ mà kẻ cám dỗ đã gợi ý cho mình: "Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở thành giống Thiên Chúa, biết điều thiện điều ác". Theo một bản dịch cũ: “Ông bà sẽ trở thành thành những vị thần biết điều thiện điều ác”.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)
Sự manh động này đã chất chứa sự nghi ngờ về ân huệ và tình yêu là nơi mà sáng tạo đã bắt nguồn, như là việc ban tặng. Về phía con người, con người đã đón nhận “thế giới” như là quà tặng và đồng thời cũng nhận lấy “hình ảnh Thiên Chúa”, tức là nhận lấy chính bản tính nhân loại với toàn vẹn chân lý của tính kép đôi nam và nữ. Chỉ cần đọc và chú ý tới đoạn St 3,1-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-5&FontSize=Txt10) để tìm thấy nơi đó mầu nhiệm con người đã xoay lưng lại với “Chúa Cha” (mặc dù chúng ta không thấy ghi tên Chúa trong câu chuyện này). Khi trong cõi lòng đã nghi ngờ ý nghĩa sâu xa nhất của ân huệ, tức là của tình yêu như một động lực đặc thù của công cuộc tạo dựng và của giao ước nguyên thủy (x. đặc biệt St 3,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:5&FontSize=Txt10)), con người đã xoay lưng lại với Thiên Chúa Tình Yêu, với “Chúa Cha”. Và như thế, con người đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cõi lòng mình. Và đồng thời, con người đã chia cắt cõi lòng mình và hầu như cắt bỏ những gì “phát xuất từ Thiên Chúa Cha”. Như thế, chỉ còn lại cho con người những gì “phát xuất từ thế gian”.
“Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân” (St 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:7&FontSize=Txt10)). Đó là câu đầu tiên của chuyện kể, thuộc truyền thống Giavê, căn cứ trên tình trạng con người sau nguyên tội và chỉ cho chúng ta thấy một trạng thái mới về bản tính của con người. Không phải câu này đã gợi cho chúng ta thấy được thuở ban đầu của dục vọng trong trái tim con người sao? Để trả lời một cách sâu xa hơn về câu hỏi này, chúng ta không thể ngừng ở câu đầu tiên đó mà phải đọc lại toàn thể đoạn đó. Tuy nhiên, cũng nên nhắc lại những gì đã nói trong những bài phân tích đầu tiên về sự xấu hổ như là một cảm nghiệm “về giới hạn”[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3).
Sách Sáng Thế đã căn cứ trên cảm nghiệm đó để chỉ cho chúng ta thấy “ranh giới” giữa trạng thái trong trắng nguyên thủy (x. St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:25&FontSize=Txt10)), mà chúng ta đã để tâm phân tích trong những lần trước, với trạng thái tội lỗi vào “thuở ban đầu”. Trong khi đoạn St 2,25 nhấn mạnh rằng “cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau”, thì đoạn St 3,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:6&FontSize=Txt10) lại nói rõ về sự phát sinh xấu hổ có liên quan tới tội lỗi. Sự xấu hổ đó hầu như là nguồn gốc của sự biểu lộ đầu tiên của con người – cả hai, nam và nữ - về những gì “không phát xuất từ Thiên Chúa Cha mà từ thế gian”.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Ví dụ có thể xem: J. Bonsirven, Épîtres de saint Jean, Paris 1954 (Beauchesne), p. 113-119 ; E. Brooke, Critical and Exegetical Commentary on the Iohannine Epistles (International Critical Commentary), Edinburgh 1912 (Clark), p. 47-49 ; P. De Ambroggi, Le Epistole Cattoliche, Torino 1947 (Marietti), p. 216-217 ; C. H. Dodd, The Iohannine Epistles (Moffatt New Testament Commentary), London 1946, p. 41-42 ; J. Houlden, A Commentary on the Iohannine Epistles, London 1973 (Black), p. 73-74 ; B. Prete, Lettere di Giovanni, Roma 1970 (Éd. Paoline), p. 61 ; R. Schnackenburg, Die Iohannesbriefe, Freiburg 1953 (Herders Theologischer Kommentar zum Neuen Testament), p. 112-115 ; J. R. W. Stott, Epistles of John (Tyndale New Testament Commentaries) London 1969, p. 99-101.
Về thần học thánh Gioan, xin đặc biệt xem A. Feuillet, le Mystère de l’amour divin dans la théologie johannique, Paris, 1972, Gabalda.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Câu này có thể có hai nghĩa trong văn bản Do Thái bởi vì đã được dịch như sau: «Thiên Chúa (Elohim) biết rằng ngày mà các ngươi ăn (trái của cây biết điều lành điều dữ), mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ trở thành như Elohim, đấng biết điều lành điều dữ». Chữ Elohim là số nhiều của chữ eloah (pluralis excellentiae). Khi nói về Giavê thì Elohim là số ít, nhưng elohim này cũng có thể là số nhiều khi nó liên quan tới những vị thần trên trời hay những vị thần ngoại giáo (thí dụ Tv 8,6; Xh 12,12; Tl 10,16; Hs 31,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%208:6%20;%20Xh%2012:12%20;%20Tl%2010:16%20;%20Hs%2031:1&FontSize=Txt10) và những đoạn khác nữa. Cũng xin đưa ra những cách dịch khác:
Tiếng Ý: «diverreste come Dio, conoscendo il bene e il male» (Pont. Istit. Biblico 1961).
Tiếng Pháp: «… vous serez comme des dieux, qui connaissent le bien et le mal» (Bible de Jérusalem, 1973).
Tiếng Anh: «you will be like God, knowing good and evil» (Revised Standard Version, 1966).
Tiếng Tây Ban Nha: «sereis como dioses, conocedores del bien y del mal» (S. Ausejo. Barcelona 1964); «seréis como Dios en el conocimiento del bien y el mal» (A. Alonso-Schokel, Madrid 1970).
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) x. THTX ngày 12/12/1979 (file:///C:/Documents%20and%20Settings/Dac/My%20Documents/freeweb/thuvien/thanhocthanxac/ththanxac_011.htm)
Nhóm Tâm Biển
Bài 26. Thèm muốn là hậu quả của việc vi phạm giao ước với Thiên Chúa
Trong bài suy niệm trước, chúng ta đã nói rằng những lời của Đức Kitô trong Bài Giảng Trên Núi đã trực tiếp ám chỉ sự thèm muốn đã nảy sinh lập tức trong lòng con người. Nhưng một cách gián tiếp, những lời đó đã giúp chúng ta hiểu biết về một sự thật mang tầm vóc phổ quát về con người.
Những lời của Đức Kitô trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10) đã đưa chúng ta tới chân lý này về con người lịch sử với một tầm vóc phổ quát. Những lời đó muốn nói tới giáo thuyết về ba dục vọng trong Kinh Thánh. Chúng ta sẽ căn cứ vào thư thứ nhất của thánh Gioan 2, 16-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:16-17&FontSize=Txt10): “Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi”.
Để hiểu những lời này, dĩ nhiên cần phải để ý tới bối cảnh của chúng, tức là bối cảnh của toàn bộ thần học thánh Gioan[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1). Tuy thế, những lời đó cũng đồng thời nằm trong bối cảnh của toàn thể Kinh Thánh. Chúng thuộc vào toàn thể chân lý mặc khải về con người và chúng rất quan trọng đối với nền thần học thân xác. Chúng không giải thích phần hình thức của ba dục vọng đó bởi vì hình như chúng mặc định rằng “dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của” đều là những khái niệm đã rõ ràng và đã được hiểu rõ. Trái lại, chúng giải thích nơi xuất phát của ba dục vọng đó, bằng cách chỉ rõ xuất xứ, không phải là “từ Chúa Cha” mà “từ thế gian”.
Dục vọng của xác thịt cùng với dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của đều ở “trong thế gian” và đồng thời “phát xuất từ thế gian”, không phải như là hoa quả của mầu nhiệm sáng tạo mà là hoa quả của cây biết lành biết dữ trong lòng con người (x. St 2,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:17&FontSize=Txt10)). Những gì kết quả nơi ba dục vọng không phát xuất từ “thế giới” được Thiên Chúa tạo dựng mà chúng ta đã đọc nhiều lần trong Sáng Thế 1: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp ... Thế là rất tốt đẹp”. Trái lại, chính sự phá bỏ giao ước với Đấng Tạo Hóa, với Đức Chúa Elohim, với Đức Chúa Giavê đã phát sinh hoa quả nơi ba hình thức của dục vọng. Giao ước này đã bị phá bỏ ngay trong lòng con người. Chúng ta cần phải phân tích thật kỹ những biến cố được ghi lại trong St 3,1-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-16&FontSize=Txt10). Nhưng, ở đây, chúng ta chỉ đề cập một cách tổng quát về mầu nhiệm tội lỗi, vào thuở ban đầu của lịch sử con người. Thực vậy, “thế giới” của Sách Sáng Thế đã trở thành “thế gian” mà thánh Gioan đã nói tới (1 Ga 2,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:15-16&FontSize=Txt10)), tức là một nơi phát xuất dục vọng, chỉ khi nào nó là hậu quả của tội lỗi, và là hoa quả của việc phá bỏ giao ước với Thiên Chúa trong lòng người, trong nội tâm của con người.
Như thế, một lần nữa, câu “không phải phát xuất từ Chúa Cha mà phát xuất từ thế gian” muốn đưa chúng ta về “thuở ban đầu” của Kinh Thánh. Sự phát xuất ba dục vọng, mà Thánh Gioan đã nói, được giải thích lần đầu tiên và cơ bản trong thuở ban đầu đó. Giải thích đó rất cần thiết cho nền thần học thân xác. Để hiểu chân lý có tầm quan trọng phổ quát này về con người lịch sử, một chân lý chứa trong những lời của Đức Kitô trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10)), một lần nữa chúng ta phải đọc lại Sách Sáng Thế. Chúng ta phải ngừng lại thêm một lần nữa trước ngưỡng cửa của mặc khải về con người lịch sử. Điều này lại càng cần thiết bởi vì ngưỡng cửa lịch sử cứu chuộc được mặc khải đồng thời với ngưỡng cửa kinh nghiệm của con người đích thực, như chúng ta sẽ rõ hơn trong những bài phân tích tới. Những ý nghĩa cơ bản mà chúng ta đã rút ra từ những phân tích trước đây sẽ sống động trở lại, như là những yếu tố cấu tạo thành một nền nhân loại học thích hợp và sâu xa, tức là nền tảng của thần học thân xác.
Có thể hỏi rằng chúng ta có được phép chuyển đổi nội dung tiêu biểu của thần học thánh Gioan, chứa trong toàn thể thơ thứ nhất (nhất là 1 Ga 2,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Ga%202:15-16&FontSize=Txt10)) tới địa hạt của Bài Giảng Trên Núi theo thánh Mátthêu hay chính xác hơn, tới địa hạt của sự khẳng định của Đức Kitô trong Mt 5,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:27-28&FontSize=Txt10) (“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”). Chúng ta sẽ trở lại để xem luận chứng đó nhiều lần nữa. Tuy nhiên, bây giờ đây, chúng ta sẽ bàn đến bối cảnh của toàn thể Kinh Thánh, và trên toàn vẹn chân lý về con người như đã được mặc khải và biểu thị. Chính bởi vì nhân danh chân lý đó mà chúng ta sẽ tìm hiểu tới tận gốc con người mà Đức Kitô đã chỉ cho thấy trong đoạn Mt 5,27-28, tức là con người đã nhìn người phụ nữ mà thèm muốn.
Có phải là cách nhìn như thế có thể đã không giải thích việc con người chính là “con người của dục vọng” theo ý nghĩa trong thơ thứ nhất của thánh Gioan ? Cả hai, người nam khi nhìn thèm muốn và người nữ khi là đối tượng của cách nhìn đó, đều ở trong chiều kích của ba dục vọng, một chiều kích không “phát xuất từ Chúa Cha mà phát xuất từ thế gian”. Chúng ta cần phải hiểu thế nào là dục vọng, hay nói rõ hơn, cần phải hiểu thế nào về “con người của dục vọng” trong Kinh Thánh. Điều này rất cần để hiểu sâu xa hơn những lời của Đức Kitô ghi trong Mt 5,27-28. Và chúng ta cần phải giải thích ý nghĩa của việc những lời đó qui chiếu về cõi lòng người, một điều rất quan trọng cho nền thần học thân xác.
Chúng ta hãy xem lại câu chuyện thuộc truyền thống Giavê. Trong câu chuyện này, thuở ban đầu, con người, nam và nữ, đã xuất hiện trong trạng thái trong trắng nguyên thủy trước khi phạm nguyên tội. Sau đó, con người đã xuất hiện như một người hoàn toàn mất sự trong trắng bởi vì đã phá huỷ giao ước với Đấng Tạo Hóa. Chúng ta không muốn biến phân tích ở đây về những cám dỗ và tội lỗi theo St 3,1-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-5&FontSize=Txt10), thành giáo lý của Giáo Hội về thần học và về vấn đề này. Chỉ nên quan sát rằng, trong Kinh Thánh, những miêu tả đó hình như muốn nêu rõ giây phút quyết định mà ân huệ đã bị hồ nghi trong cõi lòng con người. Con người đã hái trái của “cây biết điều lành điều dữ” và đồng thời đã quyết chọn và hành động chống lại ý muốn của Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa - Giavê, bằng cách chấp nhận những lý lẽ mà kẻ cám dỗ đã gợi ý cho mình: "Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở thành giống Thiên Chúa, biết điều thiện điều ác". Theo một bản dịch cũ: “Ông bà sẽ trở thành thành những vị thần biết điều thiện điều ác”.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)
Sự manh động này đã chất chứa sự nghi ngờ về ân huệ và tình yêu là nơi mà sáng tạo đã bắt nguồn, như là việc ban tặng. Về phía con người, con người đã đón nhận “thế giới” như là quà tặng và đồng thời cũng nhận lấy “hình ảnh Thiên Chúa”, tức là nhận lấy chính bản tính nhân loại với toàn vẹn chân lý của tính kép đôi nam và nữ. Chỉ cần đọc và chú ý tới đoạn St 3,1-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:1-5&FontSize=Txt10) để tìm thấy nơi đó mầu nhiệm con người đã xoay lưng lại với “Chúa Cha” (mặc dù chúng ta không thấy ghi tên Chúa trong câu chuyện này). Khi trong cõi lòng đã nghi ngờ ý nghĩa sâu xa nhất của ân huệ, tức là của tình yêu như một động lực đặc thù của công cuộc tạo dựng và của giao ước nguyên thủy (x. đặc biệt St 3,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:5&FontSize=Txt10)), con người đã xoay lưng lại với Thiên Chúa Tình Yêu, với “Chúa Cha”. Và như thế, con người đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cõi lòng mình. Và đồng thời, con người đã chia cắt cõi lòng mình và hầu như cắt bỏ những gì “phát xuất từ Thiên Chúa Cha”. Như thế, chỉ còn lại cho con người những gì “phát xuất từ thế gian”.
“Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân” (St 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:7&FontSize=Txt10)). Đó là câu đầu tiên của chuyện kể, thuộc truyền thống Giavê, căn cứ trên tình trạng con người sau nguyên tội và chỉ cho chúng ta thấy một trạng thái mới về bản tính của con người. Không phải câu này đã gợi cho chúng ta thấy được thuở ban đầu của dục vọng trong trái tim con người sao? Để trả lời một cách sâu xa hơn về câu hỏi này, chúng ta không thể ngừng ở câu đầu tiên đó mà phải đọc lại toàn thể đoạn đó. Tuy nhiên, cũng nên nhắc lại những gì đã nói trong những bài phân tích đầu tiên về sự xấu hổ như là một cảm nghiệm “về giới hạn”[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3).
Sách Sáng Thế đã căn cứ trên cảm nghiệm đó để chỉ cho chúng ta thấy “ranh giới” giữa trạng thái trong trắng nguyên thủy (x. St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:25&FontSize=Txt10)), mà chúng ta đã để tâm phân tích trong những lần trước, với trạng thái tội lỗi vào “thuở ban đầu”. Trong khi đoạn St 2,25 nhấn mạnh rằng “cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau”, thì đoạn St 3,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%203:6&FontSize=Txt10) lại nói rõ về sự phát sinh xấu hổ có liên quan tới tội lỗi. Sự xấu hổ đó hầu như là nguồn gốc của sự biểu lộ đầu tiên của con người – cả hai, nam và nữ - về những gì “không phát xuất từ Thiên Chúa Cha mà từ thế gian”.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Ví dụ có thể xem: J. Bonsirven, Épîtres de saint Jean, Paris 1954 (Beauchesne), p. 113-119 ; E. Brooke, Critical and Exegetical Commentary on the Iohannine Epistles (International Critical Commentary), Edinburgh 1912 (Clark), p. 47-49 ; P. De Ambroggi, Le Epistole Cattoliche, Torino 1947 (Marietti), p. 216-217 ; C. H. Dodd, The Iohannine Epistles (Moffatt New Testament Commentary), London 1946, p. 41-42 ; J. Houlden, A Commentary on the Iohannine Epistles, London 1973 (Black), p. 73-74 ; B. Prete, Lettere di Giovanni, Roma 1970 (Éd. Paoline), p. 61 ; R. Schnackenburg, Die Iohannesbriefe, Freiburg 1953 (Herders Theologischer Kommentar zum Neuen Testament), p. 112-115 ; J. R. W. Stott, Epistles of John (Tyndale New Testament Commentaries) London 1969, p. 99-101.
Về thần học thánh Gioan, xin đặc biệt xem A. Feuillet, le Mystère de l’amour divin dans la théologie johannique, Paris, 1972, Gabalda.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Câu này có thể có hai nghĩa trong văn bản Do Thái bởi vì đã được dịch như sau: «Thiên Chúa (Elohim) biết rằng ngày mà các ngươi ăn (trái của cây biết điều lành điều dữ), mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ trở thành như Elohim, đấng biết điều lành điều dữ». Chữ Elohim là số nhiều của chữ eloah (pluralis excellentiae). Khi nói về Giavê thì Elohim là số ít, nhưng elohim này cũng có thể là số nhiều khi nó liên quan tới những vị thần trên trời hay những vị thần ngoại giáo (thí dụ Tv 8,6; Xh 12,12; Tl 10,16; Hs 31,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%208:6%20;%20Xh%2012:12%20;%20Tl%2010:16%20;%20Hs%2031:1&FontSize=Txt10) và những đoạn khác nữa. Cũng xin đưa ra những cách dịch khác:
Tiếng Ý: «diverreste come Dio, conoscendo il bene e il male» (Pont. Istit. Biblico 1961).
Tiếng Pháp: «… vous serez comme des dieux, qui connaissent le bien et le mal» (Bible de Jérusalem, 1973).
Tiếng Anh: «you will be like God, knowing good and evil» (Revised Standard Version, 1966).
Tiếng Tây Ban Nha: «sereis como dioses, conocedores del bien y del mal» (S. Ausejo. Barcelona 1964); «seréis como Dios en el conocimiento del bien y el mal» (A. Alonso-Schokel, Madrid 1970).
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) x. THTX ngày 12/12/1979 (file:///C:/Documents%20and%20Settings/Dac/My%20Documents/freeweb/thuvien/thanhocthanxac/ththanxac_011.htm)
Nhóm Tâm Biển