View Full Version : Gia đình: cái nôi của đời sống và tình yêu
admin
25-07-2006, 03:53 AM
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=HEADER style="WIDTH: 100%"></TD></TR><TR><TD class=CONTENT style="PADDING-RIGHT: 30px; PADDING-LEFT: 10px; PADDING-BOTTOM: 0px; WIDTH: 100%; PADDING-TOP: 30px">Gia đình: cái nôi của đời sống và tình yêu
Cứ mỗi năm, Bề Trên Tổng Quyền dòng SDB—Salesian Don Bosco—thường gửi đến cho toàn thể gia đình Salesian một câu châm ngôn (strenna), như một chủ điểm cần chú tâm khai thác và như một chương trình để hành động cho cả năm. Năm nay, 2006, Linh Mục Pascual Chavez, người thứ tám kế vị cha Thánh Gioan Bosco, đã nhắn nhủ con cái ngài chú trọng đến gia đình, mà ngài gọi là cái nôi của đời sống và tình yêu, và là nơi ta nhận được bài học đầu tiên về cách làm người.
Trong dư âm kỳ Hội Nghị Quốc Tế lần thứ V về Gia Đình vừa kết thúc tại Valencia, Tây Ban Nha, xin cống hiến bạn đọc lời bàn của chính vị Tổng Quyền dòng SDB về chủ đề gia đình, được khai triển theo chiều hướng sư phạm và giáo dục vốn là sở trường của các con cái Cha Thánh Gioan Bosco. Một cách đặc biệt, ngài nêu lên tấm gương ngời sáng của Mẹ Margarita, thân mẫu Cha Thánh, người đươc gọi là ‘nhà giáo dục Salesian’, ‘giáo lý viên hữu hiệu’, và ‘cộng tác viên Salesian đầu tiên’.
Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong diễn văn sau cùng với Ngoại giao đoàn vào tháng 1 năm 2005, đã nói rằng sự thách đố đối với cuộc sống đã lây lan đến tận chốn thánh cung của đời sống, đó là gia đình. Hơn bao giờ hết, gia đình hôm nay đang bị đe dọa bởi các áp lực xã hội và văn hóa vốn liên tục gây phương hại đến sự bền vững của nó. Tại một số quốc gia, gia đình còn bị dọa nạt bởi luật pháp, đôi lúc còn trực tiếp thách thức cả chính cơ cấu tự nhiên của nó, vốn là, và nhất thiết phải là, một phối hợp giữa một người nam và một người nữ trên nền tảng hôn nhân. Gia đình là nguồn phong nhiêu của đời sống và là điều kiện căn bản, bất khả thay thế của niềm hạnh phúc vợ chồng, cho việc dưỡng dục con cái và cho lợi ích của toàn thể xã hội cũng như cho sự phồn vinh của cả quốc gia. Vì lẽ đó, gia đình không bao giờ có thể bị phá hoại bởi những thứ luật lệ được nhào nặn từ một thứ nhãn quan hẹp hòi và gượng ép về con người. Nhất định phải nêu bật lên một sự hiểu biết cao thượng, công bình và trong trắng về tình yêu nhân loại, vốn tìm thấy nơi gia đình sự diễn tả nguyên thủy và mẫu mực của nó (xem Osservatore Romano, 10-11, tháng Giêng 2005, trang 5).
Đáp lời mời gọi của ĐTC trong việc bảo vệ đời sống qua gia đình, và nhân kỷ niệm 150 năm ngày giỗ Mẹ Margarita, thân mẫu Cha Thánh Gioan Bosco và cũng là người mẹ của gia đình giáo dục mà Cha Thánh đã lập ra tại Valdocco, Cha thấy thật thuận tiện để mời gọi Gia Đình Salesian tiến hành việc canh tân lòng cam kết chú tâm đặc biệt đến gia đình, là cái nôi của đời sống và tình yêu, cũng là nơi ta học được bài học làm người đầu tiên.
Chính qua loài người mà Hội Thánh chu toàn vai trò của mình; chính qua gia đình mà người nam và người nữ theo đuổi định mệnh của mình, vì gia đình là nơi chốn tự nhiên họ tự rộng mở ra cho đời sống và đóng trọn vai trò của mình trong xã hội, là nơi đời sống tình cảm nở hoa, là môi trường để họ thấu hiểu nhau. Gia đình cũng là chỗ họ học cách làm người, là phương tiện cho cảm tính tôn giáo của họ triển nở, cung cấp cho họ sự bền vững cần thiết để con trẻ lớn lên trong hài hoà và cho các bậc cha mẹ chu toàn sứ mệnh giáo dục của mình đối với con cái.
Vì tin tuởng vào tầm quan trọng đặc biệt của gia đình đối với tương lai nhân loại và Hội Thánh, nên ĐGH Gioan Phaolô II đã đặt gia đình vào một trong những vị trí ưu tiên trong chương trình mục vụ của Hội Thánh trước thềm đệ tam thiên kỷ, nhất là khi cái cơ cấu nền tảng này đang trải qua một cơn khủng hoảng tận căn rễ và lan rộng khắp nơi. Cần phải bảo đảm rằng, qua một cuộc đào tạo mang tính chất Tin Mừng ngày càng toàn diện hơn, gia đình Kitô hữu sẽ chứng minh được một cách hùng hồn rằng: việc sống đời hôn nhân một cách trọn vẹn phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa và mưu cầu thiện ích chân thật cho con người, cho đôi vợ chồng và cho con cái vốn yếu đuối mỏng manh là một việc hoàn toàn có thể làm được.
Những nguy hiểm và đe doạ đang chực chờ gia đình hôm nay
Tư tưởng của ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị đã được ĐGH Biển Đức XVI kế thừa khi ngài tuyên bố trong một diễn văn rằng: gia đinh là một vấn nạn then chốt đòi hỏi chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực mục vụ tối đa. Nó đâm rễ sâu vào tận trái tim thế hệ trẻ, gồng mình chịu lấy mũi dùi của biết bao vấn đề, nhưng đồng thời nâng đỡ và giải quyết đươc một số trường hợp hầu như đã tuyệt vọng. Trong bầu khí văn hoá hôm nay, gia đình đang bị đe dọa rình rập tứ bề. Các cuộc phối hợp vợ chồng vốn tự nó đã mong manh và dễ lung lay, thế mà còn chất chồng thêm cái xu hướng xã hội và văn hóa lan tràn khắp nơi đang công kích đặc tính duy nhất và sứ mệnh đặc biệt của gia đình vốn được xây dựng trên hôn nhân nữa.
Một hoàn cảnh bất lợi cho gia đình
Ngày nay ta đang phải chấp nhận một cách dễ dãi và nông cạn cái gọi là “một chọn lựa khác” của gia đình, được mô tả như là truyền thống. Do đó, sự chú tâm lại được chuyển từ vấn đề ly dị sang qua vấn đề đôi lứa thực tế, từ việc chữa trị chứng vô sinh nơi phụ nữ sang qua việc sinh sản được y khoa trợ lực, từ phá thai sang nghiên cứu và vận dụng tế bào gốc lấy từ phôi thai, từ vấn đề viên thuốc ngừa thai sang qua viên thuốc sáng hôm sau, vốn cũng chỉ là một thứ thuốc phá thai mà thôi. Việc hợp pháp hóa phá thai đã trở thành một hiện tượng toàn cầu rồi. Việc ban phát các quyền lợi và phúc lợi của gia đình cho những cặp sống chung tạm bợ mà không hề muốn tự cam kết chính thức trong một thứ hôn nhân dù chỉ mang tính dân sự cũng đang thành hình. Đây là trường hợp chính thức thừa nhận những cuộc kết hôn thực tế bao gồm các cặp đồng phái mà đôi khi còn đòi quyền thừa nhận con nuôi, và do đó gây ra những vấn đề nghiêm trọng về mặt tâm lý, xã hội và pháp lý.
Chính vì thế, gương mặt và bản chất chân thực của gia đình đã biến dạng. Thêm vào những điểm vừa nói ở trên, phải kể đến một nét nổi bật là xu hướng ngày càng cá nhân hóa và giản lược hoá kích thước gia đình, đi từ mô thức gia đình đa thế hệ tới gia đình “hạt nhân” vốn chỉ giới hạn vào một cha, một mẹ, và một con. Tệ hại hơn nữa, công luận không còn thừa nhận, tự bên trong gia đình, vốn xây dựng trên hôn nhân, cái tế bào căn bản của xã hội và là một thứ phúc lợi không có không được.
</TD></TR><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>Nguyễn Kim Ngân </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/36081.htm)
admin
25-07-2006, 03:54 AM
Một giải pháp dễ dàng: Ly dị
Trong ánh sáng bầu khí văn hoá này, nhất là nơi xã hội Tây phương, thiết tưởng cần nhắc lại một đoạn Tin Mừng trong đó Chúa Giêsu nói về hôn nhân. “Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: ‘Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?’ Họ hỏi thế là để thử Người. Người đáp: ‘Thế ông Môsê đã truyền dậy các ông điều gì?’ Họ trả
lời: ‘Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ.’ Đức Giêsu nói với họ: ‘Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vây sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mc. 10:2-9)
Thiết tưởng đây là một bản văn rất rõ nét, bởi vì nó ám chỉ hôn nhân như là cội nguồn và nền tảng của gia đình, nhưng nhất là vì nó cho thấy dòng tư tưởng của Chúa Giêsu. Ngài không rơi vào cái bẫy chủ nghĩa duy luật, chỉ đề cập đến điều được phép làm hay bị cấm đoán, nhưng Ngài bắt đầu đi từ dự định nguyên thủy của Tạo Hóa. Ai hiểu ý Tạo Hóa hơn chính Ngài? Chính trong dự định này mà ta tìm thấy tin mừng về gia đình.
Trong khi thừa nhận rằng quả là có nhiều gia đình đang sống cái giá trị của một phối hợp bền vững và chung thủy, ta vẫn phải nhìn nhận sự kiện là bản chất tạm bợ của sợi dây hôn nhân chính là một trong những đặc trưng của thế giới đương đại. Nó không chừa một đại lục nào, và có thể thấy được nơi mọi nấc thang xã hội. Đây là cách thực hành thường làm suy yếu gia đình và làm mất giá trị của sứ mệnh giáo dục nơi cha mẹ. Nếu sự lung lay này không bị loại trừ, hoặc tệ hơn nữa, nếu cứ coi nó như chuyện thường tình, thì sẽ dễ đưa đến ly thân hay ly dị, vốn được coi là con đường thoát thân duy nhất ra khỏi cơn khủng hoảng.
Một não trạng như thế sẽ làm suy yếu cặp hôn nhân và làm cho sự dòn mỏng của họ càng dễ gây phương hại thêm. Cứ buông xuôi mà chẳng cần phấn đấu là chuyện xẩy ra thường ngày. Một thầu hiểu đúng đắn chân giá trị của hôn nhân và một niềm tin sắt đá sẽ giúp việc vượt qua càng mang nét can trường và đầy phẩm giá, cho dù gặp phải những khó khăn nghiêm trọng nhất.
Về ly dị, phải nói rằng đó không chỉ là một vấn đề mang tính cách pháp lý. Đó không phải là một cuộc khủng hoảng rồi sẽ bay đi. Nó ghi đậm ảnh hưởng lâu dài trên kinh nghiệm con người. Nó là một vấn đề về tương quan, một mối tương quan gẫy đổ. Nó lưu lại một dấu ấn không phai mờ trên từng phần tử của gia đình. Nó tạo ra sự yếu kém về mặt tài chánh, tình cảm và nhân bản, kéo theo những hậu quả sâu đậm trên người vợ và con cái. Đó là chưa nói đến cái giá rất tốn kém về mặt xã hội.
Điều cần lưu ý là các yếu tố góp phần vào việc gia tăng mức ly dị thì muôn vẻ muôn mầu, chưa kể đến các khác biệt theo từng mỗi quốc gia. Môi trường văn hoá hôm nay ngày càng tục hóa hơn lên khiến đã tạo ra cái khái niệm sai lạc về tự do, sợ dấn thân, muốn sống chung mà không bị ràng buộc, việc tầm thường hoá phái tính (theo kiểu nói của Đức cố GH Gioan Phaolô II), cũng như những bổn phận về mặt tài chánh, vẫn thường góp phần đưa đến ly thân. Kiểu sống, thời trang, trình diễn, quảng cáo, tất cả đều phủ lấy giá trị hôn nhân bằng một tấm màn hoài nghi, rồi hô hoán ầm ĩ lên rằng cái ý nghĩ về sự tự hiến hỗ tương giữa vợ chồng cho đến lúc chết quả là một điều không tưởng, làm suy yếu đi thể chế gia đình, và khiến không còn kính trọng gia đình nữa. Rốt cuộc đưa đến việc phủ nhận gia đình để bưng về nhà những kiểu thức gia đình hàng mã.
Riêng tư hoá hôn nhân
Trong các hiện tượng vừa nêu, phải kể đến sự nổi dậy của chủ nghĩa cá nhân triệt để, biểu lộ qua muôn vàn hình thức sinh hoạt con người: trong đời sống kinh tế thì cạnh tranh ráo riết; trong nếp sống xã hội, thì phân biệt đối xử hay kỳ thị dưới nhiều hình thức. Chủ nghĩa cá nhân như thế chẳng bao giờ cổ súy cho việc tự hiến quảng đại, chung thủy và lâu bền. Lẽ tất nhiên cũng chẳng giúp giải quyết được gì cho vấn đề khủng hoảng hôn nhân.
Kết quả là các giới chức thẩm quyền, có trách nhiệm trên phúc lợi chung và trong việc nối kết xã hội, thì chính họ lại nuôi dưỡng thứ chủ nghĩa cá nhân này, bằng cách cứ để nó tự do thao túng qua những luật lệ thích đáng (tỉ như các khế ước dân sự), vốn được trình bầy, ít là một cách mặc nhiên, như là một chọn lựa khác của hôn nhân. Vấn đề còn tệ hơn nữa nếu nói đến các phối hợp đồng phái, trong đó người ta còn đòi cho bằng được quyền thừa nhận con nuôi. Khi làm thế, các luật gia và chính phủ đã phá hoại thể chế hôn nhân trong công luận, và còn góp phần gia tăng nhiều hơn nưã các vấn đề họ không thể nào giải đáp nổi. Như thế, hôn nhân không còn được coi như một thiện ích xã hội nữa, và việc riêng tư hóa hôn nhân chỉ góp phần làm giảm thiểu và loại trừ luôn cái tình trạng công khai của nó thêm nữa mà thôi.
Cái ý thức hệ xã hội về tự do ngụy tạo này thúc bách con người hoạt động tiên quyết cho hạnh phúc riêng mình, cho lợi ích riêng mình. Lời cam kết hướng về người vợ hay ngườì chồng được coi như một thứ khế ước đơn giản có thể duyệt đi duyệt lại bao nhiêu lần cũng được; lời đoan hứa chỉ có giá trị giới hạn, và người ta chỉ có trách nhiệm về hành vi của chính mình mà thôi.
(còn tiếp)
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>Nguyễn Kim Ngân </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/36081.htm)
admin
25-07-2006, 03:56 AM
Những mong chờ sai lạc về gia đình
Cũng cần ghi nhận rằng có nhiều người còn trẻ mà đã có một thứ quan niệm duy tưởng và sai lầm là cho rằng đời sống đôi lứa là một tình huống hoàn toàn hạnh phúc, thỏa no khát vọng mà không cần phải trả một giá nào cả. Thế là phát sinh một thứ mâu thuẫn giữa khát vọng trở nên một với người kia và ước muốn bảo vệ tự do của mình.
Ngày càng thấy có thêm sự hiểu lầm về vẻ đẹp của đời sống lứa đôi chân thật, về các giá trị cố hữu trong sự khác biệt và tính cách bổ túc hỗ tương trong tương quan nam-nữ. Sự hiểu lầm này dẫn đến sự hiểu biết mập mờ lộn xộn về căn tính của tính dục, mà chóp đỉnh của nó là ý thức hệ về nữ quyền. Mặt khác, hiện trạng nghề nghiệp của đôi vợ chồng không còn cho phép họ dành nhiều thời giờ cho nhau trong gia đình, cũng như giới hạn khả năng đối thoại của hai người lại.
Đến khi xẩy ra khủng hoảng thì hai người thường hay tự giải quyết lấy với nhau. Không có ai lắng nghe hay giải thích cho họ, khiến cho họ không thể quyết định ngược trở lại được nữa. Thiếu sự trợ giúp này, vợ chồng cứ khép kín trong vấn đề của mình, không còn thấy đâu là giải pháp cho các khó khăn đang ập đến để rồi chỉ còn một con đường duy nhất là ly thân hay ly dị. Thật ra, nếu được một cộng đồng nhân loại và mang chút ít tính cách của Hội Thánh giúp cho, thì có nhiều cuộc khủng hoảng đã có thể tan đi và cũng có thể đã vượt qua được.
Yếu tố kinh tế và tiêu thụ của đời sống gia đinh
Dù mang đầy những nét phức tạp, các yếu tố kinh tế đã tạo ra các ảnh hưởng mãnh liệt trong việc hình thành mô thức gia đình, trong việc thành lập các giá trị, trong việc tổ chức các công việc, và trong việc xác định chính đời sống gia đình. Thu nhập và chi tiêu để quân bình hoá cán cân chi thu trong gia đình, gia sản và công ăn việc làm, ít nhiều ảnh hưởng đến cha mẹ và con cái, tất cả các yếu tố này đều xác định, một cách nào đó, các khía cạnh khác nhau của đời sống gia đình.
Hãy nghĩ đến các đôi lứa “công lệ” (tạm gọi thế), là những kẻ thực sự không chỉ sống chung mà còn không thể kết hôn vì quá túng thiếu. Một tình huống đáng lo ngại khác nữa là những kẻ nhập cư, buộc phải rời bỏ gia đình và xứ sở đi kiếm việc làm để nuôi sống gia đình, để rồi dần dà vì cứ mãi vắng xa, hoặc là vì các lý do khác nữa, đã đi đến chỗ bỏ bê rồi buông luôn mái gia đình đã bỏ lại sau lưng.
Các động cơ kiến tạo ra bầu khí tiêu thụ hằng bủa vây gia đình cũng mang một nguồn gốc kinh tế. Chính từ căn bản này mà người ta xác định ý nghĩa cho hạnh phúc, và hậu quả là bị cụt hứng rồi bị loại ra bên lề xã hội. Chính kinh tế đã xác định những điều quan trọng như vùng không gian sống của gia đình, nghĩa là, kích thước nhà cửa, khả năng sở hữu nhà đất. Cuối cùng cũng chính kinh tế đã điều kiện hóa các khả năng giáo dục cũng như các dự phóng tương lai của con cái.
Trong ánh sáng này, ta không thể không mang lấy một mối thương cảm sâu xa đối với cái được gọi là, và lẽ ra phải là, cái nôi của đời sống và tình yêu, cũng là mái trường nơi ta học được bài học làm người.
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>Nguyễn Kim Ngân </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/36223.htm)
admin
25-07-2006, 03:56 AM
Gia Đình: Đường Đưa Con Thiên Chúa Trở Thành Con Người
Việc Con Thiên Chúa nhập thể, sinh bởi một người phụ nữ và phục tùng lề luật nhằm cứu chuộc những kẻ đang ở dưới ách lề luật ngõ hầu trở thành nghĩa tự như là Con Thiên Chúa (x. Gal 4:4-5) không phải là một biến cố chỉ gắn liền với thời gian Chúa giáng trần, mà còn bao gồm trọn vẹn quãng đời nhân thế của Chúa Giêsu, cho đến khi Ngài chết trên thập giá, như Thánh Phaolô nói (x. Phil 2:8). Thánh Công Đồng Vatican II cũng diễn tả ý nghĩa ấy khi bảo rằng Con Thiên Chúa đã lao động với đôi tay nhân loại và yêu thương bằng trái tim nhân thế (x. GS 22). Vì thế, nhân tính không hề là một trở ngại cho việc Ngài biểu tỏ thiên tính của mình, mà thực ra, đó lại là bí tích mạc khải Thiên Chúa cũng như khiến cho Ngài trở nên hữu hình và đụng chạm được. Thật là kỳ diệu khi chiêm ngắm một Thiên Chúa yêu thương con người đắm đuối đến độ biến mình trở thành con đường mà con người có thể bước đi để đến với Ngài. Bởi đó, con đường của Hội Thánh chính là con người, là đối tượng mà Hội Thánh hằng yêu thương, phục vụ và giúp đỡ để có thể đạt tới mức sung mãn của cuộc đời.
Chính bởi vì muốn nhập thể, cho nên Thiên Chúa đã phải chọn tìm một mái gia đình, một người mẹ (x. Lk 1:26-38), và một người cha (x. Mt 1:18-25). Nếu Thiên Chúa đã trở thành con người trong cung lòng đồng trinh của Mẹ Maria, thì chính từ trong đáy gia đình Nazaret mà Thiên Chúa nhập thể đã học được cách làm người. Để được sinh ra, Thiên Chúa cần đến một người mẹ; để lớn lên và thành người, Thiên Chúa cần đến một mái gia đình. Maria đã không chỉ là một người đã cưu mang Chúa Kitô, mà là một người mẹ chân chính, cùng với Giuse, đã làm cho mái nhà Nazaret trở thành một tổ ấm nơi đó Con Thiên Chúa đã có thể thành người (x. Lk 2:51-52).
Do bởi việc nhập thể của Con Thiên Chúa là một biến cố chân chính, do đó việc phát triển của Ngài sau đó diễn tiến tự nhiên như cho mọi con người; cần có một mái gia đình để chấp nhận và chào đón Ngài, đồng hành với Ngài, yêu thương và cộng tác với Ngài trong việc phát triển tất cả mọi chiều kích nhân bản khiến cho Ngài thực sự trở thành một “ngôi vị” con người; tất cả những điều này đều diễn tiến trong một kế hoạch đời sống có khả năng làm khả hữu sự phát triển các tài năng của chính mình và tìm ra ý nghĩa cũng như thành quả trong đời sống.
Trách vụ cần thiết và mang tính chất giáo dục đầy công hiệu mà gia đình cống hiến cho các thành viên được minh chứng qua trường hợp gia đình Nazaret được diễn tả trong trang Phúc Âm theo thánh Luca nói về việc tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thờ: “Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dậy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: ‘Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!’ Người đáp:’Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?’ Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazaret, và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta. (Lk 2:48-52).
Trong bản văn này, ta thấy được ba điểm giá trị mà gia đình được mời gọi thực hiện cho con cái để chúng có thể trở thành “các công dân lương thiện và các Kitô hữu gương mẫu.” Từ quan điểm này, thiết tưởng thật là có lý khi lấy tinh thần Salesian để giải thích cái nguyên lý nhập thể theo chiều hướng của một kế hoạch giáo dục.
Trước hết, không phải là vô lý khi thánh Giuse và Mẹ Maria đã đem Chúa Giêsu lên Đền Thờ vào lứa tuổi một người con trai đang học hỏi cách hoàn toàn đảm nhận vai trò của mình trong đời sống dân Ngài, theo đúng các truyền thống vốn đã nuôi dưỡng và nâng đỡ niềm tin của cha mẹ mình. Gia đình Chúa Giêsu đã đem Ngài lên Đền Thờ tuân theo lề luật và các thực hành đức tin, cho dù các ngài biết rằng con mình chính là Con Thiên Chúa. Nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu không hề tha phép cho Ngài không phải tuân giữ các bổn phận chung của người Do Thái, là tuân giữ lề luật Chúa; Con Thiên Chúa đã học cách làm người bằng việc vâng phục con người.
Cũng cần ghi nhận rằng thái độ tôn trọng cha mẹ Ngài dành cho Ngài khi Ngài đang tìm biết ý Chúa thể hiện trong đời mình. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy một vẻ kinh ngạc, y như bảo rằng: “Sau khi dậy con gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi, và tìm cách làm tròn ý Người, thì giờ đây, con đang ở trong nhà Người vào dịp lễ mà con đang hoàn toàn trở thành ‘đưá con của lề luật’, sống hoàn toàn tuân hành ý Cha, thì cha mẹ lại hỏi rằng con đã ở đâu và tại sao con lại làm thế?” (x. Lk 2:49). Dù chưa hoàn toàn trưởng thành, Chúa Giêsu vẫn nhắc cha mẹ rằng chính các ngài đã dậy cho Ngài như thế này là: Thiên Chúa và các việc của Người thì cao trọng và ưu tiên hơn là gia đình và các công việc của gia đình.
Sau cùng, ta có thể ghi nhận rằng sự thiếu hiểu biết của cha mẹ đã không trở thành trở ngại cho việc vâng phục của người con khi đi theo các ngài về sống tại Nazaret. Chúa Giêsu vẫn tùng phục cha mẹ cho dù các ngài không còn hiểu Ngài nữa. Và do đó, tác giả phúc âm đã kết luận rằng, trong khi Maria ‘ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng’ (Lk 2:51), thì Chúa Giêsu ‘ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta’ (Lk 2:52). Chính nơi đây, ta thấy được điểm son nổi bật nhất: đó là khả năng giáo dục của Giuse và Maria. Đó cũng là ý nghĩa thực tế khi bảo rằng cần phải biến gia đình thành một mái nhà và một mái trường, “một cái nôi của đời sống và tình yêu, nơi đó, ta học được bài học vỡ long về cách làm người.”
Chính từ bên trong một mái gia đình mà Chúa Giêsu đã học cách vâng phục lề luật và chìm đắm trong nền văn hoá của một dân tộc. Chính từ bên trong một mái gia đình mà Chúa Giêsu đã biểu lộ ước vọng dành chỗ cao trọng nhất cho Thiên Chúa, và chỉ rắp tâm lo lắng đến việc của Chúa. Dù ý thức mình là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn trở về với đời sống gia đình như một con người ở giữa mọi người, “càng thêm tuổi, càng thêm nhân đức và khôn ngoan.” Con Thiên Chúa đã có thể bắt đầu cuộc sống bằng việc được sinh ra bởi một người mẹ đồng trinh mà không cần đến một mái gia đình, nhưng nếu không có một mái gia đình thì Ngài đã chẳng thể lớn lên và trưởng thành như một con người. Một trinh nữ đã cưu mang Con Thiên Chúa; một mái gia đình đã làm cho Ngài trở thành con người hoàn toàn. Ta còn có thể nói gì về giá trị thánh thiêng của gia đình hơn nữa đây?
(còn tiếp)
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>Nguyễn Kim Ngân </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/36223.htm)
admin
31-07-2006, 03:11 PM
Đời sống Gia Đình và Đoàn sủng Salesian
Chủ đề gia đình chẳng có gì xa lạ với đời sống và sứ mệnh của chúng ta, là con cái Cha Thánh Gioan Bosco. Với tư cách là nhà giáo dục, chúng ta ý thức sâu xa về tầm quan trọng của việc gầy dựng một bầu khí gia đình nhằm giáo dục thanh thiếu niên nam nữ. Với mục đích này, môi trường tối hảo chính là gia đình: đó là môi trường khiến ta “cảm thấy thoải mái như ở nhà mình,” để ở nơi đây, tình cảm, thái độ, lý tưởng và các giá trị đều được thông chuyển như một chất sống, rất tự phát, không cần nhiều lời, mà vẫn liên tục đạt hiệu quả. Câu nói thời danh của Don Bosco: ‘giáo dục là một cái gì thuộc về trái tim’ trong thực tế đã mở toang cánh cửa tâm hồn của muôn vàn người trẻ, ngõ hầu họ có thể đón nhận và đem ra thực hành những điều ta chỉ dậy qua các phương pháp giáo dục.
Riêng đối với các thành viên của gia đình Salesian, sống trong một gia đình không chỉ là một chọn lựa mục vụ hết sức khẩn thiết trong thời đại mới, mà là một lối sống đoàn sủng, và cũng là một mục tiêu ưu tiên trong sứ mệnh tông đồ. Với người Salesian và các thành viên gia đình Salesian, sống tinh thần gia đình là một nét đoàn sủng đặc trưng; như một mục tiêu tiên quyết, ta chia sẻ với các gia đình đã tin tưởng trao phó con cái cho chúng ta cái trách nhiệm giáo dục và loan báo tin mừng cho chúng; như một lưạ chọn mang tính cách giáo dục và có phương pháp, ta cố công gầy dựng tinh thần gia đình trong môi trường đang sống.
“Ngay từ buổi đầu, Mẹ đã có ở đó”
Margarita Occhiena là “nhà giáo dục tiên khởi và là thầy dậy khoa ‘sư phạm’ của Don Bosco.” Trong hội nghị các nhà giáo tại Tôrinô vào năm 1988, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Chúng ta đều biết ảnh hưởng quan trọng của Mẹ Margarita trên cuộc đời Cha Thánh Gioan Bosco. Mẹ không chỉ đem đến cho Nguyện Viện tại Valdocco một ‘tinh thần gia đình’ đầy nét đặc trưng mà đến nay vẫn còn tồn tại, nhưng Mẹ còn cho thấy khả năng uốn nắn trái tim của Gioan Bosco thời non trẻ trở thành một nguồn thiện hảo và từ tâm khiến Gioan biến cải thành người bạn và người cha của lũ trẻ đáng thương.” (Cha E. Viganò trích dẫn trong “ĐTC nói với con cái cha Thánh Gioan Bosco, AGC 328, trang 20)
Vài dòng tiểu sử
Chính cha đây cũng xác tín về vai trò quyết liệt của Mẹ Margarita trong việc đào luyện nhân bản và Kitô hữu của Don Bosco, cũng như trong việc gầy dựng môi trường giáo dục ‘gia đình’ tại Valdocco, do đó cha thấy có bổn phận nhắc nhở, dù ngắn gọn, về cuộc đời và những nét linh đạo chính của Mẹ.
a) Giai đoạn trước khi dọn đến Valdocco (từ 1788 đến 1846)
Có thân phụ là ông Melchiorre Occhiena và thân mẫu là bà Domenica Bassone, là những nông dân khá giả, với cơ ngơi đầy đủ, Margarita được sinh hạ vào ngày mùng 1 tháng 4 năm 1788 tại Serra di Capriole, một thôn làng hẻo lánh trong vùng Asti. Margarita được rửa tội ngay trong ngày sinh nhật.
Thời đó, không có trường học tại Capriglio, thành ra Margarita không được đi học. Dù thất học, Margarita không phải là một con người ngu dốt. Mẹ học được sự khôn ngoan tuyệt vời qua việc tỉnh táo lắng nghe các bài giảng và các bài giáo lý trong nhà thờ xứ, và còn biết mang tất cả những điều ấy ra thực hành trong đời sống hàng ngày, vốn chẳng phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Linh Mục Lemoyne, tác giả cuốn tiểu sử Mẹ Margarita được viết lần đầu tiên vào năm 1886, nói: “Tự bẩm sinh, Mẹ đã có một ý chí sắt đá, cộng thêm cảm quan bén nhậy và dồi dào ân đức, khiến Mẹ vượt qua được hết mọi trở ngại trong cuộc sống…Với lương tâm ngay thẳng, cả trong tư tuởng lẫn tình cảm, cùng óc phán đoán phân minh rành mạch về con người và sự vật, tự chủ trong hành động và nói năng thành thật, Mẹ không hề do dự…Tính cương trực thẳng thắn và cương quyết dứt khoát đã là nguồn bảo đảm cho nhân đức của Mẹ, bởi vì Mẹ còn có thêm một sự khôn ngoan khiến Mẹ không bao giờ sai trật.” (xem ‘Những hoạt cảnh xây dựng trong đời sống Mẹ Margarita Bosco’, Tôrinô, 1886, 192 trang)
Cách Capriglio chừng hai cây số, trên khoảnh đồi trước mặt, xóm Becchi lọt thỏm giữa Morialdo và Castelnuovo d’Asti, là nơi ở của Phanxicô Bosco, chàng nông dân 27 cái xuân xanh, sớm góa vợ và sống với con trai Antôn mới 3 tuổi đầu. Chàng hỏi cưới nàng, và rồi đám cưới được cử hành vào ngày mùng 6 tháng 6 năm 1812. Cưới xong, họ dọn về sống ở trang trại Biglione. Chẳng bao lâu gia đình bé nhỏ gia tăng nhân số: Giuse, trưởng nam, sinh ngày 8 tháng 4 năm 1813, và hai năm sau, ngày 16 tháng 8 năm 1815, cậu thứ nam ra đời, mang tên Gioan Melchior, tức vị thánh tương lai: Gioan Bosco.
Cái chết bất thần vào tuổi 33 của Phanxicô có nghĩa là Margarita trở thành gia trưởng vào tuổi 29, với một nách 3 con, cộng thêm bà mẹ chồng cần được săn sóc và một nông trại cần trông coi. Ít lâu sau đó, một cách rất thuận lợi, Mẹ được ngỏ lời tiến thêm bước nữa, nhưng nghĩ đến việc phải trao phó các con cho người khác chăm nom, Mẹ đã dứt khoát chối từ: “Chúa đã ban cho Mẹ một người chồng, rồi lại cất đi. Trước khi chết, ông đã trao phó cho Mẹ cả ba đứa con. Mẹ thật là ác nhân nếu bỏ bê ba đứa vào cái lúc mà chúng cần đến Mẹ nhiều nhất.”
Thế là Mẹ cố công dậy dỗ cả ba người con. Nhiệm vụ này đã biểu tỏ những ân tặng xuất chúng mà Mẹ đã nhận được: đức tin, đức hạnh, tài năng, đức khôn ngoan của một thôn nữ vùng Piedmont, gắn liền với những đức tính của một Kitô hữu có đầy tràn Chúa Thánh Thần.
Mẹ biết cách xử sự với từng đứa con. Antôn đã mất mẹ khi mới lên ba, và mất luôn cha khi vừa lên chín. Lớn lên chút xíu, hắn trở thành một thiếu niên dở hơi và hay gắt gỏng, cau có. Vào tuổi 18, hắn mất hết tự chủ, trở thành hung bạo. Đôi khi hắn dám hỗn xược gọi Mẹ Margarita là “mụ dì ghẻ ác độc,’ cho dù Mẹ luôn cố gắng nhẫn nhục cư xử với hắn như con trai ruột của mình. Dù cương quyết, nhưng cũng phải công bằng, và để cho yên cửa yên nhà, cũng như vì lợi ích cho Giuse và Gioan, Mẹ đành phải làm một quyết định đau đớn khi không còn có thể làm được gì khác nữa.
admin
31-07-2006, 03:12 PM
Cuối năm 1830, Mẹ phải phân chia gia sản, nhà cửa, đất đai, và ruộng vườn. Antôn ra riêng, lập gia đình và có cả thẩy bẩy người con. Rốt cuộc hắn cũng hoà giải với mọi người trong gia đình, rồi trở thành một người cha tử tế, được các con qúy trọng và là một Kitô hữu trung thành.
Trẻ hơn Antôn năm tuổi, Giuse dịu dàng, nhã nhặn và dễ tính. Chàng gắn chặt với Gioan như bóng với hình, và dù Gioan có vẻ vượt trội hơn mình về nhiều mặt, chàng cũng không tỏ vẻ ghen tuông. Chàng yêu qúy Mẹ, và trong suốt những năm Gioan đi học xa, thì chỉ còn có mình chàng phụ Mẹ gánh vác việc gia đình. Chàng lập gia đình với cô Maria Colosso khi tròn hai mươi tuổi. Cả hai có mười người con.
Gioan thì ham học. Tuy ủng hộ hết mình, nhưng gặp trở ngại rất lớn từ Antôn, thành ra Mẹ Margarita đành đứt ruột gửi Gioan đi làm công bộc cho dòng họ Moglia trong vòng một năm rưỡi trời (1828-1829). Mãi sau khi Antôn ra riêng, Mẹ Margarita mới gửi được Gioan đi học ở trường làng Castelnuovo (1831), rồi đi Chieri trọ học trong vòng mười năm (1831-1841): bốn năm tại trường trung học và sáu năm tại Đại Chủng Viện. Đây là thời gian Mẹ Margarita mới được yên tâm, an lòng, và nuôi mầm hy vọng. Đó cũng là thời gian Mẹ hạnh phúc trở thành bà nội cho những đứa con của Antôn và Giuse.
Mãi đến khi đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy”, Don Bosco vẫn còn ghi nhớ những lời kiên quyết mà Mẹ Margarita nhắn nhủ vào năm 1834 khi phải quyết định về tương lai của mình: “Gioan, con hãy nghe Mẹ đây,” Mẹ nói, “Mẹ chẳng có gì để nói với con về ơn kêu gọi, ngoại trừ việc bảo rằng con phải theo đường nào Chúa dẫn con đi. Đừng lo lắng gì cho Mẹ cả. Mẹ không mong muốn gì nơi con. Hãy nhớ kỹ rằng: Mẹ sinh ra trong cảnh nghèo, Mẹ sống trong cảnh nghèo, nên Mẹ cũng muốn chết trong cảnh nghèo. Mẹ muốn con nhớ rằng, lỡ ra mà con trở thành một ông linh mục giầu có, thì đừng mong có ngày Mẹ đến thăm con.” (MBI--Hồi Sử I—trang 296)
Ngày 26 tháng 10 năm 1835, vừa tròn hai mươi tuổi, Gioan lãnh áo chùng thâm tại nhà thờ xứ Castelnuovo. “Từ ngày đó,” Don Bosco nói, “Mẹ của cha lúc nào cũng dòm chừng…Buổi tối trước ngày cha đi vào chủng viện, Mẹ gọi cha lại, nhắn nhủ những lời
này mà cha không thể nào quên: “Gioan, con ơi, con đã nhận lãnh tấm áo của người linh mục, Mẹ lấy làm vô cùng an ủi khi nhìn thấy tương lai con. Nhưng con phải nhớ rằng, cái làm cho con vinh hạnh chẳng phải là tấm áo đâu, mà là việc thực tập các nhân đức. Vậy khi nào hoài nghi về ơn kêu gọi của mình, Mẹ xin con đừng làm ô nhơ tấm áo này. Hãy cởi nó ra ngay. Mẹ thà thấy con chỉ là một nông dân nghèo khổ, còn hơn là làm một linh mục mà sao lãng bổn phận.” (Hồi Ký Nguyên Viện, LAS 1991)
Gioan thụ phong linh mục tại Tôrinô, thứ Bẩy ngày mùng 5 tháng 9, năm 1841. Ngày hôm sau, sau khi cử hành thánh lễ tạ ơn tại nhà thờ xứ Castelnuovo, cha trở về xóm Becchi. Một lần nữa nhìn thấy những địa điểm nơi chốn rõ ràng xuất hiện trong giấc mơ đầu đời cũng như bao hoài niệm một thuở ấu thời tràn về như thác lũ, vị linh mục trẻ không cầm nổi dòng lệ tuôn tràn trên khóe mắt. Buổi tối hôm đó, khi chỉ còn hai mẹ con, Mẹ Margarita mới bảo: “Gioan con ơi, nay con đã là linh mục rồi, con đã bắt đầu dâng thánh lễ; từ nay con ở gần kề bên Chúa hơn. Nhưng con hãy nhớ rằng, khi bắt đầu dâng thánh lễ là bắt đầu chịu đau khổ. Con sẽ không cảm thấy như thế ngay đâu, nhưng rồi ra, con sẽ thấy Mẹ nói đúng. Chắc hẳn là con sẽ cầu nguyện hàng ngày cho Mẹ, dù còn sống hay đã qua đời, như thế cũng đủ lắm rồi. Từ nay, con hãy chú tâm vào phần rỗi các linh hồn, chứ đừng lo lắng gì cho Mẹ cả.” (Hồi Sử I, trang 522)
Ngày mùng 3 tháng 11 năm 1841, vị linh mục trẻ từ giã mẹ, họ hàng để lên đường đi Tôrinô. Nghe theo lời khuyên của Cha Giuse Cafasso, ngài vào Đại học Giáo sĩ và bắt đầu làm việc tông đồ ngay cho lũ trẻ hè phố và sống trong lao tù. Ngày mùng 8 tháng 12, ngài khởi đầu bài học giáo lý với Bartôlômêô Garelli--mở màn cho chuyến mạo hiểm Salesian kỳ thú.
Vị linh mục trẻ bắt đầu quy tụ đám trẻ ngày càng đông hơn tại khuôn viên Đại học, rồi chuyển sang cơ ngơi của bà Hầu Tước Barolo, kế đến là khu đồng hoang kế cận, mãi đến dịp lễ Phục Sinh năm 1846, ngài mới thuê được khu chuồng ngựa Pinardi ở Valdocco. Trong thời gian này, Mẹ Margarita sống yên lành tại xóm Becchi, làm bà nội của một nhóm cháu nội tuổi từ 13 cho đến vài ba tháng.
Tháng 7 năm 1846, Gioan kiệt sức tưởng chết do quá lao tâm khổ tứ cho việc tông đồ ngài mới khởi sự. Khi cơn bạo bệnh đã qua, ngài trở về Becchi để tĩnh dưỡng một thời gian dài, thế là mẹ con lại gần gũi nhau. Nhưng ngài vẫn để quên con tim tông đồ trên vùng Tôrinô, nơi bao nhiêu lũ trẻ đang mong đợi mình. Có một vấn đề cần phải giải quyết: một linh mục tuổi mới tròn ba mươi như Gioan làm sao có thể sống đơn độc tại những chỗ như chuồng ngưạ Pinardi vừa mới thuê được; vùng Valdocco là vùng nổi tiếng xấu. Cha xứ Castelnuovo khuyên ngài: “Đi đâu cha cũng hãy nhớ đem theo bà cố.” Don Bosco nhớ mãi phản ứng quảng đại của mẹ mình: “Nếu con nghĩ đây là việc làm đẹp ý Chúa, thì mẹ sẽ đi ngay.” (Hồi ký Nguyện Viện, trang 174). Thế là mẹ con đi bộ lên Tôrinô, hôm đó là ngày mùng 3 tháng 11 năm 1846.
(còn tiếp)
Nguyễn Kim Ngân
Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/36384.htm)
admin
05-09-2006, 09:57 PM
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=CONTENT style="PADDING-RIGHT: 30px; PADDING-LEFT: 10px; PADDING-BOTTOM: 0px; WIDTH: 100%; PADDING-TOP: 30px">GIA ĐÌNH: SỨ MỆNH CHÚNG TA
Những suy tư về Mẹ Margarita và về gia đình của Mẹ giúp ta hiểu được rằng, trong tính cách là một phần của sứ mệnh chúng ta, một cách tiên quyết và tự bản chất, gia đình là một thể chế xã hội mà các thành viên trong đó liên kết với nhau bằng nhiều mối tương quan liên vị khác nhau, nhưng tất cả được kết nối lại với nhau bằng những mối dây tình cảm, hiệp thông và kỷ luật, có khả năng đem lại một phẩm chất thiêng liêng đặc biệt. Nỗ lực của chúng ta là hướng về giới trẻ, và lãnh vực hoạt động của chúng ta là giáo dục chúng cũng như rao truyền phúc âm cho chúng. Tuy thế, cả hai ý niệm về giới trẻ và giáo dục đều không thể tách ra khỏi ý niệm gia đình được.
Điều này được Cha Egidio Viganò nhắc lại trong bài bình luận về Thượng Nghị Giám Mục thế giới vào năm 1980 bàn về đề tài gia đình, đưa đến thành quả là sự ra đời của Tông Huấn ‘Familiaris Consortio’ dưới ngòi bút của ĐGH Gioan Phaolô II: “Ơn gọi Salesian thúc đẩy ta tự nhiên hướng đến giới trẻ nghèo hèn. Hơn ai hết, chúng là những kẻ cần đến gia đình trên hết. Và chính vì chúng mà Don Bosco đã tạo được một nét đặc sắc, như Cha Phêrô Braido đã nhận xét: “Lòng từ ái chính là yếu tố giáo dục trong bầu khí của một mái gia đình đầm ấm hạnh phúc.” (Lời mời gọi của Thượng Nghị Giám Mục năm 1980; AGC 299, tháng 12 năm 1980, trang 29)
“Hỡi Gia Đình, hãy sống đúng với bản chất của mình”
Với lời kêu gọi này, ĐGH Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ các gia đình trên toàn thế giới phải khám phá ra ở nơi mình cái bản chất chân thực và thể hiện bản chất này ngay giữa lòng thế giới. Ngày nay, khi sống giữa một thế giới đang quằn quại trong hoài nghi, lời mời gọi của Đức Thánh Cha không thể không khích lệ các gia đình tái khám phá ra chân lý này bằng cách bổ túc thêm rằng: “Hỡi gia đình, hãy tin vào bản chất của mình.”
Như là tác phẩm của Thiên Chúa, đúng như kế hoạch tuyệt hảo của Ngài, gia đình cũng phải là kết quả của kiến trúc con người, nhờ việc con người cam kết thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa.
Tế bào của xã hội
Gia đình chính là nền tảng nâng đỡ xã hội qua nhiệm vụ thiết yếu của mình là phục vụ đời sống: chính nơi gia đình mà người công dân được sinh ra, và chính nơi gia đình mà họ tìm thấy mái trường đầu tiên dậy các nhân đức vốn làm nên linh hồn của đời sống và việc phát triển của chính xã hội.
Với tư cách là một cộng đồng liên vị yêu thương, gia đình tìm thấy trong việc tự hiến cái qui luật hướng dẫn mình và làm cho mình phát triển. Việc tự hiến cho thấy tình yêu của cha mẹ đối với nhau, và trở thành một khuôn mẫu và thước đo cho mối tương quan giữa anh chị em và giữa các thế hệ cùng chung sống dưới mái gia đình. Việc hiệp thông và chia sẻ hàng ngày trong nhà, khi vui cũng như lúc buồn, đem lại cho con trẻ một nền sư phạm thực tiễn nhất và hữu hiệu nhất trong chân trời mênh mông của xã hội. Mọi em bé mới sinh đều trở thành món quà cho anh chị em, cho cha mẹ và cho toàn thể gia đình của chúng. Đời sống của chúng trở thành món quà cho những người đã ban phát sự sống cho chúng, cũng là những người đã qúy trọng sự hiện diện của một em bé vừa mới ra đời, việc em chia sẻ sự hiện hữu với họ, việc em góp phần thăng tiến sự thiện hảo của cộng đoàn gia đình và của toàn xã hội.
Cùng một thứ kinh nghiệm về hiệp thông và chia sẻ--như là một nét đặc trưng của đời sống gia đình thường ngày—cho thấy sự đóng góp đầu tiên và căn bản cho xã hội. Mối tương quan giữa các thành viên của cộng đoàn gia đình được linh hứng và hướng dẫn bởi luật “tự do hiến tặng.” Qua việc tôn trọng và nuôi dưỡng phẩm giá của mỗi người và của mọi người, luật tự do hiến tặng này sẽ được nồng ấm và ưu ái đón nhận, rồi trở thành một gặp gỡ và đối thoại, một sẵn sàng tự hiến vô vị lợi, một phục vụ quảng đại và một liên đới sâu xa.
Nhờ thế, việc dưỡng nuôi một hiệp thông nhân vị chân thực và chín chắn nơi gia đình sẽ trở thành một mái trường đầu tiên và cần thiết dậy về những giao tế xã hội. Nó biểu tượng cho một mẫu mực và một đòi hỏi thôi thúc hướng đến các mối tương quan liên vị vốn dậy dỗ con người biết sống kính trọng, công bằng, đối thoại và yêu thương—là cái nôi khai sinh và là dụng cụ đầy hiệu năng của việc nhân bản hoá và nhân vị hoá xã hội. (Francesco di Felice: Nguồn gốc nhân bản và các giá trị Kitô giáo của gia đình, LEV, 2005, từ trang 138)
Điều này mang một tầm quan trọng lớn lao nếu ta muốn có một so sánh hữu hiệu giữa hai mẫu gia đình giới hạn và hẹp hòi vốn là kết quả của xã hội tiêu thụ hôm nay: một mẫu là gia-đình-pháo-đài tự kỷ tập trung, còn mẫu kia là gia-đình-khách-sạn, không căn tính và không tương giao. Vì thế, khi đối diện với một xã hội đang liều mình trở thành ngày càng phi nhân vị và tiêu chuẩn hoá hơn, nghĩa là ngày càng phi nhân và ích kỷ hơn, với đủ mọi thứ hậu quả tiêu cực, gia đình vẫn sở hữu được và vẫn biểu tỏ được những quyền lực kinh hồn, có khả năng kéo lôi con người thoát ra khỏi cõi tăm tối của nó, giữ mãi cho nó cái ý thức về nhân phẩm, làm phong phú nhân tính sâu xa của nó, và tìm ra cho nó một chỗ đứng trong xã hội với trọn vẹn độc đáo tính và cá tính của mình.
Khi phục vụ đời sống, khi đào tạo các công dân cho ngày mai, khi khắc sâu nơi họ những chân giá trị căn bản của con người đối với đất nước, khi giới thiệu con trẻ cho xã hội, gia đình đang đóng một vai trò then chốt: đó là gia sản chung của toàn nhân loại. Cả lý trí tự nhiên lẫn mạc khải của Thiên Chúa đều chất chứa chân lý này. Như Công Đồng Vaticanô đệ nhị đã viết: “Gia đình là tế bào đầu tiên và thiết yếu của xã hội.” (Apostolicam Actuositatem, số 11)
</TD></TR><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>Nguyễn Kim Ngân </TD></TR></TBODY></TABLE>
admin
07-09-2006, 02:34 PM
Cung Thánh của Đời Sống
Nhiệm vụ tiên quyết và căn bản của gia đình là phục vụ đời sống, nghĩa là giúp kéo dài mãi trong lịch sử phúc lành nguyên thủy của Tạo Hoá, và lưu truyền hình ảnh Thiên Chúa từ người này sang qua người kia (x. St 5,1). Do trách nhiệm này mà từ bản thể gia đình tuôn chảy ra một cộng đồng đời sống và tình yêu xây trên hôn nhân—và từ sứ mệnh của nó—duy trì, biểu lộ và chuyển giao tình yêu. Vấn đề ở đây chính là tình yêu Thiên Chúa, đấng đã đặt cha mẹ trở thành cộng sự viên và thông dịch viên trong việc chuyển giao sự sống và giáo dục theo đúng thánh ý Chúa Cha. Nơi gia đình, tình yêu tiếp nối theo thời gian, luân lưu trong đời sống, một cách tự do và tự nguyện, như một món quà. Nơi gia đình, mỗi thành viên được thừa nhận, tôn trọng, và vinh danh như một nhân vị, một cá thể, và khi thành viên nào có nhu cầu khẩn thiết hơn, thì những thành viên khác sẽ quan tâm săn sóc nhiều hơn.
Vì thế, gia đình ôm trọn hết thời gian của kiếp sống con người, từ khi mở mắt chào đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Gia đình đúng là cung thánh của đời sống, là nơi nuôi dưỡng thoả đáng món quà sự sống của Thiên Chúa, được bảo vệ trước những mũi tấn công từ tứ phía, và có thể phát triển phù hợp với những đòi hỏi của mức thành toàn nhân bản đích thực.
Với tư cách là một giáo-hội-tại-gia, gia đình được mời gọi để công bố, cử hành, và phục vụ Tin Mừng Sự Sống. Trong việc sinh sản mầm sống mới, người làm cha làm mẹ ý thức rằng hậu duệ mới khai sinh không chỉ là thành quả của việc tự hiến trong tình thương yêu nhau, mà còn là một món quà cho từng người, một món quà xuất phát từ chính Thiên Chúa là Món Quà Tối Hảo.
Kẻ Loan Báo Tin Mừng Sự Sống
Chính qua việc giáo dục con cái mà gia đình chu toàn sứ mệnh của mình là loan báo Tin Mừng sự sống. Bằng lời nói và gương sáng, bằng các dấu hiệu và cử chỉ thực tiễn trong đời sống hằng ngày, cha mẹ giới thiệu cho con cái một thứ tự do chân chính qua việc tự hiến thành thực, và phát triển nơi chúng việc tôn trọng kẻ khác, một ý thức phục vụ, việc chấp nhận thân tình, đối thoại, phục vụ quảng đại, tình liên đới cũng như bất cứ giá trị nào gíup thấu hiểu đời sống như là một ơn gọi và một sứ mệnh yêu thương.
Nhờ thế, cho dù trong việc giáo dục có những khó khăn cố hữu chăng nữa, nhờ tin tưởng và can trường, cha mẹ vẫn phải đào tạo cho con cái biết đón nhận những chân giá trị cốt yếu của đời sống con người. Phần con cái thì phải trưởng thành với thái độ tự do chân chính trong việc sử dụng của cải vật chất, sống một lối sống đơn giản và nết na với xác tín rằng điều quan trọng đối với con người không phải là do những gì nó sở hữu, mà là do những gì làm nên bản chất của nó.
Vì vậy, việc cha mẹ Kitô giáo đóng góp phần giáo dục của mình chính là một việc phục vụ đức tin của con cái và giúp chúng sống trọn ơn gọi nhận được từ nơi Thiên Chúa. Một phần sứ mệnh giáo dục của cha mẹ chính là dậy dỗ con cái và làm chứng cho cái ý nghĩa chân thật của đau khổ và sự chết: họ có thể làm được điều đó nếu chính họ tỏ ra nhậy cảm trước những đau khổ tràn lan quanh mình, và nếu họ có thể tiên quyết phát huy được những thái độ gần gũi, luôn sẵn sàng giúp đỡ và chia sẻ đối với người trẻ, kẻ yếu đau và tuổi tác trong khung cảnh gia đình.
Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng thiếu niên cũng như thanh niên đều cần có một nền giáo dục nhân bản và đầy tình cảm thì mới phát triển được nhân cách, trách nhiệm, ý thức về lòng trung thành và có óc sáng tạo. Họ cũng cần được giáo dục về mặt giới tính một cách lành mạnh và hoàn toàn nhân bản. Nền giáo dục này phải đi đôi với việc khám phá ra khả năng yêu thương mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong đáy lòng con người. Đây là vấn đề về việc đào luyện có tính chất hài hoà hướng đến một tình yêu đầy trách nhiệm, được hướng dẫn cả bằng lý trí lẫn Lời Chúa.
Mái Trường Dạy về Dấn Thân Xã Hội
Một nhiệm vụ khác nữa của gia đình là huấn luyện cho con cái biết thực hành tình yêu trong mọi tương quan liên vị, để gia đình không trở thành một cái khuôn khép kín mà là một cánh cửa mở ra cho cộng đồng, thấm nhuần ý thức công bình, liên đới và ân cần với mọi người, cũng như ý thức trách nhiệm với toàn thể xã hội.
Nhờ thế, việc phục vụ Tin Mừng được biểu lộ trong tình liên đới thực tiễn. Bổn phận của gia đình đối với xã hội không thể chỉ giới hạn vào vai trò làm phát sinh thế hệ kế tiếp về mặt sinh học, hoặc vào việc giáo dục con cái mà thôi, mà còn phải như nghe được tiếng gọi liên lỉ từ niềm tin Kitô giáo để mở rộng cõi lòng trước các nhu cầu của người khác. Dù với tư cách cá nhân hay hội đoàn, gia đình có thể--và nhất thiết—phải hiến thân trong mọi công tác phục vụ xã hội, nhất là đối với những người nghèo khổ. Công tác này càng quan trọng hơn nữa khi gặp những hoàn cảnh mà ngay cả cơ quan bác ái hay hệ thống phúc lợi xã hội cũng không chạm tới được.
Thấm nhuần và xác tín về giới răn yêu thương, gia đình Kitô giáo phải đón chào, tôn trọng và sẵn sàng phục vụ từng cá nhân như là một nhân vị và như là con cái Chúa. Đức bác ái phải vươn xa hơn, vượt ra ngoài những anh em đồng đạo, bởi vì ai ai cũng là anh em của nhau. Nơi từng người, nhất là nơi kẻ nghèo khó, yếu đuối, đau khổ hay bị ngược đãi bất công, đức ái phải nhận ra được nơi họ gương mặt của Chúa Kitô và đích thực như là người anh chị em của mình để hiến thân phục vụ. Gia đình Kitô giáo phải quảng đại tự hiến hầu phục vụ nhân loại và thế giới bằng cách làm tròn công tác phát triển nhân bản.
Chúng ta đều biết việc phân chia của cải đầy bất công giữa thế giới đã phát triển và thế giới đang phát triển, giữa người giầu và người nghèo trong cùng một quốc gia. Ta cũng biết sự giới hạn của các nguồn thiên nhiên đã khiến cho chỉ một số ít được hưởng lợi. Nạn mù chữ, nạn chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nạn xung đột võ trang sắc tộc, tất cả đều gây ra một hậu quả tiêu cực trên gia đình. Mặt khác, ta vẫn thấy gia đình mãi mãi là một môi trường tiên quyết và chính yếu để các chân giá trị được triển nở trong tình yêu thương và hiệp thông.
Trong tinh thần nêu cao những tấm gương sáng, Cha muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng ngày càng gia tăng trong xã hội ta, đó là việc tiếp đón, dưới mọi hình thức: từ việc mở cửa nhà và mở cửa tâm hồn trước những đòi hỏi của tha nhân, cho đến việc dấn thân cụ thể để minh chứng rằng mỗi gia đình đều là một nơi cư ngụ cần được gìn giữ và tăng triển. Gia đình Kitô giáo còn được mời gọi làm chứng cho lời nhắn nhủ của Thánh Tông Đồ: “Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12,13). Người thân cận túng thiếu sẽ được tiếp đón theo gương chia sẻ bác ái mà Chúa Kitô nhắn bảo: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Mt 10,42)
admin
07-09-2006, 02:35 PM
Hỡi Gia Đình, hãy vững tin vào vai trò chân chính của mình!
Gia đình không phải là sản phẩm của một nền văn hóa, kết quả của một thứ tiến hoá, một kiểu sống cộng đồng gắn liền với một tổ chức xã hội nào đó. Nó là một thể chế tự nhiên, tiền thân của mọi tổ chức chính trị hay pháp lý. Nó có nền tảng riêng của mình, không hề mắc nợ bất cứ một tổ chức nào, mà chỉ lệ thuộc thánh ý Thiên Chúa mà thôi. Trong một niềm thủy chung không hạn hẹp, một người nam và một người nữ tự trao hiến cho nhau và yêu thương nhau bằng một tình yêu mở ngỏ cho sự sống.
Điều cha vừa nói đã đưọc diễn tả một cách đầy uy quyền trong bốn nhiệm vụ được trao phó cho gia đình qua Thông Điệp “Familiaris Consortio”: đó là đào tạo một cộng đồng nhân vị, phục vụ đời sống, góp phần phát triển xã hội, và sứ mệnh rao giảng Tin Mừng.
Để chu toàn các nhiệm vụ này, cũng như đáp lại lời ĐGH Gioan Phaolô II kêu gọi các gia đinh: ‘Hỡi gia đình, hãy vững tin vào vai trò chân chính của mình,’ thì điều thiết yếu tiên khởi là các gia đình, cha mẹ, con cái và tất cả mọi thành viên phải xác tín mạnh mẽ về các nhiệm vụ này, bởi vì chúng xuất phát từ chính bản chất và sứ mạng của thể chế gia đình, và tạo nên một phần kế hoạch của Thiên Chúa đối với gia đình và cho mỗi thành viên trong đó.
Niềm xác tín này, đối với các tín hữu, không chỉ thuộc lãnh vực thuần lý hay xã hội, mà được xây dựng trên đức tin vào Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng đơn vị gia đình như là một cộng đồng tình yêu và đời sống, và đã thánh hóa nó qua Con của Ngài bằng ân sủng của một bí tích, ngõ hầu trở thành một dấu chỉ và một khí cụ hiệp thông cho hết mọi người.
Sau đây là một vài đề nghị của cha nhằm bảo đảm việc chú ý đến gia đình trong kế hoạch giáo dục cũng như rao giảng Tin Mừng của chúng ta.
1) Bảo đảm việc đặc biệt dấn thân giáo dục tình yêu trong toàn thể công cuộc giáo dục Salesian và trên hành trình giáo dục đức tin cho giới trẻ. Kinh nghiệm của Don Bosco và nội dung mang tính giáo dục và linh đạo của hệ thống dự phòng thúc đẩy chúng ta:
• Đặc biệt chú tâm đến việc tạo ra chung quanh giới trẻ một bầu khí giáo dục thật sự dẫn đến việc cảm thông đầy tình cảm trong mọi giao tiếp và đối thoại,
• Đề cao các giá trị chân thực của đức khiết tịnh,
• Nuôi dưỡng các mối tương quan nam nữ đầy tôn trọng hỗ tương, giúp nhau phát triển và biểu thị niềm vui của sự tự do hiến dâng bản thân,
• Bảo đảm sao cho trong môi trường giáo dục có được sự hiện diện rõ ràng và tươi trẻ của các chứng tá đối với tình yêu, nhất là qua việc tự hiến trong đức khiết tịnh.
2) Theo dõi và nâng đỡ các bậc làm cha mẹ trong trách nhiệm giáo dục của họ, bằng cách để cho họ tham gia hết mình vào chương trình giáo dục và mục vụ Salesian.
3) Nuôi dưỡng và chuẩn bị lối sống gia đình Salesian: trong từng gia đình, trong cộng đoàn Salesian, cũng như trong cộng đoàn giáo dục và mục vụ.
Tinh thần gia đình là một đặc điểm của nền linh đạo Salesian và được bộc lộ trong việc:
• quan tâm lắng nghe người khác,
• ân cần tiếp đón người khác,
• sinh động hóa sự hiện diện của nhà giáo dục giữa giới trẻ,
• đối thoại và giao tiếp liên vị,
• chia sẻ trách nhiệm hoạch định một công cuộc giáo dục chung.
4) Thăng tiến tinh thần và kinh nghiệm gia đình Salesian nhằm nuôi dưỡng một dấn thân giáo dục và mục vụ để phục vụ giới trẻ.
Gia đình Salesian đòi hỏi ta đặc biệt nỗ lực dấn thân để cống hiến cho từng người trẻ một kế hoạch ơn gọi thỏa đáng và chuyên biệt. Để được như thế, trong gia đình Salesian, cần thấy rõ sức tăng trưởng và điều hành hữu hiệu của Nhóm Cố Vấn về Gia Đình Salesian, làm cho giới trẻ cảm nghiệm được sức tăng trưởng ấy, và tạo sáng kiến cũng như sinh hoạt khiến cho Gia Đình Salesian ngày càng sống theo cung cách của một phong trào tông đồ và linh đạo.
Sau đây là một số đề nghị thực tiễn:
Trong kế hoạch huấn luyện giới trẻ, cần chuẩn bị một chương trình giáo dục tình yêu tiệm tiến và có hệ thống, nhằm giúp cho thanh thiếu niên: (1) thấu hiểu được giá trị nhân bản và Kitô hữu của dục tính; (2) phát triển một tương quan nam nữ cởi mở, chín chắn và tích cực; (3) trong ánh sáng phẩm gía của nhân vị, hướng vọng đến các gía trị của đời sống và tiêu chuẩn của Tin Mừng, cũng như các vấn nạn đang nẩy sinh về sự sống và dục tính con người; (4) mở rộng trước kế hoạch của Thiên Chúa như một đường lối thực tiễn để sống ơn gọi tình yêu.
Cần phải đặt nặng tầm quan trọng cho việc đào tạo các nhóm và các hội đoàn thuộc Phong trào Trẻ Salesian cũng như cho việc hướng dẫn cá nhân giới trẻ.
Giữa lòng giới trẻ trưởng thành (lãnh đạo, thiện nguyện, cộng tác viên trẻ, v.v.) cần phát huy những dự án đào tạo thực tiễn để phân biệt và dõi theo ơn gọi hôn nhân Kitô giáo. Điều này cần có sự hợp tác của các đôi lứa Kitô hữu đã tham gia các nhóm đời của gia đình Salesian.
Khích lệ việc thành lập các nhóm, phong trào, và hội đoàn bao gồm các đôi lứa và gia đình nhằm giúp sống cũng như đào sâu ơn gọi hôn nhân và tích cực chu toàn trách nhiệm giáo dục của mình.
Trong Gia đình Salesian, đã thấy có các nhóm ‘Gia Đình Don Bosco’ do các cộng tác viên Salesian cổ động và hỗ trợ, nhưng còn có cả các nhóm gia đình khác nữa như ‘Phong Trào Gia đình Kitô hữu,’ ‘Gặp gỡ Hôn Nhân,’ v.v.
Nâng đỡ các bậc phụ huynh trong trách nhiệm giáo dục qua việc thành lập các hội đoàn phụ huynh, các khoá huấn luyện phụ huynh, với một phương án cụ thể và có hệ thống về việc đào tạo cũng như chia sẻ các vấn đề giáo dục.
Trong các công cuộc và sinh hoạt, cần củng cố và kiện cường cộng đoàn giáo dục và mục vụ, đặc biệt lưu ý đến các tương quan cá nhân và một bầu khí gia đình, việc tham gia rộng rãi và chia sẻ các giá trị Salesian cũng như các mục tiêu của kế hoạch giáo dục và mục vụ. Nhờ đó, công cuộc Salesian sẽ trở thành một môi trường mà giới trẻ cảm thấy thoải mái như ở nhà, đồng thời cũng là một nguồn yểm trợ cho các gia đình.
Thúc đẩy các gia đình dấn thân vào quá trình giáo dục và rao truyền Tin Mừng mà chúng ta đang đẩy mạnh giữa giới trẻ, qua sáng kiến tổ chức các buổi chia sẻ giữa cha mẹ và con cái, giáo lý cho gia đình, đưa các phụ huynh vào trong việc tổ chức các nhóm trẻ, tham gia hội họp và cử hành, cũng như các nhóm gia đình Kitô hữu với tư cách là điểm tham chiếu cho cuộc hành trình đức tin của giới trẻ, v.v...
Khuyến khích, chuẩn bị, và đồng hành với các giáo dân trong việc thăng tiến và bảo vệ các quyền lợi của gia đình đứng trước mũi dùi của luật pháp và hoàn cảnh bất công và vô luân.
Đào sâu ý thức về Gia Đình Salesian giữa các nhóm hiện diện trong cùng điạ phương, qua việc cảm thông và trao đổi, cũng như thông qua việc điều hành của Nhóm Cố Vấn về Gia Đình Salesian trên nhiều cấp.
Nguyễn Kim Ngân
Nguồn: Vietcatholic
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.