admin
23-01-2009, 07:19 AM
Mạc Khải Kitô Giáo và Các Tôn Giáo Khác
Theo Ánh Sáng Công Ðồng Vaticanô II
Linh Mục A. H. Kishi Hidesshi
Hiệu trưởng Ðại Học Công Giáo Eishi tại Osaka, Nhật Bản
(Cha A. H. Kishi Hidesshi là Hiệu trưởng Ðại Học Công Giáo Eishi tại Osaka, Nhật Bản. Ngài đã theo học tại Montréal, Canada, và đậu tiến sĩ với luận đề "Spiritual consciousness in zen from Thomistic Theological Point of view").
Mạc Khải Kitô Giáo và Các Tôn Giáo Khác Theo Ánh Sáng Công Ðồng Vaticanô II.
Công Ðồng Vaticanô II, khi cứu xét (một cách tỉ mỉ hơn) thái độ của Giáo Hội đối với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, đã đưa ra bản Tuyên Ngôn "Nostra Actate". Nguyên tắc căn bản thể hiện qua bản Tuyên Ngôn này là: đối với nhân loại, Thiên Chúa là nguồn gốc độc nhất và đồng thời cũng là cứu cánh sau cùng. Bởi đó, tất cả mọi người, Kitô hữu cũng như không Kitô hữu, đều lệ thuộc vào Thiên Chúa Quan Phòng. Trong bài trình bày ngắn ngủi này, chúng tôi không có ý định giải thích bản Tuyên Ngôn, mà chỉ muốn dựa vào bản Tuyên Ngôn đó và một số tài liệu khác của Công Ðồng để nhận định về những mối tương quan giữa Mạc Khải Kitô giáo và tất cả các tôn giáo khác.
I. Chân Lý của các Tôn Giáo
Trong những tôn giáo đươc chọn làm tiêu biểu trong bản Tuyên ngôn, thì Ấn độ giáo, Phật giáo, rồi đến Hồi giáo và Do thái giáo được đặc biệt quan tâm hơn cả. Ðối với Ấn độ giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác, bản Tuyên ngôn viết: "Giáo hội Công giáo không hề bác bỏ những gì là chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo đó. Với một niềm kính trọng thành thật. Giáo hội xem xét những cách thức hành động và những lối sống; những luật lệ và những giáo lý đó, mặc dầu về nhiều điểm có khác với những điều chính Giáo hội tuân giữ và đề nghị, nhưng thường mang lại tia sáng của Chân lý (radium illius Veritatis) chiếu soi hết mọi người" (N.A. số 2).
Thật sự, những lời nói đó của bản Tuyên ngôn có nghĩa gì? Người ta có thể nghĩ rằng Công Ðồng, khi dùng những lời lẽ đó, đã nhìn nhận các tôn giáo khác cũng mang lại một ánh sáng, mặc dầu đó không phải là ánh sáng toàn vẹn của Chân lý, và tuy vậy, đó cũng là một ánh sáng phát xuất từ Ðấng chính là Chân lý.
Trong Hiến chế Mục vụ (Gaudium et Spes), chúng ta thấy có những đoạn văn quan trọng liên hệ với điều vừa được trình bày. Thật vậy, Hiến chế quả quyết: "Bởi vì có nội giới mà con người hơn tất cả mọi vật. Con người trở về với nội giới sâu xa đó là khi con người trở về với chính mình, nơi mà Thiên Chúa Ðấng thấy tận tâm can, đang chờ đợi, con người, và nơi mà con người tự quyết định lấy vận mạng của mình dưới con mắt của Thiên Chúa" (G.S. số 14).
Như thế, Công Ðồng chứng tỏ rằng Thiên Chúa thấu suốt lòng con người và Người đang ở đó chờ đợi.
Theo truyền thống lâu đời của Kitô giáo, sự kiện này minh chứng rõ ràng thật sự có một "ánh sáng bên trong", có "Thiên Chúa" ở giữa loài người. Giáo huấn này rất giống với ý niệm Nội tại tuyệt đối là một ý niệm căn bản nơi các người Ðông phương. Thiên Chúa ở tận đáy lòng con người, theo kiểu nói của Hiến chế, có nghĩa là Thiên Chúa chính là "chân lý sâu xa của sự vật" (ipsa produndarei veritas). Như thế, việc Thiên Chúa ở trong lòng mọi người tự nhiên có nghĩa là Người biểu lộ chân lý trong tất cả các tôn giáo. Trong bài tựa, Hiến chế nói: "Vậy, khi Công Ðồng tuyên bố sứ mạng của con người là rất cao cả và quả quyết rằng con người mang trong mình mầm mống Thiên Chúa..." (G.S. số 3).
Chỉ căn cứ vào sự kiện có mầm mống Thiên Chúa trong lòng mọi người, cũng có thể quả quyết rằng mọi người có thể đạt tới chân lý. Nếu mọi người không nương dựa vào Thiên Chúa ở trong lòng mình thì họ không thể tìm thấy Thiên Chúa. Con đường đưa người ta đến Thiên Chúa luôn luôn là con đường nội tâm đó. Các tôn giáo khác giảng dạy con đường đó. Chúng ta phải xác định rằng Thiên Chúa chiếu giải chân lý trong các tôn giáo khác bởi vì các tôn giáo đó chỉ dạy con đường ấy.
Nếu chúng ta nghiên cứu, dầu chỉ là những yếu tố của Giáo lý Phật giáo và Ấn độ giáo mà thôi, chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng các giáo lý đó chứa đựng nhiều chân lý khiến chúng ta phải ngạc nhiên và không khỏi thán phục. Chắc chắn, trong các giáo huấn đó, người ta sẽ tìm thấy những ý niệm: "Hữu thể" - "Thiên Chúa" - "Ðấng tuyệt đối" và sẽ có kinh nghiệm về Thiên Chúa.
Trong Ấn độ giáo, "Ðấng Tuyệt Ðối" chính là Ðấng người ta không thể biết được, là Ðấng người ta không thể đặt tên được, và theo kểu nói của Yâjnavalkya, là Ðấng mà người ta chỉ có thể gọi được là "Netti, Netti" (không phải như thế, không phải như thế).
Trong Phật giáo Ðại thừa, thực thể cuối cùng chính là cái không thể tả được, - "là cái hư vô", "cái rỗng không" và ngoài những từ ngữ đó ra, không có một từ ngữ nào khác để diễn tả thực thể đó. Hơn nữa, chính tất cả những từ ngữ đó cũng chỉ là những kiểu diễn tả bất toàn. Ðó là tất cả những gì để chỉ thực thể độc nhất và tối hậu.
Trong Kitô giáo cũng vậy: vì Thiên Chúa là Ðấng không thể biết được, Ðấng không thể gọi tên được, nên chính kiểu nói "Thiên Chúa" cũng chỉ là một danh từ tạm thời mà thôi.
Hiến chế Gaudium et Spes còn lưu ý: ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là được Thiên Chúa mời gọi thông phần với Người (G.S. số 19).
Chắc chắn trong các tôn giáo khác, người ta cũng có thể thông phần với Thiên Chúa. Theo phương diện thần học mà nói, người ta không thể quả quyết rằng những kinh nghiệm đó về Thiên Chúa chỉ hoàn toàn có tính cách tự nhiên; trái lại, những kinh nghiệm đó có thể là siêu nhiên nhờ ân sủng của Thiên Chúa.
Nếu con người là hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei) (Cf Gn 1,27), nếu trong con người có mầm mống Thiên Chúa, nếu Thiên Chúa ở tận đáy lòng con người và nếu Thiên Chúa có thể ban ân sủng, con người, dầu thuộc về các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo, cũng có thể đạt tới chân lý. Một bằng chứng đầy đủ chứng minh cho lời quả quyết trên là, trong lịch sử các tôn giáo tây phương cũng như đông phương, có những người đã sống qua con đường huyền bí "Via Negativa" đó.
Chính Hữu Thể tuyệt đối, siêu việt đã mạc khải mầu nhiệm đó trong đáy lòng con người.ngày nay, chúng ta phải mở mắt nhìn nhận rằng tính chất chân lý thực sự thể hiện một phần trong tất cả các tôn giáo, tính chất đó có thể nói được là tính chất Kitô giáo của Chân lý.
Theo Ánh Sáng Công Ðồng Vaticanô II
Linh Mục A. H. Kishi Hidesshi
Hiệu trưởng Ðại Học Công Giáo Eishi tại Osaka, Nhật Bản
(Cha A. H. Kishi Hidesshi là Hiệu trưởng Ðại Học Công Giáo Eishi tại Osaka, Nhật Bản. Ngài đã theo học tại Montréal, Canada, và đậu tiến sĩ với luận đề "Spiritual consciousness in zen from Thomistic Theological Point of view").
Mạc Khải Kitô Giáo và Các Tôn Giáo Khác Theo Ánh Sáng Công Ðồng Vaticanô II.
Công Ðồng Vaticanô II, khi cứu xét (một cách tỉ mỉ hơn) thái độ của Giáo Hội đối với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, đã đưa ra bản Tuyên Ngôn "Nostra Actate". Nguyên tắc căn bản thể hiện qua bản Tuyên Ngôn này là: đối với nhân loại, Thiên Chúa là nguồn gốc độc nhất và đồng thời cũng là cứu cánh sau cùng. Bởi đó, tất cả mọi người, Kitô hữu cũng như không Kitô hữu, đều lệ thuộc vào Thiên Chúa Quan Phòng. Trong bài trình bày ngắn ngủi này, chúng tôi không có ý định giải thích bản Tuyên Ngôn, mà chỉ muốn dựa vào bản Tuyên Ngôn đó và một số tài liệu khác của Công Ðồng để nhận định về những mối tương quan giữa Mạc Khải Kitô giáo và tất cả các tôn giáo khác.
I. Chân Lý của các Tôn Giáo
Trong những tôn giáo đươc chọn làm tiêu biểu trong bản Tuyên ngôn, thì Ấn độ giáo, Phật giáo, rồi đến Hồi giáo và Do thái giáo được đặc biệt quan tâm hơn cả. Ðối với Ấn độ giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác, bản Tuyên ngôn viết: "Giáo hội Công giáo không hề bác bỏ những gì là chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo đó. Với một niềm kính trọng thành thật. Giáo hội xem xét những cách thức hành động và những lối sống; những luật lệ và những giáo lý đó, mặc dầu về nhiều điểm có khác với những điều chính Giáo hội tuân giữ và đề nghị, nhưng thường mang lại tia sáng của Chân lý (radium illius Veritatis) chiếu soi hết mọi người" (N.A. số 2).
Thật sự, những lời nói đó của bản Tuyên ngôn có nghĩa gì? Người ta có thể nghĩ rằng Công Ðồng, khi dùng những lời lẽ đó, đã nhìn nhận các tôn giáo khác cũng mang lại một ánh sáng, mặc dầu đó không phải là ánh sáng toàn vẹn của Chân lý, và tuy vậy, đó cũng là một ánh sáng phát xuất từ Ðấng chính là Chân lý.
Trong Hiến chế Mục vụ (Gaudium et Spes), chúng ta thấy có những đoạn văn quan trọng liên hệ với điều vừa được trình bày. Thật vậy, Hiến chế quả quyết: "Bởi vì có nội giới mà con người hơn tất cả mọi vật. Con người trở về với nội giới sâu xa đó là khi con người trở về với chính mình, nơi mà Thiên Chúa Ðấng thấy tận tâm can, đang chờ đợi, con người, và nơi mà con người tự quyết định lấy vận mạng của mình dưới con mắt của Thiên Chúa" (G.S. số 14).
Như thế, Công Ðồng chứng tỏ rằng Thiên Chúa thấu suốt lòng con người và Người đang ở đó chờ đợi.
Theo truyền thống lâu đời của Kitô giáo, sự kiện này minh chứng rõ ràng thật sự có một "ánh sáng bên trong", có "Thiên Chúa" ở giữa loài người. Giáo huấn này rất giống với ý niệm Nội tại tuyệt đối là một ý niệm căn bản nơi các người Ðông phương. Thiên Chúa ở tận đáy lòng con người, theo kiểu nói của Hiến chế, có nghĩa là Thiên Chúa chính là "chân lý sâu xa của sự vật" (ipsa produndarei veritas). Như thế, việc Thiên Chúa ở trong lòng mọi người tự nhiên có nghĩa là Người biểu lộ chân lý trong tất cả các tôn giáo. Trong bài tựa, Hiến chế nói: "Vậy, khi Công Ðồng tuyên bố sứ mạng của con người là rất cao cả và quả quyết rằng con người mang trong mình mầm mống Thiên Chúa..." (G.S. số 3).
Chỉ căn cứ vào sự kiện có mầm mống Thiên Chúa trong lòng mọi người, cũng có thể quả quyết rằng mọi người có thể đạt tới chân lý. Nếu mọi người không nương dựa vào Thiên Chúa ở trong lòng mình thì họ không thể tìm thấy Thiên Chúa. Con đường đưa người ta đến Thiên Chúa luôn luôn là con đường nội tâm đó. Các tôn giáo khác giảng dạy con đường đó. Chúng ta phải xác định rằng Thiên Chúa chiếu giải chân lý trong các tôn giáo khác bởi vì các tôn giáo đó chỉ dạy con đường ấy.
Nếu chúng ta nghiên cứu, dầu chỉ là những yếu tố của Giáo lý Phật giáo và Ấn độ giáo mà thôi, chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng các giáo lý đó chứa đựng nhiều chân lý khiến chúng ta phải ngạc nhiên và không khỏi thán phục. Chắc chắn, trong các giáo huấn đó, người ta sẽ tìm thấy những ý niệm: "Hữu thể" - "Thiên Chúa" - "Ðấng tuyệt đối" và sẽ có kinh nghiệm về Thiên Chúa.
Trong Ấn độ giáo, "Ðấng Tuyệt Ðối" chính là Ðấng người ta không thể biết được, là Ðấng người ta không thể đặt tên được, và theo kểu nói của Yâjnavalkya, là Ðấng mà người ta chỉ có thể gọi được là "Netti, Netti" (không phải như thế, không phải như thế).
Trong Phật giáo Ðại thừa, thực thể cuối cùng chính là cái không thể tả được, - "là cái hư vô", "cái rỗng không" và ngoài những từ ngữ đó ra, không có một từ ngữ nào khác để diễn tả thực thể đó. Hơn nữa, chính tất cả những từ ngữ đó cũng chỉ là những kiểu diễn tả bất toàn. Ðó là tất cả những gì để chỉ thực thể độc nhất và tối hậu.
Trong Kitô giáo cũng vậy: vì Thiên Chúa là Ðấng không thể biết được, Ðấng không thể gọi tên được, nên chính kiểu nói "Thiên Chúa" cũng chỉ là một danh từ tạm thời mà thôi.
Hiến chế Gaudium et Spes còn lưu ý: ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là được Thiên Chúa mời gọi thông phần với Người (G.S. số 19).
Chắc chắn trong các tôn giáo khác, người ta cũng có thể thông phần với Thiên Chúa. Theo phương diện thần học mà nói, người ta không thể quả quyết rằng những kinh nghiệm đó về Thiên Chúa chỉ hoàn toàn có tính cách tự nhiên; trái lại, những kinh nghiệm đó có thể là siêu nhiên nhờ ân sủng của Thiên Chúa.
Nếu con người là hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei) (Cf Gn 1,27), nếu trong con người có mầm mống Thiên Chúa, nếu Thiên Chúa ở tận đáy lòng con người và nếu Thiên Chúa có thể ban ân sủng, con người, dầu thuộc về các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo, cũng có thể đạt tới chân lý. Một bằng chứng đầy đủ chứng minh cho lời quả quyết trên là, trong lịch sử các tôn giáo tây phương cũng như đông phương, có những người đã sống qua con đường huyền bí "Via Negativa" đó.
Chính Hữu Thể tuyệt đối, siêu việt đã mạc khải mầu nhiệm đó trong đáy lòng con người.ngày nay, chúng ta phải mở mắt nhìn nhận rằng tính chất chân lý thực sự thể hiện một phần trong tất cả các tôn giáo, tính chất đó có thể nói được là tính chất Kitô giáo của Chân lý.