admin
28-07-2006, 08:46 PM
Hạnh phúc trong triết học
Hạnh phúc chắc hẳn là đối tượng đầu tiên của triết học. Vì vậy không thể hiểu những phương pháp tiến hành của các đại triết gia sáng lập, các đại triết gia thời cổ đại, cũng như các triết gia của các thời đại mới (temps modernes), nếu chúng ta không nắm bắt mối liên quan của họ với hạnh phúc. Và nếu cho rằng cũng có một dạng tư duy triết học ở trong lòng ấn độ giáo và phật giáo, chúng ta buộc phải để ý rằng hạnh phúc cũng hình thành nên trong các tôn giáo ấy một vấn đề trung tâm.
Tất cả những điều chúng ta mới đề cập đến không hề ngạc nhiên, vì hạnh phúc trước hết là mục đích mà mọi người theo đuổi, do đó con người tự tạo ra (se donne) một mục đích riêng. Thực vậy, tại sao con người làm việc, nếu không phải để kiếm tiền? Và tại sao con người muốn tiền bạc, nếu không phải là để có thể mua những thứ mình muốn ? Và tại sao con người muốn thỏa mãn những ước muốn của mình, nếu không phải là để được hạnh phúc ? Và nếu đúng hơn là con người tìm cách thi hành một hoạt động khoái lạc, vẫn còn là nhằm được hạnh phúc. Mỗi vật thể (chose) ít nhiều có quan hệ chung riêng (subalterne) mà con người ước muốn, mỗi hành động của con người vì vậy nhắm đến mục đích cuối cùng là hạnh phúc. Các vật thể chỉ có giá trị bởi vì nó góp phần hoặc là vào sự sống sót, hoặc là vào hạnh phúc của chúng ta. Tuy nhiên có một mục đích khác mà con người theo đuổi, đó là lợi ích luân lý (bien moral) : một số người tranh đấu cho công bình, nhiệt huyết với những việc từ thiện cao quí (nobles causes), khi tùy theo hoàn cảnh mà hy sinh hạnh phúc của họ. Vậy con người đối diện với hai mục đích có thể được cho cuộc sống mình, lợi ích và hạnh phúc, không luôn luôn trùng lặp nhau. Hiển nhiên có mối quan hệ chung riêng đáng kể, nhưng cần chứng thực mạnh mẽ rằng nếu con người sẽ phải bận tâm đến lợi ích và công bình, không phải ai cũng làm việc đó, trong khi đó tất cả mọi người thực sự theo đuổi hạnh phúc.
Nói rằng hạnh phúc là mục đích cuối cùng của con người tuy nhiên là không đủ để định nghĩa hạnh phúc. Vẫn còn phải nắm bắt được bản chất của hạnh phúc. Ở đây, chúng ta đụng đến một bác bẻ : con người không thể đưa ra một định nghĩa chung nào về hai chữ « hạnh phúc » bởi vì người này thì cho tìm được hạnh phúc của mình trong tình yêu, người khác thì cho rằng tìm được hạnh phúc trong thanh danh (gloire), vân vân. Như vậy cho thấy lẫn lộn các phương tiện của hạnh phúc với chính trạng thái (hạnh phúc), trạng thái này phải mang tính đồng nhất trong mỗi con người để cho con người có thể chỉ ra tính đồng nhất ấy một cách chính đáng bằng cùng một từ.
Xem tiếp: Hạnh phúc trong triết học (http://www.assomption.org/Vietnam/suutam/vanhao3.htm)
Hạnh phúc chắc hẳn là đối tượng đầu tiên của triết học. Vì vậy không thể hiểu những phương pháp tiến hành của các đại triết gia sáng lập, các đại triết gia thời cổ đại, cũng như các triết gia của các thời đại mới (temps modernes), nếu chúng ta không nắm bắt mối liên quan của họ với hạnh phúc. Và nếu cho rằng cũng có một dạng tư duy triết học ở trong lòng ấn độ giáo và phật giáo, chúng ta buộc phải để ý rằng hạnh phúc cũng hình thành nên trong các tôn giáo ấy một vấn đề trung tâm.
Tất cả những điều chúng ta mới đề cập đến không hề ngạc nhiên, vì hạnh phúc trước hết là mục đích mà mọi người theo đuổi, do đó con người tự tạo ra (se donne) một mục đích riêng. Thực vậy, tại sao con người làm việc, nếu không phải để kiếm tiền? Và tại sao con người muốn tiền bạc, nếu không phải là để có thể mua những thứ mình muốn ? Và tại sao con người muốn thỏa mãn những ước muốn của mình, nếu không phải là để được hạnh phúc ? Và nếu đúng hơn là con người tìm cách thi hành một hoạt động khoái lạc, vẫn còn là nhằm được hạnh phúc. Mỗi vật thể (chose) ít nhiều có quan hệ chung riêng (subalterne) mà con người ước muốn, mỗi hành động của con người vì vậy nhắm đến mục đích cuối cùng là hạnh phúc. Các vật thể chỉ có giá trị bởi vì nó góp phần hoặc là vào sự sống sót, hoặc là vào hạnh phúc của chúng ta. Tuy nhiên có một mục đích khác mà con người theo đuổi, đó là lợi ích luân lý (bien moral) : một số người tranh đấu cho công bình, nhiệt huyết với những việc từ thiện cao quí (nobles causes), khi tùy theo hoàn cảnh mà hy sinh hạnh phúc của họ. Vậy con người đối diện với hai mục đích có thể được cho cuộc sống mình, lợi ích và hạnh phúc, không luôn luôn trùng lặp nhau. Hiển nhiên có mối quan hệ chung riêng đáng kể, nhưng cần chứng thực mạnh mẽ rằng nếu con người sẽ phải bận tâm đến lợi ích và công bình, không phải ai cũng làm việc đó, trong khi đó tất cả mọi người thực sự theo đuổi hạnh phúc.
Nói rằng hạnh phúc là mục đích cuối cùng của con người tuy nhiên là không đủ để định nghĩa hạnh phúc. Vẫn còn phải nắm bắt được bản chất của hạnh phúc. Ở đây, chúng ta đụng đến một bác bẻ : con người không thể đưa ra một định nghĩa chung nào về hai chữ « hạnh phúc » bởi vì người này thì cho tìm được hạnh phúc của mình trong tình yêu, người khác thì cho rằng tìm được hạnh phúc trong thanh danh (gloire), vân vân. Như vậy cho thấy lẫn lộn các phương tiện của hạnh phúc với chính trạng thái (hạnh phúc), trạng thái này phải mang tính đồng nhất trong mỗi con người để cho con người có thể chỉ ra tính đồng nhất ấy một cách chính đáng bằng cùng một từ.
Xem tiếp: Hạnh phúc trong triết học (http://www.assomption.org/Vietnam/suutam/vanhao3.htm)