PDA

View Full Version : Thư luân lưu "Kỷ niệm ba trăm năm" - 1971 - ĐGM FX Nguyễn Văn Thuận


admin
16-02-2009, 07:36 AM
Thư luân lưu "Kỷ niệm ba trăm năm" - 1971 - ĐGM FX Nguyễn Văn Thuận


“KỶ NIỆM BA TRĂM NĂM”

Kính gửi quý linh mục
Quý Tu Sĩ nam nữ, Quý Chủng Sinh và anh chị em giáo dân thân mến

Anh chị em thân mến,
Kỷ niệm 300 năm Đức Giám Mục đầu tiên đặt chân lên đất Nha Trang là một biến cố quan trọng chúng ta không thể bỏ quên được.

Ngày 1 tháng 9 năm 1671, sau khi đợi chờ 9 năm trên đất Thái Lan, Đức Cha Phêrô LAMBERT DE LA MOTTE, Giám Mục tiên khởi Đàng Trong mới đặt chân lên Địa Phận.

300 năm, từ ngày Đấng kế vị các Tông Đồ đặt chân lên đất miền Nam Việt Nam lần thứ nhất.

300 năm Chúa quan phòng đã khấng chọn một chỗ nghèo khó trong miền Nam: đất Nha Trang, địa phận nhà chúng ta để đón tiếp Đức Giám Mục đầu tiên, nơi một giáo xứ khiêm tốn, thời ấy còn gần biển: đó là Giáo xứ Chợ Mới.

300 năm lịch sử ta học hỏi để nhớ.

300 năm gương anh hùng Tử Đạo ta phải noi theo.

Trong lúc anh chị em sung sướng mừng kỷ niệm 300 năm lịch sử đạo Công Giáo, đặc biệt của Nha Trang, tôi muốn mời anh chị em cùng tôi đi ngược lại dòng lịch sử 3 thế kỷ vừa qua để tìm thấy ở đó những bài học quý giá và thiết thực cho chúng ta ngày nay.

1. BƯỚC CHÂN TÔNG ĐỒ LÊN ĐẤT NHA TRANG

Lịch sử ghi rằng: Đức Cha LAMBERT cùng hai linh mục miền Nam tiên khởi (http://gpnt.net/diendan/showpost.php?p=6132&postcount=5) là Cha Giuse Trang và Luca Bền với 2 vị thừa sai là Cha Mahot và Cha Vachet đã rời Yuthia (Thái Lan) ngày 20 tháng 7 năm 1671 khởi hành sang Việt Nam. Thuyền của các Ngài gặp một cơn bão dữ dội gần đảo Phú quốc. Lúc ngang cửa sông Cửu Long lại bị thuyền quân cướp biển rượt theo suốt 3 ngày, đến Phan Rí lại bị thuyền quân Tàu-Ô đuổi bắt. Nhờ gió thuận và Đức Cha cũng như các Cha rán sức chèo thật nhanh mới thoát được tay quân cướp. Sau một cuộc hành trình gian nan và hồi hộp, Đức Cha đã đến gần Nha Trang vào cuối tháng 8 năm 1671.

Đức Cha sợ bị tiết lộ chính quyền sẽ bắt giam và cơn cấm đạo lại bùng lên, thiệt hại cho giáo dân. Ngay hôm sau, lúc 10 giờ 30 sáng Ngài trở lại, dẫn theo 2 Thầy Giảng, 2 giáo dân Chợ Mới (Ngọc Hội). Họ hết sức vui mừng vì chưa bao giờ thấy một Giám Mục.

Lúc trời tối, giáo dân đã tới rước Đức Cha đi võng, các cha đi bộ lặng lẽ, từ bờ biển về tới Chợ Mới bằng an, đêm 1 tháng 9 năm 1671.

Thật là giây phút cảm động, giây phút hạnh phúc, giây phút lịch sử. Giáo dân kéo nhau đến viếng thăm Đức Cha và xin Người chúc lành. Các Cha ngồi Tòa Giải Tội. Đức Cha Thêm Sức cho 200 trẻ em và ít người lớn. Mọi người sốt sắng, một lòng một ý như đời các Thánh Tông Đồ vậy.

2. TÌNH HÌNH ĐỊA PHẬN HỒI THẾ KỶ 17

Tuy sử sách ghi lại năm 1653 có Cha Dòng Tên Phêrô Marques, và năm 1655, một Cha Giám Tỉnh Dòng Tên khác là Phanxicô Rivas đến giảng đạo tại Nha Trang, nhưng đạo Công Giáo cũng lan tràn đến vùng Phan Thiết, Bình Tuy thời ấy còn thuộc quyền vua Chiêm Thành.

Đức Cha Lambert đã đi thăm Hà Dừa, Ninh Hòa rồi ra Hội An hội Công Đồng Đàng Trong lần thứ I vào năm 1672.

Số Giáo Dân

- Năm 1671, giáo dân Khánh Hòa được 3.000 người.

- Năm 1673, số giáo dân lên được 6.000 người.

- Năm 1982 được 8.000 người.

Các Giáo Xứ

Năm 1671, ở Khánh Hòa có những giáo xứ sau đây:

Nha Trang (800 giáo dân), Chợ Mới (800), Hà Dừa, Võ Cang (Bình Cang), Ninh Hòa.

Có 2 cù lao trong Tỉnh Khánh Hòa được 150 người Công Giáo.

Năm 1685: Phan Rí được 1.000 giáo dân, Phan Thiết 1.500 và Lagi 300.

Năm 1739: ở Ninh Thuận có xứ Phan Rang chung toàn tỉnh và Nho [Mo] Văn (Ninh Chữ), ở Bình Thuận còn thêm Phú Giai và Hà Rạc.

Năm 1747 lại thấy ghi thêm các giáo xứ Sông Lũy (Bình Thuận), Cam Ranh, Cát Lở (Thủy Triều), Rợ Voi (Rợ Tượng) và thêm 3 cù lao nữa có người Công Giáo ở.

Các Linh Mục

Đời ấy đâu có nhiều linh mục như ngày nay để lo việc linh hồn cho giáo dân, suốt 10 năm từ 1672 đến 1682 chỉ có những cha sau này đến truyền giáo ở Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận: Mahot, Trang, Bền, Le Noir Bouchard, Courtalin Guyart Chevreuil, Thomas Vachet và cha Féret đặc trách vùng Chiêm Thành. Tuy hai cha Trang và Bền biết rõ đường lối ở Khánh Hòa nhưng cha Laurenso mới là Linh Mục chính quán Nha Trang (http://gpnt.net/diendan/showpost.php?p=13802&postcount=13), đầu tiên chịu chức tại Thái Lan và về Việt Nam năm 1690, Ngài đã xưng đạo Chúa, bị đánh đập gông cùm và được tiếng là một Linh Mục khôn ngoan, tuân phục và sốt sắng, em gái Ngài là Bà Anê đã chịu giam đói, chết vì Chúa năm 1700 tại Ninh Hòa.

Hoạt Động Tông Đồ

Trong thời buổi cấm cách nguy hiểm, mọi hoạt động đều bị theo dõi, tố cáo, vậy mà các vị Truyền Giáo cùng với giáo dân đã can đảm nhẫn nại hoạt động không ngừng.

Hội Thầy Giảng và Hội Đồng Giáo Dân

Các cha không thể ra mặt công khai lại không thể hiện diện được nhiều nơi, nên các Ngài lập hội Thầy Giảng hầu bảo đảm việc dạy giáo lý và sống đạo, các Hội Đồng giáo dân cũng được tổ chức để đàm đương việc giảng dạy, quản trị trong các giáo xứ, nhờ sáng kiến của các cha mà các cơ cấu ấy đã chống đỡ Hội Thánh Việt Nam qua bao nhiều cơn phong ba bão táp nặng nề trong lịch sử Hội Thánh và tồn tại đến ngày nay.

admin
16-02-2009, 07:55 AM
Dòng Mến Thánh Giá

Đức Cha Lambert lại sáng lập Dòng Mến Thánh Giá tại địa phận Nha Trang năm 1676 trong Xứ Chợ Mới. Một giáo dân đạo đức tên là ông Carolo đã tận tụy giúp đỡ và cha Chính Courtalin làm một nhà "4 căn, 2 chái" cho các chị ở.

Còn hai nhà Mến Thánh Giá khác được thành lập: một nhà ở Hà Dừa chăm nom chuẩn y viện và một nhà ở Ninh Hòa chăm sóc viện dưỡng lão.

Ảnh Hưởng Văn Hóa

Cách đây 300 năm, ở nước ta đâu có trường mẫu giáo, tiểu học, đâu có cơ sở ấn loát, vậy mà các vị thừa sai đã nghĩ đến văn hóa và việc Truyền Giáo. Năm 1651, Cha Đắc Lộ đã in cuốn giáo lý đầu tiên bằng tiếng Quốc Ngữ tại La Mã.

Về sau, Đức Cha Bá Đa Lộc đã soạn một cuốn từ điển Việt Nam – La Tinh dày 732 trang, đã được Đức Cha Taberd bổ túc và mãi tới năm 1838 mới được in tại Ấn Độ. Đức Cha Bá Đa Lộc lại còn soạn thêm từ điển Trung Hoa – Việt Nam – La Tinh.

Vì cơn bắt đạo hoành hành, Đức Cha Bá Đa Lộc từ Ấn Độ qua trung Hoa để kiếm cách lẫn lút vào Việt Nam. Đến Quảng Đông (Trung Hoa) Ngài lại in một cuốn giáo lý bằng chữ Nôm.

Công nghiệp và sự hy sinh can đảm của các Ngài giữa lúc gian nguy và thiếu thốn mọi phương tiện thật là cao cả.

Chủng Sinh

Trên đất Việt Nam không có Chủng Viện, vì tình hình cấm đạo nghiêm ngặt, sách vở không có, giáo sư cũng thiếu, vì thế Chủng Viện được đặt trên đất Thái Lan. Cha mẹ dâng con làm Chủng Sinh là dâng con chịu tử vì đạo. Chọn con đường làm Linh Mục là chọn con đường nguy hiểm nhất: phải bỏ nhà đi phương xa lâu ngày đến lúc về như nạp mình vào chỗ chết. Đi cũng như về, phải nằm dưới lòng thuyền để trốn kiểm soát. Năm 1670, cha Mahot, chính xứ Chợ Mới đã lập tại đó một Tiểu Chủng Viện. Nhưng Đại Chủng Viện vẫn ở Thái Lan rồi đến Ấn Độ và Penang. Năm 1703, Thầy Matthêô mãn trường ở Thái Lan về, được Đức Cha Pérez phong chức trên một cái hang trên núi Tỉnh Phú Yên, rồi được sai đi làm việc tông đồ ở Quảng Ngãi.

Đời Sống Linh Mục

Thời ấy chỉ có một Linh Mục ở khắp Khánh Hòa và một Linh Mục ở Chiêm Thành. Có lúc chỉ có một Linh Mục coi sóc một vùng rộng như cả Địa Phận Nha Trang ngày nay, thêm Tỉnh Phú yên nữa. Khi một Linh Mục từ Bình Tuy đến Phú Yên, ngài phải từ Giáo xứ này sang Giáo xứ kia, chỉ ở lại mỗi nơi một đêm để khỏi bị phát giác. Giáo dân báo nhau biết cha đến, đêm đó trốn về xưng tội nơi cha trú ẩn. Ngài Rửa Tội người lớn, làm phép Hôn Phối, đặt cử thầy giảng và nhân viên hội đồng giáo dân. Ngài còn xử kiện, khuyên bảo sửa phạt những người làm gương xấu. Đến 3 giờ sáng, Ngài dâng Thánh Lễ; điểm tâm rồi lặng lặng lẽ rời Giáo xứ, giáo dân cũng ra về trước khi gà gáy. Thường ngày Linh Mục phải đi từ 30 đến 35 cây số, vai vác đồ đạc qua những con đường đá sỏi, bùn lầy, trên cát nóng bỏng vùng Bình Thuận, hay lẫn lút giữa núi rừng đầy thú dữ vùng Bình Tuy, Phan Rang, Khánh Hòa. Vì không có giờ nghỉ ban đêm nên ban ngày, chỗ nào có bóng cây, ngài nằm nghỉ để cứu vớt thân xác nhọc mệt rã rời. Nhưng cũng phải làm sao đến Giáo xứ khác lúc trời vừa tối để khởi sự công việc lại. Đến khi phải lên đường, phần vì thiếu thốn, phần vì bệnh tật do khí rừng, nước độc, phần vì khó nhọc quá độ nên nhiều Linh Mục chỉ sống được 2, 3 năm. Trong 10 năm từ Phan Rang đến Quảng Ngãi, có 5 cha từ trần. Cao cả thay gương hy sinh của những người cha chúng tôi trong đức tin. Nếu các Ngài không đổ máu tử đạo thì các ngài cũng đã tử đạo vì bổn phận.

Còn kể sao được sự hy sinh của Đức Cha Lambert, sau khi thụ phong, Ngài cùng hai vị thừa sai xuống thuyền ở Marseille (Pháp) qua biển Địa Trung Hải, rồi đi đường bộ vượt qua nước Syria, Irak, Ấn Độ, Thái Lan ngày 22 tháng 8 năm 1662 mới đến kinh đô Yuthia, nghĩa là mất 2 năm 2 tháng hành trình. Ngài đã học tiếng Việt ngay trên đất Thái, huấn luyện và phong chức Linh Mục Việt Nam đầu tiên, thay mặt Đức Cha Pallu viếng thăm địa phận Đàng Ngoài năm 1670 và 2 lần đến thăm địa phận Đàng Trong của ngài vào năm 1671-1672, và 1675-1676.

Thà Chết Không Thà Chối Chúa

Suốt 300 năm, giáo dân sống trong hồi hộp lo sợ nhưng để nêu gương can đảm phi thường, sau mỗi lần đổ nát, lưu đày, chết chóc, cha con lại cùng nhau xây dựng, sống đạo cho mình và truyền đạo cho kẻ khác. Chính vì thế mà số người đi đạo ngày càng thêm đông mặc dầu biết đi đạo sẽ bị thiệt thòi về tài sản cũng như tính mạng, nhưng sức lôi cuốn của đời sống Công giáo chân thật quá, đạo đức quá, mãnh liệt quá, họ không thể chống cự được. Một người ngã gục vì đức tin, mười người, trăm người đứng lên xin theo đạo.

admin
16-02-2009, 08:07 AM
Trong 3 thế kỷ này, cơn bắt đạo khi tăng khi giảm, chứ không bao giờ ngừng hẳn. Đây tôi chỉ đan cử một vài trường hợp:

Năm 1700

Tại Nha Trang, ông Hoành, ông An, bà Anê Bùi (http://gpnt.net/tudaovn/tudao5.html#3) bị giam đói trong một cái chòi cho đến chết.

Tại Ninh Hòa: Ông Inhaxio Lư, Agata Cư và ông Phêrô Tam chịu chết vì Chúa.

Tại Ninh Thuận: một Thầy Giảng và 4 giáo dân bị giam đói nhưng được thả sau 5 ngày.

Năm 1750

Có sắc chỉ cấm đạo khắp Đàng Trong. Ninh Hòa và Chợ Mới bị phá bình địa. Đức Cha Bannetat và Cha Tchang (người Trung Hoa) bị bắt tại Chợ Mới, điệu ra Hội An và bị trục xuất một lượt với Đức Cha Lefèvre và 24 vị Thừa Sai. Cả Đàng trong chỉ còn một cha Việt Nam là cha Nhiệm và 1 cha Dòng Tên người Đức tên Korfer là ngự y tại triều đình. Nhiều giáo dân phải giam cầm khổ sở và chết rũ tù, mãi đến 1768, 30 giáo dân còn bị cầm tù vì Chúa.

Năm 1851-1856

Vua Tự Đức lại ra sắc cấm đạo dữ tợn hơn, trên toàn quốc, có 3.500 người bị lên án tử hình, 400.000 người đi phân sáp, 115 Linh mục Việt Nam, 10 Thừa Sai và 100 nữ tu Mến Thánh Giá chết vì Chúa.

Địa phận Nha Trang cũng một số phận. Năm 1861, Đức Cha Stêphanô Thể chết rục tù ở Bình Định. Cha Đôminicô, chính xứ Ninh Thuận và Bình Thuận chịu chém tại Phan Rí.

Tại Khánh Hòa, bà Nhất Mến Thánh Giá Chợ Mới, Chủng Sinh Giuse Hữu (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=5919) (Chợ Mới), 6 giáo dân Bắc Việt đi phân sáp và cô Anê Dần (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=5920) người Bình Cang đã chịu chết vì Chúa.

Năm 1861

Nữ tu Anê Trí ở xóm Gò Phan Rang, nữ Anê Soạn (http://www.gpnt.net/diendan/showpost.php?p=13879&postcount=25)(gốc Bình Định) đã bị bắt tại Láng Mun (Tân Hội, Ninh Thuận) và xử giảo tại Phan Rí cùng với 13 giáo dân. Cùng năm ấy, 9 giáo dân đã chết vì đạo tại Bình Thuận.

Đức Cha Trí (Charbonnier) trước khi được chọn làm Giám Mục (1864), đã bị giam 11 tháng trong một chiếc cũi.

Thời Văn Thân 1885

Địa Phận Nha Trang cũng phải đau khổ thiệt hại nhân mạng cũng như tài sản rất lớn lao như các địa phận khác ở Bắc và Trung Việt. Khánh Hòa, từ 2,843 giáo dân, năm sau chỉ còn 800. Ninh Thuận từ 1,982 giáo dân, chỉ còn sống sót 400, vào Sài Gòn.

Bình Thuận mất hết giáo dân, xứ Chú Quân bị tàn sát, còn giáo dân Kim Ngọc, Phú Hài, Đất Đỏ và một phần Tầm Hưng vào Sài Gòn. Số còn lại với giáo dân Sông Luỹ, Ma Ó đã trốn lên núi.

Anh [chị] em thân mến,

Khi nhắc lại 300 năm lịch sử Địa Phận Nhà, tôi chắc chắn rằng lòng anh chị em cảm động, biết ơn lành, hãnh diện và tin tưởng.

Cảm động vì trên muôn nẻo đường ta đi đã được in dấu chân các vị Thừa Sai, các Linh Mục bản xứ đem Tin Mừng đến cho chúng ta, giữa bao nhiêu hiểm nguy. Cảm động vì thấy cửa biển Nha Trang, Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết, Lagi là những nơi đã đón tiếp các vị truyền giáo cập bến đầy lo sợ giữa đêm khuya hoang vắng. Cảm động khi thấy những núi xanh rừng rậm, nơi mà giáo dân ẩn lánh trong cơn bắt bớ.

Trước hết chúng ta biết ơn Tòa Thánh đã sai các nhà truyền giáo đến Việt Nam, đã phong chức cho cha Phêrô Lambert de la Motte, đại diện Tông Tòa đầu tiên đến quản trị Đàng Trong. Chúng ta biết ơn các vị Tông Đồ đầu tiên truyền giáo thuộc nhiều dòng tu, như Dòng Tên, Dòng Đaminh, Dòng Phanxicô, Dòng Augustinô, và Dòng Barnabite, đặc biệt Hội truyền giáo Balê. Chúng ta tri ân các vị ân nhân khắp nơi đã góp công, góp của vào công việc Phúc Âm hóa.

Chúng ta hãnh diện, và đáng hãnh diện thật: có phải hãnh diện vì thánh đường khang trang, cơ sở đồ sộ? Có phải hãnh diện vì giáo dân đông đúc? Không. Sức mạnh của Hội Thánh không căn cứ vào vật chất, cũng không căn cứ vào số lượng, nhưng chúng ta hãnh diện vì Thánh Giá Chúa Kitô, vì lòng trung thành của ông bà ngày trước với Hội Thánh, vì cuộc sống đạo sốt sắng, vì đức tin vững vàng, dù chết cũng không rung chuyển được, vì đã trưởng thành nhận lấy vai trò chiến sĩ của mình, hợp tác và thay thế lúc không có Linh Mục.

Nếu ngày nay chúng ta nhiều ơn gọi, Tu sĩ, Giáo sĩ, nếu ngày nay chúng ta có nhiều gia đình Công Giáo đạo đức, đó là hoa quả tốt tươi của hạt giống Tử Đạo. Vinh dự của chúng ta là các anh hùng Tử Đạo: Giám Mục, Linh Mục, Thầy Giảng, Nữ Tu, Chủng Sinh, Giáo Dân. Sức mạnh của giáo đoàn thuở ấy là sự hòa hợp Nam Bắc một nhà: Cha Nicôla Duệ 1764, Cha Anrê Tôn, Cha Gioan Nhục, từ Bắc Việt vào giảng đạo trong địa phận 1787, 6 giáo dân Bắc Việt đi phân sáp vào Khánh Hòa đã cùng giáo dân Nha Trang chia vui sẻ buồn, đùm bọc lấy nhau trong cơn thử thách và cùng nhau ra nơi pháp trường đổ máu vì Chúa.

Chúng ta tin tưởng không phải ở sức mạnh của chúng ta, ở tài năng của chúng ta mà ở ơn Chúa hằng ở cùng Hội Thánh. Ngày nay chúng ta không bao giờ chấp nhận lập một Địa phận từ Thái Lan, Ai Lao, Kampuchia, đến Sông Gianh, Tòa Giám Mục ở mãi bên Thái Lan, tất cả hàng Giáo Sĩ không trên 10 Linh Mục, ai muốn vào chủng viện phải sang Thái Lan học, sách vở không có, tài sản không có, Thánh đường không có; ngược lại theo đạo là chịu thiệt thòi, tù đày, phân sáp, mất chức, khắc chữ “tả đạo” trên má, chịu chém, chôn sống voi chà, thắt cổ. Hoàn cảnh ấy Đức Cha Lambert đã nếm, các vị Tiền Bối chúng ta đã chấp nhận vì gương các Linh Mục thánh thiện sốt sắng, hy sinh, vì giáo dân đoàn kết, lãnh lấy trách nhiệm sống đạo, dạy đạo, quản trị, truyền đạo thay cho các linh Mục. Họ tin tưởng ở Ơn Chúa, ở Sức Chúa, ở Lời Chúa. Giờ đây trong thời đại duy vật, lắm lúc chúng ta tìm phương tiện thế gian và quên Chúa. Mặc dù khó khăn đến đâu, chúng ta hãy tiến lên nhân danh Chúa.

Anh [chị] em thân mến,

Trong Năm Truyền Giáo toàn quốc, sau ngày ban hành quy chế giáo dân, tôi rất vui mừng được biết Quý Cha đang tổ chức học tập kỹ càng và được giáo dân hưởng ứng nồng nhiệt để vững mạnh, sáng suốt sống đạo hầu truyền đạo.

Trong năm truyền giáo, bộ giáo lý hàm thụ gồm 33 cuốn đã được địa phận xuất bản hầu giúp anh em lương dân muốn tìm hiểu đạo Công Giáo. Tôi tha thiết giới thiệu với anh [chị] em dùng để học hỏi và để tặng các bạn ngoài Công Giáo.

Một khoá huấn luyện cán bộ Giáo lý sẽ được tổ chức cho giáo dân thêm khả năng giúp đỡ người tân tòng.

Năm 1972 sẽ là năm TẠ ƠN của Địa phận chúng ta. Trong tinh thần tạ ơn Chúa đã đức tin cho chúng ta qua Đấng Giám mục tiên khởi mang đến cách đây 300 năm.

Anh [chị] em,

Hãy nhìn quá khứ với tất cả lòng khâm phục tạ ơn.

Hãy nhìn hiện tại với tất cả ý chí tìm kiếm không ngừng.

Hãy nhìn tương lai với tâm hồn hăng say tin tưởng.

Xin Chúa chúc lành cho anh [chị] em và xin anh [chị] em cầu nguyện cho tôi.


Toà Giám mục, ngày Kỷ niệm 300 Năm Đức cha PHÊRÔ LAMBERT DE LA MOTTE đến Nha Trang (1-9-1967 - 1-9-1971)

Fr. X NGUYỄN VĂN THUẬN

Giám mục Nha Trang