View Full Version : Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh
admin
28-07-2006, 08:53 PM
Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh
Thánh vịnh 62,1-11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 62:1-11&FontSize=Txt10)
Chúng ta hãy cùng nhau suy niệm thánh vịnh 62, một thánh vịnh rất giàu về chủ đề, đầy nhiệt huyết, phong phú những lời kêu cầu, nhiều mong ước, đầy hy vọng, và cũng rất nhiều biểu tượng. Sự phong phú này làm cho chúng ta khó tìm một tựa đề thích hợp. Bản Kinh Thánh Giê-ru-sa-lem đặt tựa là: "Tâm hồn khát khao Thiên Chúa", bởi vì có lời bình phẩm như thế này: " khát, đói, khao khát Đức Chúa: một bài ca về tình yêu nhiệm mầu".
Chúng ta hãy cùng nhau tìm cho chúng ta một vài tư tưởng trong thánh vịnh này, một vài tư tưởng có khả năng giúp chúng ta tâm hiểu trong phạm vi tổng quát. Nhưng trước tiên, cho phép cha được chia sẽ một kỷ niệm cá nhân.
Cách đây cũng đã khá lâu, khi cha ở Palestine cùng với một số bạn bè. Chúng tôi đi vào sa mạc từ Giê-ru-sa-lem, băng qua Anator, thành phố của tiên tri Giê-rê-mi-a. Từ đây, chúng tôi bước xuống một con đường đầy bụi, và cuối đường, chúng tôi đi vào một vùng toàn cát và toàn sỏi đá. Đột nhiên, một rãnh nước xuất hiện trước mặt chúng tôi, trong lòng rãnh nước nơi chúng tôi vừa bước tới, nhọc thừ và khát, xuất hiện một mạch nước tuyệt hảo, từ mạch nước tuôn ra một dòng nước cự kỳ trong lành. Đó là mạch nước Ain Kara, cận kề một khu di tích ẩn tu đổ nát trong sa mạc vào thế kỷ thứ bốn sau công nguyên, đây là nơi ẩn tu của thánh Chariton. Chúng tôi khát khô cổ, mệt lử, kiệt sức bởi cái nóng gay gắt ; rồi chúng tôi gồi xuống kề bên một khối đá lớn, từ tảng đá này tuôn ra một mạch nước trong lành ; chúng tôi nhìn gắm trong thinh lặng. Một chốc sau, một người trong nhóm nảy ra một ý nghĩ : bây giờ mỗi người đọc một thánh vịnh mà mình cảm thấy yêu thích nhất để làm một lời cầu nguyện cá nhân. Và rất tự nhiên, cha đọc ngay thánh vịnh 62 : " Lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa, tâm hồn con khát khao Ngài, tấm thân này mòn mõi đợi trông, như mảnh đất khô cằn không giọt nước. …"
Rồi cứ mỗi lần khi cha đọc lại những lời của thánh vịnh này, tâm hồn cha lại nhớ lại cái ngày trọng đại đó, và bất cứ ở đâu hay bất cứ lúc nào, thánh vịnh 62 cũng làm cho cha rung động bởi vì thánh vịnh này được trích dẫn rất nhiều trong phụng vụ, trong những bài hát song ca trong Phụng vụ các Giờ Kinh.
Chúng ta thử tâm nhập vào thánh vịnh này qua ba bước:
1. Lectio: chúng ta đặt năm câu hỏi
2. Meditatio: chúng sẽ có hai suy niệm
3. Oratio hay Contemplatio: cha sẽ gợi ý điều này.
admin
28-07-2006, 08:56 PM
Phần I : Lectio
Ai là người hát thánh vịnh này?
Từ " con " ở đây là một ai đó, một người nào đó ; người này bày tỏ tình cảm rất cá nhân của mình qua bài hát này, chính xác hơn, đây là một người đang bị cái khát và cái đói hoàng hành, cả tấm thân đang tàn lụi dần : chúng ta cũng có thể nói rằng đây là một người cầu kinh, ông nguyện cầu suốt năm canh mà không hề chợp mắt.
Để nói điều đó chúng ta có những dẫn chứng mang tính chất lịch sử.
Câu 1A cho chúng ta một lời giới thiệu mang đậm tính lịch sử, một thời lịch sử cách chúng ta nhiều thế kỷ, đó là thời vua Đa - vít lúc ông sống trong sa mạc cùng với một đám tùy tùng sống sót : họ bị Saul rượt đuổi, Đa - vít ước ao tìm lại Thánh Điện, một nơi ẩn náu, ông khát khao Thiên Chúa, vị Cứu tinh duy nhất có thể cứu được ông.
Câu thứ 3 lại làm cho chúng ta nghĩ tới một hoàn cảnh tổng quát hơn, đây là một tín hửu đang bị thử thách, bị bắt bớ, ông tìm một nơi trú ẩn trong thánh điện để lánh sự trả thù của địch thù : "Con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện, để thấy uy lực và vinh quang của Ngài."
Tác giả của thánh vịnh này cũng có thể là một vị vua nào đó bị bại trận đang cần tới một nơi ẩu náu, một sự giúp đỡ: "những kẻ tìm hại mạng sống con… ước gì chúng bị quẳng xuống lòng đất,… và Đức vua sẽ vui mừng trong Thiên Chúa, ai lấy danh Ngài mà thề sẽ được hiên ngang." ( câu 10 và 12).
Có lẽ mọi người trong chúng ta đều khám phá ra rằng 3 câu cuối của thánh vịnh này không xuất hiện trong các bản văn chính tông của phụng vụ, ba câu này được xem là bạo lực và thù hằn.
Như vậy, đối với câu hỏi: ai là người hát thánh vịnh này, chúng ta có thể trả lời rằng đây là một số đông người : có thể là vua Đa - vít, có thể là một tín hữu, hay một ông vua nào đó bị rượt đuổi đang tìm một nơi ẩn náu và một sự trợ giúp, cũng có thể là một ai đó đang cầu nguyện trong đề thờ, cũng có thể là mỗi một người trong chúng ta, bởi vì chính các con, chính cha, chúng ta thường đọc thánh vịnh này.
Qua tư cách của một người cầu kinh trong thánh vịnh này, cha nhận ra chính mình, hay cha có thể so sánh rằng tư cách của một người cầu kinh là thái độ của cha.
Như vậy từ "con" trong thánh vịnh này mang một ý nghĩa phổ quát.
Tư cách nhân sinh nào được biểu tả, và biểu trưng cụ thể nào được ca vịnh viên sử dụng trong thánh vịnh này?
Đấy là những tư cách của một người đang tìm kiếm tình yêu. Nếu chúng ta lướt qua tất cả các câu, từng câu một, chúng ta thấy những tình cảm của một kẻ si tình : con tìm kiếm Ngài, tâm hồn con mòn mỏi đợi trông, con khát khao Ngài, không có Ngài con trở thành mảnh đất khô cằn không giọt nước ; con muốn ngắm nhìn Ngài, ôm chặt Ngài, nương tựa vào Ngài cho tới lúc thỏa thuê, con tưởng nhớ tới Ngài trên giường ngủ, Ngài làm cho con hớn hở, con chúc tụng Ngài, chúc tụng vinh danh Ngài. Yêu mến Thiên Chúa như vậy, một cách nồng nàn như vậy, thật rất quan trọng trong đời sống thiêng liêng.
Trong những thời điểm nào thì những tình cảm đó xuất hiện?
Những tình cảm này xuất hiện khi người ta mơ mộng. Vào buổi bình minh, đây là lúc những mộng tưởng được hình thành, khởi đầu cho những công việc trong ngày. Rồi sau đó, trong suốt đêm trường: "trong đêm trường, con thầm nghĩ tới Ngài.". Đêm khuya là thời gian của những nổi lo sợ, của sự cô đơn, của sự truy tìm ý nghĩa về cuộc đời.
Trong hai điểm thời gian này, những mộng ước trái ngược của chúng ta thường trổi dậy trong con người chúng ta: những mộng ước đầy khát khao, đầy hy vọng, rồi những mộng ước, bị ức chế bởi sự sợ hãi, đang khao khát chờ mong trợ giúp của Một Ai đó.
Những tình cảm này được thể hiện theo tuần tự nào?
Trong thánh vịnh 62 này chúng ta thấy rất nhiều cảm xúc từ đáy tim tuôn trào ra một cách rất tự nhiên. Thánh vịnh 62 này còn có một cấu trúc khá rõ rằng, chúng ta có thể chia ra làm ba phần.
- phần thứ nhất (từ câu 2 đến câu 4) bản tình ca khát khao Thiên Chúa những hình ảnh diễn tả tình cảm này là : khát, nước, ước muốn cháy bỏng.
- Phần thứ hai (từ câu 5 đến câu 9) bản tình ca no thỏa tình Chúa, ở đây chúng ta thấy xuất hiện những hình ảnh diễn tả những buổi yến tiệc : sự thỏa thuê, miệng lưỡi, niềm vui và lời chúc tụng, tán dương, những hành vi này quả thực chỉ có trong những buổi đại tiệc ; sự khát khao, và no thỏa là những yếu tố khát vọng của con người.
- Phần thứ ba (từ câu 10 đến câu 12) bản tình ca về sự phán xét của Thiên Chúa, chúng ta có thể nói như vậy bởi vì ai khát khoa Thiên Chúa thì sẽ được giải khát, ai đói lòng Thiên Chúa thì sẽ được thỏa thuê, vì chính Ngài là Người chiến thắng bao địch thù. Những hình ảnh : vực sâu lòng đất, gươm giáo, muông sói, sự hoan hỉ của Đức Vua toàn thắng, rồi tới sự thất bại của kẻ thù, bộc tả cho chúng ta ý nghĩa ở trên.
Như vậy thánh vịnh này cho chúng ta một trật tự gồm ba phần : khao khát, đói lòng, và khải hoàn ; bản tình ca khát khao Thiên Chúa, bản tình ca đói lòng Thiên Chúa, và bản tình ca về sự phán xét của Thiên Chúa.
admin
28-07-2006, 08:59 PM
** Thánh vịnh này mô phỏng Thiên Chúa qua những hình nào?
Như chúng ta thấy ca vịnh viên trong thánh vịnh này là người phát ngôn, là người cầu nguyện, là người hát xướng, là người nhìn ngắm Thiên Chúa bằng một cử bộ như một kẻ si tình, là một người ngắm nhìn tình lang của mình.
Như vậy hình ảnh thứ nhất về Thiên Chúa được tác họa ở đây là hình ảnh của một Thiên Chúa phải lòng, là Thiên Chúa được yêu quí hơn là mạng sống của con người ; đây là Thiên Chúa, là Người giải khát cho những ai tìm kiếm Ngài ; là một Thiên Chúa mà con người có thể trở nên một trong Ngài, Ngài là chổ tựa đầu mà con người có thể tựa lên, là nôi lòng ủ ấp bao người.
Chúng ta cũng có thể mường tựng rằng đấy là một người nào đó đang đi trong rừng sâu, ông bước đi trên một con đường nhỏ hẹp, khó đi và hiểm trở, và ông cảm thấy có một bàn tay mạnh mẽ dẫn dắt ông và bảo vệ ông.
Theo cha, tất cả những gì được diễn đạt trong thánh vịnh này có thể tóm lại trong câu nói rất chí lý của Thánh Gregoire de Naziance, giám mục và tiến sĩ Hội Thánh, qua đời vào khoảng năm 390: "Deus sitit sitiri", "Thiên Chúa là Đấng được mọi người khát khao yêu mến bằng tấm lòng khao khát cháy bỏng."
Chính vì vậy cho nên lúc nãy cha nói rằng người hát thánh vịnh này là một kẻ si tình của Tình Chí Thánh : ông có những phút xuất thần, chính những giây phút này làm thỏa mãn lòng khao khát, làm vững chắc tinh thần, và đem lại sức mạnh để có thể lướt thắng những thử thách nội tại cũng như ngoại tại ; đấy là những giây phút khát vọng và thỏa thuê.
Phần II : Meditatio
Trong suốt phần một, phần Lectio, chúng đã một phần đề cập tới phần này, phần Meditio. Cha xin được gợi hai ý suy nghĩ, ngắn nhưng quan trọng.
1. Điều gợi ý thứ nhất, khi đọc thánh vịnh 62 chúng ta thấy đó là một lời nguyện, lời nguyện này hướng dẫn chúng ta tìm ra đâu là một lời nguyện đích thực phất xuất từ tâm hồn, ít ra là một kinh nghiệm về tình yêu của con người, hay hơn thế nữa. Tâm tình này được diễn tả qua thân thể, tấm thân, miệng lưỡi, chân tay, niềm vui hới hở, niềm hạnh phúc, tình cảm sâu kín.
Nói cách khác, tất cả chúng ta không trừ ai đều được mời gọi trở nên những tình nhân của Thiên Chúa. Mỗi người có thể tự hỏi : lúc tôi cầu nguyện, hỏi rằng tôi có những tâm tình này hay không ? Tôi có khao khát mến yêu Thiên Chúa hết lòng hay không, hay tôi có muốn Thiên Chúa giúp tôi đạt được tâm tình này không?
2. Điều gợi ý thứ hai, điều này nằm trong phần cuối của thánh vịnh : cầu nguyện là sức mạnh trong cuộc sống: " Ngài ra tay trợ lực,…cánh tay Ngài nâng đỡ phù trì…những người tìm hại mạng sống con…sẽ bị gươm giáo phanh thây." Yêu mến Thiên Chúa có nghĩa là đặt niềm tin yêu nơi Ngài, là tựa nương vào Ngài, bởi vì Ngài là sức mạnh của chúng ta.
Từ đó chúng ta rút ra câu hỏi : đâu là nỗi sợ hãi của tôi ? Tôi đã trình bày những nổi sợ hãi này như thế nào trong lời nguyện cầu của tôi để rồi tôi cảm được rằng Thiên Chúa là sức mạnh của tôi.
Ý cầu nguyện
Để đi sâu vào phần nguyện gẫm, oratio hay contemplatio, chúng ta cần phải, sau một khoảng khắc thinh lặng sâu lắng, trao đổi với nhau, trong Đức Tin, một cách tự do những ý nghĩ của chúng ta được hình thành thông qua thánh vịnh này, và sau đó, chúng ta diễn cảm những lời nguyện tự phát.
Trong rất nhiều lần cầu nguyện với giới trẻ bằng thánh vịnh 62 này, cha đã ghi lại một lời rất hay dưới đây:
" Lạy Thiên Chúa, kiếm tiền, con chẳng màng đâu,
tìm địa vị, con coi khinh,
theo gái, con chẳng thèm,
tìm một cuộc sống yên ổ, con chẳng cần,
Con muốn yêu! Chẳng lẽ Ngài không giúp con làm điều đó sao?"
Thầy Huyền a.a. lược dịch ý của Đức Hồng Y Martini từ bản tiếng Pháp
admin
28-07-2006, 09:02 PM
Thánh Vịnh 84, 1-14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 84:1-14&FontSize=Txt10) (85)
Chẳng phải Ngài là Đấng sẽ đến sao?
Thánh vịnh 84 được lặp lại thường xuyên vào thời gian trước mùa Noel, trong phụng vụ, người ta thường dùng thánh vịnh này để hát song ca, đi liền sau đó là bài đọc một, ví dụ như Chúa Nhật Thứ Hai mùa Vọng năm B.
Thánh vịnh này, thực ra, nói về " đất hứa" mảnh đất "sinh hoa trái", nói về " Vinh Quang" vinh quang này chiếu tỏa trên chúng ta, lại nói về "ơn cứu độ," ơn cứu độ đang ở bên cạnh chúng ta; hoa trái này, ơn cứu độ này, vinh quang này là chính Chúa Giê - su.
Cha xin được phép liên hệ thánh vịnh này với một vài kỷ niệm cá nhân của cha, những kỷ niệm này cũng có thể gợi lại những kỷ niệm tương tự của một số các bạn trong chúng con, những người có kinh nghiệm cầu nguyện bằng thánh vịnh.
Trong thập niên 80, cha có thói quen là liên hệ số thánh vịnh với hai số cuối trong năm : ví dụ như vào năm 1984, thì cha dùng thánh 84 như là lời nguyện suốt cả năm của cha. Thập niên 80 là một khoảng thời gian có nhiều sự kiện, những sự kiện này nhắc nhở cha tạ ơn Chúa và ca tụng Ngài: sự kiện thứ nhất, Đức Thánh Cha Gio - an Phao - lô Đệ Nhị viếng thăm thành phố Mi - Lan, sự kiện thứ hai, kỷ niệm 400 ngày qua đời của thánh Charles Borromes, sự kiện thứ ba, hội nghị về chương trình giáo lý ở Busto Arsizio, sự kiện thứ bốn, sự chuẩn bị cho hội nghị của Giáo Hội Ý với chủ đề: Hòa Giải. Chính vì vậy, đối với cha, những thành ngữ trong thánh vịnh này, như: " Lạy Chúa, Ngài tỏ lòng thương thánh địa,... tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ,... Ngài nguôi cơn thịnh nộ.", là những lời có mối liên quan mật thiết với những biến cố ở trên.
Còn một kỷ niệm khác cũng có sự liện hệ với thánh vịnh 84 này là : vào năm 1988, năm chuẩn bị Hội Nghị Đạt Kết Liên Tôn ở thành phố Bale. Đấy là lần đầu tiên có sự hiện diện đầy đủ của các phái giáo tin lành, chính thống giáo, các địa phận khắp châu âu tụ họp cùng nhau cầu nguyện và suy nghĩ về chủ đề " Công lý, Hòa bình, và bảo vệ sự Sáng Tạo." Người ta nhờ cha đặt một câu khẩu hiện cho Hội Nghị xem như là câu nòng cốt để đứng vững tước thử thách đang xẩy ra trong thực tế. Rất tự nhiên, từ trong tâm cha, một câu thánh vịnh được xuất khẩu : " Hòa bình Công lý đã giao duyên", và câu khẩu hiệu này được lặp đi lặp lại trong suốt Hội Nghị và trong những giờ cầu nguyện. Như các con thấy đó, những lời ca trong thánh vịnh luôn ẩn hiện trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, trong những biến cố của cuộc đời, và cha hy vọng rằng các con cũng có thể đọc và suy gẩm bằng những thánh vịnh như vậy để cảm được cuộc đời và lịch sử riêng tư từng cá nhân.
admin
28-07-2006, 09:04 PM
Chúng ta tuần tự khai thác thánh vịnh này theo các bước như sau:
Phần I : Lectio
Chúng ta ghi nhận rằng chúng ta đang ở trong một nhóm cầu ngyện chung, không phải cá nhân ; đây là một lời nguyện cầu của một " tập thể", của một quốc gia. Đây là lời khẩn cầu của một quốc gia, cùng đồng lòng cầu xin Thiên Chúa: " Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng con về, đừng giận chúng con nữa."
Lời nguyện của thánh vịnh này sẽ phù hợp trong những hoàn cảnh nào?
Nếu như chúng ta ngừng lại ở câu 2, 3 và 4, chúng ta có thể nói rằng đó là một lời nguyện ca tụng và ngợi khen, là một thánh vịnh mang đậm sắc thái lịch sử nhắc lại những hồng ân mà Thiên Chúa đã làm : " Ngài yêu mến thánh địa, Ngài dẫn tù nhân nhà Gia - cóp trở về; Ngài tha thứ mọi lỗi lầm, phủ lấp đi mọi tội lỗi, Ngài dẹp trận lôi đình và nguôi cơn thịnh nộ."
Tuy nhiên, ở câu thứ năm, phần trung tâm của thánh vịnh, tông điệu được thay đổi, ở đây, lời nguyện trở nên một lời van xin thống thiết : " Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng về, đừng giận chúng con nữa. Rồi những lời chất vấn ở câu 6 và 7 cũng là những câu hỏi rất ai oán : " Phải chăng Ngài giận mãi không thôi? Nào chẳng phải chính Ngài là Đấng làm cho chúng con được sống, để dân riêng của Ngài được hỉ hoan ?"
Như vậy chúng ta có mặt tại một buổi cầu nguyện của một dân tộc, của một cộng đoàn, cộng đoàn này, dân tộc này đang trải qua những thời buổi khó khăn, họ đang sống trong một tình trạng chán nản mới ập tới sau một khoảng thời gian chất chứa đầy hy vọng, câu số 2 miêu tả tâm trạng đó: " tù nhân nhà Gia - cóp Ngài dẫn đưa về." Cuộc lưu đày chấm dứt, những tù nhân quay trở về với mộng ước xây lại Đề Thánh, xây dựng lại các tường thành: nhưng ngày qua ngày, họ cảm thấy rằng lòng phấn khởi nhiệt thành không đủ để thực hiện mộng ước, thực tế vẫn là thực tế, thực ra, thực tế còn khó khăn gấp ngàn lần họ tưởng; việc xây dựng Đề Thánh ngày càng trì trể bởi vì tài chánh và vật liệu xây dựng thiếu thốn, hơn nữa, trong nội bộ lại có sự mâu thuẩn, sự rút lui, và sự chán nản.
Lời nguyện của thánh vịnh này phù hợp trong những chuổi ngày lúc mà cộng đoàn đang trong tình trạng thiếu vắng nghị lực, trong những tháng ngày mà giấc mơ của cộng đoàn trở nên khác đi, một cộng đoàn hoàn toàn khác trước, một cộng đang tìm kiếm một kiểu sống mới, kiểu sống tập thể, từ câu 9 đến câu 14 cho chúng ta thấy điều đó.
Cung điệu của thánh vịnh này là cung điệu của lời nài xin thống thiết, lời khẩn cầu này bám trụ vào kỷ niệm về những ân huệ mà Thiên Chúa đã làm. Hình như lời nguyện này ý muốn kiêu cầu Thiên Chúa tăng thêm nghị lực mới, lòng nhiệt tình mới, niềm vui mới mà mọi người đang đón chờ, và họ khẩn cầu ơn cứu độ mau tới. Lời khẩn cầu của cộng đoàn này quả thực cũng là lời khẩn cầu của biết bao nhiêu cộng đoàn của chúng ta.
Đâu là vần điệu, đâu là tính năng động trong thánh vịnh này?
Chúng ta có thể chia ra làm ba phần: quá khứ, hiện tại, và tương lai.
Từ câu 2 đến câu 4, các động từ ở thì quá khứ, những động từ này nhắc tới những ân huệ mà Thiên Chúa đã làm trong quá khứ. Chúng ta thường gặp khó khăn khi dịch tiếng Do Thái sang ngôn ngữ khác. Nhưng dù sao đi nữa dùng thì quá khứ để mô phỏng tiếng Do Thái cũng không sai nhiều cho lắm. " Ngài đã yêu mến, Ngài đã dẫn đưa về, Ngài đã gội bỏ hết những lỗi lầm, Ngài đã tha thứ, Ngài đã nguôi giận, nguôi cơn thịnh nộ." Ký ức về những gì Thiên Chúa đã thực hiện gợi lên những lời tán tụng và niềm hy vọng của ngày hôm nay.
Trong phần thứ hai, lời khẩn cầu được diễn tả ở thì hiện tại: " Xin làm chúng con trở về, hãy quên đi, hãy tỏ hiện, ban tặng, cho chúng được thấy." Chúng ta gặp những động từ này trong các câu từ câu 5 đến câu 8, đây là những câu tâm điểm của thánh vịnh này.
Trong phần thứ ba, từ câu 9 đến câu 14, ở đây có một cái nhìn về tương lai; phần này miêu tả một niềm hy vọng trong tương lai, một tương lai sẽ ban tặng bởi lời khẩn cầu; người cầu xin, hay một cộng đoàn nào đó đang cầu xin chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ lắng nghe tiếng họ kêu cầu. Trong nhiều bản dịch, các động từ đều ở thể tương lai: " Tình yêu và chân lý sẽ gặp gỡ, hòa bình và công lý sẽ giao duyên, chân lý sẽ mọc lên từ đất thấp, và công lý sẽ hạ xuống từ trời cao."
Chúng ta cảm thấy rằng thánh vịnh 84 là một sấm ngôn của Đức Chúa : " Phải chăng tôi lắng nghe những gì Thiên Chúa sẽ nói với tôi ?" và quả thực sấm ngôn của Đức Chúa không gì khác ngoài hòa bình, ơn cứu độ, vinh quang, lòng từ bi, chân lý, cái chân cái thiện, và công lý.
Tính năng động trong thánh vịnh này cũng là tính năng động của một lời nguyện cầu: cảm tạ, kêu cầu, khẩn khoản, hy vọng, hy vọng trong tương lai Thiên Chúa sẽ giúp đỡ tôi, tôi ngắm nhìn Ngài bằng cả tâm tình và lòng tin yêu tín thác của tôi, bởi vì Thiên Chúa là Cha của tôi.
admin
28-07-2006, 09:04 PM
Sau đây cha muốn lưu ý với các con một vài từ ngữ đặc biệt được sử dụng trong thánh vịnh này. Những từ này thường bị lãng quên lúc chúng ta đọc nhanh thoáng qua, không để ý, thực ra những từ này lại là những từ chìa khóa của thánh vịnh này.
Thứ nhất là động từ shuv, có khoảng năm lần lặp đi lặp lại trong bản văn tiếng do thái. Động từ này có ý nghĩa là " trở về quá khứ, quy chính, quay trở về, thay đổi đường hướng," : ví dụ trong những câu : " Ngài đã dẫn về ( câu 2), Ngài đã trở lại (câu 4b), Hãy cho chúng con trở về ( câu 5), chẳng phải chính Ngài là Đấng sẽ đến? (câu 7), ước gì chúng con đừng quay trở về những điều dại dột của chúng," ( câu 9c).
Sự quay trở về đó có những ý nghĩa như sau : trở về từ cảnh lưu đày, hướng tâm hồn về Thiên Chúa, Thiên Chúa lại yêu thương dân Ngài, Ngài đã quên giận, Ngài trở lại với dân của Ngài. Chủ đề này giống như một sợ chỉ vàng xuyên suốt trong thánh vịnh này. Dĩ nhiên, cần phải biết tiếng do thái để thưởng thức cái tinh tế của thánh vịnh này; bởi vì cùng một gốc từ của động từ shuv người ta có thể sử dụng để diễn đạt nhiều ý nghĩa khác nhau, gốc từ này liên kết rất chặt chẽ câu này sang câu khác.
Trong phần đầu thánh vịnh và ở phần cuối thánh vịnh, chúng ta còn thấy một từ khác cũng rất căn bản, đó là từ " đất hứu", từ này trong tiếng do thái có một giá trị rất sâu sắc : " Ngài yêu mến thánh địa... đất chúng ta trổi sinh hoa trái, ... tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, ... vinh quang của Ngài chiếu tỏa trên đất nước chúng ta." Đất hứu là nơi Thiên Chúa mạc khải lòng tốt của Ngài, sự hiện diện cụ thể, tại một vùng địa lý và một hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở đó tình yêu Thiên Chúa được bộc lộ.
Và nơi đó cũng chính là nơi Chúa Giê - su sinh ra, mảnh đất Bethelem, hay Giê-ru-sa -lem, mảnh đất nơi Ngài chịu đóng đinh và nơi Ngài sống lại. Linh đạo kinh thánh cũng sinh ra từ mảnh đất này, đấy là mảnh đất nhập thể bởi vì ở đó Bình An của Thiên Chúa được triển nở.
Chúng ta cũng tìm thấy trong thánh vịnh này những từ có nguồn gốc hay thuộc về nhóm từ " giao ước". Chúng ta thấy từ " ơn cứu độ" được lặp đi lặp lại nhiều lần : " Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con,...( câu 5), ...ban ơn cứu độ cho chúng con ( câu 8), Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho những ai kính sợ Chúa. ( câu 10)".
Quả thực, địa cầu là nơi Thiên Chúa tỏ hiện ơn cứu độ của Ngài, ơn cứu độ Mê-si-a, ơn cứu độ của Giao Ước. Ơn cứu độ này còn được biểu tả trong các thuật ngữ khác : ví dụ như " lòng từ bi, chân lý, công lý, hòa bình,". Những cụm từ này, bằng một cánh nói nào đó, làm thành một chuổi Giao Ước thánh.
Cha sẽ chỉ cho các con thấy làm sao ca vịnh viên đã sử dụng một cách tài tình những cụm từ này trong nhiều lần và nhiều nơi, chúng ta lấy thí dụ như từ " hòa bình" chẳng hạn, từ này là một trong những từ đặc biệt của tiếng do thái; từ này được sử dụng trong câu 9: " ... điều Chúa phán là lời chúc bình an", và ở câu 11 : " ...hòa bình công lý đã giao duyên." Từ này còn có cùng một ý nghĩa na nán với những từ khác ví dụ như những từ : " lòng từ bi, chân lý, công lý, vinh quang, tốt lành, hay hoa trái." Những từ mang ý nghĩa tích cực đó cho chúng thấy rằng Thiên Chúa yêu mến chúng ta biết là dường nào, Thiên Chúa gần gũi chúng biết là dường nào, Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Nói tóm lại, thánh vịnh 84 là một tiểu luận thần học về lịch sử ơn cứu độ, chúng ta có thể đọc thánh vịnh này trước hang đá, chúa Hài Đồng Giê-su là chân lý mọc lên từ đất thấp, trong khi đó, công lý nhìn xuống từ trời cao được cất lên từ môi miệng của các thiên thần, và bình an cho thế giới được loan báo từ đất thấp.
admin
28-07-2006, 09:05 PM
Phần II : Meditatio
Một lộ trình hiểu biết về Thiên Chúa được mạc khải cho chúng ta, đó là lộ trình nào?
Lộ trình này quả thực được minh bạch trong cách sử dụng các thì của các động từ trong thánh vịnh này. Qua cách sử dụng các thì đó, chúng ta khám phá ra rằng sự hiểu biết về Thiên Chúa không phải lúc nào cũng rõ ràng minh bạch như chúng ta hằng tưởng.
Mầu nhiệm thánh luôn luôn vượt trên sự hiểu biết của chúng ta. Người ki -tô hửu hiểu biết được sơ đẳng về mầu nhiệm thánh này là nhờ vào đức tin, nhờ vào lời cầu nguyện, nhờ vào các bí tích, nhờ vào cuộc sống chứng nhân. Mầu nhiệm thánh chỉ mạc khải cho chúng ta xuyên suốt dòng lịch sử và qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau; nói cách khác sự hiểu biết về Thiên Chúa luôn xẩy ra trong ánh sáng cũng như trong bóng tối, trong những tháng ngày và trong đêm trường.
Có những lúc sự hiểu biết đó được tỏa sáng, đó là thời điểm hồng ân. Ơ vườn Địa Đàng Eden, Adam hiện kiến dung nhan Thiên Chúa, cũng thế ông Abraham thì giàu có về trâu bò và đầy tớ, còn ông Gia - cóp thì đầy phú quí và con cái.
Nhưng rồi có những lúc nổi bất hạnh ở đâu ập tới, những thời điểm tối tăm mờ mịt ập tới, những đêm trường tối đen ập tới. Những nổi bất hạnh đó ập tới trên đầu chúng ta, hoặc là do tội lỗi chúng ta ( ví dụ như Adam bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng bởi vì không vâng lời Chúa) hoặc là không phải do con người ví dụ như ( Thiên Chúa thử thách ông Abraham khi yêu cầu ông dâng đứa con trai một yêu quí của ông, hay ông Job bịt tức hết của cải và ốm liệt giường.) Những lúc như thế chúng ta cảm thấy Thiên Chúa vắng mặt.
Tuy nhiên, trong thử thách, chúng ta không ngừng ngợi ca Chúa, tín thác vào Ngài, và cầu khẩn Ngài. " Chẳng lẽ nào Ngài hằng giận chúng con luôn mãi?" Thiên Chúa nhất định sẽ đến, sẽ tha thứ và sẽ trợ giúp.
Thiên Chúa sẽ đến bởi vì trong phần ba của thánh vịnh này chúng thấy : niềm vui, ánh sáng, bình an và hoa trái. Chính nhờ vào những khoảng khắc buồn vui lẫn lộn, những khoảng khắc tranh tối tranh sáng đó mà chúng ta nhận ra Thiên Chúa, một Thiên Chúa vượt trên những gì chúng ta qui chiếu về Ngài; chúng ta biết được rằng Ngài là Cha của chúng ta, chúng ta đặt niềm tin tưởng nơi Ngài, đặt tin tưởng vào Ngài chứ không phải vào bản thân chúng ta, với Ngài chúng ta hoàn toàn nhẹ nhàng từ bỏ những gì không đem lại hạnh phúc đích thực, chúng ta từ bỏ tính tự phụ tự kiêu, và chúng ta hiểu ra rằng sử dĩ chúng ta biết được những điều đó là nhờ ơn Chúa, sự hiểu biết đó đến từ Thiên Chúa.
Phải hiểu như thế nào khi chúng ta nói Thiên Chúa nổi giận?
" Phải chăng Ngài giận mãi không thôi, đời lại đời cứ nuôi cơn thịnh nộ?", trong Thánh Kinh chúng ta gặp không ít lần Thiên Chúa nổi giận : cơn giận của Đức Chúa thường xẩy ra trong những lúc loài người ở trong tình trạng tội lỗi, trong sự yếu đuối, mảnh giòn, và trong tính kiêu kỳ tự mãn. Nhưng nếu như Ngài giận chúng ta không phải là Ngài bỏ rơi chúng ta, thực ra Ngài muốn tinh luyện chúng ta để chúng ta nhận ra Ngài đúng mực hơn, và chúng ta sẽ nhận ra Ngài trong chân lý.
Thánh vịnh 84 muốn nói với chúng ta rằng : trong những lúc gian nguy và thử thách, hạnh phúc cho ai vẫn kiên trì cậy trông vào Chúa và hy vọng vào Ngài.
Ý Cầu Nguyện
Sau khi đã hoàn thành hai phần; phần Lectio và phần Meditio, chúng ta hãy cùng nhau làm một lời nguyện ngắn. Chúng ta cùng đọc lại các câu, từ câu 2 đến câu 4 và cùng nhau làm cho những câu này trở thành một lời nguyện cá nhân và cụ thể hóa chúng theo hoàn cảnh của mỗi người : nếu như tôi phải viết lại những câu này, hay tôi phải tóm tắt những câu này trong một từ thì tôi phải làm như thế nào? Có lẽ các bạn sẽ thổ lộ như thế này : Lạy Chúa Trời là Chúa của con, Ngài yêu con rất nhiều; hoặc các bạn nói : Cảm ơn Chúa, vì Ngài tha thứ lỗi lầm của con.
Kế tiếp, chúng ta đọc lại những câu, từ câu 5 đến câu 8. Bằng lời lẽ cá nhân của tôi, tôi sẽ biểu đạt một lời cầu khẩn giống như lời khẩn cầu trong thánh vịnh này : " Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ con, xin dẫn chúng con về, đừng giận chúng con nữa. Xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con. Phần tôi, từ trong thâm tâm tôi, tôi kêu xin Ngài điều gì?
Sau đó, chúng ta, một lần nữa, đọc lại phần còn lại của thánh vịnh, từ câu 9 đến câu 14. Các bạn tự đặt cho mình những câu hỏi, chẳng hạn như : tôi ước ao điều gì cho tương lai của tôi ? Đối với tôi, câu : " công lý và hòa bình nay hội ngộ" có ý nghĩa như thế nào? Trong khi đó, trong trí của bạn, có lẽ, hiện ra không biết bao hình ảnh về chiến tranh, hay những cuộc cãi vả của những người chung quanh mà bạn thường gặp, hay những kẻ thường làm điều xấu, và còn nữa, những nổi bất hạnh của chính bạn, thử hỏi, bạn có giám nói là bạn sẽ bình an chăng?
Sau đây cha kết thúc bài chia sẻ này bằng một lời nguyện với Chúa Giê - su, bởi vì thánh vịnh này, một cách nào đó, nói về Ngài, nói về Giáo Hội, nói về ánh sáng mạc khải của Thiên Chúa, những gì đề cập trong thánh vịnh này đều được đề cập trong Tân Ước. Lạy Chúa Giê-su, Ngài là hoa màu rộng đất của chúng con, Ngài vinh quang chiếu sáng dân gian. Trong Ngài, chúng con tìm thấy chân lý và tình thương. Trong Ngài, công lý và bình an hội ngộ. Ơn cứu độ của Ngài ở cạnh kề chúng con, những người yêu mến và kính sợ Ngài. Ước gì tất cả mọi người đều trở nên anh em trong tình thương của Ngài, lạy Ngài, chúng cầu khẩn Ngài.
Thầy Huyền a.a. lược dịch ý của Đức Hồng Y Martini từ bản tiếng Pháp
admin
28-07-2006, 09:10 PM
Tv 22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 22&FontSize=Txt10)
Trước hết chúng ta cùng đọc lại Thánh Vinh 22 rất hay và hàm chứa nhiều nội dung tâm tình. Đại triết gia Henri Bergson từng nói rằng : " tôi đã đọc trăm ngàn cuốn sách, nhưng không một cuốn nào cho tôi nhiều ánh sáng và nhiều an ủi cho bằng những vần thơ của Thánh Vịnh 22 này ;
Thánh Vịnh 22 là một bài thơ rất súc tích nhưng chứa đựng nhiều hình ảnh cụ thể ; những hình ảnh rất đời thường và thậm chí rất chân quê : đồng cỏ, dòng nước, ly rượu, dầu thơm.. Nhưng hai hình nổi bật hơn cả đó là : Hình ảnh thứ nhất là hình ảnh vị " MỤC TỬ " được đề cập rất đậm nét trong phần một ( từ câu 1 đến câu 4), và hình ảnh thứ hai cũng không kém phần quan trọng đó là hình ảnh " Ông chủ tiệc khách, " (câu 5).
Phía sau hai hình ảnh " Mục Tử " và " Chủ Tiệc ", Thánh Vịnh 22 còn hàm chứa một điều gì khác nữa, điều đó rất giá trị, rất cần thiết và rất quan trọng trong cuộc sống, đó là " lòng tự tin ". Khi đọc Thánh Vinh này chúng ta tìm được một niềm tự tin thực trong tâm hồn. Tại vì sao ? Tại vì chúng ta thấy trong thánh vịnh này có một mối tương quan thân thiện và đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người.
Về phía Thiên Chúa : Ngài là vị Mục Tử nhân hậu, Ngài cho tôi nghỉ ngơi, Ngài chăn dắt tôi, Ngài hướng dẫn tôi, Ngài bảo vệ tôi, Ngài bổ sức cho tôi, Ngài dọn tiệc cho tôi, Ngài xức dầu thơm trên đầu tôi. Qua những hành vi thật êm ái, thật ân cần và thật chu đáo ấy, chúng ta cảm thấy thật an tâm vững dạ. Chúng ta giám quả quyết rằng Thiên Chúa là Người chăm sóc, lo lắng cho chúng ta. Chúng ta giám nói rằng : tôi chẳng thiếu thốn gì, tôi chẳng sợ hãi gì bởi vì ly rượu của tôi đầy tràn chan chứa, cuộc đời của tôi được bao bọc và chở che bởi bàn tay nhân hậu của Chúa, và suốt cuộc đời của tôi được cư ngụ trong cung điện của Ngài trong những ngày tháng những năm dài triền miên.
Trong cuộc đời, không ít thì nhiều, bạn cũng như tôi, chúng ta gặp rất nhiều điều bất hạnh : cô đơn, thất bại, chán chường, đau khổ, thất vọng ….. Trong những lúc đen tối đó bạn hãy mở TV 22, bạn sẽ tìm thấy liều sinh dược hiệu năng vô cùng quí giá, liều sinh dược đó là niềm ủi an và lòng tự tin. TV 22 là một lời kinh tuyệt vời bởi vì khi chúng ta hát hay đọc TV này chúng ta cảm được sự hiện diện linh thiêng của Tình Yêu tuyệt đối, một sự hiện diện cận kề và gần gũi.
Thầy Phê-rô Huyền , AA
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.