admin
31-07-2006, 05:51 PM
NGƯỜI MẸ TRONG GIA ÐÌNH CÔNG GIÁO
Bà Thérèse Trinh
Gia đình là tế bào đầu tiên, là nền tảng của xã hội và Giáo Hội. Ba phần tử cốt yếu trong gia đình là cha mẹ và con cái. Giữa cha mẹ, thì có thể nói mẹ như nền, mà cha là mái nhà. Ca dao Việt Nam đã nói lên tính cách quan trọng của người phụ nữ, như: "Phúc đức tại mẫu". Hay "Con khôn tại mẹ, cháu hư tại bà". Trong thực tế, thì người cha lo vật chất, lo cơm ăn áo mặc. Người mẹ lo giáo dục cho con nên người đạo hạnh và giữ nề nếp gia phong.
Người phụ nữ trong gia đinh công giáo mang một ý nghĩa cao qúi hơn khi tìm hiểu rõ về mục đích hôn nhân : "Hai bên sẽ nên một về sinh lý, tâm lý, xã hội, và đạo đức. Kết quả là một tổ chức vững chắc không phải tự ý riêng của đôi bên, nhưng theo ý định của Thiên Chúa. Tổ chức này có nhiều mục đích và mưu ích không những cho đôi bên mà còn cho gia đình và xã hội nữa" (Hc. Vui Mừng và Hy Vọng. số 48, 53*).
Căn cứ vào đạo giáo Việt Nam và giáo huấn của Giáo Hội trên, dưới đây xin khai triển về "Người mẹ trong gia đình công giáo".
MONG MUỐN CỦA GIÁO HỘI
Thiên Chúa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. "Bởi đó, vợ chồng kitô hữu được củng cố và như một thánh hiến bằng một bí tích riêng để lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình họ. Nhờ đó, tất cả đời sống họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến và càng ngày họ càng gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau" (Hc. Vui Mừng và Hy Vọng. 48).
Trong phần lời nguyện tạ ơn của lễ hôn phối, chủ sự cất cao lời cầu cho người vợ : “Lạy Cha chí thánh, cha đã tác tạo con người giống hình ảnh Cha và dựng nên có nam có nữ, lại phối hợp cả hai nên một về tinh thần cũng như thể xác, để vợ chồng cùng nhau chu toàn nhiệm vụ trần gian. Lạy Cha là Thiên Chúa hằng hữu, để mặc khải chương trình yêu thương của Cha, Cha đã lấy tình phu phụ làm biểu hiệu giao ước, Cha sẽ ký kết với dân riêng. Như vậy, nhờ sống đầy đủ ý nghĩa của bí tích, đôi tân hôn diễn tả được mầu nhiệm Đức Kitô kết hợp với Hội Thánh... Vậy giờ đây, xin Cha đổ muôn phúc lành xuống chị... và giúp chị... biết chu toàn nhiệm vụ làm vợ và làm mẹ, biết trau dồi tiết hạnh, lấy tình yêu thanh khiết mà làm cho gia đình thêm ấm cúng, lấy khả ái hiền hòa làm rạng rỡ gia phong”.
Thánh Phaolô đã chỉ cho chúng ta thấy mối liên quan sâu xa giữa hôn nhân và mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội : vợ chồng yêu thương nhau (Eph 5, 21-22), con cái hiếu thảo, cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái (Ep 6, 1-4), vợ chồng kính trọng nhau và đừng làm phật lòng nhau. Con cái vâng lời cha mẹ, cha mẹ đừng làm con cái nản lòng (Cl 3, 18-21). Thánh Phêrô khuyên vợ chồng ăn ở thuận hòa, giữ thanh khiết trong ơn nghĩa Thiên Chúa (1P 3, 1-7).
Trong Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về “Phẩm chức Gia Đình Công Giáo”, năm 1980, các Nghị Phụ đã đặc biệt kêu gọi “Mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần thiết của phụ nữ trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và phát triển xã hội. Khai triển và phân tích rõ rệt về việc tham gia của phụ nữ vào cuộc sống và sứ mệnh Giáo Hội”.
Lấy lại chỉ thị của Công Đồng phản ảnh sứ điệp Phúc Âm, của lịch sử Giáo Hội các Nghị Phụ khuyến cáo rằng : “Bằng chính cuộc sống và bởi sứ mệnh mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ân huệ của phụ nữ (cũng như nam giới). Giáo Hội buộc xử dụng tất cả kinh nghệm, khả năng của các bà (các ông) để sứ mệnh của Giáo Hội được hữu hiệu hơn”.
Sau Thượng Hội Đồng trên, năm 1981, Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã ban hành tông huấn về “Cộng Đồng Gia Đình” (Familiaris Consortio). Tông huấn đánh giá : “Nếu gia đình công giáo là một mối giây liên hệ luôn được canh tân bởi Chúa Kitô qua đức tin và các bí tích, sự tham dự của gia đình công giáo vào sứ mạng của Giáo Hợi phải được thực hiện một cách cộng đồng. Vợ chồng cùng nhau với tư cách là cặp hôn nhân, cha mẹvà con cái với tư cách là gia đình, phải sống đời phục vụ Giáo Hội và thế gian” (55).
Và trong Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ (Mulieris Dignitatem), năm 1988, mong muốn : “Qua thần học Thánh Kinh, mọi người, nam cũng như nữ, được khích lệ tiếp tục công trình nghiên cứu phê bình, dựa trên nền tảng nhân phẩm của người nam và người nữ và trong tương quan hỗ tương hai người, đào sâu hơn những giá ân huệ đặc biệt của nữ tính và nam tính, không những trong đời sống xã hội, mà cả trong cuộc sống Kitô hữu và Giáo Hội” (16). Tông thư còn nói tới ơn gọi của phụ nữ : “Cả hai, nam và nữ đều có thể hưởng nhận chân lý của Thiên Chúa và tình Ngài trong Thánh Linh và đón nhận Ngài đến mang ơn cứu độ và thánh hóa” (16).
Không phải tất cả các chị em phụ nữ đều may mắn, có khả næng sống tốt đẹp cả. Còn khá đông các bà, các chị đang gặp nhiều thử thách, về tín ngưỡng chân lý, về luân lý và vật chất. Đối với những người này, Giáo Hội gửi lời thương cảm : “Quí bà và chị em đang đứng thẳng dưới chân Thánh Giá như Đức Maria, biết bao lần trong lịch sử, quí bà và chị em đã mang lại cho người đàn ông sức mạnh để chiến đấu tới cùng, đã giúp họ làm chứng nhân ngay cả tử vì đạo. Một lần nữa xin hãy giúp họ can đảm làm những công việc lớn, đồng thời biết kiên nhẫn và biết bắt đầu bằng những công việc nhỏ“ (SĐ.21).
Đối với những người đang trong cảnh già cô quạnh hay những người góa bụa, Giáo Hội kêu gọi vắn tắt : “Hãy can đảm tiếp nhận như một tiếp nối ơn gọi hôn nhân”.
NGƯỜI MẸ CÔNG GIÁO NGÀY NAY.
Dù cuộc sống có đổi thay, công việc nhiều và hoàn cảnh phức tạp, thì hạnh phúc gia đình ngày nay phần lớn do người đàn bà biết vun xới. Là con luôn lấy chữ hiếu làm đầu. Làm vợ cần giữ trọn mối tình trung thủy. Làm mẹ luôn chu toàn trách nhiệm giáo dục. Và trong cộng đoàn người phụ nữ vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với mọi người.
- Chiêm ngắm Lời Chúa và tin vào Tin Mừng. Là con Chúa, các bà cần cầu nguyện thiết tha thanh thản và chiêm niệm. Bà không sống trong sa mạc, cố tạo trong mình một nơi yên tĩnh. Lời cầu nguyện múc từ các phép bí tích, đặc biệt phép Giải tội và Thánh Thể. Từ đó, cách cầu nguyện phát sinh từ cách sống trong gia đình và xã hội. Bởi vì tôi nói và làm và sống những gì tôi đã nghe (1 Ga, 1, 1-3).
Ngày 08-12-1965, trong sứ điệp gửi cho toàn thể nhân loại, Công Đồng Vatican II đã có những lời ca tụng, nhắn nhủ chị em phụ nữ : “Giáo Hội hãnh diện về việc làm của phụ nữ. Ảnh hưởng của phụ nữ rất sâu rộng. Phụ nữ thấm nhuần Phúc Âm, góp phần bảo vệ xây dựng hạnh phúc gia đình. Người mẹ gia đình là nhà giáo dục đầu tiên (x. SĐ. 20-21).
- Chữ hiếu chiếm hàng đầu. Giới răn thứ tư trong Mười điều răn là thảo kính cha mẹ. Đây là mối giây liên kết gia đình giữa ông bà, cha mẹ và con cháu. Người mẹ gia đình thường là chủ động tỏ lòng biết ơn với các bậc sinh thành còn sống hay đã khuất, bằng quà cáp, thăm viếng hay giỗ kỵ. Vì Cha mẹ là đại diện Thiên Chúa. Các ngài sinh ra con cái, dẫn nhập con cháu vào liên kết gia đình và cộng đoàn. Sau Thiên Chúa các ngài là ân nhân đầu tiên của con cháu.
Bà Thérèse Trinh
Gia đình là tế bào đầu tiên, là nền tảng của xã hội và Giáo Hội. Ba phần tử cốt yếu trong gia đình là cha mẹ và con cái. Giữa cha mẹ, thì có thể nói mẹ như nền, mà cha là mái nhà. Ca dao Việt Nam đã nói lên tính cách quan trọng của người phụ nữ, như: "Phúc đức tại mẫu". Hay "Con khôn tại mẹ, cháu hư tại bà". Trong thực tế, thì người cha lo vật chất, lo cơm ăn áo mặc. Người mẹ lo giáo dục cho con nên người đạo hạnh và giữ nề nếp gia phong.
Người phụ nữ trong gia đinh công giáo mang một ý nghĩa cao qúi hơn khi tìm hiểu rõ về mục đích hôn nhân : "Hai bên sẽ nên một về sinh lý, tâm lý, xã hội, và đạo đức. Kết quả là một tổ chức vững chắc không phải tự ý riêng của đôi bên, nhưng theo ý định của Thiên Chúa. Tổ chức này có nhiều mục đích và mưu ích không những cho đôi bên mà còn cho gia đình và xã hội nữa" (Hc. Vui Mừng và Hy Vọng. số 48, 53*).
Căn cứ vào đạo giáo Việt Nam và giáo huấn của Giáo Hội trên, dưới đây xin khai triển về "Người mẹ trong gia đình công giáo".
MONG MUỐN CỦA GIÁO HỘI
Thiên Chúa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. "Bởi đó, vợ chồng kitô hữu được củng cố và như một thánh hiến bằng một bí tích riêng để lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình họ. Nhờ đó, tất cả đời sống họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến và càng ngày họ càng gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau" (Hc. Vui Mừng và Hy Vọng. 48).
Trong phần lời nguyện tạ ơn của lễ hôn phối, chủ sự cất cao lời cầu cho người vợ : “Lạy Cha chí thánh, cha đã tác tạo con người giống hình ảnh Cha và dựng nên có nam có nữ, lại phối hợp cả hai nên một về tinh thần cũng như thể xác, để vợ chồng cùng nhau chu toàn nhiệm vụ trần gian. Lạy Cha là Thiên Chúa hằng hữu, để mặc khải chương trình yêu thương của Cha, Cha đã lấy tình phu phụ làm biểu hiệu giao ước, Cha sẽ ký kết với dân riêng. Như vậy, nhờ sống đầy đủ ý nghĩa của bí tích, đôi tân hôn diễn tả được mầu nhiệm Đức Kitô kết hợp với Hội Thánh... Vậy giờ đây, xin Cha đổ muôn phúc lành xuống chị... và giúp chị... biết chu toàn nhiệm vụ làm vợ và làm mẹ, biết trau dồi tiết hạnh, lấy tình yêu thanh khiết mà làm cho gia đình thêm ấm cúng, lấy khả ái hiền hòa làm rạng rỡ gia phong”.
Thánh Phaolô đã chỉ cho chúng ta thấy mối liên quan sâu xa giữa hôn nhân và mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội : vợ chồng yêu thương nhau (Eph 5, 21-22), con cái hiếu thảo, cha mẹ có trách nhiệm giáo dục con cái (Ep 6, 1-4), vợ chồng kính trọng nhau và đừng làm phật lòng nhau. Con cái vâng lời cha mẹ, cha mẹ đừng làm con cái nản lòng (Cl 3, 18-21). Thánh Phêrô khuyên vợ chồng ăn ở thuận hòa, giữ thanh khiết trong ơn nghĩa Thiên Chúa (1P 3, 1-7).
Trong Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về “Phẩm chức Gia Đình Công Giáo”, năm 1980, các Nghị Phụ đã đặc biệt kêu gọi “Mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần thiết của phụ nữ trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và phát triển xã hội. Khai triển và phân tích rõ rệt về việc tham gia của phụ nữ vào cuộc sống và sứ mệnh Giáo Hội”.
Lấy lại chỉ thị của Công Đồng phản ảnh sứ điệp Phúc Âm, của lịch sử Giáo Hội các Nghị Phụ khuyến cáo rằng : “Bằng chính cuộc sống và bởi sứ mệnh mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ân huệ của phụ nữ (cũng như nam giới). Giáo Hội buộc xử dụng tất cả kinh nghệm, khả năng của các bà (các ông) để sứ mệnh của Giáo Hội được hữu hiệu hơn”.
Sau Thượng Hội Đồng trên, năm 1981, Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã ban hành tông huấn về “Cộng Đồng Gia Đình” (Familiaris Consortio). Tông huấn đánh giá : “Nếu gia đình công giáo là một mối giây liên hệ luôn được canh tân bởi Chúa Kitô qua đức tin và các bí tích, sự tham dự của gia đình công giáo vào sứ mạng của Giáo Hợi phải được thực hiện một cách cộng đồng. Vợ chồng cùng nhau với tư cách là cặp hôn nhân, cha mẹvà con cái với tư cách là gia đình, phải sống đời phục vụ Giáo Hội và thế gian” (55).
Và trong Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ (Mulieris Dignitatem), năm 1988, mong muốn : “Qua thần học Thánh Kinh, mọi người, nam cũng như nữ, được khích lệ tiếp tục công trình nghiên cứu phê bình, dựa trên nền tảng nhân phẩm của người nam và người nữ và trong tương quan hỗ tương hai người, đào sâu hơn những giá ân huệ đặc biệt của nữ tính và nam tính, không những trong đời sống xã hội, mà cả trong cuộc sống Kitô hữu và Giáo Hội” (16). Tông thư còn nói tới ơn gọi của phụ nữ : “Cả hai, nam và nữ đều có thể hưởng nhận chân lý của Thiên Chúa và tình Ngài trong Thánh Linh và đón nhận Ngài đến mang ơn cứu độ và thánh hóa” (16).
Không phải tất cả các chị em phụ nữ đều may mắn, có khả næng sống tốt đẹp cả. Còn khá đông các bà, các chị đang gặp nhiều thử thách, về tín ngưỡng chân lý, về luân lý và vật chất. Đối với những người này, Giáo Hội gửi lời thương cảm : “Quí bà và chị em đang đứng thẳng dưới chân Thánh Giá như Đức Maria, biết bao lần trong lịch sử, quí bà và chị em đã mang lại cho người đàn ông sức mạnh để chiến đấu tới cùng, đã giúp họ làm chứng nhân ngay cả tử vì đạo. Một lần nữa xin hãy giúp họ can đảm làm những công việc lớn, đồng thời biết kiên nhẫn và biết bắt đầu bằng những công việc nhỏ“ (SĐ.21).
Đối với những người đang trong cảnh già cô quạnh hay những người góa bụa, Giáo Hội kêu gọi vắn tắt : “Hãy can đảm tiếp nhận như một tiếp nối ơn gọi hôn nhân”.
NGƯỜI MẸ CÔNG GIÁO NGÀY NAY.
Dù cuộc sống có đổi thay, công việc nhiều và hoàn cảnh phức tạp, thì hạnh phúc gia đình ngày nay phần lớn do người đàn bà biết vun xới. Là con luôn lấy chữ hiếu làm đầu. Làm vợ cần giữ trọn mối tình trung thủy. Làm mẹ luôn chu toàn trách nhiệm giáo dục. Và trong cộng đoàn người phụ nữ vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với mọi người.
- Chiêm ngắm Lời Chúa và tin vào Tin Mừng. Là con Chúa, các bà cần cầu nguyện thiết tha thanh thản và chiêm niệm. Bà không sống trong sa mạc, cố tạo trong mình một nơi yên tĩnh. Lời cầu nguyện múc từ các phép bí tích, đặc biệt phép Giải tội và Thánh Thể. Từ đó, cách cầu nguyện phát sinh từ cách sống trong gia đình và xã hội. Bởi vì tôi nói và làm và sống những gì tôi đã nghe (1 Ga, 1, 1-3).
Ngày 08-12-1965, trong sứ điệp gửi cho toàn thể nhân loại, Công Đồng Vatican II đã có những lời ca tụng, nhắn nhủ chị em phụ nữ : “Giáo Hội hãnh diện về việc làm của phụ nữ. Ảnh hưởng của phụ nữ rất sâu rộng. Phụ nữ thấm nhuần Phúc Âm, góp phần bảo vệ xây dựng hạnh phúc gia đình. Người mẹ gia đình là nhà giáo dục đầu tiên (x. SĐ. 20-21).
- Chữ hiếu chiếm hàng đầu. Giới răn thứ tư trong Mười điều răn là thảo kính cha mẹ. Đây là mối giây liên kết gia đình giữa ông bà, cha mẹ và con cháu. Người mẹ gia đình thường là chủ động tỏ lòng biết ơn với các bậc sinh thành còn sống hay đã khuất, bằng quà cáp, thăm viếng hay giỗ kỵ. Vì Cha mẹ là đại diện Thiên Chúa. Các ngài sinh ra con cái, dẫn nhập con cháu vào liên kết gia đình và cộng đoàn. Sau Thiên Chúa các ngài là ân nhân đầu tiên của con cháu.