admin
01-08-2006, 07:07 AM
Tiên tri" hay "Ngôn sứ "?
Kính gửi cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ,
Giáo sư Phụng vụ Đại Chủng viện Thánh Giuse.
Thưa cha, nhân đọc bài “Vài suy nghĩ về bản dịch mới 2005, Nghi thức Thánh lễ” do cha viết, đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật số 7 và số 8 năm 2006, con xin gửi đến cha một chia sẻ chân tình về nhận định của cha trong bài viết khi đề cập đến từ “propheta” ở trang 120, số 8 – 2006 (trong bài viết của cha cả 3 lần đều viết là: “prophetas” ?). Cha và con đã biết nhau rồi nên con khỏi phải tự giới thiệu. Sở dĩ con lưu tâm đến từ này vì rất thường gặp khi dạy giáo lý, đặc biệt khi trình bày về lịch sử cứu độ mà vai trò của những “propheta” (lt) hoặc “prophetes” (hl) rất quan trọng.
“Propheta”(lt) trong kinh Tin kính.
Đối với đại đa số giáo dân, khi đọc kinh Tin kính đến phần tuyên xưng về Chúa Thánh Thần trước sau vẫn đọc: "Người đã dùng các “tiên tri” mà phán dạy". Từ “tiên tri” là từ rất thông dụng ít là cho đến đầu thập niên 70. Sau này xuất hiện từ "ngôn sứ". Vì thế, bản dịch sách lễ Rôma 1992 đã dùng từ "ngôn sứ" trong câu tuyên xưng trên, nhưng vì không có lệnh bắt buộc phải đọc nên mọi người vẫn đọc là "tiên tri" . Đây cũng là một thuận lợi cho bản dịch sách lễ Rôma năm 2005 khi muốn gạt bỏ từ "ngôn sứ" để dùng lại từ "tiên tri" của bản dịch năm 1971! Sau đây, con xin nói lên một suy nghĩ của riêng mình.
1. Từ "tiên tri" .
Khi tìm hiểu nguồn gốc của từ "tiên tri" , con được biết gốc của nó trong tiếng Hipri là “Nabi" (נָ בִיא), người được Thiên Chúa gọi, người được đề cử để nói . Nghĩa của từ này không bao hàm sự biết trước tương lai. Bản Kinh Thánh Hi Lạp (LXX) đã dùng danh từ Prophetes (προφήτης) để dịch từ Nabi. Từ prophetes gồm có giới từ προ không chỉ có nghĩa thời gian mà còn có nghĩa không gian (phía trước, đằng trước) và động từ φημι có nghĩa là nói (dire), quả quyết (affirmer), khuyên nhủ, răn bảo (conseiller), ra lệnh (commander) (Lexique Grec-Français, trang 500). Vì thế, các từ điển KT đều giải thích từ prophetes là người nói đàng trước, nói phía trước, nghĩa là nói nhân danh, nói thay một ai đó. Trong Kinh Thánh, những prophetes là những phát ngôn nhân, mang lời Thiên Chúa đến cho dân. Các Ngài ít có những lời tiên báo nhưng nhiều lời giảng dạy, răn đe, quở trách, khuyên nhủ dân Chúa. Từ "tiên tri" làm sao diễn tả được đầy đủ các nghĩa trên? Không biết cha dựa vào đâu để cho rằng từ tiên tri trong từ điển Trung hoa, mang nhiều ý nghĩa: nói trước, nói tiên tri, nói thay ai, nói nhân danh ai. Con đã vào nhà sách, các thư viện, lục rất nhiều các từ điển tiếng Hoa cũng như từ điển Hán Việt của các tác giả: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Thanh Nghị, Bửu Kế, Thiều Chửu, Lê Văn Đức, Khổng Đức Long Cương, Trương Văn Giới và Lê Khắc Kiều Lục, Viện Ngôn Ngữ Học,…thì từ 先 知 (xiānzhi) "tiên tri" , chỉ có nghĩa là người biết trước tương lai, nói về những điều sẽ xảy ra. Nhưng không hề có hai nghĩa sau như cha nói ở trên.
2. Từ "ngôn sứ".
Còn từ “ngôn sứ”, có người cho rằng không có trong cách nói của người Trung Hoa, nhận định đó đúng hay sai xin dành cho những nhà ngôn ngữ học. Còn theo con, từ “ngôn sứ” trong tiếng Hoa gồm từ “ngôn” 言(yán) có bộ khẩu 口 là lời nói, nói; từ “sứ” 使(shĭ) gồm bộ nhân亻và bộ lại 吏, nghĩa là người vâng lệnh trên đi làm một việc gì. Con không biết từ "ngôn sứ" do đâu mà có, nhưng từ thập niên 70 đã xuất hiện từ này trong các sách thần học như "Điển ngữ thần học Kinh Thánh" của Giáo Hoàng học viện Piô X Đà lạt in năm 1974, quyển III trang 435, có điều lại đổi thứ tự 2 chữ: “sứ ngôn”; nhưng phân tích rõ ràng, đầy đủ về sứ mạng của những người được gọi là "ngôn sứ" dựa trên những đoạn Kinh Thánh. Một tài liệu giá trị nữa là bộ Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, cũng do phân khoa thần học GHHV Piô X-1972 trong phần phân tích mục lục trang 1184 nói về từ "ngôn sứ", con xin trích nguyên văn: "Từ "ngôn sứ" được dùng thay cho từ "tiên tri" để chỉ một người được Thiên Chúa kêu gọi, được đặt làm sứ giả chuyển "Lời" của Chúa cho người khác, giải thích Sứ điệp của Thiên Chúa cho con người, đồng thời kêu gọi con người trung thành với giao ước, an ủi con người trong cuộc lưu đày đau khổ cũng như chuyển lời cầu xin của con người lên Thiên Chúa . Đó là nhiệm vụ đích thực mà từ ngữ "tiên tri" không diễn tả hết được".
Kính gửi cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ,
Giáo sư Phụng vụ Đại Chủng viện Thánh Giuse.
Thưa cha, nhân đọc bài “Vài suy nghĩ về bản dịch mới 2005, Nghi thức Thánh lễ” do cha viết, đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật số 7 và số 8 năm 2006, con xin gửi đến cha một chia sẻ chân tình về nhận định của cha trong bài viết khi đề cập đến từ “propheta” ở trang 120, số 8 – 2006 (trong bài viết của cha cả 3 lần đều viết là: “prophetas” ?). Cha và con đã biết nhau rồi nên con khỏi phải tự giới thiệu. Sở dĩ con lưu tâm đến từ này vì rất thường gặp khi dạy giáo lý, đặc biệt khi trình bày về lịch sử cứu độ mà vai trò của những “propheta” (lt) hoặc “prophetes” (hl) rất quan trọng.
“Propheta”(lt) trong kinh Tin kính.
Đối với đại đa số giáo dân, khi đọc kinh Tin kính đến phần tuyên xưng về Chúa Thánh Thần trước sau vẫn đọc: "Người đã dùng các “tiên tri” mà phán dạy". Từ “tiên tri” là từ rất thông dụng ít là cho đến đầu thập niên 70. Sau này xuất hiện từ "ngôn sứ". Vì thế, bản dịch sách lễ Rôma 1992 đã dùng từ "ngôn sứ" trong câu tuyên xưng trên, nhưng vì không có lệnh bắt buộc phải đọc nên mọi người vẫn đọc là "tiên tri" . Đây cũng là một thuận lợi cho bản dịch sách lễ Rôma năm 2005 khi muốn gạt bỏ từ "ngôn sứ" để dùng lại từ "tiên tri" của bản dịch năm 1971! Sau đây, con xin nói lên một suy nghĩ của riêng mình.
1. Từ "tiên tri" .
Khi tìm hiểu nguồn gốc của từ "tiên tri" , con được biết gốc của nó trong tiếng Hipri là “Nabi" (נָ בִיא), người được Thiên Chúa gọi, người được đề cử để nói . Nghĩa của từ này không bao hàm sự biết trước tương lai. Bản Kinh Thánh Hi Lạp (LXX) đã dùng danh từ Prophetes (προφήτης) để dịch từ Nabi. Từ prophetes gồm có giới từ προ không chỉ có nghĩa thời gian mà còn có nghĩa không gian (phía trước, đằng trước) và động từ φημι có nghĩa là nói (dire), quả quyết (affirmer), khuyên nhủ, răn bảo (conseiller), ra lệnh (commander) (Lexique Grec-Français, trang 500). Vì thế, các từ điển KT đều giải thích từ prophetes là người nói đàng trước, nói phía trước, nghĩa là nói nhân danh, nói thay một ai đó. Trong Kinh Thánh, những prophetes là những phát ngôn nhân, mang lời Thiên Chúa đến cho dân. Các Ngài ít có những lời tiên báo nhưng nhiều lời giảng dạy, răn đe, quở trách, khuyên nhủ dân Chúa. Từ "tiên tri" làm sao diễn tả được đầy đủ các nghĩa trên? Không biết cha dựa vào đâu để cho rằng từ tiên tri trong từ điển Trung hoa, mang nhiều ý nghĩa: nói trước, nói tiên tri, nói thay ai, nói nhân danh ai. Con đã vào nhà sách, các thư viện, lục rất nhiều các từ điển tiếng Hoa cũng như từ điển Hán Việt của các tác giả: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Thanh Nghị, Bửu Kế, Thiều Chửu, Lê Văn Đức, Khổng Đức Long Cương, Trương Văn Giới và Lê Khắc Kiều Lục, Viện Ngôn Ngữ Học,…thì từ 先 知 (xiānzhi) "tiên tri" , chỉ có nghĩa là người biết trước tương lai, nói về những điều sẽ xảy ra. Nhưng không hề có hai nghĩa sau như cha nói ở trên.
2. Từ "ngôn sứ".
Còn từ “ngôn sứ”, có người cho rằng không có trong cách nói của người Trung Hoa, nhận định đó đúng hay sai xin dành cho những nhà ngôn ngữ học. Còn theo con, từ “ngôn sứ” trong tiếng Hoa gồm từ “ngôn” 言(yán) có bộ khẩu 口 là lời nói, nói; từ “sứ” 使(shĭ) gồm bộ nhân亻và bộ lại 吏, nghĩa là người vâng lệnh trên đi làm một việc gì. Con không biết từ "ngôn sứ" do đâu mà có, nhưng từ thập niên 70 đã xuất hiện từ này trong các sách thần học như "Điển ngữ thần học Kinh Thánh" của Giáo Hoàng học viện Piô X Đà lạt in năm 1974, quyển III trang 435, có điều lại đổi thứ tự 2 chữ: “sứ ngôn”; nhưng phân tích rõ ràng, đầy đủ về sứ mạng của những người được gọi là "ngôn sứ" dựa trên những đoạn Kinh Thánh. Một tài liệu giá trị nữa là bộ Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, cũng do phân khoa thần học GHHV Piô X-1972 trong phần phân tích mục lục trang 1184 nói về từ "ngôn sứ", con xin trích nguyên văn: "Từ "ngôn sứ" được dùng thay cho từ "tiên tri" để chỉ một người được Thiên Chúa kêu gọi, được đặt làm sứ giả chuyển "Lời" của Chúa cho người khác, giải thích Sứ điệp của Thiên Chúa cho con người, đồng thời kêu gọi con người trung thành với giao ước, an ủi con người trong cuộc lưu đày đau khổ cũng như chuyển lời cầu xin của con người lên Thiên Chúa . Đó là nhiệm vụ đích thực mà từ ngữ "tiên tri" không diễn tả hết được".