PDA

View Full Version : Triết học tôn giáo của Ludvig Feuerbach (Số 1(37)/2006)


admin
02-08-2006, 07:35 AM
Triết học tôn giáo của Ludvig Feuerbach (Số 1(37)/2006) (http://www.vae.org.vn/news_detail.asp?id=2928)

Triết học tôn giáo là phần chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống triết học của nhà triết học duy vật cổ điển Đức - Ludvig Feuerbach (1804- 1872).

Trong cuộc đời hoạt động khoa học của mình, ông đã dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu và phê phán tôn giáo. "Tư tưởng đầu tiên của tôi - Feuerbach viết - là Thượng Đế, thứ hai - lí tính, thứ ba và cuối cùng là con người"(1). Điều đó cũng đã được chứng thực bằng việc ra đời của các tác phẩm nổi tiếng của ông về đề tài tôn giáo: Bàn về cái chết và sự bất tử của linh hồn (1830); Bản chất của Kitô giáo (1841); Bản chất của tôn giáo (1845); Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo (gồm 30 bài, mà ông đã đọc từ tháng 10 năm 1848 đến tháng 3 năm 1849 theo yêu cầu của sinh viên).

Có thể nói, tư tưởng cơ bản bao quát toàn bộ triết học tôn giáo của Feuerbach là chủ nghĩa vô thần được xây dựng trên nền tảng lí luận của chủ nghĩa duy vật nhân bản. Vấn đề này thể hiện khá rõ trong quan niệm sau đây của nhà triết học khi ông bàn về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo.

1. Quan niệm của Feuerbach về nguồn gốc tôn giáo.

Trong Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo Feuerbach viết: "Vấn đề có phải Thượng Đế sáng tạo nên thế giới hay không, nói chung vấn đề về mối quan hệ giữa Thượng Đế với thế giới là vấn đề về mối quan hệ giữa tinh thần và cảm tính, giữa cái chung hay cái trừu tượng với cái hiện thực, giữa loài và cá thể... đây là vấn đề quan trọng và nan giải của nhận thức loài người và triết học. Toàn bộ lịch sử triết học đều xoay quanh vấn đề này, từ cuộc tranh luận giữa những người thuộc phái khắc kỉ và phái Epicure, giữa những người thuộc phái Platon và phái Aristote, giữa phái hoài nghi và phái giáo điều trong triết học cổ đại, cho đến cuộc đấu tranh giữa những người duy thực và duy danh trong thời trung cổ, đến cuộc đấu tranh giữa những người duy tâm và kinh nghiệm trong thời cận đại"(2). Tuy lịch sử triết học đã đặt ra vấn đề như vậy, song theo Feuerbach câu trả lời hoàn toàn chưa thoả đáng. Để trả lời dứt khoát được vấn đề trên, cần phải bắt đầu từ việc nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo, mà cụ thể là phải tiếp cận vấn đề từ ba khía cạnh cơ bản: Tâm lí, nhận thức, xã hội.

1.1. Nguồn gốc tâm lí của tôn giáo.

Theo Feuerbach việc nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo phải xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất con người và đời sống hiện thực của nó. Muốn làm được việc đó thì cần phải nhờ vào sức mạnh của lí tính. ông viết: "Đối với tôi, trước đây cũng như bây giờ, điều quan trọng nhất là làm sáng rõ bản chất tối tăm của tôn giáo bằng ngọn đuốc của lí tính"(3). Với cách đặt vấn đề như vậy, ông đã phát hiện ra ba khía cạnh cơ bản tạo tiền đề cho sự ra đời của tôn giáo, trong đó nguồn gốc tâm lí là chiếc chìa khoá để gợi mở các nguồn gốc khác.

Feuerbach bắt đầu khảo sát nguồn gốc tâm lí của tôn giáo từ việc phân biệt sự khác nhau giữa con người và động vật: "Tôn giáo thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa con người và loài vật, ở loài vật không có tôn giáo... sự khác biệt cơ bản giữa loài ngươì và loài vật là gì? Câu trả lời chung rất đơn giản là: đó là sự khác nhau trong ý thức đúng với nghĩa chân chính của từ này... bởi ý thức theo nghĩa chính xác chỉ có ở chỗ, khi chủ thể có khả năng nhận thức được loài của mình, bản chất của mình. Động vật nhận biết mình như một cá thể, bởi vậy nó chỉ làm chủ được quá trình tự cảm giác mà thôi chứ không phải như một loài... động vật sống đơn giản một mình, còn con người sống có bầu có bạn. Đời sống nội tâm của con vật hoà đồng với bên ngoài, còn con người sống với cả hai chiều: nội tâm và bên ngoài. Đời sống nội tâm của con người liên quan mật thiết với loài và bản chất của nó. Con người suy nghĩ, bàn luận và nói với chính mình... bản chất của con người trong sự khác biệt với động vật tạo nên nền tảng và đối tượng của tôn giáo"(4).

admin
02-08-2006, 07:36 AM
Dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng yếu tố quan trọng hàng đầu tạo tiền đề cho sự xuất hiên tôn giáo đó là trạng thái tâm lí của con người. "Thượng Đế không phải là thực thể sinh lí hay thực thể vũ trụ- Feuerbach viết- mà là thực thể tâm lí"(5). Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. Nhưng sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ, trạng thái xúc cảm không phải là hiện tượng có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm, mà chúng có tính khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội. "Tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người - Feuerbach viết- nhưng trong giấc mơ đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất - trong vương quốc của hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế giới thực tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí tưởng tượng và sự kì quặc. Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học tư biện hay thần học, chuyển thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến đối tượng tưởng tượng thành đối tượng hiện thực"(6). Trên tinh thần như vậy, ông phê phán các quan điểm cho rằng, tôn giáo là hiện tượng có tính ngẫu nhiên hoặc có tính bẩm sinh.

Theo Feuerbach, tình cảm tôn giáo cũng như các ý niệm và biểu tượng của nó luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử xã hội loài người. Từ lập trường của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng, trong con người luôn có những ham muốn, nhu cầu, khát vọng và thái độ ích kỉ. Những nhu cầu sinh học và trạng thái tâm sinh lí này có thể được đáp ứng hoặc có thể không được đáp ứng; từ đó gây nên trong con người hai xu hướng trạng thái tâm lí: hoặc sợ hãi, bất lực, nỗi buồn chán, đau khổ (nếu con người gặp những điều bất hạnh) hoặc sự ngưỡng mộ, kính phục, lòng biết ơn (nếu con người gặp những thuận lợi). "Tôn giáo là sự phản ánh thời thơ ấu của nhân loại - Feuerbach viết - hay là: trong tôn giáo con người là đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thực hiện ý muốn của mình bằng sức mạnh của nó, phải nhờ đến một tồn tại mà nó cảm thấy lệ thuộc... tôn giáo có nguồn gốc xuất hiện, có chỗ đứng chân chính, có ý nghĩa trong thời thơ ấu của nhân loại"(7).

Ở đây, khi nghiên cứu vấn đề tôn giáo Feuerbach phải nhờ vào những tư liệu của lịch sử và khảo cổ học, theo đó thì con người nguyên thuỷ là con người cảm tính chứ không phải con người lí tính. Đời sống của người nguyên thuỷ hàng ngày phải tiếp xúc với muôn vàn sự vật, hiện tượng đa dạng của giới tự nhiên như mặt trăng, mặt trời, sấm sét, bão lụt, giông tố, sông sâu, biển rộng, núi non hiểm trở, rừng rậm, cây cao... và lẽ dĩ nhiên là con người phải lệ thuộc vào chúng để tồn tại. Từ đó làm phát sinh tâm lí hay tình cảm lệ thuộc trong con người đối với giới tự nhiên: "Điều mục đầu tiên của tôi trong Bản chất của tôn giáo có thể nói một cách vắn tắt là: cơ sở của tôn giáo là tình cảm về sự lệ thuộc của con người. Trong ý nghĩa đầu tiên, giới tự nhiên chính là đối tượng của tình cảm lệ thuộc này. Vì vậy, giới tự nhiên nói chung là khách thể đầu tiên của tôn giáo"(8). "Từ trước tới giờ đối tượng của các bài giảng của tôi chính là ở chỗ, tình cảm về sự lệ thuộc chính là cơ sở và nguồn gốc của tôn giáo... còn đối tượng của sự lệ thuộc đó chính là giới tự nhiên"(9). Vậy tại sao giới tự nhiên lại trở thành đối tượng đầu tiên bắt buộc con người phải lệ thuộc? Feuerbach giải thích như sau:

Thứ nhất, bởi giới tự nhiên là đối tượng cảm giác trực tiếp của con người, là cái tác động hàng ngày, hàng giờ lên các giác quan nhận biết của con người: "Cái bắt con người lệ thuộc, cái mà con người cảm thấy lệ thuộc, cái mà từ đó con người biết được sự lệ thuộc của mình chính là giới tự nhiên, là đối tượng của cảm giác, tất cả những ấn tượng mà giới tự nhiên tạo ra cho con người thông qua các cảm giác đều có thể trở thành lí do của sự sùng bái tôn giáo"(10).

Thứ hai, sự sùng bái giới tự nhiên còn bắt nguồn từ việc trong quá trình sống, do thể chất yếu ớt của mình, con người thường có tâm lí sợ hãi các hiện tượng của giới tự nhiên, dẫn đến tình trạng bất lực trước các hiện tượng đó: "Quan niệm về sức mạnh vô biên như là đặc tính cơ bản của thần thánh xuất hiện và phát triển trong con người, đặc biệt khi con người so sánh hành động của mình với hành động của tự nhiên. Con người không thể tạo nên cây cỏ, không làm nên bão tố và thời tiết, không thể làm sáng loé như chớp, gào thét như sấm... tất cả những hiện tượng tự nhiên này vượt trội sức mạnh của con người, làm cho con người cảm thấy bất lực. Chính vì vậy, thực thể tạo nên các hiện tượng đó đối với con người là một thực thể siêu nhân - thực thể có tính thần thánh"(11).

Thứ ba, như một hiện tượng tâm lí, tình cảm lệ thuộc vào giới tự nhiên của con người gắn liền với quan niệm về đời sống tâm linh của nó, hay nói cụ thể hơn là gắn liền với quan niệm về cái chết. Theo quan điểm hiện đại, con người là một thực thể tự nhiên - sinh học, nên nó cũng phải tuân theo quy luật sinh - lão - bệnh - tử. Nhưng người nguyên thuỷ thì chưa thể hiểu được điều đó, họ cho rằng sự đau ốm, chết chóc chính là sự trừng phạt của thánh thần; bởi vậy, "tình cảm về sự lệ thuộc và tình cảm về sự hữu hạn của đời người là đồng nhất với nhau. Con người luôn có ý thức rằng vào một lúc nào đó nó sẽ chết. Giá như con người không chết, giá như nó sống vĩnh viễn, nói tóm lại nếu như không có cái chết thì sẽ không có tôn giáo"(12). Luận điểm này của Feuerbach thực ra không có gì mới, bởi cái chết là đề tài muôn thuở của tôn giáo, cái chết gây nên một sự sợ hãi trong con người cả về phương diện vật lí lẫn phương diện tâm lí, trong đó phương diện tâm lí là cơ bản, bởi con người sợ hãi cái chết khi nó hoàn toàn khoẻ mạnh, bởi "con người luôn mong muốn được tồn tại vĩnh cửu. Sự mong muốn đó cũng là mong muốn được bảo toàn tính mạng. Mọi người ai cũng muốn sống chứ không ai muốn chết"(13). Điều đáng nói ở đây là, Feuerbach đã coi sự sợ hãi cái chết của con người như một hình thức tâm lí phổ biến và vận dụng hiện tượng này vào việc giải thích nguồn gốc tâm lí của tôn giáo, coi hiện tượng này như một dạng tình cảm lệ thuộc của con người đối với giới tự nhiên và thần thánh. Và theo Feuerbach, tâm lí sợ hãi cái chết của con người đã được đền bù trong tôn giáo, mà cụ thể là trong những huyền tích thuộc Kinh Thánh của Kitô giáo. "Sự phục sinh của Đức Chúa Giêsu - Feuerbach viết - là nguyện vọng của con người đã được đáp ứng về sự tồn tại cảm tính vĩnh hằng của cá nhân sau cái chết ban đầu"(14).

admin
02-08-2006, 07:37 AM
Từ tình cảm lệ thuộc của con người vào giới tự nhiên làm phát sinh sự sùng bái hay những hình thức tín ngưỡng tôn giáo mà cụ thể là: sự cầu nguyện, niệm thần chú, sự cúng tế, lễ hiến sinh... Những hình thức này có gốc rễ từ sự sợ hãi, sự bất lực, sự mất tin tưởng của con người vào sức mạnh của chính mình. Trong các hình thức tín ngưỡng tôn giáo, nhà triết học cổ điển Đức rất quan tâm đến vấn đề cầu nguyện, bởi đây là một hiện tượng tâm lí đặc biệt phản ánh thế giới nội tâm của con người một cách sâu sắc nhất, toàn diện nhất, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa con người và thần thánh. Feuerbach viết: "Người tín ngưỡng hướng tới Thượng Đế cùng với lời cầu nguyện sùng kính, anh ta tin rằng Thượng Đế sẽ tham dự vào những đau khổ, những mong muốn của anh ta... tin rằng Thượng Đế sẽ nghe thấy tiếng nói của anh ta trong lúc cầu nguyện"(15). "Bản chất thầm kín của tôn giáo được bộc lộ trong lời cầu nguyện... trong cầu nguyện, con người hướng một cách trực tiếp tới Thượng Đế, cho nên Thượng Đế đối với con người là nguyên nhân trực tiếp thực hiên lời cầu nguyện"(16). Theo cách nhìn hiện đại thì sự cầu nguyện thể hiện chức năng an ủi - đền bù hư ảo của tôn giáo, trong sự cầu nguyện đó hoặc phần nào làm dịu bớt đi mọi nỗi đau khổ, mất mát của con người mà nó đã gánh chịu trước đó trong cuộc sống, hoặc thể hiện những lời cảm ơn của con người đối với thần thánh, hoặc xin thần thánh xá tội cho, bởi vậy cầu nguyện là hình thức phổ biến của mọi tôn giáo và cũng nhờ hình thức tín ngưỡng này mà tôn giáo thu hút được đa số công chúng.

Sự sùng bái như đã nói trên gắn liền với những hình thức tôn giáo ban đầu trong xã hội nguyên thuỷ. Feuerbach cho rằng, hình thức tôn giáo ban đầu (nói theo ngôn ngữ của Hegel chính là tôn giáo tự nhiên) đó là bái vật giáo (fetishism), tức sùng bái các đối tượng của giới tự nhiên có tác động lớn đến đời sống của con người như mặt trăng, mặt trời, sấm chớp, các cây cổ thụ (thần cây đa, ma cây đề). Tiếp đến là hình thức thờ vật tổ (totemism), tức sùng bái các loại động vật có ảnh hưởng lớn đến đời sống và nền sản xuất của con người như chim, thú, cá. Chính điểm này thể hiện niềm vui, sự biết ơn và tình yêu của con người đối với thiên nhiên, bởi thiên nhiên chính là nguồn sống của con người, niềm động viên an ủi họ trong cuộc sống, trong lao động sản xuất khi họ hái lượm được nhiều cây trái, săn bắt được nhiều muông thú. Tiếp sau phong tục thờ vật tổ là việc thờ cúng tổ tiên nhằm mục đích tưởng nhớ cũng như báo ân những người đã sinh thành, nuôi dưỡng một dòng họ, một tộc người nào đó - đây là hình thức đặc thù của tôn giáo Phương Đông.

Theo Feuerbach, những hình thức tín ngưỡng sơ khai như đã nói trên là cơ sở cho việc xuất hiện đa thần giáo (politheism) và sự xuất hiện đa thần giáo là bước chuyển tiếp trung gian để từ đó hình thành độc thần giáo (monotheism). Sự xuất hiện của độc thần giáo thể hiện bước tiến vượt bậc hay một bước đột phá trong đời sống tâm lí, trong nhận thức cũng như trong đời sống hiện thực của con người , nó phản ánh sức mạnh vượt trội của con người đối với giới tự nhiên. Về vấn đề này Feuerbach viết: "Niềm tin vào Thượng Đế hoặc là niềm tin vào tự nhiên (bản chất khách quan) với tính cách là một tồn tại người (chủ quan), hoặc là niềm tin vào tồn tại người với tính cách là bản chất tự nhiên. Niềm tin thứ nhất là niềm tin của tôn giáo tự nhiên hay chủ nghĩa đa thần, niềm tin thứ hai là niềm tin của tôn giáo tinh thần con người hay là chủ nghĩa độc thần. Chủ nghĩa đa thần hiến thân mình cho tự nhiên, nó dâng tặng cho tự nhiên con mắt và trái tim người; chủ nghĩa độc thần hiến thân tự nhiên cho chính mình, bằng trái tim và con mắt người. Chủ nghĩa độc thần phân định sức mạnh và quyền lực trước tự nhiên. Chủ nghĩa đa thần đặt tồn tại con người trong sự lệ thuộc tự nhiên. Chủ nghĩa độc thần đặt tự nhiên trong sự lệ thuộc tồn tại người; chủ nghĩa đa thần khẳng định: Nếu không có tự nhiên thì sẽ không có tôi; chủ nghĩa độc thần khẳng định ngược lại: Nếu không có tôi thì sẽ không có vũ trụ, không có tự nhiên"(17). Phân tích luận điểm trên của Feuerbach chúng ta thấy, sự xuất hiện của các hình thức tôn giáo khác nhau phản ánh bước chuyển tâm lí của xã hội loài người từ hình thái đơn giản tự phát lên hình thái phức tạp tự giác.

Dựa trên việc nghiên cứu cụ thể các hình thức tôn giáo của các dân tộc khác nhau trên thế giới, Feuerbach đi đến kết luận rằng: Sự khác nhau giữa các thần thánh phản ánh sự khác nhau giữa các khát vọng của con người. Bởi thế người Hy Lạp không công nhận (không kính phục) thần thánh của người La Mã, vì thần thánh của người La Mã không phù hợp với lòng mong muốn của người Hy Lạp. Nhìn chung tôn giáo đa thần có tính địa phương, uy quyền của thần linh chỉ giới hạn trong lãnh địa của mình. Sự xuất hiện của Kitô giáo (Christianism) là một bước chuyển cơ bản từ đa thần giáo đến độc thần giáo. Thượng Đế (mà cụ thể là Đức Chúa Trời trong Kitô giáo) không còn giới hạn trong một dân tộc mà đã được toàn cầu hoá. Về bản chất của tôn giáo này, Feuerbach viết: "Đối với người theo đạo Kitô có một nguyên nhân tự do của giới tự nhiên, một vị chúa tể của giới tự nhiên mà giới tự nhiên buộc phải tuân theo ý chí và lời nói của vị đó, có một Thượng Đế không bị ràng buộc bởi tính tất yếu, bởi quan hệ nhân quả, bởi dây xích trói buộc. Trong khi đó, Thượng Đế đa thần giáo gắn liền với tính tất yếu của giới tự nhiên và thậm chí không có khả năng cứu thoát những đệ tử của mình khỏi định mệnh của tử thần"(18). Hơn thế, trong Kitô giáo đã có một hệ thống giáo lí tương đối đầy đủ, hệ thống giáo lí đó được củng cố bằng những huyền tích về phép màu của chúa: "Phép màu là một phần tồn tại của Kitô giáo, là nội dung cơ bản củng cố niềm tin của tôn giáo này... Phép màu đó làm no lòng những người đang đói, sáng mắt những người mù, làm cho người câm nghe được, người điếc thẩm âm, cứu nguy những người gặp nạn, làm cho người chết sống lại theo mong ước của những người thân. Cho nên, phép màu làm thoả mãn mọi mong ước của con người mà không phải lúc nào họ cũng có thể thực hiện được"(19).

Như vậy, sự xuất hiện của Kitô giáo phản ánh một hệ tâm lí chung của đại đa số công chúng muốn có một vị thần hộ mệnh, bảo vệ quyền lợi chung cho tất cả mọi người trong giai đoạn lịch sử khi các bộ tộc, bộ lạc đến thời kì tan rã, từ đó có thể thiết lập một cộng đồng người to lớn hơn - dân tộc và liên minh giữa các dân tộc, tức quốc gia và quốc tế.

admin
02-08-2006, 07:38 AM
1.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo.

Quan niệm về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo ở Feuerbach gắn liền một cách trực tiếp với quan điểm nhận thức luận của ông, theo đó thì nhận thức của con người là kết quả tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan nhận biết, làm phát sinh ra cảm giác. Điều đó có nghĩa là, con người có thể nhận thức được giới tự nhiên một cách trọn vẹn thông qua các giác quan nhận biết của mình. Với nghĩa như vậy, Feuerbach viết: "ánh sáng tồn tại không phải để cho con mắt nhìn, song con mắt tồn tại bởi vì có ánh sáng, tương tự như vậy, không khí tồn tại không phải để cho con người hít thở, con người hít thở bởi vì có không khí, bởi vì không có không khí thì sẽ không có cuộc sống. Tồn tại một mối quan hệ tất yếu giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ. Mối quan hệ này chính là cơ sở, là bản chất của cuộc sống. Bởi vậy, chúng ta không có căn cứ nào để giả định rằng, nếu như con người có nhiều cảm giác hay nhiều cơ quan thì nó sẽ hiểu biết được nhiều thuộc tính hay nhiều sự vật của tự nhiên hơn... con người đã có vừa đủ những giác quan cần thiết để cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tính tổng thể của nó"(20).

Dựa trên cơ sở lí luận đó, Feuerbach tiến hành phân tích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, ông cho rằng, việc phát sinh ra các quan niệm về tôn giáo nói chung, về Thượng Đế nói riêng gắn liền với sự phát triển của tư duy trừu tượng. Nhờ sự phát triển của tư duy trừu tượng, con người đã khái quát hoá, trừu tượng hoá các sự vật, hiện tượng riêng lẻ trong giới tự nhiên thành những khái niệm chung. Nhưng sai lầm của con người là ở chỗ đã tuyệt đối hoá các khái niệm đó, biến chúng thành những tồn tại tinh thần độc lập. Feuerbach lấy sự hình thành khái niệm không gian- thời gian làm ví dụ: "Mặc dầu con người đã từ những sự vật có tính không gian và thời gian để khái quát hoá thành khái niệm không gian và thời gian, song con người lại biến các khái niệm này thành nguyên nhân đầu tiên và điều kiện tồn tại của các sự vật đó. Vì vậy, con người quan niệm rằng, thế giới tức là toàn bộ các sự vật hiện thực, các vật thể, nội dung của thế giới đã xuất hiện trong không gian, trong thời gian. Thậm chí ngay cả Hegel cũng cho rằng vật chất không xuất hiện trong không gian và thời gian mà từ không gian và thời gian. Chính vì thế con người gán cho không gian và thời gian một khái niệm chung tách khỏi các đối tượng riêng biệt cảm tính, trong triết học không gian và thời gian được hiểu dưới dạng là những bản chất chung, trong tôn giáo đa thần - dưới dạng các thần thánh, trong tôn giáo độc thần - dưới dạng các tính chất của thần, và cũng chính vì vậy con người đồng nhất không gian và thời gian với thần thánh"(21). Như vậy, khái niệm không gian và thời gian với tính cách là những khái niệm trừu tượng đã bị con người biến thành những khái niệm tồn tại độc lập. Từ đó Feuerbach đi đến kết luận: "Chúng ta có những ví dụ trực quan sinh động để chứng minh rằng, trong những biểu tượng tôn giáo nói chung, con người biến cái chủ quan thành cái khách quan, nghĩa là làm cái tồn tại trong tư duy, trong tri giác, trong tưởng tượng của mình thành cái tồn tại ngoài tư duy, ngoài tri giác, ngoài tưởng tượng"(22).

Theo Feuerbach vấn đề nêu trên là những ví dụ điển hình cho việc hình thành khái niệm về Thượng Đế với tính cách là một khái niệm tối cao thống trị toàn thế giới. Khái niệm Thượng Đế xuất hiện ban đầu như là một tập hợp các tính chất điển hình của nhiều sự vật, hiện tượng trong tự nhiên vào một thực thể thống nhất, vào một cái tên. Bởi vậy, "Thượng Đế đối với tư duy trừu tượng chính là đối tượng cơ bản... là tập hợp các tên gọi, các tên gọi hình dung phi tồn tại, phi vật chất, phi thực thể, tổng hợp tạo thành thực thể tối cao - thực thể của mọi thực thể"(23).

admin
02-08-2006, 07:39 AM
Việc phát sinh ra các quan niệm thần thánh, theo Feuerbach, gắn liền một cách chặt chẽ với bản chất nhận thức của con người và tính mục đích trong các hoạt động của nó. Đó là việc khi con người muốn kiến tạo một vật dụng nào đó thì trước hết trong đầu óc anh ta liền xuất hiện khuôn mẫu của vật đó (cái mà Aristote gọi là nguyên nhân hình thức) cũng như mục đích của nó (cái mà Aristote gọi là nguyên nhân mục đích) sau đó mới tiến hành công việc kiến tạo (cái mà aristote gọi là nguyên nhân hành động). Nhưng nếu không hiểu mối quan hệ biện chứng giữa các quá trình trên thì dễ rơi vào quan điểm mục đích luận, tuyệt đối hoá nguyên nhân hình thức và nguyên nhân mục đích, cho rằng vạn vật trong thế giới được sáng tạo nên theo khuôn mẫu và mục đích ban đầu của Thượng Đế. Feuerbach viết: "Niềm tin vào quan niệm cho rằng thế giới, giới tự nhiên được tạo nên bởi một thực thể tinh thần có lí tính còn có một cơ sở khác ngoài những cơ sở mà tôi gọi là triết học. Đó là con người khi sáng tạo nên các vật dụng, thì trong đầu óc anh ta luôn có tư tưởng, hình ảnh, khái niệm về vật dụng đó. Ví dụ, nếu con người xây dựng cái nhà thì trong đầu óc anh ta liền xuất hiện ý tưởng, hình ảnh cái nhà mà anh ta sẽ xây dựng - khuôn mẫu của cái nhà phụ thuộc vào tính mục đích mà con người cần: dùng để ở hay hội họp... Tính mục đích này khi được vận dụng vào sự sáng tạo của giới tự nhiên chính là cơ sở của sự chứng minh thần luận"(24).


Khi phân tích nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo Feuerbach đồng thời còn muốn chỉ ra những nhân tố chủ quan trong quá trình nhận thức đã góp phần xuyên tạc, phản ánh sai lệch hiện thực khách quan - đó là vai trò của sự hoang tưởng và trí tưởng tượng; ông viết: "Nguyên nhân lí luận hay nguồn gốc của tôn giáo, của đối tượng tôn giáo, của thần thánh chính là sự hoang tưởng, là sức mạnh của trí tưởng tượng"(25).

Feuerbach không phải là người đầu tiên quan tâm đến vai trò của trí tưởng tượng đối với việc hình thành các hình tượng, các ý niệm, các khái niệm tôn giáo, bởi trước ông các nhà duy vật Pháp và Spinoza cũng đã nhìn thấy điều này. Họ cho rằng, các câu chuyện trong Kinh Thánh cũng như các huyền tích riêng biệt khác được sáng tạo nên bởi trí tưởng tượng của con người, chúng phản ánh những lực lượng tự nhiên mà con người chưa hiểu được. Nhưng Feuerbach đi xa hơn các nhà duy vật Pháp và Spinoza ở chỗ, ông đã xem xét sự hoang tưởng trong mối quan hệ với sự ngu dốt và phân tích một cách cặn kẽ sự hoang tưởng cũng như trí tưởng tượng của con người, ông cho rằng "sự ngu dốt của con người là vô tận, và sức tưởng tượng của con người là vô biên; sức mạnh của giới tự nhiên do sự ngu dốt mà mất chỗ dựa và do hoang tưởng mà mất giới hạn đã trở thành sức mạnh của thánh thần... nói tóm lại, bản chất khách quan coi như là chủ quan, bản chất của giới tự nhiên được tách khỏi giới tự nhiên coi như là bản chất của con người - đó là thực thể của Thượng Đế, là bản chất của tôn giáo, là bí mật của chủ nghĩa thần bí và thuật tư biện"(26). "Tôn giáo chỉ xuất hiện trong bóng đêm của sự ngu dốt, của sự cấp thiết, của sự bất lực và thiếu văn hoá; tôn giáo xuất hiện trong những điều kiện mà sức tưởng tượng thống trị mọi sức mạnh và trạng thái tinh thần dễ kích động khác của con người"(27).


Từ tầm nhìn của một nhà duy vật, Feuerbach đã nhìn thấy mối quan hệ trực tiếp giữa điều kiện tự nhiên và sức tưởng tượng của con người. Theo ông "sức tưởng tượng mà con người vận dụng để sáng tạo nên Thượng Đế ban đầu liên quan trực tiếp với giới tự nhiên. Đó là các hiện tượng tự nhiên mà con người cảm thấy lệ thuộc, các hiện tượng gây nên ấn tượng đặc biệt cho đời sống con người như nước, lửa, đất, mặt trời, mặt trăng..."(28). "Thượng Đế siêu hình không phải là cái gì khác mà là tổng thể các thuộc tính chung rút ra từ giới tự nhiên; tổng thể đó đã được con người tách ra khỏi thực thể cảm tính, khỏi tính vật chất của giới tự nhiên và nhờ sức tưởng tượng của con người biến giới tự nhiên thành một chủ thể tồn tại độc lập, tức Thượng Đế"(29). "Thượng Đế là giới tự nhiên trừu tượng, nghĩa là giới tự nhiên được trừu tượng hoá từ trực quan cảm tính, được tư tưởng hoá và biến thành một khách thể, thành một thực thể của lí trí"(30).

admin
02-08-2006, 07:41 AM
1.3. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo.

Feuerbach chưa trình bày một cách sâu sắc, rõ ràng về nguồn gốc xã hội của tôn giáo, song điều quan trọng là ông đã đặt ra vấn đề này để sau đó Mác có cơ sở lí luận phát triển thêm từ quan điểm duy vật lịch sử của mình.

Trên cơ sở phân tích các hình thức phát triển của tôn giáo trong lịch sử, Feuerbach cho rằng, sự chuyển biến của đời sống chính trị - xã hội kéo theo sự thay đổi chức năng của thần thánh. Người đa thần giáo là nô lệ của tự nhiên, thần thánh ở giai đoạn này cũng có chức năng tự nhiên. Bước sang giai đoạn độc thần giáo, khi trong xã hội xuất hiện những chúa đất thì sự lệ thuộc của công chúng vào các lực lượng tự nhiên chuyển sang sự lệ thuộc của họ vào các điều kiện xã hội. Feuerbach nói rất chí lí rằng, ánh sáng mặt trời làm loá mắt người nô lệ của giới tự nhiên đến nỗi hàng ngày nó phải cầu nguyện mặt trời, người nô lệ chính trị cũng bị ngai vàng của hoàng đế làm loá mắt đến nỗi nó phải phủ phục trước nhà vua như trước cái lực lượng linh thiêng mà sự tồn tại của nó phụ thuộc vào đó. Đối với người nô lệ thì chủ cũng là thần, đối với người theo đạo Kitô thì vua chính là thần ở chốn trần gian. "Bí mật của đức chúa ba ngôi là bí mật của đời sống xã hội - bí mật của tôi và bạn"(31).

Dựa trên việc phân tích một cách toàn diện về nguồn gốc phát sinh của tôn giáo, Feuerbach có cơ sở khoa học để đi đến kết luận: "Không phải Thượng Đế đã sáng tạo nên con người theo hình dáng của mình như đã miêu tả trong Kinh Thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên Thượng Đế theo hình dáng của mình... mọi Thượng Đế đều là tồn tại được sáng tạo nên bằng trí tưởng tượng... chính sức mạnh của trí tưởng tượng đã hướng vào những tính chất cơ bản của con người. Con người u sầu, ốm yếu phản ánh tâm trạng của mình trong hình ảnh một Thượng Đế tương tư, con người vui vẻ thì ngược lại, họ miêu tả Thượng Đế với bộ mặt tươi tỉnh, sáng ngời. Tính đa dạng của con người quy định tính đa dạng của Thượng Đế"(32).

(Kì sau đăng tiếp)


Lê Công Sự(*)



*. TS, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội.
1. L. Feuerbach. Các tác phẩm triết học. Matxcơva 1955, t. I, tr. 265 (tiếng Nga).
2. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 623.
3. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 516.
4. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 29-31.
5. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 328.
6. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 23.
7. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 723.
8. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 518.
9. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 577.
10. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 540.
11. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 607-608.
12. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 527.
13. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 167.
14. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 167.
15. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 86.
16. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 86.
17. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 481.
18. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 750.
19. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 161.
20. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 632-633.
21. Feuerbach. Sđd., t. I, tr. 621.
22. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 773.
23. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 867.
24. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 629.
25. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 690.
26. Feuerbach. Sđd., t. II. tr. 850.
27. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 724.
28. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 703.
29. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 853.
30. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 605.
31. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 337.
32. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 701.

Nguồn: Hội Dân tộc học Việt Nam (http://www.vae.org.vn/news_detail.asp?id=2928)

admin
02-08-2006, 08:57 AM
Triết học tôn giáo của Ludvig Feuerbach (Số 2(38)/2006) (http://www.vae.org.vn/news_detail.asp?id=3299)

2. Quan niệm của Feuerbach về bản chất của tôn giáo
Như đã đề cập ở trên, chủ nghĩa nhân bản là cơ sở lí luận, là nền tảng khoa học để Feuerbach tiếp cận vấn đề tôn giáo. Có thể nói một cách ngắn gọn rằng, Feuerbach đã truy tìm bản chất của tôn giáo trong bản chất của con người, ông viết: "Bản chất thần thánh không là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó được giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lí hiện thực, được khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi vậy, mọi sự xác định về thần thánh có liên quan đến việc xác định bản chất con người"(1). Để phát hiện ra bản chất đích thực của tôn giáo, Feuerbach tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, với đạo đức, với khoa học, với triết học duy tâm và nghệ thuật.
2.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển của các quốc gia từ thời cổ đại đến đương đại, Feuerbach cho rằng, chính quyền nhà nước luôn giữ mối quan hệ với giáo hội, tôn giáo là chỗ dựa của chính trị và ngược lại. ý thức được điều đó, các nhà chính trị luôn sử dụng tôn giáo như một phương tiện để thực hiện mục đích và chính sách chính trị của mình. Đặc biệt là khi xuất hiện Kitô giáo thì vấn đề này trở nên rõ ràng hơn.
Theo Feuerbach, niềm tin tôn giáo cũng có tính đảng, tính đảng đó thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, thể hiện trong việc không dung hợp và không dung thứ của tôn giáo này đối với tôn giáo khác (đó là nguyên nhân của kì thị tôn giáo và từ đó phát sinh các cuộc chiến tranh thần thánh). Thứ hai, thể hiện trong việc không chấp nhận của tôn giáo đối với chủ nghĩa vô thần và các tư tưởng tự do, tư tưởng dị giáo. Feuerbach viết: "Niềm tin về cơ bản là có tính đảng. Ai không vì Đức Chúa Giêsu thì kẻ đó sẽ chống lại Đức Chúa. Hoặc vì tôi, hoặc chống lại tôi. Niềm tin chỉ biết có kẻ thù và tình bạn. Niềm tin không thể thiên vị. Niềm tin về cơ bản là không dung thứ, nó không biết có sự khác biệt nào ngoài sự khác biệt giữa phụng thần và kính thần"(2). Thứ ba, thể hiện trong việc mọi thần thánh ban đầu sinh ra một cách tự phát nhưng dần dần chúng được con người lợi dụng một cách tự giác; ban đầu thần thánh là một thực thể tự nhiên, nhưng dần dần trở thành một chiêu bài chính trị. "Từ một tồn tại thuần tuý vật lí, con người trở thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên... tương tự như vậy, Thượng Đế của con người cũng từ một tồn tại thuần tuý vật lí trở thành một tồn tại chính trị, tách biệt khỏi tự nhiên"(3).
Do niềm tin có tính đảng cho nên trong lịch sử thường diễn ra cuộc đấu tranh giữa những người theo tôn giáo và những người dị giáo, cuộc đấu tranh đó diễn ra một cách quyết liệt, không khoan nhượng và có khi phải trả bằng máu: "Người Islam giáo tiêu diệt những kẻ dị giáo bằng lửa và thanh kiếm, người Kitô giáo cũng tiêu diệt những kẻ dị giáo của mình bằng ngọn lửa"(4).
Là một người có tư tưởng tự do cấp tiến, Feuerbach cho rằng, tự do chính trị trong lịch sử quá khứ và lịch sử đương thời luôn có mối quan hệ ràng buộc với tôn giáo, những người làm chính trị, đặc biệt là các vị vua trong triều đại phong kiến thường thần thánh hoá các chính sách chính trị của mình để dễ bề cai trị dân chúng, hơn thế nữa họ còn mang danh thần thánh (như ở Trung Quốc, vua tự gọi mình là Thiên Tử) để thay Trời trị dân (thế thiên hành đạo). Khi phân tích hình tượng thần Dớt trong thần thoại Hy Lạp, Feuerbach thấy rằng đây không còn là thần nữa mà là cha đẻ của các hoàng đế, là tượng trưng của quyền lực chính trị. Chính vì vậy, Feuerbach cho rằng, chừng nào còn tồn tại tôn giáo thì chừng đó con người chưa có tự do chính trị theo nghĩa chân chính của nó. "Tôi không thèm hiến tặng dù chỉ một đồng chinh - Feuerbach viết - cho thứ tự do chính trị phó mặc cho con người trở thành nô lệ của tôn giáo. Tự do chân chính chỉ tồn tại khi con người đã được giải phóng khỏi mọi thiên kiến tôn giáo"(5).
ở đây thể hiện một tư tưởng hoàn toàn mới của Feuerbach so với các bậc tiền bối, bởi vì ông đã nhìn thấy mối quan hệ hiện thực giữa tự do của con người với hoàn cảnh mà nó đang sống; điều mà trước đó Kant và Hegel chỉ đặt ra và giải quyết trên phương diện lí luận, để rồi cuối cùng phải nương nhờ vào sự tồn tại của Thượng Đế (Kant) và của yếu tố tinh thần (Hegel) như những phương tiện để đạt tới tự do đích thực. Trái với Kant và Hegel, Feuerbach cho rằng, Thượng Đế mới là lực lượng cản trở tự do thực sự của con người, và để đạt tới tự do thì cần loại bỏ Thượng Đế.

admin
02-08-2006, 08:59 AM
2.2. Mối quan hệ giữa tôn giáo và đạo đức
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach khẳng định một cách dứt khoát rằng, đạo đức là lĩnh vực quan hệ giữa người với người trong thế giới hiện thực sinh động, nó không liên quan gì tới thế giới bên kia. Trong đạo đức, con người thiết lập quan hệ của nó với bản thân mình, với những người thân cận. Còn trong tôn giáo, con người thiết lập quan hệ với một tồn tại tách khỏi bản tính con người, tức là thần thánh, thần thánh đối với con người như một lí tưởng đạo đức bù đắp những gì mà con người còn thiếu hụt: "Trong tôn giáo, con người bị phân thân, con người đối lập mình với Thượng Đế. Thượng Đế là cái vô hạn, còn con người là hữu hạn, Thượng Đế là cái hoàn thiện, còn con người là không hoàn thiện. Thượng Đế là thánh thần, con người là tội lỗi"(6).
Dựa trên những khảo cứu lịch sử, Feuerbach thấy rằng trong thực tế thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, sự thù địch giữa người theo đạo và kẻ dị giáo. Hơn nữa có những người có chức sắc tôn giáo cao trong giáo hội, song họ vẫn có những hành vi phi đạo đức. Từ đó ông lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng dường như phủ định Thượng Đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức. Feuerbach chứng minh hoàn toàn ngược lại, ông cho rằng, tôn giáo đã xoá nhoà ranh giới quan hệ giữa người với người, đưa con người thoát khỏi hạnh phúc trần gian. Ông viết: "Đạo đức và tôn giáo, niềm tin và tình yêu là những cái đối lập nhau. Kẻ nào kính Chúa, người đó không thể yêu thương con người hơn người khác, vì anh ta đã đánh mất sự am hiểu con người, và ngược lại: người nào yêu thương con người một cách đích thực, chân thật, thì người đó không thể kính Chúa"(7). Như vậy, theo Feuerbach, tình yêu đồng loại có thể loại trừ sự kính Chúa và ngược lại. Bởi vậy, để có một xã hội tốt đẹp thì phải tiến hành cải cách tôn giáo: "Nếu như bản chất con người là bản chất cao quý của con người, thì tình yêu hiện thực đối với con người cần phải là quy luật đầu tiên cao quý của con người. Con người đối với con người là Thượng Đế - đó chính là nền tảng thực tiễn cao nhất, là xuất phát điểm của lịch sử toàn cầu. Quan hệ của đứa bé đối với cha mẹ mình, của chồng đối với vợ, của anh đối với em, của bạn bè đối với nhau, nói chung là quan hệ của con người đối với con người, nói tóm lại, các quan hệ đạo đức thuần tuý chính là các quan hệ tôn giáo"(8).
Quan điểm về cải cách tôn giáo được Feuerbach trình bày một cách khá rõ trong đoạn kết của Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo: "Thưa các bạn, bằng những lời này, tôi kết thúc các bài giảng của mình, tôi mong muốn rằng tôi sẽ đạt được nhiệm vụ mà tôi đã đặt ra trong các bài giảng này, mà chính là: Từ bạn của Thượng Đế, trở thành bạn của con người, từ những tín đồ trở thành người duy lí, từ những người luôn cầu nguyện Thượng Đế rủ lòng thương trở thànhngười lao động, từ những nghiên cứu sinh ở thế giới bên kia trở thành những người nghiên cứu viên ở thế giới trần gian, từ những tín đồ Kitô giáo theo sự thừa nhận, theo ý thức của chính họ, là "nửa súc vật, nửa thiên thần" trở thành những con người hoàn thiện”(9). Những lời trên cũng có thể được coi như bức thông điệp hoà bình của ông gửi đến các thế hệ mai sau với ngụ ý rằng, con người trước hết phải thương yêu nhau thực sự ở chốn trần gian, bởi đây mới là những tình yêu chân chính theo đúng nghĩa của từ này.
2.3 Mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học
Tiếp tục truyền thống của Spinoza và các nhà duy vật Pháp, khảo sát tiến trình phát triển của khoa học tự nhiên, Feuerbach cho rằng khoa học không thể dung hoà với tôn giáo, giữa chúng có sự khác biệt về nội dung, phương pháp và vai trò.
Về nội dung, bằng những bằng chứng của khoa học đương thời, Feuerbach đã phủ nhận quan điểm của Kinh Thánh về Chúa Sáng Thế. Ông cho rằng những điều ghi nhận trong Kinh Thánh về Chúa Sáng Thế là một điều bịa đặt, bởi theo sách này thì thế giới được hình thành chỉ bằng lời nói và ý tưởng của Chúa Trời. Nhà triết học Đức đã đưa ra những bằng chứng khoa học về sự sống để bác bỏ tôn giáo, ông cho rằng, "sự sống hình thành từ những thể không sống, từ thể vô cơ phát sinh ra thể hữu cơ, con người là sản phẩm của tự nhiên trong giai đoạn phát triển cao của nó, tư duy là thuộc tính của vật chất cảm tính hay bộ óc con người". Feuerbach đánh giá cao ý nghĩa khoa học và ý nghĩa cách mạng của thuyết nhật tâm, ông viết: "Nhà cách mạng đầu tiên của thời cận đại là Nicolai Copernic... ông đã phủ nhận niềm tin phổ quát thần thánh của loài người vào sự bất động của trái đất".
Về phương pháp, Feuerbach cho rằng, khoa học và tôn giáo có phương pháp tiếp cận các đối tượng nghiên cứu khác nhau. Khi nghiên cứu, khoa học dựa trên những kinh nghiệm và tư liệu thực tế. Còn tôn giáo khi luận chứng cho sự tồn tại của Chúa Trời chỉ dựa trên niềm tin mù quáng, trên những tình cảm bột phát của con người, đặc biệt là những người nhẹ dạ cả tin. Ông luôn khẳng định rằng, các câu chuyện ghi nhận trong Kinh Thánh phản ánh khát vọng của con người mà thôi chứ không có thực.
Về vai trò, Feuerbach giải thích rằng, sự hình thành, tồn tại và phát triển của tôn giáo gắn liền với sự ngu dốt, sự lạc hậu, tôn giáo được truyền bá một cách rộng rãi trong quảng đại công chúng. Còn khoa học là sự khai sáng của trí tuệ, nó chỉ có trong số ít người.

admin
02-08-2006, 09:01 AM
2. 4 Mối quan hệ giữa tôn giáo và triết học duy tâm
Xuất phát từ việc nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo, nhà triết học Đức đã nhìn thấy mối quan hệ mật thiết giữa tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, hay theo cách gọi của ông là triết học tư biện. Khảo sát tiến trình phát triển của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo trong lịch sử, Feuerbach nhận thấy rằng, tôn giáo chính là xuất phát điểm của chủ nghĩa duy tâm, còn chủ nghĩa duy tâm chính là hình thức phái sinh của tôn giáo. Theo Feuerbach, cả hai hình thái tinh thần kể trên đều là sự phản ánh một cách sai lệch thế giới hiện thực khách quan, là quá trình tách cái chủ quan khỏi cái khách quan trong nhận thức của con người, giữa chúng chỉ khác một điểm duy nhất là trong tôn giáo cái tinh thần được gọi là Thượng Đế, còn trong chủ nghĩa duy tâm cái tinh thần được gọi là ý niệm, khái niệm, cái tuyệt đối, v.v…Ông viết: "Bản chất của triết học tư biện hàm chứa trong bản chất duy lí hiện thực của thần thánh. Triết học tư biện chính là thần học duy lí chính hiệu"(10).
Theo Feuerbach, bản chất chung của tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thể hiện trên ba phương diện sau:
Về phương diện bản thể luận: Cả tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đều tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần, coi nó như là một thực thể tồn tại độc lập tuyệt đối tách khỏi vật chất, chính vì vậy, để chứng minh cho tính thứ nhất của tinh thần, chủ nghĩa duy tâm thường vay mượn các tín điều của Kinh Thánh.
Về phương diện nhận thức luận: Cả chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đều tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan, đề cao vai trò của trí tưởng tượng, đi đến quan điểm tách rời tư duy khỏi tồn tại, cái chung khỏi cái riêng. Bởi vậy, chúng đều phản ánh một cách sai lệch thế giới khách quan, biến các hiện tượng khách quan thành các hiện tượng chủ quan thần bí.
Về vai trò xã hội: Cả chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đều có vai trò tiêu cực trong đời sống xã hội, chúng đưa đến cho con người những nhận thức sai lầm về mối quan hệ giữa con người và thế giới, bảo vệ những quan niệm cổ hủ, lạc hậu, sai lầm. Bởi vậy, theo Feuerbach, việc phê phán và phủ nhận chủ nghĩa duy tâm phải đi liền với việc phê phán và phủ nhận thần thánh. Xuất phát từ quan điểm đó, Feuerbach đòi hỏi rằng "triết học cần phải liên kết với khoa học tự nhiên, và khoa học tự nhiên cần liên kết với triết học. Đây là một sự liên kết mang tính tất yếu nội tại"(11).
ý thức được mối quan hệ mật thiết giữa tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, Feuerbach đã phê phán chủ nghĩa bất khả tri của I. Kant, chủ nghĩa duy tâm khách quan thần bí của Fichte, Schelling, Hegel; ông cho rằng, triết học của họ là là sự tiếp tay cho tôn giáo, thừa nhận sự tồn tại hợp lí của Chúa Trời.
2.5. Mối quan hệ giữa tôn giáo và nghệ thuật
Khác với các bậc tiền bối của mình, Feuerbach không có sở trường trong việc nghiên cứu nghệ thuật; song việc nghiên cứu tôn giáo buộc ông phải chú ý đến vấn đề nghệ thuật.
Theo Feuerbach, trong tôn giáo và nghệ thuật vai trò của trí tưởng tượng chiếm vị trí chủ đạo, chúng đều cần những phương tiện biểu đạt như hình ảnh, biểu tượng, biểu trưng. Nghệ thuật và tôn giáo tác động một cách trực tiếp tới tình cảm con người, gây nên trong họ những xúc cảm mạnh. Hơn nữa, các nghệ sĩ thường lấy các chủ đề tôn giáo làm cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật của mình, đến lượt mình, các nhà thần học lại nhờ vào các tác phẩm nghệ thuật để tuyên truyền các tư tưởng tôn giáo. Với tư tưởng của một người hoàn toàn có ác cảm với tôn giáo, Feuerbach cho rằng, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật thoát khỏi những xiềng xích trói buộc của tôn giáo để vươn tới việc miêu tả cái đẹp của hiện thực cuộc sống, cái đẹp của tự nhiên. ông đặt câu hỏi: "Phải chăng đời sống của con người, lịch sử, tự nhiên không đủ tư liệu cho sáng tạo thi ca? Phải chăng hội hoạ không còn một nội dung nào khác ngoài việc khai thác các các chủ đề trong Kitô giáo?"(12).

admin
02-08-2006, 09:03 AM
3. Một số nhận định về triết học tôn giáo của Feuerbach
Có thể khẳng định rằng, Feuerbach là một nhà triết học trước Mác đã có một cái nhìn khá toàn diện và sâu sắc về tôn giáo; ông đã vượt lên các nhà duy vật Pháp và Spinoza cả về nội dung lẫn cách thức nhìn nhận tôn giáo.
3.1. Việc phân tích nguồn gốc tôn giáo từ phương diện xã hội là một bước tiến vượt bậc của Feuerbach so với các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII. Song do hạn chế bởi lập trường giai cấp và hoàn cảnh lịch sử nên Feuerbach chưa nhìn thấy bản chất đích thực của vấn đề; ông chỉ mới nhìn thấy sự ảnh hưởng của khía cạnh uy quyền chính trị của xã hội đối với con người trong quá trình hình thành tình cảm tôn giáo mà chưa nhìn thấy sự ảnh hưởng của khía cạnh uy quyền kinh tế- xã hội, chưa thấy rằng sự bất lực của quần chúng trong đấu tranh giai cấp, sự đau thương mất mát trong chiến tranh, sự quằn quại trong bệnh tật, những khủng hoảng về niềm tin, lí tưởng chính trị - xã hội cũng là những nẻo đường khác nhau dẫn con người đến với tôn giáo. Trong Luận cương về Feuerbach Mác cho rằng điều chủ yếu mà Feuerbach vẫn chưa làm được là: 1) giải thích những mâu thuẫn của cơ sở trần tục từ đó phát sinh ra tôn giáo; 2) không thấy rằng bản thân tình cảm tôn giáo cũng là một sản phẩm xã hội và các cá nhân trừu tượng mà ông phân tích là thuộc một hình thái xã hội nhất định(13).
ăngghen trong tác phẩm Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức cũng đã nhận xét: "Về hình thức Feuerbach là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống. Vì vậy con người mà ông nói luôn là con người trừu tượng vẫn chiếm cứ lĩnh vực triết học tôn giáo. Chính là vì con người đó không ra đời từ trong bụng mẹ, mà lại sinh ra từ ông thần của các tôn giáo độc thần... con người đó cũng không sống trong thế giới hiện thực"(14).
Lênin trong lúc bận rộn với công việc hoạt động cách mạng nhưng vẫn dành một khoảng thời gian cho việc nghiên cứu triết học tôn giáo của Feuerbach. ông đã tóm tắt cuốn sách Những bài giảng về bản chất của tôn giáo và có những nhận xét sắc sảo rằng: 1) triết học tôn giáo của Feuerbach là "chủ nghĩa duy vật contra (chống lại) chủ nghĩa duy tâm về mặt lí luận" và "chống lại bất khả tri luận", "chống lại sự lạm dụng danh từ tôn giáo"; 2) "trong tư tưởng của Feuerbach đã có những mầm mống, những phôi thai của chủ nghĩa duy vật lịch sử"(15).
3.2. Triết học tôn giáo của Feuerbach đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến sự hình thành chủ nghĩa vô thần của Mác. Cần phải đánh giá một cách khách quan rằng, chính Feuerbach chứ không ai khác đã giúp Mác thoát khỏi triết học duy tâm huyền bí của Hegel để đến với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần. Điều đó được khẳng định qua những lời nhận xét sau đây của ăngghen: "Tác phẩm của Feuerbach "Bản chất của đạo Cơ Đốc" ra đời... đã giáng một đòn phá tan ngay mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hegel, đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua... Lúc bấy giờ ai nấy đều phấn khởi: tất cả chúng tôi lập tức trở thành môn đồ của Feuerbach. Đọc "Gia đình thần thánh "có thể thấy Mác đã đón chào quan điểm mới mộtcách nhiệt liệt như thế nào, và quan điểm đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Mác như thế nào, mặc dầu Mác vẫn có những ý kiến bảo lưu có tính chất phê phán"(16), "phải thừa nhận đầy đủ rằng trong thời kì bão táp và lấn tới của chúng tôi, Feuerbach đã ảnh hưởng đến chúng tôi nhiều hơn bất cứ một nhà triết học nào khác sau Hegel"(17).
3.3. Tuy có những thành công như vậy, song triết học tôn giáo của Feuerbach cũng không thể không có những hạn chế nhất định của nó, đó là sự biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng. Chủ nghĩa duy tâm thực sự của Feuerbach lộ rõ khi chúng ta nghiên cứu tới triết học tôn giáo và đạo đức học của ông. Feuerbach hoàn toàn không muốn xoá bỏ tôn giáo; ông muốn hoàn thiện nó. Bản thân triết học cũng hoà vào tôn giáo... Theo Feuerbach, tôn giáo là mối quan hệ thương yêu giữa người và người; mối quan hệ này, cho đến nay, vẫn đi tìm chân lí của nó từ sự phản ánh huyền ảo của hiện thực - ở sự trung gian của một ông thần hay nhiều ông thần, tức là những hình ảnh huyền ảo của các thuộc tính của con người - nhưng ngày nay đã tìm thấy chân lí ấy một cách trực tiếp không cần có trung gian, trong tình thương yêu giữa "Tôi" và "Anh". Và chính vì thế mà theo Feuerbach thì cuối cùng tình yêu nam nữ là một trong những hình thức cao nhất... của việc thực hành tôn giáo mới của ông(18). Nhưng tình yêu - vâng đối với Feuerbach thì tình yêu, từ đâu và bao giờ cũng là một ông thần lắm phép lạ có thể giúp vượt mọi khó khăn của đời sống thực tiễn và giúp như thế trong một xã hội chia thành những giai cấp có quyền lợi đối lập hẳn với nhau! Do đó những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong tính triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kĩ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm hôn nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp - thật là một giấc mơ thiên hạ thuận hoà(19).
Với trái tim nhân hậu của mình, Feuerbach không hiểu được rằng, trong một xã hội còn đầy áp bức bất công, đầy khổ đau và bất hạnh thì việc loại bỏ tôn giáo là điều không tưởng. Và giấc mơ thiên hạ thuận hoà cũng không thể nào thực hiện được.
Tuy còn những hạn chế, song triết học tôn giáo của Feuerbach đã tạo nên bước ngoặt lớn trong lịch sử nhận thức về tôn giáo. Những công lao và hạn chế trong triết học tôn giáo của ông đặt ra cho chúng ta vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về tôn giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội nhằm xây dựng một thế giới vì hạnh phúc chân chính của con người./.

Lê Công Sự(*)

admin
02-08-2006, 09:03 AM
Ghi chú:

*. TS, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội.
1. Feuerbach. Các tác phẩm triết học. Matxcơva 1955., t. II, tr. 43. (Tiếng Nga).
2. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 293.
3. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 456.
4. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 290.
5. Feuerbach. Sđd., t. I, tr. 109.
6. Feuerbach. Sđd., t. II. tr. 64.
7. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 824.
8. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 308.
9. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 810.
10. Feuerbach. Sđd., t. I, tr. 137.
11. Feuerbach. Sđd., t. I, tr. 132.
12. Feuerbach. Sđd., t. II, tr. 693.
13. Xem: C. Mác và Ph. ăngghen. Toàn tập, Nxb. CTQG. 1995, t. 3, tr. 10-11.
14. C. Mác và Ph. ăngghen. Sđd., t. 21, tr. 420.
15. Lênin. Toàn tập, Nxb. Tiến bộ., Matxcơva 1981, t. 29, tr. 60-61-64-68.
16. C. Mác và Ph. ăngghen. Sđd., t. 21, tr. 401.
17. C. Mác và Ph. ăngghen. Sđd., t. 21, tr. 527.
18. C. Mác và Ph. ăngghen. Sđd., t. 21, tr. 416.
19. C. Mác và Ph. ăngghen. Sđd., t. 21, tr. 425.