admin
17-03-2009, 09:17 PM
Hy Lạp
Người Hy Lạp: Cho đến tận thời cận đại, khởi thủy của Hy Lạp vẫn là điều khó hiểu. The Illiad và The Odyssey, hai thi phẩm bất hủ được kể là do một thi sĩ mù người Hy lạp tên Homer sáng tác, cho thấy rất có thể có những lối sống còn cổ xưa hơn. Ngày nay, những khám phá hiện đại đang dựng được một hình ảnh đầy ngạc nhiên về nền văn minh khởi thủy ấy. Lâu trước đó, người Mi-nô-an ở Cơ-rêt-ta từng xây được những dinh thự lộng lẫy và buôn bán với Ai Cập rồi. Nhưng đế quốc của họ xụp đổ bất thình lình vì cả động đất lẫn xâm lăng. Các nhà cai trị cuối cùng nói tiếng Hy Lạp: các tấm bảng có các chữ Hy Lạp xưa nhất đã được tìm thấy trong các cung điện của họ.
Cuốn The Illiad kể lại một phần câu truyện cuộc chiến 10 năm lúc người Hy Lạp tấn công thành Troy. Ngày nay, ta biết chắc quả có một thành Troy thực sự, và nền văn minh cổ xưa của người Hy Lạp đặt trung tâm tại Mi-khê-nê trên đất liền phía nam Hy Lạp. Homer làm sống lại các ký ức về điều thực sự đã xẩy ra lâu năm trước.
Lịch Sử Ban Sơ: Người nói tiếng Hy Lạp du nhập vào Hy Lạp từ phương bắc. Hy Lạp xưa nay vốn là một nước nghèo, nhiều đất đá. Hồi ấy, người ta sống trong những thị trấn nhỏ cách biệt bởi núi non hiểm trở. Sau thời I kỳ huy hoàng của Mi-khê-nê, mảnh đất này chưa bao giờ được thống nhất. Thị trấn này tấn công thị trấn khác. Nên du hành bằng đường biển dễ dàng hơn bằng đường bộ. Rất ít đất đai mầu mỡ để nuôi sống dân, nên người Hy Lạp đã trở thành những thủy thủ đầy mạo hiểm. Những luồng gió Hạ đều đặn và những nơi trú ẩn rải rác khắp các hòn đảo giúp họ vượt qua eo biền Aegian tới tận A-xi-a (nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Họ mang về thực phẩm, và lập nên nhiều thành thị dọc bờ Địa Trung Hải, nhất là ở vùng Tiểu Á. Thời Thánh Kinh, người Hy Lạp sống trên một vùng rộng lớn hơn là phần đất ngày nay ta gọi là Hy Lạp.
Thời ‘hoàng kim’: Thế kỷ thứ 5 trước CN, nổi tiếng nhất trong các thành thị của Hy Lạp chính là A-thê-na. Người dân A-thê-na đóng vai trò hàng đầu trong việc đánh bại hai cuộc tấn công vĩ đại của người Ba Tư vào các năm 490 và 480 trước CN. Họ trở nên giầu có và quyền thế, và xây được những đền thờ huy hoàng, trong đó có đền Pác-thê-nôn, mà ngày nay vẫn còn sừng sững. A-thê-na cũng trở thành quê hương của nhiều lãnh tụ, tư tưởng gia, văn gia và thi sĩ vĩ đại. Các tên như Pericles, Socrates, Plato, Sophocles, EUaipides và nhiều người khác nữa vẫn còn nổi tiếng đến tận ngày nay. Những tên tuổi này gây ảnh hưởng rất lớn đối với thế giới.
A-thê-na là điển hình hoàn hảo của lối sống Hy Lạp. Nó là một ‘dân chủ chế’ (democracy). Từ ngữ ấy chính là một từ ngữ Hy Lạp để chỉ một ý niệm Hy Lạp vĩ đại. Đối với người A-thê-na, nó có nghĩa là mỗi công dân phải đóng một vai trò trong công việc của thị xã. ‘Chính trị’ là việc của thị xã (tiếng Hy Lạp là polis). Người Hy Lạp là sắc dân có năng khiếu, khéo léo và hoạt động, mau mắn biện luận, có lòng qúy chuộng tự do và cảm nhận cái đẹp trong nghệ thuật và văn chương. Dù hết sức chia rẽ, họ vẫn rất tự hào làm người Hy Lạp. Họ nghĩ họ khác với mọi chủng tộc khác, những chủng tộc họ gọi là ‘mọi rợ’. Cứ mỗi bốn năm, mọi thị xã lại gặp nhau tại Olympia, thuộc miền nam Hy Lạp, để dự Các Trò Thi Đua Olympic (Thế Vận Hội sau này). Trong thời gian thi đấu ấy, họ ngưng mọi cuộc chiến.
A-lê-xan-đê: Hy Lạp bị những cuộc chiến tranh địa phương trên chia rẽ và làm ra suy yếu. Nhưng sau năm 336, A-lê-xan-đê Đại Đế, Vua Ma-kê-đô-ni-a (phía bắc), chinh phục được cả nước. Dân của A-lê-xan-đê vốn là Hy Lạp, nhưng đến lúc ấy chưa bao giờ quan trọng cả. A-lê-xan-đê chứng tỏ mình là một chiến binh sáng chói. Ông lật nhào đế quốc Ba Tư và xâm chiếm xa về phía đông đến tận Ấn Độ. Nhưng ông không phải chỉ là kẻ xâm chiếm. Ông còn nhằm truyền bá ngôn ngữ và văn minh Hy Lạp tới những vùng này nữa.
Các hoài bão của A-lê-xan-đê không bao giờ được thực hiện trọn vẹn vì ông chết rất trẻ. Sau đó, các tướng lãnh của ông đã tranh nhau chia chác đế quốc của ông. Ngay từ đầu nó đã bị phân chia rồi. Pơ-tô-lê-mai chiếm Ai Cập và lập nên một dòng vua Hy Lạp tại đó. Xê-lêu-cút cố thủ Phía Đông và dòng dõi Xê-lêu-kít của mình, biến An-ti-ô-ki-a, Xi-ri, thành thủ đô của dòng tộc ấy. Họ tranh đấu với dòng Pơ-tô-lê-mai để chiếm Pa-lét-tin. Một trong các vị vua của họ là An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê (175-163 trước CN) trở thành kẻ thù cay đắng của người Do Thái. Tại Tiểu Á, Ma-kê-đô-ni-a và Hy Lạp, tình thế hết sức lộn xộn vì nạn vua chúa đánh nhau dành quyền lực.
Ảnh Hưởng của Hy Lạp: Đỉnh cao nền văn minh Hy Lạp là thời kỳ trước A-lê-xan-đê. Thời kỳ sau đó được gọi là thời đại hy hoá (Hellenistic age, do chữ Hellen nghĩa là Hy Lạp). Thời này, tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ quốc tế cho cả vùng đông Địa Trung Hải và cả bên kia nữa. Nó là ngôn ngữ của thương mại, giáo dục và trước tác, đối với cả những người vẫn nói ngôn ngữ riêng của họ. Ngay cả người Do Thái cũng chịu ảnh hưởng của thứ ngôn ngữ này. Thực vậy, trong thế kỷ thứ 2 trước CN, Cựu Ước đã được dịch sang tiếng Hy Lạp tại A-l ê-xan-ri-a, cho người Do Thái nói tiếng Hy Lạp tại đó.
Bản dịch này, tên là Bản Bẩy Mươi, là bản Cựu Ước được các Ki-tô hữu ban đầu biết đến.
Khi quyền lực của người La Mã gia tăng, họ bắt đầu can dự vào công việc của Hy Lạp. Năm 141 trước CN, họ tàn phá Cô-rin-tô là thành đã chống cự họ. Với việc ấy, nền tự do chính trị của người Hy Lạp chấm dứt. Nhưng người La Mã chiến thắng lại đi tiếp thu lối suy nghĩ của người Hy Lạp. Tiếng Hy Lạp được lập làm ngôn ngữ chính thức của nửa phần Đế Quốc La Mã ở phương Đông. Nên quả là tự nhiên khi Tân Ước được trước tác bằng tiếng Hy Lạp.
Tân Ước: Tân Ước thường hay nhắc đến người Hy Lạp. Đôi khi từ ấy chỉ chung những người không phải là Do Thái (Dân Ngoại), những người nói tiếng Hy Lạp trong Đế Quốc La Mã. Rất ít truyện kể của Tân Ước xẩy ra trên đất Hy Lạp. Ấy thế nhưng Thánh Phao-lô, một người Do Thái hết sức bảo thủ, lại đã trước tác bằng tiếng Hy Lạp và rất hiểu biết đường lối suy nghĩ của Hy Lạp. Thí dụ, ngài biết người Hy Lạp quan tâm đến thể thao, nên đã hình dung đời sống Ki-tô giáo như một cuộc chạy đua và đánh bốc (1Cr 9:24-27). Phần lớn sự nghiệp của ngài được thực hiện tại các thành phố kiểu Hy Lạp, nhất là ờ Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ), mà vào thời đó, bao gồm nhiều thị trấn Hy Lạp lớn và giầu có nhất như Ê-phê-sô chẳng hạn. Các thành phố này vẫn duy trì các đặc quyền của họ và có được những sinh hoạt công cộng rất sầm uất. Họ có những buổi tụ tập, chợ búa, hội họp, bầu cử, tranh biện, thể thao và kịch nghệ. Họ có nghiệp đoàn, cả đình công và biểu tình nữa. Nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay hoàng đế La Mã. Ki-tô hữu gặp người Hy Lạp: Cuộc gặp gỡ cổ điển của Ki-tô hữu với người Hy Lạp đã xẩy ra ở chính A-thê-na. Lúc ấy A-thê-na vẫn là một thị trấn đại học, dù lúc này chỉ còn sống bằng vinh quang ngày cũ. Thánh Phao-lô thấy thành phố đầy những hình ảnh tôn giáo. Ngài bắt đầu tranh biện với những người ngài gặp tại công trường, và được mời tới Tòa A-rê-ô-pa-gô để trình bầy các ý tưởng mới mẻ của mình. Thánh Phao-lô nói bằng những ngôn từ họ có thể hiểu được. Ngài trích dẫn các thi sĩ của họ. Ngài bàn tới các luận chứng của phái Khắc Kỷ và phái Khoái Lạc, hai phái hàng đầu trong các nhà tư tưởng của họ. Nhưng ngài hết sức nghiêm túc và có nhiều điều khác hơn thế để nói. Vì dù các học giả của họ hết sức khôn khéo, nhưng họ lại không biết gì về Thiên Chúa. Vì thế ngài mạnh dạn nói với họ rằng Thiên Chúa không ‘sống trong các đền thờ do bàn tay con người làm nên’ (Cv 17:24), như những ngôi đền đep đẽ tọa lạc chung quanh họ. Thiên Chúa kêu gọi mọi người thay đổi lối sống. Ngài sẽ phán xử mọi người qua Chúa Giê-su, Đấng Ngài đã cho sống lại từ cõi chết.
Phần lớn người dân A-thê-na không sẵn sàng tiếp nhận những giáo huấn trên. Thánh Phao-lô cho hay: người Hy Lạp đi tìm ‘khôn ngoan’, trong khi sứ điệp của Ngài bị họ coi là điên khùng (1Cr 1:22-23). Các nhà tư tưởng của họ có một quan điểm hoàn toàn khác về sự sống đời sau. Họ tự cao và không chịu mở tâm trí trước bằng chứng của một thách thức đầy khó chịu đối với lối suy nghĩ của họ.
Người Hy Lạp: Cho đến tận thời cận đại, khởi thủy của Hy Lạp vẫn là điều khó hiểu. The Illiad và The Odyssey, hai thi phẩm bất hủ được kể là do một thi sĩ mù người Hy lạp tên Homer sáng tác, cho thấy rất có thể có những lối sống còn cổ xưa hơn. Ngày nay, những khám phá hiện đại đang dựng được một hình ảnh đầy ngạc nhiên về nền văn minh khởi thủy ấy. Lâu trước đó, người Mi-nô-an ở Cơ-rêt-ta từng xây được những dinh thự lộng lẫy và buôn bán với Ai Cập rồi. Nhưng đế quốc của họ xụp đổ bất thình lình vì cả động đất lẫn xâm lăng. Các nhà cai trị cuối cùng nói tiếng Hy Lạp: các tấm bảng có các chữ Hy Lạp xưa nhất đã được tìm thấy trong các cung điện của họ.
Cuốn The Illiad kể lại một phần câu truyện cuộc chiến 10 năm lúc người Hy Lạp tấn công thành Troy. Ngày nay, ta biết chắc quả có một thành Troy thực sự, và nền văn minh cổ xưa của người Hy Lạp đặt trung tâm tại Mi-khê-nê trên đất liền phía nam Hy Lạp. Homer làm sống lại các ký ức về điều thực sự đã xẩy ra lâu năm trước.
Lịch Sử Ban Sơ: Người nói tiếng Hy Lạp du nhập vào Hy Lạp từ phương bắc. Hy Lạp xưa nay vốn là một nước nghèo, nhiều đất đá. Hồi ấy, người ta sống trong những thị trấn nhỏ cách biệt bởi núi non hiểm trở. Sau thời I kỳ huy hoàng của Mi-khê-nê, mảnh đất này chưa bao giờ được thống nhất. Thị trấn này tấn công thị trấn khác. Nên du hành bằng đường biển dễ dàng hơn bằng đường bộ. Rất ít đất đai mầu mỡ để nuôi sống dân, nên người Hy Lạp đã trở thành những thủy thủ đầy mạo hiểm. Những luồng gió Hạ đều đặn và những nơi trú ẩn rải rác khắp các hòn đảo giúp họ vượt qua eo biền Aegian tới tận A-xi-a (nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Họ mang về thực phẩm, và lập nên nhiều thành thị dọc bờ Địa Trung Hải, nhất là ở vùng Tiểu Á. Thời Thánh Kinh, người Hy Lạp sống trên một vùng rộng lớn hơn là phần đất ngày nay ta gọi là Hy Lạp.
Thời ‘hoàng kim’: Thế kỷ thứ 5 trước CN, nổi tiếng nhất trong các thành thị của Hy Lạp chính là A-thê-na. Người dân A-thê-na đóng vai trò hàng đầu trong việc đánh bại hai cuộc tấn công vĩ đại của người Ba Tư vào các năm 490 và 480 trước CN. Họ trở nên giầu có và quyền thế, và xây được những đền thờ huy hoàng, trong đó có đền Pác-thê-nôn, mà ngày nay vẫn còn sừng sững. A-thê-na cũng trở thành quê hương của nhiều lãnh tụ, tư tưởng gia, văn gia và thi sĩ vĩ đại. Các tên như Pericles, Socrates, Plato, Sophocles, EUaipides và nhiều người khác nữa vẫn còn nổi tiếng đến tận ngày nay. Những tên tuổi này gây ảnh hưởng rất lớn đối với thế giới.
A-thê-na là điển hình hoàn hảo của lối sống Hy Lạp. Nó là một ‘dân chủ chế’ (democracy). Từ ngữ ấy chính là một từ ngữ Hy Lạp để chỉ một ý niệm Hy Lạp vĩ đại. Đối với người A-thê-na, nó có nghĩa là mỗi công dân phải đóng một vai trò trong công việc của thị xã. ‘Chính trị’ là việc của thị xã (tiếng Hy Lạp là polis). Người Hy Lạp là sắc dân có năng khiếu, khéo léo và hoạt động, mau mắn biện luận, có lòng qúy chuộng tự do và cảm nhận cái đẹp trong nghệ thuật và văn chương. Dù hết sức chia rẽ, họ vẫn rất tự hào làm người Hy Lạp. Họ nghĩ họ khác với mọi chủng tộc khác, những chủng tộc họ gọi là ‘mọi rợ’. Cứ mỗi bốn năm, mọi thị xã lại gặp nhau tại Olympia, thuộc miền nam Hy Lạp, để dự Các Trò Thi Đua Olympic (Thế Vận Hội sau này). Trong thời gian thi đấu ấy, họ ngưng mọi cuộc chiến.
A-lê-xan-đê: Hy Lạp bị những cuộc chiến tranh địa phương trên chia rẽ và làm ra suy yếu. Nhưng sau năm 336, A-lê-xan-đê Đại Đế, Vua Ma-kê-đô-ni-a (phía bắc), chinh phục được cả nước. Dân của A-lê-xan-đê vốn là Hy Lạp, nhưng đến lúc ấy chưa bao giờ quan trọng cả. A-lê-xan-đê chứng tỏ mình là một chiến binh sáng chói. Ông lật nhào đế quốc Ba Tư và xâm chiếm xa về phía đông đến tận Ấn Độ. Nhưng ông không phải chỉ là kẻ xâm chiếm. Ông còn nhằm truyền bá ngôn ngữ và văn minh Hy Lạp tới những vùng này nữa.
Các hoài bão của A-lê-xan-đê không bao giờ được thực hiện trọn vẹn vì ông chết rất trẻ. Sau đó, các tướng lãnh của ông đã tranh nhau chia chác đế quốc của ông. Ngay từ đầu nó đã bị phân chia rồi. Pơ-tô-lê-mai chiếm Ai Cập và lập nên một dòng vua Hy Lạp tại đó. Xê-lêu-cút cố thủ Phía Đông và dòng dõi Xê-lêu-kít của mình, biến An-ti-ô-ki-a, Xi-ri, thành thủ đô của dòng tộc ấy. Họ tranh đấu với dòng Pơ-tô-lê-mai để chiếm Pa-lét-tin. Một trong các vị vua của họ là An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê (175-163 trước CN) trở thành kẻ thù cay đắng của người Do Thái. Tại Tiểu Á, Ma-kê-đô-ni-a và Hy Lạp, tình thế hết sức lộn xộn vì nạn vua chúa đánh nhau dành quyền lực.
Ảnh Hưởng của Hy Lạp: Đỉnh cao nền văn minh Hy Lạp là thời kỳ trước A-lê-xan-đê. Thời kỳ sau đó được gọi là thời đại hy hoá (Hellenistic age, do chữ Hellen nghĩa là Hy Lạp). Thời này, tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ quốc tế cho cả vùng đông Địa Trung Hải và cả bên kia nữa. Nó là ngôn ngữ của thương mại, giáo dục và trước tác, đối với cả những người vẫn nói ngôn ngữ riêng của họ. Ngay cả người Do Thái cũng chịu ảnh hưởng của thứ ngôn ngữ này. Thực vậy, trong thế kỷ thứ 2 trước CN, Cựu Ước đã được dịch sang tiếng Hy Lạp tại A-l ê-xan-ri-a, cho người Do Thái nói tiếng Hy Lạp tại đó.
Bản dịch này, tên là Bản Bẩy Mươi, là bản Cựu Ước được các Ki-tô hữu ban đầu biết đến.
Khi quyền lực của người La Mã gia tăng, họ bắt đầu can dự vào công việc của Hy Lạp. Năm 141 trước CN, họ tàn phá Cô-rin-tô là thành đã chống cự họ. Với việc ấy, nền tự do chính trị của người Hy Lạp chấm dứt. Nhưng người La Mã chiến thắng lại đi tiếp thu lối suy nghĩ của người Hy Lạp. Tiếng Hy Lạp được lập làm ngôn ngữ chính thức của nửa phần Đế Quốc La Mã ở phương Đông. Nên quả là tự nhiên khi Tân Ước được trước tác bằng tiếng Hy Lạp.
Tân Ước: Tân Ước thường hay nhắc đến người Hy Lạp. Đôi khi từ ấy chỉ chung những người không phải là Do Thái (Dân Ngoại), những người nói tiếng Hy Lạp trong Đế Quốc La Mã. Rất ít truyện kể của Tân Ước xẩy ra trên đất Hy Lạp. Ấy thế nhưng Thánh Phao-lô, một người Do Thái hết sức bảo thủ, lại đã trước tác bằng tiếng Hy Lạp và rất hiểu biết đường lối suy nghĩ của Hy Lạp. Thí dụ, ngài biết người Hy Lạp quan tâm đến thể thao, nên đã hình dung đời sống Ki-tô giáo như một cuộc chạy đua và đánh bốc (1Cr 9:24-27). Phần lớn sự nghiệp của ngài được thực hiện tại các thành phố kiểu Hy Lạp, nhất là ờ Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ), mà vào thời đó, bao gồm nhiều thị trấn Hy Lạp lớn và giầu có nhất như Ê-phê-sô chẳng hạn. Các thành phố này vẫn duy trì các đặc quyền của họ và có được những sinh hoạt công cộng rất sầm uất. Họ có những buổi tụ tập, chợ búa, hội họp, bầu cử, tranh biện, thể thao và kịch nghệ. Họ có nghiệp đoàn, cả đình công và biểu tình nữa. Nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay hoàng đế La Mã. Ki-tô hữu gặp người Hy Lạp: Cuộc gặp gỡ cổ điển của Ki-tô hữu với người Hy Lạp đã xẩy ra ở chính A-thê-na. Lúc ấy A-thê-na vẫn là một thị trấn đại học, dù lúc này chỉ còn sống bằng vinh quang ngày cũ. Thánh Phao-lô thấy thành phố đầy những hình ảnh tôn giáo. Ngài bắt đầu tranh biện với những người ngài gặp tại công trường, và được mời tới Tòa A-rê-ô-pa-gô để trình bầy các ý tưởng mới mẻ của mình. Thánh Phao-lô nói bằng những ngôn từ họ có thể hiểu được. Ngài trích dẫn các thi sĩ của họ. Ngài bàn tới các luận chứng của phái Khắc Kỷ và phái Khoái Lạc, hai phái hàng đầu trong các nhà tư tưởng của họ. Nhưng ngài hết sức nghiêm túc và có nhiều điều khác hơn thế để nói. Vì dù các học giả của họ hết sức khôn khéo, nhưng họ lại không biết gì về Thiên Chúa. Vì thế ngài mạnh dạn nói với họ rằng Thiên Chúa không ‘sống trong các đền thờ do bàn tay con người làm nên’ (Cv 17:24), như những ngôi đền đep đẽ tọa lạc chung quanh họ. Thiên Chúa kêu gọi mọi người thay đổi lối sống. Ngài sẽ phán xử mọi người qua Chúa Giê-su, Đấng Ngài đã cho sống lại từ cõi chết.
Phần lớn người dân A-thê-na không sẵn sàng tiếp nhận những giáo huấn trên. Thánh Phao-lô cho hay: người Hy Lạp đi tìm ‘khôn ngoan’, trong khi sứ điệp của Ngài bị họ coi là điên khùng (1Cr 1:22-23). Các nhà tư tưởng của họ có một quan điểm hoàn toàn khác về sự sống đời sau. Họ tự cao và không chịu mở tâm trí trước bằng chứng của một thách thức đầy khó chịu đối với lối suy nghĩ của họ.