admin
21-03-2009, 09:45 AM
CẦU NGUYỆN THEO TRUYỀN THỐNG XITÔ
(Thuyết trình tại Liège, Bỉ, ngày 24.11.2005,
trong cuộc hội thảo về các hình thức cầu nguyện Kitô giáo)
Trong thư gửi tín hữu Roma (ch. 8) thánh Phaolô nói chúng ta không biết cầu nguyện nhưng Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả. Tôi nghĩ đó là giáo huấn sâu sắc nhất chúng ta có được về cầu nguyện trong Tân Ước. Đó là lời cầu nguyện duy nhất hiện hữu trong nhiệm cục mới của ơn cứu độ. Tất cả những gì khác mà chúng ta gọi là cầu nguyện như là lời kinh, tiếng hát, cử điệu hay chỉ im lặng- đều là những phương tiện chúng ta dùng để làm trào lên nơi ý thức lời cầu nguyện của Thánh Thần trong chúng ta, để làm cho lời cầu nguyện ấy trở thành của chúng ta, đón nhận lấy làm của ta và diễn đạt ra bên ngoài.
Cần phải đặt tiếng rên xiết của Thánh Thần nơi tâm hồn ta trong tương quan với trình thuật tạo dựng của sách Sáng thế. Trình thuật này mô tả Thiên Chúa tạo nên con người và thổi hơi sống, tức là Thần khí của riêng Ngài, vào lỗ mũi con người. Như thế, theo mặc khải thánh kinh, con người đã được tạo dựng, có mang nơi mình mầm sống thần linh, được mời gọi tăng trưởng không ngừng với một khả năng tăng trưởng vô cùng tận. Sự tăng trưởng ấy con người nhận được từ Thiên Chúa như một ân huệ. Trước ân huệ này, mà thánh Phêrô gọi là “tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, con người chỉ có thể có một thái độ là ước mong. Ước mong bẩm sinh đó trong lòng chúng ta chính là tiếng rên xiết của Thánh Thần, là lời cầu nguyện của Thánh Thần trong ta như thánh Phaolô nói.
Để cầu nguyện chúng ta không cần phải đặt mình hiện diện trước mặt Thiên Chúa, vì Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trước mặt ta. Và Ngài luôn luôn ở đó cách hoàn hảo, vì Thiên Chúa luôn luôn trọn vẹn là Ngài. Ngài không thể hiện diện trước mặt ta nhiều hay ít. Ngài luôn luôn ở đó, trong nơi sâu thẳm nhất của bản thân ta. Chính chúng ta mới thường vắng mặt. Cầu nguyện là hiện diện trước sự hiện diện của Chúa.
Điều này thật với mọi kitô hữu, ngay cả với mọi con người nữa. Vì thế tôi không thích nghe hỏi về cầu nguyện xitô”. Tôi nghĩ là không có cầu nguyện xitô”, cũng như không có cầu nguyện cát minh hay cầu nguyện đông phương hoặc tây phương. Nhưng tùy theo bậc sống, có nhiều cách để chuẩn bị chúng ta sẵn sàng đón nhận hồng ân cầu nguyện. Chỉ theo ý nghĩa đó ta mới có thể nói tới cầu nguyện xitô hay cầu nguyện gì khác.
Tôi cũng dị ứng với những kiểu nói như phương pháp cầu nguyện hoặc kỹ thuật cầu nguyện”. Chẳng phương pháp hay kỹ thuật nào có thể tạo ra sự cầu nguyện hay dẫn chúng ta tới cầu nguyện. Tất cả những gì một phương pháp có thể làm đó là loại bỏ khỏi lòng ta những trở ngại cho tác động của Thánh Thần hay chuẩn bị ta sẵn sàng đón nhận cách nhưng không hồng ân cầu nguyện. Quan niệm như thế thì một phương pháp đương nhiên là hữu ích, và phải thẩm định tùy theo kết quả nó mang lại. Nếu một phương pháp hướng dẫn ta để có được con tim tinh tuyền, sự an bình nội tâm và ý hướng ngay thẳng, đơn sơ trước hồng ân cầu nguyện, thì đó là một phương pháp tốt, dù có nguồn gốc từ Kitô giáo hay từ một truyền thống thiêng liêng khác.
Cũng vậy, tôi nghĩ thật là quá tự phụ khi một ai đó muốn dậy người ta cầu nguyện. Chỉ có Thánh Thần mới dậy được. Nhưng, dĩ nhiên việc chỉ dẫn thiêng liêng có thể giúp người nào đó tiến tới trên đường hiểu biết mình để đạt được ơn hoán cải và có con tim tinh tuyền mà nhận lãnh hồng ân cầu nguyện.
Nếu muốn nói đến một cách cầu nguyện thật là xitô, tôi sẽ nói là chẳng có một kỹ thuật hay một phương pháp đặc biệt nào dạy cho ta cách cầu nguyện đó cả. Cầu nguyện xitô nằm trong sự quân bình giữa các yếu tố của cuộc sống hàng ngày. Trong toàn bộ, nếp sống xitô, một cách sống mà tu luật thánh Biển Đức gọi là “cuộc hoán cải”, là nếp sống phải dẫn đưa đan sĩ tới việc cầu nguyện liên lỉ.
Tôi xin nhấn mạnh là “cầu nguyện liên lỉ”, vì đó là mục đích của cuộc đời đan sĩ cũng như của cuộc đời mợi kitô hữu. Thực vậy, nếu muốn tìm một chỉ thị rõ ràng trong Tân Ước, ta chỉ thấy có một chỉ thị duy nhất. Không chỗ nào nói phải cầu nguyện bao nhiêu lần trong một ngày hay một tuần. Chỉ thị duy nhất là phải cầu nguyện không ngừng. Dĩ nhiên điều ấy không có nghĩa là phải đọc kinh liên tục, nhưng phải duy trì liên tục bao nhiêu có thể sự hiện diện của mình trước tôn nhan Thiên Chúa, hiện diện trước Đấng luôn ở trước mặt mình. Hẳn là có những lúc ta ý thức cách mạnh mẽ về sự hiện diện của Chúa, có những lúc ý thức đó lại tiềm ẩn hơn, nhưng vẫn có thể và phải liên tục qua mọi sinh hoạt. Nếu không cố gắng sống liên tục trước nhan Chúa, mọi kinh nguyện ta thực hành trong những giờ phụng vụ cộng đoàn sẽ có nguy cơ chỉ là giả tạo.
Trong cuộc sống một đan sĩ xitô, có thời gian để lao động, có thời gian đọc Lời Chúa, có thời gian cầu nguyện riêng hay đọc kinh chung. Trong môi sinh hoạt trên đây, đan sĩ được mời gọi duy trì thái độ chiêm niệm hướng về Chúa. Nếu không chiêm niệm khi làm việc, ta cũng sẽ chẳng chiêm niệm được khi cử hành Phụng vụ Giờ kinh, hay khi quì gối trước Thánh Thể hoặc ngồi thiền trong phòng riêng (dù có đốt nến thắp hương đi nữa!).
Chiêm niệm trong khi làm việc không có nghĩa là đọc kinh hay suy nghĩ những điều thiêng liêng trong lúc đó. Nhưng đơn giản chỉ là hiện diện trước mặt Chúa. Và cách hiện diện tốt nhất trước mặt Chúa là chăm chú vào việc đang làm, cố gắng làm tốt chừng nào có thể, dù là việc trí óc hay việc chân tay, như làm ruộng, làm máy, làm kỹ thuật. Làm việc là kết hợp với Chúa, vì làm việc là dự phần vào hoạt động sáng tạo của Chúa, Đấng không ngừng tạo dựng thế giới qua những sinh hoạt của chúng ta. Hẳn là có những việc cho phép ta đọc kinh hay nghĩ tới những điều thiêng liêng cách dễ dàng hơn những việc khác. Nhưng không vì vậy mà những công việc ấy có tính cầu nguyện hơn những việc đòi phải hoàn toàn chăm chú về thể lý hoặc tinh thần để làm cho tốt.
Bên cạnh lao động, một sinh hoạt quan trọng của đời sống đan tu giúp đan sĩ – bằng cố gắng tích cực của tâm và trí – có được những hiểu biết sâu sắc hơn về các mầu nhiệm đức tin, đó là lectio divina (đọc Lời Chúa hay đọc sách thiêng liêng). Từ ngữ này mới trở nên quen thuộc từ những thập niên mới đây, nhưng thực tại của nó đã có từ rất xa xưa. Hơn nữa, các đan sĩ xưa kia hiểu về ý nghĩa của từ ngữ lectio divina rộng rãi hơn ta hiểu ngày nay.
Bây giờ người ta thường coi lectio divina là một khoản luật như những khoản luật khác, mặc dầu cho đó là một trong những khoản luật quan trọng hơn cả. Khi coi lectio divina như một khoản luật phải giữ, ta làm mất hết ý nghĩa sâu xa nhất của từ ngữ ấy. Với các đan sĩ cổ thời, lectio divina không phải là một khoản luật nhưng là một thái độ. Thái độ này hệ tại chỗ để cho bản thân mình được Lời Chúa liên tục chất vấn, và để Lời Chúa biến đổi cũng như hoán cải mình. Chúa nói với ta bằng ngàn cách khác nhau. Ngài nói với ta qua Lời mạc khải trong Kinh Thánh Cựu và Tân Ước. Ngài nói với ta qua Truyền thống của Giáo hội. Ngài nói với ta qua các biến cố lịch sử, đặc biệt các biến cố chính chúng ta đã trải qua. Ngài nói với ta qua những người ta chung sống. Và ngài không ngừng nói với ta trong đáy lòng ta. Trước những cách diễn đạt ấy của Lời Chúa, tôi phải có thái độ sẵn sàng cởi mở để đón nhận. Nếu không cởi mở đón nhận khi học hỏi hay khi lắng nghe anh em tôi, tôi cũng sẽ không cởi mở đón nhận khi đọc Kinh thánh. Ta sẽ hoàn toàn tự đánh lừa mình khi tưởng mình là con người cầu nguyện vì đã cẩn thận chu toàn giờ suy niệm và giờ lectio divina mỗi ngày, nhưng lại chẳng cố gắng giữ tâm hồn cởi mở trong mọi công việc khác.
Dĩ nhiên Lời Kinh thánh phải giữ vị trí ưu tiên trong đời sống cầu nguyện của ta, vì Lời đó truyền đạt cho ta kinh nghiệm thiêng liêng của nhiều thế hệ những người tin và những tâm hồn cầu nguyện. Không những chỉ sống động, Lời ấy còn luôn luôn mới mẻ mỗi khi ta đọc, bởi vì khi đó chính ta cũng đã khác rồi. Nhưng phân biệt cách tuyệt đối rạch ròi giữa lectio divina và những hình thức đọc sách hay học hỏi khác, như nhiều khi sách báo ngày nay đã làm, tôi nghĩ chẳng những sai lầm mà còn nguy hiểm nữa. Trái lại chúng ta phải học hỏi hay đọc sách với cùng một thái độ như khi thực hiện lectio divina; nghĩa là để cho mình được cật vấn và biến đổi bởi Chân lý đến với chúng ta qua tất cả những thực hành đó.
Đan sĩ xitô là một đan sĩ cộng tu, nghĩa là sống chung với anh em. Vì thế việc cầu nguyện mà họ cố gắng sống thường xuyên bao nhiêu có thể trong suốt cả ngày, họ sẽ diễn đạt nhiều lần trong ngày –và cả ban đêm- trong việc cử hành chung gọi là Thần Vụ hay Giờ kinh Phụng vụ, như thường nói từ sau Công đồng Vatican II. Trong tu luật, thánh Biển Đức gọi là Opus Dei – Thần vụ. Từ ngữ này rất đẹp. Nó nói tới một công việc. Đó là một hoạt động chung. Việc cầu nguyện trong ngày không phải chỉ có các giờ Thần vụ, vì chúng ta phải cố gắng cầu nguyện không ngừng, nhưng các giờ Thần vụ là những lúc chúng ta góp chung lại tất cả những yếu tố làm nên trái tim của đời sống chúng ta.
(Thuyết trình tại Liège, Bỉ, ngày 24.11.2005,
trong cuộc hội thảo về các hình thức cầu nguyện Kitô giáo)
Trong thư gửi tín hữu Roma (ch. 8) thánh Phaolô nói chúng ta không biết cầu nguyện nhưng Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả. Tôi nghĩ đó là giáo huấn sâu sắc nhất chúng ta có được về cầu nguyện trong Tân Ước. Đó là lời cầu nguyện duy nhất hiện hữu trong nhiệm cục mới của ơn cứu độ. Tất cả những gì khác mà chúng ta gọi là cầu nguyện như là lời kinh, tiếng hát, cử điệu hay chỉ im lặng- đều là những phương tiện chúng ta dùng để làm trào lên nơi ý thức lời cầu nguyện của Thánh Thần trong chúng ta, để làm cho lời cầu nguyện ấy trở thành của chúng ta, đón nhận lấy làm của ta và diễn đạt ra bên ngoài.
Cần phải đặt tiếng rên xiết của Thánh Thần nơi tâm hồn ta trong tương quan với trình thuật tạo dựng của sách Sáng thế. Trình thuật này mô tả Thiên Chúa tạo nên con người và thổi hơi sống, tức là Thần khí của riêng Ngài, vào lỗ mũi con người. Như thế, theo mặc khải thánh kinh, con người đã được tạo dựng, có mang nơi mình mầm sống thần linh, được mời gọi tăng trưởng không ngừng với một khả năng tăng trưởng vô cùng tận. Sự tăng trưởng ấy con người nhận được từ Thiên Chúa như một ân huệ. Trước ân huệ này, mà thánh Phêrô gọi là “tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, con người chỉ có thể có một thái độ là ước mong. Ước mong bẩm sinh đó trong lòng chúng ta chính là tiếng rên xiết của Thánh Thần, là lời cầu nguyện của Thánh Thần trong ta như thánh Phaolô nói.
Để cầu nguyện chúng ta không cần phải đặt mình hiện diện trước mặt Thiên Chúa, vì Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trước mặt ta. Và Ngài luôn luôn ở đó cách hoàn hảo, vì Thiên Chúa luôn luôn trọn vẹn là Ngài. Ngài không thể hiện diện trước mặt ta nhiều hay ít. Ngài luôn luôn ở đó, trong nơi sâu thẳm nhất của bản thân ta. Chính chúng ta mới thường vắng mặt. Cầu nguyện là hiện diện trước sự hiện diện của Chúa.
Điều này thật với mọi kitô hữu, ngay cả với mọi con người nữa. Vì thế tôi không thích nghe hỏi về cầu nguyện xitô”. Tôi nghĩ là không có cầu nguyện xitô”, cũng như không có cầu nguyện cát minh hay cầu nguyện đông phương hoặc tây phương. Nhưng tùy theo bậc sống, có nhiều cách để chuẩn bị chúng ta sẵn sàng đón nhận hồng ân cầu nguyện. Chỉ theo ý nghĩa đó ta mới có thể nói tới cầu nguyện xitô hay cầu nguyện gì khác.
Tôi cũng dị ứng với những kiểu nói như phương pháp cầu nguyện hoặc kỹ thuật cầu nguyện”. Chẳng phương pháp hay kỹ thuật nào có thể tạo ra sự cầu nguyện hay dẫn chúng ta tới cầu nguyện. Tất cả những gì một phương pháp có thể làm đó là loại bỏ khỏi lòng ta những trở ngại cho tác động của Thánh Thần hay chuẩn bị ta sẵn sàng đón nhận cách nhưng không hồng ân cầu nguyện. Quan niệm như thế thì một phương pháp đương nhiên là hữu ích, và phải thẩm định tùy theo kết quả nó mang lại. Nếu một phương pháp hướng dẫn ta để có được con tim tinh tuyền, sự an bình nội tâm và ý hướng ngay thẳng, đơn sơ trước hồng ân cầu nguyện, thì đó là một phương pháp tốt, dù có nguồn gốc từ Kitô giáo hay từ một truyền thống thiêng liêng khác.
Cũng vậy, tôi nghĩ thật là quá tự phụ khi một ai đó muốn dậy người ta cầu nguyện. Chỉ có Thánh Thần mới dậy được. Nhưng, dĩ nhiên việc chỉ dẫn thiêng liêng có thể giúp người nào đó tiến tới trên đường hiểu biết mình để đạt được ơn hoán cải và có con tim tinh tuyền mà nhận lãnh hồng ân cầu nguyện.
Nếu muốn nói đến một cách cầu nguyện thật là xitô, tôi sẽ nói là chẳng có một kỹ thuật hay một phương pháp đặc biệt nào dạy cho ta cách cầu nguyện đó cả. Cầu nguyện xitô nằm trong sự quân bình giữa các yếu tố của cuộc sống hàng ngày. Trong toàn bộ, nếp sống xitô, một cách sống mà tu luật thánh Biển Đức gọi là “cuộc hoán cải”, là nếp sống phải dẫn đưa đan sĩ tới việc cầu nguyện liên lỉ.
Tôi xin nhấn mạnh là “cầu nguyện liên lỉ”, vì đó là mục đích của cuộc đời đan sĩ cũng như của cuộc đời mợi kitô hữu. Thực vậy, nếu muốn tìm một chỉ thị rõ ràng trong Tân Ước, ta chỉ thấy có một chỉ thị duy nhất. Không chỗ nào nói phải cầu nguyện bao nhiêu lần trong một ngày hay một tuần. Chỉ thị duy nhất là phải cầu nguyện không ngừng. Dĩ nhiên điều ấy không có nghĩa là phải đọc kinh liên tục, nhưng phải duy trì liên tục bao nhiêu có thể sự hiện diện của mình trước tôn nhan Thiên Chúa, hiện diện trước Đấng luôn ở trước mặt mình. Hẳn là có những lúc ta ý thức cách mạnh mẽ về sự hiện diện của Chúa, có những lúc ý thức đó lại tiềm ẩn hơn, nhưng vẫn có thể và phải liên tục qua mọi sinh hoạt. Nếu không cố gắng sống liên tục trước nhan Chúa, mọi kinh nguyện ta thực hành trong những giờ phụng vụ cộng đoàn sẽ có nguy cơ chỉ là giả tạo.
Trong cuộc sống một đan sĩ xitô, có thời gian để lao động, có thời gian đọc Lời Chúa, có thời gian cầu nguyện riêng hay đọc kinh chung. Trong môi sinh hoạt trên đây, đan sĩ được mời gọi duy trì thái độ chiêm niệm hướng về Chúa. Nếu không chiêm niệm khi làm việc, ta cũng sẽ chẳng chiêm niệm được khi cử hành Phụng vụ Giờ kinh, hay khi quì gối trước Thánh Thể hoặc ngồi thiền trong phòng riêng (dù có đốt nến thắp hương đi nữa!).
Chiêm niệm trong khi làm việc không có nghĩa là đọc kinh hay suy nghĩ những điều thiêng liêng trong lúc đó. Nhưng đơn giản chỉ là hiện diện trước mặt Chúa. Và cách hiện diện tốt nhất trước mặt Chúa là chăm chú vào việc đang làm, cố gắng làm tốt chừng nào có thể, dù là việc trí óc hay việc chân tay, như làm ruộng, làm máy, làm kỹ thuật. Làm việc là kết hợp với Chúa, vì làm việc là dự phần vào hoạt động sáng tạo của Chúa, Đấng không ngừng tạo dựng thế giới qua những sinh hoạt của chúng ta. Hẳn là có những việc cho phép ta đọc kinh hay nghĩ tới những điều thiêng liêng cách dễ dàng hơn những việc khác. Nhưng không vì vậy mà những công việc ấy có tính cầu nguyện hơn những việc đòi phải hoàn toàn chăm chú về thể lý hoặc tinh thần để làm cho tốt.
Bên cạnh lao động, một sinh hoạt quan trọng của đời sống đan tu giúp đan sĩ – bằng cố gắng tích cực của tâm và trí – có được những hiểu biết sâu sắc hơn về các mầu nhiệm đức tin, đó là lectio divina (đọc Lời Chúa hay đọc sách thiêng liêng). Từ ngữ này mới trở nên quen thuộc từ những thập niên mới đây, nhưng thực tại của nó đã có từ rất xa xưa. Hơn nữa, các đan sĩ xưa kia hiểu về ý nghĩa của từ ngữ lectio divina rộng rãi hơn ta hiểu ngày nay.
Bây giờ người ta thường coi lectio divina là một khoản luật như những khoản luật khác, mặc dầu cho đó là một trong những khoản luật quan trọng hơn cả. Khi coi lectio divina như một khoản luật phải giữ, ta làm mất hết ý nghĩa sâu xa nhất của từ ngữ ấy. Với các đan sĩ cổ thời, lectio divina không phải là một khoản luật nhưng là một thái độ. Thái độ này hệ tại chỗ để cho bản thân mình được Lời Chúa liên tục chất vấn, và để Lời Chúa biến đổi cũng như hoán cải mình. Chúa nói với ta bằng ngàn cách khác nhau. Ngài nói với ta qua Lời mạc khải trong Kinh Thánh Cựu và Tân Ước. Ngài nói với ta qua Truyền thống của Giáo hội. Ngài nói với ta qua các biến cố lịch sử, đặc biệt các biến cố chính chúng ta đã trải qua. Ngài nói với ta qua những người ta chung sống. Và ngài không ngừng nói với ta trong đáy lòng ta. Trước những cách diễn đạt ấy của Lời Chúa, tôi phải có thái độ sẵn sàng cởi mở để đón nhận. Nếu không cởi mở đón nhận khi học hỏi hay khi lắng nghe anh em tôi, tôi cũng sẽ không cởi mở đón nhận khi đọc Kinh thánh. Ta sẽ hoàn toàn tự đánh lừa mình khi tưởng mình là con người cầu nguyện vì đã cẩn thận chu toàn giờ suy niệm và giờ lectio divina mỗi ngày, nhưng lại chẳng cố gắng giữ tâm hồn cởi mở trong mọi công việc khác.
Dĩ nhiên Lời Kinh thánh phải giữ vị trí ưu tiên trong đời sống cầu nguyện của ta, vì Lời đó truyền đạt cho ta kinh nghiệm thiêng liêng của nhiều thế hệ những người tin và những tâm hồn cầu nguyện. Không những chỉ sống động, Lời ấy còn luôn luôn mới mẻ mỗi khi ta đọc, bởi vì khi đó chính ta cũng đã khác rồi. Nhưng phân biệt cách tuyệt đối rạch ròi giữa lectio divina và những hình thức đọc sách hay học hỏi khác, như nhiều khi sách báo ngày nay đã làm, tôi nghĩ chẳng những sai lầm mà còn nguy hiểm nữa. Trái lại chúng ta phải học hỏi hay đọc sách với cùng một thái độ như khi thực hiện lectio divina; nghĩa là để cho mình được cật vấn và biến đổi bởi Chân lý đến với chúng ta qua tất cả những thực hành đó.
Đan sĩ xitô là một đan sĩ cộng tu, nghĩa là sống chung với anh em. Vì thế việc cầu nguyện mà họ cố gắng sống thường xuyên bao nhiêu có thể trong suốt cả ngày, họ sẽ diễn đạt nhiều lần trong ngày –và cả ban đêm- trong việc cử hành chung gọi là Thần Vụ hay Giờ kinh Phụng vụ, như thường nói từ sau Công đồng Vatican II. Trong tu luật, thánh Biển Đức gọi là Opus Dei – Thần vụ. Từ ngữ này rất đẹp. Nó nói tới một công việc. Đó là một hoạt động chung. Việc cầu nguyện trong ngày không phải chỉ có các giờ Thần vụ, vì chúng ta phải cố gắng cầu nguyện không ngừng, nhưng các giờ Thần vụ là những lúc chúng ta góp chung lại tất cả những yếu tố làm nên trái tim của đời sống chúng ta.