admin
21-03-2009, 08:44 PM
Đời Sống Gia Đình
Gia đình thời Áp-ra-ham là điều những ai trong chúng ta từng sống trong một đơn vị gia đình nhỏ gọi là ‘đại gia đình” hay ‘gia đình nới rộng’. Nó gồm không những cha mẹ và con cái, mà cả ông bà, cô chú, anh em họ và cả gia nhân nữa. Gia đình như thế đôi khi rất lớn. Áp-ra-ham đã có thể một lúc đem theo 318 tay chiến đấu để cứu Lót khỏi tay các ông vua nhũng nhiễu đã bắt tù ông ta (St 14:14).
Trong kiểu gia đình này, người ông có quyền tuyệt đối, không phải chỉ trong những chuyện thực tế mà cả chuyện tôn giáo nữa. Khi ông qua đời, con trai cả lên thế theo sinh quyền (birth right). Lời của người đứng đầu là luật. Gia đình Áp-ra-ham chấp nhận sự kiện Thiên Chúa đã hiện ra với ông trong cõi thinh lặng của sa-mạc. Chúa của ông cũng là Chúa của họ, dù họ không luôn luôn chia sẻ thứ đức tin của ông.
Thiên Chúa đã đưa ra một lời hứa với Áp-ra-ham. Ngài cũng đưa ra cùng một lời hứa ấy với I-xa-ác và Gia-cóp. Ngài sẽ là Chúa của các ông, chăm sóc và che chở các ông. Đáp lại, các ông phải sống theo luật lệ của Ngài. Những luật lệ này sẽ được kể rõ từng chi tiết cho thế hệ sau khi Thiên Chúa ban bố ‘các giới răn’cho Mô-sê trên Núi Xi-nai. Như thế, kể từ đầu, cuộc sống hàng ngày tại Ít-ra-en đã được cột chặt vào cuộc sống tôn giáo. Cả hai cuộc sống ấy chỉ còn là một, không thể tách biệt nhau được. Mọi điều gia đình làm đều đặt căn bản trên lề luật Thiên Chúa. Nếu họ cư xử tệ với nhau là họ đã lỗi luật Chúa rồi vậy. Mọi sự phải chỉnh đốn lại cho ngay ngắn giữa họ với nhau, và một hy lễ phải có để làm hòa họ với Chúa (Lv 6:1-6).
Cha Mẹ và Con Cái: Tôn giáo và cuộc sống gia đình quyện chặt lấy nhau trong phương cách cha mẹ nuôi dưỡng con cái. Người ta khích lệ con cái đặt câu hỏi và tìm hiểu về tôn giáo và lịch sử (Xh13:14). Những địa điểm nơi Thiên Chúa làm những điều đặc biệt cho dân Người đều được đánh dấu bằng những viên đá lớn. Khi con cái hỏi mục đích của những viên đá ấy là gì, thì cha mẹ sẽ biết đường trả lời (Gs 4:5-7).
Những ngày nghỉ việc hàng tuần (sa-bát) cũng có ý là ngày để nhớ đến Chúa và thờ phượng Người (Xh 31:15-17). Đầu thời Cựu Ước, cha mẹ con cái thuờng đi viếng các đền thờ tại địa phương. Tại đó, họ dâng hy lễ và nghe thầy cả giảng dạy. Thời Tân Ước, ngày sa-bát bắt đầu tối Thứ Sáu bằng bữa ăn long trọng nhất trong tuần. Rồi đi thăm hội đường để nghe các luật sĩ giảng luật.
Cha mẹ dạy con luật Chúa. Chúng cũng thuộc lòng nhiều phần trong Thánh Kinh. Bài thơ lớn của Đa-vít về cái chết của Sa-un và Giô-na-than là bài thơ ưa thích nhất. Buổi tối, các thành viên trong gia đình đọc to những câu truyện nay được viết lại trong Thánh Kinh.
Ngày Lễ: Ý nghĩa các ngày lễ lớn của tôn giáo được biểu lộ rõ rệt qua các nghi thức đặc biệt. Như Lễ Vượt Qua chẳng hạn, người cha hỏi đứa con cả: ‘tại sao ta cử hành lễ này?’ Thế là đứa con giải thích điều gì đã xẩy ra, như anh ta đã được học. Có ngày gọi là Xá Tội (Atonement), sau đó là Lễ Lều (hay Lễ Mùa Gặt), khi mọi người sống trong những chiếc lều làm bằng cành cây để nhớ đến lối sống du cư của tổ tiên xưa trong sa mạc. Sau này trong lịch sử Ít-ra-en, trẻ em sẽ diễn lại sự tích bà Ét-te trong ngày Lễ Purim. Tất cả các ngày lễ đều đầy sức sống và sinh hoạt mà trẻ em rất muốn biết gốc gác. Nhờ thế, các em học biết lịch sử dân tộc mình như một dân tộc của Chúa.
Học Hành: Thời Cựu Ước, không có trường học đúng nghĩa. Trẻ em được dạy dỗ tại nhà, trước nhất bởi mẹ, sau đó đến cha. Ngoài tôn giáo và lịch sử được học qua kể truyện, đặt câu hỏi và nghe trả lời, cũng như học thuộc lòng, con gái còn được mẹ dạy cho các kỹ năng nội trợ: nướng bánh, quay sợi, dệt vải, trong khi con trai được cha truyền cho những nghề tay chân. Người Do Thái có câu: ‘Ai không dạy con một nghề hữu ích, là nuôi chúng thành kẻ cắp’. Công việc của cha, đồ nghề và các bạn cùng nghề (thời sau này của Cựu Ước) đều là những phần quan yếu trong việc giáo dục cậu bé.
Đất Đai và Súc Vật: Ai cũng sở hữu đất đai, nên cả con trai lẫn con gái đều có việc bên ngoài để làm. Những việc như trông nom vườn nho, cày bừa và đập lúa thì lúc nào cũng có sẵn.
Trẻ em cũng trông nom súc vật của gia đình như cừu và dê. Mọi gia đình, cả những gia đình nghèo túng nhất, cũng có hy vọng mua được hai con chiên vào lễ Vượt Qua. Một con để giết ăn thịt, còn con kia làm bạn với con trẻ, sản xuất len làm quần áo cho chúng. Nhà nghèo thường không có chuồng riêng cho thú vật, nên chiên thường ngủ với trẻ em và ăn cùng đĩa với chúng (2Sm 12:3). Cuối Hạ, người ta giết chiên để lấy thịt và thịt ấy được giữ trong mỡ lấy từ đuôi chiên. Phần lớn các gia đình cũng nuôi thêm ít nhất một con dê để lấy sữa. Người ta để một phần sữa lên men làm phô-mai (cheese). Dù nhiều hộ có nuôi chó, nhưng loại súc vật này không phổ thông và thường bị coi là loại ăn thịt thối.
Lừa (la) là súc vật thông thường nhất dùng để chuyển vận. Chúng có thể chở đồ nặng cũng như chở người. Những nông dân giầu dùng bò trong công việc đồng áng và lạc đà trong việc chuyên chở.
Du Mục và Định Cư: Thời đầu Cựu Ước, trước những năm ngụ bên Ai Cập, người ta thường sống trong lều. Áp-ra-ham rời bỏ cuộc sống định cư và văn minh đô thị của Ua thuộc vùng Sông Êu-phơ-rát xa xôi để vâng theo lời mời gọi của Chúa. Sau đó hầu như trọn cuộc sống còn lại, ông phải du cư đây đó. Con trai ông là I-xa-ác và cháu ông là Gia-cóp cũng sống trong lều, giống các người du cư Ả-rập (Bedouins) ngày nay. Nước rất hiếm, nhất là về mùa Hè hay lúc hạn hán, và người Ca-na-an bảo vệ kỹ các giếng khơi của họ chống lại dân du cư Do Thái đang lang thang này, là những người không những lấy nước cho họ uống mà còn cho cả cho súc vật của họ nữa. Cuộc tranh chấp giữa Áp-ra-ham và A-vi-me-léc liên hệ đến cái giếng tại Bơ-e-se-va là một thí dụ điển hình (St 21:25-31).
Dù không có nơi cư trú thường trực, Áp-ra-ham và gia đình ông cũng đã an cư đủ để trồng đuợc cả lúa. Và họ không bao giờ du cư quá xa những trung tâm đông dân cư. Sau thời Mô-sê, dân Ít-ra-en muốn được định cư thường trực hơn, rồi mấy năm sau xẩy ra nhiều cuộc chiến tranh. Khi dân Ít-ra-en chiếm được đất đai, những nhóm du cư khác cũng muốn định cư tại đó nữa. Do đó, họ phải học cách cư xử tử tế với những kẻ xa lạ không lãnh thổ này, là những người sau đó sẽ tạo ra giai cấp công nhân trong xứ. Mẫu sống hàng ngày không thay đổi nhiều. Mẫu sinh hoạt căn bản trong gia đình chỉ thay đổi rất ít trong nhiều thế kỷ. Sinh hoạt ấy thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi các đoàn quân xâm lăng, ngoài ra khá thanh bình. Người ta sống gần đất canh tác. Mỗi gia đình tự trông coi lấy mảnh đất canh tác nhỏ nhoi của mình. Luôn luôn có súc vật phải trông nom, rồi quét giọn, làm bánh, kéo sợi, dệt và nhuộm vải cũng như chính việc cày bừa trồng trọt.
Liên Hệ Gia Đình: Cuộc sống gia đình ngày càng trở nên quan trọng trong lịch sử Ít-ra-en. Khi giòng dõi đã định cư vĩnh viễn tại một nơi, đơn vị gia đình bình thường trở nên mỗi ngày một nhỏ hơn.
Người Cha: Bên trong đơn vị gia đình nhỏ hơn ấy, giống như trước đây, người cha có toàn quyền. Nếu ông muốn, ông có quyền bán con gái làm nô lệ. Thời đầu Cựu Ước, người cha còn có quyền giết con khi chúng bất tuân. Ông ta có quyền ly dị vợ không cần lý do và không phải cấp dưỡng chi hết. Và ông có quyền sắp xếp việc gia đình cho các con trai.
Đàn Bà: Người đàn bà là sở hữu của chồng, bà phải coi ông như ông chủ của mình. Thái độ này vẫn còn thấy cả trong thời Tân Ước nữa. Dù phụ nữ phải làm những công việc nặng nhọc, họ vẫn giữ vị thế thấp kém cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Tuy nhiên luật pháp có bảo vệ người đàn bà bị ly dị và con cái bà được giáo dục phải kính trọng bà.
Chúa Giê-su cư xử với phụ nữ, thí dụ lúc Ngài sẵn sàng nói chuyện và giúp đỡ người đàn bà xứ Sa-ma-ri (Ga 4), một cách rất trái ngược với thái độ đương thịnh hành trên. Và sứ điệp Ki-tô giáo hết sức minh nhiên: ‘không có khác biệt nào… giữa đàn ông và đàn bà; anh em đều là một trong sự kết hiệp với Chúa Giê-su Ki-tô’ (Gl 3:28). Trong nước Chúa Ki-tô, không có công dân bậc hai.
Gia đình thời Áp-ra-ham là điều những ai trong chúng ta từng sống trong một đơn vị gia đình nhỏ gọi là ‘đại gia đình” hay ‘gia đình nới rộng’. Nó gồm không những cha mẹ và con cái, mà cả ông bà, cô chú, anh em họ và cả gia nhân nữa. Gia đình như thế đôi khi rất lớn. Áp-ra-ham đã có thể một lúc đem theo 318 tay chiến đấu để cứu Lót khỏi tay các ông vua nhũng nhiễu đã bắt tù ông ta (St 14:14).
Trong kiểu gia đình này, người ông có quyền tuyệt đối, không phải chỉ trong những chuyện thực tế mà cả chuyện tôn giáo nữa. Khi ông qua đời, con trai cả lên thế theo sinh quyền (birth right). Lời của người đứng đầu là luật. Gia đình Áp-ra-ham chấp nhận sự kiện Thiên Chúa đã hiện ra với ông trong cõi thinh lặng của sa-mạc. Chúa của ông cũng là Chúa của họ, dù họ không luôn luôn chia sẻ thứ đức tin của ông.
Thiên Chúa đã đưa ra một lời hứa với Áp-ra-ham. Ngài cũng đưa ra cùng một lời hứa ấy với I-xa-ác và Gia-cóp. Ngài sẽ là Chúa của các ông, chăm sóc và che chở các ông. Đáp lại, các ông phải sống theo luật lệ của Ngài. Những luật lệ này sẽ được kể rõ từng chi tiết cho thế hệ sau khi Thiên Chúa ban bố ‘các giới răn’cho Mô-sê trên Núi Xi-nai. Như thế, kể từ đầu, cuộc sống hàng ngày tại Ít-ra-en đã được cột chặt vào cuộc sống tôn giáo. Cả hai cuộc sống ấy chỉ còn là một, không thể tách biệt nhau được. Mọi điều gia đình làm đều đặt căn bản trên lề luật Thiên Chúa. Nếu họ cư xử tệ với nhau là họ đã lỗi luật Chúa rồi vậy. Mọi sự phải chỉnh đốn lại cho ngay ngắn giữa họ với nhau, và một hy lễ phải có để làm hòa họ với Chúa (Lv 6:1-6).
Cha Mẹ và Con Cái: Tôn giáo và cuộc sống gia đình quyện chặt lấy nhau trong phương cách cha mẹ nuôi dưỡng con cái. Người ta khích lệ con cái đặt câu hỏi và tìm hiểu về tôn giáo và lịch sử (Xh13:14). Những địa điểm nơi Thiên Chúa làm những điều đặc biệt cho dân Người đều được đánh dấu bằng những viên đá lớn. Khi con cái hỏi mục đích của những viên đá ấy là gì, thì cha mẹ sẽ biết đường trả lời (Gs 4:5-7).
Những ngày nghỉ việc hàng tuần (sa-bát) cũng có ý là ngày để nhớ đến Chúa và thờ phượng Người (Xh 31:15-17). Đầu thời Cựu Ước, cha mẹ con cái thuờng đi viếng các đền thờ tại địa phương. Tại đó, họ dâng hy lễ và nghe thầy cả giảng dạy. Thời Tân Ước, ngày sa-bát bắt đầu tối Thứ Sáu bằng bữa ăn long trọng nhất trong tuần. Rồi đi thăm hội đường để nghe các luật sĩ giảng luật.
Cha mẹ dạy con luật Chúa. Chúng cũng thuộc lòng nhiều phần trong Thánh Kinh. Bài thơ lớn của Đa-vít về cái chết của Sa-un và Giô-na-than là bài thơ ưa thích nhất. Buổi tối, các thành viên trong gia đình đọc to những câu truyện nay được viết lại trong Thánh Kinh.
Ngày Lễ: Ý nghĩa các ngày lễ lớn của tôn giáo được biểu lộ rõ rệt qua các nghi thức đặc biệt. Như Lễ Vượt Qua chẳng hạn, người cha hỏi đứa con cả: ‘tại sao ta cử hành lễ này?’ Thế là đứa con giải thích điều gì đã xẩy ra, như anh ta đã được học. Có ngày gọi là Xá Tội (Atonement), sau đó là Lễ Lều (hay Lễ Mùa Gặt), khi mọi người sống trong những chiếc lều làm bằng cành cây để nhớ đến lối sống du cư của tổ tiên xưa trong sa mạc. Sau này trong lịch sử Ít-ra-en, trẻ em sẽ diễn lại sự tích bà Ét-te trong ngày Lễ Purim. Tất cả các ngày lễ đều đầy sức sống và sinh hoạt mà trẻ em rất muốn biết gốc gác. Nhờ thế, các em học biết lịch sử dân tộc mình như một dân tộc của Chúa.
Học Hành: Thời Cựu Ước, không có trường học đúng nghĩa. Trẻ em được dạy dỗ tại nhà, trước nhất bởi mẹ, sau đó đến cha. Ngoài tôn giáo và lịch sử được học qua kể truyện, đặt câu hỏi và nghe trả lời, cũng như học thuộc lòng, con gái còn được mẹ dạy cho các kỹ năng nội trợ: nướng bánh, quay sợi, dệt vải, trong khi con trai được cha truyền cho những nghề tay chân. Người Do Thái có câu: ‘Ai không dạy con một nghề hữu ích, là nuôi chúng thành kẻ cắp’. Công việc của cha, đồ nghề và các bạn cùng nghề (thời sau này của Cựu Ước) đều là những phần quan yếu trong việc giáo dục cậu bé.
Đất Đai và Súc Vật: Ai cũng sở hữu đất đai, nên cả con trai lẫn con gái đều có việc bên ngoài để làm. Những việc như trông nom vườn nho, cày bừa và đập lúa thì lúc nào cũng có sẵn.
Trẻ em cũng trông nom súc vật của gia đình như cừu và dê. Mọi gia đình, cả những gia đình nghèo túng nhất, cũng có hy vọng mua được hai con chiên vào lễ Vượt Qua. Một con để giết ăn thịt, còn con kia làm bạn với con trẻ, sản xuất len làm quần áo cho chúng. Nhà nghèo thường không có chuồng riêng cho thú vật, nên chiên thường ngủ với trẻ em và ăn cùng đĩa với chúng (2Sm 12:3). Cuối Hạ, người ta giết chiên để lấy thịt và thịt ấy được giữ trong mỡ lấy từ đuôi chiên. Phần lớn các gia đình cũng nuôi thêm ít nhất một con dê để lấy sữa. Người ta để một phần sữa lên men làm phô-mai (cheese). Dù nhiều hộ có nuôi chó, nhưng loại súc vật này không phổ thông và thường bị coi là loại ăn thịt thối.
Lừa (la) là súc vật thông thường nhất dùng để chuyển vận. Chúng có thể chở đồ nặng cũng như chở người. Những nông dân giầu dùng bò trong công việc đồng áng và lạc đà trong việc chuyên chở.
Du Mục và Định Cư: Thời đầu Cựu Ước, trước những năm ngụ bên Ai Cập, người ta thường sống trong lều. Áp-ra-ham rời bỏ cuộc sống định cư và văn minh đô thị của Ua thuộc vùng Sông Êu-phơ-rát xa xôi để vâng theo lời mời gọi của Chúa. Sau đó hầu như trọn cuộc sống còn lại, ông phải du cư đây đó. Con trai ông là I-xa-ác và cháu ông là Gia-cóp cũng sống trong lều, giống các người du cư Ả-rập (Bedouins) ngày nay. Nước rất hiếm, nhất là về mùa Hè hay lúc hạn hán, và người Ca-na-an bảo vệ kỹ các giếng khơi của họ chống lại dân du cư Do Thái đang lang thang này, là những người không những lấy nước cho họ uống mà còn cho cả cho súc vật của họ nữa. Cuộc tranh chấp giữa Áp-ra-ham và A-vi-me-léc liên hệ đến cái giếng tại Bơ-e-se-va là một thí dụ điển hình (St 21:25-31).
Dù không có nơi cư trú thường trực, Áp-ra-ham và gia đình ông cũng đã an cư đủ để trồng đuợc cả lúa. Và họ không bao giờ du cư quá xa những trung tâm đông dân cư. Sau thời Mô-sê, dân Ít-ra-en muốn được định cư thường trực hơn, rồi mấy năm sau xẩy ra nhiều cuộc chiến tranh. Khi dân Ít-ra-en chiếm được đất đai, những nhóm du cư khác cũng muốn định cư tại đó nữa. Do đó, họ phải học cách cư xử tử tế với những kẻ xa lạ không lãnh thổ này, là những người sau đó sẽ tạo ra giai cấp công nhân trong xứ. Mẫu sống hàng ngày không thay đổi nhiều. Mẫu sinh hoạt căn bản trong gia đình chỉ thay đổi rất ít trong nhiều thế kỷ. Sinh hoạt ấy thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi các đoàn quân xâm lăng, ngoài ra khá thanh bình. Người ta sống gần đất canh tác. Mỗi gia đình tự trông coi lấy mảnh đất canh tác nhỏ nhoi của mình. Luôn luôn có súc vật phải trông nom, rồi quét giọn, làm bánh, kéo sợi, dệt và nhuộm vải cũng như chính việc cày bừa trồng trọt.
Liên Hệ Gia Đình: Cuộc sống gia đình ngày càng trở nên quan trọng trong lịch sử Ít-ra-en. Khi giòng dõi đã định cư vĩnh viễn tại một nơi, đơn vị gia đình bình thường trở nên mỗi ngày một nhỏ hơn.
Người Cha: Bên trong đơn vị gia đình nhỏ hơn ấy, giống như trước đây, người cha có toàn quyền. Nếu ông muốn, ông có quyền bán con gái làm nô lệ. Thời đầu Cựu Ước, người cha còn có quyền giết con khi chúng bất tuân. Ông ta có quyền ly dị vợ không cần lý do và không phải cấp dưỡng chi hết. Và ông có quyền sắp xếp việc gia đình cho các con trai.
Đàn Bà: Người đàn bà là sở hữu của chồng, bà phải coi ông như ông chủ của mình. Thái độ này vẫn còn thấy cả trong thời Tân Ước nữa. Dù phụ nữ phải làm những công việc nặng nhọc, họ vẫn giữ vị thế thấp kém cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Tuy nhiên luật pháp có bảo vệ người đàn bà bị ly dị và con cái bà được giáo dục phải kính trọng bà.
Chúa Giê-su cư xử với phụ nữ, thí dụ lúc Ngài sẵn sàng nói chuyện và giúp đỡ người đàn bà xứ Sa-ma-ri (Ga 4), một cách rất trái ngược với thái độ đương thịnh hành trên. Và sứ điệp Ki-tô giáo hết sức minh nhiên: ‘không có khác biệt nào… giữa đàn ông và đàn bà; anh em đều là một trong sự kết hiệp với Chúa Giê-su Ki-tô’ (Gl 3:28). Trong nước Chúa Ki-tô, không có công dân bậc hai.