PDA

View Full Version : Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Giáo Hội - Lm Tân Yên


admin
05-08-2006, 05:17 AM
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=CONTENT style="PADDING-RIGHT: 30px; PADDING-LEFT: 10px; PADDING-BOTTOM: 0px; WIDTH: 100%; PADDING-TOP: 30px">ĐỨC TRINH NỮ MARIA MẸ GIÁO HỘI



(Theo Kinh Thánh và theo Công Đồng Vaticano II)

BÀI I: CÔNG ĐỒNG VATICAN II THẢO LUẬN VỀ ĐỨC TRINH NỮ MARIA



Trong thời gian chuẩn bị cho Công Đồng Vatican II, Đức Gioan XXIII gửi thư cho các Đức Giám Mục, các Bề Trên Dòng và các Viện Đại học Công giáo thăm dò nhiều vấn đề sẽ thảo luận trong Công Đồng.

Về Đức Trinh Nữ Maria có nhiều ý kiến :



- Khoảng 400 ý kiến mong muốn có một định tín mới về Đức Mẹ.
- Khoảng 300 vị mong muốn Công Đồng định tín vai trò “Trung gian phổ cập của Đức Maria” (dựa vào ý kiến của Đức Hồng Y Mercier năm 1921).
- Khoảng 50 vị muốn định tín thiên chức làm mẹ thiêng liêng của các tín hữu.
- Khoảng 50 vị muốn định tín về vai trò của “Đồng công cứu chuộc” của Đức Maria.
- Khoảng 20 vị mong muốn có định tín về “Vương quyền” của Đức Maria.Trái lại :



- Khoảng 100 vị muốn Công Đồng đừng có những định tín mới về Đức Maria.
- Một vài vị yêu cầu Công Đồng đừng bàn đến vấn đề Đức Mẹ.
- Khoảng 1400, nghĩa là đại đa số, không có ý kiến.Ủy ban soạn thảo lược đồ do Đức Hồng Y Ottaviani làm Chủ tịch đã soạn một văn kiện về “Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người” được Ủy Ban Thần Học chấp nhận vào tháng 3 năm 1962 và Ủy Ban Trung Ương Chuẩn Bị Công Đồng chấp thuận vào tháng 10 năm 1962.

Công Đồng nhóm họp khóa đầu tiên từ 11 tháng10 đến 8-12-1962. Ngày 23-11-1962, lược đồ “De Ecclesia” cùng với “lược đồ Đức Maria” được trao cho các nghị phụ. Chủ tọa đoàn dự tính sẽ thảo luận lược đồ Đức Maria để kịp công bố ngày 8-12-1962, Lễ Vô Nhiễm. Một số nghị phụ phản đối vì một mặt không đủ thời giờ thảo luận, mặt khác thảo luận trong bầu khí chuẩn bị Lễ Vô Nhiễm và tách khỏi lược đồ Giáo hội sẽ làm hại đến tinh thần hiệp nhất, nhất là thấy thái độ một số quan sát viên Tin Lành không bằng lòng.

Đức Hồng Y Ottaviani phát biểu xin Công Đồng thảo luận để kịp công bố vào Lễ Vô Nhiễm. Đức Hồng Y Montini (sau này là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI) và Suenens can thiệp thật hào hứng trước các nghị phụ, mong ước lược đồ Đức Maria được sát nhập vào lược đồ Giáo hội và xin Công Đồng suy tôn Đức Trinh Nữ Maria dưới tước hiệu “Mẹ của Giáo hội”. Chủ tọa đoàn quyết định không thảo luận và để Ủy Ban Thần Học duyệt lại.

Bản văn được in lại, hầu như y nguyện, chỉ sửa đổi đầu đề, gọi là “Mẹ Thiên Chúa và Giáo hội”.

Khóa hai của Công Đồng họp từ ngày 29-9-63 đến 4-12-63. Đức Hồng Y Frings và Garonne mong muốn Công Đồng sát nhập lược đồ Maria vào lược đồ Giáo hội. Đức Hồng Y chủ tọa đoàn quyết định các nghị phụ bỏ phiếu trả lời câu hỏi “Xin Ngài vui lòng cho biết Ngài có đồng ý để cho lược đồ về Đức Maria diễm phúc, Mẹ Giáo Hội, được làm chương cuối cùng của lược đồ Giáo hội không ?”

Một bầu không khí thuận và chống nổi lên khắp Roma. Trên một số truyền đơn, người ta đọc thấy câu này :

“Bỏ phiếu sát nhập chính là chống lại Đức Trinh Nữ Maria”.

Trên truyền đơn khác :

“Nhân danh Đông phương và để cổ võ hiệp nhất, xin các Ngài hãy bỏ phiếu chống lại sự sát nhập”.

Trước giờ bỏ phiếu, còn có hai Hồng Y đại diện hai khuynh hướng trình bày luận cứ của mình :



- Hồng Y Konig muốn sát nhập vào lược đồ Giáo hội.
- Hồng Y Sanctos muốn làm một lược đồ riêng.Bỏ phiếu trong bầu không khí căng thẳng đó.



- 1114 phiếu thuận sát nhập vào lược đồ Giáo hội.
- 1047 phiếu chống sát nhập.
- 5 phiếu bất hợp lệ (ngày 29-10-1963).Nhóm cổ võ cho sát nhập chỉ thắng có 40 phiếu, Công Đồng xem ra có mòi chia rẽ “vì Đức Mẹ” !

Một giải pháp dung hòa đặt ra : Công Đồng trao cho một nhóm 4 vị soạn theo một lược đồ về Đức Maria :



- Đức Hồng Y Sanctos, Tổng Giám Mục Manila, Phi Luật Tân, đại biểu khuynh hướng chống sát nhập.
- Đức Hồng Y Konig, Vienne, Áo, đại biểu khuynh hướng sát nhập.
- Đức Cha Doumith, Giám Mục thuộc lễ nghi Maronite, đại biểu cho các giáo đoàn Công giáo Đông phương.
- Đức Cha Théas, Giám mục Lộ Đức.Tiểu Ban dựa vào lược đồ trước, dựa vào các thông điệp của Đức Giáo Hoàng, dựa vào dự án gọi là “dự án Anh” do Butter soạn và dự án “Chí Lợi”. Soạn thảo trong sự hòa giải các khuynh hướng hết sức khó khăn đến nỗi chính ngày 4-12-1963 kết thúc khóa II, người ta có cảm tưởng khóa họp này kết thúc nửa chừng.

Và ngày kết thúc khóa họp, Đức Phaolô VI đã diễn tả niềm mong ước trong bài diễn văn :

“Chúng tôi hy vọng rằng Công Đồng sẽ làm cho lược đồ về Đức Trinh Nữ được kết quả tốt đẹp ngần nào có thể. Chúng tôi mong Công Đồng hãy đồng tâm nhất trí, với lòng hiếu thảo cao độ, công nhận vị trí tuyệt vời phải dành cho Mẹ Thiên Chúa ở trong mầu nhiệm Giáo hội, mà Giáo hội là đối tượng chính yếu của Công Đồng này. Chúng tôi nhắc lại : địa vị cao vời nhất sau Đức Kitô, nhưng lại gần gũi chúng ta nhất đến nỗi chúng ta có thể tôn kính Mẹ với danh hiệu “Mẹ Giáo hội”, và điều đó sẽ trở nên vinh dự cho Mẹ và an ủi cho chúng ta”.

</TD></TR><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>LM Tân Yên </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://www.vietcatholic.net/News/Html/36459.htm)

admin
05-08-2006, 05:17 AM
Như vậy quyền tối cao trong Giáo hội đã can thiệp :



Sát nhập lược đồ Đức Maria vào lược đồ Giáo hội.
Sát nhập không có nghĩa là hạ thấp địa vị của Đức Maria, trái lại được tôn vinh sau Chúa Kitô trong Giáo hội của Chúa Kitô với tước hiệu “Mẹ Giáo hội”.Tiểu ban soạn thảo âm thầm làm việc theo chiều hướng Đức Phaolô VI đã vạch ra. Đức Cha Philippe, thư ký tiểu ban, và cha Balié đã góp công rất lớn trong việc dự thảo này và hoàn tất 5 bản dự thảo. Dự thảo cuối cùng được tu chỉnh và cho in, gọi là Dự Thảo Tháng Ba. Rồi tiểu ban lại duyệt lại, bổ túc làm thành Dự Thảo Tháng Chín. Lược đồ Giáo hội được in gửi các nghị phụ nghiên cứu trước. Trong lược đồ này, người ta thấy chương “Đức Mẹ” in cả hai bản Dự Thảo Tháng Ba và Tháng Chín song song.

Khóa III Công Đồng họp từ ngày 14-9-1964 đến 21-11-1964. Thảo luận chương Đức Maria ngắn hơn và nhanh hơn vì theo quy chế mới : nghị phụ phải báo trước năm ngày những ý kiến mình phát biểu ở Công Đồng để tránh những ý kiến lặp nhau, các Hồng Y cũng mất đặc ân phát biểu không cần báo trước… Tất cả có 33 phát biểu :



Hồng Y Wyszynski, Ba Lan, yêu cầu Công Đồng định tín trước hiệu “Đức Maria, Mẹ Giáo hội”.
Một Giám mục Mễ Tây Cơ phản đối, cho rằng công thức “Đức Maria, Mẹ Giáo hội” là một công thức mơ hồ.
Một Giám Mục Tây Ban Nha cãi lại : “trong Giáo hội cũng như trong một gia đình đàng hoàng, phải có mẹ…”.
Lúc này Mục sư Max Thurian đề nghị công thức : “Maria Mater in Ecclesia : Đức Maria, Mẹ trong Giáo hội”.
Hồng Y Alfrink, Léger, Bea khẩn khoản xin Công Đồng xóa bỏ tước hiệu : “Maria, Đấng trung gian” vì các Ngài nghĩ rằng tước hiệu này tối nghĩa và không hợp thời (lối xưng tụng này không có nền tảng trong Kinh Thánh và xem ra nghịch với tư tưởng Thánh Phaolô, Tin Lành lại phản đối nữa) và các Ngài đề nghị một vài tước hiệu hợp với tập truyền : Trạng sư, Đấng phù hộ.
Trái lại, vài nghị phụ tha thiết yêu cầu Công Đồng cứ dùng tước hiệu “trung gian” cho Đức Maria nếu không phải là công khai định tín tước hiệu này.
Một số khá đông muốn Công Đồng công khai dâng thế giới và loài người cho Đức Mẹ.Lược đồ Đức Maria phải tu chính lại 37 chỗ. Thí dụ :



Tước hiệu “trung gian” giữ lại nhưng được trộn lẫn giữa những tước hiệu khác, và như thế nói lên được tính cách tương đối của tước hiệu này.
Thay vì câu “praecursor in sinu matris sanctificatus est” thì dùng đúng câu của Thánh Luca : “praecursor in sinu matris exultavis” (Đấng tiền hô trong dạ nhảy mừng lên) (số 57).
Thay vì câu “ut plene conformaretur Filio suo” Công Đồng sửa lại “ut plenius conformaretur Filio suo” (“để nên giống Con của Ngài cách trọn vẹn hơn” thay vì “nên hoàn toàn giống Con của Ngài” vì có thể hiểu sai như thể ở trên trời Đức Maria ngang hàng với Chúa Giêsu) (số 59).Ngày 29-10-1964, bỏ phiếu tất cả những điều tu chính. Kết quả :



Placet : 1559
Non placet : 0
Placet juxta modum : 521Công Đồng phải sửa đổi 26 chỗ nữa để thỏa mãn ước vọng của 521 phiếu Placet juxta modum.

Ngày 9-11-1964, bỏ phiếu :



Placet : 2096
Non placet : 23 (tức 1% chống).Bỏ phiếu toàn bộ văn kiện Lumen Gentium ngày 21-11-1964, chỉ còn 5 phiếu Non placet.

Cùng trong ngày này, khóa III của Công Đồng bế mạc, Đức Phaolô đọc diễn văn công bố hiến chế Lumen Gentium để kết thúc khóa III. Tới một đoạn hầu như ai cũng chú ý lắng nghe :

“Đây là giây phút trọng đại nhất và thích hợp để đáp ứng một ước nguyện mà chúng tôi đã nói ám tàng trong cuối khóa họp trước, và cũng là nguyện vọng của một số nghị phụ đã tha thiết mong rằng trong thời gian họp Công Đồng này phải rõ ràng công bố chức làm Mẹ của Đức Trinh Nữ đối với dân Kitô giáo. Với mục đích đó chúng tôi thấy thật thuận tiện để tuyên nhận nơi công hội này một tước hiệu danh dự của Đức Trinh Nữ. Chúng tôi tuyên bố : “ĐỨC MARIA LÀ MẸ GIÁO HỘI”.

Lúc đó, một số nghị phụ đứng lên vỗ tay vang dội. Dần dần tiếng vỗ tay lan rộng tới 4/5 hội trường, và kéo dài 1 phút. Bấy giờ, Đức Phaolô VI mới nói tiếp :

“Mẹ Giáo hội tức là Mẹ của toàn dân Thiên Chúa, của các tín hữu cũng như của mục tử”.

Lời tuyên bố này làm phấn khởi một vài miền (đặc biệt Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan), nhưng đối với một vài giới, người ta hơi tiếc về lời tuyên bố này.

<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>LM Tân Yên </TD></TR></TBODY></TABLE>Nguồn: Vietcatholic (http://www.vietcatholic.net/News/Html/36459.htm)

admin
06-08-2006, 06:17 AM
BÀI II: CHỨC MẸ THIÊN CHÚA



Đây là một chức cao cả nhất, lớn nhất của Đức Maria. Tất cả các đặc ân khác đều phát xuất từ chức Mẹ Thiên Chúa.

1. Lịch sử tín điều

Ảo thân thuyết (docétisme) xuất hiện cuối thế kỷ I đầu thế kỷ II vì hiểu theo triết học của Platon cho thân xác là xấu nên họ chối bỏ thân xác thực của Đức Kitô và họ cho rằng mọi việc làm ở trần gian của Đức Kitô, ngay cả việc chịu đau khổ và chịu chết chỉ là hình thức bề ngoài chứ không phải là điều có thực. Dạy như vậy tức là không nhận sự nhập thể làm người thực sự của Ngôi Lời và mặc nhiên chối bỏ Đức Maria là Mẹ của Đức Kitô Ngôi Hai làm người.

“Thánh Ignatio thành Antiokia đã chống lại lý thuyết này và đã dạy rõ ràng : Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa chúng ta đã được cưu mang trong cung lòng Đức Maria xuất phát từ dòng dõi David… là Con Thiên Chúa được Đức Trinh Nữ sinh ra thật sự : Deum nostrum Jesum Christum in utero gestatum esse et Maria ex semine David… Filium Dei natum vere ex Virgine” (Smyr 1,1).

Thánh Irênê (thế kỷ II) đã quả quyết : “Đức Kitô này là Ngôi Lời của Chúa Cha, ở nơi Chúa Cha… đã được một trinh nữ sinh ra” (Epid 53).

Từ thế kỷ thứ III và IV, tước hiệu “Theotokos” (Mẹ Thiên Chúa) được năng dùng (bằng chứng của Oginère, Alexandre d’Alxandrie, Eusèbe de Césarée, Thánh Athanasiô, Thánh Epiphan v.v…). Thánh Grêgoriô Nazianze viết khoảng năm 382 : “Nếu ai không công nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, thì họ đã tách rời khỏi thiên tính” (Ep 101,4).

Sang thế kỷ thứ V, Nestorius dạy nơi Đức Kitô có hai ngôi vị là Ngôi Lời và ngôi vị nhân loại, hai ngôi vị này không kết hiệp hiệp nhất mà chỉ liên kết với nhau nên ông chối bỏ tước hiệu Theotokos, ông chủ trương dùng kiểu nói “Chritotokos” (Mẹ của Đức Kitô) hoặc “Anthropotokos” (Mẹ của con người của Giêsu). Đứng trước lập trường này, các giáo phụ lên án mạnh mẽ và tuyến bố danh từ Theotokos rất đúng với sứ mệnh Đức Maria.

Hoàng đế Theodosiô yêu cầu triệu tập Công Đồng ở Ephêsô để giải quyết vấn đề. Đức Giáo Hoàng Cêlestin trao cho Thánh Cyrillô chủ tọa Công Đồng. Với sự tham dự của 160 Giám mục Ai cập, Palestina, và Tiểu Á (và do Thánh Cyrillô đốc thúc và chủ tọa). Sau một ngày tranh luận, Công Đồng đã chấp thuận 12 đề tài phạt vạ tuyệt thông và công nhận từ ngữ Theotokos là chính đáng. Đó là ngày 22-6-431. Đêm đó, dân Ephêsô tổ chức rước đèn thật to, đọc lớn : Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…

Mặc dầu Công Đồng họp quá gấp, các Giám mục Antiokia và Smyrn chưa kịp tới, ngay cả các đại diện Roma cũng chưa kịp tới, nhưng tính chất hợp pháp của Công Đồng đã được Đức Giáo Hoàng công nhận và các Giám mục chưa tới kịp sau này khi nghe Nestotius tự bênh vực mình đã chấp nhận các phán quyết của Công Đồng.

Về Đức Mẹ, Công Đồng tuyên bố :

“… Deum esse veraciter Emmanuel et propterea Dei Genitricem (Theotokos) Sanctam Virginem : peperit enim Secundum carnem carnem factum Dei Verbum : Đấng Emmanuel thật là Thiên Chúa và chính vì vậy Thánh Nữ Đồng Trinh là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) vì sinh ra Ngôi Hai Thiên Chúa làm người theo nhân tính” (DBR 113).

Công Đồng Chalcédoine năm 451 cũng tuyên bố :

“… Confiteri Filium et Dominum nostrum Jesum Christum… ante saecula quidem de Patre genitum secundum Deitatem, in novissimis autem diebus eumdem propter nostram salutem ex Maria Virgine Dei Genitricem secundum humanitatem : Tuyên xưng Ngôi Con là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, sinh bởi Ngôi Cha từ trước muôn đời về mặt thiên tính; và trong thời gian sau cùng, vì để cứu rỗi chúng ta, Ngôi Con đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa về mặt nhân tính” (DBR 148).

2. Nền tảng Kinh Thánh

Kinh Thánh dạy cho chúng ta biết :

- Đức Maria sinh ra Đức Giêsu gọi là Kitô (Mt 1,16).

- Đức Giêsu Kitô là Đấng Thánh được gọi là Con Thiên Chúa (Lc 1,35).

- Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu (Yn 2,1), Mẹ Ngài (Mt 1,18; 2,13.20; 12,46; 13,55), là Mẹ Chúa (Lc 1,43).

Kiểu nói “Con Thiên Chúa” thường ám chỉ Đấng Mêsia (Đấng được xức dầu, sai đến cứu dân) chứ không hiểu theo nghĩa đồng bản tính với Thiên Chúa. (Ở Việt Nam, các vua đều xưng mình là Thiên tử, con Trời không phải nói cùng bản tính với Trời mà chỉ có ý nhấn mạnh đến ý Trời muốn cho họ làm vua để thay Trời trị dân). Nhưng trong giờ phút nghiêm trọng đứng trước câu hỏi của kẻ có quyền xét xử, Chúa Kitô xác nhận câu hỏi của nhà cầm quyền : Ngài là Con Thiên Chúa (Lc 22,70) và người xử Ngài đã hiểu ý câu trả lời của Ngài nên họ kết án Ngài tội lộng ngôn. Tuy nhiên, chính nhờ biến cố phục sinh tín đồ của Chúa mới khám phá dần dần thần tính của Chúa, Giáo hội mới xác định công thức đức tin rõ ràng tuyên xưng Chúa Kitô có bản tính Thiên Chúa. Từ đó mới đưa tới hệ luận : Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Những xác tín này bắt nguồn từ Kinh Thánh đồng thời cũng làm rõ nghĩa Kinh Thánh.

admin
06-08-2006, 06:19 AM
3. Suy luận

Tín điều Mẹ Thiên Chúa gồm hai chân lý:

a. Đức Maria là Mẹ thực sự nghĩa là để đúc nên nhân tính của Đức Kitô, Mẹ đã cung cấp những gì mà mỗi bà mẹ phải cung cấp để tạo nên đứa con của mình.

b. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa thực sự nghĩa là Mẹ đã cưu mang và hạ sinh Ngôi Hai Thiên Chúa không phải theo mặt thiên tính nhưng theo mặt nhân tính mà Ngôi Hai đã mặc lấy.

Trong tôn giáo đa thần hoặc trong các thần thoại câu truyện nữ thần sinh ra con là thần rất dễ hiểu vì “loài nào sinh ra loài đó” (người sinh ra người, thần sinh ra thần). Nhưng ở đây việc tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa không thể xem Đức Maria là thần linh hoặc xem Mẹ có phẩm tính thần linh. Đức Mẹ luôn luôn là thụ tạo, hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa hết mọi phương diện, và chức làm Mẹ Thiên Chúa về mặt nhân tính là một ơn hoàn toàn nhưng không do Thiên Chúa ban.

Giáo chủ Nestorius của đế đô Constantinople khước từ tước hiệu Theotokos của Đức Maria vì sợ rơi vào chủ trương Đức Mẹ sinh ra thần tính, nhưng cái sai lầm căn bản của ông không phải là ở đây mà ở tại ông rao giảng nơi Đức Giêsu có hai ngôi vị : ngôi vị thần linh (Ngôi Lời) và ngôi vị nhân loại, từ đó ông chối từ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa.

Như vậy, cần phải có một giáo huấn thật rõ ràng, minh bạch nên Công Đồng Chalcédoine (sau Công Đồng Ephêsô) đã xác định : “Đức Maria Mẹ Thiên Chúa theo nhân tính : Mater Dei secundum humanitatem”. Ta phải hiểu thế nào?

Trước hết, Mẹ Thiên Chúa theo nhân tính có nghĩa là nhân tính của Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh ra còn thần tính không do Đức Mẹ (do Chúa Cha).

Nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa mặc lấy nhân tính trong cung lòng Đức Mẹ nghĩa là Đức Mẹ cưu mang Ngôi Hai và Đức Mẹ sinh Ngôi Hai làm người nên ta có thể tạm nói “Đức Mẹ là Mẹ nhân tính của Ngôi Hai Thiên Chúa”.

Và phải lý luận thêm : nơi con người Chúa Giêsu Kitô có một ngôi vị là Ngôi Hai Thiên Chúa và hai bản tính : thiên tính và nhân tính. Ngôi Hai là chủ của hai bản tính kết hợp hiệp nhất với nhau hết sức thâm sâu và vì Ngôi Hai là “cái tôi” của hai bản tính đó nên Ngôi Hai hoạt động và chịu trách nhiệm trong hai bản tính đó.

Đọc bản văn sau đây của Thánh Grêgoriô Nysse giúp chúng ta hiểu bản tính và ngôi vị nơi Chúa Giêsu :

“Không phải nhân tính đã khiến cho Lazarô sống lại, cũng không phải quyền lực bất thụ cảm đã khóc khi ông chết; không phải nhân tính thấp hèn đã nuôi sống được hàng ngàn người, cũng không phải quyền lực thiên tính đã đến tìm trái vả. Vậy, ai đã mệt mỏi khi đi đường ? Ai đã nâng đỡ cả thế giới bằng một lời nói ? Ai là phản ảnh của vinh hiển đời đời ? Thân xác ai bị đâm thủng ? Ai kiệt sức vì đau khổ ? Ai được tôn vinh đời đời ? Câu trả lời thật rõ ràng : đó là ngôi vị duy nhất của Chúa Nhập Thể”.

Lý luận như vậy, Ngài đã chỉ cho ta biết nguyên tắc mà thần học sau này gọi là “chuyển thông các đặc tính” (communication des idiomes).

Những gì thực hiện qua nhân tính hay thiên tính nơi con người Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm. Thí dụ : Miệng Chúa Kitô nói, ăn, tay Chúa Kitô làm phép lạ, thân xác Chúa Kitô chịu đau khổ, chịu chết thì chính là Ngôi Hai Thiên Chúa nói, ăn, làm phép lạ, chịu đau khổ, chịu chết. Chính vì thế, Đức Mẹ là Mẹ Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh Chúa Kitô về nhân tính thì cũng chính là Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể nghĩa là Mẹ Thiên Chúa. Với danh từ Christokos (Mẹ Đức Kitô), đáng lý ra cũng đúng, nhưng vì Nestorius dùng để loại trừ danh từ Theotokos nên trong bầu khí bút chiến thời đó người ta tỏ ra dè dặt. Bây giờ, ta có thể dùng cả hai danh từ này (tham chiếu Sm Th lla Qu. 35, a.4). Theo thiển ý, dùng từ ngữ Theotokos bắt buộc phải suy nghĩ để hiểu cho đúng, nhất là trong phụng vụ thường dùng từ ngữ Thiên Chúa hoặc Chúa để chỉ Ngôi Cha (trong một câu từ ngữ Thiên Chúa hoặc Chúa… Mẹ Thiên Chúa có trong đó thì đòi hỏi phải có trình độ giáo lý khá).

Để kết thúc mục này, ta suy ngắm tình mẫu tử toàn diện nơi người mẹ với người con. Chưa phải khả năng sinh sản phát sinh tình mẫu tử vì nơi con vật không có tình yêu mẫu tử, chỉ có tương quan theo bản tính.

Nơi con người, bất cứ cái gì xảy ra trong phạm vi bản tính con người đều quy hướng về ngôi vị người (personne, personalité). Thí dụ : những tương quan kinh tế trong xã hội, những tương quan của tình bạn, những tương quan của đôi vợ chồng. Tương quan tình mẫu tử cũng vậy, mặc dầu bắt đầu trên phạm vi bản tính nhưng hoàn toàn quy hướng về ngôi vị và sự tự do của ngôi vị, lại còn ràng buộc các ngôi vị trong một tình yêu thiêng liêng bất diệt vì người mẹ :

- Nếu là mater corporis (mẹ của thân xác) thì chỉ do việc sinh sản thôi. Con vật cũng sinh con và làm mẹ con của nó. Bình thường thôi.

- Nếu là mater animae (mẹ tâm hồn), là mẹ do việc giáo dục. Thầy cô là cha mẹ tinh thần của học trò, nhưng không thể so với bà mẹ hiền được.

- Còn nếu là mater mei, mới là mẹ hiền của tôi vì đã sinh ra tôi, đã nuôi dưỡng dạy bảo tôi, đã thương mến tôi hơn cả mẹ tôi thương con người mẹ tôi. Đây mới thật là mẹ của toàn thể con người xét như là một chủ thể, một ngôi vị, một tình yêu. Đây là bậc mẹ hoàn hảo, cao nhất, nơi con vật không có.

Nơi Đức Maria, mater mei mà còn mater Dei vì Ngôi Vị mà Đức Mẹ cưu mang và sinh ra là Ngôi Hai Thiên Chúa. Như vậy, ta dễ thấy Đức Maria không những là mẹ nhân tính Đức Kitô Giêsu mà còn là Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa “secundum quod verbum incarnatum est” (xét về mặt Ngôi Hai Nhập Thể).

Đức Nữ trinh Maria đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem sự sống đến cho thế gian. Ngài được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu thế. Được cứu chuộc cách kỳ diệu hơn nhờ công nghiệp con Ngài và hiệp nhất mật thiết bền chặt với con. Đức Maria đã lãnh nhận sứ mệnh và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng cao quý này, Ngài trổi vượt mọi thụ tạo trên trời dưới đất. Nhưng đồng thời vì thuộc đòng dõi Adam, Ngài cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi; hơn nữa “Ngài là Mẹ thật các chi thể (của Đức Kitô)… vì đã cộng tác trong Đức Ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội là những chi thể của Đầu ấy”. Vì thế, Ngài cũng được chào kính như chi thể tối cao và hữu nhất vô nhị cũng như mẫu mực và gương sống phi thường của Giáo Hội trên phương diện Đức Tin và Đức Ái. Và Giáo Hội Cộng Giáo được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Ngài tình con thảo như đối với một người mẹ rất yêu dấu (Lumen gentium, số 53, Bản dịch của Giáo hoàng học viện).

Lm. Tân Yên