PDA

View Full Version : Châu âu Đang Trong Giai đoạn “thuyết Tương đối Hiếu Chiến”


admin
18-04-2009, 05:42 PM
CHÂU ÂU ĐANG TRONG GIAI ĐOẠN “THUYẾT TƯƠNG ĐỐI HIẾU CHIẾN”
Trao đổi với Vị sáng lập CESNUR

Giáo sư Massimo Introvigne, tác giả cuốn “Il segreto dell’Europa. Guida alla riscoperta delle radici cristiani” (Bí mật của Châu Âu. Kim chỉ nam tái khám phá những nguồn cội Kitô-giáo, NXB Sugarco) đánh giá: Châu Âu đang ở trong một giai đoạn “thuyết tương đối hiếu chiến”.
Nhà lãnh đạo Liên Minh Công giáo, sáng lập và giám đốc CESNUR (Trung tâm Nghiên Cứu về các tôn giáo mới : Centre d’Etudes sur les nouvelles religions) khẳng định trong một cuộc trao đổi với Zenit rằng : “Và những người theo thuyết tương đối hung hăng muốn rằng thuyết tương đối trở thành luật pháp chính thức của quốc gia”.
Hoàn cảnh Giáo Hội Việt-Nam hoặc Giáo Hội ở các quốc gia khác ở Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc, Châu Á, có thể ít nhiều khác biệt về khởi đầu, không bén rễ sâu trong Kitô giáo, không thấm nhập và làm nên những nền văn hoá Kitô giáo như Châu Âu, nhưng những đòn tấn công của Satan và của những xã hội tục hoá, hiếu chiến, thì vẫn là một và còn mãnh liệt, nguy hiểm hơn khi được một số chế độ vô thần hậu thuẫn và khich lệ (không loại trừ còn sử dụng nữa). Bên cạnh đó, Kitô giáo chỉ là thiểu số ở một số quốc gia và Châu Lục, như ờ Việt-Nam và Châu Á. Một cái nhìn sâu sắc về mục tiêu của thuyết tương-đối sẽ giúp ich không nhỏ. BTGH xin giới thiệu lại bài trao đổi của Zenit với giáo sư Massimo Introvigne.

ZENIT (H). Có phải Châu Âu đang sống một cuộc khủng hoảng căn tính?
M.INTROVIGNE (Đ). Đã hai lần, Đức Thánh Cha (trong diễn văn với Giáo triều La Mã khi chúc mừng Giáng sinh ngày 22.12.2006 và nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hiệp Ước Roma, ngày 24.05.2007) đã dùng một thành ngữ mạnh, khẳng định rằng Châu Âu dường như muốn “chia tay với lịch sử có nghĩa là hạ màn, chào khán thính giả và thừa nhận rằng buổi diễn kết thúc. Điều đó lúc bấy giờ thật đẹp, nhưng nay thì đã hết rồi. Có thể như vậy chăng? Chắc chắn rồi : ngược với con người, các nền văn minh không có một linh hồn bất tử. Trong lịch sử chúng có một khởi đầu và một kết thúc và Châu Âu cũng không thoát khỏi quy luật đó. Có phải chúng ta đang tham dự vào điều ấy chăng? Nhiều chính trị gia sẽ chối phắt điều đó..
Tuy nhiên, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã đưa ra ánh sáng ba khía cạnh, đã được kể ra nguyên như thế trong hai diễn văn mà tôi vừa nêu ở trên, nói về những sự kiện rất khó chối cãi.
Khía cạnh đầu tiên là “chính hình thức bội giáo” của Châu Âu, sự từ chối không chịu nhìn nhận những cội nguồn của chính mình và lịch sử của riêng mình, tiếp theo đó dẫn tới một sự yếu đuồi và một sự thiếu căn tính đối với mọi sự tấn công hoặc công kích mạnh mẽ bên ngoài. Việc Châu Âu không thể đi đến chỗ có tiếng nói chung, chúng ta vẫn còn nhìn thấy điều đó những ngày nầy về vấn đề của Kosovo.
Khía cạnh thứ hai là sự tách rời giữa luật lệ và đạo đức (luân lý). Không chỉ một sự xa rời đơn thuần từ phía chính trị hoặc của mọi chính trị gia đối với đạo đức công và tư, mà lại không là một vấn nạn không mới mẻ và cũng chẳng thuần Châu Âu, nhưng xuyên suốt toàn bộ lịch sử nhân loại. Không: đó là quyền tự trị, - ban đầu được lý thuyết hoá và rồi được thực hành một cách tai ác, - của các luật đạo đức. Về đạo đức học, chứ không phải về tôn giáo, đến nỗi những chỉ trích “chạm trán” với Giáo Hội, đến lượt chung chẳng còn giá trị gì, ở đây nói về luân lý tự nhiên và những luật lệ của một cuộc chơi mà người ta gọi là xã hội - Đức giáo hoàng nói về “ngữ pháp của đời sống xã hội” - tự chúng không phải là Kitô-giáo cũng không phải là vô thần hoặc theo Phật giáo và mọi người phải chia sẻ chúng.
(H). Và cái ngữ pháp đời sống xã hội nầy không được tôn trọng ư?
(Đ). Hãy cứ cho rằng ngày nay ở Châu Âu người ta khẳng định rằng những luật chơi nầy không hiện hữu và rằng người làm luật phải tự giới hạn mình ở vai trò công chứng viên và chính thức hoá tất cả những gì đã xảy ra trong xã hội (hoặc các phương tiện truyền thông làm nó tin rằng đó là điều đang xảy ra). Có những cặp đồng tính ư? Nhà làm luật hành động ngay và đống hoá nó với các gia đình. Có những tín đồ Hồi giao sống đa thê ư? Nhà làm luật bình thường hoá họ, còn cả đi đến chỗ áp dụng luật Sharia như một số người mong muốn ở Châu Âu, chưa kể còn đưa ra cả những nhân vật nữa. Người ta thưc hiện an tử trong các bệnh viện ư? Nhà nước – công chứng viên cho thông qua dưới hình thức luật, như trường hợp vừa rồi ở Luxembourg.
Khía cạnh thứ ba là cuộc khủng hoảng dân số, sự kiện đầy kịch tính là ở Châu Âu trẻ em sinh ra ngày càng ít hơn: về điểm nầy, các sự kiện ngoan cố từ chối cộng tác với các lý thuyết của những kẻ cho rằng Châu Âu không có khủng hoảng [dân số]và những kết qủa rõ ràng có khuynh hướng ngược trong một số nước thường xuất phát từ những tiêu chí mới về tư cách công dân khi họ gộp vào con số sinh cả con cái của dân nhập cư.
(H). Thuyết tương đối- hung hăng và bài Kitô-giá, .Chúng ta đang trải qua một thời kỳ thật sự đen tối?
(Đ). Một nhà trí thức ngoài Công giáo, đảng viên cộng sản, như Antonio Gramsci, đã nói rằng khi thời tiết xấu, người ta có khuynh hướng dán mắt vào phong vũ biểu, vì “không phải cất cái phong vũ biểu là ta đuổi được thời tiết xấu”.
Ngày nay ở Châu Âu, chúng ta tham dự vào hiện tượng nầy : khi chỉ có một mình Đức Biển Đức XVI duy nhất hoặc gần như duy nhất, tố giác tình hình khủng hoảng ở ba khía cạnh mà tôi vừa nêu - đã hẳn cũng có thể là vì Người không phải xuất hiện ở các cuộc bầu cử, nơi mà các cử tri thường chẳng mấy thích thú với những người mang tin xấu -, trong tưởng tượng của một tình trạng thế tục nhất định của Châu Âu, cuối cùng Người cũng trở thành cái phong vũ biểu của Grimsci. Nhưng không phải bằng việc ngăn Đức giáo hoàng nói – như trường hợp ở đại học La Sapienza ở Roma – mà các vấn nạn biến mất. Và rồi có những kẻ khác nghĩ rằng các vấn đề mà Đức giáo hoàng tố giác, thực tế là những phương sách: khủng hoảng gia đình truyền thống, nạo phá thai, an tử, chối bỏ khái niệm luật tự nhiên, thuyết đa văn hoá không được kiểm soát và theo đó, việc không chấp nhận hợp pháp hoá chế độ đa thê trong một xã hội có rất đông người Hồi giáo lại thành một hình thức phân biệt chủng tộc, tất cả đều là những hiện tượng tích cực để khích lệ những kẻ mà chúng ta đem tới một xã hội ít có những xung đột hơn.
Tất cả những kẻ ấy một hai cho rằng xung đột phát sinh từ kỳ vọng của kẻ nghĩ rằng hiện hữu một chân lý; và rằng ở đâu không thích hợp cho chân lý hiện hữu, thì xung đột biến mất. Điều không tưởng nầy rất hay bị lịch sử phủ nhận đến độ ngày nay hẳn phải rất lúng túng khi ủng hộ nó: nhưng đâu phải như thế.
Ở đâu các xã hội phức tạp, - Châu Âu ngày nay là như thế - thì không có lối thoát khả dĩ: hoặc người ta tìm thấy trong những người có một văn hoá và một tôn giáo khác biệt, một “ngữ pháp của đời sống chung”, những quy tắc chung cho phép sống chung, những quy tắc nầy chỉ có thể phát xuất từ lý trí và từ một luật tự nhiên mà lý trí có thể biết được; hoặc là người ta tự biến mình thành xung đột của mọi người chống lại mọi người.
Hoặc là người ta giải quyết những vấn đề xung đột bằng việc tham chiếu một quyên tự nhiên có giá trị cho hết mọi người, hoặc người ta quyết định giải quyết mọi thứ bằng bạo lực và bằng bom đạn.
(H). Ông nói về những giai đoạn khác nhau của thuyết tương đối. Chúng ta hiện đang ở giai đoạn nào?
(Đ). Chúng ta đang ở trong giai đoạn thuyết tương đối hung hăng (hiếu chiến) .Những kẻ theo thuyết tương đối ngày xưa, ngay cả khi họ không thực hành nó, cũng ưa lập lại câu châm ngôn của Voltaire theo đó “tôi không chia sẻ ý tưởng của anh, nhưng tôi sẵn sàng hiến mạng sống mình để anh có thể chống đỡ nó một cách tự do”.
Chúng ta cũng biết : Voltaire là người đầu tiên không đem ra thực hành câu châm ngôn nầy khi đó là Giáo Hội Công giáo.
Tuy thế, đã và đang có những kẻ theo Voltaire trước đây còn thật sự tin tưởng vào những gì họ nói và mặc dù vẫn luôn là những kẻ theo thuyết tương đối, lại không xin nhà nước phạt những người không theo thuyết tương đối.
Ngược lại những kẻ theo thuyết tương đối hung hăng hiện nay muốn rằng thuyết tương đối trở thành luật chính thức của quốc gia, lại còn nhìn thấy trước một sự đàn áp bằng hình luật chống lại những người không theo thuyết tương đối. Một ví dụ đơn giản: những người theo thuyết tương đối xưa kia khẳng định rằng “phòng ngủ của một người đồng tính là lâu đài của người đó” [ châm ngôn người Anh có câu : lâu đài là một nơi mà ngay cả nhà vua với các luật lệ của ông ta cũng không thể vào bên trong được. BTGH] mà nhà nước phải không biết đến và ở đó những người đồng tính, chẳng hơn kém gì so với những người dị giao (heterosexuels), phải được để yên và tự do làm những gì họ muốn.
Thuyết tương đối mới thì lại cho rằng nhà nước phải xây cho người đồng tính những bức tường lâu đài của họ và bắt giữ những ai lại gần đó hoặc chỉ đơn thuần muốn đưa ra lời công kích nào đó.
(H). Vậy thì đâu là bí mật của Châu Âu?
(Đ). Bí mật của Châu Âu là lịch sử hàng ngàn năm của nó, trong đó tất nhiên có những yếu tố khác đến gán ghép vào - chẳng hạn, người ta không thể không biết những gì của người Do Thái mang đến – nhưng trong hành trình căn bản của nó là một lịch sử Kitô giáo. Cho dù bị phủ lấp bởi những mãnh vụn của hàng rào lửa khổng lồ do tình trạng tục hóa mở ra, các giá trị của lịch sử nầy vẫn luôn sống động và hiện diện.
Đã hẳn, các giá trị nầy sống động và hiện diện trong một số quốc gia hơn là trong những quốc gia khác : chẳng hạn, nói về nước Ý, Đức giáo hoàng Biển-Đức XVI đã nói tại hội nghị giáo hội ở Vérone vào ngày 19.10.2006, rằng “ở đó Giáo Hội là một thực thể hết sức sống động, - và chúng ta thấy đó! – Giáo Hội vẫn hiện diện rất rõ giữa những người thuộc mọi lứa tuổi và mọi điều kiện sống” và rằng “các truyền thống Kitô giáo còn được neo chặt ở đó và tiếp tục nẩy sinh hoa trái”.
Người ta có thể nói là Đức Biển Đức XVI nói về một mặt của một Châu Âu “sẵn sàng dứt bỏ lịch sử” và rằng Người thấy ở mặt kia (chí ít là ở Ý, nhưng chắc chắn đó không phải là quốc gia duy nhất mà những nhận xét nầy muốn nói)”những truyền thống hãy còn bén rễ sâu”: có phải đó là một sự mâu thuẫn chăng? Câu trả lời là không!
Khi nói về cuộc khủng hoảng của Châu Âu, Đức giáo hoàng không mời gọi chúng ta tham dự vào tang lễ, mà là đến bên giường bệnh nhân, Một người mang trọng bệnh mà ta không nên dấu diếm tình trạng bệnh nặng, nhưng là một người bệnh vẫn còn có trong mình, được ẩn dấu ở một nơi nào đó, tất cả mọi tiềm năng được chữa lành.
Với tư cách một thầy thuốc mát tay, Đức Giáo Hoà ng Biển Đức XVI tuy không dấu diếm những nguy cơ rằng sự dữ nay đang trở nên nguy hiểm tột bậc, vẫn chú tâm thăm dò và đề cao một cách có hệ thống mỗi một dấu hiệu cải thiện nhỏ, mỗi một dấu hiệu lành bệnh nhỏ.
Nếu một cây con bắt đầu mọc lên trong sa mạc, người ta không nhổ nó, người ta chăm sóc nó để mai sau nó trở thành một cây lớn và sau đó nữa là một cánh rừng. Nhưng để trồng trọt chăm sóc cây nhỏ nầy, thì phải tưới tắm cho nó và nhiệt tình thôi chưa đủ : khi nói về Đức giáo hoàng, về những can thiệp của người, thì sự hăng hái nhiệt tình nầy luôn là một điểm xuất phát tốt. Nhưng phải có nước tinh khiết của giáo lý và huấn quyền Giáo Hội.
Tác phẩm “Bí mật Châu Âu” (Le secret de l’Europe) là kết quả của 35 năm kinh nhiệm sống trong lòng Liên Minh Công giáo của tôi. Đây là một cơ quan của giáo dân Công giáo có mục tiêu chính là nghiên cứu, phổ biến và áp dụng lời giáo huấn củ huấn quyền giáo hoàng.
Chưa bao giờ như lúc nầy – và tôi nói điều ấy tuyệt đối không hề có ý coi thường đối với những người , trong Giáo Hội, có một ơn gọi khác hoặc những phương pháp làm việc khác -, tôi thấy việc phổ biến rộng những giáo huấn của Đức giáo hoàng ( chẳng hạn tôi đang nghĩ về bức phù điêu tuyệt diệu của lịch sử ngoại giáo và lịch sử cứu độ trong [tông thư] “Spe Salvi” luôn luôn vẫn vậy, đã biến khỏi màn ra-đa các phương tiện truyền thống đại chúng chỉ ít ngày sau khi được công bố) lại cấp thiết và không thể thiếu được đến vậy.

Miriam Díezi Bosch, ghi lại
(BTGH chuyển ngữ từ Zenit, số ngày 28.02.2008)