PDA

View Full Version : Babel, tung và hoành


KaTy
22-08-2006, 08:57 PM
Babel, tung và hoành


Sau trận lụt, con cháu Noe thoạt đầu từ phía Đông, xứ Armenia, dời cư về hướng Nam dọc theo sông Tigris, rồi băng qua sông này, đi xa hơn phía Tây, vào vùng bình nguyên Sennar. Nghĩa là vào xứ Iraq ngày nay.

Tại đó, một chi tộc toan tính chuyện “động trời”.

Họ hùa nhau xây một cái tháp cao, để “khỏi bị phân tán khắp khắp mặt đất.”(St 11,4 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:4&FontSize=Txt10))

Đó là điểm khởi đầu câu chuyện tháp Babel trong Kinh thánh, được ghi lại trong chín câu đầu của chương 11 sách Sáng Thế.

Câu chuyện thú vị chỉ vọn vẹn trong chín câu ngắn ngủi, nhưng cho phép chúng ta tản mạn được nhiều điều lý thú. Phải chăng câu chuyện tháp Babel chỉ là những điều còn nhớ được từ lúc còn nhỏ mấy Sơ dạy giáo lý kể chuyện tháp Babel, gán cho con người tội kiêu ngạo, muốn lên cao bằng Thiên Chúa?


1-
Danh sách các Dân Tộc

Nhưng trước tiên, chúng ta nên bàn sơ qua về ngữ cảnh của câu chuyện.

Từ biến cố ông Noe uống rượu say nằm ngủ loã lồ rồi chúc dữ cho cháu mình ở St 9 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%209&FontSize=Txt10), sang đến chuyện đời ông Abraham ở St 11 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011&FontSize=Txt10), có một chương dài, St 10 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010&FontSize=Txt10), kể lại danh sách 70 đời con cháu hậu duệ dòng dõi ông Noe sau trận lụt.



Chương St 10 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010&FontSize=Txt10) thường được gọi là “Danh sách các Dân tộc - Table of Nations" con cháu xuất phát từ ba người con Shem, Ham, và Japhet của Noe.

Danh sách dài và dùng cùng một công thức lập đi lập lại. Nếu các Bác có hứng thú nghiên cứu, xin mời bỏ ra một chút thời giờ nhấp chuột vào đây St 10 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010&FontSize=Txt10), để đọc sơ qua cho đỡ... buồn ngủ.


Dĩ nhiên danh sách này không đầy đủ. Chẳng ai tin rằng toàn thể thế giới chỉ có... 70 giòng giống. Nhưng ít ra khi ghi lại danh sách này, Sáng thế ký nhấn mạnh cho chúng ta thấy rằng mọi giống nòi đều có những đặc tính riêng và những biệt tài riêng, vì là được tạo dựng theo và mang hình ảnh của Thiên Chúa.


Một chi tiết khác chúng ta cần ghi nhận qua một chuỗi các gia phả trong 11 chương đầu này, là các con số ghi lại năm sống của các tổ phụ nhân loại. Ông Ađam sống 230 năm rồi mới sinh con đầu lòng, sau đó còn sống thêm 700 nữa, tổng cộng 930 tuổi: “Tổng cộng ông A-đam sống được chín trăm ba mươi năm, rồi qua đời.” (St 5,5 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%205:5&FontSize=Txt10)) Các tổ phụ trước cơn lụt thường sống lâu như thế:

Tẩn mẩn ghi lại ba con số ấy chúng ta tuần tự có

Tên..............sinh con lúc........sống thêm...........Tổng cộng

Ađam................230.................700.................930
Set............ .....105.................807.................912
Enosh...............90..................815.................905
Kenan...............70..................840.................910
Mahalaleel.........65..................830.................895
Jared................162.................800.................962
Enoch...............65..................300.................365
Methuselah.......187.................782.................969
Lamech............182.................595.................977
Noah................600................. ---.................950

Sau cơn lụt

Shem..............500.................. ---..................600
Arpachshad.....35...................403.................438
Shelah............30...................403.................433
Eber...............34...................430.................464
Peleg..............30...................209.................239
Reu.................32..................207.................239
Serug..............30..................200.................230
Nahor..............29..................119.................148
Terah..............70...................135................205


Terah chính là bố của Abraham. Với Terah, chúng ta đã đi vào thời có sử sách.

Rõ ràng các con số chỉ thời gian sống của mỗi người càng ngày càng ngắn lại.

Đó là bài học đầu tiên của Danh sách các Dân tộc được ghi lại nơi đây:
Đời sống con người ngắn lại vì hậu quả của tội lỗi.

KaTy
22-08-2006, 09:02 PM
Babel, tung và hoành (2)

2-

Giữa những câu đều đặn theo một công thức kể lại danh sách các dân tộc, chúng ta gặp mấy câu miêu tả một nhân vật đặc biệt: Nimrod

Nimrod là ai?

Kinh thánh trả lời:

“Ông này là người anh hùng đầu tiên trên trái đất.” (St 10,6 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:6&FontSize=Txt10))

Chúng ta đọc nguyên đoạn trích dẫn như sau:

“Ông Cút sinh ra ông Nim-rốt; ông này là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất. Ông là thợ săn dũng cảm trước mặt ĐỨC CHÚA. Vì thế có câu: "Như Nim-rốt, thợ săn anh hùng trước mặt ĐỨC CHÚA."10 Khởi điểm vương quốc ông là Ba-ben, E-réc, Ác-cát, Can-nê, trong đất Sin-a.11 Từ đất ấy, ông rời đến Át-sua và xây các thành Ni-ni-vê, Rơ-khô-vốt, Ia, Ca-lác,12 và Re-xen, giữa Ni-ni-vê và Ca-lác, thành phố lớn.13 Mít-ra-gim sinh ra các người ở Lút, A-nam, Lơ-háp, Náp-tu-khin,14 Pát-rốt, Cát-lúc và Cáp-to; từ dân này mới có dân Phi-li-tinh.” (Stk 10,8-14 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:8-14&FontSize=Txt10))

Bản Do thái ghi lai các câu 9, 10 ,11, 12

9 Hu-hayah gibor-tza'id lifnei HASHEM al-ken ye'amar keNimrod gibor tza'id lifnei HASHEM.
He was a mighty hunter before HASHEM. It is therefore said, "Like Nimrod, a mighty hunter before HASHEM."

10 Vatehi reshit mamlachto Bavel ve'Erech ve'Akad veKalneh be'eretz Shin'ar.

The beginning of his kingdom was Babylon, Erech, Akad, and Kalneh in the land of Shinar.

11 Min-ha'aretz hahi yatza Ashshur vayiven et-Nineveh ve'et-Rechovot ir ve'et-Kelach.
Ashshur departed that land, and he built Nineveh, Rechovot Ir and Kalach.

12 Ve'et-Resen bein Nineveh uvein Kalach hi ha'ir hagdolah.
[He also built] Resen between Nineveh and Kalach. This was the great city.



Chi tiết đầu tiên chúng ta nên lưu tâm là ý nghĩa của cái tên. Tên “Nimrod- nimrodh”, có gốc là động từ “mrd - marad, he revolted" – mang nghĩa “nổi loạn”, “cách mạng”.


Kinh Thánh còn “trích dẫn” một câu, mang dáng vẻ một ngạn ngữ, dường như để ca tụng ông: “Vì thế có câu: "Như Nim-rốt, thợ săn anh hùng trước mặt ĐỨC CHÚA.- al-ken ye'amar keNimrod gibor tza'id lifnei HASHEM.” (St 10,9 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:9&FontSize=Txt10))

“Vì thế có câu...” Điều này chứng tỏ khi tác giả san định thuật trình này, thì trong dân gian đã có câu truyền tụng: “Như Nimrod thợ săn anh hùng - gibor tza'id .”


Có thật Nimrod là “thợ săn anh hùng- gibor tza’id” ? Chúng ta hãy khoan vội đồng ý với câu nhân gian truyền tụng này, mà cần phải đọc Kinh Thánh giữa hai hàng chữ. Biết đâu chúng ta tản mạn được nhiều điều lý thú bất ngờ.



Các Bác có nhận được điều gì thú vị khi gặp câu này: “Khởi điểm vương quốc ông là Ba-ben, E-réc, Ác-cát, Can-nê, trong đất Sin-a.11 Từ đất ấy, ông rời đến Át-sua và xây các thành Ni-ni-vê, Rơ-khô-vốt, Ia, Ca-lác,12 và Re-xen, giữa Ni-ni-vê và Ca-lác, thành phố lớn.”?

“Vatehi reshit mamlachto Bavel - Khởi điểm vương quốc ông (Nimrod) là Ba-ben.”

Lần đầu tiên, chúng ta gặp từ ngữ “mamlachto – vương quốc.”

Như thế là sao? Trước giờ nhân loại chỉ sống theo tinh thần bộ tộc. Đi đâu, làm gì đều trong khuôn khổ gia đình hay đại gia đình. Trong buổi đầu lịch sử nhân loại, và cho mãi đến sau này, vào thời bắt đầu thành hình dân tộc Israel, mọi người đều sống theo tinh thần bộ tộc là chính. Dân tộc Israel đã chẳng bắt nguồn từ 12 chi tộc, nghĩa là từ con cháu do 12 người con của Giacob sinh ra đấy sao?

Như thế, trở về trước, về thời ngay sau đại lụt, dĩ nhiên nhân loại càng sống theo bộ tộc hơn nữa. Mọi người đều sống quần tụ chung quanh một tổ phụ. Dù di chuyển đến đâu hay lập cư nơi nào, tất cả con cháu cùng một tổ phụ đều đi chung với nhau, dựa vào nhau quần tụ chung nhau mà sống . Khi Cain chạy trốn, ông cùng con cháu trôi dạt về gần phía đông vườn Eden. Khi Noe vào tàu, ông cùng gia đình con cái cháu chắt dắt díu nhau vào tàu ...

Vậy mà khi kể về Nimrod, “người thợ săn anh hùng” hảo hán, này Kinh Thánh ghi : “Khởi điểm vương quốc ông là Babel.”

Vậy ra ông là nhà lập quốc đầu tiên , ít ra là theo Kinh Thánh ghi lại.

Sống sau thời đại lụt, mà Nimrod lại là con cháu trực hệ của Noe, hẳn Nimrod phải hiểu được cái uy quyền của Gia Đình quan trọng và “bao trùm” như thế nào. Nhân loại có được cứu vớt chẳng qua là nhờ Gia Đình. Làm gì lúc bấy giờ nhân loại đã biết đến “quốc gia”. Nhân loại, lúc ấy, chỉ biết có “nhà” chứ không hề biết đến “nước” là gì.

Thế mà tới thời Nimrod, Kinh Thánh ghi: “Khởi điểm vương quốc ông là Bavel”

Vậy ra, ông là người đầu tiên nghĩ ra, lập nên, hay chúng ta có thể rụt rè mà nói rằng Nimrod là người đầu tiên đưa ra khái niệm “nhà nước”, hay là nhà cách mạng tiên khởi thành lập đế chế.

Đó là điều mới.

Nhưng không hẳn là điều tốt.

Nimrod là “thợ săn- tza'id ”. Nghĩa chính xác của từ “tza’id” là người gài bẫy bắt thú hơn là thợ săn . Stk 25:28 dùng từ này để miêu tả “Isaac thương Esau vì thịt thú Esau bẫy được dành cho ông, còn Rebecca thương Giacob - Vaye-ehav Yits'chak et Eisav ki tsayid b'fiv, v'Rivka ohevet et Ya-akov.

Vậy chưa chắc Nimrod “săn thú”, mà ông săn người, bắt họ sống theo “quy chế quốc gia”.

Dưới quyền ông, nhân loại không còn sống theo từng bộ tộc, quần tụ chung quanh tổ phụ, mà mọi người đều quy về một giềng mối, “nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau.” (St 11,1 (http://http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:1&FontSize=Txt10)). Giống như một chế độ nào đó.

Như vậy Nimrod còn hơn cả “một thợ săn”, ông là một ông vua đầu tiên.


Hẳn ông chưa mang dáng vẻ một vị vua có đầy đủ quần thần, công hầu khanh tướng và nghi vệ triều đình như ngày nay, nhưng ít ra ông đã chuyển cái văn hoá gia tộc thành văn hoá phi gia tộc.

Và cuộc được-gọi-là-cách-mạng này, hẳn phải được thực hiện bằng bạo lực.

Vì sao?

Bằng vào kiểu nói Thiên Chúa hay dùng để đối thoại với Noe và với Abraham sau này, khi ký kết giao ước, Thiên Chúa thường nói: “ngươi và con cháu ngươi.”.

Con cháu cụ tổ Abraham, khi nói về Vị Thiên Chúa mà họ tin vào, họ dùng công thức: “Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi”. Sống giữa các sắc dân khác với niềm tin khác, và thờ các thần khác, con cháu Israel thường minh định: “Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi.”

Họ không hề nói Thiên Chúa của “quốc gia” tôi hay “nước” tôi!

Vậy chuyển từ một nền văn hoá và một xã hội bộ tộc sang một văn hoá và xã hội có tính đế chế và độc tài – “mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” - không những không dễ dàng, mà còn nói lên tính cách ngạo mạn của người chủ xướng.

Vũ lực hẳn là phương tiện cần thiết. Có vậy mới có câu ngạn ngữ mà Kinh Thánh trích dẫn :” Vì thế có câu: "Như Nim-rốt, thợ săn anh hùng trước mặt ĐỨC CHÚA.- al-ken ye'amar keNimrod gibor tza'id lifnei HASHEM.” (St 10,9)


“Anh hùng - gibor” hay “gian hùng” ? May lắm chúng ta dùng từ là “tay hảo hán” dành cho ông!

Chúng ta có lý do để mạnh miệng mà nói thế.

KaTy
22-08-2006, 09:04 PM
Babel, tung và hoành (3)


Chúng ta cần lưu ý thêm là nguyên bản Do thái dùng “Bavel” nghĩa là thành “Babylon”, chứ không phải là “tháp Babel” như chúng ta quen gọi hay quen tưởng tượng như cái tháp Eiffel, hoặc Tháp Rùa ! ! !

Mang tên là “Người Nổi Loạn”, kẻ gài bẫy thành thạo Nimrod thành lập “vương quốc“- mamlachto- đầu tiên của mình là “Babylon” –Bavel – Babel - tại vùng đồng bằng Shinar, nghĩa là vùng đất Iraq ngày nay, xưa kia là vương quốc của đế chế Assyria.

Đế chế này được Kinh Thánh coi là một nơi hoàn toàn ngỗ ngược và biểu tượng cho tội lỗi đáng bị trừng phạt ! Lời nguyền rủa và tiên báo mang một văn phong dữ dội :

Trích Isaia chương 13
Về Ba-by-lon (Ba-ben)


1 Lời sấm về Ba-by-lon. Điều ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã thấy.

2 Trên một ngọn núi trọc, hãy phất hiệu kỳ,
hãy lên tiếng nói với chúng,
hãy vẫy tay gọi chúng đến cửa nhà quyền thế.

3 Chính Ta đã truyền cho đạo binh thánh của Ta, Ta cũng đã triệu tập các dũng sĩ,
những kẻ chiến thắng kiêu hùng của Ta,
để chúng cho thấy cơn thịnh nộ của Ta.

4 Trên núi non có tiếng ồn ào nhộn nhịp
như tiếng một đoàn dân đông đảo.
Có tiếng náo động xôn xao của các vương quốc,
của các dân tộc họp lại cùng nhau:
ĐỨC CHÚA các đạo binh duyệt binh ra trận.

5 Từ miền đất xa xăm, từ chân trời,
ĐỨC CHÚA và những công cụ thực hiện cơn lôi đình của Người,
đến phá tan toàn cõi đất.

6 Hãy rên siết, vì ngày của ĐỨC CHÚA đã gần kề;
ngày đó đến như cuộc tàn phá của Đấng Toàn Năng.

7 Vì thế ai nấy đều rụng rời tay chân, đều sờn lòng nản chí.

8 Chúng kinh hoàng, lên cơn đau, quằn quại,
đau thắt như sản phụ.
Chúng sửng sốt nhìn nhau, mặt đỏ bừng như lửa.

9 Kìa, ngày của ĐỨC CHÚA đến, ngày khắc nghiệt,
ngày của phẫn nộ và lôi đình, ngày làm cho đất tan hoang
và tiêu diệt phường tội lỗi, không còn một tên nào ở đó.

10 Quả vậy, tinh tú bầu trời và các chòm sao
sẽ không chiếu sáng nữa,
mặt trời vừa mọc lên đã tối sầm,
mặt trăng sẽ không còn toả sáng.

11 Ta sẽ phạt thế giới vì sự gian tà, phạt kẻ dữ vì tội lỗi của chúng.
Ta sẽ chấm dứt sự kiêu căng của phường ngạo mạn,
vẻ tự đắc của quân cường bạo, Ta sẽ hạ xuống.

12 Ta sẽ làm cho phàm nhân hiếm hơn vàng ròng,
cho con người hiếm hơn vàng Ô-phia.

13 Vì thế, Ta sẽ làm cho trời chấn động, đất chuyển rung dời chỗ
trong cơn giận của ĐỨC CHÚA các đạo binh,
vào ngày Người nổi cơn lôi đình.

14 Bấy giờ, như sơn dương bị săn đuổi,
như đàn chiên không người quy tụ,
ai nấy sẽ quay về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình.

15 Mọi kẻ người ta tìm thấy sẽ bị đâm,
mọi người bị bắt đều ngã gục dưới lưỡi gươm.

16 Con thơ của chúng sẽ bị nghiền nát ngay trước mắt,
nhà bị cướp phá, vợ bị hãm hiếp.

17 Này Ta cho quân Mê-đi nổi lên đánh chúng.
Bạc, quân ấy chẳng coi ra gì, vàng, cũng chẳng ham thích.

18 Quân ấy sẽ dùng cung nỏ nghiền nát các thiếu niên,
không thương xót con cái của lòng dạ người ta,
không nhìn những đứa trẻ mà thương hại.

19 Ba-by-lon, hòn ngọc các vương quốc,
niềm tự hào kiêu hãnh của người Can-đê,
sẽ bị Thiên Chúa phá đổ như Xơ-đôm và Gô-mô-ra.

20 Thành ấy sẽ mãi mãi không có người ở,
từ đời này qua đời khác sẽ chẳng ai cư ngụ.
Tại đó, người Ả-rập sẽ không cắm lều,
người chăn chiên sẽ không cho súc vật nằm nghỉ.

21 Tại đó, dã thú đến nằm nghỉ, cú vọ ở đầy nhà, đà điểu tới trú ngụ,
và bầy dê ma quái nhảy nhót tung tăng,

22 linh cẩu gọi nhau trong các cung điện,
chó rừng trong các lâu đài giải trí của thành.
Thời của nó đã gần đến, ngày của nó sẽ chẳng kéo dài.


Trích Isaia chương 47
Ai ca khóc Ba-by-lon (Ba-ben)


1 Hỡi trinh nữ, con gái Ba-by-lon, xuống đi, ngồi trên cát bụi;
hỡi con gái Can-đê, ngồi phệt xuống đất, không ngai không bệ,
vì người ta sẽ không bao giờ gọi ngươi
là cô gái yêu kiều đài các nữa.

2 Hãy lấy cối xay bột, phơi trần bím tóc,
vén vạt áo dài, phơi đùi lội qua sông,

3 để chỗ kín ngươi bị lột trần, cho nỗi nhục ngươi bị lộ ra!
Ta sẽ phục thù, không ai ngăn cản được.

4 Đấng cứu chuộc chúng ta,
Đấng mang danh hiệu là ĐỨC CHÚA các đạo binh,
là Đức Thánh của Ít-ra-en, Người phán thế này:

5 Hỡi con gái Can-đê, hãy ngồi lặng lẽ, lùi vào bóng tối,
vì thiên hạ sẽ không bao giờ gọi ngươi
là nữ hoàng muôn nước nữa.

6 Ta đã nổi cơn thịnh nộ với dân Ta,
đã hạ nhục cơ nghiệp của Ta, trao nó vào tay ngươi.
Nhưng ngươi chẳng hề đem lòng thương xót chúng;
cả trên người già nua, ngươi đã đặt một cái ách thật nặng.

7 Ngươi đã nói: "Mãi mãi ta sẽ là nữ hoàng."
Những điều ấy, có bao giờ ngươi để lòng nghiền ngẫm,
suy nghĩ xem kết cục sẽ ra sao!

8 Hỡi kẻ ham lạc thú,
ngươi ngồi trên ngai, bình chân như vại và tự nhủ:
"Chỉ có ta, đâu còn ai khác!
Ta sẽ chẳng bao giờ mang thân goá bụa,
không bao giờ là người mẹ mất con."
Giờ đây, hãy nghe điều này:

9 Thình lình cả hai tai hoạ đó
trong một ngày sẽ ập xuống trên ngươi:
vừa mất con lại vừa goá buạ.
Chưa hết tai hoạ này đã đến tai hoạ khác,
chúng ập xuống trên ngươi,
dù ngươi cao tay phù chú và lắm trò ma thuật.

10 Ngươi cậy vào lòng độc dữ của ngươi mà nói:
"Chẳng ai thấy ta đâu."
Chính cái khôn cái giỏi của ngươi đã mê hoặc ngươi rồi,
và ngươi lại tự nhủ: "Chỉ có ta, đâu còn ai khác."

11 Điều dữ sẽ ập xuống trên ngươi
mà ngươi không làm sao đề phòng;
hoạn nạn sẽ giáng xuống trên ngươi
mà ngươi không tài nào ngăn cản;
tai ương sẽ thình lình ập xuống trên ngươi
mà ngươi đã không hề lường trước.

12 Có giỏi thì đứng vững đi,
cứ tiếp tục những phù phép và những trò ma thuật vô số kể
mà ngươi đã tốn công luyện tập từ thời niên thiếu:
biết đâu ngươi lại không thể giúp ích cho chính mình,
biết đâu ngươi lại chẳng làm cho người ta khiếp sợ?

13 Ngươi đã kiệt quệ vì trăm mưu nghìn kế.
Đâu cả rồi, mấy ông xem số tử vi, mấy thầy chiêm tinh,
mấy kẻ cứ đến kỳ tân nguyệt
lại báo cho ngươi rõ những gì sẽ xảy đến?
Tất cả hãy đứng lên nào, hãy cứu chữa ngươi đi!

14 Này chúng sẽ như cọng rơm bị lửa đốt cháy,
không sao cứu mạng khỏi hoả hào.
Đó không phải là than hồng để sưởi ấm,
cũng chẳng là ánh lửa để ngồi bên.

15 Đối với ngươi, chúng là thế đó,
những kẻ đã làm ngươi hao sức tốn công,
những kẻ nuốt tiền của ngươi từ khi ngươi còn niên thiếu;
chúng sẽ lang thang mỗi người một ngả,
chẳng có ai cứu được ngươi đâu.

KaTy
22-08-2006, 09:05 PM
Trích Khải Huyền chương 18
Than khóc Ba-by-lon


9 Vua chúa trần gian đã làm chuyện gian dâm và sống xa hoa với nó, sẽ đấm ngực khóc than nó, khi thấy khói từ đám cháy thiêu huỷ nó.10 Vì sợ khổ hình của nó, chúng sẽ đứng xa xa mà than rằng:
"Khốn thay! Khốn thay! Hỡi thành vĩ đại,
hỡi Ba-by-lon, thành phố hùng cường,
vì nội trong một giờ, ngươi đã bị xét xử! "

11 Các con buôn trên mặt đất khóc lóc để tang nó, vì không còn ai mua hàng hoá của chúng nữa.12 Hàng hoá đó là: vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải gai mịn, vải đỏ tía, tơ lụa, vải đỏ thẫm; gỗ trầm, đồ bằng ngà, đồ bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch;13 quế, sa nhân, hương thơm, mộc dược, nhũ hương; rượu, dầu, tinh bột, lúa mì, súc vật, chiên cừu, ngựa, xe, thân xác, và cả linh hồn người ta nữa.

14 Hoa quả lòng ngươi ao ước đã biến xa ngươi; mọi thứ loè loẹt, hào nhoáng, ngươi không còn nữa, và người ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nữa!

15 Những kẻ buôn các hàng hoá ấy, những kẻ đã nhờ thành ấy mà làm giàu, sẽ đứng xa xa vì sợ khổ hình của nó, sẽ khóc lóc, để tang và than rằng:

16 "Khốn thay! Khốn thay! Thành vĩ đại
đã mặc vải gai mịn, vải đỏ tía và đỏ thẫm,
trang sức toàn bằng vàng, đá quý và ngọc trai,

17 vì nội trong một giờ, bấy nhiêu của cải đã bị phá tan hoang! "

18 và khi thấy khói từ đám cháy thiêu huỷ nó, họ kêu lên: "Thành nào sánh được với thành vĩ đại? "19 Chúng rắc tro bụi lên đầu, kêu la, khóc lóc, để tang và than rằng:
"Khốn thay! Khốn thay! Thành vĩ đại
đã lấy sự phong phú của mình
mà làm giàu cho các chủ tàu biển,
vì nội trong một giờ, nó đã bị phá tan hoang! "

20 Hỡi thiên quốc, hãy mừng vui hoan hỷ, vì nó đã bị phá tan hoang. Hỡi dân thánh, các tông đồ và các ngôn sứ, hãy mừng vui hoan hỷ, vì Thiên Chúa đã xử công minh cho các ngươi, khi lên án nó!21 Bấy giờ một thiên thần dũng mãnh nhắc một tảng đá to như chiếc cối xay lớn mà ném xuống biển và nói:
"Ba-by-lon, thành vĩ đại, sẽ bị thẳng tay ném đi như thế đó,
và người ta sẽ chẳng bao giờ còn tìm thấy nó nữa!

22 Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng nhạc sĩ gảy đàn, ca hát, thổi sáo và thổi kèn.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn thấy
thợ thủ công thuộc mọi ngành nghề.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng cối xay bột nữa.

23 Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn thấy
ánh sáng đèn chiếu rọi.
Trong thành ngươi, sẽ chẳng bao giờ còn nghe
tiếng cô dâu chú rể.
Bởi vì các con buôn của ngươi
từng là kẻ quyền thế trên mặt đất,
bởi vì ngươi đã dùng phù phép
mà làm cho muôn nước mê hoặc,

24 và trong thành ngươi,
đã tìm thấy máu của các ngôn sứ, của dân thánh
và của mọi người đã bị giết trên mặt đất."

KaTy
24-08-2006, 10:30 AM
Babel, tung và hoành (4)


Nhà cháu cố ý trích dẫn nguyên văn ba chương Kinh Thánh để các Bác có dịp đọc Kinh Thánh. Chứ nếu chỉ trích dẫn Kinh Thánh kiểu cổ điển như Is 47:1-35, thì cũng như không. Chẳng bao giờ tạo dịp cho các Bác đọc vài đoạn Kinh Thánh ...


Trở lại với Nimrod, chúng ta có thể biện luận rằng, không có Nimnrod, thì cách nào đó, sớm muộn cũng có người, có thời, nhân loại sẽ chuyển hướng sang xã hội đế chế. Đúng thế, nhưng chúng ta không bàn đến chuyện ai là người đầu tiên cho bằng chỉ xét đến cách thức sử dụng quyền lực của Nimrod.

Trước ông, không phải là thế giới không có trật tự kỷ cương. Gia có gia huy, quốc có quốc pháp, chứ! Không có Nimrod, thì quy củ gia đình vẫn có và vẫn là điều tốt đẹp. Và chính cái kỷ cương của gia đình đã vận hành thế giới cách ổn thoả.

Bằng chứng ? Giữa thế gian ô trọc nếu gia pháp của Noe không “nghiêm” thì hẳn chỉ một mình ông lên đênh trên tàu , chứ làm gì có cả gia tộc của ông cùng được cứu!


Không chỉ “nimrod - mrd - nổi loạn”, không chỉ “gài bẫy- tza’id”, không chỉ “gibor - ngang tàng”, không chỉ “độc tài”, ông còn có nhiều tham vọng.

Bắt đầu dựng vương quốc tại Babylon-Bavel, ông không dừng ở đó, mà còn thêm một, rồi hai, ba, bốn... và nhiều thành khác.


10 Vatehi reshit mamlachto Bavel ve'Erech ve'Akad veKalneh be'eretz Shin'ar.
Khởi điểm vương quốc ông là Ba-ben, E-réc, Ác-cát, Can-nê, trong đất Sin-a.
11 Min-ha'aretz hahi yatza Ashshur vayiven et-Nineveh ve'et-Rechovot ir ve'et-Kelach.
Từ đất ấy, ông rời đến Át-sua và xây các thành Ni-ni-vê, Rơ-khô-vốt, Ia, Ca-lác,
12 Ve'et-Resen bein Nineveh uvein Kalach hi ha'ir hagdolah.
và Re-xen, giữa Ni-ni-vê và Ca-lác, thành phố lớn.

Tất cả là tám thành. Trong đó có thành Ninivê nổi tiếng mà chúng ta gặp trong “tuần giảng phòng đại phúc” của Giôna.



-----

Ghi chú (*)

Từ “Ir” có nghĩa là “thành”. Rehoboth-Ir = “khang trang” mang nghĩa “thành có đường rộng”. Theo chú giải của bản dịch NAB, thì Rehoboth -Ir có lẽ không phải là tên một thành riêng biệt, mà là tính từ bổ nghĩa cho Ninivê, xem Jonah 3:3 “Ni-ni-vê là một thành phố cực kỳ rộng lớn, đi ngang qua phải mất ba ngày đường” Bản dịch CGKPV lại có dấu phết giữa, khiến người đọc kết luận đây là hai thành khác nhau, Rơkhôvốt và Ir.

....

KaTy
24-08-2006, 10:38 AM
Babel, tung và hoành (5)


Bằng vào những chi tiết ấy chúng ta có thể kết luận rằng Nimrod là một nhà cai trị tầm cỡ, và là tay xây cất có hạng, một mình tạo ra một giang sơn gồm tám thành rộng lớn.

Đã có uy, có quyền, lại có lực, dĩ nhiên hẳn ông cũng có "gan"! Bởi lẽ, không dễ có mấy ai đành lòng dễ dàng khuất phục người khác. Để lãnh đạo, ông phải khuất phục được người khác, dù là theo cách của Tào Tháo hay Lưu Bị. Cả hai cách đều cần phải có “gan”. Không chỉ có “gan”, mà có khi còn “táo gan”, “đảm lược”.

Nhưng điều đáng nói - hay đáng trách – đó là khởi đầu sự nghiệp thì như thế nhưng dần dà kết cục lại không tốt đẹp được như thời hàn vi.


Chúng ta thấy được điều đó qua hai chi tiết:


1-Chi tiết thứ nhất dựa vào từ "hechel" ở các câu St 10,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:8&FontSize=Txt10) và 11,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:6&FontSize=Txt10). Mời các Bác đọc hai câu này:

"VeKush yalad et-Nimrod hu hechel lihyot gibor ba'aretz.
Kush produced [a son] Nimrod. He began to be powerful on earth.

"Vayomer HASHEM hen am echad vesafah achat lechulam vezeh hachilam la'asot ve'atah lo-yibatzer mehem kol asher yazmu la'asot.
HASHEM said, "Behold, they are one people, all having one language, and this is their first undertaking. Now will nothing be unattainable for them, [to do] whatever they have a mind to do?"

Từ “huchal / vayichal" do gốc CH*L*L mang nghĩa là “bắt đầu”, “khởi sự” nhưng còn có thể cho ta nghĩa khác rất xa. Đó là "CHilLuL" – “phạm thánh” , hay “trù yếm”.

Mà động từ “bắt đầu – hechel” đây còn mang nghĩa “khởi sự một tình trạng”, hay “trở nên”. Y hệt như khi vắng thầy Giám thị, cả lớp ngồi yên ngoan ngoãn được năm phút, rồi “bắt đầu” – “trở nên” – “hechel” - ồn ào, hỗn độn.


Tìm những chỗ khác trong St dùng từ này, chúng ta ngộ ra một điều rất thú vị:

Câu St 4,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%204:26&FontSize=Txt10): “Ule-Shet gam-hu yulad-ben vayikra et-shemo Enosh az huchal likro beshem HASHEM.- To Shet also was born a son, and he named him Enosh. Then men began to call [idols] by the name HASHEM. Ông Sết cũng sinh được một con trai và đặt tên là E-nốt. Bấy giờ, người ta bắt đầu kêu cầu... (bằng) danh ĐỨC CHÚA.

Câu St 6,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%206:1&FontSize=Txt10) “Vayehi ki-hechel ha'adam larov al-penei ha'adamah uvanot yuledu lahem. - It came to be when men began to multiply on the face of the earth, that daughters were born to them. Vậy khi loài người bắt đầu thêm đông trên mặt đất, và sinh ra những con gái, thì các con trai Thiên Chúa thấy con gái loài người xinh đẹp; những cô họ ưng ý thì họ lấy làm vợ.

Câu St 9,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%209:20&FontSize=Txt10) "Vayachel Noach ish ha'adamah vayita karem. - Noach began to be a man of the soil and he planted a vineyard. Ông Nô-ê (bắt đầu) làm nghề nông, ông là người thứ nhất trồng nho.


Khi nói về Nimrod, ta đọc thấy trong St 10,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:8&FontSize=Txt10) “VeKush yalad et-Nimrod hu hechel lihyot gibor ba'aretz. - Kush produced [a son] Nimrod. He began to be powerful on earth.- Ông Cút sinh ra ông Nim-rốt; ông này là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.

Và câu St 11,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:6&FontSize=Txt10) “Vayomer HASHEM hen am echad vesafah achat lechulam vezeh hachilam la'asot ve'atah lo-yibatzer mehem kol asher yazmu la'asot. - HASHEM said, "Behold, they are one people, all having one language, and this is their [B]first undertaking. Now will nothing be unattainable for them, [to do] whatever they have a mind to do?" ĐỨC CHÚA phán: "Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay, chẳng có gì chúng định làm mà không làm được?"


Mẫu số chung của các câu ấy là gì?

Đó là: khởi đầu đều là chuyện tốt đẹp , những bỗng dưng “bắt đầu”, “trở nên”(hechel), “đâm ra” tồi tệ và hư đốn (chillul) phạm đến sự thánh thiện của Danh Thiên Chúa , chillul Hashem.

Này nhé:

Nhân loại trước kia đàng hoàng đến thời Enosh, bắt đầu –hechel “huchal lokro beshem Hashem – gọi [ngẫu tượng] bằng tên Thiên Chúa” (4,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%204:26&FontSize=Txt10))

Khi loài người bắt đầu sinh sôi nảy nở, loài người bắt đầu (hechel) sinh ra con gái, sau đó con cái Chúa bèn bắt đầu lấy con gái loài người làm vợ (=chillul) (6,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%206:1&FontSize=Txt10)).

Noe bắt đầu (hechel) trồng nho, nhưng sau đó thì trợ nên hư đốn say xỉn, loà lồ (=chillul) (9,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%209:20&FontSize=Txt10))

Cùng một diễn tiến tương tự, vậy khi gặp từ “hechel” trong câu Stk 10:8 “VeKush yalad et-Nimrod hu hechel lihyot gibor ba'aretz. - Kush produced [a son] Nimrod. He began to be powerful on earth. Kush sinh Nimrod. Ông “bắt đầu” là một người gài bẫy đầy bạo quyền”

thì chúng ta có thể kết luận, ban đầu Nimrod là “người gài bẫy”, nhưng sau ông trở nên bạo quyền.


Có thế, ông mới mở rộng vương quyền mình trên tám thành.

KaTy
26-08-2006, 08:26 PM
Babel, tung và hoành (6)

Chi tiết thứ hai là:

2-
Nếu chúng ta thoáng nghĩ trước tới cảnh tại Babel, thành đầu tiên của Nimrod, nơi mà “mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” (St 11,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:1&FontSize=Txt10)) nghĩa là “rập khuôn” như nhau, không có ai nói “khác” hay “nói ngược lại” thì khó ai cấm chúng ta nghĩ tới cái quần đảo goulag.

Phải chăng Babel là quần đảo goulag đầu tiên?

Điều ấy cho chúng ta thấy cách sử dụng quyền lực của Nimrod, hay ít ra hoàn cảnh bạo tàn của thế giới lúc bấy giờ. Nghĩa là sau cuộc thanh lọc bằng cơn hồng thuỷ, thế gian đâu lại vào đấy. Tội lỗi lại đầy dẫy trên thế gian. Trong đó Nimrod là một khuôn mặt nổi bật.

Như chúng ta đã thoáng thấy, Nimrod là người đầu tiên dùng quyền lực để chi phối, thống trị, chinh phục và xây dựng thành trì và quốc gia.

Bức ép kẻ khác là một điều xấu đối với nhân loại vì mỗi người đều có quyền và trách nhiệm trên phận đời riêng mình. Đàn áp người khác là vi phạm đến quyền tư do là lãnh vực riêng tư căn bản của mỗi người.

Bức ép kẻ khác và bắt họ làm nô lệ còn là một điều xấu đối với Thiên Chúa nữa. Nimrod ngang tàng muốn làm chỉ huy, muốn ngồi vào vai vế của Đấng Sáng tạo: “Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất." (St 11,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:4&FontSize=Txt10))

Vậy có nghĩa là không đến xỉa gì đến Danh Thiên Chúa – HASHEM - à ? Như thế là “chillul Hashem - phạm đến (sự) thánh Danh Thiên Chúa.”

Trước chúng ta bao đời, thay vì xin cho “Danh Cha – HASHEM - cả sáng”, thì Nimrod đã để “cho danh ta lẫy lừng - vena'aseh-lanu shem”!

Vậy ra “anh hùng- gibor”, đúng nghĩa, không phải là thắng kẻ khác, nhưng là tự thắng.

Có lẽ, đúng hơn, nên gọi Nimrod là “gibor tza’id - kẻ gài bẫy gian hùng.”

Và thay vì “lifnei HaSHEM là “trước Danh” tương đương với “before God -trước mặt Thiên Chúa”, thì nên chuyển thành: “against God - đối mặt Thiên Chúa”.

KaTy
31-08-2006, 07:38 PM
Babel, tung và hoành (7)


Sau khi gặp Nimrod, bây giờ chúng ta đi quan sát Babel.


1 Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau.2 Trong khi di chuyển ở phía đông, họ tìm thấy một đồng bằng ở đất Sin-a và định cư tại đó.3 Họ bảo nhau: "Nào! Ta đúc gạch và lấy lửa mà nung! " Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ.4 Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất."

5 ĐỨC CHÚA xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây.6 ĐỨC CHÚA phán: "Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay, chẳng có gì chúng định làm mà không làm được.7 Nào! Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa."8 Thế là ĐỨC CHÚA phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa.9 Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Ba-ben, vì tại đó, ĐỨC CHÚA đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó, ĐỨC CHÚA đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất. (St 11,1-9)


Chiết tự tên gọi “Babel” chúng ta gặp hai từ: “baa” có nghĩa là “cổng”, và “el” có nghĩa là “Chúa”. Vậy “Babel”, đại khái, mang nghĩa là “Cổng [nhà] Đức Chúa Trời”.

Cùng một gốc, chúng ta lại có từ “balal” “rối loạn”, “hỗn độn”, làm nền cho câu Kinh Thánh “chơi chữ” St 11,9 ”Al-ken kara shemah Bavel ki-sham balal HASHEM sfat kol-ha'aretz - Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Ba-ben, vì tại đó, ĐỨC CHÚA đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất.”

Có ý kiến cho rằng Nimrod đã khởi sự xây dựng vương quốc khoảng chừng hơn kém một trăm năm sau cuộc đại lụt. Dân số nhân loại lúc ấy chỉ chừng vài chục ngàn người, và cuộc phân tán ngôn ngữ xảy ra vào thời của Peleg.

Peleg?

Đọc St 10,25, chúng ta sẽ biết Peleg là ...ai: “Ê-ve sinh được hai con trai; người thứ nhất tên là Pe-léc, vì thời ông đất được phân chia, người em tên là Gióc-tan.” Vậy Eve là hậu duệ đời thứ năm của Noe. Năm đời hậu duệ, mỗi đời trung bình chừng 25-30 năm.

Nhưng điều chúng ta nên lưu tâm là chi tiết “vì thời ông đất được phân chia”.


Ra thế! chúng ta còn nhớ lý thuyết về “pangea”. Ban đầu, toàn trái đất chỉ có một đại lục duy nhất. Đó là “pangea”. Dần dần, pangea nứt nẻ ra thành năm khối châu lục nhỏ hơn và càng ngày chúng càng trôi dạt xa nhau ... Trùng hợp với sự phát tán các ngôn ngữ và các dân tộc trên mặt đất.

Vì tên “bavel- Babel- Babylone” trùng nhau, mà St 11,2 còn cho thêm chi tiết: “Trong khi di chuyển ở phía đông, họ tìm thấy một đồng bằng ở đất Sin-a và định cư tại đó.”

Shinnar là vùng đồng bằng châu thổ nằm giữa hai sông Tigris và Euphrates, nghĩa là Iraq ngày nay, nên các tháp cổ gọi là ziggurat này nay còn tìm thấy tại đây cho chúng ta một hình ảnh rõ nét về tháp Babel đã như thế nào!

Chúng ta hãy nhẩn nha tản mạn từng câu.

Vayehi chol-ha'aretz safah echat udevarim achadim.
The whole earth had one language, with conforming words.
“Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” . ( St 11,1)

Các bạn có nhận thấy ngay câu khởi đầu, thuật trình đã dùng trùng lặp hai câu để nói lên cùng một sự kiện: “safah echad - nói một thứ tiếng” và dùng “devarim achadim - những từ như nhau”?

Không những thế, câu này lại được lập lại hai lần, một câu kể chuyện: “Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” (St 11,1), và một câu do Chúa nói ra: “Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng.”( St 11,6)

Nếu nhân loại lúc bấy giờ nói một ngôn ngữ thì hẳn các từ đều như nhau. Hai kiểu nói chỉ để diễn tả một sự kiện. Một trùng lặp vô ích hay còn có cách giải thích nào khác?

Có ý kiến cho rằng, thay vì đọc thành “devarim achadim” thì còn có thể đọc thành “d’varim CHAdim”.

“Chad, chadim” có nghĩa là “bén nhọn”.

Như thế câu này mang nghĩa: “Ai nấy đều nói cùng một ngôn ngữ và dùng những từ “sắc bén”.”

Ngôn ngữ trở thành khí giới đâm vào lưng nhau, đâm vào danh dự của nhau. Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh như thế, chẳng có công trình chung nào hoàn thành được. Tháp đành bị bỏ dỡ và rã đám là chuyện đương nhiên.

Nhân tản mạn chuyện này, chúng ta thấy có điều lý thú. Thành công của cả một công trình xây cất đồ sộ của nhân loại, bằng gạch nung rắn chắc, nhằm để lưu truyền muôn đời cho hậu thế, lại chỉ dựa vào ngôn ngữ, một dụng cụ vô hình, vô tượng, vô vị, vô thể chất, thoáng có đấy lại thoáng mất ngay. Lời nói ra, âm thanh vừa phát ra là mất ngay !

Ngôn ngữ cũng như âm nhạc, tự chúng rất phù du, không bền vững, chỉ hiện hữu khi được nói ra hay tấu lên.

Vậy mà không có âm thanh ngôn ngữ phù du kia giúp sức thì tháp Babel trở thành đống gạch vụn, chứng tích cho một cái gì dở dang, bất toàn và bất thành của con người.

Quả vậy, từ “ngôn ngữ - safah” được dùng năm lần chỉ trong chín câu ngắn ngủi của thuật trình tháp Babel: “mọi người đều nói một thứ tiếng ... chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng... làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu (tiếng của) ai nữa... làm xáo trộn tiếng nói của mọi người...”

Như thế ngôn ngữ hẳn sẽ là từ “khoá” giúp dễ hiểu thuật trình này. Hay nói đúng hơn, thuật trình tháp Babel cho thấy con người chỉ được “giỏi cái miệng”! Nói thì ngon lắm, Mà làm thì “chẳng ra làm sao”!

KaTy
31-08-2006, 07:46 PM
Babel, tung và hoành (8)

2-

Một bất ngờ thứ hai cần lưu ý, đó là từ “devarim” ngoài nghĩa “ ngôn từ”, “tiếng”, "thông điệp”, “lời nói” - word – mot, parole, language”, nó còn mang nghĩa là “vật”, “đồ vật - things- choses”.

Vậy “devarim achadim” còn có thể hiểu “đồ vật chung”, “của cải chung”!

Và câu này:

"Vayehi chol-ha'aretz safah echat udevarim achadim.” có thể chuyển ngữ thành: “The whole earth had one language, with common things. - Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng của cải chung.” ( St 11,1)


Tha hồ các bạn mơ tới một loại thiên đường....Oops! Phần liên tưởng này xin để các bạn tha hồ tự tiện, ở đây không tiện khai triển thêm! Xin chỉ liên tưởng tới câu thơ:

“Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau một tiếng “Anh Hùng” mà thôi”



3-

Chúng ta đi tiếp nhé:

"Vayehi benos'am mikedem vayimtze'u vik'ah be'eretz Shin'ar vayeshvu sham. When they journeyed from the east, they found a valley in the land of Shinar and they settled there.- “Trong khi di chuyển ở phía đông, họ tìm thấy một đồng bằng ở đất Sin-a và định cư tại đó.”

Câu này gây cho chúng ta thắc mắc điều chi?

Từ rặng Ararat, nơi mà tàu Noe chạm đất sau cơn đại lụt: “Vào tháng bảy, ngày mười bảy tháng ấy, tàu đậu lại trên vùng núi A-ra-rát.” ( St 8,4) , nhân loại phát tán “Vayehi benos'am mikedem - đi về hướng đông."

“Benos’am” có nghĩa sát là “nhổ cọc dời cư” và “mikedem” có nghĩa “từ hướng đông”, nhưng từ này trong các câu St 2,8; 3,24; 12,8 và 13,11) khiến chúng ta có thể hiểu là “về hướng đông”.


Tiếng Do thái có hai từ chỉ cái thung lũng: “emek” và “vik’ah”. Từ “emek” dùng để gọi một thung lũng phì nhiêu như “emek Yizrael – thung lũng Jezriel”, miền Galilê. Còn từ “vik’ah” lại dùng để gọi một thung lũng hoang vu, như “vik’ah HaYarden- thung lũng Giodan”, gần như một hoang mạc.

Nimrod khởi đầu vương quốc tại Babel, nằm trong một “emek- thung lũng” đồng bằng châu thổ phì nhiêu giữa hai sông Tigris và Euphrates, mang tên nổi tiếng là “Lưỡng Hà Địa”.

Đã có thổ nhưỡng phì nhiêu, tại sao còn di chuyển về phía đông làm chi, sang tới “vik’ah – thung lũng” Shinnar, cằn cỗi hơn và không phì nhiêu bằng? Các bạn có thấy lạ không?

Phải chăng khác với chiều di cư sau này, gần như hầu hết các dân tộc sau này đều... nam tiến. Dân “barbaric- mọi rợ” thời Trung cổ, từ phía Bắc, vượt sông Danube, nam tiến , làm nên các dân tộc Âu Châu ngày nay? Sắc dân Mông cổ nam tiến, đánh dạt các tộc thuộc Bách Việt nam tiến. Chúng ta nằm trong luồng di dân này.

Thời Nimrod có đông tiến. Nhưng cũng có nam tiến. Thung lũng Shinar nằm phía ở Đông Nam Iraq ngày nay.

Nhưng tại sao lại phải di chuyển thêm chi cho xa, khi mà vùng Lưỡng Hà Địa đã phì nhiêu tốt tươi hơn nhiều nơi khác?

KaTy
02-09-2006, 08:15 PM
Babel, tung và hoành (9)


Có phải vì nhân loại muốn tránh một cuộc lụt lội nữa mà họ quyết định xây một cái tháp cao, hầu rút lên đó ở, khi nước dâng ?

Nhưng hỏi thế thì cũng không...ổn. Nếu nhân loại có ý định ấy, tại sao lại không kéo nhau lên rặng núi hay thậm chí lên đỉnh núi Ararat chẳng hạn, nhờ địa thế cao tự nhiên, khỏi phải nhọc công xây cất chi ?

Như thế hẳn không phải là để tránh lụt mà họ xây tháp !

Kinh Thánh không cho ta một manh mối nào. Ngoại trừ hai câu kế tiếp :

3 Vayomeru ish el-re'ehu havah nilbenah levenim venisrefah lisrefah vatehi lahem halvenah le'aven vehachemar hayah lahem lachomer.
They said one to another, "Come, let us mold bricks and bake them thoroughly." They then had bricks to use as stone, and the clay for mortar.- Họ bảo nhau: "Nào! Ta đúc gạch và lấy lửa mà nung! " Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ.


4 Vayomeru havah nivneh-lanu ir umigdal verosho bashamayim vena'aseh-lanu shem pen-nafutz al-penei kol-ha'aretz.
Then they said, "Come, we will build ourselves a city, and a tower whose top will reach the heavens. Thus we will make ourselves a name, so that we will not be scattered all over the face of the earth." - Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất."


Chúng ta thấy ra được những gì ?

“Vayomeru ish el-re'ehu havah nilbenah levenim venisrefah lisrefah !”
Họ bảo nhau: Nào! Chúng ta hãy đúc gạch và lấy lửa mà nung !”


Hai điều tuyệt diệu nổi bật trong câu này :

Thứ nhất,
chỉ cần ba chữ, chúng ta thấy được một “hội nghị Diên Hồng” hay đúng hơn một cuộc họp của “Liên Hiệp Quốc” : “Vayomeru ish el-re’ehu - Họ bảo nhau” Nguyên văn phải dịch thành : “Người này nói với người kia rằng :”


Vậy ra con người bắt đầu biết dùng ngôn ngữ để “bàn bạc”, “hội nghị” với nhau, hay nói một cách chuyên môn hơn, đại công trình xây cất của nhân loại lúc bấy giờ đã bắt nguồn từ “ngôn ngữ”. Nhân loại dùng ngôn ngữ để “thảo luận” với nhau .

Phần nào nhân loại đã mong mỏi được thống nhất. Thống nhất đầu tiên là thống nhất về ngôn ngữ. “And all the earth was of one language and one speech.”

Bây giờ qua ngôn ngữ thống nhất này, “người này” thảo luận, “bàn bạc với người kia” để đi đến thống nhất trong hành động !


Khác với chương 10 trước đó mà chúng ta đã biết là chương kể lai lịch nguồn gốc và danh sách 70 dân tộc khác nhau trên thế gian, ngay đầu chương này, ngay câu thứ nhất, thuật trình đã nhấn mạnh : “Vayehi chol-ha'aretz safah echat udevarim achadim. The whole earth had one language, with conforming words. - “Thuở ấy, toàn trái đất đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” . ( St 11,1)


Chúng ta nên nhớ công cuộc xây cất tháp Babel này chỉ là công trình của một Nimrod, một dòng tộc con cháu nhà Kham. “Đây là gia đình các con trai ông Nô-ê là Sêm, Kham và Gia-phét; sau hồng thuỷ, họ đã sinh được những người con.... Con của ông Kham là: Cút, Mít-ra-gim, Pút, Ca-na-an.... 8 Ông Cút sinh ra ông Nim-rốt; ông này là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất ...” ( St 10,1.6.8 )

Nguyên văn Do thái “chol – ha’aretz” là “toàn thể trái đất”, chứ không phải là “mọi người” như bản dịch Vulgata của CGKPV.

Nhưng bản văn đã nhấn mạnh quá đáng, cho rằng “mọi dân tộc”, hay “toàn thể nhân loại” , “chol- ha’aretz – toàn/khắp trái đất”, đã bàn nhau mà xây tháp !

Dầu sao đây cũng là chi tiết cho chúng ta thấy Babel không phải là bất kỳ cái tháp nào riêng biệt, hay cái thành nào đó bất kỳ, nhưng là “cái Tháp” viết hoa tượng trưng cho một nỗi khao khát của nhân loại bấy giờ .


“Safah echat - một tiếng nói” . Sự thống nhất về ngôn ngữ còn nói lên một quan điểm chung về thế giới . Những người nói cùng một thứ tiếng hẳn sẽ có chung một nhân sinh quan và vũ trụ quan, nếu không muốn nói là có chung nền văn hóa.

Vì ngôn ngữ diễn tả điều họ quan niệm trong tâm tư. Khi nói ra một từ, mà mọi người đều hiểu từ ấy theo “cùng một nghĩa - udevarim achadim”, thì nhất định mọi ngươì đều có chung hoài bão, chung hy vọng, chung đời nội tâm.

Không - hay là chưa - có cảnh “ông nói gà bà nói vịt !”.

KaTy
02-09-2006, 08:17 PM
Babel, tung và hoành (10)

Mà ngôn ngữ là sản phẩm của trí tuệ con người, do con người nghĩ ra. Chứ sao ?

Cứ trở về lại vườn Eđen mà xem, công việc trí óc đầu tiên mà con người làm là một công việc thuần túy ngôn ngữ. Đó là đặt tên cho thú vật. Con người “gọi” con thú ấy là gì thì “chết” cái tên ấy.

Từ lúc ấy, ngôn ngữ con người phong phú thêm, trở thành một thứ “phạm trù”, một thứ “khung” qua đó con người nhìn và hiểu thế giới và suy tư về thế giới. Nói cách khác con người bọc cho thế giới ngoại tại một dáng vẻ mới qua vốn ngôn ngữ càng ngày càng tinh tế của con người.

Đồng thời sức mạnh của ngôn ngữ cũng dần dần hiện ra. Vì “nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau” nên con người “nói với” nhau và “hiểu” nhau. Con người tin vào ngôn ngữ. Lời nói trở thành khả tín.


Nhưng một chi tiết tế nhị khác khiến chúng ta ngờ rằng, ngôn ngữ không hẳn là khả tín như nhân loại bấy giờ đã tưởng.

Bản văn Dothái dùng hai từ “udevarim achadim” . Xét kỹ hai từ này chúng ta thấy có nhiều thú vị.

“Devar” là “lời”, “từ”, “word", "mot”.

Bác Thực đã suy tư nhiều về từ này, và đang đưa ra nhiều cách chuyển ngữ. Từ Hy lạp tương đương không có. Nhưng thánh Gioan đã sử dụng từ “Logos” để chuyển tải hàm ngụ của từ Do thái “devar” này. “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.-Ἐν ἀρχῇ ἦν ὁ λόγος, καὶ ὁ λόγος ἦν πρὸς τὸν θεόν, καὶ θεὸς ἦν ὁ λόγος. - Au commencement était le Verbe et le Verbe était avec Dieu et le Verbe était Dieu.” (Ga 1,1)

Thú vị ở chỗ bản văn dùng từ “devar” ở số nhiều, “devarim”, và tính từ “achad” có nghĩa là “một”- one, un, common” lại cũng ở số nhiều, “achadim”!

Y hệt như nếu chúng ta viết bằng Anh văn, chúng ta nói “thế gian lúc bấy giờ chung một tiếng nói và dùng chung “ones words” , hay “uns mots!” theo tiếng Pháp!

Chỉ vậy thôi mà hai từ này rất khó “nắm bắt” và rất khó dịch . Có người dịch hai chữ này thành “vài từ - few words” với nghĩa “đơn giản trong ngôn ngữ và thông tin”, người khác thì chọn “many words but one speech - nhiều từ nhưng một diễn đạt”, có người lại dùng “single words - nhiều từ đơn nghĩa”!

Hay đây đã là dấu chỉ cho thấy tính bất lực của ngôn ngữ, diễn tả một điều mà con người bấy giờ đang hồ đồ về hiện hữu của “một” và “nhiều” !

Nghĩa là tuy Kinh Thánh miêu tả con người thống nhất tiếng nói và từ ngữ, nhưng bên dưới là cả một tình trạng “hồ đồ” đang âm ỷ!.

KaTy
03-09-2006, 01:32 PM
Babel, tung và hoành (11)


“Vayomeru ish el-re'ehu havah nilbenah levenim venisrefah lisrefah !”
Họ bảo nhau: Nào! Chúng ta hãy đúc gạch và lấy lửa mà nung!”


Nếu chuyển ngữ thật sát, chúng ta phải dịch thành
“Vayomeru = Họ bảo,
ish = người (nói) với,
el-re’enu = người bên cạnh, hàng xóm,
havah = Nào,
nilbehah levenim = hai từ lập lại, khó dịch sang tiếng Việt, tương đương “đúc gạch các gạch đúc”, to brick the bricks,
venisrefah lisrefah = nung lửa cháy thành ngọn.


Chi tiết “nói với người bên cạnh, với nhau” cho ta thấy con người đã ngồi xuống gần nhau, bên nhau, để bàn bạc với nhau ! Một hình thức hội nghị.


Chúng ta đã đến tâm điểm của thuật trình; Con người sử dụng lời nói tối đa. Họ bàn bạc nhau tối đa. Liên tiếp họ ngồi lại họp bàn với nhau hai lần vì trong thuật trình chúng ta gặp hai lời kêu gọi.

Lần thứ nhất con người “hè” nhau: “Havah –Nào- Come !” Đây là động từ “yahabh” ở mệnh lệnh cách, ra lệnh cho người khác, mang nghĩa “Lại đây! ” Nhưng dùng cho ngôi thứ nhất, với nghĩa “Nào! chúng ta hãy..” Nếu chuyển sang phương ngữ Hà Tĩnh, ta có thể dịch thành: “Người ni bảo người tê: Ta đúc gạch và nung gạch hè !”

Lần “hè !” nhau đầu tiên này, họ rủ nhau đúc gạch, nilbehah levenim, rồi nung gạch thật già lửa, venisrefah lisrefah.


Rồi con người lại “hè” nhau một lần nữa:

4 Vayomeru havah nivneh-lanu ir umigdal verosho bashamayim vena'aseh-lanu shem pen-nafutz al-penei kol-ha'aretz.
Then they said, "Come, we will build ourselves a city, and a tower whose top will reach the heavens. Thus we will make ourselves a name, so that we will not be scattered all over the face of the earth." - Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất."

Như thế, con người “rủ” nhau làm ba điều: 1-Xây thành xây tháp, 2-Lưu danh thiên cổ, và 3-Nhắm đến một tôn giáo mới.

Chúng ta thấy đấy, ngôn ngữ trước giờ được dùng để đặt tên thú vật, đặt tên cho nhau, tranh luận với con rắn, rủ nhau ăn trái cấm, diễn tả sợ hãi, đổ lỗi cho nhau, chối tội của mình, từ khước trách nhiệm, cãi nhau với em, hát lên những lời trả thù ghê gớm, chúc lành và chúc dữ cho con cho cháu..., bây giờ, ngôn từ được dùng để lên phương án, “hè” nhau hành động và lập chương trình.


Táo bạo hơn con người nhái lại lời sáng tạo của Thiên Chúa.

Thiên Chúa phán: ” Vayomer Elokim na'aseh adam - Let us make man” (Stk 1:26) Dĩ nhiên là từ hư vô.

Còn nhân loại thời Babel bắt chước mà nói : “vena'aseh-lanu shem- Let us make for ourselves a name- Ta hãy làm một danh/tên cho chúng ta”.

Nhân loại khốn khổ mà bắt chước Lời sáng tạo. Không thể từ hư vô, nhưng chỉ sau khi đã nhọc công đúc gạch và nung gạch, từ vật liệu đã có sẵn, vay mượn từ thiên nhiên! Họ muốn lưu danh thiên cổ trong cái thành, cái tháp mà họ dựng nên từ công lao tay mình,

Rõ ràng nhân loại khó mà dấu được cái lòng tự hào, tự mãn của con người qua câu nói động viên tinh thần nhau này.

Mạnh miệng hơn, chúng ta có thể kết luận con người có “chút” kiêu ngạo.

KaTy
06-09-2006, 05:59 AM
Babel, tung và hoành (12)


Không chỉ kiêu ngạo mà dường như con người còn âm mưu chuyện gì ghê gớm hơn !

Thành, hay tháp, là để “canh chừng”. Tiếng Do thái, “thành” là “ir”, có gốc mang nghĩa “canh chừng”.

Hào lũy bao quanh và chòi tháp cao của “Thành” trên Hà Dừa, cho ta một khái niệm thế nào là “ir”.

Con người rút lui vào sống trong “thành” hay “tháp” là mong kiếm chút an ninh. Ban đầu “thành” chưa là nơi thị tứ, chưa phải là “thành phố”. Cũng chưa phải là đền thờ phượng.

Trước Babel, Kinh Thánh đã hai lần nhắc đến thành. Sau khi giết em, Cain đã lang thang đến xứ Nod và đã xây một “thành” để cùng gia đình trú ẩn. Ông lấy tên con mình, Enoch mà đặt tên cho thành đầu tiên này.

Sau đó Kinh Thánh còn kể ra các thành phố lớn, tám thành, do Nimrod xây dựng, mà Ninivê là một thành nổi bật. Sau này còn có Sodoma và Gomorah.

Khổ nỗi những thành đầu tiên của nhân loại đều ít nhiều liên quan đến trụy lạc, tội lội Thành không phải là nơi tử tế để trú ngụ. Ninivê, Sodoma, Gomora là những tên thành không đáng tự hào.

Và bây giờ, Babel tiếp nối danh sách ấy.

Vươn cao sừng sững giữa đồng bằng, từ xa ai cũng thấy, dáng vẻ đồ sộ của thành tháp hẳn nói lên chút tự hào của con người. Nhờ thành và tháp, con người không còn lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên chung quanh nữa. Ít nhiều con người không những độc lập được với thiên nhiên, mà còn tránh được nhiều thiên tai. Có mái che nắng mưa, có tường thành cản gió bão, thú dữ, kẻ địch, có nơi dự trữ nước, vũ khí....

Dựa vào những điều ấy con người tưởng mình rồi sẽ an toàn và trường tồn lâu dài.

Bởi thế họ mới nhắm mục đích: “Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng”.


Nhân tiện, chúng ta không thể không nói ngay đến điều tuyệt diệu thứ hai. Đó là lần đầu tiên chúng ta bắt gặp KinhThánh miêu tả Kỹ thuật. Đổ khuôn làm gạch và nung gạch.

Kỹ thuật và sử dụng lửa, rõ ràng đó là hai chià khoá cho sự tiến bộ của nhân loại.

Mà nếu chúng ta nhớ rằng nền văn minh và kỹ thuật Babylon, nghĩa là của Babel, lưu truyền lại cho chúng ta các tháp ziggurat và cách đọc tử vi dựa theo các dấu hoàng đạo (zodiac sign), thì câu rủ nhau xây một “tháp cao tới trời” hẳn là đã bộc lộ phần nào cái tự mãn của con người.

Hẳn những công nhân xây tháp đầu tiên này còn mang nặng ấn tượng kinh hoàng về cuộc đại lụt, dù chỉ do tổ tiên kể lại. Đó là lần đầu tiên con người nghiệm được sức mạnh tàn phá khủng khiếp của thiên nhiên.

Tuy sau đó Thiên Chúa hứa: “Sẽ không bao giờ còn lụt như thế nữa !” Nhưng khi thấy những nắm xương tàn từ thây người và thú vật chết đuối vẫn còn la liệt khắp nơi trên mặt đất, thì hẳn nhân loại cảm thấy kỷ niệm về biến cố ấy vẫn đậm nét và mạnh mẽ không thua lời quyết chắc của Thiên Chúa.

Không chỉ mong tránh lụt, họ muốn xây thành có đỉnh vươn tới trời, “chọc” trời

Điều ấy có nghĩa gì ?

Thành Babylone hiện còn lưu dấu những ziggurats, trong đó cái tháp nổi tiếng là Etemenanki, dành cho thần Marduk.

Các tư tế Balyone còn lên đó để ngắm và nghiên cứu về mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, xem xét cách vận hành của chúng, để rút ra các hệ lụy vào phần số con người. Khoa tử vi Tây phương đã bắt đầu từ đó.

Các tư tế không chỉ muốn biết ảnh hưởng tinh tú trên phận người mà phần nào, ngược lại họ cũng muốn gây ảnh hưởng trên các vì tinh tú ấy.

Nhân loại Babel muốn ngửa mặt nhìn trời, nhìn lên, theo hướng trục tung.

KaTy
07-09-2006, 06:04 AM
Babel, tung và hoành (13)

Thế là chúng ta đã đụng đến trọng điểm của thuật trình.

Các Bạn có lưu ý rằng, từ đầu thuật trình đến lúc này, nhân loại không hề nhắc đến Thiên Chúa một chút nào. Từ lúc “hè” nhau đúc gạch, nung gạch rồi lên kế hoạch xây thành xây tháp, họ làm như... không có Thiên Chúa trên đời này.

Lúc hội họp bàn chuyện lớn, xây tháp cao chọc trời, họ cũng chẳng “làm dấu đọc kinh khai mạc”.

Không những trong mọi chương trình của họ, không có Thiên Chúa, họ còn bất chấp mệnh lệnh Thiên Chúa. Mà lệnh này Ngài lập đi lập lại nhiều lần: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho đầy mặt đất”.


Các Bạn còn nhớ chứ? Vào ngày thứ năm cuộc sáng tạo, Thiên Chúa ra lệnh cho các hải vật: “Thiên Chúa phán: "Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời."21 Thiên Chúa sáng tạo các thủy quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.22 Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất."23 Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.” ( St 1,20-23)

Khi sáng tạo con người, Ngài lập lại mệnh lệnh: “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." ( St 1,26-28 )

Sau trận lụt, Ngài còn lập lại lần nữa: “Thiên Chúa ban phúc lành cho ông Nô-ê và các con ông, và Người phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất.” (St 9,1)


Vayomer lahem peru urevu umil'u et-ha'aretz.- "Be fruitful and multiply, fill the earth

Ngài muốn nhân loại phát tán theo trục hoành, chứ không co cụm một chỗ và mang nặng tinh thần địa phương cục bộ.

Ngài đã nói mệnh lệnh này cho gia đình Noe, nghĩa là cho toàn thể nhân loại lúc bấy giờ. Vậy mà chỉ khoảng trăm năm sau, nhân loại đã ... bất chấp.

KaTy
08-09-2006, 05:46 AM
Babel, tung và hoành (Hết)

Bây giờ thuật trình chuyển hướng câu chuyện về phía Thiên Chúa. Và Ngài dùng chính kiểu nói của nhân loại để đối thoại với nhân loại.

Vayered HASHEM lir'ot et-ha'ir ve'et-hamigdal asher (mà) banu bnei ha'adam. HASHEM descended to see the city and the tower that the sons of man built.- ĐỨC CHÚA xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây.

Vayomer HASHEM hen am echad vesafah achat lechulam vezeh hachilam la'asot ve'atah lo-yibatzer mehem kol asher yazmu la'asot.
HASHEM said, "Behold, they are one people, all having one language, and this is their first undertaking. Now will nothing be unattainable for them, [to do] whatever they have a mind to do?- ĐỨC CHÚA phán: "Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay, chẳng có gì chúng định làm mà không làm được

7 Havah nerdah venavlah sham sefatam asher lo yishme'u ish sfat re'ehu.
Come, let us descend and jumble their language, that they will not understand one another's language."- Nào! Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa."


Ngược lại với nỗi cao ngạo của con người muốn xây cái tháp cao mà đỉnh cao đụng trời, Kinh Thánh mỉa mai nhắc khéo Thiên Chúa phải đi “xuống” mới thấy được cái tháp chọc trời ấy.

Điều lý thú là Ngài không phạt họ. Dường như Ngài giữ lời đã hứa từ sau cơn đại lụt.

Con người bàn bạc với nhau, rủ nhau: “Havah - Nào !” thì Ngài cũng bàn bạc: “Havah- Nào !”

Ngài đã dùng chính ngôn ngữ như một hình phạt,- cũng là một phương tiện, - để phong phú hoá ngôn ngữ con người, khiến họ không còn hiểu nhau được nữa.

Từ một ngôn ngữ thống nhất, giờ đây con người có nhiều ngôn ngữ. Từ Babel, con người đâm ra “balal – hồ đồ , xáo trộn”, từ trục tung con người phải phát tán theo trục hoành, theo như mệnh lệnh ban đầu của Thiên Chúa.



Rồi thuật trình kết thúc đột ngột. Cái tháp không bị phá đổ, nhưng dở dang, như một dấu chứng rằng con người có kỹ thuật mà nếu không theo đúng mệnh lệnh Thiên Chúa – luân lý - hướng dẫn thì kỹ thuật sẽ biến thành một mớ bòng bong !

Mà nói cho ngay công trình kỹ thuật đầu tiên ấy, vì thiếu vắng hay không theo mệnh lệnh của Thiên Chúa, thì tự nó đã là một “hỗn độn”, thất bại. Thiên Chúa chỉ là chứng nhân cho tính tất yếu của thất bại ấy mà thôi.

Science sans conscience n’est que ruine de l’âme.

Mà biết đâu thất bại tất yếu ấy lại là một phương thuốc hay để chữa bệnh.

Ngôn ngữ phân tán, nhân loại phát tán thành nhiều quốc gia, - đồng ý ! - nhiều tiếng nói – đồng ý !, như thế có nhiều nguy cơ chiến tranh – đồng ý !

Nhưng khi ngôn ngữ không còn nhất thống, thì sẽ có nhiều vũ trụ quan, nhiều quan điểm hơn về thế giới, về nhân loại, về vạn vật, về vũ trụ. Nghĩa là hết còn độc đoán, độc tôn và độc...tài.

Đa ngôn ngữ đòi hỏi tinh thần quảng đại và chấp nhận cái khác biệt, người khác biệt, quan điểm khác biệt, như thế dạy cho con người biết tinh thần cộng tác.


Chúng ta thoáng thấy được điều ấy khi chú ý tới chi tiết thú vị này: Ban đầu Thiên Chúa là Một. Bản văn dùng số ít: “Vayered HASHEM - HASHEM descended - ĐỨC CHÚA xuống".

Nhưng khi Thiên Chúa nhận thấy nhân loại trở thành một : “hen am echad vesafah achat lechulam - Behold, they are one people, all having one language - Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng".

thì bản văn miêu tả Thiên Chúa dùng động từ số nhiều: “Havah nerdah - Come, let us descend - Nào! [Chúng] Ta xuống!”

để cuối cùng (một) Thiên Chúa phân tán họ (số nhiều): “Vayafetz HASHEM otam - HASHEM scattered them.”


Ngày nay, nhiều thiên niên kỷ sau Babel đầu tiên, nhân loại đang có nhiều nỗ lực để thống nhất. Toán học phải chăng là một thứ ngôn ngữ thông nhất mà ai cũng hiểu? Liên Hiệp quốc, EU, ASIAN, OPEC phải chăng là những cố gắng thống nhất quy chế, quốc gia?


Kinh nghiệm Babel là một bài học “còn nhớ ”, hay “đã quên”?