PDA

View Full Version : Đặc sủng của đời linh mục


admin
26-08-2006, 11:10 PM
Ðức Hồng Y BERTRAM

Tổng Giám mục BRESLAU

ĐẶC SỦNG CỦA ĐỜI LINH MỤC


TỦ SÁCH TU ÐỨC






Lời nói đầu

"Tủ Sách Tu Ðức" xin được hân hạnh giới thiệu với Quý Vị và các bạn tập sách "Ðặc sủng của đời linh mục", tác giả là Ðức Hồng Y A-đôn-phô Bertram, Tổng giám mục Breslau, ngày nay là Wroclaw, Ba-lan. Chính tác giả đã giới thiệu sách của mình như sau:

"Những ngày tĩnh tâm, đối với hàng linh mục chúng ta, là những ngày thánh hóa. Ðây là lúc chúng ta hướng mắt lên trời, nhìn lên gương mẫu của chúng ta, đó là Ðấng Chăn Chiên nhân lành vĩnh cửu; Người đã kêu gọi chúng ta cộng tác vào công trình của Người. Rồi chúng ta lại nhìn xuống quan sát thế giới nội tâm của chúng ta, vương quốc bí nhiệm của linh hồn, nơi mà, theo lời của Vị Tôn Sư, cần phát xuất "một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời" (Ga 4,14). Sau đó, chúng ta nhìn về quá khứ để xét mình xem, chúng ta thực sự đã luôn có được sự khôn ngoan, lòng mộ mến hi sinh, sự khéo léo và tính thực tiễn trong đời sống chúng ta hay chưa? Sau cùng, chúng ta nhìn ra bên ngoài, xem địa bàn hoạt động tông đồ của ta, nơi có rất nhiều việc phải làm và nhiều việc để làm.

Trong những ngày tĩnh tâm, chúng ta cảm nghiệm được một sự sốt sắng thánh thiện, một niềm phấn khởi dấn thân rao giảng những chân lý đời đời, một lòng yêu thương giới trẻ. Tuy nhiên, chúng ta cũng không kém lo âu phần nào, khi nhìn thấy những đám mây đen đang nổi lên: những hiểm nguy đe dọa bản thân chúng ta, những hiểm nguy làm ta run sợ cho giáo xứ chúng ta. Nhưng viễn cảnh cũng không thiếu ánh sáng. Ðấng đã hứa: "Thầy luôn ở với các con" thì cũng luôn chăm chú dõi theo con thuyền nhỏ bé nhất đang vật lộn với những làn sóng. Người đã hứa: trái tim các con sẽ tràn ngập niềm vui (Ga 16,22,24). Ðiều này cho phép chúng ta, với tâm hồn hân hoan, trở về địa bàn làm việc của chúng ta.

Ðây chính là kết quả của Tuần Tĩnh Tâm: soi sáng, hướng dẫn và khuyến khích. Những giờ khắc của Tuần Tĩnh Tâm là những giờ bồi dưỡng cho chúng ta, giờ của ăn trên trời (man-na) được giấu ẩn, giờ mà Thần Khí thổi đâu tùy ý. Thần Khí là: fons vivus, ignis, caritas (suối dạt dào. lửa thiêng, tình mến).

Tôi luôn coi những bài giảng cho các tiến chức như những giờ phút của việc tĩnh tâm cá nhân. Ðó là những giờ chuyện trò tự nhiên, thân tình và tôi luôn nghĩ là "chúng ta đã rất hiểu nhau rồi". Những trang sách mà tôi viết tặng các bạn đây là tiếng vang của những giờ đó. Chúng không dám vượt ra ngoài phạm vi của đề sách; chúng chỉ muốn đơn giản trở thành nên một tập thu gom những nét tổng quát và những gợi ý để giúp các bạn làm theo lời khuyên của Thánh Phao-lô:

"Aemulamini charismata meliora" ("Anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất") (1Cr 12,31).

Breslau, Chúa nhật Laetare, 1931
A-đôn-phô, HY. Bertram

admin
28-08-2006, 09:21 PM
NỘI DUNG

I. THÂN THẾ CỦA VỊ LINH MỤC (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2700#post2700)



Nói chuyện "cóc nhảy": Vì sao? Ðể làm gì?
Trước ngày truyền chức linh mục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2701#post2701)
"Lạy Chúa Thánh Linh xin hãy đến!
Ðã đến giờ truyền chức
Giá trị cá tính của con người linh mục
Huynh đệ linh mục
Thái độ đối với những người sai đường lạc lối
Những âu lo
Thời gian đã mất không bao giờ trở lại

II. NHỮNG NGUỒN SUỐI SINH ÐỘNG CỦA ÐỜI LINH MỤC (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2700#post2700)

Tới nguồn nước hằng sống
Manna được giấu kín
Ta phải xử lý các việc làm như thế nào?
Sức mạnh chinh phục
Cung giọng làm nên âm nhạc
Xin thương nhận chúng con đang hết lòng khiêm nhu thống hối
Một sự đa dạng tuyệt vời

III. DƯỚI ÁNH SÁNG VĨNH CỬU (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2773#post2773)

Bạn tâm giao của linh mục
"Khiên thuẫn của thiện chí"
Khi Chúa Giêsu cầu nguyện một mình
"Của con ở đâu thì lòng con ở đó"
Các việc thánh cần phải được làm cách thánh thiện
Nhà của Thiên Chúa và cửa của Thiên đàng
Aperire librum: mở sách ra
Giới thiệu cho người tín hữu sự phong phú của phụng vụ

IV. "CÙNG VỚI ÐỨC MARIA, MẸ CHÚA GIÊSU" (Cv 1,14) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=3089#post3089)

"Bây giờ thì tôi hiểu chuỗi mân côi"
Tiếng vang vọng từ thượng giới
Những điểm thông ơn thánh

V. SÁCH NGUYỆN, CUỐN SÁCH THIÊNG LIÊNG CỦA VỊ LINH MỤC (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=3092#post3092)

In unione divinae intentionis: Hiệp ý với Chúa
Trường dạy việc thánh hoá
Làm sao để đọc sách nguyện một cách chú ý và sốt sắng

VI. NHỮNG NHÂN TỐ KHÔNG TƯỞNG ÐƯỢC

Không được ai biết đến? Bị gạt xuống hàng bét
Vào những ngày buồn khổ
Ximon - người Ky-rê-nê
Những tư tưởng lầm lạc chăng ?

VII. "BẢO VỆ VIÊN ÐÁ QUÝ"

Họ sẽ nên giống như các thiên thần
Về lễ thánh Lu-y Gon-za-ga
Sự kín đáo: đặc điểm của vị linh mục
Nghĩ tới núi Taborê và niềm vui núi Taborê đem lại
Những bài học rút ra từ "sách ánh sáng" và "sách bóng tối"
"Sức mạnh của thấy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối"
Hãy ý thức được phẩm tước của mình! Hãy mạnh mẽ lên!

VIII. "CÓ TÌNH HUYNH ÐỆ LẠI THÊM BÁC ÁI"
"CÒN TẤT CẢ ANH EM ÐỀU LÀ ANH EM VỚI NHAU"

Không phải bằng đầu môi chóp lưỡi, nhưng bằng việc làm
Ðức mến không nóng giận, không nuôi hận thù
Ta hãy cầu nguyện cho các anh em vắng mặt

IX. GIÁO HỘI DƯỢC HIỆP NHẤT NHỜ BỘ LUẬT TUYỆT DIỆU, LÝ TƯỞNG HAY THỰC TẾ?

Tín nhiệm và tế nhị
Những năm tháng tập sự là những năm tháng quý báu
Một sự thử thách xem ra hơi kỳ!
Chỉ trích và phê bình, phải chăng là dấu trí thức trổi vượt?

X. PHỤC VỤ CÁC LINH HỒN

Biết và phục vụ các linh hồn
Hãy an ủi nhau (1 Tx 4,18)
Lòng yêu thương nhân loại
Giữ miệng lưỡi
"Tôi mắc nợ mọi người" (x. Rm 1,14)
Bạn của người nghèo
Nên gương cho giới trẻ. Tinh thần hiệp sĩ
Giáo dân làm việc tông đồ cho giáo xứ
Ðánh giá đúng khả năng con người
Cha phó
Kiên nhẫn
Ðừng nổi nóng vô ích
Áo chức (áo thâm chùng): niềm vinh dự của linh mục
"Không phải cho chúng con, vâng lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng chỉ xin cho Chúa được hiển danh
Không nên quá tầm thường để không thể bay bổng lên
Những điều mà những người giáo dân không sẵn sàng bỏ qua
Tâm hồn người bình dân và tiếng hát tại nhà thờ
Sự tiết độ và sức khoẻ luân lý của các giáo dân

XI. LỜI CHÚA: GƯƠM CỦA THẦN KHÍ

Rõ và rành mạch
Trách nhiệm nặng nề
Dàn bài và bố cục
Con ong siêng việc
Lúc thuận tiện, lúc không thuận tiện
Ngôn ngữ và thái độ
Cần quan tâm đến nỗi khốn quẫn của người giáo dân
Ngôn ngữ của trái tim và chất thơ
Mục đích của bài giảng và phần kết
Những lời khuyên ngắn gọn theo hoàn cảnh
Những điều sai sót tai hại
Những bài điếu văn
Bài giảng tuyệt diệu nhất

XII. BÁC SĨ VÀ TIẾN SĨ TRONG BÍ TÍCH HOÀ GIẢI
NHỮNG Ý MUỐN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG BÍ TÍCH HOÀ GIẢI

"Chớ gì lời giảng dạy của anh em trở nên thuốc thiêng liêng cho anh em"
"Con sẽ trở thành nên người chinh phục người khác"
Việc ăn năn có hiệu quả
Cha giải tội, vị trung gian bằng lời cầu nguyện và lời cầu thay nguyện giúp
"Ðạt tới sự thông hiểu phong phú và đầy đủ"
"Ðôi mắt của vị linh mục"
Kết sách nhỏ này

XIII. LỜI KINH NGUYỆN CÔNG GIÁO TRẢI DÀI VÀ TẾ NHỊ NHƯ THẾ NÀO

Hãy chiến đấu để có được sự trong sạch ngày càng hoàn hảo hơn
Cha hãy tín nhiệm các bạn đồng nghiệp và các người phụ tá của cha
Các cha hãy yêu mến Thomas a Kempis
Ta hãy ngước mắt nhìn lên Nữ Vương các Tông Đồ

admin
28-08-2006, 09:22 PM
I
THÂN THẾ CỦA VỊ LINH MỤC


NÓI CHUYỆN "CÓC NHẢY":
VÌ SAO? ÐỂ LÀM GÌ?


Tôi rất thích giảng cho các tân chức. Phải chăng, đó là vì, làm thế, tôi được nếm trước những niềm vui của ngày lễ truyền chức. Phải chăng, đó là vì có một sự trân trọng thầm kín mà vị Giám Mục và dân chúng vẫn có, khi nhìn ngắm các tân chức bước lên bàn thờ để hiến trọn đời mình?

Ðúng thế.

Nhưng còn lý do khác nữa.

Tôi luôn ý thức trách nhiệm nặng nề mà các tân chức nhận lãnh trên vai. Rồi đây, các vị sẽ được trao cho nhiệm vụ lo phần rỗi đời đời cho biết bao linh hồn. Trách nhiệm rất nặng nề này đòi hỏi một sự hài hòa và đồng thuận giữa một bên là vị Giám Mục và bên kia là vị linh mục.

"Idem sentire et idem velle" ("Cùng cảm nghiệm như nhau và cùng muốn một điều giống nhau").

Ðiều này cũng là điều mà Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ làm khi Người nói với các ông:

"Từ nay, Thầy sẽ gọi các con là bạn hữu".

Tình bạn đòi hỏi có một sự hài hòa trọn vẹn. Ngoài ra, còn phải có điều này nữa: sau ngày truyền chức, có lẽ còn phải có một thời gian rồi vị Giám Mục mới có dịp gặp lại tân linh mục (nếu là trường hợp các giáo phận lớn). Vậy tốt nhất là: ít ra trước khi truyền chức, vị Giám Mục và vị linh mục trao đổi và hiểu nhau cho tốt. Vị Giám Mục nào cũng lo giữ kín trong tâm khảm những hiểm nguy đang chờ đợi tân linh mục trong cuộc sống riêng tư cũng như trong việc mục vụ của ngài. Ôi! nếu tôi có thể giúp tân linh mục duy trì được lòng yêu mến thuở ban đầu! Ước chi tôi có thể giúp các tân linh mục làm cho đức ái ngày thêm mạnh để đến khi kết thúc cuộc đời tông đồ của mình, mỗi cha có thể thưa: "consummatum est!", "certamen certavi." ("mọi sự đã hoàn tất") - ("tôi đã chiến đấu cuộc chiến...")

Ðấy chính là lý do mà một vị giám mục cảm thấy mình ưa giảng cho các linh mục những bài như thế này. Và cũng chính vì lý do này ta có thể bỏ qua, không sử dụng "giọng giảng dạy" mà chỉ muốn trao đổi thân mật và đi vào chi tiết thực tiễn của các vấn đề. Cách làm thuận tiện, đó là kiểu "trò chuyện thân mật"; dĩ nhiên là ta phải hiểu "trò chuyện" cho đúng nghĩa của hai từ này.

Ðến đây, xin mở ngoặc:

Cách đây ít bữa, tờ Kưlnische Volkszeitung có đăng một bài báo bàn về vấn đề: liệu "nói chuyện" là một thiên ân hay là một nghệ thuật ?
Nhưng vấn đề này không mấy quan trọng. Ðiều quan trọng là nói gì và nhằm mục đích gì... Việc nói thân tình và đơn giản không làm trở ngại việc đề cập đến những vấn đề khô khan, nhất là khi ngỏ lời với một cử tọa trí thức.

Năm cuối cùng tại đại chủng viện là thời gian rất quan trọng và nghiêm túc. Chính vì thế mà thỉnh thoảng cũng nên dành ra một vài giờ để "nói chuyện", trao đổi, tản mạn, ngay cả khi các vấn đề được đưa ra bàn thảo không phải là những "món ăn nhẹ".

Ðôi khi, tôi thầm ao ước: giả như tôi có thể nói chuyện một cách thân tình như Ludwig Richter nói chuyện với các hình vẽ của ông... Nhưng đó là một ân ban của Thiên Chúa, cho dù ta có cố đến đâu cũng không thể tự sắm lấy cho mình được. Và các khoảng thời gian, lúc mà tâm hồn người bình dân cảm nhận được những tâm tình mà Ludwig Richter đã muốn chia sẻ, thì khoảng thời gian đó nay đã qua rồi.

Nhưng dù sao, nếu các linh mục mà tôi đặt tay truyền chức cho, nhớ lại với niềm vui, những bài giảng được in lại trên những trang giấy này - thì điều đó đã đủ để làm cho tôi hài lòng rồi.

admin
28-08-2006, 09:23 PM
TRƯỚC NGÀY TRUYỀN CHỨC LINH MỤC


Ðây là một điều bí mật, điều xảy ra trong ngày trước lễ Truyền Chức giữa linh hồn và Ðấng Phu Quân trên trời. Phải, một sự bí mật. Nhưng nay, những người đã có kinh nghiệm ấy, một lần nữa, được "sống lại" những cảm giác đó cùng với các tân chức.

Và vị Giám Mục chắc có thể đọc được điều này khi nhìn ánh mắt suy tư của vị tân chức. Ðây quả là một sự chờ đợi trong niềm vui và đồng thời ngài cũng thoáng nhận thấy có một sự lo âu khi ngài nhìn vào ánh mắt đó.
Và đây là một niềm ao ước trong thinh lặng.

Chúa Giê-su đã nói gì trong buổi truyền chức đầu tiên đó?

"Ta đã ao ước biết bao có được giờ này!"

Một niềm ao ước tương tự cũng đang trào lên trong trái tim trẻ trung trước ngày chịu chức. Thêm vào đó, vị tân chức cảm nghiệm được một niềm tín thác mạnh mẽ hơn nơi Thiên Chúa. "Ta sẽ ở với con". Lời này đã được thể hiện trong những cuộc tranh đấu thầm kín xảy ra trước bước quyết định dứt khoát.

Ðiều cảm động nhất trong ngày trước khi chịu chức đó là sự dâng hiến kín đáo cả trái tim; đó là sự dâng hiến bản thân cách tuyệt đối.

Thánh Elizabeth, nước Hungari, đã bị trục xuất khỏi Wartbourg. Trong đêm thinh lặng, Chúa Giêsu đã nói với Elizabeth:

"Elizabeth, nếu con muốn trọn vẹn thuộc về Cha, thì Cha cũng sẽ trọn vẹn thuộc về con".

Elizabeth đã thưa:

"Vâng, lạy Chúa, chớ gì được như vậy: con trọn vẹn thuộc về Cha và Cha trọn vẹn thuộc về con".

Ðây quả là cuộc đối thoại giao ước huyền nhiệm cũng đang xảy ra trong tâm hồn tân chức.

Tuy nhiên, tân chức cũng ý thức được các lỗi lầm của mình cũng như các khuyết điểm và các yếu đuối của bản thân: Con đường còn phải đi quả còn thật dài.

Và từ đó, một lời khiêm tốn:

"Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con, lúc mà mọi sự đều tối tăm".
Ðó là điều mà mỗi tân chức đều cảm thấy vào ngày trước lễ truyền chức và chẳng có gì có thể sánh được với tâm trạng đó.

admin
28-08-2006, 09:24 PM
"LẠY CHÚA THÁNH LINH XIN HÃY ÐẾN!"
Veni, Sancte Spiritus !

Câu hỏi được đặt ra:

Liệu linh mục chúng ta đã đọc một cách máy móc những câu vào Giờ Ba:

"Nunc Sancte nobis Spiritus,
Digne promptus ingeri
Nostro refusus pectori...?"

"Lúc này đây, lạy Thần Linh cực thánh,
Dủ tình thương, xin ngự đến tâm hồn."

Chúng ta là những người phục vụ và là các cơ quan lo việc của Chúa Thánh Linh; nhờ qua bí tích truyền chức, chúng ta được kết hợp với Người chặt chẽ hơn và thân mật hơn người giáo dân. Nghệ thuật của đời sống nội tâm nằm ở chỗ: luôn rộng mở trái tim ta để đón nhận ảnh hưởng của sự kết hợp đó. Không có một sự liên lạc nào tín thác hơn là quan hệ giữa linh hồn sống đời nội tâm với Chúa Thánh Linh.

"Accipe Spiritum Sanctum ad robur"
("Con hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần để được sức mạnh").

Thế giới nay đang cần những người có tính cương quyết. Các bạn hãy trung thành trong mọi hoàn cảnh, trung thành khi Xa-tan tấn công các bạn, trung thành khi người khác thắt lưng cho các bạn và dẫn các bạn đến những nơi mà các bạn không muốn đến, trung thành khi sự thối chí lọt vào tâm hồn các bạn. Trong trường hợp này, đây là liều thuốc:các bạn hãy khuyến khích những người khác, và khi làm thế, sự can đảm sẽ trở lại với các bạn. Ðó là việc làm cụ thể ta sẽ làm bằng cách duy trì liên lạc thân mật với Ðấng An Ủi tối cao.

admin
28-08-2006, 09:26 PM
ÐÃ ÐẾN GIỜ TRUYỀN CHỨC

Tất cả những ai muốn đến với Ðấng Cứu Thế để xin Người làm cho mình những điều mình muốn thì đều được khuyến khích nói rõ những lý do tại sao mình muốn được những điều đó.

"Quid tibi vis faciam ?"
"Con muốn Ta làm gì cho con ?"

Ðây chính là câu hỏi được đặt ra cho mỗi tân chức trong ngày lễ truyền chức linh mục của mình.

Trong toàn bộ đời sống linh mục, không có ngày nào mà ta có thể mạnh dạn hơn để xin điều mà vị Tông Ðồ gọi là "Charismata meliora" ("những đặc sủng thiện hảo hơn"). Tôi sẽ bàn về một số các đặc sủng này trong các bài tới. Vậy, hôm nay, ta có thể ao ước được điều gì quý giá hơn?

Theo tôi nghĩ, đó là điều sau đây:

Xin gìn giữ trọn vẹn sự trong trắng linh mục cho đến cùng và mỗi ngày xin cho được thêm lòng yêu mến các linh hồn.

Vị Thượng Tế đời đời lại không vui lòng đoái nhìn đến những người, hiện nay, từ thâm sâu của trái tim, không có một ước vọng nào lớn hơn là ước vọng trên đây?

Vậy, với tất cả tấm lòng tín thác, ta hãy trao phó mọi sự khác vào tay Chúa quan phòng. Một sợi tóc nhỏ cũng không rơi khỏi đầu ta, nếu Cha trên trời không cho phép.


GIÁ TRỊ CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI LINH MỤC

Thiết nghĩ không có nghề nào mà trong đó công việc thành công hay thất bại lại tùy vào người làm việc đó cho bằng trong tác vụ linh mục. Nếu có ai để ý quan sát, với tính cách bạn bè hay địch thủ, theo dõi hoạt động của một vị linh mục nào đó,thì luôn đặt ra cho họ một câu hỏi:

"Từ đâu mà các vị linh mục khiêm tốn đó, những người hoạt động âm thầm và đơn giản, lại có thể gây được một ảnh hưởng huyền nhiệm như thế ?

Có phải là vì các đức tính tốt tự nhiên của các vị đó ?

Hay là do học vấn, tài khéo hoặc do con mắt tinh tường ?

Dĩ nhiên, những điều này là những ân ban tuyệt vời. Nhưng xét cho cùng thì nguồn mạch gây ảnh hưởng phong phú hệ tại ở nơi ơn thiêng - ơn này được nối liền với tinh thần linh mục, khi tinh thần này hiện hữu một cách tuyệt diệu và trong sáng và chính nó đem lại cho vị linh mục một hấp lực mãnh liệt thật sự. Chính tinh thần linh mục đó là cỗ xe chuyển các ơn có sức mạnh hữu hiệu đặc biệt.

Tinh thần linh mục này được thể hiện nơi lòng ao ước phục vụ dân chúng, và vì thế, cần duy trì một sự thân mật mỗi ngày một thêm đậm đà với tâm hồn của người bình dân. Tinh thần linh mục còn được thể hiện trong sự quên mình, chỉ còn một nguyện vọng là được nên giống như cây nến sáp đang cháy trên bàn thờ, mỗi lúc một dâng cao lên trời và tỏa ra chung quanh một luồng ánh sáng, đem lại sức nóng làm cho mọi vật được sống động.

Vị linh mục có cá tính mạnh không sờn lòng khi gặp thất bại. Ngài can đảm, sẵn sàng chấp nhận hi sinh, hi sinh thực sự trong thinh lặng và trong bóng tối. Ngài không mong được ai biết đến hoặc được người khác đánh giá cao.


HUYNH ÐỆ LINH MỤC

Vị linh mục có tình huynh đệ linh mục luôn chân thành vui mừng khi các bạn đồng nghiệp được may mắn và được thành công.

Trong mọi hoàn cảnh, ngài luôn âm thầm với niềm tin siêu nhiên phú dâng mọi sự vào bàn tay Chúa quan phòng.

Ngài tin Chúa quan phòng có đường lối riêng, Chúa sẽ điều khiển mọi việc cách tốt đẹp, nếu ta thực sự quyết tâm, chỉ biết trông cậy vào Người.
Vào buổi tối ngày dâng lễ Mở Tay, Thánh Don Bosco còn ở lại một mình với mẹ Ngài -bà Margarita-. Ngài đã được nghe bà cố nói ra những lời quan trọng này:

"Bây giờ con đã thành linh mục rồi. Nhưng, bắt đầu dâng lễ là bắt đầu đau khổ. Thử thách có lẽ không ào đến với con tức khắc, nhưng rồi ra con sẽ thấy mẹ nói có lý".

Còn chuyện Sao-lê.

Sau cảnh xảy ra tại Ða-mát, Chúa Giê-su đã nói về Sao-lê: "Ta sẽ chỉ cho ông biết bao đau khổ ông sẽ phải chịu vì Danh Ta" (Cv 9,16).

Chính vì thế mà vị linh mục cần kiên nhẫn. Ngài có đủ sức chờ đợi và dù có nhiều chống đối, thì cũng không làm ngài phải chào thua. Ngài phải vững mạnh, cương quyết, cứng rắn, nếu cần, như Thánh Am-bro-xi-ô trước Hoàng Ðế Thê-o-đô-si-ô, hoặc như Thánh Gio-an Tẩy Giả khi đối đầu với Hê-rô-đê Au-ti-pát.

admin
28-08-2006, 09:28 PM
THÁI ÐỘ ÐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI SAI ÐƯỜNG LẠC LỐI

Vị linh mục còn cần phải tỏ ra một lòng yêu mến cảm thông đặc biệt.
Ngài cần có một trái tim tế nhị, âu yếm, như thế ngài mới có thể khám phá ra những nét cá tính đặc biệt ngoạn mục nơi những người này - bề ngoài xem ra họ có nhiều điều dơ bẩn, đáng ghét và dường như mỗi ngày mỗi tệ hại hơn, nhưng nhiều khi chính những kẻ khốn nạn này không phải là những người hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tội lỗi của mình.

Trên đây là một số chỉ dẫn của một vị linh mục thực sự có cá tính. Có lẽ các bạn sẽ kêu lên: "Ôi! Có được một sự cao quý như thế, chắc vị linh mục đó đã phải tự kềm chế bản thân đến độ nào!"

Trong lãnh vực tâm linh, có những luật khác với những luật lệ của đời thường, hoặc trong sinh hoạt chính trị hay trong lĩnh vực kinh tế. Có 3 yếu tố sau đây liên kết với nhau để tạo thành các luật đó:

1/ Giá trị trí thức
2/ Lòng tốt
3/ Tinh thần hi sinh đến độ anh hùng.

Chính 3 yếu tố này làm nên bí quyết mang lại ảnh hưởng bền lâu. Chân lý này được thể hiện trong đời sống các Thánh.

Cuộc đời của Thánh Âu-tinh đã minh họa cho sự thật này. Sở dĩ Thánh nhân đã đóng dấu ấn của mình trên cuộc sống của nhiều linh hồn, đó là nhờ vào cá tính của Ngài.

Gralemann đã có nhận xét về Thánh Âu-tinh như sau: "Ngài đã có một cá tính luân lý và đạo đức rất mãnh liệt và trọn vẹn. Ngài biết bản thân và tự kềm chế một cách ít ai sánh kịp. Ngài là chủ chăn của đàn chiên, Ngài yêu mến Chúa hết lòng. Ngài yêu thương tha nhân bằng một tình yêu vô vị lợi. Ngài tỏa ra lòng nhân ái vô bờ, từ chỗ dễ thương đến độ quyến rũ.

Vậy khi chiêm ngắm những mẫu gương như thế, những giây phút đó sẽ trở nên cho tâm hồn của mỗi linh mục những giây phút chan hòa phúc lộc.


NHỮNG ÂU LO

Cứ thỉnh thoảng lại có vài tân chức đến với tôi để giải bày tâm sự về chuyện họ còn cảm thấy những bất toàn của môi trường nơi họ phải sinh sống. Môi trường đó có khi ở tại nhà hoặc tại một nơi khác, nhất là những di lụy dai dẳng của những kinh nghiệm đã qua nhưng vẫn còn đè nặng trên họ. Và nay họ vẫn không thể xóa nhòa khỏi ký ức. Có thể là chính họ cũng không hở môi, nhưng người khác có thể biết hoặc đoán ra được. Chính vì lý do này mà ta không nên bỏ qua một cái nhìn nội tâm về vấn đề này.

Môi trường mà các bạn đã sinh sống và lớn lên có lẽ đã bị ảnh hưởng bởi sự nhút nhát hoặc bởi cách cảm nhận sự vật một cách bủn xỉn... Nơi đó có thể là đã có một sự tự mãn hoặc là có tính hợm mình. Ngoài ra, có khi lại có chuyện gay gắt phê bình và chỉ trích người khác nữa.

Ðó là những nét thường ghi dấu ấn vào trong tâm hồn non trẻ của chàng thanh niên - một cách mà ta không ý thức được - khi nhìn vào bản thân và những dấu ấn này còn gây ảnh hưởng nặng nề đến suy nghĩ và tình cảm của chàng. Thêm vào đó, có thể là tuổi trẻ của họ đã bị cản trở không phát triển được vì họ đã phải gánh chịu sự bất tín nhiệm hoặc sự bủn xỉn keo kiệt, hoặc có khi họ lại hay dại khờ. Ðúng hay không, bạn hãy chân thành nhận xét.

Các khuyết điểm riêng của ta sẽ dễ được nhận ra nếu là biết bình tĩnh sáng suốt xét đoán để xem những môi trường đầu tiên khi ta còn trẻ và cách hành động trước đây của ta đã ảnh hưởng đến cuộc sống của ta như thế nào.

Ngoài ra, có biết bao người đã không có ân huệ được cuộc sống gia đình ảnh hưởng trên họ như người ta thường nói: "Cậu ta đã thiếu một tổ ấm".
Sau thánh lễ, trong khi cám ơn, tôi rất thích lời kinh của Thánh Bo-na-ven-tu-ra:

"Xin cho tâm trí và tâm hồn con ơn được làm mọi sự một cách dễ dàng và đầy yêu thương" (Cum facilitate et affectu).

Câu này có nghĩa gì ?

Ðó là hành động một cách nhẹ nhàng trong các tình huống tế nhị hoặc khó khăn và sự hiểu biết cảm thông với những người tính tình khác ta giúp ta vượt qua được những bế tắc.

Có biết bao trở ngại nội tâm mà những người khó tính cần phải thắng vượt trước hết, đứng đầu là cái "tôi" của họ. Họ cần phải luyện tập liên tục, nếu họ muốn mở đường để tới được đặc sủng đó.

Ðiều này, chẳng có sách nào dạy cả. Nhưng vị linh hướng biết quan sát điều gì đang xảy nơi các tâm hồn sẽ có thể nói rất nhiều về đề tài này.
Mỗi con người đều là cả một thế giới...

admin
28-08-2006, 09:29 PM
THỜI GIAN ÐÃ MẤT KHÔNG BAO GIỜ TRỞ LẠI
(Perditum non redit tempus)
(Lời sách "Theo gương Chúa Giê-su" I, 25)

Ðây là tư tưởng tuyệt vời mà Thomas a Kempis đã trình bày như là một tảng đá làm mốc, trong cuốn I, sách "Theo gương Chúa Giê-su".

Mỗi ngày là một trang sách cuộc đời; ban sáng mở ra và được lật qua vào ban chiều, rồi sau đó được xếp vào quá khứ, chờ ngày phải tính sổ.

"Liber scriptus proferetur,
In quo totum continetur" ("Từ sách đã ghi chép, được trích ra, trong sách đó có chứa đựng tất cả")

Mỗi ngày, tùy theo cách thế sử dụng, đều gây ảnh hưởng sâu đậm lên tất cả các hoạt động của linh mục.

"Ở chủng viện đã thế rồi!". Lời nhận xét của ai đó đôi khi đã tóm gọn được dấu ấn đóng trên cuộc sống của vị linh mục, hoặc tốt hoặc xấu.

Vì thế, khẩu lệnh phải là:

"Laboremus" ("Nào ta hãy làm việc").

Thời đại của ta, người ta không đánh giá ai đó theo tiêu chuẩn: dòng dõi, sinh ra từ đâu, chức vụ, bằng cấp, giàu sang phú quý hoặc đai đỏ, đai tím, nhưng theo tiêu chuẩn tính nết và các công việc người ấy đã làm.
Sẽ sớm đến lúc mà ta không còn khả năng làm việc được nữa và chính lúc đó ta lại cảm thấy muốn làm. Tôi chưa bao giờ gặp một vị linh mục đau yếu nào mà lại đã không tâm sự với tôi như thế.

"Nếu vậy thì ta phải làm việc khi còn ban ngày"(Ga 9,4)

Laboremus !

Thánh An-phong đã không đơn độc khi thề hứa là sẽ không để lãng phí một giờ đồng hồ. Ðức Cha Mi-ca-e Wittmann, Giám Mục Ra-tis-bon, cũng đã cẩn thận sử dụng từng khắc thời gian, và Ngài cũng đã trở thành một gương mẫu sáng chói khi áp dụng câu châm ngôn: Laboremus !

Ðó là những vị có cá tính mạnh mẽ.

Tuy nhiên ta cũng nên quan tâm đến sự thư giãn. Người ta kể: Thánh Gio-an, tác giả Tin Mừng, đã biết trả lời với một người thợ săn, khi ông này thấy vị tông đồ khắc khổ đang chơi với con chim cắt. Ngài đã hỏi lại người thợ săn:

"Tại sao anh không giữ dây cung của anh luôn căng?"

Người thợ săn trả lời:

"Là để cái cung đó luôn có được sự co dãn".

Vậy, những người siêng việc cũng phải như thế.

Ðiều ta cần làm là phải theo dõi bản thân một cách thông minh khéo léo và cố tìm ra được sự công bằng đúng đắn giữa một bên là làm việc liên tục và bên kia là sự thư giãn nghỉ ngơi.

admin
29-08-2006, 04:31 PM
II
NHỮNG NGUỒN SUỐI SINH ĐỘNG
CỦA ĐỜI LINH MỤC

Ðối với linh mục, địa bàn của đời sống nội tâm chính là sự suy niệm (nguyện ngắm). Chính từ suy niệm mà ta tìm được hai nguồn mạch phong phú thiêng liêng, đó là:

Sự khôn ngoan
và lòng bác ái.

Cho dù có bao nhiêu ấn tượng đa dạng khác nhau trong một ngày có thể làm cho chao đảo và rung lên cái địa bàn cùng với các khuynh hướng của ta, thì sự suy niệm, cùng với những quan điểm cao siêu của việc giáo huấn luôn hướng về mục đích cũng như những thúc đẩy luôn đều đặn của nó về mục đích, đem lại cho ý chí của ta một hướng đi vững chắc.

Suy niệm quả là địa bàn của cuộc sống nội tâm. Trong cuộc sống thực tế đời thường, ta được sự khôn ngoan hướng dẫn trong cung cách điều khiển: nghệ thuật của các nghệ thuật.

Ðó là sự hướng dẫn các linh hồn (regimen animarum).

Trong đời sống thực tế, chúng ta cũng tìm được sức mạnh trong sự bác ái.

Hai nguồn mạch phong phú thiêng liêng này là ân ban bởi trời và được gắn liền một cách đặc biệt với sự suy niệm.

"Ars artium, regimen animarum". Ðó là lời dạy của vị Thánh tiến sĩ lớn trong Giáo Hội.

"Nghệ thuật của các nghệ thuật đó là sự hướng dẫn của các linh hồn".

Nhưng việc hướng dẫn cá nhân của linh hồn cũng không nằm ngoài phạm vi khôn ngoan và bác ái, nhất là đối với vị linh mục. Một mình ngài lại không phải giúp giải quyết biết bao vấn đề riêng tư của bao người? Và ngài cũng không luôn có dịp nói chuyện tâm tình cởi mở với những người khác về những tình huống chung cũng như riêng của thế giới đời sống nội tâm sao ?

Vậy, lúc đó chính sự khôn ngoan phải điều hành mọi sự trong thinh lặng. Và sự khôn ngoan lại chẳng có vai trò làm cầu nối giữa các nhân đức đối thần và các nhân đức luân lý đó sao ?

Sự khôn ngoan quả là quy luật và là mẫu mực của các nhân đức luân lý. Nó được làm cho sinh động bởi đức ái và làm cho các hoạt động của ta được đúng mực, một hướng đi tốt, được nhiều nghị lực, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa tìm được của ăn nuôi dưỡng trong sự suy niệm.

Vị linh mục biết suy niệm có thể có những thay đổi cách xử sự bất chợt; ngài có thể bị bao vây bởi các cảm giác khác nhau, nhưng lúc nào ngài cũng duy trì được sự bình tĩnh và được an bình.

Ngài lỗi phạm điều gì chăng ?

Nhưng ngài không mất tỉnh táo khi cảm thấy bị đe dọa thối chí, ngài giữ được sự can đảm, khôn ngoan là kết quả của việc suy niệm. Nó luôn điều khiển bánh lái một cách chắc chắn. Ðây quả là một ân ban tuyệt vời của tinh thần mà ta phải ao ước và xin Chúa Thánh Linh sự sáng ban cho ta. Không có lời kêu cầu nào mà không được chấp nhận. Lời kinh trong buổi suy niệm mà ta dâng lên Ðức Trinh Nữ, "Ðấng chỉ bảo đàng lành", chắc sẽ được chấp nhận.

TỚI NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG

Ðức Giê-su đã đề cập đến nguồn nước hằng sống này khi Người trao đổi với người phụ nữ Xa-ma-ri, tại giếng Gia-cob về sự kiện Ðấng Mê-si-a đã đến.

Nội dung câu chuyện trao đổi này bên bờ giếng tại Xi-ca là một trong những bức tranh cảm động nhất của Tin Mừng theo Thánh Gio-an.

Chính tại nơi đây mà Thầy Chí Thánh đã khéo ví von là: "Từ trái tim của người được chọn sẽ vọt lên một nguồn suối đến sự sống đời đời" (Ga 4,14). Ðây quả là một lời hứa quan trọng đem lại bao an ủi, bao hạnh phúc.

Ðối với vị linh mục, nguồn suối nước hằng sống đó ở tại việc suy niệm. Chính từ việc suy niệm mới được vọt ra từ những đỉnh cao thiêng liêng. Chính từ đó mà ta lãnh nhận được sự mát dịu và sự tăng trưởng cho dù cuộc sống của thế giới này có khô cằn đến đâu.

Cuộc sống hiện tại ngày nay, với bao hoạt động không ngừng, bao nhiêu xáo trộn thì con người lại càng cần có được sự tĩnh tâm và suy tư trong những lúc nghỉ ngơi. Không có suy tư thì không có sự huấn luyện đích thực.

Bạn đang nghĩ gì ?

Ðiều gì đang làm bạn bận tâm?

Ta có nguy cơ chỉ quan tâm đến những chuyện ích lợi trần gian này, nếu ta không suy niệm và cầu nguyện đến tiến tới những kho tàng trên trời.
"Của con ở đâu thì lòng con ở đó" (Mt 6,21)

Ðiều gì giúp ta duy trì được sự hào hứng không hề phai?. Vị linh mục nào mà không có bầu nhiệt huyết bay bổng thì quả là một điều buồn thảm biết bao! Ðiều gì giúp các ngài luôn duy trì được sự bình tĩnh, dễ thương, dễ mến và kiên quyết trong mọi cuộc gặp gỡ. Sự bình tĩnh đó giúp ta thoát được cảnh trở nên "những con cái của sấm sét" hoặc trở thành những cây sậy yếu đuối? Ðiều gì giúp ta đọc kinh phụng vụ cách sốt sắng - tiếp thu những tư tưởng thánh thiện, để những thánh vịnh ta đọc trở nên thích ứng với mỗi trạng huống, các tâm trạng của tâm hồn ta ?

- Ðiều gì làm cho những bài giảng của ta có được sức nhiệt để từ lời ta giảng thoát ra được một luồng khí từ trên cao phát xuống ?

- Ðiều gì làm cho cha xứ biết dạy giáo lý thế nào để các trẻ em lãnh hội được lòng bác ái và sự sốt sắng mà các trẻ em có thể biến những giờ phút học giáo lý ấy trở thành những giờ thánh ?

- Ðiều gì đem lại cho ta một sự kiên nhẫn vui vẻ ngay cả khi có những chuyện làm ta bực mình hết sức - sự kiên nhẫn vui vẻ này giống như một bài ca tụng Thiên Chúa mà ta cảm thấy như một làn gió nhẹ ?

Tôi hiểu các linh mục đó, các vị đó đã khấn nguyện sẽ không bỏ một ngày nào mà lại không nguyện ngẫm. Các vị đó biết rằng: bao điều phúc lộc phát xuất từ nguồn nước hằng sống.

Cha xứ Steglitz, sau này làm Giám mục phụ tá Béc-lin đã có nhận xét như sau:

"Khi tôi có một cha phó mới, thì chỉ trong vòng hai tuần lễ là tôi biết cha phó đó có nguyện gẫm hằng ngày hay không. Ngài không cần nói với tôi điều đó".

Làm sao mà cha xứ này biết được? Ngài đã cảm thấy từ "nguồn nước hằng sống" mà Vị được "thị kiến" tại Pát-mót đã thấy được.

Xin thêm mấy lời sau đây của Langbehm về thực chất của lòng đạo đức công giáo.

Langbehn đã viết :

Tất cả đức tin Công giáo, tất cả đời sống Công giáo được tập trung chủ yếu vào vương quốc của linh hồn, có liên quan đặc biệt đến trái tim. Nếu ta giữ tất cả các luật Giáo Hội, nhưng bên trong tâm hồn ta lại giống như bãi sa mạc, nếu ta quên không sống nội tâm và không múc nước tại những nguồn suối nuôi dưỡng linh hồn, nếu ta chỉ sửa sai bên ngoài mà không kèm theo một nền tảng nhân bản thì những việc trên đây nào có ích gì ?

Vâng phục Giáo Hội mà không sống đời nội tâm thì cũng chỉ giống như "ngôi mộ được tôi vôi trắng mà thôi".

admin
29-08-2006, 04:35 PM
MANNA ÐƯỢC GIẤU KÍN

(Deus absconditus, Thesaurus absconditus)
(Thiên Chúa ẩn giấu, kho tàng ẩn giấu)
Vita abscondita, Manna absconditum
(Ðời sống ẩn kín, Manna giấu kín)

Khi Kinh Thánh nói với ta về những gì được giấu kín, thì đó chính là những mầu nhiệm rất phong phú của đời sống nội tâm.

Mana được giấu kín đó, vị linh mục sẽ tìm thấy trong sự suy niệm. Ðôi khi Mana xem ra nhạt nhẽo và vô hiệu. Rồi ta sẽ có những lúc khô khan nguội lạnh, có khi do lỗi tại ta, có khi không... Những lúc đó là lúc mà ta cần phải kiên trì với lòng trung thành - nhờ vào một sự hi sinh cao cả - mà rồi ra sẽ được phần thưởng bội hậu.

Ðiều thường xảy ra là chúng ta sẽ nhận được phần thưởng cho các sự phiền hà của ta ngay vào lúc ta kết thúc suy niệm.

Sách "Theo gương Chúa Giê-su", cuốn III, số 8:

"Nếu bị bỏ mặc mình con, con là gì, con đã sụt xuống sâu đến đâu? Vì con là hư vô, mà trước đây con đâu có ngờ".

"Còn Chúa vừa nhìn tới con, đột nhiên con trở nên dũng mạnh sung sướng tươi hẳn lên. Lạ lùng thay, thân con nặng trịch luôn bị hút về mặt đất, thế mà đùng một cái, Cha đã nâng con lên như vậy và bế con vào lòng với bao yêu thương".

Ðây là một lời nhận xét của một bậc thầy dạy sống nội tâm.

Lời nhận xét thứ hai:

Ðiều rất thường xảy ra, đó là ơn mà ta có được nhờ suy niệm, có thể sau này mới đến với ta.

Một ngày nào đó, tự nhiên ta cảm thấy như mình đang được bao bọc bởi một bầu khí đầy ánh sáng, đầy tự tin và rất can đảm, hoặc là ta cảm nghiệm một niềm vui làm ta sẵn sàng chấp nhận hi sinh và từ bỏ... Ơn đó cứ như nằm yên trong ta từ khi ta suy niệm. Rồi đến một lúc, ơn đó trào ra, bởi lẽ linh hồn ta đã được chuẩn bị bởi chính sự suy niệm và bởi những kết quả mà sự suy niệm để lại trong trái tim của ta.

TA PHẢI XỬ LÝ CÁC VIỆC LÀM NHƯ THẾ NÀO?

Một chuyện trái ý xảy ra có thể đánh gục ta, hay trái lại, nó không làm ta mất bình an và nó để ta yên: điều này không tùy thuộc vào vụ việc xảy ra, mà chủ yếu là tùy cách ta xử lý và tùy vào thái độ của ta đối với việc ấy.

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy ?

Khi thấy một người vẫn giữ được an bình và thoải mái khi gặp thử thách, người ta bảo: anh ta có được một đức tính tuyệt vời.

Nhưng liệu đó có phải là lý do chính không ?

Nhìn thẳng vào vấn đề, ta thường thấy: đó chính là kết quả của việc suy niệm. Ðó là tinh thần cầu nguyện dưới một trong những hình thức đó.

Các tư tưởng lớn đem lại cho ta sức mạnh. Ðó là cách siêu nhiên để xử lý mọi việc từ việc nhỏ đến việc lớn. Ta không cần hạn chế kết quả tốt đẹp đó vào trong việc suy niệm theo một phương pháp nhất định nào; bởi lẽ: có bao Ki-tô hữu vẫn suy niệm và hầu như không biết là nhờ việc suy tư mà đời thường đem lại cho họ, lúc mà họ biết nhận ra bàn tay của Thiên Chúa.

Việc suy niệm theo theo phương pháp là một truờng học mà ta luyện tập cách xử lý các sự việc xảy đến cho ta.

Và vị linh mục phải là bậc thầy trong việc này. Ai cũng ưa thích làm bạn với một người, mà nhờ sự cầu nguyện, nhờ những chiến đấu, nhờ sự kiên nhẫn mà người đó có được thái độ này.

Thường những lúc suy niệm đoạn này đoạn kia của sách "Theo Gương Chúa Giê-su" mà tôi tự nhủ: chớ gì các linh hồn đang gặp khó khăn buồn khổ, hãy mau đến gõ cửa của Thomas a Kempis.

SỨC MẠNH CHINH PHỤC

"Khi tôi sắp chết, tôi muốn được xưng tội lần cuối cùng với Cha X ...". Một người giáo dân đã tỏ ý nguyện như thế. Ðó không phải là một vinh dự lớn lao cho vị linh mục đó sao ?

Sức mạnh chinh phục mà các linh mục có đời sống nội tâm có được, chính là vì các vị đó đã kín múc từ việc suy niệm hằng ngày và có thể chính các ngài cũng không biết chuyện này. Các vị linh mục ấy luôn sống từ bỏ; các ngài không bao giờ hé răng cho ai biết những gánh nặng của mình mà chỉ còn quan tâm giúp đỡ những người khác, chấp nhận những gánh nặng của mình và như thế, các ngài đã nên một tấm gương can đảm và vui tươi cho họ.

Chính nhờ việc suy niệm hằng ngày mà ta học được sự tận tâm đó. Việc suy niệm sẽ đưa các bạn đi theo những dấu vết của Ðức Giê-su.

Ai suy niệm thì không còn phải âu lo cho thánh giá mà mình phải vác; tất cả những gì là ty tiện đều biến mất trước ánh sáng của các chân lý vĩnh cửu. Và từ nơi người ấy tự nhiên nổi lên một sự quan tâm âu yếm làm cho các việc bác ái họ làm trở nên đáng yêu. Sức mạnh chinh phục đó luôn đi đôi với một sự an bình đặc biệt mà chỉ có các linh hồn sống đời sống nội tâm mới có được. Và chính những người giáo dân, khi họ được thánh hóa nhờ cuộc sống nội tâm, thì họ cũng như có được một bản chất chín chắn và trong sạch: họ chế ngự được những phiền hà của cuộc sống đời thường. Họ giữ miệng lưỡi không chỉ trích tha nhân, họ luôn kiên nhẫn, họ sống âm thầm, không ồn ào, hiền dịu một cách kiên tâm và kiên quyết. Tự nhiên ai cũng tỏ ra kính trọng khi gặp những người có đức tính như thế. Ai cũng kính nể sự siêu việt của họ và ai cũng cảm thấy mình như bị cuốn hút bởi điều đó.

Nếu ta nói đến sức mạnh chinh phục mà một vị linh mục đích thực tự sắm được cho mình thì đừng ai hiểu nhầm là sức mạnh đó được tỏ ra một cách kỳ dị.

Ðức Hồng Y Newman đã có nhận xét như sau :

"Ðối với con mắt người đời, những người Ki-tô hữu đích thực hoàn toàn giống với những người mà người ta gọi là những người đáng trân trọng, đáng kính nể. Thường là họ không gây nên ấn tượng nào. Con đường họ đi là con đường bình thường cũng giống như con đường của bao người khác. Ðiều khác, đó là họ giữ mình cách khổ chế để một ngày kia có thể thành một vị Thánh trên thiên đàng. Họ luôn nghiêm túc cố gắng sửa sai những khuyết điểm để nên giống Chúa hơn và từ bỏ thế gian. Họ làm như thế trong âm thầm của trái tim trước hết là vì Chúa muốn như thế, sau là vì họ không muốn cho ai biết cách hoạt động của họ. Con mắt người thường không khám phá ra điều gì đặc biệt nơi họ: lòng đạo đức đích thực lại không phải là một kho tàng được ẩn giấu tại thâm sâu của trái tim đó sao? Các công việc họ làm phần nhiều là những việc kín đáo:những việc bác ái, những lời kinh, những cuộc tranh đấu và những chiến thắng, tất cả đều kín đáo.

Ai có thể kể ra cho hết con số các linh mục mà tư tưởng, cuộc sống hoạt động được mô tả một cách trung thực trong bức họa trên đây! Chính nhờ vào sự giản đơn của các hoạt động và lòng bác ái tận tình đã đem lại cho các ngài một nét duyên dáng thật quyến rũ và nó trở thành một sức mạnh chinh phục mà chính các ngài cũng không hay biết.

admin
29-08-2006, 04:38 PM
CUNG GIỌNG LÀM NÊN ÂM NHẠC

Có hai ân ban của Thiên Chúa tỏ lộ tâm hồn của mỗi người ra bên ngoài, đó là:

1/ Ánh mắt.
2/ Tiếng nói.

Cho dù có giả hình giả dạng, cho dù có dùng mưu mẹo hay lẩn trốn, con người cũng khó mà giấu nổi: sự thật luôn hiện ra.

Người nào đó có một trái tim lạnh nhạt, ơ hờ với tôn giáo, thì thường có một giọng nói có khả năng gây nên một điều xấu to lớn, vô vọng; giọng nói đó thường gây nên sự khó chịu và làm cho hận thù ngày càng tràn lan.

Ngược lại, giọng nói của một trái tim được lòng đạo đức hun nóng thì luôn gây lòng yêu thương, đem lại an bình ngay cả khi cần phải nghiêm túc sửa phạt.

Lòng đạo đức nội tâm luôn biết lựa chọn các từ bề ngoài xem ra nghiêm khắc nhưng vẫn duy trì được cung giọng căn bản của đức ái. Giọng nói dễ mến và dịu ngọt của một Alban Stolz.

Một hôm, Alban Stolz trao một ít tiền làm phúc vào tay của một người khiếm thị và hỏi anh ta quê ở đâu. Người khiếm thị trả lời rồi thêm một câu: "Thưa Cha!"

- Anh khiếm thị, anh không thể biết tôi là linh mục".

- "Thưa, con nghe giọng Cha nói thì con biết". Anh khiếm thị trả lời.

Giọng nói của một vị linh mục tốt có một cái gì rất riêng tư, rất đặc biệt.
Khi nói: chính cung giọng tạo nên âm nhạc, ta còn có thể thêm: nó còn có thể làm được nhiều điều khác nữa.



XIN THƯƠNG NHẬN CHÚNG CON ÐANG HẾT LÒNG KHIÊM NHU THỐNG HỐI
(In spiritu humilitatis suscipiamur)

Có những tình huống mà lời kinh nguyện của chúng ta cần phải đặc biệt khiêm nhu (In spiritu humilitatis). Ví dụ, khi bóng tối bao bọc, khi những mối lo lắng và những nghi ngờ ập đến làm ta phải bứt rứt. Sine tuo numine, nibil est in homine. Ví dụ, khi những quyền lực tối tăm đến cám dỗ ta. Hoặc là:

- khi ta phạm những tội lỗi đáng xấu hổ và nhục nhã ("Bonum quia humiliasti me").

- khi ta bị gạt ra ngoài,

- khi ta bị hiểu lầm,

- hoặc khi không được thông cảm.

Ta không nên buồn sầu.

Ta hãy quả quyết nói: Elegi abjectus esse in domo Domini.

Và sau cùng, nhất là khi ta đi xưng tội.

Ngày ta đi xưng tội thì từ sáng cho đến chiều, ngày đó phải được thánh hóa và được thấm nhuần bằng kinh nguyện trên môi: "Cor mundum crea in me Deus. Spiritu prircipali confirma me. Amplius lava me".

Và vào buổi chiều ngày ta xưng tội, trong sự an bình và thinh lặng của những giờ cuối cùng trong ngày, ta tự hỏi:

Ta cần thực hành thêm điều gì nữa ?

Ta phải làm thế nào để chuẩn bị tốt hơn ?

Làm thế nào để thành công hơn ?

Tôi có thể nhiệt tình hơn và cư xử tốt hơn trong hoàn cảnh nào đây ?

Bạn hãy thử xem.

Như thế, ngày ta đi xưng tội sẽ thành ngày hữu ích nhất, ngày thân thương nhất của ta.


MỘT SỰ ÐA DẠNG TUYỆT VỜI

Trong lãnh vực đời sống nội tâm không có gương mẫu nào mà ta chỉ việc sao y bản mẫu.

Trong phạm trù này có rất nhiều gương mẫu. Ðời sống nội tâm của mỗi linh hồn đều được ghi dấu ấn riêng biệt của tính tình, tính khí, sự giáo dục và theo diễn tiến thời gian của cuộc đời.

Giáo Hội để ta được tự do lựa chọn - Giáo Hội không bảo Michel Angelo phải họa như Fra Angelico; cũng không bảo Philipphê Néri phải giảng như Fanxicô Assidi; hoặc bảo nhà thơ Angelus Silesius - nhà thơ Balan (1624 - 1677) phải ca như Dante.

Vậy khi cầu nguyện, khi bạn suy niệm, bạn hãy nghĩ đến những ân huệ mà Thiên Chúa đã trao ban cho bạn, những cảm tình đang thúc đẩy bạn, và những lo lắng đang làm bạn bận tâm.

Nếu ta pha trộn vào lời cầu của ta những suy tư về bổn phận hằng ngày của ta, thì lúc đó việc suy niệm của ta sẽ trở nên thực tế và sống động. Và nếu kết hợp điều ta suy niệm về những tư tưởng của Chúa Giê-su với sự kiểm tra bổn phận của mỗi sáng, thì linh hồn ta sẽ sẵn sàng để hoạt động.

Tác giả cuốn "Theo gương Chúa Giê-su" đã muốn ta đạt được mục tiêu đó, là ta tới được đỉnh cao mà Thomas a Kempis đã ca tụng với niềm vui.
Như thế ta thực hiện được sự thân mật, sự kết hợp tâm hồn ta với Chúa Giê-su, vì chính sự kết hợp này đã cho phép Thánh Phalo kêu lên trong khi Ngài ao ước tuyệt bậc:

"Không phải là tôi sống, mà chính Ðức Kitô sống trong tôi"

Lòng yêu mến sống nội tâm tự nhiên làm ta muốn phát triển thêm trong ta lòng yêu mến môn thần học. Việc nghiên cứu các môn thần học đòi hỏi một sự tập trung tĩnh tâm và một nền tu đức có kỹ luật vững vàng.

Ứng dụng vào đời sống linh mục, tu sĩ - Vị linh mục đều phải cố gắng một cách nghiêm chỉnh để liệu cho mình một sự huấn luyện khoa học vững chắc -và ngày càng tiến bộ thêm mãi.

Tuyệt đối cần cho người nào mà sẽ được trao vào tay những phúc lợi cao cả phải luôn tiến bộ trong sự hiểu biết về Thiên Chúa như lời đòi hỏi của Thánh Phao-lô.

Thánh An-phong đã nhắc nhở vị Tân Giám mục của Giáo phận Gacto về sự cần thiết phải có kiến thức thần học vững chắc. Vị Thánh viết:

"Khi sát hạch các tiến chức, cần phải gắt gao, đòi hỏi; bởi lẽ, khi các tiến chức không học trước khi chịu chức, thì sau này họ sẽ không còn ngó tới cuốn sách nào nữa.

Tôi không chấp nhận vị nào chưa quán triệt được môn luân lý -những người lãnh chức phụ phó tế, tôi đã đòi họ phải học chuyên luận khó nhất .
Thánh An-phong trước hết đã nhấn mạnh vào các nguyên tắc chính yếu của môn Tín lý, môn Luân lý và môn Mục vụ.

Ngày nay, tại nhiều chủng viện đang có nhu cầu giảng dạy hai môn Luân lý và Mục vụ.

Ngoài ra, còn phải đi vào lãnh vực rộng lớn hơn: đó là lãnh vực luân lý xã hội. Ngoài ra điều bắt tôi phải lặp lại vấn đề dạy các môn học này là bởi vì tôi nhận thức rằng có rất nhiều đòi hỏi mới mà từ nay vị linh mục phải đối diện giải quyết hằng ngày.

Ðiều thúc đẩy linh mục quan tâm đến lao động làm việc trí thức, đó chính là vì vị linh mục đã được thấm nhuần bởi tinh thần cầu nguyện. Chính tinh thần cầu nguyện này đã đem lại cho các bài giảng của vị Thánh Tiến sĩ vĩ đại của Giáo hội, Thánh Âu tinh, một sắc thái đặc biệt: đó là, tại mỗi trang sách ta thấy con mắt như mắt phượng hoàng, chăm chú chiêm ngắm những mầu nhiệm Thiên Chúa. Nhưng càng lúc, linh hồn Ngài, nhờ sự thúc đẩy bí nhiệm, được nâng lên đỉnh cao nhất, nhờ sự cầu nguyện.

Langbehn viết :

"Sự huyền bí bao trùm toàn bộ đời sống thiêng liêng. Trong vương quốc của sự huyền bí, nhà vua chính là Ðức Giê-su. Sự huyền bí nằm ở trung tâm hoạt động tôn giáo; nó là triều thiên của đời sống thiêng liêng, nó là linh hồn của Giáo Hội. Sự huyền bí dẫn linh hồn vào một đất nước, từ trước đến nay chưa được biết đến, và thật tuyệt vời, nơi có những bờ biển đẹp xinh chan hòa ánh sáng đang chờ đợi linh hồn và làm cho linh hồn được hạnh phúc. Sự huyền bí thanh luyện linh hồn, đang lúc đó, khi con người chỉ đi tìm những yếu tố kiến thức mà thôi, thì chỉ làm cho người có đời sống nội tâm mất đi sự tế nhị của mình.

admin
01-09-2006, 01:19 PM
III
DƯỚI ÁNH SÁNG VĨNH CỬU

BẠN TÂM GIAO CỦA LINH MỤC

Bao nhiêu thử thách xảy đến trong đời sống linh mục của ta: nào là những khó khăn, những ảo tưởng, những nhục nhã, nào là những lúc thối chí, những khi tối tăm bao trùm.

Bạn đi tìm một ai đó để tâm sự, nói cho biết tất cả, ai đó hiểu ta, có thể vực ta dậy, đem lại cho ta sự can đảm và niềm vui. Ta đi tìm một ai đó mà ta biết họ sẽ không coi ta như một gánh nặng, người đó sẽ là một người bạn tâm tình (confident) mà ta có thể cởi mở, cho họ hiểu được tất cả những gì ta mang nặng trong lòng.

Ta hãy nhớ những lời khéo léo của sách "Theo Gương Chúa Giê-su".

"Magna ars est scire cum Jesu conversari; et scire Jesum tenere, magna prudentia". (Biết thưa chuyện với Chúa Giê-su là một nghệ thuật "cao cả"; và biết bám lấy Chúa Giê-su là cả một sự khôn ngoan).

Nhưng, có lẽ bạn nghĩ là không phải lúc nào cũng có những chuyện lo âu hay những vấn đề lớn quan trọng trong vương quốc của Thiên Chúa đâu. Liệu tôi có tìm được từ nơi Chúa Giê-su chút quan tâm đến những lo lắng, những chiến đấu và những nguyện vọng thực sự không có hậu quả quan trọng nào ?

Như Chúa Giê-su đã khả định một cách rõ rệt, trả lời cho bạn rằng :

"Ngay cả tóc trên đầu của các con cũng đã được đếm cả rồi, và không có sợi tóc nào rơi xuống đất mà không được sự đồng ý của Thiên Ý".

Ðó quả là một lời nói đầy an ủi, nó mở đường cho ta tới được sự thân mật với Chúa..., an ủi và trấn an ta mỗi khi ta lo lắng tự hỏi: liệu ta đã làm tốt việc ấy chưa, hoặc ta quyết định như thế có đưa lại kết quả tốt hay không?...

Chúa Giê-su đã tận tâm lo cho các Tông đồ, nghe các ông hỏi, thỏa mãn các nguyện vọng của các ông, giúp đỡ khi các ông yếu đuối, trong việc nhỏ cũng như trong việc lớn. Những thắng lợi hay những thất bại nhỏ nhặt của các ông có thể có một sự quan trọng quyết định trong sự phát triển đời sống nội tâm và trong việc chu toàn các bổn phận của các ông.

Ta cần phải giải quyết một vấn đề khó khăn ư? Chúa Giê-su cũng quan tâm đến cách ta giải quyết vấn đề đó.

Khi ta, từ các cuộc gặp gỡ với các em bé, về nhà đến nhà xứ, ta hết sức thất vọng, chán chường. Chính Chúa Giê-su, lúc ta chầu Thánh Thể, sẽ gợi ý cho ta biết cách hành xử, giúp ta biết gieo vãi vào lòng các em bé những mầm mống của sự thiện hảo. Những lỗi lầm của ta làm ta mất hết can đảm. Dưới ánh sáng mờ của đèn chầu trước Nhà Tạm, ta sẽ nhận ra được bài học rút ra rừ những lỗi lầm đó.

Có khi ta cảm thấy cô đơn giữa những người đi lại chung quanh ta. Có một Ðấng quan tâm đến ta, đó là vị Chủ nhà đơn côi tại Nhà Tạm. Giờ chầu Mình Thánh ban chiều, tự nó làm tỏa lan trên linh hồn một ảnh hưởng nhẹ nhàng êm ái, như mời gọi ta suy tư chính chắn và thông hiểu sâu sắc về những điều đang vây quanh nơi chúng ta sinh sống.

Những điều trên đây là kết quả tự nhiên, thêm vào đó, ta lại nhận được dễ dàng ơn nội tâm soi sáng, tăng sức mạnh và đem lại niềm vui cho tâm hồn.

Nếu ta nghĩ đến tất cả những điều này, thì quả là không khó nhận ra ai là người bạn tâm giao duy nhất và tha thiết nhất của vị linh mục.

admin
01-09-2006, 01:21 PM
"KHIÊN THUẪN CỦA THIỆN CHÍ"
"Scutum bonae voluntatis"

Thánh Toma-Aquinô đã mô tả phép Thánh Thể như là "Khiên thuẫn của thiện chí", trong bản kinh mà Ngài đã mong nhiều người sử dụng sau Thánh lễ.

Phép Thánh Thể, được ví như khiên thuẫn như thế, sẽ có hai sức mạnh này:

Sức mạnh thứ nhất, đó là: Một trái tim trong sạch (đức khiết tịnh).

Cha Meschler đã khéo trình bày về Phép Thánh Thể như có ảnh hưởng trên những sức mạnh thể lý và luân lý.

Ngài đã thân thưa với Chúa Giê-su Thánh Thể như sau:

"Nếu Chúa kết hợp với con một cách mật thiết như thế này, đó là vì Chúa mang đến cho thân xác con những chúc lành của Chúa, biến nó thành một dụng cụ thánh hóa và làm cho nó được tham dự vào vinh quang của Chúa.

Ân sủng và đức ái được gia tăng đem lại cho thân xác con sức mạnh để chống lại... ngay cả những dục vọng (convoitises) bên trong.

Những tâm tình của niềm vui và của tình yêu mà Chúa đem lại trong trái tim của con khi con rước lễ đã có tác động trên những chức năng thể lý của con người con, làm cho con không còn nghĩ đến những chuyện trần gian để hướng chúng về trời. Chính vì thế mà dần dần trong con có được trật tự và bình an.

"Con cần năng rước Mình Thánh Chúa thì con lại càng có phương tiện mạnh mẽ hơn bảo vệ được sự trong sạch của thân xác con"

Ðến đây, tôi nghĩ nên nhấn mạnh đến sự liên quan (rapports) trong đời sống thiêng liêng, giữa sự chuẩn bị đón nhận hữu hiệu (efficacité) của ân sủng.

Ðiều chắc chắn là mức độ ân sủng được trao ban cho mỗi người chủ yếu là tùy ý Thiên Chúa. Nhưng, về phần chúng ta, chúng ta cũng phải chuẩn bị tấm lòng có thể lãnh nhận ơn Chúa, nhờ vào việc chuẩn bị của ta. Ơn Chúa chỉ có thể đến được nếu cửa lòng ta mở ra đón nhận, chứ không đóng kín: non ponentibus obicem (nếu ta không gây trở ngại).

Vậy, sự cản trở đó, chướng ngại vật đó là gì?

Ðó là sự: thiếu đức bác ái huynh đệ.

Ðức bác ái (tình huynh đệ giữa đồng nghiệp) -là nhân đức thứ hai- mà việc rước lễ có thể đem lại cho chúng ta như là "khiên thuẫn của thiện chí".

Ðây quả là một sự an ủi cho trái tim Chúa Giê-su, khi mà vị linh mục viếng Thánh Thể, Chúa Giê-su tìm được một trái tim không có chút tinh thần ích kỷ nào.

Sự đi tìm cái "tôi", sự ghen tương hoặc sự hay giận hờn ở nơi tâm lòng của người nào đến với Chúa, đều làm cho Ðấng Lang Quân của tâm hồn ta phải hết sức đau xót.

Vậy lòng bác ái huynh đệ giữa các đồng nghiệp quả là nhân đức thứ hai mà Phép Thánh Thể muốn che chở và bảo trì.

Thời gian mà Thầy Chí Thánh đã tuyên bố:

"Thầy ban cho các con một điều răn mới, đó là, các con hãy yêu thương nhau".

Chính xác là lúc mà Chúa lập Bí tích bàn thờ, giờ mà Tông đồ họp nhau trong tinh thần huynh đệ.

Lời nhắn nhủ này được gởi đến cho ai trước hết, nếu không phải là gởi đến cho các linh mục?

Ước chi giờ xét mình riêng trước Nhà Tạm có thể vạch ra cho mỗi người thấy là làm sao mình lẽ ra đã có thể tế nhị hơn, tôn trọng hơn, khéo xử hơn trong hoàn cảnh này hoàn cảnh khác. Làm sao, nhờ khéo léo hơn, lẽ ra mình đã có thể lợi dụng bao cơ hội thuận tiện để thi hành bác ái huynh đệ! Phải, đã có biết bao cơ hội hoàn cảnh thuận tiện trong ngày ta đang sống!

Các cơ hội thuận tiện này nhiều đến nỗi nhiều người có thể đặt tên cho cuốn nhật ký của đời mình là cuốn sách ghi "Những cơ hội đã đánh mất">>
Vậy ta hãy liệu có được một lương tâm tế nhị kết hợp với sự khôn ngoan, như thế ta để cuốn sách "Những cơ hội đã đánh mất" thành một cuốn sách bớt bề dày đi.

Sách "Theo Gương Chúa Giê-su" nhấn mạnh đến bổn phận ngặt đối với mỗi linh mục là tự hỏi mình xem, khi sắp bước lên bàn thờ, liệu mình đã sẵn sàng như thế nào? Liệu có điều bất hòa giữa ta và người anh em không?


Ta phải coi đây là một bổn phận nghiêm túc nhất và ta phải xóa bỏ hoàn toàn điều bất hòa đó.

"Và rồi, chỉ sau đó, ta mới có thể đến dâng của lễ".

Làm thế, ta sẽ được hưởng nhờ những ảnh hưởng sâu xa mà việc "opus operantis" làm cho "opus operatum" được hữu hiệu.

Mỗi ngày, Ðấng Cứu Thế có bao trăm nghìn linh mục bước lên bàn thờ. Vậy ai là người đón tiếp Chúa với lòng yêu thương tràn đầy nhất?

Ðấng Cứu Thế của ta chỉ có một ao ước, đó là: từ kho tàng vô tận các ơn của Người, Người muốn đem ra phân phát dồi dào cho các linh mục của Người.

Vậy, trong số các vị ấy, ai sẽ là người có trái tim rộng mở nhất để đón nhận các ơn đó?

Và rồi, sau khi dâng Thánh lễ và Rước lễ, ai là người đưa những ân huệ được trao ban cho ngài để ngài làm cho nó phát triển một cách có kết quả mỹ mãn ?

Có biết bao kho tàng ân sủng bị hư mất, có biết bao tài năng quý báu không được đưa ra sử dụng nếu vị linh mục không sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh để bảo tồn được tình bác ái huynh đệ linh mục!

Vậy ta hãy sốt sắng cầu xin và với lòng chân thành mà ta có thể có, xin ơn luôn được duy trì được tình trạng này (disposition).

Từ đó, sẽ có biết bao hậu quả tốt: ta có thể tiến nhanh trên đường lên Núi Thánh, hoạt động linh mục của ta được thêm phong phú vàcó thêm chiều sâu.

Và khi chiều đến, thưa cha thân mến, cha có đặt ra cho mình câu hỏi sau đây: "Muôn ngàn linh mục, cũng như tôi, ngày hôm nay đã dâng Thánh lễ, liệu có vị nào đã dâng lên cho Ðấng Cứu Thế trái tim trong sạch nhất và sẵn sàng chấp nhận hi sinh cho tha nhân nhất?"

Ðây quả là cơ hội ta có thể tỏ ra cố gắng đạt được, hoặc là không bao giờ ta sẽ nắm bắt được (quaente charismata meliora).

admin
01-09-2006, 01:22 PM
KHI CHÚA GIÊ-SU CẦU NGUYỆN MỘT MÌNH
(Cum solus esset orans)

Quả là những giờ thánh, những giờ trong đêm thanh vắng, Chúa Giê-su dành ra để cầu nguyện trên núi! Người như cảm thấy bị lôi kéo lên chỗ cao, nơi cô tịch và thinh lặng, tiện cho việc cầu nguyện.

Sau khi làm việc tông đồ mệt nhọc, sau những trận tấn công của kẻ thù muốn gây chiến (hiếu động và mưu mô), sau những cảnh tượng buồn thảm mà Người thấy hàng ngày, thì Chúa đã leo lên núi để cầu nguyện một mình trong hiu quạnh. Người cầu nguyện với Cha của Người.

Ðây là những giờ phút an bình bồi dưỡng, Chúa Giê-su, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, đã ở một mình với Cha của Người.

Tìm đâu ra một người mà hệ thần kinh phải chịu nhiều căng thẳng như bản tính nhân loại của Chúa Giê-su đã phải chịu đựng? Những vấn đề có chiều sâu vượt bậc, những cảm xúc mạnh, những việc đòi hỏi một ý chí mãnh liệt, những sức ép và những cuộc tranh đấu đầy kịch tính. Phải, Chúa Giê-su đã trở nên giống chúng ta trong mọi sự. Ðiều này lý giải cho việc Người ao ước có những giờ phút thư giãn mà Người tìm được trong lời kinh nguyện diễn ra trong đơn độc và thinh lặng.

Và đây quả là gương mẫu cho ta!

Núi của ta chính là bàn thờ. Núi của ta chính là Nhà Tạm. Nơi đó, ta tìm được sự nghỉ ngơi, sự thư giãn và sự bình an sau bao lo âu và những cuộc "tấn công" mà trái tim ta phải hứng chịu.

Chính lúc đó ta có thể kêu lên: "Ôi Chúa Giê-su! giữa cảnh phong ba bão táp của các thử thách và các thất bại ê chề, Chúa đã tỏ ra sự chiến thắng thầm lặng của tình yêu thánh thiện nhất. Vậy, xin Chúa "hãy biến lòng chúng con nên giống như trái tim Chúa"; từ Nhà Tạm thinh lặng, xin Chúa ban xuống trên con hơi thở tốt lành ơn bình an của Chúa.

Tôi xin phép kể ra ở đây chứng từ của một chàng thanh niên, tuy anh không phải là một người công giáo, nhưng anh có một tâm hồn cao cả. Chứng từ này viết ra dưới ngòi bút của trung úy Ferdinand Ldecke, người theoTin Lành. Trung úy đã tử thương trong đại chiến I, ngày 29-8-1918.
Sau đây là chứng từ trung úy đã để lại trong cuốn "Kỷ niệm chiến tranh":
"Tôi không có nhiều thiện cảm đối với số đông các bạn tôi, những người đã ngã xuống tại D... Họ thường tỏ ra thô tục, họ luôn nói đến những chuyện dâm ô, họ sống phóng túng, ham những thú vui hạ đẳng - Tất cả những chuyện này làm tôi rất bất mãn và rất khó chịu. Chớ gì Chúa ban cho tôi đủ sức mạnh để chống lại những khuynh hướng xấu đó".

Nhưng những ấn tượng mà trung úy viết tại Béc-lin vào ngày 15-3-1916 thì hoàn toàn khác hẳn:

"Chiều hôm đó, tôi còn học tiếng Hy Lạp với giáo sư Martars. Chúng tôi đã đọc mấy trang về thiên nhiên. Vào buổi sau trưa, tôi đến xưởng tàu, rồi tôi đến một nhà thờ Công giáo, nhà thờ Thánh Hedwige. Ðến nơi, tôi đến cạnh bàn thờ để cầu nguyện. Tôi rất mừng vì đã tìm được nhà nguyện này, một nơi yên tĩnh để cầu nguyện, một nơi trầm lặng ngay tại trung tâm Béc-lin, luôn nhộn nhịp và ồn ào.

Có nhiều người đến viếng nhà thờ, họ đi đi lại lại.

Tôi phải thú thật là tôi rất cảm phục Giáo Hội Công giáo. Nơi Giáo Hội Công giáo, có một cái gì đó mà người ta không tìm thấy ở nơi chúng tôi. Nhiều người bên chúng tôi cho rằng bên Công giáo thường chú trọng đến nhiều việc bề ngoài - tôi thấy có một người đang lần chuỗi - thì cứ cho là như vậy đi! Tuy nhiên, xét cho cùng, người ta cũng phải nhận ra một tổ chức rất đáng trân trọng. Ví dụ như việc tĩnh tâm được đánh giá rất cao".

Trên đây là những suy tư được ghi trong nhật ký của một người Tin Lành. Chàng đã không biết được sức nam châm đã lôi kéo người tín hữu công giáo đang cầu nguyện bên cạnh chàng; sưc nam châm phát ra từ Nhà Tạm mà anh ta chỉ trông thấy cái bên ngoài. Nhưng chàng đã cảm thấy được ảnh hưởng sâu sắc do cuộc dừng chân thinh lặng nơi Nhà Chúa. Những dòng mà chàng đã viết trên đây là một lời cảnh cáo cho những ai từ chối không mở lòng ra để đón nhận ơn thiêng mà cuộc dừng chân này mang lại.

admin
01-09-2006, 01:23 PM
TƯỞNG NIỆM VIỆC CHÚA CHỊU CHẾT
Memoriale mortis Domini

Bí tích Thánh Thể trình bày một tổng hợp các mầu nhiệm đức tin của chúng ta. Nơi đây, ta có được sự hiện diện của Vua vinh hiển, cũng cùng một sự oai nghi và một hạnh phúc vô song tràn ngập thiên đàng; tuy nhiên cũng có kỷ niệm của cuộc hy tế khổ đau, sự tưởng niệm sống động của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa: tất cả được diễn ra dưới tấm màn hình bánh và hình rượu của Bí Tích.

Vậy sự tổng hợp kỳ diệu đó dạy ta điều gì? Ðó là giá trị và sự "biến hình" của các khổ đau của vị linh mục.

Cuộc khổ nạn cứu độ của Chúa Giêsu là trung tâm và là chóp đỉnh của tác vụ linh mục của Người. Tại đó, Người vừa là linh mục vừa là của lễ...

Vị linh mục, với tính cách là đại diện của Chúa Kitô, có bổn phận phải thực hiện lại (cuộc khổ nạn đó) không những như là vị chủ tế của việc phụng vụ, nhưng cũng còn phải thể hiện trong bình diện nội tâm nữa.

Bất cứ ai đã chấp nhận làm linh mục đều phải đi theo Chúa Giê-su trên con đường Can-vê. Chúng ta đã biết được lời mà bà cố của Thánh Don Bosco nói với Ngài vào chiều ngày lễ mở tay của Ngài.

Chương trình đó đòi hỏi nơi linh mục một sự quảng đại lớn và một tâm hồn cao thượng.

Nếu vị linh mục không có những trạng thái đó, nếu ngài không phải một nhà khổ chế can đảm, thì khi ngài thi hành các phụng vụ đó, ngài chỉ còn là một người công chức tầm thường mà thôi.

Nếu ngài không cương quyết uống chén với Chúa Giê-su, thì ngay lúc đó ngài không có khả năng chia sẻ những niềm vui mà Chúa Giê-su trong buổi chiều Tiệc ly, đã gọi là "các niềm vui của Ta".

Dĩ nhiên, trong Bí Tích Bàn thờ, sự vinh hiển và niềm vui đó được ẩn giấu. Hình Bánh và Hình Rượu che giấu không cho ta thấy được sự hiện diện của Chúa Cứu Thế, tuy nhiên Bí Tích Thánh Thể vẫn luôn có sức cuốn hút của nam châm, luôn lôi kéo các linh hồn cách bí nhiệm đến Nhà Tạm. Sức mạnh cuốn hút này lớn đến nỗi linh hồn say mê Chúa Giê-su và không có sự đau khổ nào lớn hơn là khi không được rước lễ. Bí Tích Thánh Thể có thể thay thế được tất cả các niềm vui của thế gian. Bí Tích Thánh Thể chính là "Tin Mừng" được đem đến cho thời đại của chúng ta, thời đại đang thiếu niềm vui.

Trong Bí Tích Thánh Thể, một cuộc sống đau thương và nhiều hi sinh, lại được bao bọc và tắm gội bởi một luồn ánh sáng vinh quang phát ra từ Chúa Giê-su. Ðó là hiệu quả của sự liên kết mật thiết của Memoriale mortis Domini (cuộc tưởng niệm cái chết của Chúa) với sự vinh hiển của Ðấng Phục Sinh; điều mà mắt ta không trông thấy được vì nó bị che phủ dưới màn của Bánh Thánh.

Bên cạnh Thầy Chí Thánh đang âm thầm ngự trong Nhà Tạm, người môn đệ của Chúa Giê-su đang học tập để không thổ lộ ra những khổ đau riêng tư và những thánh giá của mình, và chỉ xin các Thiên Thần dâng sự thinh lặng đó trong một chén vàng trước ngai tòa Con Chiên.

Tất cả những suy tư này làm tôi yêu chuộng nhất kinh "En Ego, o bone et dulcissime Jesu"

("Lạy Chúa Giê-su nhân thay, khoan thay này con sấp mình trước mặt Chúa").

Trong kinh cám ơn sau rước lễ, kinh ngắn gọn dâng kính năm dấu đinh Chúa Giê-su, kinh mà Giáo Hội còn thêm ân xá cho những ai đọc kinh này.
Ai trong ta lại không nhớ là cha ông chúng ta đã luôn coi trọng và năng đọc kinh thân thương nhất này!

Vậy ngày nay, ta lại không duy trì như thế nữa sao?

Ðã chẳng đến lúc ta phải làm sống lại lòng tôn sùng này sao?

admin
01-09-2006, 01:25 PM
"CỦA CON Ở ÐÂU THÌ LÒNG CON Ở ÐÓ"
"Ubi thesaurus tuus, ibi cor tuum"

Trong ngày ta sống, ta thường quan tâm đến chuyện gì? Ðó chẳng phải là mọi thứ công việc và dự án, hoặc là những biến cố vui, buồn, hoặc là những thắng lợi hay hết ảo tưởng. Và đặc biệt lại không phải là về những mục tiêu mà đôi khi lại hay làm ta quên mất đời sống nội tâm của ta? Vậy ta thường thầm kín suy tư về điều gì? Những hoài bảo, những cảm tình của ta? Có khi mọi hoạt động của ta đều ích kỷ và chỉ quan tâm đến chuyện trần thế? Hay là tư tưởng của ta thường quy hướng về Nhà Tạm như kim nam châm luôn hướng về phương bắc?

Tôi xin thêm một câu hỏi nữa, đó là: Tại sao việc rước lễ thiêng liêng của ta lại thường là chuyện làm theo thói quen và không mấy hiệu quả ?

Tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng đem việc rước lễ thiêng liêng vào trong đời sống riêng tư của ta và biến nó thành một bài ca mới mừng Chúa: "Cantate Domino canticum novum" và luôn đi lặp lại, nếu ta biết đặt vào trong đó tất cả những trạng thái của tâm hồn ta, những ước vọng, những tranh đấu và cả những điều dốc lòng của ta trong dịp tĩnh tâm vừa qua, bởi vì Chúa Giê-su luôn quan tâm nhìn đến tất cả những giai đoạn của cuộc sống nội tâm của ta với tất cả sự chú ý và yêu thương tận tình.
Phương pháp này sẽ giúp ta biến đổi cuộc đời xế chiều của ta thành một kiểu rước lễ thiêng liêng kéo dài: Cupio dissolvi et esse cum Christo. (Tôi muốn được tan biến và được ở cùng Ðức Kitô).

CÁC VIỆC THÁNH CẦN PHẢI ÐƯỢC LÀM CÁCH THÁNH THIỆN

Lời trên đây, tôi đã đọc được tại phía sau của bàn thờ, nơi mà tôi đã đến dâng Thánh lễ nhiều lần. Những từ này cũng nhắm đến những trạng thái bên trong cũng như thái độ bên ngoài của người tham dự vào việc phụng vụ cao cả nhất.

Ta phải thi hành cho chính xác và cho xứng đáng tất cả những đòi hỏi của phụng vụ, và phải thành tâm yêu mến. Ðây là điều quan trọng nhất đối với chúng ta.

Mỗi người trong chúng ta ai nấy đều biết, theo kinh nghiệm, là sự cử hành xứng đáng bên ngoài có ảnh hưởng sâu xa đến đời sống nội tâm như thế nào.

Nếu ta có được một thái độ trân trọng khi làm các cử chỉ và khi đi đứng, chúng ta sẽ đạt được hai kết quả sau đây:

a/ Sự trân trọng bên ngoài tỏ cho thấy lòng đạo đức bên trong của ta.

b/ Và nó cũng gây một ảnh hưởng sâu xa trên lòng đạo đức bên trong này bằng cách chúng ta tránh những cử chỉ máy móc mà ta cố gắng biến chúng thành một hành động có suy nghĩ.

Rồi sự quan tâm làm các nghi lễ phụng tự cho đúng giờ đúng khắc cũng có một giá trị sư phạm nữa, đó là: ta cũng mời gọi những người giúp lễ và giáo dân cùng thực hành nhân đức đó.

Lương tâm tế nhị được biểu lộ như thế đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, kể từ lúc ta dâng Thánh lễ cho đến khi làm các việc tông đồ trong ngày: sự tế nhị lương tâm này đóng dấu ấn vào thái độ thường ngày của ta.

Ðó chính là một bài giảng thông qua những hành động làm nức lòng giáo dân. Ðó cũng là một lời tuyên xưng đức tin đối với những người bất đồng ý kiến với ta và chính họ cũng sẽ biết tỏ lòng tôn trọng trước sự trang nghiêm đã gây ấn tượng cho họ.

Tòa Thánh đã thiết lập Bộ Phụng Tự để theo dõi mọi việc thi hành phụng tự cho đúng đắn trong mọi ngành và mọi lúc.

Sự quan tâm này tỏ cho thấy là vị hôn thê của Chúa Kitô phải có một lòng tôn kính đối với Vị Lang Quân trên trời như thế nào, đối với Thân Thể thánh thiêng của Người và đối với tất cả các cơ chế của Người.

Vậy mỗi người trong chúng ta cần phải quan tâm hết sức để thi hành những chỉ thị của Bộ Phụng Tự.

Vị linh mục cũng phải quan tâm đặc biệt đến nơi ở của Ðấng Cứu Thế, hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể, nếu cần, chính tay ngài phải lo chăm sóc giữ gìn Nhà Tạm cho hết sức sạch sẽ, và trang hoàng cho xứng đáng.

Vì thế, không trưng hoa giả, càng không sử dụng các bóng điện màu sắc lòe loẹt như nơi phàm trần: nơi các công viên, nơi có các trò chơi giải trí...

Vị linh mục cũng phải đi đứng cách nghiêm trang cung kính trong nhà thờ, kể cả khi ngài chỉ có một mình trong nơi Thánh. Thực ra ngài không bao giờ ở một mình: các Thiên Thần cũng đang quan sát ngài, khi ngài ở trước mặt Thiên Chúa Cực Thánh.

Trong phòng thánh, ngài cũng phải là khuôn mẫu cho đoàn chiên (forma gregis). Phòng thánh (nhà mặc áo) không phải là nơi để đùa bỡn, tán chuyện gẫu hoặc nơi cãi nhau chí chóe.

Ðối với các em giúp lễ, ta cũng phải liệu cho các em có việc gì đó để làm, khi chúng được nghỉ ngơi. Ta cũng nên thường xuyên thay đổi người giúp lễ.

Ngày nào cũng phải phục vụ tại bàn thờ, có khi kéo dài cả tháng, mà ngày nào cũng phải nghiêm trang như thế, thì cuối cùng cũng sẽ làm mệt nhọc và đem lại căng thẳng cho các em, cho dù là những em tốt nhất.

Cha sở cũng phải sớm ra nhà thờ ban sáng để xem hiệu lệnh chuông trống được đánh đúng giờ.

Những điều khuyến cáo trên đây xem ra chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, nhưng khi nghĩ đến việc "sancta sancte", thì khi ta quan tâm đến những việc nhỏ nhặt như thế quả không phải là mình đã làm điều quá tỉ mỉ đâu.

admin
01-09-2006, 01:27 PM
NHÀ CỦA THIÊN CHÚA VÀ CỬA CỦA THIÊN ÐÀNG

Ðấy là tên gọi của ngôi nhà thờ Công giáo.

Vậy xin hỏi: liệu phần đông các nhà thờ mới được xây cất gần đây, xét theo lập lăng, mẫu mã và kiến trúc, có xứng đáng danh hiệu đó không?
Nhiều người trong chúng ta không nghĩ rằng ta có thể khẳng định tích cực cho câu hỏi này.

Người ta đã đưa ra nhiều yếu tố trần thế vào việc xây cất các nhà thờ tân thời này. Có rất nhiều trong số các nhà thờ mới xây cất này đã không có khả năng đưa tâm hồn lên cao, chúng trống rỗng, lạnh lùng và buồn tẻ. Cha xứ và ban xây dựng của giáo xứ đã bất lực trước một kiến trúc sư, khư khư bảo tồn ý kiến riêng mình, và tại ban xây dựng của thành phố không có người hiểu đạo công giáo; chứ chưa nói đến chuyện họ thiếu tinh thần tôn giáo để có thể làm nức lòng tâm hồn người giáo dân.

Ngày nay trong hoàn cảnh như thế, có một sự lo âu không những về kinh phí mà còn về vấn đề xây dựng nhà thờ và cả trang trí nữa.

Vị linh mục nào có bổn phận có ảnh hưởng đến việc quyết định xây dựng một nhà thờ mới nào, thì vị đó không nên quên rằng đây là một công trình sẽ tồn tại cả nhiều thế kỷ và chỉ nên quyết định sau khi đã suy nghĩ chín chắn cẩn thận. Ngài cũng nên nhớ là công trình ngài xây dựng sẽ có ảnh hưởng sâu xa đến đời sống đạo của nhiều thế hệ nối tiếp mai sau. Các thế hệ này sẽ không tìm được niềm cảm hứng lâu bền từ một công trình của một nghệ sĩ làm theo sự tùy hứng của mình.

Vị linh mục xây cất thánh đường không những chỉ bằng lòng với việc hợp đồng được thi hành thỏa đáng, công trình gồm đủ các điều kiện luật pháp, và các vật liệu cung cấp đầy đủ; mà ngài còn phải lo thực hiện công trình thế nào để có thể đáp ứng được các nhu cầu thiêng liêng của giáo xứ, làm thế nào để gây ấn tượng tốt, một công trình đáp ứng được các đòi hỏi về phụng vụ nữa.

Ngài còn phải lo chọn kỹ sư thiết kế và chỉ trao việc đó cho một người nào có tính tình và đã có kinh nghiệm xây cất trước đó, để bảo đảm cho việc thi công của mình.

Không chỉ nên dựa vào những lời hứa ngoại giao và nghe những lời quảng cáo tài tình.

Cũng thế, về vấn đề trang trí trên tường vách, cách sắp xếp đồ đạc, và việc mua sắm thì cho dù là do tiền của dâng cúng, thì người ân nhân cũng không phải là người được quyết định theo ý mình, nhưng phải nhằm chính là mục đích tôn giáo và phụng vụ. Vậy yếu tố nào sẽ là yếu tố quyết định ?

Việc quyết định xem dự án xây cất nhà thờ mới có tính cách là một ngôi Nhà Thánh và xem Giáo Hội có thể chấp nhận được không là ở trong tay của vị Giám mục giáo phận. Vì trong Giáo luật cũ, khoản 1164 đã quy định: "Curent Ordinarii, audito etiam, si opus fuerit, peritorum consilio, ut in ecclesiarum aedificatione vel refectione serventur formae a traditione christiana receptae et artis sacrae leges".

Giáo quyền không thiếu lý chính đáng và khẩn thiết để chống lại việc xây cất các nhà thờ giống như một nhà hát lớn hoặc giống như một hành lang nhà ga xe lửa hoặc một kho chứa hàng.

Khi xây cất một công trình mà sẽ tồn tại cả bao thế kỷ và phục vụ cho các mục đích thánh thiện nhất, thì giáo xứ không thể trao việc quyết định đó vào tay của một cá nhân làm theo ý thích thất thường của mình.

Có khi chính những người vẽ mẫu hoặc trang trí nhà thờ lại là những người chẳng mấy khi tham dự các buổi lễ, họ chẳng hiểu gì về những đòi hỏi của việc phụng tự, lòng đạo đức của người giáo dân. Và vì thế, họ xây những nhà thờ mà không có chỗ dành cho tòa giải tội, họ không đem lại cho bàn thờ hoặc chỗ ca đoàn một sự trang nghiêm xứng đáng; hoặc chỗ quỳ, chỗ ngồi không thuận tiện chút nào.

Việc trang trí nên tránh những tượng hoặc các bức họa không xứng đáng và trái với lòng đạo đức của người Công giáo - hoặc tránh đặt một tượng Chúa Giê-su bị đóng đinh có cỡ quá lớn trong một nhà thờ quá nhỏ bé. Không có sự cân đối nào!

Luôn phải tôn trọng tính cách thánh thiện của nơi thờ phượng và quan tâm đến những nhu cầu thiêng liêng của người giáo dân.

Một điều nên chú ý nữa, đó là: dĩ nhiên ta phải dành chỗ trung tâm cho bàn thờ chính, nhưng cũng nên biết là giáo dân của ta cần nhu cầu có các nhà nguyện nhỏ (trong các nhà thờ hay trong các đền thánh) - nơi đó, các tâm hồn tìm được một nơi thinh lặng và riêng biệt tiện cho việc tĩnh tâm và cầu nguyện.

Vậy điều này không có được trong các nhà thờ được thiết kế như là một đại sảnh để hội họp. Trong tất cả các ngành sáng tác nghệ thuật, ta nên quan tâm đến việc hiểu được nhu cầu chính đáng của tâm hồn bình dân. Nhu cầu này ta không nên hy sinh để nhường chỗ cho một phong cách mang ích lợi thực tế.

Một nhà phê bình rất chí lý khi nói: nếu người giáo dân phải chấp nhận một công trình mà không có tính cách tôn giáo chút nào, thì nhà thờ đó sẽ trở thành một sa mạc cho họ.

Vì lý do các vật liệu xây cất đắt đỏ, nên tránh không xây cất những ngôi Thánh đường đồ sộ.

Ðiều cần nhắm tới, không phải là công trình có tính cách quy mô đồ sộ, mà là một công trình được xây dựng có tính cách và được thiết kế chỉnh tề, tiện lợi và thân mật.

Còn về chọn kiến trúc sư, nhà thầu và công nhân, ta nên quan tâm đến khả năng kinh tế hiện có trong giáo phận.

admin
11-09-2006, 11:18 AM
Aperire Librum
MỞ SÁCH RA :
GIỚI THIỆU CHO NGƯỜI TÍN HỮU SỰ PHONG PHÚ CỦA PHỤNG VỤ

Biết bao kho tàng của đời sống thiêng liêng và của nền học vấn về Giáo Hội, đối với phần đông các tín hữu thường chỉ là một cuốn sách không bao giờ được mở ra.

Vậy những kho tàng của phụng vụ cũng chung một số phận đó sao?
Chắc chắn là không.

Các tín hữu cần mỗi ngày làm quen với cuốn sách kỳ diệu chứa đựng biết bao điều phong phú. Aperire librum. Mở sách ra mà đọc.

Dẫn dắt con người đến với Chúa, đó là sức mạnh của phụng vụ. Phụng vụ đưa con người tới nguồn mạch các ơn thiêng, tràn ngập ánh sáng và sức mạnh để thánh hóa.

Chính thông qua phụng vụ, với sự bao la và sự sâu sắc của nó, mà Giáo Hội thi hành nhiệm vụ làm trung gian của mình.

Phụng vụ còn có chức năng huấn luyện tài tình sự sống của linh hồn. Và đối lại, chúng ta cũng có thể đem những cảm tình riêng tư và toàn bộ đời sống nội tâm của chúng ta vào các nghi lễ phụng vụ thật hấp dẫn và đạo đức.

Chính nhờ ngôn ngữ của phụng vụ mà Giáo Hội -vị Hôn thê của Chúa Giê-su, nói với chúng ta bằng cách hướng dẫn chúng ta suốt năm phụng vụ.

Nếu ta đi theo phụng vụ, ta sẽ luôn được chia sẻ cuộc sống thân mật này với Giáo Hội. Thực tế, vị linh mục cảm nghiệm được điều này mỗi ngày. Và người giáo dân Công giáo lại không cảm nghiệm được như thế sao?

Phụng vụ không phải là suối nguồn, một nơi trú ẩn đầy niềm vui và đầy an ủi sao?

Và bổn phận chúng ta lại không phải là nắm bắt mọi cơ hội để đem lại cho các giáo dân, thông qua phụng vụ, một thúc đẩy lòng đạo đức mà sẽ đem lại cho họ niềm hạnh phúc?

Có biết bao điều đau khổ và lo âu đang đè nặng trên tâm hồn người giáo dân !

Tâm hồn nào thiếu niềm vui đạo đức và các cảm tình cao quý, thì tâm hồn đó thật đáng thương biết bao !

Nhưng vị linh mục lại có trong tay bao nhiêu sự phong phú của đời sống thiêng liêng. Vậy thật cao quý biết bao bổn phận của ngài là làm sống lại và duy trì - xuyên qua sự thúc đẩy này - cho nguồn suối của cuộc sống nội tâm nơi người tín hữu được phong phú dồi dào hơn.

Chúng ta càng chu toàn nhiệm vụ này hoàn hảo bao nhiêu thì việc người giáo dân tham dự vào đời sống phụng vụ lại tích cực hữu hiệu hơn bấy nhiêu.

Chính vào mục tiêu này mà các bài giảng, các bài diễn văn, các tuần lễ học hỏi phụng vụ được tổ chức theo chu kỳ các mùa trong năm phụng vụ, nhất là càng gần những ngày lễ trọng.

Ta cũng có thể làm cho các trẻ em, cũng như những người lớn, tùy theo trình độ hiểu biết của họ, được làm quen với những gì xảy ra tại nhà thờ, tại phòng thánh và trong năm phụng vụ.

Các em sẽ biết ơn khi nhận được những điều dạy dỗ về vẻ đẹp của phụng vụ: đó cả là một thế giới mới mở ra cho trí khôn và trái tim của các em và cho phép các em được tham dự mật thiết hơn vào các nghi lễ tôn giáo.

Ta cũng phải lo cho mọi người hiểu được nội dung các bài thánh ca được hát trong thánh lễ và các mùa trong năm phụng vụ. Thật là một giờ được cho vị linh mục hay là cho giáo lý viên, khi các vị dành thời gian để cắt nghĩa cho các em hiểu biết nội dung, ý nghĩa của bài hát, cấu trúc của bài thánh ca, để mọi người có khả năng hát các bài đó một cách xứng đáng và có được một ấn tượng tuyệt vời biết bao !

Tất cả những điều trên đây sẽ đưa lại lợi ích cho việc huấn luyện giới trẻ và tất cả các tín hữu.

Ðấy là tất cả những lý do khiến ta phải mở cuốn sách ra mà đọc :

Aperire librum!
(Hãy mở sách ra!)

admin
11-09-2006, 11:23 AM
IV

Cùng với Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu


(Cv 1,14)

"Các con cứ xem việc họ làm thì nhận ra họ là ai"

Tôi nghe nói, các nhóm trẻ họp nhau, họ đưa ra ý kiến này là: ngày nay người ta không còn quý trọng bao nhiêu việc tôn sùng Ðức Mẹ, cho dù đã có truyền thống từ xa xưa, vì họ cho rằng: lòng tôn sùng Ðức Mẹ không quy hướng về Chúa Kitô cho đủ.

Ôi! Các nhà thông thái bé bỏng này thật là bé cái lầm!

Có ai đã quy hướng nhiều hơn về Chúa Kitô cho bằng Ðức Mẹ Maria? Tước vị của Mẹ, sự thánh thiện của Mẹ đều lấy nguồn từ ơn cứu độ mà Chúa Giê-su Kitô đã đem tới.

Tất cả những nguyện vọng, tư tưởng, việc làm, và những đau khổ của Mẹ, tất cả những giây phút của đời Mẹ đều chỉ quy hướng về một trung tâm: đó là Chúa Giê-su.

Làm sao ai đó có thể quy hướng về Chúa Giê-su nhiều hơn là khi đi theo những vết chân của Ðức Maria? Nào ta hãy nhìn vào những kết quả do việc tôn sùng Ðức Mẹ. Cứ xem các kết quả này mà ta sẽ nhận ra được bản chất và giá trị của nó.

Ta cứ thử đi một vòng thế giới công giáo là sẽ thấy: nơi đâu lòng sùng kính Ðức Mẹ triển nở, thì ở đó đức tin vào thần tính của Ðức Kitô cũng rất mạnh. Ðó là nhiệt kế đo lường sức nóng của niềm tin vào Chúa Kitô, con của Mẹ.

Nơi đâu có lòng yêu mến Ðức Trinh Nữ vô nhiễm và Mẹ trinh trong, thì ở đó càng có sự khao khát có được một trái tim trong trắng - phẩm cách của người thiếu nữ cũng như của các bà được hoàn toàn kính trọng.

Lịch sử văn chương cũng minh chứng cùng với lòng yêu mến Ðức Maria thì có một sự âu yếm đặc biệt được thể hiện nơi thi ca. Bởi lẽ ai hiểu được những tư tưởng của Ðức Maria thì người ấy duy trì được niềm vui trên núi Ta-bo-rê, bất chấp những trận mưa rào - tâm hồn họ vẫn có được sự hài hòa và có một cánh "hoa hồng mầu nhiệm" tươi nở và không bao giờ tàn phai.

Lòng tôn sùng Ðức Trinh Nữ có một ảnh hưởng rất sâu rộng trên đời sống gia đình, trên sự quan hệ giữa người chồng và người vợ, giữa con cái và cha mẹ. Kinh nghiệm cho thấy : tôn trọng sự đồng trinh của Ðức Mẹ làm cho đôi vợ chồng biết luôn trung thành với nhau. Dường như người chồng nhìn thấy nơi vợ mình một người chị em của Mẹ trên trời. Và, nếu ta nhìn về nhà Na-gia-rét với cái nhìn của một đứa trẻ, thì lòng hiếu thảo cũng như tình yêu của người cha người mẹ cũng được phát triển thêm và trở nên siêu việt hơn.

Yêu mến đời ẩn dật của Ðức Ma-ri-a tại Na-gia-rét, suy niệm về thái độ của Mẹ Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na, hoặc là những cuộc gặp gỡ của Mẹ với Chúa Giê-su, thì ta hiểu được ý nghĩa của sự điều độ, sự hài hòa. Yêu mến một cuộc sống yên tĩnh, một công việc thanh bình tại nhà, xa những xa hoa tráng lệ, đó là ta đi tìm niềm vinh quang nội tâm, mà theo Thánh Âu-tinh, nó được tượng trưng bởi dầu mà các cô trinh nữ khôn ngoan mang theo đã đổ đầy vào trong đèn.

Những kết quả mà lòng tôn sùng Ðức Maria mang lại cho chúng ta trong những giờ phút an bình thật đáng quý; còn những kết quả được mang lại trong những giờ phút khó khăn thì lại càng tốt đẹp hơn. Và ngay trong lúc lâm tử, sự thất vọng sẽ không đến với ai đã có thói quen ngước mắt lên Mẹ trên trời và lên Con Thiên Chúa.

Các bạn đã chẳng thấy có biết bao người mẹ khổ đau đến quỳ trước ảnh Ðức Mẹ sầu bi đó sao? Cách đây chừng 20 năm, tôi có dịp về thăm nhà dòng mẹ của các nữ tu "Dòng Nhân Hậu" tại tỉnh quê nhà của tôi. Khi từ giã ra về thì mẹ Bề trên Tổng quyền thưa với tôi:

"Chúng con có một chị, chị Tau-xi-ca đang đau nặng tại nhà kẻ liệt. Có lẽ chỉ còn sống được ít ngày nữa thôi".

Tôi liền tới nhà kẻ liệt thăm Sơ và hỏi xem tôi có thể giúp chị được gì không.

"Thưa không ạ, thưa Ðức Tổng", chị trả lời, "con rất vui vì Ðức Tổng đã đến thăm và con muốn nhờ dịp này mà cảm ơn Ðức Tổng".

- Cảm ơn về chuyện gì ?

Lúc đó, với tất cả sự đơn sơ chân thành, chị kể:

"Con nhớ hồi con mặc áo dòng, Ðức Tổng đã giảng cho chúng con một bài. Ðức Tổng đã nói là: mỗi khi những giờ đen tối ập đến, các con hãy đọc kinh cầu Ðức Mẹ, và khi tới câu "Ðức Nữ trung tín thật thà, xin cầu cho chúng con", thì các con hãy nói điều này: "Vâng, đây chính là lời than van mà con thích nhất, con không ao ước điều gì khác mà chỉ muốn một điều này thôi, đó là được trở thành một trinh nữ luôn trung tín như Ðức Mẹ Ma-ri-a".

"Thưa Ðức Tổng, đó là điều mà con vẫn thực hành, và con đã rất vui vì con đã có thể lướt thắng được tất cả những khó khăn. Hôm nay con muốn cảm ơn Ðức Tổng vì lời khuyên của Ðức Tổng - Bây giờ con đã không còn sống được mấy nỗi nữa, con xin lặp lại: "Ðức Nữ trung tín thật thà, xin cầu cho chúng con", và con được hài lòng".

Ðây quả là lời di chúc của một người con thực sự của Ðức Maria.

Trong đời sống của Thánh Hedwige cũng có một câu chuyện giống như thế.

Thánh nữ luôn mang trong mình một bức tượng Ðức Mẹ rất nhỏ. Rồi nhiều lần, Thánh nữ lấy đặt ra trên tay và chiêm ngắm bức tượng với lòng sùng kính; và lòng yêu mến Ðức Mẹ lại được thêm sinh động. Rồi Thánh nữ lấy bức tượng này để chúc lành cho bệnh nhân.

Lạy Thánh Hedwige, xin cũng chúc lành cho chúng con như thế từ trời cao. Chớ gì hình ảnh của Ðức Mẹ Maria luôn đồng hành với chúng con trong cuộc sống và trong khi chết.

Các bạn hãy xem các kết quả tốt do lòng sùng kính Ðức Mẹ đưa lại, đó là bằng chứng hùng hồn nhất về giá trị của lòng tôn sùng Ðức Trinh Nữ Maria. Một lòng tôn sùng quy hướng về Chúa Kitô.

admin
11-09-2006, 11:27 AM
"BÂY GIỜ THÌ TÔI HIỂU CHUỖI MÂN CÔI"

Mùa thu năm 1881, tôi cùng đi với một người mới trở lại đạo. Ngược phố Brennerstrasse, ông kể cho tôi nghe về đời sống nội tâm của ông.

Có nhiều tục lệ trong Giáo Hội Công giáo thật mới lạ đối với ông và lúc đầu thật sự đã gây cho ông một số khó khăn. Nhưng lại có những việc đạo đức khác đem lại cho ông niềm vui tràn đầy, niềm vui mà từ trước tới nay ông chưa bao giờ có được.

Về vấn đề xưng tội, ông tâm sự: "Thoạt đầu, việc xưng tội làm tôi sợ hãi không ít, quả là đáng sợ thật; nhưng bây giờ thì tôi lại vui mừng mỗi khi đi xưng tội. Tôi đã không bao giờ biết rằng việc xưng tội đem lại nhiều ánh sáng đến như vậy. Cảm nghiệm được một sự an bình nội tâm và có được một sự can đảm nhiệt tình mới. Tất cả những điều này đều là kết quả của việc xưng tội". Nói đúng hơn là: đó là nhờ các ơn mà bí tích Hòa giải đem lại.

Rồi tiện thể, ông nói thêm:

"Nhưng tôi vẫn chưa hiểu lý do tại sao mà nhiều người rất ưa thích việc lần chuỗi".

Tôi liền nói với ông: "Vậy thì, nào chúng ta cùng nhau lần chuỗi đi, không vội vàng lật đật chi, chỉ lần một chục hạt rồi xem ta có thể vừa lần chuỗi vừa suy niệm được không. Ví dụ, ta chọn chuỗi hạt đầu cho việc Dâng Chúa Giê-su vào Ðền thánh.

- Khi đọc kinh Kính Mừng đầu tiên, ta nhớ tới thái độ của Ðức Ma-ri-a đã ngoan ngoãn vâng lời Chúa truyền dạy như thế nào. Và như thế ta yêu mến sự vâng phục.

- Kinh Kính Mừng thứ hai, ta hãy nhìn Ðức Mẹ tiến vào Ðền Thánh, Mẹ nghèo nàn và khiêm tốn biết bao. Và đời sống của ta cũng phải như thế trọn đời.

- Kinh thứ ba, niềm hạnh phúc vô song Ðức Mẹ có được khi ẳm con trẻ Giê-su trong đôi tay, đầu nhỏ bé của Hài Nhi dựa bên trái tim Mẹ: ta ao ước được sống thân mật với Thiên Chúa.

- Kinh thứ bốn, niềm vui của mỗi người Do Thái khi họ bước vào Ðền Thờ.

- Kinh thứ năm, Ðức Mẹ cùng hợp ý với trẻ Giê-su dâng mình làm của lễ - Nào ta cũng âm thầm dâng cho Chúa tất cả những hy sinh của ta.

- Kinh thứ sáu, niềm hân hoan của ông Si-mê-on và niềm hạnh phúc của Ðức Maria đã cảm thấy như một người mẹ đã cảm nghiệm được. Và chính ở đây trái tim của chúng ta cũng hòa niềm vui với Người.

Và cứ như thế mà đọc tiếp đến Kinh Ave cuối cùng, thì Ðức Maria tự hỏi lời tiên báo: một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua lòng mình có ý nghĩa bí nhiệm gì, nhưng Mẹ sẵn sàng chịu đựng tất cả vì Chúa Giê-su.

Amen! Vâng, chớ gì đó cũng là tâm tình của chúng ta !

Mỗi Kinh Ave Maria đều đượm một sự ao ước thầm kín. Vâng, "mỗi kinh đó" phải trở thành nên cách tôi suy tư, thành ý chí và cuộc sống của tôi. Và ta cứ tiếp tục như thế cho đến lời kết cuối cùng: Sáng Danh Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con và Ðức Chúa Thánh Thần".

"Bây giờ thì tôi đã hiểu được ý nghĩa của chuỗi Mân Côi" -Ông bạn lúc đó mới kêu lên-. "Từ nay tôi sẽ cố lần chuỗi cho đúng và sốt sắng".

Vậy, sao ta lại không thể dùng cách này hay cách khác, tùy ý thích và điều kiện để giới thiệu cho các giáo dân của ta biết phương pháp tốt để suy niệm các mầu nhiệm Chuỗi Mân Côi. Làm thế là ta giúp nhiều người mở một cuốn sách mà bị đóng từ trước.

Biết sử dụng chuỗi mân côi cho tốt sẽ làm lòng người tín hữu được an vui. Và rất nhiều khi niềm vui của trái tim khuyến khích và dọn đường cho ơn Chúa.

Tiếng chuông "Nhựt một" (Angelus) từ tháp nhà thờ nhỏ bé nhìn xuống quang cảnh của một miền quê yên tĩnh, tiếng chuông bao bọc không gian thật dễ thương và mang lại cho ta cảnh tượng của một thế giới mai hậu: Ðây quả là hình ảnh của việc lần chuỗi mân côi đối với đời sống nội tâm của ta.

Ôi! Tiếng chuông từ tháp nhỏ nhà thờ vang lên trong buổi chiều, chớ gì ta được nghe thấy ngươi vào lúc xế chiều của đời ta!

Bây giờ, ta hãy nghe những lời đặc trưng của một người trở lại đạo, ông Langbehn:

"Ta không bao giờ chán cơm bánh, cũng không bao giờ nhàm chán Kinh Lạy Cha, lời chào của thiên thần và Kinh Mân côi.

Kinh mân côi có thể được ví như là một trinh nữ đang tản bộ giữa một vườn hoa muôn sắc, được chăm sóc cẩn thận. Vậy nếu được phát xuất tự đáy lòng thì kinh mân côi là kinh siêu việt hơn các kinh khác. Ðọc Kinh mân côi và đi đàng Thánh giá giúp phát triển tinh thần công giáo và là sự trình bày sống động của nội dung đức tin".

Langbehn quả đã có những nhận xét sâu sắc và tinh tường.

admin
11-09-2006, 11:40 AM
TIẾNG VANG VỌNG TỪ THƯỢNG GIỚI

Sau đây là chứng từ của một nhà họa sĩ, ông Hans Thoma, một người đã có sáng kiến lên tiếng đòi hỏi tân nghệ thuật phải phù hợp với luân lý lành mạnh. Và ông đã thể hiện được điều đó trong các bức họa của mình.

Các bức họa của ông có một sự thực tế, một sức mạnh diễn tả tuyệt vời, và chính vì thế mà các bức họa của ông được rất nhiều người hâm mộ.
Trong cuốn "Niên giám của linh hồn", ông kể :

"Vào một ngày chủ nhật, giữa mùa hạ, tôi dậy rất sớm. Từ cửa sổ tôi nhìn ra ngoài trời rạng đông, ánh nắng non đang xuyên qua làn sương mỏng.
Thung lũng và khu rừng đều bị sương bao phủ như một tấm khăn voan mà rồi đây mặt trời sẽ sớm làm tan đi.

Vào lúc đó, trong cảnh hoang tàn của ban mai, tôi nghe rõ, từ thung lũng vang lên rất trong trẻo lời cầu kinh của những người hành hương đang tiến về đền thánh Ðức Mẹ ở Todtmoos. Họ đang lớn tiếng cầu xin Mẹ trên trời. Ðó là lời ca ngợi khen, nhưng cũng là tiếng kêu của một tâm hồn khốn khổ vì đang phải vật lộn giữa sự thiện và sự ác, linh hồn cảm thấy chơi vơi, nhưng vẫn thẳng tiến bước trong cuộc đời: Kính mừng Maria...

Những ánh nắng mặt trời làm thủng màn sương: tại phía đông, tất cả bầu trời như chìm đắm trong ánh sáng vàng như hứa hẹn thiên đàng.

Tôi cảm thấy chung quanh tôi đang diễn ra một mầu nhiệm thánh và khó tả nên lời; mầu nhiệm đó cứ từ từ rõ nét hơn đối với tôi. Tôi hiểu rõ hơn tại sao tâm hồn con người đang khắc khoải lại kêu cầu Mẹ nhân từ, cầu xin Mẹ giơ tay che chở và dẹp tan những nghi ngờ và sự bất ổn của cuộc đời này.

Vì khi các người hành hương đi ngang qua trước cửa nhà tôi, họ vừa đi vừa đọc kinh. Lúc đó, tôi cũng cùng cầu kinh với họ cho đến khi không còn nghe thấy tiếng họ nữa...Và rồi như một tiếng vọng, trái tim tôi lại nhẩm thầm: Kính mừng Maria..!

Và giờ đây, từ giã vẻ huy hoàng của buổi sáng, cuộc sống quen thuộc và bình thường lại trở về với tôi cùng với những lo âu lớn nhỏ, những nỗi đau cũng như những niềm vui mà thiên nhiên và con người chung quanh gây ra cho nhau trên đường đời".

Những tư tưởng trên đây của Hans Thoma bộc lộ tâm tư thầm kín của mình thật cảm động. Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đọc chậm rãi, đọc thầm và vừa đọc vừa suy niệm.

Và mỗi lần đọc, tôi lại thầm nhủ: những cảm tưởng mà người nghệ sĩ cao quý nhất này đã cảm nghiệm được, thì chúng ta là những người công giáo, chúng ta đã hạnh phúc được sở hữu từ hồi còn nhỏ dại. Liệu ta có ý thức được điều đó chưa?

Chúng ta là những linh mục, liệu chúng ta có cố gắng đủ để làm sống lại, làm cho mạnh mẽ hơn và khuyến khích tất cả những giáo dân của chúng ta để họ sống hòa hợp và khí thế theo những làn gió thổi đến từ những cánh đồng huyền bí thánh.



NHỮNG ÐIỂM THÔNG ƠN THÁNH

Bằng nhiều con đường khác nhau, ơn Chúa có thể đến để cứu độ chúng ta. Ơn Chúa luôn tác động chung quanh ta ngày đêm để cuối cùng sẽ đến lúc mà lòng ta mở ra để đón nhận ơn Chúa. Có bao cơ hội, bao biến cố mà tiếng kêu gọi của Thiên Chúa đến với ta, hoặc là thông qua những thúc đẩy mạnh mẽ, chúng trở nên cho chúng ta điểm phát xuất của những điều dốc lòng có tính cách quyết định.

Ta cứ xem đời sống của các thánh thì biết chuyện đời các ngài chứng minh điều này. Chính thế, một vị Thánh như Phaolô, như Âu-tinh, như Phan-xi-cô. Các vị này đã được kêu gọi thực hiện một ơn gọi tuyệt vời.
Những cuộc sống của những người giáo dân bình thường cũng làm chứng cho chân lý này bằng trăm nghìn cách.

Hằng năm khi đọc trong sách Phụng vụ các giờ kinh, ta lại gặp câu chuyện trở lại của Thánh An-rê Cor-si-ni. An-rê Cor-si-ni lúc đó đang ở tuổi thanh xuân, và cho dù đã được giáo dục đạo đức cẩn thận, nhưng An-rê Cor-si-ni đã trải qua một cuộc sống ăn chơi đàng điếm. Bà mẹ của An-rê nhiều lần đã quở trách ngài nặng lời và khuyên răn khẩn thiết, nhưng An-rê chứng nào vẫn tật ấy. Rồi một hôm, bà nói với An-rê:

"An-rê con! cha mẹ đã dâng hiến con cho Ðức Trinh Nữ, và như thế ngay từ khi con còn ở trong bụng mẹ, con đã là con của Ðức Ma-ri-a rồi. Nhưng hiện nay, cách ăn ở của con có xứng với danh hiệu đó không ?"

Khi nghe thế, An-rê làm thinh và đăm chiêu suy nghĩ.

Những lời quở trách của mẹ An-rê đã không đem lại kết quả thì nguyên tư tưởng: "ngay từ bụng mẹ, tôi đã được hiến dâng cho Ðức Ma-ri-a rồi!" đã đạt được.

Ðiều này đã thành như một "mặc khải". Chính vì có tâm tình đó mà từ đáy lòng, ơn kêu gọi của Chúa đã đến.

Mấy ngày qua đi và chàng thanh niên lúc này đã khôn ra, và chàng đã đến gõ cửa Dòng Ca-mê-lô.

Ngài đã chống lại cách mãnh liệt những cơn cám dỗ lúc đó đang nổi lên trong người. Sau đó, Cor-si-ni đã được tấn phong làm giám mục. Và một đời giám mục rất hoạt động, sáng suốt và phong phú. Cuối cùng Ðức Ur-ba-nô VIII đã đặt Ngài lên trên bàn thờ.

Rất nhiều người giáo dân cũng như rất nhiều vị linh mục đã cảm nghiệm sâu sắc ơn Chúa ban có điều đặc biệt này, đó là: việc trở lại và những điều dốc lòng anh hùng thường được khởi đầu bằng những cảm giác đạo đức nhỏ bé của đời sống nội tâm của ta. Các cha linh hướng và tất cả những vị có trách nhiệm, các bậc cha mẹ, các nữ tu, y tá không nên quên điều này.

Ngay cả vào thời đại chúng ta, một thời đại không quan tâm mấy tới những trạng thái nội tâm của linh hồn, thì sự nhận xét trên đây vẫn đúng.
Thánh Bê-na-đô đã ca tụng Mẹ Maria, ngôi Sao Biển như sau:

"Nếu những trận mưa rào của cơn cám dỗ ập đến, nếu ta gặp phải cơn gian nan đau khổ, ta hãy nhìn lên ngôi sao, ta hãy cầu xin Ðức Maria. Nếu sự giận dữ, sự hà tiện, hoặc sự dâm dục làm chòng chành con thuyền nhỏ bé của đời sống nội tâm của ta, hãy nhìn lên Mẹ Maria. Nếu tội lỗi ta thật nhiều, nếu lương tâm ta bị hoen ố, khi nghĩ đến ngày phán xét ta bị hoảng sợ, nếu ta bắt đầu chìm sâu trong sầu não và thất vọng, ta hãy nghĩ tới Ðức Maria". (Hom.2: super "Missus est")

Nhà văn sĩ thần bí đã viết đầy chất thơ. Nhất là ta hãy ý thức được rằng: lòng tôn sùng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a là một phép lành cho đông đảo người kitô-hữu, như những thực tại của đời sống thiêng liêng đã minh chứng: ta sẽ thấy rõ hơn trong chan hòa ánh sáng, vào một ngày mà bức khăn che sẽ không còn nữa.

admin
11-09-2006, 11:43 AM
V

SÁCH NGUYỆN: CUỐN SÁCH THIÊNG LIÊNG CỦA VỊ LINH MỤC
IN UNIONE DIVINAE INTENTIONIS
(Hiệp ý với Chúa)

Nào ta hãy cầm lấy cuốn sách nguyện. Và lúc này, ta hãy nói: đây cũng vẫn là một ý, cũng vẫn là những cảm tình sâu lắng cần làm sinh động và kết hợp trái tim linh mục với trái tim Chúa Giê-su trong ngôi đền thần bí của Thần vụ. Chính các tâm tình như thế mà lời kinh linh thiêng hơn hết các lời kinh khác được bắt đầu.

Một sự phối hợp hoàn toàn các tư tưởng, các tâm tình, các ý chí: đó là quy luật của sự kết hợp trọng yếu được thể hiện trong thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, giữa các phần thân và đầu là chính Chúa Kitô.

Chính vì thế, mỗi ngày trước khi bắt đầu đọc kinh của linh mục, chúng ta lên dây đàn hạc của Ðavít bằng cách hợp ý với Người. Ðó là ý nghĩa và là mục đích của lời công bố long trọng này:

"Con muốn cầu nguyện, hợp cùng một ý như Chúa là Ðấng cứu độ con, như Chúa -trong khi sống ở trần gian này- đã muốn dâng lên Cha trên trời lễ hy sinh ca ngợi, tạ ơn, đền tạ và cầu xin". Mỗi khi chúng ta nói những lời này thì dường như cánh cửa của đền thánh nhiệm mầu mở ra cho chúng ta.

Và thật sự là như thế.

Ta hãy thinh lặng và bình tâm lại một lúc để dọn mình bước vào đền thánh của đời sống nội tâm của Chúa Giê-su. Chúng ta cố tìm hiểu sự sâu sắc của tư tưởng này. Ta hãy nghĩ tới lời cầu nguyện của Chúa Giê-su ngay từ khi còn nằm trong máng cỏ: "Này con đây, con xin đến để làm theo ý Cha". Ðó là ý chỉ đầu tiên của Người.

Rồi ta hãy theo Chúa Giê-su ba ngày ba đêm tại Ðền Thờ: ở đó Người đã suy niệm một cách sâu sắc khi Người chứng kiến những lễ hi sinh đổ máu, và những lễ hi sinh này có giá trị là điềm báo quan trọng đối với Người.

Chắc Người cũng đã chiêm ngắm một cách sâu sắc trước bàn thờ trên đó có bánh dâng tiến và các chén rượu nho, hình ảnh của hy tế Thánh Thể của Người, trước chân đèn bảy ngọn được đốt bằng dầu ô liu -tượng trưng hình ảnh của dầu thánh-nhờ đó Người sẽ biến thành suối nguồn của ân sủng .

Rồi ta hãy nhìn lên Ðấng Cứu Thế đang cầu nguyện trên núi, trong thinh lặng của ban đêm, Người chuyện trò với Cha trên trời, và Người đang kêu mời chúng ta hãy có một ý chỉ thẳng thắn trong suy niệm thinh lặng.

Ta hãy kết hợp một cách ý thức với tất cả những ý chỉ của Vị Linh Mục tối cao đang cầu nguyện, kết hợp với ý cầu nguyện của Người tại phòng Tiệc Ly, tại Ghét-sê-ma-ni, tại Gol-go-tha.

Phải, khi ta mở sách các thánh vịnh rồi bắt đầu đọc sách nguyện "in unione illius divinae intentionis", lúc đó quả là ta đang thực sự cầu nguyện, nhờ Người, với Người và trong Người. Lúc đó chính là lúc Chúa Giê-su đang cầu nguyện trong ta, và lúc đó cũng là lúc đang thực hiện lời Chúa Giê-su phán cùng Phêrô:

"Thầy đã cầu nguyện cho con". "Ðiều gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Thầy sẽ ban cho các con".

Lời hứa của Chúa Giê-su thật có giá trị biết bao!

Nhưng ai không đặt trọn niềm tin vào sự hữu hiệu của sách nguyện mà mỗi linh mục đọc với tính cách linh mục, nghĩa là nhân danh Hiền thê của Chúa Giê-su, và dĩ nhiên là phải hợp ý với Chúa Giê-su như vị Hôn thê kết hợp với Hôn phu của mình: vị nào không tin tưởng như thế thì quả vị đó không có một đức tin đích thực.

Vậy trước khi bắt đầu, ta hãy hồi tâm và hãy có những tâm tình cao thượng.

Và niềm vui của tâm hồn sẽ tăng thêm biết bao khi ta cất tiếng hát những bài ca của Xi-on.

admin
11-09-2006, 11:48 AM
TRƯỜNG DẠY VIỆC THÁNH HÓA

Khi vị linh mục đọc thần vụ là người cầu nguyện cho các nhu cầu lớn của Giáo Hội. Lời cầu này cũng giúp ích bản thân linh mục rất nhiều. Lời kinh đó phải góp phần vào việc thánh hóa bản thân linh mục.

Xin cho tôi được thưa với các cha về tác động thánh thiện của một người bạn trung thành mà Giáo Hội trao cho các cha như là một người hướng đạo, một người bạn thân đồng hành với các cha trên tất cả những con đường của cuộc đời, trong ngày các cha lãnh chức và người bạn đó ảnh hưởng đến việc thánh hóa của các cha như thế nào.

Vị linh mục trung thành đọc thần vụ vì nó sẽ là nguồn thánh hóa cho linh mục.

Hettinger quan niệm: Sự thánh thiện là "trật tự". Từ "trật tự" ở đây mang ý nghĩa trọn vẹn nhất: trật tự nối kết chúng ta với Thiên Chúa, trật tự thiết lập giữa linh hồn và thân xác, trật tự làm cho các công việc trần gian được phù hợp với số mệnh của đời ta. Và nhất là trật tự của đức ái.

Ý nghĩa của trật tự làm tăng lên trong chúng ta sự tế nhị của lương tâm, nhờ đó lời kinh nhật tụng trở nên giống như sự "chuyển động" của mặt trời, dệt vào các công việc hằng ngày của ta theo một chuyển biến không ai xâm phạm đến được.

Giáo phận Breslau tôn vinh một vị anh hùng luôn trung thành, đó là chân phước Gio-an Sar-kan-der:

Lúc mà cả thân xác của Ngài bị bệnh tật dày vò, đến nỗi khi Ngài không lấy ngón tay giở sách nguyện sang trang sau được nữa, thì Ngài đã dùng tới lưỡi để giở, và Ngài đã không bỏ sót một thánh vịnh hay một bài đọc nào.

Ðây cũng là cơ hội tốt để tập luyện khổ hạnh bằng cách luôn trung thành đọc sách nguyện, giống như tinh thần nhà binh của "bonus miles Christi" ( người lính tốt của Chúa Kitô). Người lính tốt luôn giữ đúng giờ đúng khắc khi đọc Kinh Phụng vụ, điều này trở thành nên như bản tính thứ hai của anh và lời kinh nguyện lại là khí giới được trân trọng nhất.
Ðiều này đòi hỏi phải từ bỏ tiện nghi hoặc sống bừa bãi.

Nguồn mạch thánh hóa, sự tín thác nơi Thiên Chúa là ý nghĩa căn bản của tất cả các thánh vịnh và các lời kinh của thần vụ.

Giữa chiến trường, cũng như tại nhà thương những người bị bệnh tả, vị linh mục bình tĩnh và xác tín lặp đi lặp lại: "Qui habitat in adjutorio Altissimi" (Ai ở trong tay che chở của Ðấng Tối Cao).

Khi bị thất bại ê chề, vị linh mục vẫn duy trì được sự bình an nội tâm: "Qui seminat in lacrimis in exultatione metent" (Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng).

Cũng thế, khi linh hồn cảm thấy bị lương tâm đè bẹp vì đã phạm tội, vị linh mục, hơn ai hết, biết được lời kinh ăn năn Miserere, và vang lên trong trái tim mình những lời ca vui của một sự sống ân sủng mới, đồng thời cũng có một sự dũng cảm dấn thân vào việc đền tạ.

Ðiều này cho thấy thánh vịnh 50, cho dù có những tiếng rên xiết nhưng chủ yếu đó vẫn là một thánh vịnh tràn đầy niềm hoan lạc: niềm vui của một trái tim, nhờ ơn bí tích Hòa giải đã tìm lại được sự tươi mát và sự trong trắng của mình. Trong cuộc chiến đấu để nên thánh, ta hãy đưa mắt nhìn lên những vị anh hùng đã tập được các nhân đức. Ðó là lời khuyên của Thomas a Kempis, một vị linh hướng thật vững chắc.

Vậy, sách nguyện là trường dạy học, nơi đây ta sẽ học tập được với các nhà anh hùng đó. Năm này qua năm khác, vị linh mục mỗi năm mỗi học thêm được những đặc điểm của mỗi vị Thánh, và vui mừng mỗi khi tới ngày lễ kính các ngài, vì gương sáng tuyệt vời của mỗi vị đó. Thánh Gio-an Tẩy Giả quả là một tấm gương sáng chói về sự khắc kỷ, khiêm tốn và can đảm rao giảng Tin Mừng. Thánh Giuse, vị anh hùng trinh trong và luôn hi sinh trong niềm tin. Tất cả các vị Thánh đều tràn đầy lòng yêu mến Phép Thánh Thể. Tiếp đến là các vị anh hùng thực thi bác ái: Thánh Edwige, Thánh Elizabet nước Hun-ga-ri, Thánh Mac-ti-nô, Thánh Vin-xen-tê Phao-lô. Rồi tiếp đến các vị anh hùng trong hoạt động tông đồ: Thánh Phao-lô Tông đồ, Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, Thánh An-phong. Rồi đến các vị anh hùng có niềm tín thác mãnh liệt trong việc tranh đấu cho Giáo Hội được hưởng tự do: như Thánh Ghê-gô-ri-ô VII; các gương mẫu cho các linh mục đang làm mục vụ như Thánh Gio-an Vi-a-nê; những gương mẫu cho đời sống cầu nguyện trong thinh lặng và tại nơi hiu quạnh như các thánh ẩn tu: Thánh Cla-ra, thánh Tê-rê-sa Hài Ðồng Giê-su, và trên hết tất cả đó là Nữ Vương các thiên thần và các thánh: Ðức Maria, Mẹ Chúa Giê-su và Mẹ của chúng ta. Lẽ nào việc liên hệ thiêng liêng với bao vị anh hùng thánh thiện như thế mà lại không đem lại ích lợi cho đời sống nội tâm và cho việc mục vụ của chúng ta sao ?

Nhưng vượt lên trên tất cả các gương lành gương sáng này, điều đối với chúng ta, trong khi đọc thần vụ, là nguồn thánh hóa chúng ta đó là chính đời sống của Chúa Giê-su được phát triển trong suốt năm phụng vụ. Ðời sống nội tâm của ta luôn quy hướng về Chúa Kitô như trọng tâm, bởi vì chúng ta theo Chúa Giê-su trong những niềm vui, những đau khổ và trong vinh quang của Người. Chúng ta múc từ nguồn suối của ơn cứu độ cho đến khi thần vụ vĩnh cửu kết hợp tất cả chúng ta trước tòa Con Chiên.
Ta hãy cảm tạ Chúa Thánh Linh vì ơn Người đã ban cho ta -qua trung gian vị Hiền thê của Chúa Giê-su- khi Người trao vào tay cuốn sách nguyện, cuốn sách luôn đồng hành với chúng ta mỗi ngày.

Vậy ta hãy đọc thần vụ với lòng sốt sắng, nhiệt tình; làm thế nào để Ðấng Cứu Thế có thể nói với chúng ta như xưa Người đã từng nói với thánh Ger-tru-đê:

"Trái tim của con trở thành một nơi cho Ta cư trú tuyệt vời".
Không phải là một gánh nặng mà là một nguồn vui nội tâm.
"Lòng hoan hỷ, vẻ tưng bừng"
(in laetitia et exultatione). (TV.44, 16)

Ðó là các nốt nhạc của cây đàn hạc của David. Ðó cũng là hòa âm của lời kinh thần vụ trong trái tim của một vị linh mục trung thành.

Mỗi ngày, lời kinh mở đầu với những tiếng reo vang:

"Venite, exultemus Domino,
Jubilemus Deo salutari nostro" (TV.94)

(hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,
tung hô Người là núi đá hộ trì ta).

Ðó là niềm vui căn bản của toàn bộ thần vụ: niềm vui nở rộ trong linh hồn của những ai biết mình đang được ở bên Chúa. Ðó là cung điện du dương, hoan lạc mà sách nguyện không bao giờ thiếu vắng, ngay cả vào những ngày buồn sầu hay là những ngày chán nản than van. Khi trái tim ta tràn ngập niềm vui, thì tâm hồn ta lúc đó như được cuốn hút vươn tới những vẻ đẹp tuyệt mỹ và như bay bổng tới sự thánh thiện.

Linh mục cũng cảm thấy mình có nhu cầu mở rộng lòng ra để đón nhận những cái đẹp của sách nguyện. "Một bài ca mới": đó là điều mà mỗi thánh vịnh gợi lên, ngay cả khi ta lặp đi lặp lại đến cả ngàn lần.

"Nào ta hãy bước vào nhà Chúa! Lòng ta reo vui biết bao..."

Các bài trích từ tác phẩm của các Thánh Tiến sĩ của Giáo Hội, mỗi vị có một văn phong riêng. Thánh Léô Cả có một lối trình bày rất trong sáng và oai nghi. Ngài nhận thức được địa vị cao cả của ngài khi rao giảng chân lý Kitô.

Thánh Am-brô-xi-ô trình bày một cách khang trang, với sức mạnh và một sự lưu loát ít ai sánh bằng, ngài cũng trình bày giáo lý cách đơn sơ nhưng lại đầy chất thơ.

admin
11-09-2006, 11:49 AM
Mỗi lần đọc bài của Thánh Am-brô-xi-ô là tôi lại nghe thấy tiếng vang vọng trong trái tim của tôi. Thánh Ghê-go-ri-ô Cả, vị Thánh rất thực tế và cũng rất sâu sắc khi Ngài đưa ra những chỉ dẫn về luân lý. Thánh Bê-đa đáng kính có tư tưởng đơn sơ và rất hay, văn phong trong sáng như pha lê. Thánh Bê-na-đô nâng tâm hồn ta lên trời bằng những tác phẩm huyền nhiệm.

Vào những dịp lễ trọng, các bài thánh thi lại vươn lên thật trang trọng hơn nữa. Ðó là những viên ngọc vô cùng quý giá của nền thi ca thánh thiện. Rồi một khi những lễ trọng đã qua, thì ta lại có những giai điệu du dương của bài "Ave Maris Stella" bay bổng từ lòng ta.

Vậy nào ta hãy mở lòng ta ra cho thật rộng, trái tim của linh mục, mở lòng đón nhận những vẻ đẹp tuyệt vời đó. Bị tràn ngập giữa bao thực tại trần thế, giữa bao lo âu, bao thập giá hằng ngày, tâm hồn linh mục nào mà lại không ao ước thở được bầu khí trong lành của đỉnh cao Ta-bo-rê và hào hứng trước những bài thi ca thánh thiêng?

"Ðó là lời kinh buổi sáng hằng ngày của cha sao?", một người giáo dân một hôm hỏi tôi như thế, sau khi ông đã đọc bản kinh sáng trong sách nguyện và ông rất tâm đắc với sự hăng say sốt sắng mà mỗi người dâng lên Chúa để xin Người dẫn dắt mọi việc làm của mình mỗi ngày.

Nếu mắt ta và lòng ta hướng về những tư tưởng sâu sắc và tốt đẹp như thế thì chắc chắn ta được thúc đẩy mạnh mẽ và xin được nhiều ơn riêng biệt. Ðã có bao nhiêu triệu linh mục tìm được sức mạnh và niềm vui khi đọc sách nguyện, mỗi vị một kiểu, mỗi vị tùy theo năng khiếu và quá trình được huấn luyện, mỗi vị tùy theo ảnh hưởng của những lý do riêng gây nên cho vị linh mục những cảm giác tốt đẹp. Ðó là một sự trợ giúp quý báu, cho phép các vị, nhờ đời sống cầu nguyện mà trở thành nên gương mẫu cho đoàn chiên.

"Thế giới nội tâm" được thành hình nhờ các ơn Chúa và các niềm vui siêu nhiên trở thành nên một thế giới duy nhất có một thực tại lâu bền mà thôi. Một khi ta đã bắt đầu nhìn lên những vẻ đẹp của đời sống cầu nguyện, thì ta càng trở nên tài tình hơn để có thể thưởng thức được những tác phẩm nghệ thuật và để có thể tìm ra được những quan hệ giữa những biến cố của đời sống nội tâm của mình với các dòng tư tưởng của sách nguyện.

Như thế sách nguyện trở thành nên nguồn mạch của sự suy niệm; chính sách nguyện sẽ đem lại sức sống cho các tâm tình xảy ra trong ban ngày. Có vị linh mục nào lại có thể đọc một cách sốt sắng chuyện Thánh Phaolô trở lại mà trong suốt một ngày lại không cảm thấy mình bị ấn tượng bởi biến cố kỳ diệu ấy. Biến cố xảy ra tại cửa thành Da-mát, từ khởi điểm đó mà cuộc sống của vị Tông Ðồ các dân tộc được hoàn toàn đổi hướng mới.
Vậy mỗi ngày ta hay đọc sách nguyện "in laetitia et exultatione" - "Psallite sapienter!"

admin
11-09-2006, 11:52 AM
LÀM SAO ÐỂ ÐỌC SÁCH NGUYỆN MỘT CÁCH CHÚ Ý VÀ SỐT SẮNG

Sau đây, xin giới thiệu mấy cách thực hành :

"Trước khi khấn hứa, con hãy lo dọn mình" (Huấn ca 18, 23)

Vậy "thinh lặng" trong tưởng tượng, hãy để ở ngoài cửa những kích thích vô trật tự, những lo âu da diết và những ấn tượng gây xáo trộn. Bạn hãy chọn một giờ an bình và một nơi yên tĩnh. Thật là một điều tốt nếu ta có thể đọc một phần sách nguyện trước Nhà Tạm, quan tâm đến sự hăng say nhiệt tình của Ðấng làm trung gian đang ngự trị ở đó. Và trước khi đọc mỗi giờ kinh, ta nên có một ý chỉ riêng mà ta dâng lên trước tòa Ðấng Vĩnh Hằng :

- cầu cho giáo xứ,
- cầu cho giới trẻ,
- cầu cho các bạn đồng nghiệp,
- cầu cho việc thừa tác mục vụ của ta,
- cầu cho các xứ truyền giáo,
- cầu cho các Giáo Hội địa phương rải rác khắp thế giới. Ðó là "finem perfectum" (sự kết thúc viên mãn) mà giờ kinh tối có nhắc đến, và ta cũng cầu nguyện cho các ý chỉ khác nữa.

Khi đọc thần vụ, ta cũng nên có những tư tưởng cao vời khác nữa. Ví dụ, cầu nguyện và xin ơn được trở nên người làm trung gian thực sự giữa Thiên Chúa và các ích lợi đời đời của toàn bộ nhân loại. Hãy thân thưa nói với Cha trên trời như cách thế Chúa Kitô đã nói; một mình ta với một mình Chúa, trong sự thinh lặng của ban đêm và trong sự quạnh hiu của núi đồi.

Còn có một quy luật nữa, đó là: luôn dành ưu tiên thời gian cho việc đọc sách nguyện, không để đến cuối ngày mới đọc kinh sáng.

Vấn đề thái độ của thân xác khi đọc thần vụ: ta nên có thái độ xứng đáng. Hãy nhớ đến thái độ của con trẻ Giê-su khi Người cầu nguyện tại Ðền Thờ: không vội vàng. Thỉnh thoảng, sau một đoạn kinh làm ta cảm động, hoặc là sau kinh Lạy Cha, ta hãy nghỉ một chút. Thời gian dừng lại ít phút như thế không làm ta mất giờ mà lại đem lại cho ta một niềm vui nội tâm. Ta cũng nên dừng lại sau những đoạn hay, những đoạn có thể làm đề tài cho bài suy niệm hoặc một tư tưởng làm đề tài cho một bài giảng.
Ðể có thể tiến đến việc đọc sách nguyện một cách sốt sắng, đọc các thánh vịnh cũng như các bài ca - nếu ta không thể dừng lại sau mỗi dòng, thì đây là điều mà tôi có dịp giới thiệu :

1. Nắm vững được ý tưởng chủ yếu của mỗi thánh vịnh và nên nhớ rằng: ý tưởng này thường đã được trình bày ngay trong câu đầu.

2. Nhớ dàn bài. Ta có thể làm điều này mà không phải mệt nhọc gì hoặc mất nhiều thời gian. Ví dụ:
Kinh Lạy Cha và kinh Benedictus có 2 phần,
Thánh vịnh Benedicite có 3 phần,
Kinh Te Deum,
Ðối thoại của Tv "Qui habitat in adjutorio Altissimi",
Thánh vịnh Miserere pha trộn lòng ăn năn sám hối với những tâm tình hy vọng, những tâm tình thờ lạy, những lời quở trách, những lời hứa và những lời an ủi từ bài ca của Mô-sê. Audite caeli: và cứ tiếp tục như thế. Nếu ta nắm được dàn bài thì dàn bài này sẽ trở thành nên như ngôi sao soi đường.

3. Ðiều vô cùng hấp dẫn, đó là cách đọc thánh vịnh và lời vang vọng của các thánh vịnh, các bài dùng trong các đáp ca và các tiền xướng, các câu đối đáp đều giống như người họa sĩ ưa thích trình bày ý tưởng về bức họa của mình và đôi khi ta có thể so sánh lời ca của một buổi lễ trọng như là tiếng vang vọng của các chuông nhà thờ sau các buổi lễ.

4. Sự phân chia các thánh vịnh để đọc trong các ngày khác nhau trong tuần cho phép ta đoán được lý do đã gợi cảm hứng cho vị Hôn Thê của Ðức Kitô, khi chia các Thánh vịnh ra các phần như thế.

Xin tóm lại :

Ta không nên quên rằng lời kinh của vị linh mục, nếu được đọc một cách xứng đáng thì sẽ tìm được đường đến thẳng Trái Tim Chúa, cũng giống như những lời của Ða-ni-en và To-bi-a, để xin ơn giải thoát. Những lời van xin này được tay các thiên thần đưa lên trước tòa Chúa quan phòng. Cũng giống như những lời kinh pha trộn nước mắt của thánh Mo-ni-ca đã trả Âu-tinh lại cho Giáo Hội. Cũng như những lời kinh của thánh Bo-ni-pha-xi-ô cầu nguyện cho nước Ðức ngoại đạo, những lời kinh của thánh Phê-rô Ca-ni-si-ô cầu xin cho quê hương yêu dấu. Những cuộc tranh đấu của Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê để cứu các linh hồn; và những lời kinh thầm lặng của bao linh hồn kết hợp với Chúa đã làm được những phép lạ trở lại đạo. Lời cầu kinh và những lao nhọc trong con người của linh mục - ora et labora -, đó là tinh thần của Thánh Gio-an Vianney, vị Thánh gương mẫu tuyệt vời của tất cả các linh mục.

admin
11-09-2006, 11:55 AM
VI
NHỮNG NHÂN TỐ KHÔNG TƯỞNG ĐƯỢC

Người bình dân thường rất mau lẹ nhận xét được đủ mọi điều ngay cả khi họ không biết là mình làm được thế. Ðó là những điều mà không thể cân lường được, điều mà người ta gọi là "những nhân tố không lường được". Ví dụ, khi có ai đó tuyên bố một điều sai lầm, hoặc tự mãn, tự nhiên người khác cảm thấy rất khó chịu và bất mãn. Ðiều này có hiếm xảy ra chăng? Dĩ nhiên mỗi người đều muốn giữ gìn danh dự cho mình tùy theo địa vị, quyền lực và chức bậc của họ. Tuy nhiên, ngay khi lãnh chức phó tế, ta cần phải đặt ra một giới hạn cho sự lo lắng chính đáng đó. Khi truyền chức, Ðức Giám Mục chủ phong đã khuyên các tân chức sau này hãy thi hành quyền bính một cách khiêm tốn, hành quyền một cách thận trọng. Ðó là lời khuyến cáo cần được quan tâm. Một lời cảnh báo tránh những cách hành xử bất lịch sự .Ví dụ: thật không thích hợp chút nào khi ta khoe khoang, chỉ dù chút xíu, về lòng đạo đức của mình, khoe những công việc của mình, khoe cách mình khéo xử. Một người đạo đức mà lại khoe khoang như thế, thì quả là nơi người ấy không có dấu ấn sự thật.

Ngược lại, cùng là một thói quen không lành mạnh, khi một vị linh mục luôn có trên đôi môi những thú nhận về sự yếu kém của mình. Có một vị linh mục, người nước ngoài, đến xin nhập địa phận của Ðức Cha Henri Faerster, vị tiền nhiệm của tôi. Trong câu chuyện trao đổi, vị linh mục này luôn khoe về những thành tích tác vụ của mình. Sau đó, Ðức Cha Henri đã trả lời vị này:

"Thưa Cha quý mến, xem ra cha nhận xét về bản thân rất cao!"

Vị linh mục thưa:

"Vâng, đúng thế. Ðấy là hồng ân cao quý trong gia đình con; và luôn như thế; những việc mà chúng con không tự ý làm, thì những người khác cũng không ép chúng con làm được".

Vị linh mục này đã không được chấp nhận nhập vào giáo phận của Ðức Cha Henri. Chỉ vì là những "chuyện không lường được" này mà lời xin không được chấp nhận. Vị linh mục nào hay than vì những công việc của mình quá bề bộn, và vất vả, thì vị đó chỉ làm cho người nghe phải mỉm cười. Người đời còn phải làm ăn vất vả hơn ngài gấp bội. Ta cũng không nên có thái độ khoan dung của kẻ cả đối với người lầm đường lạc lối. Làm thế vị linh mục không những không tranh thủ được lòng yêu mến của họ, mà người giáo dân lại càng dễ nhận ra những thiếu sót việc bổn phận của ngài, được giấu kín sau thái độ đó.

Ta không nên tìm để tỏ sự "cả sáng" của mình ra. Ðược người khác tỏ thái độ hoan nghênh những công việc và sáng kiến của ta, đó cũng là điều hay, nhưng ta không nên làm gì để tìm được khen hoặc là cố làm việc bổn phận, vì sợ rằng không làm thế thì ta sẽ không nhận được lời khen ngợi như lòng mong ước.

Sau mỗi Thánh lễ, ta hãy thưa với Chúa:

"Lạy Chúa, không phải cho chúng con mà là để Chúa được hiển danh" (Non nobis, Domine, non nobis, sed nomini tuo da gloriam".

Và rồi, thưa bạn đồng nghiệp, ta phải cẩn thận khi ta chu toàn bổn phận, khi công việc đó đem lại cho ta những lợi nhuận khá lớn, những lợi nhuận này chắc chắn có thể giúp ta nhiều trong việc làm việc lành phúc đức, nhưng chúng cũng có thể thành một tai họa nghiêm trọng đối với bạn. Vậy, nên giữ sự khiêm tốn nhũn nhặn, giản dị, khi ta lãnh nhận công việc và những dịch vụ không mang lại sự tôn vinh nào; ta cũng sẵn sàng vui vẻ chấp nhận làm những công việc danh giá hay ta nghĩ là danh giá.

Hãy nghĩ đến các gương lành gương sáng của ta có sức mạnh thế nào. Một trong những đặc điểm của thời đại chúng ta, đó là người ta coi nhẹ lòng đạo đức; giới trẻ thì kiêu căng khi phát biểu, cũng như trong các thái độ và trong khi xét đoán. Các người trẻ tìm để đứng lên hàng đầu - cho dù họ thiếu suy nghĩ và thiếu kinh nghiệm. Ta thấy có một hố ngăn cách giữa cha mẹ và con cái, giữa các người trẻ và vị linh mục.

Vậy ta có thuốc chữa nào hay để chữa cho thái độ không lành mạnh đó ?
Ðó là gương sáng của ta.

Auctoritas modesta!

Lời của Chúa Giê-su vẫn còn đó: "Ai là người lớn nhất trong các con, hãy thành người đầy tớ của các con" (Mt 23,11). Ta hãy cầu xin cho điều này không chỉ ở trong dự kiến mà là hoàn toàn được đưa ra thực hành.

admin
11-09-2006, 11:58 AM
KHÔNG ÐƯỢC AI BIẾT ÐẾN?
BỊ GẠT XUỐNG HÀNG BÉT?

Ai nấy đều biết, có bao đau khổ sẽ xảy ra nếu ta bị khinh rẻ, cho dù chỉ trong tưởng tượng! Và điều này lại gia tăng gấp đôi nếu ta lại phải sống trong cô đơn và như thế ta bị bó buộc ôm sự khổ tâm này riêng cho một mình ta. Vậy, ngay từ đầu ta nên có một số tư tưởng cao quý, một số nguyên tắc cao thượng, để làm như một hàng rào bất khả xâm phạm quanh ta. Và sau đây là một vài chỉ dẫn có thể giúp ta đạt được điều này:

Luôn nhớ tư tưởng sau đây:

1/ "Làm theo ý Chúa!". Không màng được ai hoan nghênh, cho dù chỉ một chút, nếu điều đó không phù hợp với ý Chúa muốn.

2/ Ai được quý trọng hơn ta, ta không coi rẻ họ, cả trong tư tưởng và trong các phản ứng khác. Những tư tưởng như thế tỏ ra ta chỉ là người có tính tình hèn kém.

3/ Năng nhắc đi nhắc lại cho bản thân: chẳng mấy lúc Thiên Chúa sẽ sắp xếp mọi sự đâu vào đó. Chúa sẽ đền bù cho những sự thiệt thòi đó.

4/ Không nên quên rằng: những sự bị hạ nhục đó là điều cần thiết để nhờ đó ta nên người hoàn thiện. "Hãy mua lấy cho bạn vàng đã được thử lửa" (Kh 3,18)

5/ Trong trường hợp đó, ta nên có thái độ khiêm tốn dễ thương. Ðó chính là một trong những đặc trưng cao quý nhất của tính khí. Ngược lại, một vẻ mặt cau có, hoặc những thái độ gay gắt chỉ làm cho người khác thêm ác cảm với ta thôi.

6/ Những lúc như thế, ta nên suy nghĩ về lời Tin Mừng: "Không một sợi tóc trên đầu các con rơi xuống mà không có ý của Cha trên trời" (Lc 21,18). Vậy ta nên đặt trọn niềm tín thác vào những con đường bí nhiệm của Chúa quan phòng. Làm thế, ta được niềm vui và đời sống nội tâm của ta được che chở.

7/ Một tư tưởng sau cùng: không bao giờ Chúa Giê-su đã cao cả cho bằng lúc người bị người ta tới tấp khạc nhổ vào mặt Người. Sau vụ việc như thế, liệu ta dám có những tâm tình tầm thường đó nữa không?

8/ Khi bước vào đời sau, ta sẽ không nuối tiếc vì đã không tránh né một chuyện nhục nhỏ bé nhất mà Chúa đã dành cho ta như một điều tốt lành cho ta. Lúc đó ta sẽ chứng kiến các giá trị được thay đổi như thế nào.

***

Có một câu chuyện vui mà mỗi lần tôi nghĩ tới thì tự nhiên mỉm cười.

Ðó là chuyện của một phụ nữ thôn dã. Một hôm chị ta đến phàn nàn với tôi về chuyện cậu con trai của chị bị phạt oan, vì tội là chú bé này đã phá hoại các trái táo khi đi trên đường. Chị ta nói:

"Con đã nói với Fritz : là con không phải thi hành hình phạt mà Cha xứ đã phạt con. Con làm như thế có phải không ạ?"

Tôi trả lời:

"Không đâu chị ạ, bé Fritz, con chị nên tập chịu đựng bất công từ khi cháu còn nhỏ; nếu không, sau này cháu sẽ trở thành một người xấc láo, bướng bỉnh và cháu sẽ không thành công trong cuộc đời.

Chị hãy an ủi con của chị và khuyên cháu hãy vâng lời: cháu phải nhận chịu hình phạt mà không phản đối gì cả".

Người phụ nữ này suy nghĩ một lát, rồi nói lời cảm ơn tôi vì lời khuyên đó. Những người lớn, có lẽ, cũng có thể nhận ở đây một vài điều bổ ích.

Đamien
12-09-2006, 09:51 AM
VÀO NHỮNG NGÀY BUỒN KHỔ

Ðối với đại đa số con người, luôn có được một tâm hồn tràn ngập ánh nắng, quả là một điều khó; và nếu có được thế thì có lẽ cũng không luôn là điều tốt. Ngôn sứ Ê-li-a, người đã có một sự nhiệt tình vô bờ và một sự can đảm vô song, khi phải chiến đấu cho Jé-ho-va: chính vị ngôn sứ này cũng đã cảm thấy buồn chán và thất vọng khi thấy mình bị thất bại nhiều lần.

"Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi!" (Sách 1 V: 19, 4)

Ðây quả là những giây phút buồn khổ, nhưng rồi thiên thần đã gọi ông và bảo: "Hãy đứng dậy! Con đường phải đi còn dài!"

Và lúc đó đã nổi lên một cơn gió mạnh làm rung động núi non, rồi tiếp đến có động đất và sau đó một đám cháy lớn bốc lên. Nhưng Thiên Chúa đã không có ở nơi những cái đó. Và một cơn bão táp đã nổi lên trong tâm hồn của vị ngôn sứ! Sau đám cháy, liệu có một làn gió nhẹ đem lại cho ông một sự êm dịu, sự tốt lành và quyền lực của Thiên Chúa? Khi Thiên Chúa đến gần, ông có thái độ trân trọng, ông lấy áo choàng che đầu. Và trong cơn gió nhẹ , Thiên Chúa đã ngỏ lời với ông.

Ðây không phải là một bài học quý giá đối với chúng ta trong những giờ phút đau khổ, xót xa đó sao? Nhiều khi những điều làm tim ta xao xuyến thì chẳng có chi quan trọng cả: ta cảm thấy khô khan nhạt nhẽo khi cầu nguyện, chán ngấy khi ngày nào cũng phải làm việc đều đều như ngày nấy..., một thất bại, những lo âu tưởng tượng - không có một người bạn có thiện cảm - ý bề ngoài làm ta không hài lòng - dốc lòng hoài mà chẳng giữ được... Tất cả những điều này có tác động giống như những đám mây đen bao phủ bầu trời của ta. Chính những lúc như thế thì bằng mọi giá, ta phải duy trì sự bình an của tâm hồn.

Khi có sương mù dày đặc bao phủ, thì người thủy thủ tiến chầm chậm. Ta cũng nên bắt chước và hành xử như vậy. Ai làm như thế thì cho dù tâm hồn đang bị buồn sầu, cũng có khả năng đem lại can đảm cho người khác, và cũng sẽ thấy được một luồng can đảm chiếu trên bản thân.

Một hôm, tại bệnh viện Thánh Bê-na-đô ở Hildesheim, tôi đến bên cạnh giường của một bà mẹ gia đình. Bà đã phải phẫu thuật ba lần. Bà nói với các con bà:

"Chỉ cần một lần phẫu thuật nữa là mẹ sẽ khỏi và sẽ về với các con. Lần phẫu thuật cuối cùng này xong rồi thì không cần phẫu thuật nữa đâu".

"Thưa mẹ, mẹ quả có tin là lần này mẹ được khỏe lại hẳn không?", người con cả hỏi bà chỉ ít giờ trước khi bà qua đời.

"Ô, không", bà trả lời, "mẹ biết là mẹ sắp ra đi rồi nhưng mẹ muốn cho các con can đảm lên, mẹ không muốn cho các con phải đau buồn vì mẹ. Chính vì thế mà mẹ nói là rồi đây mẹ sẽ khỏe lại". Bà mẹ thật can đảm và anh hùng !
</O:p
Xin thêm một ý, thưa các bạn. Ta hãy nhìn xuống bên dưới ta, nơi những người nghèo khổ, những người nghèo khổ nhất, nơi những người đang túng thiếu, lâm cảnh cùng khổ, những người bệnh nhân không hy vọng bình phục. Ta hãy kết hợp mật thiết với họ, trong một cảm tình chia sẻ đau thương, tỏ lòng trắc ẩn với dân chúng. Lúc đó Thiên Chúa sẽ cảm thông với số phận của các bạn và các bạn không còn phải than phiền về những ngày buồn khổ nữa. Ta hãy nhớ lời tâm sự của Vị Linh Mục Tối Cao với các bạn thân thiết của mình: "Linh hồn Thầy buồn đến chết được!" (Mc 14,34)

Nếu ta muốn từ chối không chia sẻ chén đắng với Vị Linh Mục Tối Cao thì ta không phải là linh mục đích thực. Ôi ! cuộc sống của vị linh mục, cuộc sống này cao cả biết bao giữa muôn vàn hi sinh lớn nhỏ! Quả là một trường huấn luyện nội tâm, trường luyện tập tâm lý! Và nhờ vào sự kiên nhẫn thầm lặng mà đời sống của linh mục đem lại biết bao an bình.




XI-MON - NGƯỜI KY-RÊ-NÊ

Ði theo con đường khiêm nhu nhã nhặn, giản dị, chắc chắn là ta đang tập luyện một nhân đức cao cả, ta tìm được an bình và sắm cho mình một sức mạnh chinh phục. Nhưng có những trường hợp làm cho ta mất mặt nghiêm trọng, và lúc đó ta một sự làm chủ được chính bản thân cao độ. Chính vì thế mà tôi muốn cùng các bạn xem xét cái ngày mà sẽ làm cho tất cả chúng ta bình đẳng. Tôi muốn nói đến ngày phán xét chung. Chính Ðấng Mê-si-a đã mô tả ngày tính sổ bằng những hình ảnh hết sức sống động, đầy kịch tính: nào là những tai ương kinh khủng xảy đến trong thiên nhiên, nào là những vụ động đất dữ dội trên mặt đất cũng như trên các vì sao; các dân tộc kêu cứu thảm thiết, và lúc đó "dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên bầu trời và họ sẽ thấy Con Người xuống trên đám mây đầy quyền lực và oai phong" (Mt 24, 30).

Tất cả mọi người, từ đứa trẻ nằm trong nôi đến người nằm trong mộ, những người đã theo gót Thánh Giá - lúc đó họ sẽ vui mừng nhìn lên cây thánh giá.

Bài ca thập giá lúc đó sẽ nhường chỗ cho bài ca phục sinh, lúc mà bao triệu người sẽ đón chào thánh giá. Tôi như nghe thấy một người trong nhóm kêu lên: "Ôi thánh giá yêu mến của tôi! Thánh giá mà tôi đã vác trên đường tới Gol-go-tha!"

Và những người đứng chung quanh vị đó bỡ ngỡ hỏi vị đó: "Ông là ai vậy? Bởi vì chính Ðức Giê-su mới là người vác thập giá trên đường tới Gol-go-tha, đâu phải là ông!"

"Thưa, tôi là Ky-rê-nê đây. Tôi đã được hạnh phúc mang thánh giá giùm cho Ðấng Cứu Thế trên con đường đẫm máu đó; thánh giá đó cũng bằng thánh giá của tôi đấy chứ!".

Lúc đó, tâm hồn của Xi-mon được tràn đầy niềm vui và được một sự tri ân vô bờ. Lúc đó, mọi người đều đưa mắt nhìn ông với lòng tôn trọng.

Thánh Mát-thêu kể: "Ðang đi ra, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Xi-mon, chúng bắt ông vác Thập Giá của Người" (Mt 27, 32).

Vậy, các bạn hãy để ý suy nghĩ về chuyện này: người nào mang trên mình dụng cụ của hình phạt một kẻ tội ác phải mang quả là một điều sỉ nhục cho người ấy. Nhưng đến ngày phán xét, trong ngày mà mọi việc đều có giá trị, Xi-mon sẽ vui mừng kêu lên: "Không, cái ngày Gol-go-tha đó đã là ngày vinh quang nhất của tôi!"

Ta hãy nghĩ đến chuyện này khi ta bị hạ nhục, khi ta bị khốn khổ. Xi-mon là người đi đầu trong số những người, xuyên qua các thời đại, đã đi theo chân Chúa Giê-su và đã cảm nghiệm được sức nặng của cây thánh giá, nhưng họ cũng đã nếm được sự dịu hiền êm ái và cảm nghiệm được sức mạnh thoát ra từ cây thánh giá: quả là cuộc chiến thắng thật sự của Ðấng vừa là Người vừa là Thiên Chúa. Vị mà tất cả họ đã đi theo. Ðó là ý kiến của một trong những người đã đi sâu vào cuộc sống của Ðức Giê-su.

Đamien
12-09-2006, 09:55 AM
NHỮNG TƯ TƯỞNG LẦM LẠC CHĂNG?

Ngày 18-12-1919, ngày mà Ðức Giáo Hoàng Beneđitô XV trao mũ đỏ cho tôi, ngày đó đối với tôi, chắc chắn đã là một ngày thật vinh dự.

Những ai đã có dịp dự buổi lễ như thế tại nhà nguyện Six-ti-na, chắc sẽ không bao giờ quên được ấn tượng của buổi lễ và những cảm giác mà người đó đã cảm nghiệm được. Ca đoàn hát, hai bên là hai hàng các Hồng Y bạn và các đại sứ của nhiều quốc gia. Chúng tôi từ từ tiến về phía ngai của Ðức Thánh Cha, đặt ngay dưới bức danh họa của Michel Angelo Khi đến lượt tôi lãnh mũ đỏ - thực sự nghi lễ này không phải xa lạ gì đối với tôi - vì hồi tôi còn là linh mục, tôi đã được thấy rồi. Vậy lúc này, lúc mà nghi lễ hoành tráng và cao cả nhất này được đem ra so sánh với giây phút mà linh hồn của một em bé nhỏ nhất hay là của một kẻ ăn xin rốt hết được vào thiên đàng. Và khi chiều về, lúc tôi chỉ còn ở lại một mình trong phòng, tại nhà trọ Anima, tự nhiên tôi nghĩ đến bức họa của Fhrich, bức tranh mà nhà nghệ sĩ đã vẽ một bộ xương, đang cầm một cái chổi thật lớn và đang quét gọn lại một đống rác gồm: nào là triều thiên, nào là gươm trượng, nào là huy chương. Rồi tôi thả mình theo dòng tư tưởng. Tôi thấy trong tư tưởng, bà hoàng Ischtar khi vừa tắt thở đã bước qua ngưỡng cửa hỏa ngục.

Bóng của vị công chúa này tỏ hiện khi công chúa bước vào vương quốc của sự chết trên mình mặc đầy xiêm áo hoàng gia. Và chuyện xảy ra như sau: khi bà vừa bước qua cửa thứ nhất, người bảo vệ đã tháo mũ triều thiên của bà ra; đến cửa thứ hai người ta tháo bông tai của bà, đến cửa thứ ba vàng vòng hạt ngọc của bà. Rồi sau đó, bà phải gỡ bỏ tất cả các đồ trang sức. Rồi khi đến cửa cuối cùng, bà phải trút bỏ cả những gì mà bà cho là của riêng bà. Và như thế, khi bước vào, bà đã bị lột hết tất cả và bà trở thành người rất nghèo nàn.

Tất cả những vinh dự mà tôi lãnh nhận được trong ngày đó đối với tôi, quả không có giá trị bao nhiêu! Nhưng, vào lúc này, bút tôi dừng lại, và tôi có cảm giác là tôi đang lạc vào những tư tưởng như thế.

Tâu Ðức Thánh Cha Bênêđitô XV, xin Ðức Thánh Cha tha thứ cho con kiểu đánh giá này. Không phải địa vị và danh dự mà con đã lãnh nhận, con không dám coi rẻ đâu, nhưng thực ra, nó bao gồm vẻ long trọng bề ngoài và chóng qua đó; dưới ánh sáng vĩnh cửu những giá trị đích thực nằm ở chỗ khác.

Chính Ðức Thánh Cha trong ngày Ngài đăng quang đội triều thiên, Ngài cũng đã để cho vị phó tế ba lần đốt một ít mụn xơ, lúc Ngài ngồi vào ngai tòa, và vị phó tế đó mỗi lần đốt là lặp đi lặp lại cho Ðức Thánh Cha:

"Tâu Cha đáng kính, vinh quang của thế gian này cũng qua đi như thế!"

Không, thực ra con đã không bị lầm lẫn trong khi suy nghĩ như thế.

Đamien
12-09-2006, 10:04 AM
VII

BẢO VỆ VIÊN ĐÁ QUÝ
<?xml:namespace prefix = v ns = "urn:schemas-microsoft-com:vml" /><v:shape id=_x0000_s1040 style="MARGIN-TOP: 13.9pt; Z-INDEX: 8; LEFT: 0px; MARGIN-LEFT: 1in; WIDTH: 171pt; POSITION: absolute; HEIGHT: 19.5pt; TEXT-ALIGN: left" type="#_x0000_t136" coordsize="21600,21600" fillcolor="black" stroked="f"><v:shadow color="#b2b2b2" opacity="52429f" offset="3pt"></v:shadow><v:textpath style="FONT-WEIGHT: bold; FONT-SIZE: 14pt; FONT-FAMILY: 'VNI-Avo'; v-text-kern: t" fitpath="t" trim="t" string='"BẢO VỆ VIÊN ÐÁ QUÝ"'></v:textpath></v:shape>
<O:p

Ðó là kiểu nói thi ca mà một số tác giả các sách thiêng liêng dùng để ca tụng bậc độc thân trong Giáo Hội.

Các tác giả đó trình bày bậc đồng trinh như là:

· Bằng chứng tuyệt hảo của các sức lực thiêng liêng mà đời sống thiêng liêng mang lại;

· Hoa trái của sự trong sạch của tâm hồn thân xác vị linh mục, người mỗi ngày được tiếp xúc thân mật với Mình và Máu của Người Con, Người đó có một Mẹ trinh khiết hơn tất cả các trinh nữ.

· Sự phối hợp thần bí huyền nhiệm mà vị tân chức giao ước với Giáo Hội, Hiền thê trinh khiết của Chúa Giê-su,

· Tấm gương sáng chói nhất và bài giảng hùng mạnh nhất được trao ban cho Giáo Hội - lúc mà đang bị nguy hiểm của các thú vui nhục dục đe dọa.

· Sự chúc phúc được liên kết với chức linh mục mà không có một quan hệ xác thịt nào với bất cứ một thụ tạo nào tại trần gian này. Nhưng lại có thể cống hiến mọi giây phút, mọi sức lực cho tác vụ tông đồ của mình.
<O:p</O:p
Tất cả những điều trên đây là một bài ca tụng vinh quang của Giáo Hội, người thông qua một sự cao cả táo bạo, đã dám đòi hỏi các linh mục của mình phải sống bậc độc thân nghiêm chỉnh - bất chấp sự yếu đuối của con người.

Tất cả những điều trên đây đều phản ánh những tư tưởng sáng chói mà Giáo Hội đã đặt vào trong trái tim của các tiến chức, để các vị có một lòng tôn trọng và yêu mến chân thành bậc độc thân, và để cho tất cả mọi người đánh giá đúng giá trị của kho tàng đó.

Tuy nhiên, Giáo Hội cũng không quên đưa ra những lời khuyến cáo rất nghiêm túc. Giáo Hội luôn nhắc nhở cho các tiến chức vai trò quan trọng của gương sáng mà các vị phải nên, nếu không thì lời hay ý đẹp của các vị không gây được ảnh hưởng tốt nào trong trái tim của giáo dân. Coelestis vitae formam praebeatis. - Lucete sicut luminaria in mundo. - Estote nitidi, mundi, puri, casti, sicut decet ministros Christi: như thế Giáo Hội đã sử dụng rất nhiều từ để buộc các tiến chức phải có sự trong trắng trong đời sống luân lý.

Ðấng Cứu Thế cũng đã báo trước cho các tông đồ về việc ma quỷ sẽ sàng các ông như sàng gạo.

Ma quỷ nhiều khi mặc áo sáng chói để lôi cuốn những tu sĩ vô ý vì bất cẩn mà vướng vào những quan hệ thiếu khôn ngoan, làm những việc bề ngoài xem ra không sao, nhưng cuối cùng thì lại làm hư sự, như khi ai đó đặt chân trên đường dễ trượt hoặc trên một tảng đá không vững, hoặc một lỗ hổng mà trên mặt bị phủ kín.

Thật là một cảnh tượng buồn thảm biết bao khi ta thấy một người giáo dân hoặc một linh mục lỡ bước quan trọng, có ảnh hưởng tới đời sống nội tâm của mình và vụ việc này không còn cho phép vị đó sống vui tươi thoải mái suốt cuộc đời còn lại. Rồi thêm vào gương mù trên đây, đến lượt những kẻ thù đã sẵn có lòng thù ghét, lại làm cho mọi việc rối tung lên. Thế là tất cả những trái tim trung thành lại phải một mẻ buồn lai láng.

Gương mù gương xấu gây nên bởi những người lãnh đạo dân chúng, các bậc thầy, các linh mục, đó không phải là chén đắng mà Chúa Cứu Thế phải uống cạn đó sao? Lúc đó, Chúa đã hỏi các môn đệ: chén mà Thầy sẽ uống, liệu các con có uống nổi không? Cái phần đắng cay nhất của chén này - bên cạnh những thử thách và những khổ đau bên ngoài - lại không phải là nỗi đau luân lý mà các ngài gánh chịu trước những gương mù đó sao? Những người lẽ ra phải soi sáng dẫn dắt dân chúng thì chính các ngài lại gây ra những gương mù đó.

Vậy, ta hãy giữ gìn bảo vệ cẩn thận viên đá quý đó !

Hạnh phúc thay vị linh mục nào suốt cuộc đời mình, luôn giữ trong trắng chiếc áo alba mà ngài đã lãnh nhận trong ngày lãnh chức phụ tá phó tế. Ngài có thể ca hát trong niềm tín thác và lòng yêu mến, bài thánh thi mà các môi miệng thiên thần đã ca lên trong mọi thời đại, để ca tụng sự trong sạch của các trinh nữ.

Vậy ta hãy nhìn vào mầu nhiệm này và làm thế nào để nó có được âm vang trong trái tim của chúng ta.

Chính Ðức Kitô đã bảo đảm cho ta là: Họ sẽ trở nên giống như các thiên thần.

Đamien
13-09-2006, 10:05 AM
HỌ SẼ NÊN GIỐNG NHƯ CÁC THIÊN THẦN

Những so sánh vay mượn những sự ở trần gian này không đủ sức để tỏ lộ xứng đáng sự cao cả và chức bậc của sự trinh khiết tinh tuyền. Sự thực hành nhân đức này nâng con người lên một bình diện cao quý hơn: nó đưa con người nên giống các thiên thần trên trời. Nói thế, có phải là quá đáng không ?

Không - không quá đáng chút nào và cũng không hàm hồ, vì chính Ðấng Cứu Thế đã khẳng định :

"Khi con người sống lại, họ sẽ nên giống các thiên thần, vì lúc đó người đàn ông không cưới vợ, và người đàn bà không lấy chồng nữa". (Mt 22, 30)

Tuy nhiên, không phải về thể xác, mà người đồng trinh được nên giống thiên thần đâu, nhưng chính là sự tự nguyện dâng hiến bên trong. Ðó chính là khi ta từ bỏ hôn nhân "vì nước trời" (Mt 19,12) để chỉ còn nghĩ đến Chúa và những điều đẹp lòng Chúa (1<SUP> </SUP>Cr: 7,32), để tận hiến bản thân cho Chúa (1 Cr: 7,33) để chỉ còn nghĩ đến việc thánh thiện trong thân xác và trong tâm hồn (1<SUP> </SUP>Cr: 7, 34).

Những linh hồn giống các thiên thần là như thế. Vị Tông Ðồ các quốc gia, Thánh Phaolô đã khẳng định như thế. Ngài treo gương sáng ngời của sự tận hiến vì tình yêu, và vì thế, Ngài đã được đặc ân ngay khi còn ở dưới đất này là được đem lên tầng trời thứ ba.

Lu-y Gon-za-ga được Giáo Hội tặng cho tước hiệu "người thanh niên giống thiên thần". Còn Thánh Gio-an Kim Khẩu, đã khéo phát biểu khi so sánh như sau: cho dù những ai sống tại trần gian này mà không bị ràng buộc bởi các dây hôn nhân, tự bản tính, là thua kém các thiên thần, tuy nhiên, các vị đó lại được vinh quang hơn các ngài (các thiên thần); bởi lẽ, bất chấp những dây ràng buộc của thế gian này, các vị đó chỉ sống cho những sự trên trời; sự an ủi của các ngài là ngay từ đời này, đã được ở bên cạnh Vị Vua trên trời cùng với sự trong trắng của linh hồn và của thân xác

Đamien
13-09-2006, 10:08 AM
VỀ LỄ THÁNH LU-Y GON-ZA-GA

Thật là điều tốt lành biết bao khi vị linh mục có được đặc ân là được mời gọi đi theo con đường ấy, và cũng vì thế mà giáo dân đòi hỏi các ngài trong các hành động của mình phải nên giống các thiên thần. "Ngài không được đi theo con đường bình thường và chung chung cho mọi người, trái lại ngài phải bước đi trên mặt đất này, cùng đồng hành với các thiên thần và các người hoàn hảo". ("Theo Gương Chúa Giê-su" 4, 5).

Fr Angelico đã vẽ một bức họa mang tên: " Ngày phán xét chung" - Khi những người đã được cho sống lại tới thiên đàng, thì có một thiên thần bản mệnh đồng hành với người mà thiên thần ấy đã coi sóc tại trần gian này. Hai bên nhìn nhau, trong một niềm vui khôn tả. Trong ánh mắt của thiên thần, tôi đọc thấy tư tưởng này: "Từ nay, con đã được nên giống như các thiên thần và được cùng xum họp với chúng ta trong cõi vĩnh hằng"; và trong ánh mắt của Người được phục sinh, tôi đọc được như sau: "Ôi! con phải biết ơn biết bao thiên thần bản mệnh tốt lành của con, vì người đã luôn giúp đỡ con trong suốt cuộc đời ở trần gian này". Erunt sicut angeli!

</O:p
SỰ KÍN ÐÁO: ÐẶC ÐIỂM CỦA VỊ LINH MỤC

Về vấn đề giáo dục tính dục, các bậc cha mẹ, các linh mục, các nhà giáo dục có bổn phận phải tỏ ra kính trọng đối với tất cả những gì có liên quan đến các vấn đề tính dục. Và bổn phận này lại đặc biệt nặng nề đối với linh mục. Lý do là vì đời sống nội tâm ngài phải đòi hỏi điều đó. Ta phải tỏ ra kính trọng đối với tất cả những gì có liên quan đến việc sinh sản, bí mật của sự sống đang hình thành, những sức lực quý giá mà bản tính con người chứa đựng, và những nguồn mạch của nam tính vì tất cả những điều này làm thành một bổn phận đối với chính sự kính trọng thân xác của ta. Sự tôn kính kín đáo mà ta phải có đối với các sức mạnh và bản năng của thân xác ta đều góp phần đem lại sự bình thản cho tâm hồn, một sự bình tĩnh đặc biệt để duy trì đời sống nội tâm khỏi bị gián đoạn làm mất sự hài hòa .

Ðiều này đúng với bất cứ ai, nhưng đặc biệt là đúng với linh mục - vì bậc sống độc thân đã được mời gọi giữ đức đồng trinh, một nhân đức đòi buộc ngài phải giữ một cách nghiêm túc. Sự kính trọng sâu xa này trở thành phương tiện tốt nhất để giúp tránh được những xáo trộn nội tâm làm cho linh hồn phải hoảng sợ do những cuộc tấn công của sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng bừa bãi có thể làm cho thêm trầm trọng, và điều này có thể đưa đến sự mất cân bằng trong một số trường hợp.

Các nhà tâm lý học đầy kinh nghiệm thường đưa ra ý kiến là: sự thinh lặng không đề cập đến các vấn đề tính dục thì thích hợp hơn là nói về những điều ấy, nhất là trong thời đại chúng ta, lúc mà người ta dễ dàng bàn luận về vấn đề này nơi công chúng.

Thật cũng là một điều tốt nếu ta giữ sự yên lặng đó trong sâu lắng của đền thờ tâm hồn: sự thinh lặng trong thế giới các tư tưởng vì sự kính trọng đối với chính chúng ta và đối với mầu nhiệm thần thiêng của việc sinh sản.

Ðối với những tâm trạng đó, ta còn phải tỏ ra tôn trọng bằng những lời nói và những việc làm có liên quan đến tính dục. Vị linh mục lại càng có bổn phận phải duy trì sự tôn trọng đó, điều mà ngày nay báo chí, các phương tiện truyền thông đã làm tổn thương rất nhiều về phương diện công luận - và cũng vì báo chí bất thân thiện với Giáo Hội - nên luôn gieo rắc sự nghi ngờ để gây chia rẽ giữa linh mục và giáo dân.

Ngoài ra, người công giáo lại muốn nhìn thấy linh mục của mình luôn tránh được những vết nhơ trong các hành động của mình: ngài phải trong trắng vì miệng ngài loan truyền những chân lý của các luật lệ đời đời; ngài phải trong trắng vì ngài đứng trên bàn thờ, nâng Con Chiên vẹn sạch, không tỳ ố trên đôi tay; ngài phải trong trắng vì đã được trao phó cho những bí nhiệm của đời sống thiêng liêng trong Bí Tích Hòa Giải.

Tất cả những điểm này tỏ ra cho thấy bổn phận nghiêm ngặt buộc vị linh mục phải tránh, ngay cả những gì xem ra như là một vết nhơ trong trí tưởng tượng của mình, hoặc một sự thiếu sót trong việc tỏ ra lòng trân trọng tự nhiên và siêu nhiên đối với những bí nhiệm của bản tính con người.

Vậy hãy luôn tỏ ra dè dặt, đầy kính trọng trong các quan hệ với mọi người và đặc biệt là đối với giới trẻ. Reverentia puero! Phải kính trọng trẻ em. Như thế ta mới gây được tín nhiệm đối với giới trẻ và trở thành gương mẫu cho người trẻ.
</O:p

Đamien
13-09-2006, 10:10 AM
NGHĨ TỚI NÚI TABORÊ VÀ NIỀM VUI NÚI TABORÊ ÐEM LẠI


Chúa Kitô đã nhìn thấy trước những cuộc chiến đấu và các hiểm nguy sẽ đe dọa các Tông Ðồ trong đời sống nội tâm của các ông, nên Chúa đã muốn cho các ông được chứng kiến những biến cố và những chân lý mà sau này khi nhớ lại, những điều đó sẽ giúp các ông đi đúng đường và đúng hướng để đạt tới đích, cho dù các ông có bị tấn công hoặc sẽ phải chịu những cảm giác khó chịu. Có biết bao cảm giác không thể xóa nhòa khi các ông đã chứng kiến biến cố La-gia-rô được Chúa cho sống lại, khi Phêrô đi trên nước và bàn tay Chúa đã nâng đỡ ông - khi các ông đã được mặc khải cho rất nhiều điều vào buổi chiều của bữa ăn tối sau hết ấy !

Biến cố Chúa hiển dung tại Ta-bo-rê cũng thuộc hạng biến cố này: 10 năm sau, các Tông Ðồ cũng còn cảm nghiệm được cảm giác không bao giờ quên ấy, cảm giác mà biến cố các ông đã được chứng kiến, mắt thấy tai nghe trên Núi Thánh đã ghi dấu ấn vào sâu lắng tâm hồn các ông. (Ga.1,14; 2 Pr. 1:16 - 18). Biến cố Ta-bo-rê và âm vang của biến cố này quả là một lời cảnh cáo quý giá cho chúng ta.

Trong chúng ta, ai lại đã không đôi khi phải chiến đấu ác liệt để có thể trung thành với bổn phận và trách nhiệm quan trọng; điều mà đôi khi vượt trên sức con người. Ðó là điều xảy ra khi luật của xác thịt nổi lên tranh đấu với luật của tinh thần, và khi nào ta không canh chừng, thì nguy hiểm sẽ lẻn vào môi trường xung quanh ta hoặc là khi một người lẽ ra phải làm gương sáng cho ta, thì ngược lại, người đó quay ra đưa ta vào đường tội lỗi.

Vậy ai là người đem lại sự an bình cho trái tim của ta, trong những giờ phút bão táp đó? Ai đem lại sự trong sáng trong khi ta bị các đám mây đen tối bao phủ; ai đem lại cho ta sức mạnh để chống lại ảnh hưởng của những lo âu? Ai sẽ cho ta nghị lực cần thiết để chống lại những tấn công của xác thịt?

Có một phương tiện hữu hiệu để ngăn chặn đường của các cơn cám dỗ, đó là: sự trung thành với việc suy niệm hằng ngày.

Vậy, mỗi ngày ta hãy chọn một khoảnh khắc yên tĩnh để đứng trên đỉnh cao của Ta-bo-rê. Và ta hãy lắng tai nghe tiếng nói đến từ những miền cao thẳm. Ta hãy để lại trong tâm hồn ta sức mạnh của những tư tưởng và các điều dốc lòng quyết tâm ấy.

Ta hãy thưởng thức niềm vui và sự bình an mà Thầy Chí Thánh đã hứa lúc Người từ giã trần gian này :

"Thầy ban bình an của Thầy cho các con".

"Niềm vui của Thầy sẽ ở trong các con".

Vậy ta cố hãy học để cầu nguyện với tất cả sự sốt sắng mà một trái tim con người có thể làm được. Rồi hãy có lòng tín thác: nếu ban ngày ta gặp thử thách thì sức mạnh ơn Chúa được trao ban cho ta trong giờ nguyện ngắm ban sáng -và có thể điều này, có lẽ ta cũng không ý thức được ngay- ơn đó sẽ che chở ta như khiên thuẫn của một thiên thần.

Một bạn đồng nghiệp đến than phiền với ta vì: bạn đó đang phải chịu những trận chiến nội tâm và nhiều khi bị té ngã, thì ta hãy hỏi bạn ấy xem liệu bạn ấy có nguyện ngắm mỗi buổi sáng không ?

Nếu bạn đó tỏ ra hơi lúng túng, hoặc làm thinh, hoặc trả lời vu vơ, hoặc đánh trống lảng, thì bạn chẳng khó khăn gì mà không tìm ra được lý do mất sự bình an nội tâm của bạn ấy.

Kho tàng các tư tưởng cao quý và đánh giá các sự việc đời này cách siêu nhiên là điều tuyệt đối cần cho chúng ta, vì chúng ta mỗi ngày phải làm sáng ra chung quanh ta ánh sáng của nhân đức cao vời nhất.

Chính sự nguyện ngắm sẽ làm cho những khuynh hướng xấu xa mất đi vẻ hấp dẫn không còn lôi kéo chúng ta được nữa.

Và sau đây, xin kể tiếp ích lợi cuối cùng của sự nguyện ngắm: chính việc nguyện ngắm giúp ta cố gắng tập những nhân đức cốt yếu, những nhân đức này chủ yếu là đối tượng của sự ta xét mình, sự vô tư, lòng yêu mến tha nhân, khoan dung với mọi người, trung thành trong những việc nhỏ mọn, sự chăm việc, sự tận tâm, sự sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Người nào đặt những nhân đức đó lên hàng đầu các đề tài để nguyện ngắm thì người ấy đã làm cho những tư tưởng thầm kín của mình tránh xa được những cảm giác xấu xa đến từ lãnh vực các giác quan (domaine des sens). Chớ gì được như thế. Linh hồn ta quả là một đền thánh nơi đó các tư tưởng và các niềm vui của Ta-bo-rê ngự trị. Và nhờ ta, mà những cảm tình và sự an bình của Ta-bo-rê sẽ chuyển đến nơi những người mà ta phải dẫn họ đến nếm niềm vui của Ta-bo-rê vĩnh cửu. "Sursum corda"! (Hãy nâng tâm hồn lên!)

"Tiếng nói đó đến từ trời cao, chúng tôi đã nghe thấy rồi khi chúng tôi đã ở với Người trên núi Thánh" (2<SUP> </SUP>Pr: 1,18). Thánh Phê-rô đã viết như thế. Nhưng, cả chúng ta, chúng ta cũng được mời leo lên núi Thánh, mỗi năm một lần, vào dịp tĩnh tâm năm. Chính tại đó mà ta tỏ ra trung thành với việc nguyện ngắm hằng ngày. Khi chúng ta từ núi thánh đi xuống thì những ơn đã nhận được trong những ngày hạnh phúc đó luôn bao bọc chúng ta và sẽ không bao giờ rời bỏ chúng ta.

Đamien
13-09-2006, 10:16 AM
NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ "SÁCH ÁNH SÁNG" VÀ " SÁCH BÓNG TỐI"

Nếu không có lý do nào đặc biệt và khi không có nhu cầu, thì ta không nên đề cập đến cuộc đấu tranh giữa xác thịt và tinh thần. Nhưng khi cần, ta có thể làm điều này một cách đơn giản và thẳng thắn, với sự tế nhị và với ý ngay lành, rõ ràng, nhưng không ra vẻ trình bày cách bí mật, ta theo gương chính Thánh Tông Ðồ các quốc gia.

Khi tới tuổi dậy thì, chàng thanh niên phải hiểu rằng những bộ phận tính dục là một quà tặng tuyệt vời và hào hiệp do lòng nhân lành của Ðấng Tạo Hóa, tính chất nam giới có một ảnh hưởng tốt hay trên toàn bộ các cơ thể. Người thanh niên cũng sẽ nhận ra rằng, không có sự tổ chức sắp xếp này, thì thân xác của mình chỉ là một vật chưa hoàn toàn và những khuynh hướng tự nhiên bệnh hoạn sẽ trở nên cho mình một gánh rất nặng nề. Người thanh niên phải biết rằng những phản ứng từ trong thân xác mình mà mình không tự ý tìm thú vui tội lỗi thì đó chỉ là nằm trong sự phát triển thông thường về thể lý, và chàng trai không có gì phải lo sợ áy náy, mà cứ việc giữ yên lặng về chuyện này để tỏ lòng tôn trọng trước những bí mật của Ðấng Tạo Hóa.

Nhưng chàng thanh niên cũng phải biết rằng sự cứu rỗi chỉ có ở trong sự trong trắng của trái tim mà thôi; đang lúc đó những lạm dụng, tự ý xuất tinh, làm các việc dơ bẩn, quan hệ trơ trẽn, tất cả đều là lý do dẫn đến sự chúc dữ. Chàng phải biết là chính mình phải viết ra trong cuốn sách đời mình những trang sáng chói hay những trang tối tăm. Thánh Phaolô đã làm như thế, Ngài quả là người anh hùng và đã chiến đấu cho cuộc sống nội tâm cũng như cho các hoạt động bên ngoài, như chương V thư gởi cho Giáo đoàn Galát khi Ngài đối chiếu hoa trái của xác thịt với hoa quả của tinh thần.

Về sách của ánh sáng, từ một đời sống trong sạch, chúng ta đề cập tới niềm vui, sự hân hoan và lòng biết ơn. Chúng ta sẽ nói đến sự trinh trong nội tâm tỏa sáng trên trán cao quý, trong sự trong sáng của đôi mắt.

Chúng ta sẽ nói đến việc: vì trái tim trong sạch nên mới có sự hăng say làm việc, và tinh thần linh lợi đặc biệt. Chúng ta sẽ nói đến việc ta có thể nắm chắc được lòng hiếu thảo, và các cử chỉ cao quý có được nơi những ai đã giữ được một trái tim trong sạch và giữ các cơ quan vẹn toàn, không tỳ ố. Lúc đó chàng thanh niên sẽ ao ước được nếm thử niềm vui sâu xa mà nhân đức này mang lại, làm cho tâm hồn được an bình cho tới tuổi già và cho phép người ấy thấy giờ chết đến, họ có thể đón nhận với nụ cười của một thiên thần có trên môi. Ðó là những món quà sáng chói mà ta có thể dành được bằng những hi sinh cao cả nhất.

Ngược lại với những trang sách của ánh sáng, lại có một cuốn sách đen tối, tràn ngập những lo âu nội tâm... Ta hãy giở rảo qua từng trang một và ta hãy đọc những tiêu đề trên mỗi chương của sách ấy.

Chương I: Những hoa quả đắng cay của một sự cụt hứng đáng sợ; đánh mất danh dự; sự tự khinh.

Chương II: Lương tâm cắn rứt: con đã nghe tiếng của Người; con sợ hãi vì thấy mình trần truồng nên con đã phải lẫn trốn (Khởi Nguyên 3, 10)

Chương III: Sợ người khác biết chuyện xấu xa của mình.

Chương IV: Giấu diếm và chủ ý nói dối đánh mất lòng đạo đức đơn sơ của con cái Thiên Chúa - và thay vào đó là sự trâng tráo.

Sau đó là :

- Thách thức từ phía những bạn tìm khoái lạc .

- Chán việc cầu nguyện - đánh mất tâm tình đạo đức, không còn tin tưởng gì.

- Sa đi ngã lại trong tội lỗi.

- Phạm sự thánh.

- Sau cùng là :

- Xa lánh không còn nghĩ đến sự chết nữa.

Phải, đây quả là một cuốn sách đen tối.
</O:p
Như Thánh Tô-ma A-qui-nô đã có lý do khi đã cầm que củi đang cháy để xua đuổi một kẻ cám dỗ đã lọt vào phòng mình, và chuyện kể, là đã có một thiên thần đến, lấy một dây thắt lưng thắt cho ngài, và nhờ đó đức sạch sẽ của ngài từ đó không còn bị đe dọa bởi cám dỗ nữa.

Và như thế, trong trận thánh chiến này, hoa huệ và cành vạn tuế được liên kết với nhau và không có việc nào được nhiều công nghiệp hơn là đưa chàng thanh niên đến chỗ có được sự cao quý của tâm tình.

Đamien
13-09-2006, 10:19 AM
"SỨC MẠNH CỦA THẦY ÐƯỢC BIỂU LỘ TRỌN VẸN TRONG SỰ YẾU ÐUỐI"
<O:p</O:p
"Virtus in infirmitate perficitur" (2 Cr: 12, 9)

Thánh Phaolô đã phải chịu một thử thách rất lớn khi ngài đã phải kêu lên: "một thủ hạ Xa-tan được sai đến vả mặt tôi" (2 Cr. 12, 7). Ngài đã phải chịu bắt bớ, đau khổ trong thân xác - hoặc đã chịu những điều cực nhọc; nhưng đây, chắc phải là một điều gì rất đau xót cho tâm hồn Ngài - chính vì thế mà ngài đã xin Chúa giải thoát ngài: "Ter Dominum rogavi" (Tôi đã nài xin Chúa đến ba lần) ( 2 Cr 12, 8)

Lúc đó, Ngài đã nhận được Chúa trả lời :

"Sufficit tibi gratia mea, nam virtus in infirmitate perficitur" (2Cr 12,9)

"Ter Dominum rogavi" ( 2 Cr 12, 8).

Lời kêu cứu rất cần cho tâm hồn linh mục khi ngài bị Xa-tan tấn công vũ bão, sức mạnh ngài ở nơi ơn phù trợ của Chúa. Ta phải kêu xin Chúa vào những giờ phút tranh đấu nội tâm, kêu xin Người với sự hăng say, nhiệt tình, với sự kiên trì và tín nhiệm nơi Chúa, như Thánh Phaolô đã cầu nguyện. Ta hãy tranh đấu với thiên thần ánh sáng: "Tôi sẽ không thả ngài ra trước khi ngài chúc lành cho tôi" ( Khởi nguyên 32, 26).

Ở đây, ta đề cập đến hai nguồn mạch của sự chúc lành đó:

Trước hết là kinh cầu xin và các cách thức để xin ơn; sau là Bí Tích Hòa Giải.

Tất cả hai nguồn mạch này làm thành phương thế hiệu nghiệm nhất để "chính trong sự yếu đuối, mà ta được sức mạnh hoàn hảo". Sức mạnh tiến đến đỉnh cao nhất trong cuộc chiến đấu, một bên là luật của tinh thần và bên kia là luật của xác thịt.

I. - Chớ gì lời cầu nguyện của ta trở thành một lời cầu khiêm tốn, bởi lẽ ta xin một ơn trong khi âu lo, ơn mà ta không có quyền đòi hỏi; không phải là ơn xin để ta tránh được tất cả những tấn công của kẻ địch mà là ơn luôn trung thành trong một trận chiến chân thành.

Chớ gì lời cầu nguyện của ta luôn vui tươi, vui như câu "Virum non cognosco", niềm vui vang ra từ ngôi nhà Na-gia-rét, qua bao thế kỷ, luôn tỏ lộ ra một niềm hạnh phúc sâu xa cho đến nụ cười nhẹ nhàng cuối cùng của một tâm hồn trong sạch vào cuối đời mình. Phải, chớ gì cách đọc kinh căn bản của ta luôn được niềm vui tươi, chứ không giống như tiếng thở dài của một trái tim buồn tẻ. Chớ gì lời kinh của ta cũng luôn kiên trì, bởi vì, nếu ta nghĩ rằng ta không bao giờ bị địch tấn công nữa, thì quả là ta đã quá tự kiêu rồi - hoặc đã suy nghĩ liều lĩnh rồi.

Chớ gì lời cầu kinh của ta có được sự ngọt ngào êm dịu của mùa Giáng Sinh, ngày mà từ máng cỏ, Con Chiên vẹn sạch đang nằm êm ấm trong sự che chở của các vị bổn mạng đức khiết trinh - Ðức Mẹ Maria, Thánh Cả Giu-se, Thánh Tê-pha-nô, Thánh sử Gio-an, người đã dựa vào lòng Chúa Giêsu, và người mà Chúa Giê-su, khi hấp hối đã trao Mẹ Người cho ngài coi sóc. "Virgo virginem virgini commendavit". "Người đồng trinh trao Vị Nữ đồng trinh vào tay người môn đệ đồng trinh"-, các Thánh Anh Hài mà đôi môi ấp úng hát ca bài thánh ca dành cho những tâm hồn trong sạch.

II. Năng xưng tội - và nếu có thể xưng tội hàng tuần.

Ơn ban cho vị linh mục khi ngài lãnh nhận bí tích này thật là dồi dào. Mỗi bí tích đều có những ơn riêng biệt cho những người lãnh bí tích đó. Ân sủng được trao ban qua Bí Tích Hòa Giải nhằm thẳng vào việc huấn luyện lương tâm được tế nhị và luyện cho trái tim nên trong sạch. Giá trị huấn luyện của bí tích này không thể kể cho thấu. Ta càng thành thực trong việc cáo mình thì ta càng làm cho những ảo giác và những điều giả dối bên ngoài biến đi.

Sự khiêm tốn mà bí tích Hòa Giải đòi hỏi cũng có một ảnh hưởng sâu đậm trên con người. Ðiều đó lại không đặc biệt cần thiết cho vị linh mục, một người được có địa vị cao trọng đặc biệt trong Vương Quốc Thiên Chúa sao? Và rồi, trái tim của vị linh mục chắc chắn sẽ tìm được khi xưng tội, điều mà công đồng Tri-den-ti-nô chỉ ra như là kết quả quý hóa nhất của bí tích Hòa Giải. Công đồng viết: "Kết quả của bí tích này là sự hòa giải với Thiên Chúa. Ðối với các linh hồn đạo đức, ơn chủ yếu đó thường đi đôi với một lương tâm an bình, một cảm giác vui tươi, và được rất nhiều sự an ủi thiêng liêng. (Trid., sess. XIV, 3)

Và sau đó là một điều khuyên mang lại nhiều lợi ích: ngày ta đi xưng tội ta hãy có tâm tình ao ước múc được nhiều điều tốt lành từ nguồn suối đó; và khi đã xưng tội xong, ta hãy dành 15 phút để suy nghĩ trong thinh lặng về câu hỏi sau đây: Những điều dốc lòng nào, trong dịp tĩnh tâm cuối cùng của tôi, là những điều dốc lòng mà tôi đã cho là thực hành nhất và do đức khôn ngoan vạch ra nhiều nhất cho tôi ?

Nói tóm lại, ta hãy lợi dụng tốt hơn nữa, ngày ta đi xưng tội, cùng với những ánh sáng, những điều gợi ý tốt nhất và viễn tượng nào cho tương lai. Ðó là những phương thế thực sự để tìm ra được trong việc rước Mình Máu Chúa Giê-su "một sự trẻ trung mới mẻ cho cả thân xác ta nữa" (P. Meschler)

Đamien
13-09-2006, 10:21 AM
HÃY Ý THỨC ÐƯỢC PHẨM TƯỚC CỦA MÌNH! HÃY MẠNH MẼ LÊN !

Một trong những nét đặc trưng của các nhân đức thụ động - đó là khi tập các nhân đức này, con người cần phải có một ý chí sắc đá và một hoạt động phi thường Cần có ý chí vững mạnh biết bao trong cuộc chiến đấu giữ luật của tinh thần và luật của xác thịt, như Thánh Phao-lô đã có lần đề cập đến một cách thật rõ ràng, khi Ngài đề cập đến sự cao quý trổi vượt của đức trinh khiết! Và cũng như chính Thánh Phao-lô đã khẳng định ý tưởng đức trinh khiết: chỉ tìm điều gì thuộc về Thiên Chúa, và Ngài đã có thể khẳng định: Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những người khác (1 Cr. 15, 10); ơn Chúa đã không vô ích trong tôi (ibid)!

Những chuỗi dài của những thử thách đớn đau (2 Cr. 11) kết hợp với những công việc liên tục, những thử thách nội tâm đã là một bằng chứng nơi Ngài, bằng chứng của sự hăng say và vui vẻ làm việc, và đây chính là đặc điểm của các trái tim trong sạch.

Ðó là sức làm việc can đảm "Laboremus" mà mỗi vị linh mục phải dang tay ra lãnh nhận trọn vẹn. Ðó cũng là lời mời gọi can đảm của vị Tông Ðồ các dân tộc: "Con hãy làm việc lao nhọc và chịu đựng như là một người lính tốt của Chúa Kitô" (2 Tim. 2, 3).

Nuôi dưỡng những ước vọng cao quý nhất dâng hiến thời gian và sức lực nhờ ơn Chúa nâng đỡ, và phục vụ Ðấng Tối Cao. Ðó là những điều mang lại cho đời sống nội tâm một sự phong phú tuyệt vời, để trả lại gấp trăm lần những hi sinh mà sự độc thân mang lại.

Nếu ta có giữ kỷ luật nghiêm ngặt đối với ngũ quan và có ý chí, thì đó quả là một phương tiện tốt nhất để ta giữ mình cho khỏi những cơn nguy hiểm giao du bất chính, những nguy hiểm đe dọa sự trong trắng của trái tim cũng như đe dọa danh thơm tiếng tốt của ta. Nếu giới trẻ ngày nay thường hay sa chước cám dỗ mà làm những chuyện đồi bại một mình hay những chuyện tồi tệ khác, thì đó chính là vì họ đã quá tự do phóng đãng. Và đây là lúc ta nên ghi nhớ lời khuyến cáo của Thánh Phaolô:

"Anh em không biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần hay sao?" (1Cr. 6, 19) . Vậy ta hãy tỏ ra hết sức tôn trọng thân xác của ta. "Agnosce, homo, dignitatem tuam!" (Sermo I de Nativ. Dom.) ."Hỡi người, hãy ý thức được phẩm tước của mình". Với sự trân trọng các mầu nhiệm của Thiên Chúa, ta phải từ bỏ những quan tâm để ý đến những chuyện lả lơi của trí tưởng tượng. Một cách tốt để tránh những chuyện bông đùa nhảm nhí, cũng như sổ sàng, không xứng, đó là "Castigatio vocis" mà khi truyền chức phụ tá phó tế đã đề ra (gìn giữ miệng lưỡi).

Ta không nên mơn trớn các trẻ em , hoặc lảlơi với các người khác phái, hoặc đi chơi thăm viếng bà con anh em chỉ với mục đích để giết thời giờ; làm thế, ta sẽ gây ra nhiều nghi ngờ xấu xa; cùng đi chơi cắm trại với các cô, hoặc dự các buổi họp có khiêu vũ - ngay cả khi ta không có ý xấu - hoặc đi lại trao đổi thư từ một cách suồng sã, chỉ làm cho những người sống chung quanh ta thêm nghi ngờ hoặc chê cười.

Tất cả những điều trên đây, theo sự đánh giá của những người công giáo chân chính: thì đều là những việc không xứng hợp với một linh mục. Vị linh mục sẽ được giáo dân đánh giá cao và đem lòng tín nhiệm, khi ngài biết nhã nhặn cám ơn, hoặc khéo léo từ chối một lời mời, để thay vào đó, ngài dành thời gian cho những người nghèo khổ, đau yếu, hoặc để dành thời gian cầu nguyện và làm những việc vô tư , hoặc là để dành những giờ thư giãn để nghiên cứu học các môn học của Giáo Hội.

Nên được thêm điều này nữa: cũng không phải là họa hiếm khi ta chứng kiến một vị linh mục tự làm mất danh giá của mình, khi ngài tỏ ra lòng cảm thông mà người khác hiểu lầm. Ví dụ như ngài đón nhận một vài người nào đó, thực sự là đang cần giúp đỡ, nhưng chỗ của họ lại không phải là ở trong nhà xứ: Có những việc bác ái mà ta không làm được, nếu những việc đó theo những hoàn cảnh lại làm cớ để cho dư luận nghi ngờ, và lý do là danh thơm tiếng tốt của một vị linh mục là vô cùng cần thiết để cho tác vụ của ngài được phong phú. Tất cả những điều này, ta đã thấy được ghi chép trong Giáo luật như những lời khuyến cáo nghiêm trọng. Và nếu trong những trường hợp như thế, mà có bạn đồng nghiệp nào nhắc nhở cho ta thì ta phải hết sức biết ơn . Chuyện khuyến cáo này, chắc chắn là bạn đồng nghiệp của ta không sẵn sàng làm với sự vui sướng đâu, mà thường đó là một sự hi sinh lớn lao mà chỉ vì tình thân thiện huynh đệ linh mục, mà bạn đồng nghiệp đã làm.

Ngoài ra, lấy tình huynh đệ và chân thành nói thẳng trước mặt bạn đồng nghiệp của ta thì còn tốt hơn là ta chỉ trích sau lưng bạn đồng nghiệp . "Conversatio sacerdotis debet esse cum perfectis viris" (sách "Gương Chúa Giê-su" IV, 5). "Vị linh mục cần quan hệ chuyện trò với những người hoàn hảo".

Ở đây, Thomas a Kempis muốn nói về những quan hệ của ta với các bạn đồng nghiệp. Ở đâu cũng vậy, những quan hệ với các đồng nghiệp luôn đem lại cho ta một sự hài lòng tuyệt vời và ích lợi mỗi khi ta cảm thấy cần tâm sự với ai đó. Chính Thomas a Kempis cũng đã nói: "Sine amico non potes bene vivere" ("Không có bạn, ta không có thể sống tốt đẹp") ân chức trước khi được truyền chức, chắc chắn đã nhận được rất nhiều lời khuyến cáo đặc biệt và thực tế. Vậy, những điều này phải trở thành cho ngài một lối cư xử lâu bền.

Pudor constans! Vị Giám Mục truyền chức cho phó tế đã khuyến cáo như thế.

Nhấn mạnh đến từ : constans (kiên trì). Vậy trong những năm tháng sau đó, vị phó tế không được buông trôi. Pudor constans: điều này phải là dấu vết không thể xóa nhòa của toàn bộ đời sống nội tâm và cử chỉ bên ngoài của vị linh mục. Vậy, ngay cả trong những lúc bị gian nan thử thách thì trong trái tim của vị linh mục, vẫn cần duy trì được sự bình an và niềm hạnh phúc một cách âm thầm trong trái tim của linh mục, và điều này chắc chắn sẽ là phần thưởng tốt nhất cho tất cả những hi sinh của ngài. Pudor constans! Lời khuyến cáo này vẫn luôn có giá trị. Nó có giá trị sau 10 năm và còn lâu hơn nữa cho một đời sống linh mục trong trắng.

Ðây quả là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, đó là trong thông điệp của Ðức Thánh Cha Pio XI, viết nhân dịp kỷ niệm 15 thế kỷ sau khiThánh Âu-Tinh qua đời. Ngài đã trích dẫn chính những suy tư của vị Giám Mục Hippone này, khi ngài suy tư về đoạn văn sau đây của Thánh Phaolô: "Video aliam legem in membris meis "Và điều ta đọc thấy, quả là đúng phong cách chân thành của Thánh Âu-Tinh:

"Quamdiu hic vivitur, sic est. Sic et nos, qui senuimus in ista militia, minores quidem hostes habemus. Sed tamen habemus. Fatigati sunt... per aetatem. Sed etiam fatigati non cessant qualibuscumque motibus infestare senectutis quietem".

Ai đã có một chuỗi kinh nghiệm dài của cuộc sống đều biết rằng những lời này quả là đúng sự thật.

"Bao lâu ta sống ở trần gian này là thế đó. Và như thế, cả chúng ta, những người đã già dặn trong cuộc chiến này, kẻ thù của ta có yếu kém đi, nhưng ta vẫn có kẻ địch.

Chúng cũng mệt mỏi...vì tuổi tác. Nhưng cho dù chúng có tỏ ra mệt mỏi, thì chúng cũng không để yên cho tuổi già chúng ta đâu, chúng vẫn quấy phá chúng ta bằng cách này hay cách khác".

Đamien
13-09-2006, 10:28 AM
VIII

"CÓ TÌNH HUYNH ĐỆ LẠI THÊM BÁC ÁI" (2 Pr 1,7)

"CÒN TẤT CẢ ANH EM ĐỀU LÀ ANH EM VỚI NHAU" (Mt 23,8)


Thiết nghĩ: không có bậc sống nào mà Ðức Giê-su đã khẩn khoản khuyến khích giữ tình bác ái huynh đệ cho bằng bậc linh mục. Và cũng không có bậc nào đáng xót xa hơn nếu vắng bóng tình huynh đệ này cho bằng bậc linh mục. Nền tảng của bổn phận này được tìm thấy trong đoạn Tin Mừng, khi Thầy chí thánh đã vạch ra cho các Tông đồ giới răn yêu thương huynh đệ như là dấu chỉ, qua đó người ta sẽ nhận ra các ông là môn đệ của Người. "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35). "Anh em là anh em với nhau" (Mt,23,8). Ðiều này quả là điều quan trọng nhất trong các quan hệ giữa các đồng nghiệp với nhau và đó cũng là kỷ luật Thánh Phao-lô đã đề ra : "vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau" (Rm 12,15 và tiếp theo). Ðây quả là dấu chỉ chắc chắn, một viên đá thử vàng không thể sai nhầm khi ta chia sẻ niềm vui với một bạn đồng nghiệp khi bạn được thành công và được tưởng thưởng. Tạ ơn Chúa khi bạn đồng nghiệp được Chúa Quan phòng ban cho những đặc ân tuyệt vời (magni-fiques) và bạn đã thành đạt trong những hoàn cảnh rất khó khăn. Làm như thế, ta tỏ ra mình đã có được nhân đức giống các thiên thần, điều này có giá trị hơn là khi ta tỏ lòng cảm thông, chia buồn khi bạn bị tai bay vạ gió.

Chính vì thế mà thật là cảm hóa biết bao đối với người giáo dân khi họ thấy biết bao khả năng và nhân đức của vị đồng nghiệp được mọi người thừa nhận và tán thưởng một cách vui vẻ và mau lẹ, đồng thời mình lại làm thinh không nhắc tới những thiếu sót của bạn. Thật là đáng khen biết bao khi cha chính xứ để lời khen ngợi cha phó của mình. Và ai nấy đều có thể nhận ra ngay ra lời khen này đã khích lệ cha phó thêm can đảm như thế nào. Ai cũng hân hoan vui mừng khi các linh mục đồng ngiệp trao đổi chuyện trò với nhau cách vui vẻ và tình nghĩa. Thật đúng như lời thánh vịnh 132, 1: "Ecce quam bonum et quam jucundum, habitare fratres in unum".

Người ta kể về Cha Meschler như sau: "Cho đến phút cuối cùng, ngài vẫn làm việc không mệt mỏi, bút viết luôn cầm trong tay. Ngài là một bạn đồng nghiệp luôn có những câu đối đáp dí dỏm, một người bạn luôn có lời ủi an, một người biết cầu nguyện trong thinh lặng và kiên trì, một guơng mẫu đơn sơ như trẻ em, một sự vô tư trọn vẹn. Ngài không bao giờ tìm tư lợi cho bản thân trong bất cứ điều gì.

Khi nào ta có thể nói như thế về các quan hệ giữa các bạn linh mục đồng nghiệp với nhau, thì lúc đó lời khuyên nhủ của vị thủ lãnh các Tông đồ đã hoàn toàn được thực hiện : "In amore fraternitatis caritatem".

KHÔNG PHẢI BẰNG ÐẦU MÔI CHÓP LƯỠI, NHƯNG BẰNG VIỆC LÀM" (1 Ga 3, 18)
Cuộc sống đời thường có biết bao khía cạnh khác nhau, có thể đưa lại cho ta rất nhiều cơ hội để thực hành bác ái huynh đệ. Ðức ái được thể hiện hằng ngày bằng cách khiêm hạ, điều mà Ðức Ki-tô đã đòi hỏi và dạy các môn đệ một cách rất rõ nét khi Người làm gương rửa chân cho các ông trong bữa tối sau hết. Ðức ái cũng được thể hiện bằng cách ta vui vẻ mau lẹ giúp đỡ nhau. "Servite invicem per caritatem Spiritus" (Gl 5,13) - "Hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau". Vậy ta hãy sẵn sàng phục vụ, giúp đỡ, nhất là khi sự xin giúp đỡ đó đến vào lúc ta rất bận rộn, lúc mà ta không muốn ai đến làm phiền hà chúng ta.

Có một cách tuyệt vời để ta chứng tỏ tinh thần bác ái thực sự, đó là ta đoán trước được những nguyện vọng của bạn đồng nghiệp tỏ lòng kính trọng và sự quý mến, lúc mà mình chẳng cần làm việc đó chút nào. Thiết nghĩ không cần phải nhắc lại quy luật mà Thánh Phao-lô đã đưa ra "anh em hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình" (Rm12,10). Sau đây, còn một dấu chỉ của bái ái huynh đệ rất hiệu nghiệm, đó là: báo cho đồng nghiệp biết có nguy hiểm nào đó đang rình rập tác vụ mục vụ hoặc thanh danh của bạn... Trong trường hợp này, việc cảnh báo bạn trong thân tình thường là một bổn phận rất nặng nề, nhưng làm được như thế thật là đáng khen, khi ta làm với tinh thần bác ái yêu thương. Ðưa ra lời cảnh báo như thế, kể cả khi ta là bề trên, thì cũng là một hi sinh rất lớn; tuy nhiên đây là việc làm bác ái đối với linh mục và cả với giáo dân .

Ngoài ra, ta phải tránh tinh thần bè phái, đôi khi xảy ra nơi các giáo sĩ cùng một địa phương hoặc cùng nhóm linh tông, trí thức, văn hóa hoặc nhóm khác. Tinh thần nhóm như thế không bao giờ được trở thành một thứ "Tổ chức bảo hiểm", để luôn đưa ra những lời khen ngợi lẫn nhau. Ðó chắc không phải là điều mà Thánh Gio-an muốn (x. Ga 13, 35).

Tinh thần đồng đội cũng sẽ bị hiểu sai khi ta khuyến khích một bạn đồng nghiệp -khi bạn này đang có chuyện bất mãn- mà khuyên bạn cứ tiếp tục trong tình trạng đó thay vì ta khuyên bạn nên xét lại vụ việc để có thể tìm lại được sự bình tĩnh và sự bình an cho tâm hồn... Các giáo sĩ không nên làm theo lối người đời khi họ xử sự công việc nghề nghiệp của họ.

Thật anh hùng biết bao khi các thợ mỏ liều mạng chạy xuống hầm mỏ để cứu các bạn khi có một vụ nổ tại hầm! Họ làm như thế không hề ngần ngại, coi đó như là một chuyện đương nhiên.

Ta hãy nghĩ đến bao gương can đảm cứu hộ khác, thật giản đơn, khi lòng yêu thương huynh đệ đòi ta phải làm một sự hi sinh như thế.

Đamien
13-09-2006, 10:30 AM
ÐỨC MẾN KHÔNG NÓNG GIẬN, KHÔNG NUÔI HẬN THÙ (1 Cr, 13. 5)

Ðiều này có nghĩa là: tình bác ái huynh đệ phải đâm rễ sâu vào trong những sợi cơ bí nhiệm nhất của trái tim ta. Và điều đó một lần nữa lại tỏ ra cho ta những cảm tình sâu lắng nhất chính là nguồn mạch của mọi việc làm nhân đức. Thánh Tông Ðồ hướng dẫn chúng ta nhìn vào thế giới các cảm tình sâu lắng và vào sự hài hòa phải ngự trị giữa các cảm tình của ta và công việc ta làm Người nói với ta: người nào có đức bác ái thực sự thì không tức giận, cũng không quy tội, quy điều xấu cho người anh em. Riêng bạn, bạn có trân trọng, đánh giá cao những lời nói và các thái độ của họ đối với bạn không? Bạn có cắt nghĩa tốt tất cả những điều đó, cắt nghĩa với lòng khoan dung và với tình bạn không? Hay là bạn đánh hơi thấy trong mọi hoàn cảnh, đều có một sự ác tâm được ẩn giấu đâu đó -hoặc một lời nói bóng gió có tính cách sỉ nhục? Hay là bạn lại đáp lễ lại những lời châm chọc bằng những lời khó nghe chăng Bạn lấy đức ái mà bỏ qua những nghi ngờ đó, và tâm niệm rằng người đồng nghiệp của bạn đã nói ra lời đó mà không có ác ý nào?

Vậy trong mọi tình huống lớn nhỏ, có cả trăm ngàn cơ hội nhỏ bé cho phép ta thực hành đức bác ái, trong các vương quốc bí nhiệm của các tư tưởng. Thực ra, hầu như luôn là một chuỗi các cơ hội nhỏ bé, nhưng cuộc đời lại chẳng phải là một chuỗi các biến cố móc xích vào nhau như một tấm vải được dệt nên bằng những sợi chỉ nhỏ khó nhận thấy sao? Những lời khẳng định: đức ái không bực tức, không nghĩ sự xấu. Ðó là điểm ý chỉ cho thấy một tâm hồn trưởng thành có tinh thần Kitô thực sự. Ðức ái luôn sẵn sàng chữa lỗi cho những sự thiếu sót; luôn bỏ qua những chuyện sai lầm và những vụng về, cắt nghĩa tốt cho mọi sự, thực hiện sự hài hòa, thông cảm. Khi có chuyện bất đồng, điều cần nghĩ đến đầu tiên là nên dẹp điều lỗi phạm ra một bên, nếu quả đó là một lỗi phạm. Người có tinh thần bác ái, không bao giờ nghi ngờ các bạn đồng nghiệp là họ ghen với mình. Tội ghen tương là tội của Ca-in, nghĩ rằng người khác ghen với mình đã lỗi đức ái rồi! Những gì, lúc đầu xem ra là ghen tương, nhưng thực tế không luôn là như thế. Khi một người nào đó nhận được sự kính trọng hoặc được chức tước này chức tước kia, mà mình như cảm thấy bị tổn thương, thì quả đó là một điều không hay ho gì, tuy nhiên đó không cần phải là một sự ghen tương đáng ghét.

Ta có thể duy trì sự hòa thuận và sự thân thiện trong các quan hệ bằng các việc làm âm thầm và khiêm tốn, cộng với mọi hi sinh, sẵn sàng ở ẩn và quên mình. Nếu ta làm thế, ta sẽ được một phần thưởng cao quý, đó là ta bảo đảm có được sự an bình nội tâm, đó là nắm được chìa khóa mở cửa các tâm hồn. Ðồng thời ta cũng có được một sự tế nhị khéo léo làm ta tránh được những gì làm mất lòng và ta sẵn sàng từ bỏ quan điểm đánh giá riêng tư của ta. Nếu ta có được nhân đức trên đây, thì ta sẽ có đủ thế giá, khi cần thiết, để đưa ra những lời khuyến cáo một bạn đồng nghiệp, khi vị này phạm lỗi có nguy cơ làm hại đến lợi ích chung, đến sự cứu rỗi các linh hồn và làm ô danh chức bậc linh mục. Ta còn có một cách khác nữa để thực thi đức bác ái đối với các bạn đồng nghiệp, đó là: ta không nên tránh gặp gỡ các bạn ta, hoặc không muốn trò chuyện làm bạn với các đồng nghiệp. Một hôm, tôi đến thăm đại chủng viện Fribourg cùng với Ðức Cha Noerber. Tôi đã được nghe Ðức Cha nói với các chủng sinh một lời khuyên như sau: Khi nào các bạn họp nhau, nếu ai có chuyện gì vui thì hãy kể ra cho anh em nghe, phải kể ra và những người nghe cũng phải vui cười tán thưởng.

Ðể kết luận, tôi xin thêm một lý do để ta tránh tất cả những tâm tình ghen tương có thể có. Những ân huệ dồi dào ta lãnh nhận được từ việc rước lễ hàng ngày sẽ được trao ban cho ta theo mức độ là ta đừng đặt ra những cản trở: "non ponenti-bus obiciens". Chính Chúa Giê-su cũng chỉ cho các môn đệ, đồng nghiệp với nhau, cản trở tệ hại nhất đó là sự thiếu lòng bác ái huynh đệ. Ðiều đó đúng trong bữa tiệc ly. Ðiều đó cũng đúng khi ta tới gần bàn thờ để dâng của lễ (Mt 5.23 và tiếp theo). Ai là người có lý do để nhớ lại những điều khuyến cáo đó nhất, nếu không phải là linh mục ?



TA HÃY CẦU NGUYỆN CHO CÁC ANH EM VẮNG MẶT

Ta hãy năng nhớ cầu nguyện cho các bạn đồng nghiệp đang phải khổ sở, hoặc đang phải chiến đấu nội tâm rất gay go, hoặc đang nằm chờ chết. Mỗi ngày ta có dành một giờ đặc biệt trong kinh nhật tụng để nhớ đến một cách đặc biệt các bạn đồng nghiệp trong Giáo phận, để xin Chúa ban cho các vị ánh sáng, can đảm và niềm vui? Liệu mỗi ngày, trong thánh lễ, ta có nhớ cầu nguyện cho các linh mục đã qua đời không? Ta hãy quan tâm đến thăm các linh mục đang an nghỉ trong nghĩa địa, với một lòng yêu mến kính trọng, không những ta đưa hoa nến đến chưng mà nhất là đến đó để cầu nguyện cho các ngài vào ngày giỗ và ngày cầu cho các linh hồn đã qua đời.

Lòng yêu mến và sự kính trọng mà các bạn tỏ ra cho người khác sẽ vang dội lại cho chính bản thân các bạn. Nếu chúng ta biết dạy cho giới trẻ thói quen có lòng yêu huynh đệ, thì hiệu quả sẽ nảy sinh ra trong các tâm tình và cách đối xử của những người trẻ đó. Ðây là một bổn phận quan trọng là ta phải làm gương sáng cho giáo xứ, việc thi hành đức bác ái huynh đệ: "forma gregis" (gương mẫu cho đoàn chiên).

Gương sáng của vị linh mục sẽ là bài giảng tốt nhất có khả năng chống lại sự ích kỷ chật hẹp, mà trong nhiều xứ, đã là một trở ngại cho việc phát triển việc giáo dân làm tông đồ. Các linh mục chúng ta đều biết rõ rằng: nhờ các hoạt động thầm kín và nhờ sự tận tâm bác ái của ta, chúng ta có thể dần dần thổi một làn khí mới cho các phong trào và đời sống giáo xứ. Ðó là một yếu tố quan trọng, yếu tố không lường được.

Đamien
13-09-2006, 10:35 AM
IX

GIÁO HỘI ĐƯỢC HIỆP NHẤT NHỜ BỘ LUẬT TUYỆT DIỆU LÝ TƯỞNG HAY THỰC TẾ.


Cấu trúc của Giáo hội công giáo, kể từ đứa trẻ vừa được rửa tội cho đến Vị Thủ lãnh toàn thể Giáo hội, đã trở thành đối tượng luôn được mọi người khen ngợi. Kiến trúc toàn bộ này đã có một bộ luật tuyệt diệu điều hành. Tổ chức này có một hoạt động rất hay, khi tinh thần vâng phục thân tình, vui tươi và tận tâm thúc đẩy, đem lại sinh khí cho các thành viên đã là lý tưởng mà tất cả mọi người, tuỳ theo chức năng, đều khao khát. Nhưng một câu hỏi được đặt ra : liệu đây là lý tưởng hay thực tế ?

Về vấn đề này, ta hãy đọc điều sau đây .

Các môn sinh của Thánh Phan-xi-cô Át-si-di đã phải rất vất vả học tập trong trường củavị thầy và vị lãnh đạo của mình. Họ phải chấp nhận nhiều hi sinh, gian khổ, phải đấu tranh để đền bù, sửa mình cách trọn vẹn, phải giũ bỏ những lập dị và phải tập luyện các nhân đức đặc trưng của nhà Dòng. Tất cả những điều này đòi hỏi nhiều từ bỏ. Nhưng còn có một điều khác liên kết họ lại với nhau, đó chính là lòng yêu thương. Lòng yêu thuơng giữa thầy và môn sinh thật là cảm động và vang lên như là một bài ca êm ái ngọt ngào. Vị thánh này đã tỏ ra quan tâm đến tất cả mọi người... Thomas Celano, vị tu sĩ tiên khởi của Dòng đã kêu lên: "Ôi! họ yêu thương nhau biết bao!". Ðó quả là một cộng đoàn tu sĩ, nơi mọi người chung sống rất hạnh phúc và vui tươi. Niềm vui đó triển nở ngay lúc nhà Dòng sống rất nghèo, ngoài ra, các tu sĩ còn phải hãm mình ép, sống khổ chế hơn các Dòng khác. Ðây quả là một đặc ân Chúa ban cho thánh Phan-xi-cô Át-si-di có được niềm vui tự nhiên, một tâm hồn trẻ thơ và Chúa đã làm cho sức sống nội tâm của thánh nhân tỏa sáng ra chung quanh như mặt trời .

Thánh Phan-xi-cô rất vui và ca hát mỗi khi thắng được một cơn cám dỗ nặng nề. Cũng thế, các đệ tử của ngài cũng vui mừng sung sướng và cũng ca hát như thế. Lòng yêu thương và tính kỳ diệu của thánh Phan-xi-cô thật quý giá biết bao cho những người chập chững mới bước vào dòng tu. Một câu hỏi được đặt ra: phải chăng đây chỉ là một bức tranh thuộc về một thời đã qua ?

Một hôm, cách đây chừng 20 năm, tôi nghe có tiếng gõ cửa. Ðó là một cha xứ cùng đi với cha phó. Cha phó vừa nhận được bài sai đổi đi xứ khác. Cả hai đều khóc : "Xin Ðức Tổng vui lòng để chúng con được cùng chung sống bên nhau", cả hai cha chính và cha phó đều nói.

Một lần khác, tôi đang chờ đổi xe lửa. Tôi đi đi lại lại trên sân ga. Ngay lúc đó, có một chị nông thôn đến, chiếc giỏ vẫn còn trên lưng. Chị nhận ra tôi, hồi tôi ban phép Thêm sức cho chị. Chúng tôi trò chuyện với nhau. Chị nói: "Ôi!, cha phó của chúng con rất tốt! Người luôn làm theo ý cha chính xứ, như là ngài đọc được trên mặt cha xứ. Cả xứ chúng con đều rất vui".

Trên đây là nhũng thứ gương truyện mà tôi hay kể mỗi khi có dịp đi thăm các chủng sinh.. Những câu truyện liên quan đến thánh Phan-xi-cô và các môn sinh của ngài quả không phải là bức tranh lý tưởng của một thời xa xưa. Và những truyện liên quan đến sinh hoạt giáo xứ mỗi ngày đem lại niềm vui lớn hơn cho toàn thể giáo xứ, vì một lý do mà ai cũng biết, nhưng xem ra lại khó cắt nghĩa được rõ ràng. Lý do đó là: không có thiệt hại nào do trận đại chiến để lại to lớn cho bằng sự hòa hợp bị tổn thương. Thật khó mà gợi tỉnh lại tinh thần hòa hợp, cảm tình yêu thương trân trọng đó, lúc mà tinh thần tranh đấu giai cấp, độc lập, tính ích kỷ, hẹp hòi, xấu xa đã lan tỏa mọi lãnh vực. Một trong những lý do chính, đó là: sự vô luân lý ngày càng trầm trọng, bởi lẽ "sự vô luân là điều xấc xược", nói theo ý nghĩa của câu châm ngôn la-tinh cổ xưa.

Ta không thể chữa lành sự bất hòa chỉ bằng lời nói suông được. Nhưng nếu vị lãnh đạo trong xứ tỏ ra trong cảm tình và việc làm của mình, một tinh thần hòa hợp cao độ, có sức mạnh gây ảnh hưởng giáo dục, đem lại niềm vui và có tính cách thuyết phục, thì lúc đó, gương sáng này không thể không sinh ra hiệu quả tốt lành nhất cho đời sống của giáo xứ.. Các linh mục càng đoàn kết và hòa hợp với nhau bao nhiêu thì các giáo dân cũng càng hòa thuận và thương yêu nhau bấy nhiêu, vì các linh mục là những phần tử xuất sắc nhất của thân thể mầu nhiệm Ðức Ki-tô. Ðiều này đúng ở đời này thì cũng sẽ đúng ở đời sau.Và khi được hưởng phúc thiên đàng, tinh thần hòa hợp lại được nâng lên cấp cao hơn nhờ qua sự biến hình tuyệt diệu nhất. Ðó là viễn tượng rất phấn khởi, điều mà cả cha chính và cha phó không thể không cảm thấy.

Vị linh mục trẻ cũng tự nhủ: tôi càng tỏ ra lòng yêu mến, kính trọng cha chính xứ thì chính tôi cũng sẽ dành được ít chút những cảm tình thuận lợi trong giáo xứ rớt sang cho tôi và cho tác vụ tông đồ tương lai của tôi sau này. Ta chỉ gặt được cái mà ta đã gieo.


TÍN NHIỆM VÀ TẾ NHỊ

Không có gì giản đơn và đồng thời cũng là điều quan trọng đối với cha phó xứ cho bằng sự nhận ra vị trí, chỗ đứng của mình trong giáo xứ. Ðối với cha chính xứ cũng vậy. Xét về chức linh mục và trên bình diện đồng nghiệp thì cha phó ngang hàng với cha chính. Nhưng xét trên bình diện làm cha phó, thì cha phó là kẻ bề dưới. Cha phó là kẻ bề dưới và phải tuỳ thuộc cha chính xứ vì 2 lý do :

- trước hết, xét dưới khía cạnh chức vụ, việc phụng tự, việc phục vụ các linh hồn, các việc phục vụ khác trong giáo xứ, kéo dài suốt cuộc đời linh mục, thì trách nhiệm nặng nề vẫn đặt trên vai của cha chính xứ;

- lý do thứ hai : cha phó có bổn phận phải tỏ ta "reverentia et obedientia" (kính trọng và vâng phục) -trong phạm vi xứng hợp- khi cha được truyền chức, cha đã hứa với Ðức Giám mục, Ðấng Bản quyền và là Chủ chăn trực tiếp của mình -"Ordinarius et immediatus pastor". Thật là có lý biết bao, lời của Ðức Cha Doppelhauser đã nói sau một buổi lễ truyền chức: "Bây giờ thì tôi xin trao vào tay các cha chính xứ món quà mà Giám mục và Giáo phận quý hóa nhất, đó là các tân linh mục đây !"

Cha phó không bao giờ nên quên rằng: cha chính xứ có bổn phận rất nặng nề, đó là coi sóc và hướng dẫn mình. Ðối lại, cha chính cũng nên nhớ tới gương của thánh Phan-xi-cô, để khi hướng dẫn cha phó thì ngài phải tỏ ra kính trọng và yêu mến, rồi khi cần, thì ngài cũng phải tỏ ra cứng rắn, cương quyết. Nếu cha xứ phải là khuôn mẫu cho đoàn chiên trong xứ thì ngài cũng phải trở thành gương mẫu đặc biệt cho cha phó của mình, nhất là trong việc quản lý giáo xứ, việc giữ đúng giờ, phải soạn bài giảng, siêng năng ngồi tòa, nguyện ngắm đều đặn, viếng Thánh Thể thường xuyên, thăm viếng bệnh nhân, quan tâm và yêu mến giới trẻ. Quan hệ giữa cha chính và cha phó cần có sự tế nhị. Nên nhớ câu châm ngôn: "chỉ nguyên cung giọng không làm nên âm nhạc". Và còn phải kể đến nhiều lãnh vực khác nữa, vì những điều này có tính cách quyết định. Thánh Phan-xi-cô thường hay nói một lời bao dung, khuyến khích, tán thành, dễ thương đối với các thày mới chập chững bước vào đời tu. Ngài có biệt tài nói lời an ủi với một thày đang buồn sầu chán nản. Ðó là điều cần thiết trong bầu khí nhà xứ -cho dù cuộc sống trong nhà xứ có thanh đạm và vất vả, thì vẫn luôn có một mặt trời sáng chói.

Đamien
13-09-2006, 10:40 AM
NHỮNG NĂM THÁNG TẬP SỰ LÀ NHỮNG NĂM THÁNG QUÝ BÁU

Hằng ngày, ta có thể nhận ra được sự quan trọng đặc biệt đối với một linh mục trẻ, đó là nhiệm sở đầu tay của mình và điều này không phải là không có lý do. Nếu tinh thần tại nhà xứ không đi đôi với tinh thần đại chủng viện, thì ta có thể đoán ra là sẽ có khủng hoảng trong đời sống nội tâm là cái chắc. Không có gì ghi dấu ấn sâu sắc vào đời sống của một linh mục cho bằng tinh thần trột nhất, những quân hệ tình cảm của mình. Phúc thay cho vị linh mục trẻ nào mà tại nhiệm sở đầu tiên của mình, được tiếp xúc với một cha xứ ngày nào vị này cũng nguyện ngắm, luôn coi trọng những giờ khắc quỳ chầu trước Nhà Tạm và vị đó luôn trao phó mọi công việc cho Ðức Nữ Vương các Tông Ðồ khi ngài lần chuỗi.

Những năm tháng tập sự quả là những năm tháng vô cùng quý báu: thái độ của cha chính xứ có ảnh hưởng sâu xa trên vị linh mục trẻ. Chính vào lúc này mà những lời khuyên răn tại đại chủng viện được đưa ra thử nghiệm và đem ra thực hành. Chính vì thế mà ta nhận ra vai trò quan trọng của gương mẫu vị linh mục trẻ có trước mắt mỗi ngày. Những năm tháng tập sự quả là những năm tháng quý báu. Vậy, thật là ích lợi biết bao khi cả hai cha đều cùng nhau thảo luận, bàn bạc về những bổn phận, những công việc cũng như những khó khăn liên quan đến việc mục vụ tại giáo xứ. Và thời gian thuận tiện nhất để làm việc này là bữa ăn trưa, lúc mà chỉ có cha chính và cha phó có thể ngồi trao đổi với nhau. Việc gặp gỡ vào bữa ăn trưa có nhiều lợi ích, nhưng chỉ với điều kiện là dì phước hoặc cô giúp việc không được quanh quẩn bên cạnh; nếu không thì việc thảo luận và trao đổi ý kiến giữa hai vị khó có thể thoải mái được.

Những năm tháng tập sự cũng rất quý báu, bởi lẽ vị linh mục trẻ lúc đó học được nhân đức mà Thomas a Kempis đã ghi ngắn gọn là: "sese accommodare" (biết thích ứng với hoàn cảnh). Ðiều này ở tại chỗàbiết khiêm tốn mà thích ứng với hoàn cảnh và với nhân sự hiện diện. Ðiều này cũng đòi hỏi phải có sự tế nhị và phải sẵn sàng chấp nhận vô số hi sinh. Nhiều người đã phải dành ra nhiều thời gian để tập quen. Những tiên kiến, những lúc thì nổi nóng, những bất đồng ý kiến đều gây nên khó khăn bực bội. Sách "Gương Chúa Giê-su" đã rất có lý khi viết: "Quantae virtutis fuerit, patet occasione adversitatis" (I,6). (Thời gian thử thách, con người mới tỏ ra mức độ nhân đức của mình đến đâu). Nhân đức ở đây cũng ở tại sự phán đoán, nhìn nhận ra ngay nguồn gốc của sự bất đồng. Tư tưởng đầu tiên là: lẽ ra cha chính xứ đã không nên yêu cầu tôi làm điều đó và những ai khó chịu thì họ phải thay đổi ý kiến chứ ! Nhưng thực ra, có lẽ tốt hơn là tôi nên tự hỏi: có phải là tôi đã sai lầm chăng? Lẽ ra tôi đã phải khôn ngoan hơn trong việc này chứ... Lẽ ra tôi đã phải nhẹ nhàng, hiền hậu hơn chứ... Vậy ai có tinh thần kiểm soát được bản thân thì chẳng đánh mất danh dự của mình chút nào, mà còn học thêm rất nhiều những điều khác nữa. Thiết nghĩ: điều trên nên được chọn làm đề tài xét mình riêng cho ta.

Những năm tháng tập sự của cha phó trẻ cũng phải trở nên những năm tháng huấn luyện cho cha chính xứ nữa. Những điều được bàn trên đây cũng có thể áp dụng cho các vị bề trên vì các ngài cũng không bao giờ có thể chấm dứt việc học hỏi, huấn luyện. Ý kiến trên đây là lời khuyên của Ðức Hồng Y Consalvi đã thưa với Ðức Giáo Hoàng khi Ðức Giáo Hoàng đến thăm lúc ngài đang hấp hối và xin ngài cho một lời khuyên cuối cùng.

Những năm tháng tập sự là những năm tháng quý báu. Có nhiều cha phó đã tâm sự với tôi, với tất cả tấm lòng tri ân, là các ngài đã tìm thấy nơi cha chính xứ của mình, một gương mẫu cho cả cuộc đời mình, bởi vì, cha chính xứ đã luôn là người đầu tiên có mặt tại tòa giải tội mỗi buổi sáng. Có những cha phó khác kể là cha xứ đã dành ra rất nhiều thời gian trong tuần để chuẩn bị cho bài giảng ngày chúa nhật để bài giảng có được chất lượng và thích hợp với cử tọa. Một cha phó khác đã kể là: có một cha xứ qua đời vào tháng chạp mà người ta đã thấy trên bàn viết của ngài chương trình làm việc cho toàn bộ năm sau.

Những năm tháng tập sự là những năm tháng quý báu. Tôi rất vui khi nghe kể là có cha phó xin cha chính cho mình dự buổi học giáo lý về bí tích Hòa giải và về việc rước lễ để có thể hiểu biết thêm. Cha phó cũng có thể học được nơi cha chính cách làm sổ sách, việc điều hành giáo xứ. Ðến nay, tôi vẫn còn nhớ: hồi còn nhỏ, mới học lớp sáu, tôi đã có thể giúp ông cụ tôi sao lại bản hợp đồng cho thuê nhà, và đó quả là cả một thế giới mới lạ về những chi tiết hành chánh được mở ra trước mắt tôi. Có thể các tân chức cho rằng những lời khuyên răn trong năm cuối của đại chủng viện chỉ là những "chuyện nhỏ", những chuyện tỉ mỉ. Nhưng trong thực tế, vị linh mục trẻ sẽ sớm nhận ra những chuyện "vặt" đó cũng có vai trò quan trọng của chúng.

Đamien
13-09-2006, 10:42 AM
Xin đan cử ra đây một vài ví dụ:

Trước hết, cha phó đừng dễ dàng nghĩ rằng mình được trao cho nhiệm vụ cải tổ nhà xứ, luôn cả giáo xứ. Cha phó không nên có thói cãi lại cha xứ, cũng không nên phản đối phương pháp và chính sách của người, nếu không phải là khi cần thiết. Cha phó cũng nên bỏ những kiểu ăn nói quá tự do, điều mà mình đã học được trong khi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Ngài nên giữ đúng giờ trong mọi sự, không những trong khi phục vụ nhưng còn phải đến đúng giờ cơm nữa. Còn một vấn đề quan trọng nữa, đó là nên nhìn sự vật dưới khía cạnh tốt, cắt nghĩa tốt cho mọi việc, cắt nghĩa theo chiều hướng thuận lợi...

Tính tình vui vẻ cũng là một đặc ân của Thiên Chúa và cũng thực sự là một nhân đức. Ðặc ân này ở tại nhìn khía cạnh tích cực của mọi vấn đề, nhận xét và cắt nghĩa mọi việc một cách nhã nhặn. Ðối với một số người, ân ban này xem như một chuyện đương nhiên do thiên phú. Những người khác thì phải dày công luyện tập và luôn phải kiểm soát bản thân. Nhưng nói chung, nhờ sự nhã nhặn và tính tình vui vẻ, ta có thể tránh cho mình nhiều điều cay đắng và nhiều chuyện khó chịu. Ai đó nói một lời cứng cỏi khó nghe, một chuyện vô duyên, vụng về ư ? Ta hãy làm như mình không nghe thấy gì cả. Nếu ai đó, trong lúc bốc đồng, giận dỗi, đã buông lời khó nghe, thì chính đương sự là người phải hối tiếc; chính anh ta lại là người phải chịu thiệt thòi. Làm bộ như không nghe thấy gì, không nhìn thấy chi, thì ta tránh cho mình và cho nguời khác một chuyện cãi vã, bất hòa.

Những chuyện coi như nhỏ, nhưng không đâu! Những chuyện nhỏ, nhưng thực ra chúng cũng rất quan trọng. Chính bằng cách ta giữ hoặc không tuân theo những lời cảnh cáo trên đây, mà ta tỏ ra hay không tỏ ra mức độ nhân đức, giáo dục và bác ái mà ta đã đạt hay chưa đạt được. Sự kiện sau đây sẽ là một ví dụ:

Có một cha xứ đến xin tôi đổi cha phó, lý do là cha phó đã tỏ ra thiếu kính trọng đối với ngài. Tôi trả lời: "Nếu tôi đổi cha phó của cha vì lý do đó, thì cả hai cha sẽ không ai hài lòng. Xin cha cứ coi như không có chuyện gì xảy ra cả". Sau đó, cha xứ trên đây cho tôi biết: ngài đã làm theo lời tôi khuyên và ngay lập tức sự kính trọng đã trở lại như xưa. Rồi cha xứ tiếp : "Và bây giờ thì xin Ðức Tổng để thư của con vào một góc kín của trái tim và xin Ðức Tổng rút chìa khóa ra. Ðó không phải là một cách tế nhị mà cha xứ tỏ ra sự khoan dung đối với cha phó của mình đó sao ?

Những chuyện xem ra nhỏ bé nhưng cũng có thể gây phiền lòng. Tôi đã định ngày ban phép Thêm sức tại một xứ đạo và chuyện xảy ra là cha phó biết được tin này qua một bà hội trưởng; điều này làm cho cả hai người hết sức ngạc nhiên. Lẽ ra cha phó phải là người đầu tiên được cha xứ thông báo cho mới phải... Những chuyện xem ra nhỏ, nhưng cũng cần để ý. Còn một qui luật có tính cách đặc biệt quan trọng: nếu có ai đó, trong xứ, đến phàn nàn với cha phó về chuyện cha chính xứ thế này thế kia, thì cha phó nên bênh vực cha xứ trong mọi tình huống. Cứ cho là đôi khi cha xứ đã xử sự công việc mà ta không hoàn toàn tán thành được, thì ta cũng nên tìm cách để cắt nghĩa vụ việc không hay đó dưới ánh sáng thuận lợi hơn và làm an lòng người đang thắc mắc. Cha phó nào làm như thế thì quả ngài đã làm gương sáng tuyệt vời cho người giáo dân rồi!

Đamien
13-09-2006, 10:45 AM
MỘT SỰ THỬ THÁCH XEM RA HƠI KỲ!


Tại làng Dinklar, thường có thói quen dạy giáo lý cho cả giáo xứ vào buổi xế chiều mỗi chúa nhật; sau đó mọi người ở lại chầu Thánh Thể. Vào một buổi chúa nhật, ngay sau bữa ăn trưa, cha phó nghe gõ cửa. Ðó chính là cha xứ:

"Thưa Cha, tôi xin nhờ Cha chầu giùm thay tôi, còn tôi, tôi sẽ dạy giáo lý".

- "Dạ, vâng ạ, thưa Cha chính"

Khoảng 10 phút sau, cha phó lại nghe gõ cửa.

- "Thưa Cha, tôi cảm thấy mệt mệt, phiền Cha dạy giáo lý giùm tôi, còn tôi, tôi sẽ chủ sự chầu".

- "Vâng, được ạ!"

Ðộ 5 phút sau, cha phó lại nghe gõ cửa lần thứ ba:

- "Thưa Cha, xin Cha vui lòng dạy giáo lý và chầu luôn cho tiện!".

- "Dạ, vâng, con sẽ làm"

Rồi sau đó chừng 5 phút, cha phó lại nghe gõ cửa:

- "Thưa Cha, tôi cảm thấy đỡ hơn rồi, thôi Cha để tôi dạy giáo lý và chầu luôn thể".

Lúc này, cha phó không còn chịu nổi nữa, liền phát cáu:

- "Chuyện này nghĩa là gì? Bộ cha chính muốn nhạo con, phải không ?"

Cha chính xứ mỉm cười, thân thiện:

- "Không đâu, tôi chỉ muốn thử xem Cha có thể kiên nhẫn chịu đựng đến đâu thôi !"

Vào nhiều năm sau , cha phó xứ hồi đó thưa với tôi:

- "Thưa Ðức Hồng Y, chuyện này con nhớ suốt đời".

Và người ta có lý khi nói: cha chính xứ đã sử dụng "những mưu mô đạo đức" kiểu xem ra hơi kỳ, nhưng thực chất không phải là ngố đâu.

Cha chính xứ nói trên đã là người mà tôi nghe nói là ngài đã giúp ý kiến cho Cha Deharde nên dạy giáo lý như thế nào.



CHỈ TRÍCH VÀ PHÊ BÌNH, PHẢI CHĂNG LÀ DẤU TRÍ THỨC TRỔI VƯỢT?


Xem ra thế hệ của chúng ta thường ưa chỉ trích gay gắt, hoặc thích chận họng, cắt ngang người đang phát biểu một cách xấc xược. Ðiều này đặc biệt đúng trong thế giới của người trẻ. Tuy nhiên, đây cũng là bổn phận của mỗi người trong chúng ta là phải biết nhận xét và phê bình đúng đắn về những vấn đề quan trọng. Thánh Phao-lô đã viết "Hãy thử tất cả và chỉ nên giữ lại điều gì tốt mà thôi" (1Tx. 5,2). Nhưng xem ra giới trẻ của chúng ta lại không mấy quan tâm về điều này. Ðiều còn đáng tiếc hơn là mức độ phê bình gay gắt được phơi bày ngay trước mắt những người không hiểu biết gì về những điều đang được nêu ra hoặc họ không có khả năng hạn chế kiểu nói phê bình quá khích của mình. Và đây quả là một điều thật dại dột, không khôn ngoan trong thời đại của chúng ta, lúc mà con người tỏ ra ít kính trọng đối với chính quyền và lúc mà quần chúng lại dễ bị kích động để đi đến bạo động. Ta phải nói thẳng vào mặt cho những ai tưởng mình là thông minh hơn người rồi buông ra những lời chỉ trích giáo quyền.

Thật là một bổn phận danh dự cho những thành phần của đạo binh thánh (militia sacra), đó là phải tỏ lòng kính trọng hoàn toàn đối với Ðức Thánh Cha và Ðức Giám mục giáo phận, trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Ðây không phải là vấn đề nịnh hót hay là việc tính toán cho việc "thăng quan tiến chức" cho bản thân; ngoài ra, ta cũng dễ phân biệt khi ai đó tỏ lòng tôn kính thực sự với kẻ tôn kính có tính toán. Tôi chỉ xin nói rõ thêm điều này: là khi ta hứa "Promitto reverentiam et obedientiam", thì ta phải luôn giữ lời hứa đó với lòng yêu mến. Các môn đệ của các Tông Ðồ đã viết ra những lời thật cảm động. Xin anh em linh mục hãy đọc lại những lời đó. Khi ta chu toàn bổn phận này thì ta lại càng làm đẹp lòng Chúa hơn, vì ta không nghĩ đến con người của những vị đó nhưng ta làm vì yêu mến Chúa Ki-tô và phẩm trật mà Người đã thiết lập.

Tôi nói như thế không phải vì ích lợi của giáo quyền mà là vì ích lợi của giáo dân và của các linh mục. Vị linh mục nào kiêu căng, thiếu kính trọng và hay chỉ trích giáo quyền thì vị đó tự làm cho mình mất giá trị trước mặt giáo dân, bởi vì sự kính trọng là mối dây liên kết các phần tử lại với nhau thành một cơ quan và ai làm cho sợi dây đó dãn ra, thì không thể chờ đợi sợi dây đó sẽ bền cho chính mình. Vị đó chỉ làm cho mình mất danh dự vì các giáo dân cảm thấy rằng: chẳng danh dự chút nào cho một linh mục, với tư cách là thừa tác viên của Giáo hội lại là người nắm giữ quyền cao chức trọng, thế mà lại tỏ ra bất phục tùng!

Lý do thứ ba: vị linh mục nào làm như thế thì không gây được nơi người trẻ lòng yêu mến bậc giáo sĩ, một ơn gọi cao trọng hơn các ơn gọi khác. "Xin quý vị vui lòng dè dặt cho một chút !", Windhorst đã kêu lên tại Quốc hội, lúc mà các nghị sĩ chỉ trích đến chỗ gay cấn. Lời cảnh cáo này ngày nay vẫn còn giá trị ! Sự kính trọng là nguồn mạch của nền văn hóa vào bậc nhất. Giữa lúc con người tỏ ra thô bỉ, tham lam, kiêu căng vào các thời cách mạng, thì Giáo hội công giáo đã có vinh dự biết bao khi đứng ra bảo tồn sự kính trọng cho việc "sentire cum Ecclesia". Và Giáo hội đã biết bảo tồn, gìn giữ sự hiệp nhất giữa các tâm hồn như là một viên ngọc vô giá.

Chớ gì các linh mục giảng dạy các giáo dân biết được ánh sáng của nhân đức ấy! Một thái độ như thế sẽ đem lại ơn ích rất sâu rộng. Sự kính trọng và sự tế nhị đem lại vinh dự cho những ai giữ được như thế. Ðó là dấu chỉ của một nền giáo dục cao. Cần nhắc lại đây lời cảnh cáo của Ðức Hồng Y Kopp, vị tiền nhiệm của tôi, trong thư chung cuối cùng của người:

"Ðối với người công giáo, lời của Ðức Thánh Cha phải được coi như lời thánh, ngay cả khi không liên quan đến việc công bố tín điều nào. Người công giáo nhận ra trong tiếng nói của Ðức Thánh Cha chính tiếng nói của Ðức Ki-tô và chấp nhận lời giáo huấn của Người một cách trọn vẹn và tín nhiệm. Họ chấp nhận lời Ðức Thánh Cha theo ý Người nói, không thắc mắc, nhưng chấp nhận với một niềm tin yêu trung thành. Ðó là sợi dây tín nhiệm tuyệt đối nối kết người công giáo với Ðức Giáo Hoàng.

Đamien
13-09-2006, 10:51 AM
X

PHỤC VỤ CÁC LINH HỒN



BIẾT VÀ PHỤC VỤ CÁC LINH HỒN

Vào những thời đại mà tâm hồn của người bình dân đang phải chịu sức ép của các kích động mãnh liệt thì việc các linh mục, trong tư cách là các chủ chăn các linh hồn, cần phải làm, đó là: phải nắm bắt được những biến cố của đời sống nội tâm của họ. Các ngài phải quan sát và nghiên cứu những biến cố xảy đến tùy theo lứa tuổi và tùy theo các tầng lớp xã hội khác nhau. Những điều này có thể khó nhìn thấy nhưng chúng lại rất quan trọng vì chúng có thể quyết định cho tương lai.

Vậy, nếu ta muốn hiểu tâm hồn của người trẻ, trong những năm tháng họ đang phát triển về thể lý cũng như về luân lý, thì các ngài phải hiểu những vấn đề mà tuổi trẻ đặt ra và chúng sẽ gây không ít ngạc nhiên cho các ngài.

Việc nghiên cứu tâm lý này tương đối dễ dàng vào thời kỳ mà tâm hồn của người dân còn có một cuộc sống an bình, nhẹ nhàng và đều đặn. Nhưng điều này đang gặp một khó khăn chưa từng có, trong lúc này, lúc mà trường học đang trở thành lãnh vực cho các cuộc thử nghiệm sư phạm,

- lúc mà thời gian dành cho việc dạy giáo lý và các môn đạo đức ngày càng ít đi và không được bình tĩnh như trước,

- lúc mà sự hoài nghi, tinh thần phê bình và những điều hàm hồ khác đang hủy hoại sự phát triển hài hòa của nếp sống nội tâm,

- lúc mà con người dành ưu tiên cho việc quan tâm đến thân xác hơn là cho linh hồn,

- lúc mà sự phát triển nhẹ nhàng và bình thường của cuộc sống tính dục đang bị cản trở một cách trầm trọng bởi sự thức tỉnh quá sớm của sự dâm dục và do việc con người quá giàu tưởng tượng,

- lúc mà gia đình và môi trường chung quanh gây ảnh hưởng xấu,

- lúc mà sự bảo tồn được lòng trinh trắng vô tội trong lãnh vực tính dục được công khai coi như là một điều không thể đạt được.

Đamien
13-09-2006, 10:51 AM
Nhiều người trẻ ngày nay đã đánh mất một phương tiện bảo vệ và ý tứ giữ gìn vì những lỗi phạm trong lãnh vực tình dục đã làm giảm bớt sự hăng say cầu nguyện và việc lãnh nhận các bí tích. Chính vì lý do này mà trái tim họ bị đóng kín, nên ân sủng không thể hoạt động được nữa. Những điều này đã gây không ít khó khăn cho việc huấn luyện giới trẻ, bây giờ và sau này, khiến họ khó có thể sống một cuộc sống cao quý và trong sạch.

Tuy nhiên, dù sao thì cũng vẫn còn những người trẻ đang duy trì được, từ thâm sâu của trái tim, ý nghĩa của sự cao quý mà địa vị làm con Thiên Chúa mang lại cho họ; họ vẫn còn ao ước sống trong sạch và an bình, mà điều này chỉ có thể có được trong Chúa. Ðây quả là một sự nhớ nhung về một niềm hạnh phúc thực sự mà ta chỉ có thể tìm đuợc trong sự trong trắng, sự vô tội và sự hiệp thông với Thiên Chúa mà thôi.

Vậy ta có bổn phận sử dụng tất cả những khát vọng, tỏ lòng tín nhiệm vào người trẻ và nhìn nhận tất cả những gì là cao quý nơi những người lầm đường lạc lối. Khi ta tiếp xúc với một người đã sa ngã, ta phải nghĩ đến việc họ đã phải chiến đấu như thế nào, họ đã phải khủng hoảng nội tâm ra sao, và chỉ với một lòng cảm thông sâu xa, ta mới gây được sự tín nhiệm. Một khi đã có được sự tin cậy lẫn nhau như thế, ta mới có thể giơ tay ra để cứu giúp họ. Và điều này có nghĩa là: hiểu biết và quý trọng các linh hồn.

Còn đối với các sinh viên đại học thì việc làm này thật khó, nhất là tại môi trường gia đình ít có lý tưởng. Còn đối với môi trường công nhân thì việc này lại càng khó hơn.

Có rất nhiều sách về tâm lý có khả năng giúp ta hiểu biết thêm về giới trẻ, các linh mục nên tìm đọc và đồng thời cũng nên để ý quan sát cuộc sống thực tế của họ với sự thiện cảm. Thêm vào đó , còn phải kể đến 2 yếu tố sau đây. Ðó là :

1. Vị linh mục cần trở nên gương mẫu dưới mọi khía cạnh.

2. Ngài cần nhẫn nại tìm ra những điểm gặp gỡ, tạo điều kiện tranh thủ được sự thiện cảm của chàng thanh niên để anh sẵn sàng cởi mở tâm hồn ra với ngài; còn ngài thì có thể chiếm được sự yêu mến của chàng.

Liệu ta có thể hiểu được tâm lòng của một người trẻ đã chịu nhiều phong ba bão táp của cuộc đời nội tâm, có lúc chẳng còn ai hướng dẫn và là nơi nương tựa, và bây giờ, anh đang đi tìm một người nào đó mà anh có thể hoàn toàn tín nhiệm.

Ta hãy đặt mình vào vị trí của một người nghèo mà không ai muốn nhìn mặt.

- Liệu ta có biết được bao hi sinh mà một người đã phải gánh chịu để cuối cùng người đó tìm được đường đến tòa giải tội ?

- Liệu ta có tìm ra được lời nào để nói với một người đang hấp hối, mà người đó lại đang cố bám vào cuộc sống ?

- Liệu ta có thể nói được gì với một người mẹ đang phải đau khổ vì đứa con hoang đàng ?

- Liệu ta có lựa được lời nào thích hợp để an ủi một người vợ đang phải chịu cảnh hành hạ do một anh chồng vũ phu? Hãy tìm hiểu xem người khác đang nghĩ gì, tìm cảm nghiệm như họ đang cảm nghiệm, chia sẻ những hoài bão của họ, tín nhiệm họ, cho dù ta chưa hề thành công trong việc cầu nguyện cho họ, rồi hi sinh cho họ, như Thánh Mô-ni-ca đã làm cho Âu-tinh hồi xưa.

Ðó là những nét đặc trưng của một tâm hồn tông đồ biết tìm được những lời nói thích hợp, đúng lúc, đúng chỗ. Ðó là tinh thần xã hội thực sự. Vị linh mục nào sẵn sàng làm như thế thì ngài quả là đang làm theo cách Chúa Giê-su đã làm khi Người nói trò chuyện với Ni-cô-đê-mô, hoặc như cách Người ứng xử với Phê-rô sau khi ông đã chối bỏ Người, hoặc trong câu chuyện Người trao đổi với hai môn đệ trên đường Em-mau. Những giờ phút suy tư đó, trong thinh lặng, những tư tưởng đó dễ trở thành những lời cầu nguyện van xin.

Thời đại ngày nay càng khó khăn bao nhiêu thì ta lại càng phải cầu nguyện tha thiết hơn bấy nhiêu để được ơn vô cùng quý giá, đó là: một tâm hồn thực sự có tinh thần tông đồ và có được một sự tế nhị khéo léo tuyệt diệu.

Thánh Âu-tinh đã có một biệt tài: đó là thấu hiểu được tâm tư nguyện vọng của những người đang lâm nguy, khi mà họ phải chiến đấu ác liệt trong nội tâm. Ta hãy theo gương ngài. Ta cũng giàu chân lý đời đời như ngài. Các chân lý này mang lại sự sống và môi trường chung quanh chúng ta cũng nghèo nàn khô cằn như thời ngài. Chúng ta cũng có những quyền năng mà Chúa Ki-tô đã trao ban cho, tuy rằng thế giới này làm bộ như không thèm đếm xỉa đến.

Có thể là chúng ta cũng có một đời sống luân lý kiêu căng, và như Thánh Âu-tinh trong cuốn "Tự thú" đã nói rất rõ về ảnh hưởng giáo dục của đức khiêm tốn thực sự, sự thành thực đối với chính bản thân. Chúng ta dấn thân vào nhiều hoạt động bên ngoài và chúng ta không thưởng thức được bánh "man-na" bí nhiệm và hạnh phúc của đời sống nội tâm. Chúng ta học được nơi Thánh Âu-tinh gương mẫu của đức ái, phục vụ dân chúng, lo cho ích chung. Ta có thể tự mắt nhìn thấy sức mạnh của gương sáng bản thân và trong một số môi trường trí thức, người ta chưa quan tâm đến việc này bao nhiêu. Ðó là một vài lời kêu gọi khẩn trương mà tôi nghĩ phát ra từ ngòi bút của vị Thánh tiến sĩ thời danh nhất của Giáo hội.

Cuộc sống của Thánh Âu-tinh quả là một cuốn sách đem lại niềm vui to lớn cho người đọc. "Tolle et lege" (Hãy cầm lấy mà đọc). Và tất cả những gì ta tìm được trong cuộc sống của vị Thánh này, ta lãnh nhận như những nét sáng chói và những lời cảnh báo quý giá cho ta, ta biến chúng thành một thực tại sống động cho cuộc sống của ta.

Tôi cầu mong cho các linh mục, những người đã tận hiến mình để phục vụ các linh hồn, tìm ra được một ánh sáng chói lọi trong cuộc đời của Thánh Âu-tinh, điều mà thời đại chúng ta ngày nay đang đòi hỏi từ nơi chúng ta.

Đamien
13-09-2006, 10:54 AM
"HÃY AN ỦI NHAU" (1 Tx 4,18)

"Anh em hãy an ủi nhau và xây dựng cho nhau" (1 Tx 5,11)

Một lời khuyến khích: đó là điều mà người giáo dân ngày nay đang mong chờ. Thật ra, không gì làm tê liệt nghị lực đạo đức của người giáo dân bình thường cho bằng giọng nói buồn tẻ, ủ rũ, hoặc cam chịu. Trái lại, không gì làm họ hưng phấn cho bằng một tâm hồn mạnh mẽ, có khả năng hướng dẫn họ, điều mà họ luôn hướng về với tất cả niềm tín thác. Ðem lại sự can đảm và sự tín nhiệm cho những tâm hồn đang bị áp bức hoặc đã đánh mất sự tín nhiệm, đó là đặc điểm của Giáo hội, Vị Hôn thê của Ðức Ki-tô. Ðây quả là một trong những tâm tình căn bản làm cho toàn bộ Phụng vụ sinh động, trong Sách nguyện cũng như trong Sách lễ.

Nào ta hãy mở Sách lễ ra, tìm lễ Chúa nhật I Mùa Vọng. Ôi! thật là suối nguồn của sự can đảm sinh động.

" Con nâng tâm hồn lên cùng Chúa,
Lạy Thiên Chúa của con, con tin tưởng nơi Ngài,
Xin Ngài đừng để con tủi nhục,
Ðừng để quân thù đắc chí nhạo cười con.
Chẳng ai trông cậy Chúa mà lại phải nhục nhằn".
(Tv 24,1-3)

Ca nhập lễ Chúa nhật II Mùa Vọng:

"Này dân Xi-on hỡi,
Chúa sắp ngự đến cứu độ muôn dân.
Người sẽ lên tiếng thật oai hùng,
Khiến tâm hồn anh em hoan hỷ".
(x. Is 30,19.30).

Ca nhập lễ Chúa nhật III Mùa vọng:

"Anh em hãy vui luôn trong Chúa!
Tôi nhắc lại: Anh em hãy vui lên!
Vì Chúa đã đến gần."
(Pl 4,4.5)

Ca hiệp lễ Chúa nhật III Mùa Vọng:

"Hãy nói với những kẻ nhát gan:
"Can đảm lên, đừng sợ!
Này Thiên Chúa chúng ta
Sẽ ngự đến cứu độ chúng ta".
(x. Is 35,4).

Ðó chính là những điều mà người giáo dân bình thường ưa được nghe trong những bài giảng, khi học giáo lý, lúc xưng tội, trong những cuộc tiếp xúc với các linh mục; những người nhát sợ, những người có tâm hồn bị bẻ gẫy, những người có những vết thương lòng. Ðiều này có nghĩa là ta phải cầm lấy tay họ, tăng lực cho những đầu gối đang sắp quỵ ngã. Ðiều này rất đúng cho thời đại chúng ta, dù nó có tối tăm như trong trường hợp Thánh Phao-lô Tông đồ, khi ngài nghe thấy tiếng xiềng xích kêu lẻng xẻng mỗi khi chân cử động. Tuy nhiên, từ góc ngục tù tối tăm đã vọng lên một tiếng reo vui hướng về phía cộng đoàn các tín hữu đang hoảng sợ. Những tâm tình tương tự ấy tự chúng sẽ tác động tốt đến các giáo dân bình thường. Chúng làm thành một trong những khía cạnh hữu ích cho khoa trị liệu thiêng liêng, tại đó ta có một bài thuốc chữa lành các linh hồn đã được trao phó cho ta.


LÒNG YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI

"Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại". (Tt 3,4). Nguồn sức mạnh kỳ diệu, thêm vào đó là ân sủng của Thiên Chúa! Lòng yêu thương nhân loại đã từ trời xuống trong Chúa Giê-su, Ðấng lấy làm vui vì ở giữa dân Người.

Lòng yêu thương nhân loại: nhân đức đặc biệt của vị linh mục.

Một lời thân tình thật có sức mạnh biết bao! Ngược lại, một lời cứng cỏi, gắt gỏng lại có thể gây thiệt hại nhường nào! Khi ai đó gặp nỗi đau, lời nói của một vị linh mục có thể xoa dịu nỗi đau ấy hơn bất cứ lời an ủi đến từ một người giáo dân hoặc một quan chức nào khác.

Lòng yêu thương nhân loại !

Cứ nhìn vào Nhà Tạm: nơi Chúa Giê-su hiện diện trên bàn thờ. Ai đến với Chúa Giê-su Thánh Thể, Ðấng cứu độ trần gian, đều nhận được một lời yêu thương an ủi trong thinh lặng. Và nếu có ai đó đã đi đàng tội lỗi cả cuộc đời, nhưng lúc hấp hối lại tỏ ý ăn năn hối tiếc, cho dù chỉ một thoáng, cũng đủ để Ðấng Chăn chiên nhân lành vội vàng rời bỏ Nhà Tạm để đến ngay bên giường con người đang khổ đau ấy. Ngài sẵn sàng quên hết tất cả, chả còn chút dấu hiệu chấp nê nào.

Vẻ đẹp và sức mạnh của lòng yêu thương nhân loại đó, ta có thể cảm nghiệm được khi ta đọc lại toàn bộ bức thư của Thánh Phao-lô gởi Phi-lê-môn. Thánh Phao-lô đã yêu cầu ông tha thứ cho tên nô lệ Ô-nê-xi-mô vì tội đã bỏ trốn. Nhân danh đức ái, ngài đã xin ông nhận lại Ô-nê-xi-mô. "Xin anh hãy nhận nó như người ruột thịt của tôi" (Plm 1,12).

Chuyện bất công mà Ô-nê-xi-mô đã gây ra cho Phi-lê-môn, thì Thánh Phao-lô đã đứng ra lãnh trách nhiệm đó. Và ngài kết bức thư đó như sau :

"Tôi viết thư này cho anh với niềm tin tưởng là anh sẽ nghe theo. Tôi biết rằng anh sẽ còn làm hơn những gì tôi xin nữa" (Plm 1,21).

Ta cảm thấy hơi thở của đức ái toát từ mỗi "từ" của bức thư; đức ái xuất phát từ trái tim của Thiên Chúa đầy lòng nhân ái, được truyền đến trái tim của Thánh Tông đồ và đức ái tỏa rộng khắp từ trái tim ấy.

Thêm vào đó, ta còn cảm nhận được sự tế nhị của một tâm hồn và một sự thân tình cuốn hút, có sức làm nở hoa tinh thần ki-tô. Chính tinh thần ki-tô này đã thúc đẩy Thánh Phaolô, tuy viết cho một người giáo dân bình thường, đã có cách viết như một lời van xin (x. Plm 1,9).

Làm thế, Thánh Phao-lô muốn dạy chúng ta một bài học, đó là: ta đừng nên coi mình như những nhà sư phạm, như các bậc thầy, nhưng tốt hơn là ta hãy tìm cách chinh phục trái tim con người, bằng sự dịu hiền, mỗi khi có thể. Ngài cũng dạy chúng ta nên biết "châm chước, chín bỏ làm mười", luôn giản đơn, tự nhiên, không kiểu cách, cũng không làm cao làm kiêu, để lòng yêu mến tha nhân của ta không mất đi dấu ấn của sự chân thành. Ngay cả khi Thánh Phao-lô phải sử dụng đến quyền bính hoặc khi phải nói "toạc" ra để dẹp những gương mù gương xấu, thì ngài cũng vẫn giữ được những đức tính căn bản riêng của ngài. Ðiều này thì ai cũng cảm nhận được.

Ðây quả là một bài học vô cùng quý giá cho hoạt động tông đồ của chúng ta.

Đamien
13-09-2006, 11:00 AM
GIỮ MIỆNG LƯỠI

Ta phải giữ miệng lưỡi, kiểm soát lời ta nói, và phải áp dụng một kỷ luật nghiêm khắc đối với cái lưỡi của ta. Thời buổi chúng ta ngày nay lại không được ích lợi bởi sự cảnh cáo này sao? Những thời kỳ mà con người bỏ bê không quan tâm đến chuyện huấn luyện luân lý, hoặc lo giữ sạch các tình cảm thì đều coi thường sự cao quý của ngôn ngữ và sự điều tiết trong lời nói cũng như trong văn bản.

Thời đại của chúng ra cũng giống như thế. Con người ngày nay không quan tâm kiểm soát lời nói bao nhiêu, điều mà ta gọi là: "castigatio vocis" (sự giữ gìn miệng lưỡi). Ðâu đâu cũng thấy nhan nhản những khẳng định sống sượng, những chỉ trích châm chọc, chua cay và sự bất công trong tranh chấp giữa các đảng phái đã làm cho đời sống xã hội phân tán. Ðiều này cũng đang xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, những nơi mà giới trẻ tự kiêu, tự đại, đem mình ra phía truớc, thay vì biết tự luyện thông qua suy nghĩ và học hỏi kinh nghiệm. Ðể chống lại sự lệch lạc tệ hại này, việc chính của vị linh mục là, nhờ làm gương sáng, ngài phải trở thành người giáo dục giáo dân. Vậy việc "castigatio vocis" phải được coi như một bổn phận đối với ngài.

Về chuyện không giữ miệng lưỡi, chính Thánh Gia-cô-bê Tông đồ cũng đã khiêm tốn xưng thú, khi ngài lên án việc ăn nói bừa bãi:

"Thật vậy, tất cả chúng ta thường hay vấp ngã. Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo" (Gc 3,2). Như thế, nếu ai đó không có khả năng kiềm chế miệng lưỡi trong trường hợp này, trường hợp nọ, thì đừng cho mình là người "hoàn hảo". Nhưng tất cả mọi người phải cân nhắc lời nhắn nhủ này của vị Tông đồ:

"Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đó có xáo trộn và đủ mọi việc xấu xa" (Gc 3,16). Chỉ một lời nói thân tình, phát xuất từ một trái tim chân thành, có thể đem lại bao can đảm và ủi an. Nhiều khi chỉ một câu trả lời thân thiện có thể chấm dứt được một cuộc tranh cãi và làm biến đi chuyện khó chịu có thể xảy ra.

Tuy nhiên, chuyện nói đùa cũng đòi hỏi sự cẩn trọng, nếu không thì dù có ý tốt, vị linh mục hay bông đùa trước mặt giáo dân có thể sẽ gây ra nhiều sự khó chịu và bất mãn, bởi lẽ không phải ai cũng có được sự tinh tế để hiểu ngay được ý nghĩa hoặc sự tài tình của một câu nói đùa. Có nhiều người cho chuyện bông đùa là không xứng hợp với chức vụ linh mục, nhất là khi vị linh mục nào đó, hễ mở miệng ra là rở trò cợt nhả. Về phương diện này thì ta nên biết "se accommodare", nghĩa là ta phải quan tâm thích ứng với môi trường và hoàn cảnh lúc đó. Ngoài ra, ta nên tỏ ra quảng đại để cắt nghĩa lành cho điều mà trong chuyện trò trao đổi xem ra có thể làm mếch lòng.

Ðến đây, ta nên nhớ Ðức Giê-su cũng đã khuyên chúng ta nên đối xử với người khác như ta mong muốn họ đối xử với ta. Như thế, ta nên cắt nghĩa tốt điều họ nói như ta cũng muốn ngườt khác cắt nghĩa tốt cho điều ta nói.

Và đây quả thật là lúc và là nơi ta có thể thể hiện, trong thinh lặng, lòng bác ái của ta đối với tha nhân.

Đamien
13-09-2006, 11:01 AM
"TÔI MẮC NỢ MỌI NGƯỜI" (x. Rm 1,14)

"Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau" (Ep 4,3). Lời khuyên của Thánh Phao-lô trên đây nhằm vào việc mục vụ của vị linh mục, khi ngài phải đối mặt với những tình huống trong đời sống giáo xứ và với những thăng trầm của cách đối xử của người giáo dân đối với ngài. Vậy gương mẫu của ta chính là Ðấng Cứu thế.

Ðức Giê-su đã sống tại trần gian này. Người mang trên mình tất cả những khổ đau của con người, Người chia sẻ mọi nỗi đau cũng như niềm vui của họ. Và nay, Ðức Ki-tô vẫn tiếp tục sống trên trái đất này. Người không làm gì khác, theo dòng chảy của năm phụng vụ, với những thời gian hy vọng và buồn khổ, thời gian khổ đau và vui tươi, thời gian đền bù và hoan lạc.

Giáo hội cũng hoạt động như thế và đây chính là ý nghĩa xã hội thực sự. Giáo hội công giáo quả là Giáo hội của dân chúng. Và vị linh mục cũng không thể cư xử cách khác được. Trái tim của ngài cần rung động theo nhịp khổ đau của giáo xứ đã được trao phó cho ngài. Trái tim ngài rướm máu khi thấy điều vô luân đang xảy ra chung quanh. Trái tim ngài run sợ trước câu hỏi: "Hỡi người lính gác, chuyện gì đã xảy ra trong đêm qua?".

Trái tim của Giáo hội đang rướm máu trước những tàn phá ác độc như một người mẹ xót xa khi thấy đứa con mình đang quằn quại trong đau khổ, khi thấy những con người đang lâm cảnh nghèo nàn, kinh tế yếu kém...

Các linh mục cần đoàn kết thân thiện với nhau trong ngôi nhà chung của Giáo Hội. Các ngài cũng nên nhắc nhở giáo dân về những bổn phận công dân. Riêng về linh mục, một đàng, ngài phải tôn trọng chính quyền, nhưng đàng khác, không phải vì thế mà ngài phải hạ mình xuống để xin đặc ân này đặc ân kia. Thái độ khúm núm, tự nó đã không nên, và người ta lại thường coi khinh những kẻ nịnh hót. Sức mạnh của ta nằm ở trong Thân Thể mầu nhiệm của Ðức Ki-tô, chứ không phải là trong sự luồn cúi các vị có chức có quyền phần đời.

Dĩ nhiên là các vị có chức quyền dân sự đều được kính trọng, nhưng đối với chúng ta, chúng ta phải luôn nhớ mình là linh mục trong ý nghĩa toàn vẹn của nó, và ta phải ý thức được tước vị của ta. Vậy, một đàng, ta phải luôn tỏ ra giản đơn và nhã nhặn, nhưng không phải vì thế mà ta quên sự cao quý của ơn gọi của mình.

Chúa Giê-su đã chúc lành cho những ai có tâm hồn hiền hòa. Nhưng muốn duy trì được bầu khí an hòa thì thường nên bỏ qua -vì bác ái- một lời nói khó nghe, làm mếch lòng, hoặc vụng về và ta phải làm như là không nghe thấy gì cả. Ðó là một hi sinh nhỏ bé, nhưng lại phát xuất từ một nền giáo dục luân lý cao độ. Và chính ta là người được lợi, vì ta duy trì được sự bình an nội tâm, đồng thời lại còn tránh được mối bất hòa.

Cuộc sống đời thường đưa lại cho ta biết bao cơ hội để ta trở thành "mọi sự cho mọi người" và nhờ thái độ này mà ta có thể làm gương lành gương sáng. Vị linh mục nào cư xử như thế thì đáng được lời khen: "Phúc thay những bước chân của những người đi rao giảng hòa bình, rao giảng những điều thiện hảo!"

Ðó là những cơ hội quý giá ta không nên để mất đi mà không đem lại nhiều hoa trái.

Về vấn đề cần phải kết thân với tâm hồn người bình dân, ta có thể đọc những nhận xét sau đây của một người trở lại đạo: Langbehn:

"Một trong những điều tệ hại nhất của thời đại chúng ta, đó là: con người đã đánh mất sự tiếp cận với dân chúng, với những tâm tư nguyện vọng của người khác. Vậy điều cần thiết ngày nay phải làm là tìm lại được sự tiếp xúc đó với dân chúng. Và ta chỉ có thể làm được việc này bằng sự quan hệ giữa người với người, nhờ vào gợi hứng của các tâm tình tông đồ.

Người dân thường luôn đi theo cảm xúc tự nhiên và như thiên phú, đó là thiệm cảm của trái tim. Khi ta ngỏ lời với dân chúng, ta nên luôn sử dụng kiểu nói đầy thiện cảm, luôn ủi an và luôn tâm tình. Ta không có bổn phận nào lớn hơn là phục vụ các anh em mình trong đức ái. "Tôi mắc nợ mọi người", Thánh Tông Ðồ các dân tộc đã nói thế. Cũng chính vì thế mà ngài đã tỏ lòng cảm ơn và trân trọng đối với các bà quý phái đã cộng tác với ngài trong hoạt động tông đồ. Ước chi vị linh mục biết noi gương vị Tông đồ: biết thận trọng trong quan hệ với các bà, các cô, tránh tất cả những chuyện thân mật cũng như không nên coi khinh họ.

Ta hãy xem gương Thầy chí thánh trong suốt cuộc đời của Người, cũng như khi Người chết và sau khi Người đã sống lại. Người đã yêu mến và tôn trọng Mẹ Người như thế nào. Người đã lo xếp đặt cho Mẹ Người trước khi Người chết. Hai chị em quê tại Bê-ta-ni-a, Người cũng đã tỏ lòng quý mến họ tận tình. Người cũng đã bênh vực người phụ nữ tội lỗi, người đàn bà ngoại tình và khuyên chị ta đừng trở lại con đường cũ. Thật ấn tượng khi thấy Ðức Giê-su đã khởi sự cuộc tiếp xúc với người phụ nữ tại Xi-ca và nhất là thái độ của Người đối với các bà đạo đức đã đi theo Người trên con đuờng dẫn tới Can-vê. Và, sau đó, tại khu vườn, sau khi từ cõi chết chỗi dậy, Người đã trao cho các bà sứ mạng loan tin mầu nhiệm cao cả.

Lịch sử đã ghi lại thành tích của biết bao người phụ nữ thời danh, mà thông qua họ, bao ơn lành đã đổ xuống trên nhân loại, từ khi tên Êva được đổi ra Ave. Và cả ngày nay nữa, biết bao người phụ nữ, thiếu nữ đang là những phụ tá đắc lực trong mọi ngành hoạt động tông đồ. Vị linh mục có biết bao lý do để tỏ lòng trân trọng các phụ nữ này và ngài phải khôn ngoan sử dụng hoạt động của họ nhằm phát triển Nước Chúa Ki-tô.

Trái tim của một người mẹ, của một thiếu nữ có thể gây ảnh hưởng tốt biết bao, ngày nay cũng như vào mọi thời đại, họ có thể ghi dấu ấn lòng lòng đạo đức và nền luân lý cho cả một dân tộc.

Ðây không phải là nơi để ta triển khai chi tiết đề tài này, nhưng ta cũng không thể không đề cập tới. Chính vì lý do này mà tôi đã cố trình bày cách ngắn gọn.

Đamien
13-09-2006, 11:09 AM
BẠN CỦA NGƯỜI NGHÈO


Ðức Giê-su đã có lần lên tiếng mời gọi tất cả những ai đang khó nhọc và gánh nặng hãy đến với Người. Từ "tất cả", vị linh mục phải mang nó trong sâu thẳm của trái tim mình. Và "từ" này có nghĩa là những kẻ nghèo nhất trong những người nghèo: những ai đang thiếu thốn tiền bạc, những người không có công ăn việc làm, những người không được ai đếm xỉa tới, những người thất học, những người khuyết tật, những ai đang mắc nợ chồng chất, những ai bị bệnh lây nhiễm đáng sợ.

Ðức Giê-su đã không loại bỏ ai. Chúa đã không quan tâm đến chuyện "mỹ thuật", hoặc các điều kiện xã hội. Trong từ "tất cả", ta thấy có một sự từ bỏ hoàn toàn và một sự chiến thắng chính bản thân. "Hãy đến với Ta, tất cả !".

Nhưng từ "Hãy đến" còn có một âm vang hấp dẫn khác rất đặc biệt và trong phong cách Chúa Giê-su nhận lãnh "tất cả", khi Người nhìn thẳng vào họ và ngỏ lời trực tiếp với họ.

Không gì khổ tâm hơn cho người nghèo khi họ cảm thấy người khác không muốn nhìn mặt họ, hoặc nhìn họ một cách ghê tởm, dường như là nếu có thể tránh không gặp một kẻ hèn kém thì tốt hơn. Nhưng thái độ của Chúa Giê-su thì hoàn toàn khác. Cứ nhìn vào cảnh người phụ nữ tội lỗi xâm nhập vào phòng tiệc của ông Xi-môn, người biệt phái, thì rõ. Chúa Giê-su lấy làm tự hào vì sứ điệp hoan lạc Người gởi đến cho người nghèo. Ôi! Tình nghĩa biết bao! Cho dù Người cao trọng vô song, nhưng Người lại quan tâm tế nhị biết mấy đối với mọi người. Ðối với người "kẻ trộm" có lòng ăn năn, Chúa đã quan tâm tế nhị biết bao! Rồi đối với Phê-rô, thái độ của Chúa, sau khi sống lại, thật khoan dung biết mấy !

Ảnh hưởng tốt của các việc bác ái trong tinh thần hi sinh đối với người nghèo thực đã vượt qua biên giới của một phạm vi hạn hẹp.

Tôi nhớ đến chuyện một cha xứ tại ngoại ô đã hi sinh giường của mình trong nhiều tuần lễ để dành nó cho một gia đình nghèo. Có một vị khác, sau khi đã gõ nhiều cửa, cuối cùng cũng đã tìm được một chỗ làm cho một cựu tù nhân, chủ một gia đình. Và ba tháng sau, ông giám đốc xí nghiệp đã đánh giá rất cao người thợ cựu tù này: "Anh là công nhân xuất sắc nhất của tôi", ông chủ nói. Thế là toàn bộ gia đình anh đã được cứu thoát.

Tôi đã kể cho một vị linh mục trẻ câu chuyện về Cha Ða-miêng, (tên thật là: Joseph de Veuster) - người hùng của đảo Mo-lo-kai. Từ năm 1873, cha đã hoàn toàn cống hiến đời mình cho người cùi. Ngài đã chia sẻ với họ cuộc sống bệnh tật khủng khiếp này. Và chỉ sau 10 năm chung sống chính ngài cũng đã bị lây. Ngài đã chết cách anh hùng vì bệnh này vào ngày 15 tháng 4 năm 1889.

Tôi còn giữ được một tấm hình của ngài hồi ngài còn thanh niên. Rồi còn một ảnh nữa của ngài khi ngài hấp hối trên giường với nhiều khổ đau. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy hình ảnh thứ ba của ngài, lúc ngài được vinh quang.

Lịch sử ngàn đời cũng đã để lại bao gương sáng của bao vị linh mục đã yêu thương người nghèo. Ta nên thu gom lại những gương lành đó và nên trân trọng chiêm ngưỡng. Gương lành luôn cuốn hút (Exempla trahunt).
<O:p</O:p
"Ta thương dân này!", Ðức Giê-su đã có lần kêu lên như thế. Ước gì tiếng kêu này cũng đến được tai các linh mục, và các ngài cũng sẵn sàng trở thành những người cha của các linh hồn bị bỏ rơi này. Ðối với các linh mục coi xứ toàn tòng công giáo, người ta cũng ao ước các vị này cũng dành quan tâm đến những người nghèo đang sống trong những khu "ổ chuột" ở ngoại vi thành phố...

Đamien
13-09-2006, 03:50 PM
NÊN GƯƠNG CHO GIỚI TRẺ-TINH THẦN HIỆP SĨ

Ta thường nghe điều phàn nàn: giới trẻ ngày nay không còn giống giới trẻ thời xưa nữa. Và người ta đưa ra những lý do sau đây :

- nào là vì hoàn cảnh bên ngoài,

- nào là vì ảnh hưởng của môi trường,

- nào là vì phương pháp giáo dục,

- nào là vì đời sống xã hội nay đã đổi thay.

Nhưng xét cho cùng, ta nên đặt câu hỏi: "Liệu đó có phải là tại chúng ta, những người lớn, các bậc thầy, các bậc cha mẹ hoặc các linh mục chăng? Nói cách khác, nếu ngày nay, giới trẻ không còn nhiệt tình sống đức tin như xưa, đó phải chăng cũng là vì chúng ta cũng không còn có được niềm tin sâu xa và sống động nữa ?

Ta thấy giới trẻ ngày nay thiếu sự tôn trọng. Ðúng vậy. Nhưng nếu chúng ta có thể có những quan hệ xã hội tốt hơn, tôn trọng hơn, thì ta đã có thể dạy cho giới trẻ biết trân trọng giá trị của ơn Chúa hơn. Giới trẻ không còn dễ vâng phục như xưa. Ngày nay, người trẻ tỏ ra có nhiều tham vọng hơn, kiêu sa hơn. Ðiều này cũng thật đúng. Nhưng xin hỏi: liệu các nhà lãnh đạo có biết làm gương cho giới trẻ về phương diện này không?

Giới trẻ ngày nay thường tỏ ra thiếu sót về phương diện biết giữ gìn, "bẽn lẽn". Vậy các vị có trách nhiệm có dạy cho họ biết trân trọng đối với những bí mật của sự sinh sản hơn không? Dĩ nhiên, ngay tại trung tâm gia đình phải tạo ra một bầu khí thiêng liêng và tâm hồn nhiệt tình để từ đó có thể là nơi đâm bông nảy lộc xinh đẹp nhất; thêm vào đó, vị linh mục còn phải có một thái độ thường xuyên của mộⴠnhà giáo dục nữa. Thái độ thường xuyên đó và sự tỏ lộ những tâm tình thầm kín của ngài lại không luôn là đối tượng cho mắt và tai của giới trẻ để họ xem tận mắt và nghe tận tai đó sao? Họ sẽ tìm ra được kết luận và có ý kiến riêng về tất cả những chuyện này. Ngay tại thế giới của giới trẻ, họ vẫn còn trân trọng tinh thần hiệp sĩ .

Sau đây, xin trình bày hình ảnh của một chàng hiệp sĩ:

"Chàng hiệp sĩ luôn tôn trọng thân xác của người khác. Ðứng trước thân xác này, chàng tỏ ra dè dặt khi nhìn xem. Chàng tôn trọng linh hồn của người khác. Chàng tránh vấp phải sai lầm và luôn đánh giá cao các tư tưởng cao thượng. Chàng tôn trọng những cuộc vật lộn và chiến đấu của người anh em, ngay cả khi người này vấp váp. Chàng phê bình cách thận trọng và không bao giờ hung hăng. Nếu ai đó tỏ ra dấu hiệu mệt mỏi hay yếu đuối, chàng tự nhủ: cho dù xuyên qua một chiếc bóng đèn mờ đục, nhưng vẫn còn ánh sáng vĩnh hằng, chàng cầu nguyện, giúp đỡ nhưng không bao giờ khinh rẻ ai. Nếu có người anh em thiếu nợ chàng, chàng quảng đại đốt tờ giao kèo. Sự quảng đại, lòng hào hiệp nơi chàng hiệp sĩ quả là một ân ban kỳ diệu.

Còn đối với các thiếu nữ và các bà, chàng luôn tỏ ra có lễ phép, kính trọng người cùng phái với mẹ mình. Chàng biết rằng Thiên Chúa đã trao ban cho người phụ nữ một phần đặc biệt trong quyền năng tạo dựng và trong tâm hồn của người phụ nữ chứa ẩn một sự tế nhị và một sự thanh cao đặc biệt.

Còn đối với các cô gái, chàng hiệp sĩ chỉ có thể có một thái độ: đó là kính trọng. Chuyện trăng gió chỉ làm hư sự quyến rũ và điều này chỉ gây thiệt hại cho cả người con trai cũng như người con gái.

Mỗi thiếu nữ là một người em gái của Mẹ Thiên Chúa. Họ không thể nào là một đồ chơi. Và người phụ nữ luôn tìm được sự che chở của tinh thần hiệp sĩ.

Chúng ta cũng phải trân trọng đối với người cao tuổi. Tóc bạc đối với ta phải như là một hào quang. Chúng ta sung sướng được bắt chước vẻ cao quý này mà chúng ta nhận ra được nơi ánh mắt của một chàng trai hay một cô em nhỏ.

Chúng ta muốn tỏ lòng tôn trọng trước sự cao cả của một linh mục. Chúng ta muốn thể hiện tinh thần hiệp sĩ bằng những hoạt động bên ngoài; cư xử lịch sự một cách chân thành. Khi ta chào ai, ta tôn kính trước giá trị của người ấy. Môi miệng ta không bao giờ buông lời chua cay châm chọc. Chúng ta kiềm chế không nói lời mỉa mai cay độc, nhờ tinh thần hiệp sĩ. Ðó là điều làm cho chúng ta có thể hy vọng vào tương lai tốt đẹp. Gương sáng của chúng ta có thể giúp cho hình ảnh của tinh thần hiệp sĩ thành hiện thực nơi những người mà chúng ta có trách nhiệm bảo vệ.

Đamien
13-09-2006, 03:55 PM
GIÁO DÂN LÀM VIỆC TÔNG ÐỒ TRONG GIÁO XỨ


Lời mời gọi giáo dân làm việc tông đồ đã được vang dội khắp nơi từ bao năm rồi. Biết bao hiệp hội bác ái, các đoàn thể "công giáo tiến hành" đã hưởng ứng lời mời gọi của các Ðức Giáo Hoàng. Vị linh mục cần nghiên cứu và học hỏi văn kiện của Tòa Thánh và các sách báo bàn về cách tổ chức có phương pháp, rồi sau đó, sẽ xem điều gì có thực hiện được trong giáo xứ của mình. Ta không được hài lòng với những lời hay ý đẹp suông, hoặc làm những việc danh tiếng bề ngoài nhưng đây là lúc phải làm việc một cách chi tiết: đó là chương trình của chúng ta. Cần thúc đẩy giáo dân làm việc tông đồ bằng cách khuyến khích họ tham dự các buổi hội họp. Tốt nhất là ta nên bắt đầu một cách khiêm tốn, nghĩa là đi tìm một số ít người có thiện chí, có lòng yêu thương các người nghèo.

Các đoàn thể lo việc giúp đỡ các linh hồn ngay cả trước khi có kiểu nói: "giáo dân làm việc tông đồ", giúp đỡ người đau yếu, cả hồn lẫn xác, những người mà, theo kiểu nói của Kinh Thánh, "bàn tay Thiên Chúa đang đụng chạm đến", coi sóc và giáo dục các trẻ em đang bị đe dọa bỏ bê, quan tâm giúp đỡ để vạch ra mộⴠcon đường chiếm hữu trái tim, rồi từ những trái tim này mà đến với ơn Chúa.

Ta hãy biết ơn các đoàn thể "Các bà mẹ công giáo", vì hoạt động bác ái của các bà đã có thể giúp được biết bao phụ nữ -với tính cách phụ nữ với phụ nữ- trong những giờ phút khó khăn của cuộc sống. Những việc làm chi tiết, nhỏ bé đó đã giúp ích được rất nhiều người. Ðã có những kết quả tốt, khi các bà đến chăm sóc những bà mẹ mới sinh con. Những việc bác ái này tạo nên những dây liên kết biết ơn, giúp đỡ những người số phận hẩm hiu, đem các tâm hồn về với Chúa và nhờ công việc của các bà này mà sứ điệp của Chúa quan phòng đã có thể đến tại nhà những người nghèo khổ.

Còn phải kể đến các hội đoàn của giới trẻ. Họ cũng làm việc tông đồ. Các hội đoàn công giáo còn có nhiều chức năng chiến đấu chống lại những sách báo khiêu dâm, quảng cáo các sách tốt, lành mạnh và báo chí công giáo. Rồi tùy theo sự khôn ngoan mà hoạch định chương trình và hoạt động cho các hình thức làm tông đồ tại giáo xứ: hình thức nào cần thực hiện trước, hình thức nào cần được dành ưu tiên.

Vào những dịp tĩnh tâm, cần để ý đến những lý do chính có thể làm nảy sinh những nguồn hào hứng, làm thức tỉnh tinh thầ஠tông đồ, được sinh ra nhờ ơn Chúa toàn năng.

Cần phải tẩy sạch các ý định, sẵn sàng sống theo tinh thần hi sinh và nhờ Ðấng đã mang lửa xuống trần gian để được ơn bền đỗ, Người sẽ không muốn thấy nó tàn lụi.

Vậy, mỗi linh mục có thể làm được biết bao điều hay trong xứ đạo của mình.

Đamien
13-09-2006, 03:56 PM
ÐÁNH GIÁ ÐÚNG KHẢ NĂNG CON NGƯỜI


Trong lãnh vực khoa học, kỹ thuật, chính nhờ quan sát tài tình mà con người đã có được những khám phá và phát minh vượt bậc. Trong các ngành về khoa tâm lý học cũng vậy, chính nhờ những quan sát mà con người mới có được những tiến bộ quan trọng.Vậy câu hỏi được đặt ra: trong lãnh vực đời sống luân lý và xã hội, liệu điều tương tự đó có thể xảy ra không ?

Ðiều phải nói: đối với mỗi người và đặc biệt, đối với các linh mục, vẫn còn nhiều việc phải làm. Mỗi trường hợp là một trường hợp ta phải xem xét và ứng xử một cách đặc biệt. Ðiều này mỗi vị linh mục đều biết, sau mỗi lần xét mình riêng. Ngài cũng biết có những điều bất ngờ xảy ra do tính tình và các khả năng cá nhân của mình. Vậy, liệu ngài có thành thực xét mình xem nguồn gốc của các khuynh hướng đó và các lý do khiến ngài mắc phải sai lầm.

Những bất ngờ trong đời sống đạo đức, những triệu chứng của một niềm vui hoặc một bất ổn luân lý nào lại đóng vai trò cảnh cáo và mời gọi ta phải kiểm tra lại lương tâm mình cho kỹ càng hơn không ?

"Attende tibi" (Hãy quan tâm coi sóc bản thân anh), To-ma Kem-pít, tác giả cuốn "Theo gương Chúa Giê-su" đã nhắn nhủ ta như thế.

Ðánh giá đúng con người trong việc giao tế quả là một điều tế nhị. Tại sao anh Caius lại tỏ ra thiện cảm, còn anh Sempronius lại tỏ ra ác cảm hoặc thờ ơ ? Sự cuốn hút cũng như sự ghê tởm có lý do ẩn giấu nào chăng ?

Sau khi làm việc, ta cảm thấy vui. Vì sao thế ? Có khi ta cảm thấy không hài lòng, ta bất mãn. Tại sao lại vậy ? Tại sao bạn cảm thấy khó chịu hoặc không thể quan hệ trực tiếp với người này hay nguời kia; khó mà đồng tình với hành động của người đó hơn cách sống của người ấy; việc ấy có đáng để ta quan tâm theo dõi, xem xét hay không ?

Thiết tưởng không phải là điều vô ích, nếu ta đưa ra một vài lời khuyên đối với một linh mục trẻ mới chập chững bước vào lãnh vực hoạt động mục vụ, để giúp cha đó giữ được thế quân bình: một bên là tin tưởng mù quáng hoặc dễ tin, còn bên kia lại là ngờ vực và thành kiến.

Ta không nên vội vàng tin hay không tin; điều phải làm là: quan sát trong thinh lặng. Xin trưng dẫn một vài thí dụ:

Ðối với những người quá khích, những kẻ hành động lẻ, những người chỉ biết theo con đường của họ, những ai chỉ nghĩ đến cái "tôi" của mình, hướng đi của mình, những người coi mình như những người công giáo thực sự đúng nghĩa, coi những người khác như là những người đáng nghi ngờ; đối với những hạng người này, ta phải thật khôn ngoan. Ta cũng nên dè dặt đối với những người nghĩ mình là người đạo đức vượt bậc, có lẽ là để cho người khác chú ý đến mình. Ðừng có thái độ dễ tin những người lúc nào cũng "ô-kê" với ta, lúc nào cũng cho ta là đúng; họ làm như thế cách nhẹ dạ, nhất là đối với những bà nào đó luôn tỏ ra quan tâm đến bản thân của ta hoặc đến công việc của ta.

Ta cũng nên khôn ngoan đối với những người -nhất là đối với những người khác phái- họ đến xin xưng tội với ta ngoài giờ quy định, hoặc muốn trò chuyện lâu giờ với ta, tại nhà ta, nói là để bàn "chuyện linh hồn", hoặc những vấn đề liên quan đến lương tâm. Ðã có những chuyện lừa đảo xảy ra cho các linh mục, trẻ cũng có, mà già cũng có. Số là có những người không biết từ đâu, đột nhiên xuất hiện xin cha giúp đỡ vì, -như họ nói - họ mới gặp tai nạn bất ngờ, một điều bất hạnh, hoặc phải trả một món nợ lớn, hay không may bị lừa đảo... Họ đến kể cho cha những chuyện nghe như có thực và với tài khéo ăn khéo nói, cuối cùng họ đã thuyết phục đươc cha. Vị linh mục này, với lòng quảng đại sẵn có, đã không ngần ngại mở hầu bao ra để giúp đỡ "nạn nhân". Tưởng mình đã làm một việc thiện và đã cứu được một người khốn khổ, nhưng có ngờ đâu, ngài đã để mình rơi vào lưới của một tên lừa đảo.

Vậy, nếu có ai đó đến nhờ cha đứng ra bầu chủ hoặc bảo lãnh trả một món nợ nào đó thì xin cha hãy hiểu rằng đó là một tình huồng rất khó xử và rất nguy hiểm. Giáo luật, dựa trên kinh nghiệm ngàn đời, không cho phép linh mục làm như thế. Cha phải dành đôi tay tự do để phục vụ. Ðã có những linh mục phải gò lưng gánh những gánh nặng mà các ngài đã đưa vai ra gánh vác, gánh nặng cho chính bản thân mà còn là gánh nặng làm cho việc mục vụ của các ngài bị tê liệt.

Còn phải kể đến trường hợp những người ưa dây mình vào chuyện của các linh mục, tu sĩ. Họ hỏi ta những câu hỏi hóc búa, nan giải, không phải vì họ luôn có ác ý, nhưng thực sự là họ thiếu tế nhị.

Vậy ta nên tránh trả lời hoặc trả lời cách vô thưởng vô phạt, nhất là khi liên quan đến chính trị hoặc những bất đồng ý kiến trong giáo xứ.

Đamien
13-09-2006, 04:00 PM
CHA PHÓ


Trước khi bước chân ra khỏi nhà xứ để đi thăm các gia đình, cha phó nên tham khảo ý kiến cha chính và nghe theo ý kiến của ngài. Nếu không, thì chỉ vì vụng về mà cha phó có thể gây nên những va chạm hoặc mếch lòng, làm cớ cho người ta dị nghị. Còn một qui luật nữa mà ta phải tuân giữ trong mọi hoàn cảnh, đó là ta phải luôn tỏ ra có lễ độ và nhã nhặn đồng đều đối với mọi người. Về vấn đề lịch sự tối thiểu, ta không nên để cho ai hơn ta. Ta nên mau lời chào trước, ngay cả đối với nguời mà lẽ ra họ phải chào hỏi ta trước. Nhưng ta không nên tìm được tiếng là "bình dân". Ðừng làm gì giống như mánh khóe của Ab-xa-lon.


Nếu việc đón khách là một nhân đức thì thật không xứng hợp chút nào nếu cha phó biến phòng mình thành nơi liên hoan, vui chơi.

Sau đây, thiết nghĩ cũng cần phải nói vài điều liên quan đến cách đối xử với các trẻ em. Ta phải hết sức khôn ngoan, đừng để cho các em quây quần bên mình nhiều, nhất là những em khôi ngô, dễ thương vì, cho dù không có ý xấu, ta nên tránh những cử chỉ âu yếm, mơn trớn; không nên tìm gặp vô ích. Nếu không thì các trẻ em sẽ mất lòng kính trọng đối với các linh mục. Ta nên dè dặt trong các quan hệ. Liệu giữ khoảng cách, nếu không thì ta khó tránh khỏi điều tiếng, ngay cả khi không vượt ra ngoài giới hạn của sự thân tình lành mạnh.

Giờ đây ta bàn tới danh thơm tiếng tốt. "Tiếng tốt" là một kho tàng cần thiết đối với vị linh mục. Vậy ta nên hết sức tránh tất cả những gì -dù bề ngoài xem ra nhỏ bé- có thể làm tổn thương đến danh giá của ta.

"Attende tibi". (Hãy quan tâm, hãy cẩn trọng).

Còn đối với những người "hâm hâm" thì các linh mục trẻ khó có thể suy đoán cách chính xác. Những người này thường vẽ ra những hình ảnh quái lạ, nhiều khi họ sử dụng sự dối trá hoặc mưu mô, họ cứng đầu, kiêu căng và họ thường đạt được điều họ muốn.

Vậy, cha phó trẻ nên tránh tranh luận với họ và tốt hơn cả là cha nên bảo họ đến gặp cha chính, vì ngài hiểu biết hơn, và kinh nghiệm nhiều.



KIÊN NHẪN


Ai có tính nóng giận thì cứ nghĩ mình có quyền la lối, lúc mà lẽ ra họ phải kiên nhẫn chờ đợi. Ðôi khi các linh mục trẻ cũng cảm thấy bực bội khi phải ngồi tòa chờ đợi người hẹn đến xưng tội, ngồi chờ hoài cũng không thấy; hoặc chờ ở phòng áo, chờ mãi mà cũng không thấy cô dâu chú rể đến. Những ai thường mất kiên nhẫn nên lường trước những hậu quả có thể xảy ra bởi sự la lối bực bội của mình.

Khi ta vừa tỏ ra bực tức vì phải chờ đợi đó, thì ta liền cảm thấy hối hận, xấu hổ vì mình đã tỏ ra thiếu tư cách. Hơn nữa, ta lại làm mất lòng các giáo dân, chính vào những lúc thuận tiện hơn cả. Ngoài ra, ta lại có thể làm hư những chuẩn bị tốt để lãnh các bí tích và như thế ta đánh mất sự tôn trọng mà người giáo dân thường dành cho các linh mục của họ.

Ðiều tệ hại hơn là ta làm cho những kẻ nhút nhát phải sợ hãi, ta cản trở việc họ trở lại với ta. Một người hấp hối thú nhận: ông đã bỏ không chịu các phép bí tích từ nhiều năm chỉ vì có một hôm ông bị cha xứ la mắng.

Ta có thể đo lường được sự thiếu kiềm chế của vị linh mục gây ra điều tai hại trên đây. Ngược lại, thật là một nhân đức cao quý biết bao khi ta luôn giữ được bình tĩnh và luôn tỏ ra nhã nhặn ngay cả khi ta phải chờ đợi giờ lâu hoặc trong thâm tâm ta muốn buông lời trách móc cho hả dạ.

Ðó không phải là cách ta đền bù lại việc chính bản thân ta đã làm Chúa phải kiên nhẫn chờ đợi ta, khi Người đã gõ cửa lòng ta mà ta đã làm ngơ không ra đón Người ngay, ta đã để Người phải đứng chờ bên ngoài.

Vậy ta hãy tỏ ra nhã nhặn, ngay cả khi khách dẫn xác đến vào giờ chẳng thuận tiện chút nào, ví dụ như lúc ta đang ngồi bàn ăn chẳng hạn. Ta hãy cố giữ điều này: đừng để người giúp việc xua đuổi những người đến với ta vào nhhững lúc như thế. Làm thế, nhiều người sẽ ác cảm với nhà xứ. Những chuyện này tự nó cũng không đáng gì, nhưng nó làm mất lòng và không ai dễ dàng bỏ qua cho ta đâu.

Các linh mục cần phải cẩn thận về điều này không phải vì chính bản thân nhưng vì người ta sẽ mất sự tín nhiệm sẵn có đối với các linh mục và như thế việc mục vụ của các ngài sẽ phải chịu thiệt. Vậy ta phải hết sức thận trọng trong việc cư xử với giáo dân trong xứ, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ, những người khách hay quấy rầy, những người thuộc bất cứ thành phần nào đến xin xưng tội. Ðây cũng là điều buộc ngặt đối với mọi linh mục, trẻ cũng như già.

Ngay cả khi ta không thể đáp ứng thuận lợi cho mọi điều người ta yêu cầu và khi phải buộc lòng phải từ chối thì ta cũng còn một cách khác để làm điều này. Từ chối luôn là một điều khó vì làm cho người bị từ chối phải buồn lòng. Vậy tại sao ta lại làm cho nó thêm cay đắng?

Đamien
13-09-2006, 04:10 PM
ÐỪNG NỔI NÓNG VÔ ÍCH

Tỏ ra bất bình một cách vội vàng, thiếu suy nghĩ thì quả là một điều vụng về. Nhiều người tỏ ra khó chịu khi đọc những bài báo xuyên tạc, họ giống như những cây lau, chỉ thoáng một chút gió là đã lay lắt.

Nhưng vị linh mục thì phải đứng vững như đá tảng, luôn an bình giữa những xáo trộn của đời sống xã hội.

Thỉnh thoảng ta cũng phải mời gọi các giáo dân của ta duy trì sự bình tĩnh trong khi xét đoán, nhắc cho họ biết là thời đại của chúng ta cũng không phải là xấu nhất trong lịch sử Giáo hội.

Thiên Chúa đã trao ban cho ta nhiều trợ giúp, nhiều ơn trọng đại, nếu ta so với thời kỳ có các bè rối, các nhóm đòi ly khai. Ta cũng nên nhắc cho các giáo hữu biết điều mà Ðức Ki-tô đã tiên báo là sẽ có những kẻ xấu đến để mê hoặc một cách xảo quyệt đến nỗi cả những người đã được tuyển chọn cũng có nguy cơ bị lôi kéo đến chuyện công khai bỏ đạo (xem Mt 24, 24). Chính Thánh Phao-lô cũng đã báo trước là các tà thuyết sẽ xuất hiện, điều không thể tránh được. ( x. 1 Co 11,19 )

Trước những đe dọa đó, ta sẽ chỉ cho họ thấy những nền tảng vững chắc của đức tin và những lời Chúa hứa sẽ bảo vệ Giáo hội được trường tồn. Tuy nhiên, ta cũng phải nhắc họ phải tỉnh thức và luôn đề cao cảnh giác. Ta không nên để mình bị bối rối, nhưng cần thêm lòng tín thác, tinh thần tỉnh thức và phải quyết tâm.

Thánh Âu tinh là một tấm gương sáng chói cho chúng ta. Ngài đã luôn tranh luận với những người Ma-ni-kê, Ðo-na-tít, những người theo nhóm Pê-la-gi-ô, ngài luôn chống lại những tàn dư ngoại giáo tại châu Phi, đồng thời cũng chống lại những lạc giáo thời ngài. Thánh nhân đã để lại những tác phẩm, những bài giảng trong sáng, nhiệt tình và nhẹ nhàng. Ðọc các tác phẩm đó, ta thấy có một sự quan tâm đặc biệt của một tâm hồn linh mục, giám mục. Ngài đã quan tâm lo cho những người nghèo, những người lầm đường lạc lối. Lúc ngài hấp hối cũng là lúc thành phố nơi có Tòa Giám mục của ngài đang bị vây hãm, nhưng chung quanh ngài vẫn tỏa ra bầu khí tín thác vào Thiên Chúa.

Thực ra không thiếu những gương mẫu để ta noi theo trong thời buổi xáo trộn, loạn ly. Khi có ai đó bình phẩm, dị nghị gì về ta, thì ta hãy xin được ơn bình an nội tâm; làm thế, ta tránh được nhiều điều rắc rối vô ích.

Thomas a Kempis khuyên ta không nên để mình bị mất bình tĩnh vì những chuyện như thế.

Có những người ưa phê bình chỉ trích người khác, vì họ tự cho mình là thông minh, trí thức hơn người. Người thích phê bình chỉ trích như thế, có thể không phải là vì ghen ghét, nhưng nói đúng hơn, là vì họ thiếu giáo dục nhân bản. Họ là những người không có tính cách. Vậy tại sao ta lại phải quá quan tâm đến chuyện như thế? Làm thế chẳng là "ngốc" đó sao ?




<O:p<O:pÁO CHỨC (ÁO THÂM CHÙNG): NIỀM VINH DỰ CỦA LINH MỤC

"Áo không làm nên thày tu". Ðúng thế! Quả thật, Ðấng Cứu Thế đã không đưa ra chỉ thị nào liên quan đến chuyện ăn mặc bên ngoài và Người đã lên án mạnh mẽ những đòi hỏi quá đáng về chuyện giữ hình thức của người Biệt phái. Ngay cả khi một người mặc thường phục hoặc khoác áo công nhân, người khác cũng có thể nhận ra được những tâm hồn trong trắng và sự cao quý tuyệt vời của người ấy. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn đánh giá cao việc yêu quý áo chức. Vì sao? Cha xứ thuộc về giáo xứ và từ sự kiện này, giáo xứ có quyền đòi vị linh mục phải luôn tỏ ra mình là cha xứ, không những trong khi làm mục vụ mà còn cả trong những hoàn cảnh khác.

Áo chức là bộ áo đẹp nhất và vinh dự nhất trong các bộ áo. Thế giới này biết chúng ta coi trọng nó như là một dấu hiệu vinh dự. Áo chức là áo bảo vệ, giúp ta chống lại những cơn cám dỗ có nguy cơ làm ta sống buông thả. Những cám dỗ kiểu này có thể đến với linh mục, nhất là trong những dịp đi nghỉ phép chẳng hạn. Những dịp này -cho dù không ý xấu- vẫn có thể có nguy cơ làm ngài sao nhãng tính cách nghiêm túc, điều luôn gắn liền với tính cách trang nghiêm của ơn gọi chúng ta. Trong trường hợp như vậy, việc mặc áo chức có thể giữ ta khỏi sống buông thả. Mặc áo chức đòi hỏi một sự hi sinh, nhưng áo chức góp phần vào việc gìn giữ danh thơm tiếng tốt cho vị linh mục. Ngay cả khi ăn vận như người đời, người ta vẫn có thể nhận ngay ra ngài là một linh mục. Khi mặc như thế, thì có thể gây ra hiểu lầm, liệu ngài có ý đồ gì chăng... hoặc là làm một điều gì không xứng hợp với chức vụ linh mục...

Ðiều này cho thấy những chỉ thị của bề trên liên quan đến vấn đề linh mục phải ăn mặc như thế nào khi đi nghỉ phép. Vấn đề tu phục của linh mục, khi phải đi đâu đó quả là một vấn đề nghiêm chỉnh. Ai có thể chối không cho linh mục được nghỉ ngơi, được bồi dưỡng sau một năm làm việc vất vả? Ai có thể trách ngài đi tham quan những danh lam thắng cảnh, hoặc đi hành hương đến các nơi có các đền thánh, hoặc đến chiêm ngắm các tác phẩm nghệ thuật khắp nơi? Ai có thể không ưng việc linh mục có nhu cầu quan sát cuộc sống quê hương xứ sở mình về nhiều phương diện và từ nhiều góc độ khác đặc biệt?

Nhưng, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, ngài vẫn luôn nhớ mình là một linh mục. Quan niệm như thế sẽ vạch ra cho ngài những ranh giới rõ rệt và ta có thể đặt ra nguyên tắc sau: "Vị linh mục đôi khi có thể trở thành cớ cho người khác vấp phạm khi ngài làm những việc người giáo dân có thể làm mà không ai ngạc nhiên hay thắc mắc gì". Vậy, ta phải coi đây như là một nhiệm vụ phải chu toàn, ngay cả khi đi đó đây, nghĩa là: ta phải ăn vận thế nào cho xứng đáng với chức vụ của ta và luôn hành xử cho đúng đắn, nghiêm túc, luôn gương mẫu ngay cả trong những giờ phút vui vẻ thoải mái nhất.

Đamien
13-09-2006, 04:17 PM
"KHÔNG PHẢI CHO CHÚNG CON, VÂNG LẠY CHÚA, KHÔNG PHẢI CHO CHÚNG CON,
NHƯNG CHỈ XIN CHO CHÚA ÐƯỢC HIỂN DANH"


Ðây là những tâm tình mà mỗi vị linh mục, sau khi rước lễ, đã có trong lúc cám ơn. "Không phải cho chúng con, vâng, lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng chỉ cho Chúa được hiển danh".

Lời khẳng định trang trọng mà ta thân thưa vào giờ cực thánh; ta không chấp nhận một tham vọng nào, một vinh dự nào cho bản thân và đây cũng là một hình thức khác để tuyên xưng: vinh danh chỉ dành riêng cho Chúa thôi.

Mọi linh mục chắc chắn phải bảo toàn danh dự cho chức vụ mình cũng như danh dự cho chính bản thân. Nhưng việc đi tìm kiếm vinh dự bất cứ dưới hình thức nào, từ nơi quần chúng, tìm để được khen ngợi lại là một điều đáng khinh.

Vậy ta nên hài lòng với sự quý mến mà người ta dành cho bất cứ ai chu toàn bổn phận một cách có lương tâm, vô tư, đơn giản và bác ái.

Ðây phải là chương trình hoạt động mỗi khi ta bước xuống khỏi bàn thờ, chương trình đóng dấu ấn vào mọi việc ta sẽ làm trong ngày.

Ðây chính là lý do mà vào năm 1928, đại hội các linh mục Tổng giáo phận Freisingen đã công bố một bản phản kháng công khai -rất được công chúng đồng tình- chống lại một số bài báo quá đáng, vì các bài báo này vào những dịp ngân khánh hoặc dịp các lễ mừng có tính cách mục vụ như dịp thuyên chuyển các cha xứ, dịp các ngài về hưu, dịp mừng sinh nhật... thì thường có những bài báo tán tụng cá nhân quá trớn. Những dịp tôn vinh như thế đã gây những điều khó xử cho chính các đối tượng được tôn vinh vì chúng sặc mùi thành kiến thiên vị.

Cũng nên nên ghi nhận thêm điều này: vị linh mục cũng nên nhận ra rằng: có bao người thuộc thành phần nghèo khó, không có công ăn việ⣠làm, họ là những người vô danh, không được ai đếm xỉa tới; nhưng họ lại có những tâm tình cao quý, có tinh thần hi sinh, dũng cảm, họ làm việc bác ái kín đáo, âm thầm. Những điều không có báo nào đề cập tới và những việc này chỉ được ghi vào sổ hằng sống, chờ ngày được lãnh phần thưởng đời đời. Và khi vị linh mục cảm nghiệm được điều này thì ngài thực sự cảm thấy chán ngấy mọi hình thức tôn sùng cá nhân.

Vị linh mục có tâm hồn thực sự cao thượng thì chỉ quan tâm đi tìm làm vinh danh và yêu mến Thiên Chúa và ngài không ao ước gì khác ngoài việc phục vụ và giúp đỡ các linh hồn.

Ðức cha Hettinger đã nói với các linh mục mà ngài vừa phong chức cho như thế này:

"Vị linh mục nào càng tránh, không đi tìm để được giáo dân yêu mến thì vị đó lại càng được giáo dân yêu mến và trân trọng hơn".

</O:p

KHÔNG NÊN QUÁ TẦM THƯỜNG ÐỂ KHÔNG THỂ BAY BỔNG LÊN

Người ta nói: trong mỗi người đều có hai tâm hồn: một tâm hồn đưa con người lên cao, còn tâm hồn kia lại kéo con người xuống; một cái đầy khát vọng thiêng liêng còn cái kia thì lại đầy ứơc ao vui thú. Cũng thế, có một sự khác biệt sâu sắc giữa các cảm xúc ti tiện và những cảm tình cao thượng. Một trong những nét đặc trưng dễ yêu nhất của diện mạo Ðức Ki-tô lại đã không phải là cái nhìn rộng rãi, hoàn toàn vô tư lợi, luôn quên mình và luôn cắt nghĩa theo chiều hướng bao dung đó sao? Và những cảm tình như thế đã làm được bao điều cao quý và có tính cách chinh phục biết bao!

Trái lại, người nào hay mủi lòng, hay giận hờn thì đáng buồn biết mấy! Từ đâu người đó lại hay tỏ ra bực bội, khó chịu, ác cảm. Tại sao người đó lại hay chỉ trích, nặng nề và luôn cắt nghĩa mọi chuyện theo chiều hướng xấu? Nếu điều này xảy ra nơi vị linh mục thì thật đáng buồn gấp đôi đấy! Giả như ngài biết được mình đã làm hư sự bao nhiêu chuyện và cũng đã gây tổn thương cho chính bản thân mình nữa.

Vị linh mục nào có một sự tân tâm thực sự, không tìm tư lợi cho chính mình, ngài bỏ qua những lời dị nghị, chỉ trích mất lòng mình mà coi như không nghe thấy gì cả, thì vị đó sẽ có được một tâm hồn tự do, thoải mái, tươi vui, đồng thời ngài cũng sẽ gây được ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với những người chung quanh.

Đamien
13-09-2006, 04:19 PM
NHỮNG ÐIỀU MÀ NHỮNG NGƯỜI GIÁO DÂN KHÔNG SẴN SÀNG BỎ QUA


Các giáo dân có một sự tế nhị tự nhiên, họ có con mắt sáng suốt tinh tường để nhận ra ngay vẻ cao quý của một vị linh mục thánh thiện, sống đúng theo ơn gọi của mình và không có tham vọng nào lớn hơn là được trở thành một vị chủ chăn đích thực của các linh hồn, theo gương Chúa Giê-su và theo lòng Người mong ước.

Nhưng, đàng khác, họ cũng rất nhạy bén, sáng suốt nhận ra một số sai sót trái với tinh thần linh mục. Xin cho phép được đan cử ra đây một vài ví dụ cụ thể.

Trước hết phải kể đến sự tham lam tiền bạc và sự hà tiện. Sau là sự bỏ bê, không thăm viếng kẻ liệt, những người lâm trọng bệnh, những người liệt giường, liệt chiếu.

Sau đó, còn phải kể đến :

- sự cục cằn,

- tính làm biếng,

- ít siêng ngồi tòa,

- không trong sáng, không trong sạch, hoặc có những hành động luân lý đáng nghi ngờ,

- thiếu sự tôn trọng trước Nhà Tạm, nơi Chúa ngự,

- thiên tư, hành sử theo cảm tính, theo thiện cảm hay ác cảm,

- ngại tiếp xúc với các thiếu nhi.

Trong tất cả những việc này, không những ta phải tránh phạm lỗi mà còn phải tránh mọi nghi ngờ là ta đã phạm lỗi nữa, nói cách khác, ta cần tránh cả những chuyện bề ngoài xem ra như là lỗi phạm .<O:p></O:p>
Xin hỏi: đâu là bí quyết để làm việc tốt trong quan hệ với các giáo dân?

Câu trả lời: đó là sự thành thực. Thành thực trong các nhân đức, thành thực trong tinh thần hi sinh.

Trong cơn mưa rào, làm sao ta tìm được lời trấn an?

Làm sao để khuyến khích những kẻ nhát đảm?
</O:p
Làm thế nào để đưa những người đang bất hòa trở về làm hòa vơi nhau

Làm sao xoa dịu những trái tim bị thương tích?

Những lời giảng dạy về đời sống nội tâm sẽ giúp ta tìm được những câu trả lời thích đáng. Ngay cả những người đã xa rời Giáo hội cũng ao ước, một ngày nào đó, gặp được những tâm hồn linh mục như thế.

Ta hãy nhìn lên Chúa Giê-su, xem Người đã làm gương cho ta thế nào. Louise Hensel đã viết như sau:

"Tôi luôn phải đọc đi đọc lại Sách Thánh để xem Chúa đã tốt lành như thế nào. Người không hề giả tạo, hoặc lừa dối. Người đã mời gọi các trẻ em đến với Người; Người nhìn chúng với cái nhìn đầy âu yếm; Người đã ẵm chúng trong tay và ôm chúng vào lòng. Người đã yêu thương và chữa lành những bệnh nhân như thế nào. Và Người đã gọi những kẻ bé mọn và nghèo hèn là bạn của Người. Ðoàn chiên mà Cha Người đã trao phó, Người đã chăn dắt một cách nhân từ. Người đã giang tay để đón tiếp mọi người và lôi kéo họ đến với trái tim của Người".

Đamien
13-09-2006, 04:26 PM
TÂM HỒN NGƯỜI BÌNH DÂN VÀ TIẾNG HÁT TẠI NHÀ THỜ

Chương sách này có tựa đề: "Phục vụ các linh hồn".

Mỗi trang trong chương này đều nhằm đến sự giáo dục để có được tâm hồn bình dân.

Vị linh mục có nhiệm vụ :

- giảng dạy,

- dẫn dắt giới trẻ,

- làm mục vụ, phục vụ giáo xứ, lo cho từng cá nhân, lo việc bác ái,

- lo việc phụng tự, tôn thờ Thiên Chúa, Ðấng tối cao và phục vụ các linh hồn.

Trong các ngày tĩnh tâm, với lòng yêu mến đặc biệt, cần chú trọng đến các giờ kinh phụng vụ, nhất là kinh ngày chúa nhật, ngày mà phần đông tín hữu ngưng các hoạt động khác để nghỉ ngơi và bồi dưỡng sau một tuần lễ làm việc mệt nhọc, bận bịu.

Tôi đã có dịp trình bày về sự hấp dẫn và tính cách huyền nhiệm của phụng vụ và kết quả của phụng vụ là bao ơn phúc và niềm vui.

Nay chỉ xin nói về thánh ca.

Trong những lần đi ban phép Thêm sức, người ta đã hỏi tôi về vai trò của cha xứ và trách nhiệm của ngài đối với các bài hát trong nhà thờ.

Về điểm này, tôi có ý kiến như sau :

Cho dù các ca đoàn có hát hay đến đâu và các ca trưởng cũng đã hết sức nhiệt tình lo việc Chúa, cho dù ai nấy đều trân trọng việc hát hay và âm nhạc thánh thì việc chịu trách nhiệm chính trong việc điều hành việc hát xướng trong nhà thờ vẫn đặt trên vai các vị có thẩm quyền; nói cụ thể: đó là trách nhiệm của Ðức Giám mục Giáo phận, và trong giáo xứ, đó là trách nhiệm của cha chính xứ với tư cách là "rector ecclesiae". Vì thế ta không có thể làm điều gì trái với giáo luật (CIC cũ, khoản 1260). Người điều khiển ca đoàn hoặc người chơi đàn mà lại không tuân theo sự chỉ đạo của cha xứ là điều không thể chấp nhận được. Chính ngài có trách nhiệm tổng quát và bao trùm mọi hoạt động trong lãnh vực phụng tự.

Thánh Giáo hoàng Pi-ô X đã ra chỉ thị trong "Tự sắc" ngày 22 tháng 11 năm 1903 như sau:

"Âm nhạc trong nhà thờ là một phần không thể tách ra khỏi việc phụng vụ trọng thể và như thế, đều được góp phần vào việc thực hiện mục đích duy nhất của việc phụng tự, đó là làm vinh danh Chúa và đem lại ích lợi cho các linh hồn".

Một trong những ước vọng của Thánh Giáo Hoàng Pi-ô X là các bài thánh ca được cả cộng đòan cùng hát và hát trong tiếng mẹ đẻ. Cha xứ có trách nhiệm như là "rector ecclesiae" (quản xứ), trong toàn bộ việc phụng tự tại nhà thờ của mình: sách hát và các bài hát phải được chọn sao cho phù hợp với các buổi cử hành phụng vụ, hợp với tinh thần thánh lễ và theo đúng tinh thần các mùa trong năm phụng vụ.

Cha xứ cũng có bổn phận cắt nghĩa cho giáo dân hiểu ý nghĩa các bài thánh ca để mọi người cùng hát với ca đoàn cho xứng đáng. Người giáo dân sẽ vui mừng biết bao, vào những ngày vui cũng như những ngày buồn, được cùng hát các bài thánh ca phù hợp.



SỰ TIẾT ÐỘ VÀ SỨC KHOẺ LUÂN LÝ CỦA CÁC GIÁO DÂN

Giáo Hội công giáo quả là Giáo Hội của đông đảo quần chúng. Bổn phận của vị linh mục là làm sao khi phục vụ giáo dân, ngài lo việc cứu rỗi các linh hồn và đồng thời cũng thăng tiến hạnh phúc đời này cho mọi người. Vì thế, ta không nên nhắm mắt làm ngơ trước những nguy cơ đang đe dọa đời sống đạo đức và luân lý của người giáo dân. Một trong những trở ngại lớn đe dọa đời sống người tín hữu: đó là tật nghiện rượu, hoặc thói quen "nhậu nhẹt", say xỉn.

Trong thư gởi giáo đoàn Ga-lát, thánh Phao-lô đã kể ra những hoa quả của Thần Khí: (Gl 5,22-23) :
- bác ái,
- hoan lạc,
- bình an.

Thêm vào đó là :
- nhân hậu,
- từ tâm.

Ðó là những dây liên kết các linh hồn lại với nhau.

Còn những hoa quả như :
- nhẫn nhục,
- trung tín,
- hiền hòa...

Ðây là những bảo đảm cho lòng nhân hậu.

Nhưng Thánh Tông đồ cũng đã thấy trước những nguy hiểm có thể đe dọa kho tàng quý báu của các hoa quả này và ngài đã phải lên tiếng cảnh báo, đồng thời cũng đưa ra những thành lũy bảo vệ chung quanh cây đang cho hoa quả. Thánh Phao-lô đã thêm vào đó 3 nhân đức:

- sự tiết độ (Gl 5,23),
- sự kiêng khem ,
- và lòng trong sạch (X. Gl.5:24)..

Phải, cây sinh ra hoa quả là những nhân đức ki-tô cần phải được bảo vệ, che chở bằng một bức tường bao bọc, một bức tường vững chắc. Bức tường đó chính là sự tiết độ, sự kiêng khem và lòng trong sạch.

Nơi nào thiếu vòng đai bao bọc đó thì liền mọc lên những cây độc hại của sự vô độ, tính xác thịt cùng những dục vọng và đam mê làm chết nghẹt cây ân sủng. Những hoa quả của cây này bị héo khô và rễ cây cũng đều chết hết. Vậy theo lời khuyên của Thánh Phao-lô Tông đồ, ta phải bảo vệ bức tường đó, bức tường vây xung quanh vườn của Thiên Chúa: đó là linh hồn của người ki-tô. Ðó không phải là bổn phận của chúng ta đó sao?

Dùng tòa giảng để dạy dỗ, trình bày một cách bình tĩnh và khôn ngoan, tránh cực đoan để nói về những tai hại do việc nghiện rượu gây nên, thiết nghĩ không phải là làm hạ giá tòa giảng. Ngược lại, đó là cách giúp ta thánh hóa thân thể con người với tư cách là đền thờ của Chúa.

Sự vô độ làm phát sinh sự lười biếng. Người ta mất hứng làm việc trí thức, thân thể thì bại hoại, người lúc nào cũng mệt nhừ. Người sống tiết độ thì có một ý chí sắt đá, họ cảm thấy vui khi chống lại mệt nhọc và sẵn sàng đưa sức mạnh của mình ra thử thách. Còn người say xỉn thì lại nhu nhược, không có khả năng tập trung, thêm vào đó, ngũ quan bị kích thích vì dùng quá nhiều rượu.

Rồi người hay say xỉn đâm ra phạm một tội mà môi miệng đạo đức không dám nói tên ra. Phải, đó quả là giờ buồn thảm và lưới của cám dỗ giăng rộng để những người ưa bước chân vào tửu quán phải sa vào.

Thánh Ghê-go-ri-ô đã viết một cách rất nghiêm khắc như sau :

"Ai ham mê uống rượu thì không phải sẽ rơi vào một tội mà người ấy trở thành nên chính tội."

Cứ xem những phán quyết của Tòa án thì ta biết sự thiệt hại do hậu quả gây nên bởi việc say xỉn là chính xác như thế nào. Và khi ta đọc câu truyện của ngôn sứ Ða-ni-en thì biết việc kiêng khem đem lại kêt quả tốt như thế nào. (x. Ðn.1,8...). Vị ngôn sứ trẻ tuổi và dũng mạnh này tại đền vua lại đã không làm cho nhiều thanh niên nam nữ hay say xỉn phải xấu mặt hổ ngươi đó sao?

Ước chi những ai có trách nhiệm với giới trẻ hãy dạy cho họ biết sự tiết độ là một ân huệ quý giá biết bao!

Đamien
13-09-2006, 08:40 PM
XI

LỜI CHÚA: GƯƠM CỦA THẦN KHÍ



LỜI CHÚA: GƯƠM CỦA THẦN KHÍ (Ep 6,17)

Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di đã rất trân trọng việc giảng dạy.

"Chúng ta phải tôn kính và tôn trọng các nhà thần học và tất cả những vị rao truyền Lời Chúa vì các vị đó là những người ban phát Thần Khí và sự sống siêu nhiên".

Vị Thánh Tổ Át-xi-di đã nói như thế. Ðây quả là một chứng tá cho vai trò quan trọng vô song của việc rao giảng. Việc rao giảng, theo Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, phải đem lại cho ta Thần Khí và sự sống.Việc rao giảng phải chuẩn bị lòng tín hữu hầu lãnh nhận những chân lý vĩnh cửu mang lạisự sống. Rao giảng Lời Chúa cách sống động chắc chắn sẽ dẫn đưa đến sự sống trong Ðức Ki-tô, như lời khẳng định của Thánh Phao-lô:

"Chính tôi đã sinh ra anh em, nhờ Tin Mừng" (1Co 4, 15)

Ðiều này có nghĩa là: với tính cách là người loan báo chân lý đem lại sự sống, Thánh Phao-lô đã trở thành người cha thiêng liêng trong chân lý. Quả vậy, tác vụ rao giảng thật quan trọng biết bao!

Vị giảng thuyết phải làm thức tỉnh đời sống thiêng liêng nơi nào nó đang chết dần chết mòn. Ngài phải làm sống lại những sinh lực đang sắp tàn. Ngài phải đem lại việc chia sẻ thân tình vào đời sống ân sủng của thân thể mầu nhiệm Ðức Ki-tô. Và cuối cùng, ngài phải biến đời sống ân sủng trở thành việc chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu vinh quang.

Vị Tông Ðồ các dân tộc đã nhấn mạnh đến vai trò vô cùng quan trọng của việc rao giảng:

"Quả vậy, ngài viết, Ðức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng." (1Co 1,17). Thực ra, Thánh Phao-lô đã không có ý làm giảm vai trò quan trọng của bí tích Thánh tẩy, nhưng ngài chỉ muốn nhấn mạnh đến chứng tá vinh quang của việc làm tông đồ bằng việc rao giảng. Có lúc, ngài đã kêu lên:

"Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!".(1Co 9,16). Ngài lấy làm vinh dự vì đã được tham dự vào việc "loan báo cho các dân ngoại Tin Mừng về sự phong phú khôn lường của Ðức Ki-tô" (Ep 3,8). Ðó là những cảm nghĩ của Thánh Tông Ðồ. Vậy, thiết nghĩ, có thể gởi đến tất cả các vị linh mục lời dặn dò đầy nhiệt tình do một tâm hồn nóng bỏng đầy nhiệt huyết, mà Thánh Phao-lô đã gởi đến cho Ti-mô-thê:

"Trước mặt Thiên Chúa và Ðức Giê-su Ki-tô: hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh. Phần anh, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc người loan báo Tin Mừng" (2Tim 4,1-5)

Quả thực, vị giảng thuyết có một vị trí rất cao trọng trong Nước Thiên Chúa: ngài vừa là người hướng đạo, vừa là người cổ võ cho đời sống thiêng liêng -ngài lại là người chủ chăn dẫn đưa đàn chiên đến những đồng cỏ của Ðức Ki-tô. Ngài là người canh giữ tường thành Xi-on, luôn trong tư thế sẵn sàng chống lại những quyền lực của tối tăm; đồng thời ngài cũng là một thày thuốc chữa các bệnh tật của thời ngài.

Có biết bao vị linh mục ưu tú đã phải e sợ, xét lại bản thân và công việc của mình xem mình đã đáp ứng đủ những đòi hỏi của tác vụ rao giảng chưa... Các ngài đã phải cầu nguyện và lao nhọc biết bao để có thể trở thành những người tuyên cáo đắc lực của Vua chân lý. Và rồi, còn phải kể đến: bao nhiệt tình, bao âu yếm, bao sức mạnh thuyết phục, bao lòng mến chinh phục đã tiết ra từ những bài nói chuyện, những lời khuyên răn cách đơn giản của các vị giảng thuyết mà trái tim và những ước vọng hoàn toàn tận hiến làm theo ý của Ðấng Chăn Chiên nhân hậu.

Ðúng thế, toàn bộ đời sống nội tâm của vị linh mục, những suy niệm sốt sắng thầm lặng của ngài, tất cả đều đã tràn ngập bài giảng của ngài. Thông qua bài giảng, ngài phân phát cho các tín hữu những kết quả, những hoa trái của các nghiên cứu học hỏi của mình, ngài chia sẻ cho các thính giả những kinh nghiệm mà chính ngài đã cảm nghiệm được trong chính cuộc sống nội tâm của mình. Lời của vị giảng thuyết sở dĩ có được sự hấp dẫn và có đánh động được ai, đó là nhờ tính nhạy cảm phong phú của vị linh mục. Những lời khuyên bảo của ngài có được tính cách thực tế, đó là nhờ việc ngài quan hệ tốt với các tâm hồn và gần gũi với cuộc sống đời thường của người giáo dân. Và những người nghe giảng liền nhận ngay ra rằng: chúng tôi quả đã gặp được một vị hiểu biết chúng tôi. Những người đơn sơ nhỏ bé nhất cũng có thể nhận ngay ra rằng: vị linh mục đó đã biết lời của Ðức Giê-su:

"Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" (Lc 4,18).

Các vị giảng thuyết này thực sự đã có thể thực hiện được lời của thánh Phan-xi-cô là: "các ngài đã phân phát thần khí và sự sống". Vậy liệu chúng ta đã cầu nguyện đủ để các vị giảng thuyết cho thời đại chúng ta được ơn đó chưa?

Các vị giảng thuyết còn phải quan hệ mật thiết với giáo dân của mình nữa. Về vấn đề này, Cha Roesler đã có ý kiến như sau:

"Vì lý do nào mà có nhiều vị giảng thuyết, cho dù ăn nói chững chạc, nhưng đã không mang lại được nhiều kết quả? Ðó là vì: thói quen và thiếu sức sống. Có nhiều vị lấy tài liệu từ tập sách bách thảo của thư viện hoặc từ các sách dạy hùng biện rồi đem ra giảng cho giáo dân, thay vì các ngài giảng những chân lý chính các ngài đã sống, những chân lý được phát triển nhờ ánh sáng mặt trời của tình yêu Chúa và như thế, những chân lý đó thật tươi mát. Ðiều các ngài thiếu sót, đó là: các ngài chưa hiểu được những tiếng đập của trái tim người giáo dân."

Ðây quả là ý kiến hay của một vị Tu sĩ.

Đamien
13-09-2006, 08:53 PM
RÕ VÀ RÀNH MẠCH

Khi trao tác vụ đọc sách, Ðức Giám mục khuyên các tiến chức:

"Khi đọc sách thánh, các con hãy đọc cho rõ và rành mạch, sao cho các tín hữu có thể hiểu được đoạn sách đang đọc và được ích lợi bởi bài sách đó" [1] (file:///C:/Documents%20and%20Settings/Nha%20Trang/My%20Documents/ĐẶC%20SỦNG%20LINH%20MỤC.htm#_ftn1)

Khi đọc, phải đọc cho rõ, cho nhịp nhàng, cho xứng đáng; đọc rõ những từ chính yếu, đọc sao cho sốt sắng, đạo đức; tránh kiểu cách. Ðọc thế nào để người nghe được ích lợi như do một bài giảng. Ðọc đúng các bài đọc và các lời kinh nguyện; đó là một nghệ thuật cần phải luyện tập mới đạt được. Và đây cũng là cách tốt nhất để sau này giảng cho rõ. Phần đông các vị giảng thuyết giảng quá nhanh, kết quả là người nghe không nắm bắt kịp những tư tưởng đạo đức mà họ chưa quen, chưa hiểu.

Trái lại, nếu ta đọc thong thả, ngắt quãng đều đặn thì việc hiểu biết được dễ dàng hơn. Ta đọc các văn kiện Tòa thánh, hoặc thư chung của các Giám mục giáo phận, hoặc của Hội Ðồng Giám Mục như thế nào? Ðôi khi người nghe có cảm giác là người đọc cũng chưa xem trước, chưa dọn trước. Nếu các vị đã dọn trước thì khi đọc đâu có vấp váp... Ðọc thư chung thay vì bài giảng, linh mục đỡ phải dọn... Các vị đó quên rằng: Ðọc thư chung cũng đòi hỏi phải dọn trước, phải quán triệt trước. Ngoài ra, còn phải đọc cách khéo léo như khi phát biểu chính tư tưởng riêng của bản thân. Nhưng cũng có những vị đã dọn trước, đã nghiên cứu trước kỹ càng. Các vị đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đã ghi những câu quan trọng nhất, những từ chính yếu và đã chuyển giao cho các tín hữu các giá trị, với cố gắng hết sức mình.

Khi đọc, ta nên tránh cúi xuống sách và quên ngẩng đầu lên trên đoạn sách, vì làm thế tiếng phát ra sẽ bị nghẹt và người nghe không nghe rõ được. Và nếu muốn nghe, họ phải rán hết sức. Nếu người đọc thoải mái hơn, nắm vững được điều mình đọc và mắt không dính chặt vào sách thì người nghe có khả năng hiểu dễ hơn. Nế⢵ người đọc cứ đọc với giọng đều đều một giọng mà không nhấn mạnh một từ nào, thì người nghe ít được ích lợi.


TRÁCH NHIỆM NẶNG NỀ

Không phải lúc nào việc rao giảng cũng đem lại kết quả trông thấy. Ðôi khi, có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho lời giảng của một vị giảng thuyết nào đó gây được ấn tượng mạnh. Nhưng những lần khác lại có những cản trở giới hạn ấn tượng. Ðó là những điều không luôn tùy thuộc nơi chúng ta. Nhưng có một điều lại tùy thuộc nơi chúng ta, đó là: sự kính trọng phải có đối với việc rao giảng. Ta phải ý thức được trách nhiệm nặng nề đó đặt trên vai chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta cần phải cầu nguyện trước khi bước lên tòa giảng.

Trước hết, chúng ta phải ý thức sâu sắc về sự cao cả của tác vụ này. Như các ngôn sứ, các ngài đã xúc động như thế nào khi Thiên Chúa kêu gọi các ông làm ngôn sứ cho Người. Bước lên tòa giảng, chúng ta phải xác tín là chúng ta là những quan tuyên cáo của Vua cao cả. Ta phải loan báo sứ điệp vĩnh cửu cho các linh hồn bất tử với xác tín là ta đã được đặt làm kẻ bảo vệ cho tường thành Giê-ru-sa-lem trên trời, ta là lính canh trên tường thành Xi-on.

Ta phải cảm nghiệm sâu sắc tư tuởng này là: ở giữa những cám dỗ ngổn ngang, ở giữa những dòng thác dâm dật đang tràn ngập các dân tộc thì lời nói của tôi phải mang đến sự cứu giúp và sự cứu rỗi cho các linh hồn đang bị đe dọa. Ta phải biết các thương tích mà các linh hồn đang phải chịu như một vị bác sĩ lành nghề và ta phải tìm phương chữa trị như một người mẹ hiền. Ta phải trở thành người hướng đạo cho giới trẻ. Họ muốn sống tự lập, không muốn lệ thuộc vào ai, nhưng trong thâm tâm vẫn còn muốn có được một bàn tay hướng dẫn. Nhưng tiếc thay, nhiều khi họ bị dẫn đi sai đường lạc lối vì những ánh sáng sai lạc.

"Cứ lấy gân cổ mà kêu, đừng kìm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và báo cho dân Ta hay tội ác của chúng, cho nhà Gia-cóp biết những lỗi lầm đã phạm" (Is 58,1). Lời Chúa vẫn còn có giá trị trong những thời gian ăn năn thống hối.

Sau hết, trong khi thi hành những nhiệm vụ nói trên, ta còn phải trở thành nên những gương mẫu sáng chói:

"Chính anh hãy làm gương về mặt đức hạnh. Khi anh giảng dạy thì đạo lý phải tinh tuyền, thái độ phải đàng hoàng". Thánh Phao-lô đã khuyến cáo Ti-tô, người môn đệ yêu dấu, (Tt 2,7). Nếu làm như vậy, vị giảng thuyết sẽ không bị lên án, án mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã báo trước:

"Khốn cho ai lơ là với công việc của Ðức Chúa" (Gr 48,10)-"Maledictus qui facit opus Domini fraudulenter" (Gr 48,10).

Trái lại, ngài sẽ nhận được sự hỗ trợ của Chúa :

"Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". (Mt 28,20). "Thiên Chúa làm cho lớn lên" (1Co 3,7). "Lời Ta cũng vậy, một khi phát xuất từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó" (Is 55,11).

Đamien
13-09-2006, 08:57 PM
DÀN BÀI VÀ BỐ CỤC

Chỉ xin gợi ý vài điểm :

Mục tiêu của bài giảng phải rõ ràng, chính xác có thể dễ nhận ra và mọi người có thể nắm bắt được cách dễ dàng.

Sau khi đã suy tư chín chắn, ta phải sắp xếp các tư tưởng cách tự nhiên, dễ nắm bắt.

Muốn thế, ta phải sắp đặt các phần sao cho ăn khớp với đề tài, quan hệ với nhau mạch lạc, rõ rệt. Nên tránh trình bày một chuỗi các tư tưởng, các lời hay ý đẹp, nhưng lại chẳng ăn nhằm gì với nhau.

Ngoài ra, cũng không cần có một dàn bài cứng nhắc và lặp đi lặp lại nhiều lần, vì ta có thể làm thính giả mệt mỏi và đâm ra nhàm chán. Một lời nói sống động không có chỗ đứng trong một dàn bài cứng nhắc, khô khan. Tài năng, sự nhạy bén, tài quan sát, biết trước được phản ứng của cử tọa, đó là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong bố cục, cách kết cấu bài giảng và trong việc khai triển các tư tuởng. Nghệ thuật giảng thuyết đòi hỏi phải học các mẫu kiểu và nghe các vị giảng thuyết dày kinh nghiệm xem các ngài đã giảng như thế nào.

Lời khai mào-

Phải nhập đề một cách cẩn thận. Không nên có một kiểu nhập đề chung cho mọi bài giảng ngày Chúa nhật. Nhập đề thế nào cho gợi cảm, ấn tượng và thích hợp, làm sao cho cử tọa được thích thú, sau đó thì họ sẽ khoái nghe bài giảng. Hằng ngày ta đã có kinh nghiệm rồi. Câu đầu của mỗi Thánh vịnh đã tóm lược được toàn bộ tình huống, gồm bao tâm tình dạt dào. "Misericordias Domini in aeternum cantabo". "Laudate pueri Dominum" hoặc tiếng hát của đoàn hành hương "Laetatus sum in his quae dicta sunt mihi: In domum Domini ibimus". Hoặc là tiếng rên xiết từ vực sâu thẳm "De profundis clamavi"; hoặc cảnh trí và tâm tình "Super flumina sedimus et flevimus". Nhập đề của các bài diễn văn của các Sách Ngôn sứ thật ấn tượng biết bao !

Triển khai các phần khác của bài giảng.-

Ta phải bàn về những chân lý vĩnh cửu. Trình bày những lời khuyên luân lý và, vì có nhiều tư tuởng nối tiếp nhau, nên dễ làm người nghe mệt mỏi; họ còn đang phải vật lộn với những khó khăn và phức tạp của cuộc sống đời thường.Vậy ta phải trình bày đề tài thế nào cho hấp dẫn, đem lại một luồng sinh khí tươi mát. Như thế ta sẽ dễ đánh động các tâm hồn nghe theo lời giảng hơn.

Một câu chuyện hay hợp với đề tài, một hình ảnh chọn lựa khéo léo có thể giúp cho bài giảng -nhất là ngày nay, khi con người bị cuốn hút bởi bao nhiêu hình ảnh làm họ không còn thời gian để suy nghĩ về những vấn đề nghiêm túc.

Ta có thể sử dụng các câu chuyện về cuộc đời của Chúa Giê-su, kể truyện về các Tông đồ, gương các Thánh: một kho tàng đồ sộ những hành động hiển hách, những khổ đau anh hùng mà các Thánh đã phải chịu trong mọi thời đại. Lúc thì có gương đời sống đơn sơ thánh thiện, trung thành với bổn phận; lúc thì từ bỏ hi sinh đến độ anh hùng; lúc thì có những bông hoa tươi xinh của một lòng bác ái. Ta có thể lấy những truyện gương mẫu tại địa phương, hoặc kể truyện về các Thánh mà người giáo dân có lòng mộ mến đặc biệt.

Ðoạn kết-

Khi kết bài, ta khuyến khích, trình bày áp dụng thực tế và cố làm sao gây ấn tượng lâu bền nơi tâm hồn các tín hữu của chúng ta.

Đamien
13-09-2006, 09:01 PM
Apis argumentosa - Con Ong Siêng Việc

"Ðã từ 25 năm nay, chúa nhật nào cũng như chúa nhật nào, cùng trên một bục giảng, tôi vẫn giảng", một cha xứ kể, đây không phải là chuyện dễ, tuy nhiên tôi rất thích và khi thấy giáo dân của tôi chú ý nghe tôi giảng, điều này làm tôi rất vui." Rồi vị linh mục kể tiếp: "Mỗi buổi chiều thứ hai, các phần chính của bài giảng đã được lên kế họach -ít ra là dưới hình thức dàn bài. Và trong suốt tuần lễ, tôi nghĩ về bài giảng, trong cô liêu tĩnh mịch, tôi tìm tòi, suy xét và tư duy. Tất cả đều làm trong âm thầm, trong thinh lặng, một mình."

Ðây quả là một phương pháp tốt, và chắc rằng: vị nào làm việc một cách trung thành và yêu mến để cống hiến cho các linh hồn những điều tốt nhất thì vị đó đem lại cho bài giảng của mình một dấu ấn bản thân theo nghĩa tốt nhất của từ. Lời giảng của ngài phản ánh đời sống nội tâm của ngài, sự quan tâm mục vụ - lời ngài nói quả là lời nói của một trái tim nóng hổi. Vị linh mục kể chuyện đời mình trên đây chỉ là một vị cha xứ khiêm tốn với tâm hồn đơn sơ. Ngài không có tài trí thông minh hơn người. Nhưng ngài đã biết sử dụng cái vốn khiêm tốn mà ngài đã nhận được.

Không ai có thể đòi hỏi cha xứ phải giảng những bài giảng có giá trị trí thức vượt bậc, nhưng tất cả mọi người có quyền đòi cha phải cố quan tâm soạn bài giảng kỹ hết sức có thể. Ðồng thời cha cũng phải cầu xin Thánh Linh ban cho cha ánh sáng và nhiệt tâm ấm tình người. Thánh Linh là nguồn suối dạt dào (fons vivus), là lửa thiêng (ignis), là tình mến (caritas). Xin Ngài ban cho ta những hồng ân cao quý nhất.

Lời giảng của ta phải được thấm nhuần bằng điều ta suy niệm. Thêm vào đó, ta còn phải làm việc nghiêm chỉnh, trong thinh lặng của một gian phòng, như lời Thánh Bê-đa, vị Tiến sĩ Hội Thánh: "Nihil dulcius quam legere, discere, scribere" (Không gì ngọt ngào hơn là đọc, học, viết).

Các nhà giảng thuyết, các giáo sư khoa hùng biện thánh thường ngồi xuống, lấy giấy bút để soạn bài giảng. Lý do: cần phải thu gom các ý tưởng, quan tâm đến việc trình bày các tư tưởng, triển khai rõ ràng, trong sáng, để các tư tưởng ăn khớp với nhau. Tránh lặp đi lặp lại những sáo ngữ, những câu nói "tủ" mình ưa chuộng nếu không thì bài giảng sẽ trở nên đơn điệu.

Vì thế, ta cần đến ngòi bút viết ra bản thảo để ta có thể xem đi xem lại và như thế, ta có thời gian đọc thử. Ngay cả khi ta có thể phát biểu dễ dàng, ta cũng cần ngồi xuống để soạn bài giảng trên giấy.

Cũng xin nói thêm là: ta không nên nhận giảng những bài giảng do hoàn cảnh khi có lời mời. Tốt hơn là ta nên dè dặt. Ta nên ghi chép và lưu trữ những điều đã lượm lặt được đó đây, rồi hệ thống hóa chúng thành các chủ đề chính. Làm như thế không phải là để trở thành nên người cóp nhặt, mà là để ta nắm giữ được những lời nói hay, những kiểu nói hấp dẫn, những hình ảnh sáng ngời- rồi cố đem ra sống nội tâm nghĩa là thực thi những điều đã ghi chép được, mặc cho chúng một hình dáng và như thế là ta đang tự huấn luyện nhờ các gương mẫu sáng ngời. Ta có thể học được biết bao điều bằng cách suy niệm trong thinh lặng; ta tìm được bao gợi hứng từ các sách đạo hay sách đời. Ta quan sát giới trẻ cũng như giới người cao tuổi để hiểu tâm lý của họ; ngoài ra ta còn cần hiểu thêm bao biến cố bé nhỏ trong cuộc sống đời thường; bao gợi hứng mới trổi lên khi ta được nghe một vị giảng thuyết hay hoặc khi ta đọc sách. Ta cần chọn lọc: giữ lại cái hay, cái đẹp, cái cao quý. Ta nên bắt chước vị giảng thuyết thời danh nọ. Suốt cuộc đời ngài đã ghi lại những điều hay ngài đã đọc được, những kinh nghiệm bản thân, những gợi hứng nội tâm; sau đó, ngài ghi tất cả vào các tờ phiếu, rồi sắp xếp theo thứ tự. Ngài gọi tủ nhiều ngăn đó là "tủ thuốc di động".

Apis argumentosa, Con ong siêng việc. Lời khen dành cho bao vị Thánh. Và đây cũng là phương tiện để kiểm soát sự trung thành và lòng nhiệt tâm của mình. Ðó là việc ta giữ lại các bài đã giảng: một tập vở ghi lại một vài hàng về chủ đề và dàn bài các bài ta đã giảng các ngày chúa nhật. Làm thế, ta có được, năm này qua năm khác, một bản tóm lược rõ ràng, nhanh chóng các bài giảng Tin Mừng ngày chúa nhật và các ngày lễ trong tuần. Ðây không phải chỉ là cách tự kiểm soát đối với vị giảng thuyết mà còn là sách tóm tắt có phương pháp giúp cho việc mục vụ. Ngoài ra còn phải có một bản danh mục ghi chép nhiều hơn là bản ghi chép trên đây.

Lòng hăng say nhiệt thành và sự trung tín thúc đẩy ta phải suy tư, phải làm việc và cầu xin Ðấng Chăn Chiên lành thì lại được ghi vào một cuốn sách khác không phải do tay người phàm viết ra, nhưng "nó chỉ sẽ được mở ra (cuốn sách mà trong đó chứa đựng tất cả) và từ cuốn sách đó mà thế giới này sẽ được xét xử ("liber scriptus proferetur, in quo totum continetur, unde mundus judicetur")

Đamien
13-09-2006, 09:08 PM
Opportune, Importune - Lúc thuận tiện, lúc không thuận tiện

Khi Thánh Phao-lô khuyên Ti-mô-thê :

"Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện" (2Tm 4,2), thì ngài đã tỏ ra sự quan tâm của một chủ chăn và sự nhiệt tình không mệt mỏi của một vị Tông đồ bằng lời rao giảng. Trong lãnh vực này, ngài quả là mẫu gương của mọi vị linh mục.

Bây giờ ta phân tích từ "importune" (không thuận tiện) để rút ra một điều luật. Ðiều luật đó như thế này: không phải mọi điều đều phù hợp với mọi người cả đâu. Mỗi thính giả đều có một đặc điểm riêng, môi trường sống cũng khác nhau; đối với vị giảng thuyết cũng thế: mỗi vị cũng có một kiểu giảng riêng. Bài giảng có hữu hiệu hay không, đó là tùy ta có biết đáp ứng được những điểm đặc biệt đó hay không.

Xin lưu ý đến điểm được bàn đến sau đây, đó là: vị linh mục trẻ, cha phó xứ trẻ nên để cha chính xứ- người đã giàu kinh ngiệm- đề cập đến một số đề tài. Vì sao?

Thưa: vì ngài là ngưòi có quyền, có trách nhiệm là cha chính xứ; vì ngài đã nắm vững được tình hình trong xứ; ngài có kinh nghiệm về môi trường; ngoài ra, người thường đã lớn tuổi, đã già dặn, đã trưởng thành. Nên ngài có đủ thế giá để bàn về những vấn đề khó như vấn đề: đời sống luân lý, hôn nhân khác đạo, các tội về điều răn thứ sáu, quan hệ giữa chủ nhà và người giúp việc, điều khiển các hội đoàn như hội các bà mẹ công giáo và những vấn đề tương tự.

Một vấn đề khác, đó là: giảng cho xứ đạo nhà quê, hay giáo xứ tỉnh thành, hoặc giảng cho giới công nhân. Những vị làm mục vụ tại các miền nông thôn cần phải học hỏi nhiều vấn đề liên quan và các ngài không nên coi nhẹ những vấn đề này. Cuộc sống của những người sống tại nông thôn là một cuộc sống trong một thế giới riêng biệt: xét theo công việc của họ - nhẫn giới các tư tuởng của họ - trí tưởng tượng - các thói tục xưa còn sót lại, những đòi hỏi, những nhu cầu, những nhân đức, những thiếu sót những khuyết điểm của họ. Nếu ta muốn thành công khi ta giảng cho họ, nếu ta muốn ghi ấn tượng lâu bền, sâu sắc nơi họ thì ta phải từ bỏ những thói quen bản thân của ta. Nơi đây cũng như mọi nơi khác, sự thiêng liêng được xây dựng trên bản tính. Vị giảng thuyết cần đặt việc lao động của người nông dân vào trong ánh sáng của đức tin. Ngài phải đem lại cho họ một ý nghĩa tôn giáo cho công ăn việc làm của họ -cho đời sống gia đình, đời sống xã hội. Ngài phải giúp đỡ họ thánh hóa bản thân, các quan hệ của họ đối với người trong nhà cũng như đối với người hàng xóm.

Vị giảng thuyết tránh không nên gây gổ và chỉ trích người nông dân vì họ chỉ chăm lo chuyện trần thế -vì họ quá lo cho tương lai - vì ý thích của họ - vì các nguyện vọng sà sà mặt đất của họ - vì họ ham tiền bạc. Trên tòa giảng, không bao giờ cha xứ được ám chỉ đến những căng thẳng, những khó khăn mà ngài gặp phải khi phải đối phó với một số giáo dân. Ðiều này ngài không có thể làm được tại một giáo xứ tỉnh thành thì lại không có lý do nào để ngài làm chuyện đó tại một giáo xứ ở một làng nhỏ, nơi đây ai nấy đều hiểu ngay cha xứ muốn ám chỉ ai. Tại miền quê, vị giảng thuyết cần phải nâng sự tầm thường và điều tự nhiên lên bình diện siêu nhiên và bình diện ân sủng.

Mục tiêu của việc giảng thuyết ki-tô ở tại điểm này và sẽ luôn ở điểm này, đó là:

giảng dạy:

- những chân lý siêu nhiên,

- các giới răn của Chúa ,

- các phương thế cứu độ,

như được trình bày trong sách giáo lý. Ðó là việc giảng dạy theo Tin Mừng.

Tuy nhiên, vị giảng thuyết phải- và dĩ nhiên là bao giờ cũng thế- khéo léo thích ứng tất cả vào đời sống thôn dã; ngoài ra, ngài còn phải trình bày dưới một hình thức đầy mầu sắc, sử dụng những so sánh, thỉnh thoảng chêm vào vài ví dụ cụ thể, sống động; lúc đó các đầu óc đang mệt mỏi liền ngửng lên...

Một bài giảng được dân chúng ưa chuộng không phải tự nhiên mà ứng khẩu được. Ðây là một công việc có tính cách nghệ thuật đòi hỏi cha xứ phải bỏ ra nhiều thời giờ mới soạn thảo được. Thánh Vianney -cha xứ Ars- đã cống hiến bao nhiêu thời gian cho việc soạn thảo các bài giảng của ngài.

Còn khi giảng cho giới lao động, vị giảng thuyết lại càng phải soạn bài giảng kỹ lưỡng hơn nữa. Lý do là vì các người làm việc chân tay phải làm những việc nặng nhọc. Họ ít có thời giờ thư giãn. Ðời họ được gắn liền vào những nhà máy, những lò nung, những mỏ than. Những công việc này không giúp họ nâng cao tư tưởng. Rồi họ còn phải tranh đấu cho việc tăng lương, những phúc lợi xã hội. Ngoài ra còn nhiều nguy hiểm mà các người thợ trẻ có thể bị đe dọa. Thế nên, cần phải giảng về những vấn đề luân lý xã hội, nhưng nên tránh những vấn đề hoàn toàn có tính cách chính trị hoặc kinh tế. Cũng cần phổ biến những thông điệp xã hội của Giáo hội nữa.

Vị giảng thuyết cần có được một sự huấn luyện nghiêm chỉnh, nhờ học hỏi và nghiên cứu. Ngài phải trình bày giáo lý luân lý dưới một hình thức dễ hiểu để mọi người có thể nắm bắt được. Ngài còn phải phân biệt điều gì nên nói trên tòa giảng và điều gì nên dành cho những cuộc hội họp (họp nhóm, họp hội đoàn). Sau hết, ngài còn phải quan tâm đến điều có thể gây ra hiểu lầm vì một sự giải thích sai lệch hoặc một cái nhìn đơn phương, làm cho người nghe bối rối không biết đâu mà mò. Vì thế, vị giảng thuyết cần quán triệt lý thuyết và, hơn thế nữa, ngài còn cần đến sự khôn ngoan và kinh ngiệm nữa.

"Opportune, importune".
Vị linh mục không được cho phép mình ám chỉ không tốt về bất cứ ai. Một mũi tên bắn thẳng vào trái tim người nghe, khi người ấy đoán rằng ông cha đang nói về mình và khi linh mục ám chỉ về gia đình của họ thì có thể biến gia đình họ thành trò cười cho người khác. Ngoài ra, trong bài giảng, cha cũng nên tránh trách móc ai đó vì họ đã từ chối không tiếp cha hoặc đã xử tệ với cha. Nhà giảng thuyết thời nay phải hết sức giữ lời nói để tránh làm phiền lòng người nghe, vì họ rất nhạy cảm và dị ứng.

Một trong những bổn phận thánh thiêng của vị giảng thuyết, đó là: không bao giờ ngài được phép nói một câu nào mà người ta nghĩ rằng ngài đã biết được điều đó qua tòa giải tội. Cần hết sức quan tâm tránh điều đó, cho dù không có lỗi phạm một chút xíu nào về ấn tòa giải tội.

Một điều nữa mà vị giảng thuyết không bao giờ được làm, đó là: ám chỉ đến những nghi ngờ phát sinh từ những chuyện đồi bại về linh mục này hay linh mục kia. Khi cha bước lên tòa giảng, cha hãy để lại dưới chân thang tất cả những gì có thể đã làm mất lòng cha sau một cuộc chuyện trò thiếu khôn ngoan. Với tính cách là một người rao giảng Tin Mừng, cha có bổn phận tỏ ra mình là một người hoàn toàn vô tư; cha phải hoàn toàn quên mình và cha chỉ còn nhớ tới các tư tưởng về cuộc sống vĩnh cửu, sự cứu rỗi đời sau và về các linh hồn. Cha phải phân phát cho mọi người sức mạnh, niềm vui và ánh sáng với tất cả tấm lòng yêu mến của cha.

Đamien
13-09-2006, 09:09 PM
Trong mọi trạng huống, cần áp dụng lời kinh:

"Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy tâm hồn và môi miệng con, để con công bố lời thánh thiêng của Chúa cho xứng đáng và tinh thông". ("Munda cor meum et labia mea, ut digne et competenter annuntiem verba santa tua").

Câu hỏi cuối cùng: liệu ta còn nên giảng về bốn sự sau không ?

Câu trả lời:

"Bài giảng phải được thích ứng với thời đại, khi bài giảng lấy gợi hứng từ những tư tưởng về đời sống vĩnh cửu, khi bài giảng đề cập đến các chân lý vĩnh cửu, về đức tin. Ðiều giảng dạy hiện đại vào thế kỷ thứ hai thì cũng hiện đại cho thế kỷ 20, 21. Khẩu hiệu của ta là: "Sống và giảng dạy thời đại của ta tùy thuộc vào sự vĩnh hằng. Ðiều mà bất cứ thời điểm nào đem lại sức mạnh cho bài giảng, đó là sức mạnh của đời sống vĩnh cửu. Những lời nói của Chúa Giê-su đã có trọng lượng vì Ngài đã nói dưới ánh sáng của đời sống vĩnh cửu". Không điều gì thật hơn. Một vấn đề luôn làm rung động thâm sâu lòng con người, kể cả người đương thời, đó là vấn đề đời sau. Và nếu con người không quan tâm đến điều này thì vị linh mục, với tính cách là người trung gian giữa thời gian và vĩnh cửu, ngài phải quan tâm đến công việc này. Trách nhiệm đáng sợ nhất của ta là phải trả lẽ về số phận đời đời của vô số linh hồn. Chính tư tưởng này đã làm không ít người lùi bước trước chức vụ linh mục. Tuy nhiên, đối với người được tuyển chọn, thì chính vấn đề đời sau lại là điều kéo người đó muốn dâng mình làm linh mục, dẫn người ấy bước lên tòa giảng. Còn người trốn tránh trách nhiệm như Gio-na thì không muốn lãnh sứ mạng của người đi rao giảng. Ta nên nhớ lời cảnh cáo của Chúa Giê-su: "Ðêm đến, chẳng ai còn có thể làm việc được" Không có việc gì cấp bách cho bằng lo việc rỗi linh hồn của mình. "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào" (Lc 13,24). "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong"(Mt 7,13). Lời khuyến cáo sau đây phải được vang vọng trên mọi tòa giảng: "Anh em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ" (Pl 2,12).

Tuy nhiên, ta cũng phải khuyến khích những người có thiện chí, dẫn đưa họ đến với Ðấng "cây lau bị dập, Người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi" (Mt 12,20)

Đamien
13-09-2006, 09:14 PM
NGÔN NGỮ VÀ THÁI ÐỘ

"Pectus est quod disertum facit". Chính tâm lòng mới làm cho hoạt bát; chính tâm lòng mới làm cho lời ta giảng có hiệu lực. Câu cách ngôn trên đây luôn là thật. Tài hùng biện không là gì khác, mà chỉ là: đời sống nội tâm tràn ra bên ngoài. Tâm lòng có nhiều cách trình bày, thì ngôn ngữ cũng có nhiều kiểu nói và văn phong rất phong phú.

Mỗi vị giảng thuyết đều có một cách giảng riêng, nhưng các vị đều phải cố làm cho bài giảng của mình ngày một hoàn chỉnh hơn. Nếu cần phải nói những điều khó nghe hoặc cứng rắn, thì ngài cũng cố làm nó mềm mại hơn, cần mài giũa những góc cạnh của tài hùng biện của mình, phải thích ứng với lý trí của các thính giả. Ngoài ra, ngài còn phải học tập, bắt chước các nhà giảng thuyết kiểu mẫu, đi nghe các nhà giảng thuyết thời danh để học hỏi thêm.

Cách phát âm phải rõ ràng, dễ hiểu, xứng hợp với các nhu cầu luân lý của các thính giả. Muốn được thế, vị giảng thuyết cần làm việc vất vả, kiên trì và phải từ bỏ rất nhiều. Thánh Gio-an Vianney, người thuộc giới bình dân, ngài cũng đã phải lao công khổ tứ, bao đêm thức soạn bài để đi vào tim gan của dân xứ Ars, làm thế nào để được lòng họ. Ngôn từ phải cao quý, trang nhã. Dân nhà quê, ít học, họ bằng lòng với những từ, những câu đơn sơ; tuy nhiên, họ đòi hỏi ngôn từ của vị giảng thuyết phải cao quý, trang nhã, thực tế. Họ cũng muốn được vị giảng thuyết nâng tâm hồn họ lên cao. Họ cũng khát khao có thể lắng nghe -với tất cả sự kính trọng- vị được trao trách nhiệm dẫn họ đi trên những nẻo đường dẫn đưa tới sự sống siêu nhiên.

Trong mọi trạng huống, thái độ của vị giảng thuyết phải luôn đơn sơ, không chút tự phụ, ngài chỉ có một hoài bão duy nhất, đó là phục vụ các linh hồn mà thôi. Người ta có thể nhận ngay ra được ấn tượng sâu sắc thông qua những kiểu nói đơn sơ, khiêm tốn, lôi cuốn từ các vị giảng thuyết không có được sự tinh tế của nghệ thuật ăn nói và chính bản thân cũng không có được chút tài hùng biện phi thường nào.

Quả là một nghệ thuật lớn khi ta biết dẫn dắt thính giả từng bước một. Những lời của Chúa Ki-tô phục sinh trên đoạn đường Em-mau quả là một ví dụ tuyệt vời. Ai mà lại không khen ngợi biệt tài giảng thuyết nơi Thánh Gio-an Kim khẩu, vị rao giảng tuyệt vời, bậc thầy cao cả của mọi nhà giảng thuyết.

Muốn cho thính giả không cảm thấy mệt mỏi, vị giảng thuyết phải trình bày tư tưởng cách gợi cảm, thỉnh thoảng chêm vào một vài tương phản. Vậy, vị giảng thuyết phải luôn quan tâm đến chuyện nối nhịp cầu giao cảm với tâm hồn quần chúng, tìm hiểu xem dân chúng thường suy tư như thế nào, họ cảm nghiệm và nhạy cảm với các vấn đề ra sao. Thế nên, ngài nên có kiểu nói bình dân, quen thuộc, xuề xòa, tình nghĩa, luôn tránh hạ giá các tư tuởng cao siêu bằng những kiểu nói tầm thường kệch cỡm. Tìm để được tiếng là bình dân, ăn khách, trở thành vị giảng thuyết được yêu chuộng, được ca tụng, đó là điều rất nguy hiểm. Sự được dân chúng yêu mến và nể trọng cần được phát sinh bởi một sự thân tình thiêng liêng giữa vị linh mục và các giáo dân của ngài.

Muốn trình bày một bài giảng cho khéo, vị linh mục trẻ nên học với các vị đàn anh, các bậc thầy đã dày kinh nghiệm trong lãnh vực văn chương, các ngài đã biết mặc cho các tư tưởng của mình một chiếc áo bình dân. Ðiều này đòi hỏi nhiều người, sau khi đã học được các nguyên tắc, còn phải dành nhiều cố gắng và kiên trì học tập mới có thể làm được. Muốn thế, điều cần phải làm là nói những câu ngắn gọn. Cứ xem các trẻ em và những người bình dân, ít học, họ trình bày tư tưởng của họ thế nào và họ cấu trúc các câu nói của họ ra sao. Các đại chủng sinh nên học viết hoặc nói một câu cho khéo bằng bốn câu thật ngắn gọn, vì biết rằng: các thính giả không những thích nghe các câu ngắn hơn, mà họ còn dễ nắm bắt được điều mà người khác nói với họ. Nếu ta phải ngỏ lời với một cử tọa trí thức hơn thì ta phải trình bày những ý tưởng đã được suy tư kỹ lưỡng và trình bày bằng ngôn ngữ cao hơn, trí thức hơn.

Khi trích dẫn những bản văn Kinh Thánh, ta phải hết sức cẩn thận. Không phải cứ trưng dẫn cho thật nhiều các câu Kinh thánh, chồng chéo lên nhau là một điều hay, nhưng ta phải chọn lựa cẩn thận, khôn ngoan các câu đó, hầu mang lại kết quả tốt. Các câu Kinh Thánh đó có thể đánh động trí khôn và trái tim người nghe, bằng cách trình bày những ý tưởng cao siêu và trọng lượng của các văn bản đó.

Còn các câu truyện kể thì cần kể cho có mầu sắc, gợi cảm, nhưng đừng rơi vào kiểu con nít. Các dụ ngôn của Chúa Giê-su có thể là những ví dụ điển hình nhất. Câu truyện Ðức Giê-su cho La-gia-rô sống lại, như lời kể của Thánh Gio-an thật sống động biết bao!

Cung giọng cần phải được thay đổi, đừng đơn điệu rề rề từ đầu đến cuối. Lời giảng cần được thấm nhuần niềm vui, chững chạc, ấm áp, nhưng không chút ủy mị. Làm ra bộ thống thiết sẽ là điều chướng tai gai mắt, nếu quả có cảm kích xúc động thực sự thì cần phải tự nhiên. Như thế mới có kết quả cuốn hút. Vậy câu nói: "Pectus est quod disertum facit" là luôn luôn đúng.

Vị giảng thuyết chỉ có thể dẫn đưa giáo dân đến sự sống nội tâm, nếu chính ngài có đời sống nội tâm thực sự. Muốn thế, ngài phải chuyên chăm trong việc suy niệm và tập cho mình quen bình tâm lại trong mọi tình huống của cuộc sống đời thường. Làm như thế, ngài có thể đem lại cho bài giảng của mình một sự ấm áp mà xã hội tục hóa và lạnh lùng của ta hiện đang cần đến.

Đamien
13-09-2006, 09:16 PM
CẦN QUAN TÂM ÐẾN NỖI KHỐN QUẪN CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN

Thường thì ta không mấy thích đi lại với người nghèo, người mù, những người bất hạnh, những kẻ tật nguyền. Nguyên trông thấy họ là đã đủ ớn rồi.

Nhưng Chúa Giê-su đã tuyên bố tại hội đường Na-da-rét:

"Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
... cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức... (Lc 4,18)

"Thầy chạnh lòng thương đám đông" (Mc 8,2)

Linh mục là người quan tuyên cáo của Ðức Giê-su. Chính vì thế mà ngài phải quan hệ thân tình với dân chúng và quan tâm đến cảnh khốn quẫn của họ trên bình diện trần thế hay trên bình diện thiêng liêng. Cảnh khốn quẫn thiêng liêng lại là điều tệ hại hơn. Tuy nhiên, nhiều khi những thử thách cuộc đời này lại là cớ gây nên sự sụp đổ thiêng liêng.

Khổ đau bất cứ thuộc lãnh vực nào đều có được âm vang trong trái tim của Ðức Giê-su. Ngài đã đi tìm và chữa lành mọi tật nguyền của con người. Mọi trái tim thối chí, xót xa, đau khổ, đều làm cho Ðức Giê-su phải mủi lòng. Thế nên, Ngài cũng đòi hỏi từ phía các linh mục cũng phải có thái độ như Ngài bằng cách treo gương sáng, biết khéo xử trong lời nói cũng như trong việc làm. "Hãy đi và học điều này: Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ". Ngài đã nghiêm khắc lên án vị tư tế đi ngang qua một người ngoại kiều bị thương mà lòng lạnh như tiền. Chớ gì tinh thần của Ðức Giê-su trở thành khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta. "Thầy đã làm gương cho anh em". Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ của Ngài như thế.

Kiểu nói "Chúa thăm viếng" một gia đình nào đó khi họ gặp khổ đau hay khi có người trong gia đình ngã bệnh nặng. Thiên Chúa "thăm viếng" con người khi sự đau khổ gõ cửa trái tim của họ để kêu gọi họ trở về với Người, để họ ăn năn trở lại hoặc để mời gọi họ tỏ lòng nhân ái yêu thương đối với người anh em nào của họ đang lâm cảnh khổ đau khốn quẫn. Ðó là cách ta hiểu đời sống linh mục có ý nghĩa như thế nào. Vì thế, vị linh mục cần phải tập cho mình quen thuộc với mầu nhiệm khổ đau. Ngài phải coi việc thi hành đức bác ái đối với những ai đang đau khổ như là di sản thánh thiêng của Thầy chí thánh để lại.

Ðừng để bài giảng của ta thành nên như bánh ngọt cho những người khỏe ăn hoặc thành một điều khoái chí cho lỗ nhĩ của người trí thức và cũng đừng có kiểu nói cứng rắn, lạnh lùng như một bài dạy học uyên bác; nhưng trái lại, khi giảng, vị giảng thuyết hãy tỏ ra biết thông cảm, ủi an và nhanh chân chạy đến cứu giúp những người đang cần đến sự giúp đỡ của ngài. Ðây là điều cần phải làm, nhất là vào thời đại của chúng ta, hiện có biết bao linh hồn đang bị thử thách hoặc đang ngờ vực. Có biết bao người xung quanh chúng ta đang phải vất vả vật lộn để có được miếng cơm manh áo. Họ đang phải lo cho những nhu cầu cấp bách của cuộc sống. Vậy điều gì sẽ xẩy ra, nếu vị linh mục không treo gương sáng bằng một cuộc sống giản dị, khiêm tốn. Nhà ở của ngài cũng phải đơn sơ và "đạm bạc". Ngài luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, tiết kiệm khi phải chi tiêu cho chính bản thân. Vậy, nhất là trong thời đại này, ta cần phải để mắt coi và để trí khôn quan tâm đến những thiếu thốn vật chất và thiêng liêng của dân chúng. Nếu vị linh mục sống thân tình và gần gũi với dân chúng bằng tư tưởng cũng như bằng trái tim và nếu ngài để cho sự gần gũi này thành ngôi sao dẫn đường cho các hoạt động của ngài thì những lời nói của ngài trên tòa giảng sẽ có sức mạnh ấm áp giống như sự ấm áp của Thầy chí thánh khi Ngài ngỏ lời từ trên núi.

Đamien
13-09-2006, 09:20 PM
NGÔN NGỮ CỦA TRÁI TIM VÀ CHẤT THƠ

"Tâm tình đạo đức và chất thơ có thể đi đôi với nhau bởi lẽ: thơ phú chứng thực cho sự phong phú trí thức của một dân tộc và làm chứng cho sự sâu sắc tình cảm của dân tộc ấy. Cứ đọc những tác phẩm thi ca của một thời đại lịch sử nào đó, ta có thể đánh giá được sự cao cả và giá trị trí thức của thời đại đó. Qua các sáng tác thơ văn này mà một dân tộc có thể ghi dấu ấn cá tính của dân tộc mình, đồng thời cũng để lại những dấu vết hiển nhiên của những khổ đau, những niềm vui và những chiến thắng của mình"

Những lời đánh giá trên đây của một nghệ sĩ có thể vén màn cho ta thấy vai trò quan trọng của chất thơ trong các sách Kinh thánh có tính cách khải huyền cũng như sự quan trọng của chất thơ khi ta loan truyền Lời Chúa cho những người hiện sống trên thế giới ngày nay..Vào một thời điểm nào buồn tẻ và thiếu niềm vui, ai mà lại không ao ước có được một làn gió của chất thơ cũng như một sự trân trọng thi ca thổi qua các bài giảng của chúng ta? Ở đây ta không bàn về các vần thơ cũng như các bài thơ, nhưng chủ yếu điều ta muốn đó là ta có được một tâm hồn để chiêm ngắm, nắm bắt, cảm nghiệm và sống những điều cao quý nhất, dưới hình thức cao quý nhất của chúng. Và đây chính là sự khao khát nhất của các tâm hồn vào những thời điểm tràn ngập niềm vui.

Tâm hồn của vị linh mục cũng cần phải để cho làn gió chất thơ này đi qua và từ trên thổi xuống. Lúc đó, trái tim ngài sẽ được in dấu sâu sắc bởi một niềm hào hứng nên thơ làm con nguời xúc động xuyên qua các Thánh vịnh, các dụ ngôn của Chúa Giê-su, các viễn tượng của các ngôn sứ và tất cả những điều này đôi khi ghi dấu ấn vô cùng sâu sắc trong tâm khảm của chúng ta.

Lúc đó, vị linh mục sẽ hiểu được vẻ đẹp trong cấu trúc của kinh Lạy Cha, kinh đã được kết cấu trên đỉnh núi cao thầm lặng, khi tâm hồn Ðức Giê-su nhìn thẳng vào bản tính Thiên Chúa siêu việt rồi dần dần hạ xuống nhìn xem những khổ đau và những hiểm nguy đang đe dọa dân chúng.

Rồi trái tim của vị linh mục sẽ nắm bắt được chiều sâu và vẻ huy hoàng của Kinh Ave maris Stella. Ngài cũng cảm nghiệm được sự đau đớn hối cải và niềm hy vọng đổi mới của Thánh vịnh Miserere mei. Rồi vị linh mục liền nhớ ra lời mời gọi của Thánh Phao-lô Tông Ðồ :

"Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa" (Ep 5,19), để, dưới sự hướng dẫn của ơn Chúa trái tim anh em được bộc lộ ra trong Chúa và để anh em khuyên bảo dạy dỗ nhau: "Ước chi lời Ðức Ki-tô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan. Ðể tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa, những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng." (Cl 3,16).

Những lời của Thánh Phao-lô trên đây đã chẳng gợi cho thấy điều mà ngày nay, người giáo dân đang có nhu cầu khẩn trương được nâng lên cao và được gợi hứng bởi những lời khuyến khích phát xuất từ tâm hồn và trái tim của vị linh mục hay sao?

Chính trong những thời điểm quan trọng nhất mà lời giảng không được coi nhẹ kiểu nói đầy chất thơ.

Nếu quả thật chất thơ đó là dấu hiệu của ơn Chúa Thánh Linh, thì chắc chắn nó sẽ đem lại nhiều kết quả kỳ diệu. Khi Thánh Phao-lô và Sila đã bị đánh đòn tại Phi-líp, vì hai ngài đã kiên trì trong đức tin và ban đêm trong tù ngục tối tăm, cho dù mình mẩy dính đầy máu, hai ngài đã hát lên những bài thánh ca tạ ơn và tri ân. Các bài hát này đã làm phấn khởi tâm hồn bao người nghe và đã gây ấn tượng mạnh nơi họ đến độ họ đã xin trở lại cả. (Cv 16,19 và tiếp theo)

Thánh Gio-an Kinh khẩu, vị Thánh bổn mạng của các vị giảng thuyết đã nói: "Vị linh mục cần được thấm nhuần tinh thần của Thánh Phao-lô", nghĩa là: ngài phải giầu tình cảm, có nhiều chất thơ do xúc cảm gây nên. Ngài còn phải học với Thánh nhân điều này là: dậy dỗ và răn đe các giáo dân thì chưa đủ, nhưng còn phải làm cho giáo dân thưởng thức được tất cả những gì là dễ thương, là cao cả, là xinh đẹp trong đạo thánh của ta. Vị linh mục cũng không lạc lõng, nếu trong những giờ suy niệm, ngài cũng đã cảm nghiệm được sơ sơ điều mà "chưa mắt nào đã được thấy, chưa tai nào đã được nghe, chưa trái tim con người nào đã cảm nhận được". Cứ xem Thánh Phao-lô, ngài đã ao ước biết bao đem vào lời nói của con người một làn gió đem lại sự hào hứng và sự nhiệt tình của trái tim ngài.

Ðã có một tác giả đã nhận xét về Thánh Phao-lô như sau:

"Mỗi lời nói của ngài đều nóng bỏng và đầy sức sống. Ngoài ra, ngài còn có rất nhiều rất nhiều đặc ân mà ngài đem ra phân phát cho mọi người. Kiểu phát biểu của ngài rất đa dạng và phong phú, từ chỗ trang trọng sâu sắc đến chỗ xúc động thực sự, từ chỗ bất bình khó chịu đến chỗ "giận dữ thánh", từ chỗ yêu thương tha thiết đến chỗ thuyết phục thân mật; lời nói đầy mầu sắc, đượm mầu chiến thắng vinh quang, kể cả những than trách buồn phiền, những cảm thông sâu sắc và đôi khi cũng thực sự có tính cách hăm dọa."

Vậy, ai lại không cảm thấy hứng khởi bởi những kiểu nói đó và vị linh mục nào lại không bị cuốn hút bởi những điều này, vị linh mục nào lại không đem ra chia sẻ và chuyển giao cho các giáo dân của mình những kho tàng của trí tuệ và niềm vui ấy của trái tim? Và điều này chỉ có thể đạt được một cách từ từ, từng bước một, tùy thời gian, tùy hoàn cảnh, nhưng luôn với sự khôn ngoan và chờ lúc thuận tiện.

Ðó chính là cách xử sự của Ðức Giê-su khi Ngài trình bày những dụ ngôn, khi giảng từ trên núi, khi đi trên đường đến Em-mau. Trên con đường bụi bặm đó, Ngài bắt đầu gợi chuyện bằng một kiểu nói thân tình, một câu hỏi xã giao, rồi thăm hỏi tình nghĩa; sau đó câu chuyện trao đổi thân mật đó mỗi lúc một sâu sắc hơn bằng những hình ảnh, những ý nghĩa, những sắc mầu đến độ những người nghe phải thốt lên: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?" (Lc 24,31)

Vậy, liệu tôi có khả năng ít ra là đem lại cho thính giả cảm nhận được một chút chất thơ từ trên tòa giảng chăng?

Bài giảng không bao giờ nên có tính cách nhân tạo, tuy nhiên nó luôn phải giống như một tác phẩm nghệ thuật- không có tính cách như một buổi diễn nhạc kịch, nhưng nó nên giống như một bài ca dân gian đượm tâm tình chân thành. Bài giảng phải trong sáng, phải phát xuất từ trái tim và phải dẫn về thiên đàng như một lời mời gọi "Sursum corda" (Hãy nâng tâm hồn lên) đích thực và vui tươi. Mong sao bài giảng là kết quả của đời sống nội tâm của vị linh mục, kết quả của việc nghiên cứu, học hỏi, rút ra từ lòng dân, kết quả của sự ưu ái, của sự cầu nguyện và việc làm của ngài. <O:p

Đamien
13-09-2006, 09:26 PM
MỤC ÐÍCH CỦA BÀI GIẢNG VÀ PHẦN KẾT

Nếu bài giảng chỉ nhằm mang lại một niềm vui nghệ thuật chóng qua, hoặc những trạng thái rồi ra cũng dễ biến ngay sau đó, thì bài giảng như thế là chưa đạt. Ta biết việc rao giảng là phương tiện duy nhất để làm việc tông đồ, chính vì thế mà vị giảng thuyết phải luôn đặt ra cho mình câu hỏi này, đó là: các giáo dân có được ích lợi thiêng liêng nào hoặc được khuyến khích luân lý gì từ bàn tiệc Lời Chúa?

Chính việc nhằm vào mục đích này sẽ hướng dẫn cách trình bày các tư tưởng trong một bài giảng và đặc biệt nó phải hướng dẫn phần kết của bài giảng. Ta biết toàn bộ bài giảng hướng về đoạn kết. Ðoạn kết của bài giảng phải mang lại một sự khích lệ, một niềm an ủi, một sự đoan chắc tràn ngập niềm vui. Nếu làn gió và giọng điệu của đoạn kết làm rung động trái tim người nghe, thì lúc đó, những lời nhắc nhủ, răn đe của chúng ta mới có kết quả. Chính vì thế mà ta cần phải chú ý đến điều có khả năng đánh động tâm hồn người nghe nhất. Những tâm tình, tình cảm (cảm thấy mình được yêu) đưa giáo dân đến sự yêu chuộng bí tích Bàn thờ, đến cuộc Tử nạn, đến Ðàng Thánh giá, đến việc tôn sùng Thánh Tâm, đến việc yêu mến Mẹ Ma-ri-a.

Và một trong những cảm tình yêu mến đặc biệt của người giáo dân là lòng yêu mến Người Bạn của Ðức Ki-tô, đó là Giáo Hội công giáo. Giáo Hội đã được sinh ra từ cạnh sườn của Ngài trên Núi Sọ. Chính vì thế mà người giáo dân thích nghe giảng về các đề tài như: vẻ đẹp, tính thần thiêng và sự trường tồn của Giáo hội.

Ngoài ra, các tín hữu còn cần được khuyến khích sống gần gũi với các Thánh. Sách truyện các Thánh là nguồn khích lệ và là gương mẫu cho mọi người noi theo. Ngoài ra, họ còn được các Ngài phù hộ, cầu thay nguyện giúp cho trước tòa Chúa. Vì thế, vị giảng thuyết nên cố gắng khích lệ các giáo dân sống hiệp thông nhiều hơn với các Thánh nam nữ.



NHỮNG LỜI KHUYÊN NGẮN GỌN THEO HOÀN CẢNH

Các giáo dân, khi ra về, sẽ mang theo mình những tư tưởng xây dựng và khuyến khích họ đã được nghe trong bài giảng. Những chỉ dẫn và những lời khuyên đó sẽ đồng hành với họ trong cuộc sống đời thường của họ, một đời sống với bao lo âu, bao phiền muộn, bao khổ đau, khi ở nhà cũng như khi đi làm -đặc biệt là khi họ gặp gian nan thử thách. Vị giảng thuyết không bao giờ nên quên những điều đó khi ngài bước lên tòa giảng. Ðó là lời mời gọi rao giảng lời Chúa, không phải chỉ khi ngài cử hành các nghi lễ chính yếu nhưng ngài cũng phải nói ít lời trước khi dâng thánh lễ hằng ngày. Các giáo dân khi đi dự lễ ngày thường cũng cần được nghe những lời mang lại ánh sáng và những lời khuyến khích vì họ rất cần được nghe những điều đó. Thiên thần bản mệnh của họ tùy lúc thuận tiện, sẽ gợi lại cho họ nhớ những lời khuyên răn ngắn gọn đó.

Khi cử hành bí tích hôn nhân cũng vậy. Ðây là lúc quyết định của đôi bạn trẻ và chính vì thế mà vị chủ hôn cần phải cho họ những lời răn dạy mà họ đang cần. Họ sẽ nhớ những lời vàng ngọc đó suốt đời, nhớ một cách sống động và họ hằng biết ơn ngài. Lời khuyên dạy này cần ngắn gọn, thân tình và thực tiễn gởi tặng đôi tân hôn, lúc hai người nói lên sự ưng thuận nối kết hai mảnh đời lại với nhau.

Khi ban bí tích Thánh tẩy cũng vậy. Cha xứ cũng cần phải có mấy lời ngắn gọn. Có một bức họa "Chúa Giê-su, Bạn của các trẻ em" thường đươc treo tại giếng rửa tội. Cha xứ có thể nhắc tới bức họa này, giới thiệu Chúa Giê-su với các bậc cha mẹ để họ dẫn dắt các con cái của họ đến với Ngài, bằng cách giáo dục tốt và bằng gương lành cho con cái bắt chước.<O:p></O:p>
Những biến cố quan trọng trong cuộc sống gia đình luôn là những cơ hội thuận tiện để ta có những sáng kiến mục vụ thích hợp, đem lại kết quả tốt. Lòng yêu mến các linh hồn tạo cho ta nhiều điều kiện để ta có khả năng đưa ra nhiều sáng kiến độc đáo.



NHỮNG ÐIỀU SAI SÓT TAI HẠI

Trước hết ta phải kể đến:

- Sự thiếu nhiệt tâm khi làm việc.

Dĩ nhiên các vị chủ chăn không bao giờ được phép trì hoãn hoặc lơ là trong những giai đoạn nguy hiểm. Nhưng đây quả là một nhiệm vụ quan trọng, đó là: các ngài phải cố gắng coi trọng việc rao giảng và làm cho nó mỗi ngày một hoàn hảo hơn - và các ngài phải làm việc này suốt cuộc đời. Cứ thử nhắc tới di sản đồ sộ mà các vị giảng thuyết thuộc những thời kỳ vĩ đại của lịch sử Giáo hội đã để lại thì ta thấy các vị này đã khéo kết hợp những bài giảng uyên bác với sự trình bày hoàn hảo. Các ngài đã có những lời khuyên dạy thật cảm động, ngôn ngữ thật phong phú, một sự êm dịu thật cuốn hút. Những điều này không thể có được nếu các vị đã không dầy công nghiên cứu trí thức, cộng với biết bao cực nhọc vất vả, bao đấu tranh thầm lặng ẩn giấu sau những biệt tài đó.

Ðiểm thứ hai:

Vắng bóng một đời sống nội tâm thực sự.

Vì sao ta thiếu sự hăng say nhiệt tình? Ðó là vì ta thiếu sống nội tâm và thiếu khổ chế. Việc suy niệm không những chỉ nhắm tới việc phát triển các nhân đức cho bản thân mà còn thúc đẩy việc chiếu sáng trên mọi lãnh vực tác vụ mục vụ của chúng ta. Không có bậc sống nào đòi hỏi phải có một sự hài hòa và kết hợp chặt chẽ, một bên là các nhân đức bản thân và bên kia là các bổn phận nghiệp vụ, cho bằng bậc linh mục.

Ðiểm thứ ba:

Sự nhiệt tình nội tâm và một sự hào hứng thấm nhập vào tâm hồn ta một cách lặng lẽ như nhỏ từng giọt một mỗi ngày. Chính những cảm tình sâu sắc đó là nguồn của sự cảm hứng thi ca, điều đem lại cho bài giảng một sự hấp dẫn, mầu sắc sáng chói và tuyệt diệu. Nếu thiếu sự hào hứng bên trong thì lời giảng của ta sẽ không có được sức cuốn hút chút nào.

- Ðiều khuyết điểm tai hại thứ bốn:

Ðó là: vị giảng thuyết quá quan tâm đến bản thân -một trạng huống tầm thường của tâm hồn được thể hiện, lúc thì bằng các ao ước lấy lòng giáo dân để mong được khen là mình giảng hay, lúc thì bằng cách tỏ ra bực dọc rồi nói ra những điều không đúng chỗ. Tất cả những điều này, cho dù không phải lúc nào cũng nghiêm trọng, tuy nhiên chúng gây thiệt hại cũng không kém. Ðó là khuyết điểm làm hư một bài giảng cũng như tất cả các bài diễn văn khác.Và đó cũng là dấu hiệu của một tâm hồn ấu trĩ và một lương tâm không bén nhạy.

- Khuyết điểm thứ năm:

Thiếu sót trong quan hệ xã hội. Ai không đặt mình vào chỗ người nghe, hiểu biết tâm hồn, những nhu cầu và những tranh đấu nội tâm của người phải gánh chịu, thì lời giảng của vị đó sẽ thiếu sức thuyết phục, không có khả năng thánh hóa làm cho người ta trở lại. Vị giảng thuyết này không có nét nào giống vị Chăn chiên nhân lành, người chỉ ao ước gieo mình vào bụi gai để cứu một con chiên lạc. Chính vì lý do sống hời hợt mà vị giảng thuyết đã đi vào con đường sai lệch.

Đamien
13-09-2006, 09:30 PM
NHỮNG BÀI ÐIẾU VĂN

Những lời ca ngợi trong bài điếu văn đều bị cấm, vì việc tôn vinh người quá cố là điều không thích hợp trước vẻ uy nghiêm của chân lý đời đời và cũng không hợp với vẻ trang nghiêm của sự chết và của cuộc sống vĩnh cửu. Cũng bị cấm những bài diễn văn không đúng sự thật nhằm phục vụ cho lòng tham vọng của thính giả, những bài diễn văn bỏ qua những điều tệ hại nhất dường như để bào chữa cho người quá cố - và điều này cũng chẳng phù hợp với các kinh nguyện tuyệt vời trong thánh lễ an táng. Ðó không phải là việc của vị giảng thuyết. Ngài phải nói như Thánh Phao-lô Tông đồ :

"Tôi chỉ biết có Ðức Ki-tô và Ðức Ki-tô bị đóng đinh"

Nhưng lại có một thứ bài diễn văn khác. Ðó là bài ngỏ lời lấy gợi hứng từ tinh thần ki-tô, được trình bày trong lúc an táng khi mà vị linh mục ngỏ lời với một cử tọa khác với cử tọa mà ngài thường có trước mặt khi ngài đứng trên bục giảng. Vậy, thật là một điều tốt biết bao nếu những người này có dịp được nghe vài lời nghiêm túc phát ra từ đáy lòng về ý nghĩa của sự chết, của nấm mồ, của việc phán xét và của cõi vĩnh hằng;

- một vài lời nghiêm túc về sự quan trọng của thời giờ nhất là thời giờ bị lãng phí, về giá trị của các việc ta làm mà ta ghi chép vào trong các trang của cuộc đời;

- một vài lời từ đáy lòng về bổn phận của ta đối với những người quá cố, với các bà vợ mất chồng, với những người con mất cha, mất mẹ;

- và đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người tự vấn lương tâm mình những giây phút nào mà linh hồn người quá cố lúc này đang suy nghĩ với niềm vui hay với sự buồn phiền khổ đau.

Chính nhờ những dịp này mà người quá cố có thể chính mình gởi gắm các tư tưởng thầm kín từ ngôi mộ, và họ còn có thể nói to hơn là lúc họ còn sống. Khi đứng trước quan tài của một người nào đó mà suốt cuộc đời họ, trong cuộc sống xã hội, đã sáng chói ở giữa cộng đoàn giáo dân, thì đôi khi ta có thể nhân dịp này, ngỏ ý kêu gọi trực tiếp các tín hữu khác để họ nhớ lại những nhiệm vụ lớn và lãnh trách nhiệm về tương lai của Giáo hội, của Tổ quốc, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đem lại an ninh hài hòa cho xã hội. Rồi ta có thể thêm một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng cho người nào đang hiện diện nhưng sẽ là người đầu tiên được gọi về với Chúa.


BÀI GIẢNG TUYỆT DIỆU NHẤT

Một nhà phê bình lịch sử của Dòng Phan-sinh đã viết về Thánh Phan-xi-cô At-xi-di như sau:

(Thánh Phan-xi-cô) "đã không nghĩ rằng việc sử dụng chỉ trích và bút chiến là những phương tiện có thể mang lại sự đổi mới cho Giáo hội; trái lại, phương tiện tốt nhất có khả năng đem lại chiến thắng cho sự thật, đối với ngài, không phải là việc tranh đấu chống lại những lạm dụng, nhưng chính là gương sáng của bản thân: sống Tin Mừng một cách trọn vẹn trước mặt người dân của mình."

Ðó quả là gương mẫu có giá trị mọi thời đại, gương mẫu có giá trị cho tất cả các vị giảng thuyết. Khi cha bước chân lên tòa giảng, xin cha hãy biết rằng: ở ngay bên cạnh cha, có một người nói một thứ ngôn ngữ mạnh hơn và thúc giục hơn là ngôn ngữ của cha, đó là: gương sáng đời sống của cha, cách cư xử của cha và các đức tính luân lý của cha. Và khi cha bước xuống khỏi tòa giảng, cha hãy cầu xin trong thinh lặng, cầu xin một cách khiêm tốn, xin Chúa Thánh Linh vì chỉ có một mình Người mới có thể- làm cho lời của cha sinh hoa kết trái, bởi lẽ, Người hoạt động một cách bí nhiệm trong các linh hồn như là "Deus absconditus" (Thiên Chúa ẩn mình).

Rồi cha hãy thêm một lời cầu xin Thiên thần Bản mệnh của những người nghe cha giảng để nhờ sự hoạt động âm thầm của các Ngài -dù không có mắt nào nhìn thấy- xin các Ngài nhắc lại lời cha đã giảng cho thính giả và làm hoàn thành những lời đó và ước gì lời cầu thay nguyện giúp của các Ngài mà lời của cha mang lại nhiều hoa trái. Xin Cha hãy cầu nguyện trong thinh lặng như người đi gieo giống. Một khi đã gieo xong, họ mở mũ, hạ nón, rồi ngước mắt lên trời thầm cầu cho các hạt giống đã được gieo xuống đất được phép lành của Cha trên trời, Ðấng là ánh sáng và là nguồn mạch mọi ơn lành.

Đamien
13-09-2006, 09:35 PM
XII

BÁC SĨ VÀ TIẾN SĨ TRONG BÍ TÍCH HOÀ GIẢI



NHỮNG Ý MUỐN CỦA CHÚA GIÊ-SU TRONG BÍ TÍCH HÒA GIẢI

Những ngày theo sau khi Chúa Giê-su sống lại là những ngày chất chứa mầu nhiệm, những ngày hân hoan và có chiều kích quan trọng đời đời- vì trong những ngày ấy, Người đã cắt nghĩa cho các môn đệ, lúc đó đang họp nhau, chương trình vương quốc của Người.

Người chỉ cho các ông đâu là bổn phận các ông, rồi Người trao quyền cho các ông- và cho các ông nhìn thấy đâu là tương lai của Hội Thánh Người. "Và Người đã hiện ra với các ông trong khoảng thời gian 40 ngày và Người đã nói cho các ông biết về Vương Quốc Thiên Chúa". (Cv 1, 3). Ðó là điều Kinh Thánh nói, cách ngắn gọn, nhưng lại chứa đựng rất nhiều điều. Các Tông Ðồ trung thành gìn giữ kỷ niệm của các sứ mạng mà các ông lãnh nhận được, nhưng các ông chỉ có thể có được những kết quả tốt là nhờ việc của Chúa Thánh Linh- Ðấng đã được hứa trao ban cho các ngài. Trong các sứ mạng đó, sứ mạng đem lại niềm an ủi to lớn nhất, đó là sứ mạng trong Bí tích Hòa giải. Ta hãy năng nhắc lại cho các giáo dân về thời gian Chúa đã lập Bí Tích này và những hoàn cảnh chung quanh Bí Tích này.

Chúa Giê-su đã đền bù tất cả các tội lỗi trên thập giá nhờ cái chết của Người, mà Người đã chiến thắng được sự chết; và khi chết, Người đã đem lại cho ta sự sống thiêng liêng, sự bình an, sự hòa giải và Người đã mở rộng cửa thiên đàng. Người đã vội vàng mau mắn đưa tất cả các hoa trái đó đến với sự cứu rỗi. Chính vì thế mà Người đã hiện ra cho các Tông Ðồ, thổi hơi trên các ông và nói với các ông những lời kỳ diệu này:

"Các con hãy lãnh nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm buộc ai thì người ấy bị cầm buộc".

Ðó là quà tặng Phục Sinh của Chúa Giê-su; đó là hoa quả quý giá nhất của cây thập giá; đó là quyền phép vĩ đại nhất mà Thiên Chúa có thể trao ban cho con người. Ðó chính là tâm tình phấn khởi tràn ngập trái tim vị tân linh mục ngày chịu chức, vì ngày đó, nhờ sự đặt tay của Ðấng kế vị các Tông Ðồ, chính ngài cũng được trao ban quyền đó. Vậy, hỡi vị tân linh mục, cha hãy luôn nhớ đó là hoàn toàn ý muốn của Chúa Giê-su khi Người lập Bí tích Hòa giải, và khi nhớ viễn tượng này, cha sẽ có được sự nhiệt tâm mà không có sự mệt nhọc nào khi thi hành Bí Tích này.

Giáo Hội đã trao vào tay cha quyền đem lại cho các linh hồn nguồn suối sự sống đã vọt ra từ đồi Gol-go-tha, ơn thánh sủng, kho tàng duy nhất còn sống sót sau khi chết và sau ngôi mộ, nó phải biến mình thành vinh quang vĩnh cửu. Cha phải mang lại sự bình an của sự hòa giải cho những người tội lỗi có lòng ăn năn. Chính vì vậy mà Ðấng Cứu Thế đã kêu lên: Bình an cho các con, khi Người trao quyền tha tội.

Khi Cha ban Bí tích Hòa giải, chính là lúc cha đưa các linh hồn đến để được chịu ảnh hưởng của việc Chúa Thánh Thần, bởi vì, lúc đó không phải là những lời nói của con người, cũng không phải là tinh thần của con người hoạt động, mà là "Deus absconditus" (Thiên Chúa ẩn mình), và chúng ta kính bái như là fons vivus, ignis, caritas (nguồn suối sống động, là lửa, là lòng mến).

Hạnh phúc thay vị linh mục nào thi hành tác vụ ban Bí tích Hòa giải một cách trung thành, như là một đại diện đích thực của Ðấng chăn chiên lành! Phải, thật hạnh phúc biết bao, bởi vì các Thiên Thần trên trời sẽ mừng vui khôn xiết khi có một người tội lỗi được trở lại. Hạnh phúc thay, vì ngồi tòa, ngài lúc đó là một bác sĩ, ngài được trao ban cho quyền chữa lành kẻ có trái tim bị bẻ gẫy!

Có biết bao triệu người có tội tuyệt vọng đã được cứu thoát nhờ ơn Bí tích Hòa giải mà khỏi bị rơi xuống vực thẳm đời đời! Biết bao lần chính những người Tin lành cũng buộc phải nhận ra và ca ngợi những kết quả tuyệt vời do sự xưng thú tội thực hiện nơi những người Công Giáo! Và rồi, cha giải tội thật hạnh phúc bao nhiêu khi được mời gọi giúp các người đến xưng tội với mình để họ có thể bước lên những bậc cao nhất của một cuộc huấn luyện thực sự nhờ chức năng là thầy và làm người hướng đạo. Ngài là thầy vì ngài dạy lòng yêu mến chân lý, được thể hiện qua việc tự ý xưng thú tội mình ra. Ngài là bậc thầy dạy sự giản dị và khiêm tốn- kho tàng của sự trưởng thành thiêng liêng và mọi nhân vật biết chinh phục.

Người là người hướng dẫn, dạy giáo dân biết luyện cho mình một lương tâm tế nhị- bởi lẽ bí tích tuyệt diệu này cũng có thể ví như là chiếc thang giúp con người leo tới chỗ có được sự thành thật mỗi ngày một hơn, và đến một sự kết hợp và yêu mến Chúa mỗi ngày một tha thiết hơn. Ngoài ra, đây cũng là một nguồn mới các niềm vui thánh thiện nhất. Niềm hân hoan của trái tim được reo vang, giống như làn gió mát của mùa xuân trong Thánh Vịnh Miserere!

Trên đây là một số điều suy niệm về các ý muốn mà Chúa Giê-su đã muốn có khi Người lập Bí tích Hòa giải, điều mà chúng ta suy niệm đến bao lần cũng không là quá. Ðược những chân lý này soi sáng, thì những lời khuyên bảo phát ra từ môi miệng của một linh mục đạo đức sẽ có sự nhiệt tình và có sức thuyết phục sâu xa, và điều này cũng đúng với những lời giảng dạy và lời cắt nghĩa giáo lý của ta khi ta đề cập đến Bí tích Hòa giải.

Xin thêm một ý nữa :
Khi ta dạy về sự ích lợi tuyệt vời của Bí tích Thánh thể, ta nên giảng thêm những bài giảng mới, những bài giảng được dọn, được suy niệm và cảm nghiệm sâu sắc. Thêm vào đó, ta nói đến những kết quả phong phú ta có được nhờ sự tuyệt vời của Bí tích Hòa giải, đó không phải là điều xứng hợp sao ? Ðiều này giúp ta hoàn chỉnh hơn trong khi ta siêng năng xưng tội, và giúp các giáo dân đến với tòa cáo giải dễ dàng hơn- để lãnh nhận được những kết quả tốt hơn. Ta phải hết sức cố gắng cắt nghĩa cho mọi người nhất là những người trẻ hiểu được việc năng xưng tội là một phương tiện tuyệt vời để huấn luyện bản thân và việc xưng tội này có thể thực hiện được lời Chúa Giê-su một cách đặc biệt:

"Thầy còn có nhiều điều để nói với các con", rồi còn có những sự gợi hứng kín đáo, nhờ đó dưới hình thức các lời khuyến khích và các lời chỉ dẫn, ơn Chúa được ẩn giấu trong trái tim của mỗi người- ơn đó muốn hướng dẫn linh hồn trong những giờ phút theo sau khi xưng tội.

Đamien
13-09-2006, 09:39 PM
"CHỚ GÌ LỜI GIẢNG DẠY CỦA ANH EM TRỞ NÊN THUỐC THIÊNG LIÊNG CHO ANH EM"

(Nghi thức lễ Truyền chức linh mục)

Chúa Cứu Thế đã ví mình như là người thầy thuốc, chữa các bệnh thiêng liêng, ban phát sự sống, làm mạnh sức và bảo vệ những kẻ yếu đuối. Chức năng làm thầy thuốc, Người tiếp tục nhờ qua chức vụ linh mục Công giáo. Khi giảng dạy, khuyên răn, khi khuyến khích, lúc điều khiển, vị linh mục làm nhiệm vụ của một thầy thuốc, và nơi nào ngài thi hành chức vụ chữa lành một cách kín đáo nhất, đó là nơi tòa giải tội. Bởi lẽ chính tại nơi đó, ai cần đến sự săn sóc thì chạy tới vị thầy thuốc.

Vậy liệu họ có tìm được một bác sĩ giàu kinh nghiệm không?

Nghệ thuật y khoa đòi hỏi kiến thức sâu rộng, luôn cần được tiếp tục phát triển bằng những tìm tòi học hỏi nghiêm chỉnh; thêm vào đó, còn phải có thêm kinh nghiệm thận trọng và chín chắn. Những gì đã học được về thần học luân lý và mục vụ là những kiến thức căn bản cần thiết cho vị linh mục, nhờ đó mà có thể ngồi tòa được. Chính vì lý do này mà các linh mục được mời gọi học hỏi nghiên cứu sâu rộng hơn, theo các lớp học và tham dự các cuộc hội thảo thực tế- rồi phải kể đến những báo chí tài liệu về ngành mục vụ của thần học: tất cả những điều này có thể đem lại rất nhiều ích lợi cho vị linh mục.

Cũng xin các cha phải giữ các chỉ dẫn mục vụ về hôn nhân, về cách xử lý những người thuộc những hội bị cấm, ngoài ra ngài còn phải thông thạo, quen thuộc với những sách báo bàn về việc chữa trị các bệnh tâm lý, các lớp học về mục vụ y khoa khi chữa trị những bệnh về tâm thần- Vị bác sĩ các linh hồn cần một trình độ còn phải cao hơn thế nữa để phát triển thêm các kiến thức của mình. Ngoài việc tích lũy và phát triển thêm kiến thức trên bình diện lý thuyết cũng như trên bình diện thực hành, còn phải thêm vào đó một nguồn huấn luyện rộng rãi hơn nữa. Nguồn đó nằm ngay tại bên trong chúng ta. Bởi vì công việc của ta -người thầy thuốc- thì đều nhắm tới các linh hồn, vì thế các kiến thức của ta cần phải dựa trên "kiến thức hiểu biết về đời sống nội tâm, đời sống nội tâm của bản thân và đời sống nội tâm của người khác . Chính vì thế mà kiến thức và điều thực hành của khoa tu đức phải trở thành đối tượng căn bản để ta học hỏi và đào sâu một cách khẩn thiết.

Tác vụ mục vụ nhằm tới việc thăng tiến đời sống thiêng liêng; tác vụ đó còn tìm ra những nguyên nhân sâu xa của những nguy hiểm đe dọa đời sống luân lý- những căn nguyên sâu xa phát sinh những cơn cám dỗ và những hoang phí làm mất sức lực.

Tác vụ mục vụ quan sát theo dõi những xáo trộn ảnh hưởng xấu tới hoạt động thiêng liêng- làm giảm sự nhiệt tâm, làm cho cuộc sống các ngũ quan bị đi lầm đường lạc lối - để đem lại những phương tiện chữa lành, làm cho ơn Chúa có thể hoạt động trở lại. Tất cả những điều trên đây thuộc lãnh vực của khoa mục vụ; và tất cả những điều này mời gọi chúng ta nhìn thẳng vào cuộc sống nội tâm riêng của chính ta.

Tại đây, có thể áp dụng câu châm ngôn sau đây của thời xưa: "Hãy tự biết mình". Nếu ta biết được chính bản thân thì ta sẽ dễ dàng hơn khi ta phải đoán xét được điều thiếu sót của những người đến xưng tội với ta. Tuy nhiên, đời sống luân lý của mỗi người đến xưng tội đều khác nhau rất nhiều, đó là vì những ân ban mà mỗi người lãnh nhận được, tùy theo trình độ huấn luyện mà người ấy đã lãnh nhận được và tùy theo người đó đã sử dụng các ơn Chúa như thế nào.

Vậy điều cần thiết tuyệt đối, đó là phải có được một kinh nghiệm sâu rộng để biết lúc nào và khi nào ta nên báo cho biết trước- lúc nào bảo họ phải canh chừng- lúc nào ta nên nói lời làm cho họ an tâm, khi nào ta sử dụng sự dịu hiền- hoặc trái lại, khi nào ta phải mạnh tay hơn và cho toa thuốc mạnh "đô" hơn.

Ngày nay, cách giải quyết các vấn đề quan trọng này gặp khó khăn hơn bởi vì các linh hồn bị phân tán hơn, sống phóng đãng hơn, ý chí của họ yếu đuối hơn, vì thế ta không có thể tiên liệu được những kết quả của cuộc chữa trị của ta. Nhưng cho dù ta gặp những khó khăn mà thời đại của ta mang lại, thì ta cũng nên có được những lý do chính đáng để ta vẫn hy vọng. Rất nhiều lần, ta nhận thấy nơi những người đến xưng tội có được một "thiện chí" và điều này Thiên Chúa cũng thấy được. Người hối nhân nhiều khi tỏ ra sẵn sàng chấp nhận những lời khuyên rõ rệt, thân tình và thực hành mà một vị linh mục có đời sống nội tâm và đạo đức sâu xa đưa ra. Phải, có những chuyện như thế.

Tôi xin nhắc lại, một vị linh mục sốt sắng chỉ cần khuyên bảo một chút xíu thì có thể làm sinh ra nhiều ơn Chúa tràn đầy và có sức thúc đẩy nhiều hơn là lời của một vị linh mục khác. Ảnh hưởng do bản thân linh mục đóng vai trò vô cùng quan trọng khi phải có một hoạt động sâu xa và khi phải sửa linh hồn khỏi mọi tội lỗi đã phạm. Vì thế, vị linh mục cần có một đời sống đạo đức sâu xa, để nhờ đó lời ngài nói ra tác động như lời nói của một người mẹ, hay là như một lời khuyến cáo ngắn gọn đến từ một người bạn rất thân. Và vì thế lời khuyến cáo đó gây được ảnh hưởng thật vững chắc.

Ước mong sao một vị linh mục trẻ biết suy niệm thường xuyên, theo sau những lời giải thích trên đây, suy niệm những điều được chứa ẩn trong những lời khuyên mà vị Giám mục đã đưa ra trong dịp truyền chức: "Spritualis medicina sit populo Dei doctrina, vestra coelis sapientia et diutrna justitiae observatio". "Chớ gì lời giảng dạy của con, sự khôn ngoan trời ban cho con và sự luôn giữ công chính của con, trở nên thuốc thiêng liêng chữa cho dân Chúa". Ðấy là cách làm việc một cách dịu hiền, kín đáo và tế nhị do một bàn tay khôn ngoan của một bác sĩ đầy kinh nghiệm. Ngoài ra, mỗi cha giải tội nên ý thức được điều này, đó là: không bao giờ ta có thể ngưng việc học hỏi.

Mỗi linh hồn, mỗi bệnh tật đều có dấu ấn riêng của nó. Vì thế việc chữa trị và việc luôn quan sát học hỏi là hai điều không bao giờ được ngưng lại, bởi lẽ không có một toa thuốc nào, không có cách trị liệu nào có thể thay thế được những điều nói trên đây.

Đamien
13-09-2006, 09:44 PM
"CON SẼ TRỞ THÀNH NÊN NGƯỜI CHINH PHỤC NGƯỜI KHÁC" (Luca 5, 10)

"Khi nào ta được nâng lên cao trên mặt đất, ta sẽ kéo mọi sự lên cùng ta" (Ga 12, 32).

"Này đây, Ta đứng ở ngoài cửa và Ta gõ. Nếu ai nghe thấy Ta và mở cửa cho Ta, thì Ta sẽ vào nhà người ấy" (K.H 2, 20)

"Như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh, cũng thế Ta cũng đã muốn quy tụ các con cái Ta, hỡi Giê-ru-sa-lem" (Mt 23, 37)
</O:p
Ðấy là những lời của Ðấng Cứu Thế tỏ lộ ra sự quyến rũ và chinh phục của ơn gọi của Ðấng Mê-si-a, và vì thế cũng là ơn gọi làm tông đồ chính nhằm vào sứ vụ: "Con sẽ trở nên người chinh phục những người khác", nghĩa là con sẽ lôi kéo họ và con sẽ chinh phục được họ bằng cách lấy được lòng họ - mà tất cả tác vụ thiêng liêng của việc rao giảng phải hướng đến. Cũng nhằm vào sứ vụ đó, mà các quan hệ cũng như các cuộc thăm viếng các gia đình, sự quảng bá các sách vở, tài liệu in ấn,- các nhóm, hội, và đặc biệt là việc ban phép Bí tích Hòa giải, bởi vì chính lúc đó mà thường thường các linh hồn đã được chuẩn bị sẵn sàng để lãnh nhận một lời nói cuốn hút và chinh phục.

Vì thế mà vị linh mục có bổn phận phải nghiên cứu và học hỏi luôn mỗi ngày nhờ qua các kinh nghiệm của mình mà có được những phương tiện chuẩn bị những con đường để ơn Chúa có thể hoạt động được. Những lời khuyên răn trong tòa giải tội, những bài giảng về những ân huệ của Bí tích Hòa giải cần phải đem lại một sức mạnh cuốn hút thật sự. Ta phải hết sức tỏ ra lòng yêu mến nhiệt tình để ca tụng lòng nhân hậu mà qua đó Chúa Giê-su đã trao ban cho ta phương tiện cứu rỗi, như là hoa trái hoa trái quý giá nhất do cái chết của Chúa trên thập giá đã mang lại. Chúng ta phải làm sao cho các giáo dân hiểu được những lợi ích thiêng liêng do sự năng xưng tội cách đều đặn, rồi đến ảnh hưởng quý giá mà Chúa Thánh Thần mang lại trong Bí tích Hòa giải có liên quan đến việc giáo dục luân lý, đến việc an bình của trái tim, đến gia đình, đến việc giáo dục, đến việc giáo dân làm tông đồ, đến thời gian và vĩnh cửu.

Hạnh phúc thay cho chúng ta biết bao vì ta có được Bí tích Hòa giải! Chính niềm hạnh phúc này làm cho trái tim người công giáo nức lòng hơn. Thái độ của vị linh mục tại tòa giải tội là thái độ lôi cuốn. Lời khuyên của ngài phải luôn đúng đắn, xứng đáng, dễ mến, thân tình; hơn thế nữa, còn phải đơn sơ và tự nhiên, tỏ ra sự khiêm tốn tế nhị, tránh mọi kiểu cách kẻ cả, cha anh. Tất cả lòng mong ước chỉ là phục vụ mà thôi. Ngài tỏ luôn ra trân trọng đối với các hối nhân. Ngài luôn sẵn sàng nhận ra thiện chí, ngay cả khi hối nhân dọn mình chưa đủ. Ngài tỏ ta có thái độ ân cần đối với những người đàn ông, vì đôi khi họ cảm thấy rất ngại đi xưng tội được; cha giải tội có đủ mọi lý do để tỏ ra trân trọng những hi sinh to lớn đó mà họ đã phải chấp nhận để đi xưng tội.

Đamien
13-09-2006, 09:45 PM
Khi ta hỏi hối nhân này nọ, ta phải hết sức cẩn thận, nhất là vào thời đại của ta, ta phải cố tránh tất cả những gì có thể làm tổn thương hoặc làm họ phải xỉ nhục. Cho dù hành động của con người có thế nào đi nữa, thì cũng luôn có cách để phát biểu ý kiến. Kinh nghiệm dạy ta cần phải khôn khéo và ý thức đến độ nào trong những vấn đề liên quan đến tính dục. Và ta phải luôn dè dặt đối với các trẻ em và phái nữ. Lời khuyên trong tòa giải tội không nên dùng những kiểu nói quá chung chung. Ta phải khuyên bảo tùy theo đấng bậc và tuổi tác của hối nhân, lời nhắc bảo dịp các lễ chính theo các mùa trong năm phụng vụ; hơn nữa, những hoa trái thiêng liêng mà vị linh mục rút tỉa ra từ suy niệm hằng ngày, nhờ vào các điều trên đây, ta có thể đưa ra những lời khuyên thích hợp và phong phú.

Rất tiếc vì có rất nhiều cha giải tội đã không soạn trước những lời khuyên nhủ mà các ngài phải đưa ra; nhiều khi những lời khuyên đó thiếu điểm hợp thời, nhờ đó mà hối nhân giữ được lâu lời khuyên đó trong trí khôn và trong trái tim của mình luôn mãi. Ðối với những chàng trai trẻ, vì yếu đuối, hay sa đi ngã lại về các tội đáng xấu hổ, thì cha giải tội cần khuyến khích họ để họ thêm can đảm, để họ luôn có được thiện chí và sự cố gắng sửa mình của họ, cho dù nhỏ bé đến đâu, cũng sẽ không ra vô ích. Còn phải dạy cho họ biết ăn năn sám hối, sau những khi sa đi ngã lại, chỉ cho họ thấy giá trị tẩy sạch của các tâm tình, rồi nói cho họ biết ích lợi vô song của việc trở lại xưng tội ngay không trì hoãn. Tại sao lại để họ chìm đắm trong trạng thái khó xử và chán nản bởi vì những điều này có thể gây ra nhiều hậu quả còn tai hại hơn cả chính tội đã phạm.

Khi ta phải tiếp xúc với phái nữ, ta phải xử sự cách gọn nhẹ và nghiêm chỉnh, tránh gây tổn thương hoặc làm mất lòng. Không bao giờ cho phép các bà các cô xưng tội tại một nơi riêng, trừ khi có nhu cầu tuyệt đối. Nếu họ đến xưng tội tại nhà thờ vào giờ bất thường, thì ta phải tỏ ra khôn ngoan và luôn liệu sao cho có ai đó cũng ở trong nhà thờ. Sau cùng khi có các bà các cô thường xuyên xưng tội với cha, thì cha không nên tỏ ra thân mật hơn trong cách đón tiếp họ. Nếu quanh tòa giải tội có vài người đàn ông trong số đông các bà đang xếp hàng chờ xưng tội thì có lẽ tốt hơn là ta nên dành ưu tiên cho mấy ông này, và nói với các bà các cô: "Xin vui lòng nhường cho quý ông được xưng tội trước, bởi vì có lẽ các ông không nhiều giờ để chờ đợi".

Trong tòa giải tội, ta nên tránh đề cập đến những vấn đề chính trị. Ðiều quan trọng là nên tránh bàn về những vấn đề có thể giống như làm áp lực chính trị trong phạm vi trần thế. Ta cứ bảo họ làm theo chỉ thị của Hội Ðồng Giám Mục. Các linh mục cần phải coi đây như là một trong những bổn phận thiêng liêng nhất: đó là tạo điều kiện thường xuyên cho giáo dân được xưng tội vào những lúc thuận tiện hơn đối với họ. Tôi nhớ tôi được hạnh phúc được biết một cha xứ, mà mọi người có thể gặp ngài để xưng tội hàng ngày, tại tòa giải tội của ngài, mùa đông cũng như mùa hè, bắt đầu từ 5 giờ sáng. Trên đây tôi đã nhắc tới gương kiên nhẫn đến độ anh hùng mà Thánh Gio-an Vianney đã để lại.

Trái lại, thật tai hại biết bao nếu cha giải tội lại để lộ ra dấu hiệu mất kiên nhẫn, cho dù chỉ một chút thôi, làm cho người đến xưng tội phải khó chịu, ngay vào lúc mà có biết bao điều đang tùy thuộc vào thái độ của linh hồn đau yếu bệnh tật. Ta cũng nên sắp xếp thế nào để giáo dân thỉnh thoảng có thể xưng tội với một cha khách và tạo mọi điều kiện để họ có thể dễ đến với ngài.

Việc năng xưng tội cũng cần như là việc năng rước lễ và việc rước lễ hàng ngày. Xưng tội hàng tuần như đã được Giáo hội khuyên làm từ bao thế kỷ vẫn luôn là một trong những phương thế chính yếu để nên thánh. Mỗi lần xưng tội là một lần ta được thêm ơn do Bí tích này đem lại, đó là: lương tâm được soi sáng mỗi ngày một thêm tế nhị hơn, ta được niềm vui và được thêm lòng sốt sắng. Ðấy là chưa kể đến những khía cạnh khác của đời sống nội tâm - điều này lại thuộc lãnh vực hướng dẫn huyền nhiệm thần bí.

Trước khi bước vào tòa giải tội, vị linh mục nên đọc một kinh ngắn và sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần, xin ơn Trái Tim của Ðấng chăn chiên lành, và một lời kinh Ðức Maria, Mẹ từ bi nhân hậu. Và sau khi đã ngồi tòa xong, ngài nên giữ thinh lặng hoàn toàn về những chuyện đã xảy ra, ngay cả về sự ích lợi mà ngài đã có được kinh nghiệm nhờ qua tòa giải tội. Nhưng ngài phải phó thác tự đáy lòng vào Thiên Chúa, trong những trường hợp, cho dù không phải lỗi tại mình mà công việc giải tội không được suôn sẻ. Ngài sẽ được an ủi khi biết hoạt động thầm lặng của Chúa Thánh Linh luôn hướng dẫn các linh hồn; chắc chắn Người sẽ nâng đỡ sự nhiệt tình của Cha để thực hiện lời hứa: con sẽ trở thành nên người chinh phục được những người khác.

Đamien
13-09-2006, 09:51 PM
VIỆC ĂN NĂN CÓ HIỆU QUẢ

Cha giải tội làm thế nào để biến Bí tích Hòa giải trở thành không những là một việc đạo đức đơn độc, mà còn làm nó trở thành nên nguồn mạch các hoa trái thiêng liêng?

"Sám hối có hiệu quả".

Một hôm tối, vào dịp tuần đại phúc nọ, tôi được nghe một cha thừa sai giảng tuần đại phúc: ngài đã mời gọi mọi người làm việc xưng tội cho thật tốt, bằng cách cắt nghĩa cho họ việc mà hối nhân phải làm. Ngài không chỉ kể ra năm việc phải làm, nhưng ngài đã trình bày vấn đề dưới hình thức minh giáo, nên đã cuốn hút được sự chú ý của thính giả. Tôi nhận thấy phương pháp này rất thực tiễn, thực hành- và tôi xin giới thiệu với các cha ý tưởng chủ yếu của bài giảng là:

Vì lẽ người ta thường cho là việc xưng tội chỉ là việc bên ngoài và không mấy ảnh hưởng đến việc làm cho cuộc sống được hoàn hảo; vì thế mà cha giảng tuần đại phúc muốn chứng minh rằng: việc xưng tội là một việc chủ yếu thuộc nội tâm, nó có ảnh hưởng trên toàn bộ đời sống luân lý và có một ảnh hưởng rất tốt trên toàn bộ cuộc sống của mọi người, nếu ta dọn mình kỹ lưỡng bằng cách ý thức được tư tưởng này. "Fructuosa poenitentia"!

Việc xét mình là một việc thuộc nội tâm. Khi xét mình ta quan sát tình trạng linh hồn ta một cách cẩn thận và thành thật, không một chút bao dung cho bản thân. Như thế, ta nhận biết tội mình đã phạm, những sa đà trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Ta cũng không giấu những nguồn mạch, gốc rễ của tội lỗi, và tìm xem mình có niềm đam mê nổi bật nào. Nào liệu ta có tìm ra được điều gì có tính cách nội tâm hơn là cái nhìn thầm lặng, bình tĩnh và suy nghĩ chín chắn mà con người nhìn vào tình trạng linh hồn mình, dưới sự hiện diện của Thiên Chúa, Ðấng thông suốt mọi sự.

Việc ăn năn tội cũng cần có tính cách nội tâm, và không đơn thuần chỉ là hối tiếc vì đã không làm khác cái điều mình đã làm. Vì nếu làm như thế thì không phải là ăn năn tội thực sự, mà chỉ là một chuyện làm giống như ăn năn tội mà thôi. Nhưng, ở đây là vấn đề thực sự ăn năn, một sự đổi mới các cảm tình, đứng trước điều mình đã gây ra bất công và vi phạm đến quyền lợi của Thiên Chúa- và việc ăn năn là do lòng mến Chúa mà ra. Tính cách nội tâm của sự ăn năn tội quả là điểm chính của bài giảng; người nghe có cảm giác là đối với vị thừa sai này, tất cả đều tùy thuộc vào một sự trở lại thực sự và chân thành của trái tim.

Ðến việc dốc lòng cũng thế. Cần có tính cách nội tâm và có một ý chí cương quyết dốc lòng, sẵn sàng dấn thân nắm lấy tất cả các phương tiện cần để thực hiện việc trở lại này.

Rồi đến việc xưng thú tội lỗi cũng vậy. Sự xưng tội ra là phát xuất từ một sự khiêm tốn sâu xa, hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và vào vị đại diện của Người.

Sau cùng, việc đền tội cũng cần có tính cách nội tâm, như chủ trương của linh mục Giám đốc và sáng lập chủng viện Paderborn đã viết trong cuốn sách Giáo Lý của ngài:

"Làm việc đền tội còn vượt xa ý chí muốn làm cho xong việc đền tội khi lãnh Bí tích giải tội. Nói tóm lại, đó là: ta cần phải đem tinh thần ăn năn sám hối vào sâu trong lòng các người tín hữu"...

Tất cả những điều nói trên đây làm nổi bật tính cách nội tâm của việc xưng tội dưới hình thức một bài minh giáo trình bày ý tưởng chủ yếu nối liền các phần của bài giảng lại với nhau và đồng thời cũng giúp giáo dân biết dọn mình tốt hơn khi đi xưng tội lần sau. Tôi xin giới thiệu với các cha giảng thuyết, các giáo lý viên, các cha giải tội để các ngài đào sâu nghiên cứu phương pháp này như là một mẫu mực nhằm vào việc chuẩn bị cho những con đường dẫn đến sự ao ước này, đó là: không gian và thời gian của việc ăn năn sám hối có hiệu quả. "Spatium fructuosae poenitentiae

Đamien
13-09-2006, 09:55 PM
CHA GIẢI TỘI, VỊ TRUNG GIAN BẰNG LỜI CẦU NGUYỆN VÀ LỜI CẦU THAY NGUYỆN GIÚP

Khi ta thấy được sự quan tâm của Chúa Giê-su đối với Thánh Phê-rô sau khi ngài sa ngã. Vào đêm tối hôm đó, chúng ta đã có được một cái nhìn sâu sắc vào tận trái tim của Chúa Giê-su, Phê-rô đã chối Chúa, vì đã không chuẩn bị và vì yếu đuối. Nhưng dịp này không phải là dịp để ngài rơi vào chỗ tuyệt vọng- thối chí hoàn toàn. Ðó là mục tiêu của sự chính Chúa Giê-su quan tâm.

Ðiều này cho thấy là Chúa Giê-su đã muốn cảnh cáo Phê-rô buổi chiều hôm trước rồi; nhưng vì Chúa đã có được một cái nhìn trực cảm tâm lý tuyệt vời, nên khi báo trước cho Phê-rô biết là ông sẽ sa ngã. Người đã thêm vào đó một lời hứa an ủi: "Phê-rô, Thầy đã cầu cho con, để, dù sao, đức tin con không suy yếu đi" (Lc 22, 32) - Rồi đến đêm đen tối tại vườn Ghét-sê-ma-ni; sau đó là lời thề: mình không biết người ấy là ai! Và đây lúc lương tâm đã tan rã hoàn toàn.

Nhưng đồng thời, đây cũng là thời gian mà tất cả đều thay đổi: Khi đi ngang qua chỗ Phê-rô đứng, Chúa Giê-su đã đưa mắt nhìn ông, một cái nhìn nặng trĩu đớn đau và yêu thương. Ðó lại là một dấu hiệu mới của tình yêu cứu chuộc của Chúa Giê-su - Sự ăn năn đã để trào ra một nguồn nước mắt đắng cay. Và ngày thứ sáu chịu nạn lại là lúc tâm hồn của Phê-rô lại càng bị giao động. Không ai có thể tưởng tượng ra được những day dứt nội tâm mà Phê-rô đã cảm thấy trong hai đêm liên tiếp đó.

Còn Chúa Giê-su? Vào buổi sáng phục sinh, một trong những điều Chúa truyền làm, đó là: Hãy đi báo tin cho Phê-rô! Và khi Phê-rô được biết điều này, thì một cơn bão xúc cảm đã trổi lên trong tâm hồn ông! Chúa Giê-su đã nghĩ đến tôi! Người đã nghĩ đến tôi để tỏ ra cho tôi biết Người yêu tôi đến độ nào! Với sứ điệp hoan lạc đó, Người đã đem lại cho tôi một niềm vui khôn tả! Và ngay sau đó, Chúa Giê-su đã dành cho Phê-rô lần hiện ra đầu tiên. "Người đã hiện ra với Xi-mon" (Lc 24, 34).

Một sự thinh lặng bí nhiệm đã bao trùm việc gặp gỡ đầu tiên ấy, không ai đã biết được những lời trao đổi giữa Phê-rô với Thày mình. Phê-rô đã trở lại. Ðiều chắc chắn, như Thánh Kinh gợi ý, là một ngọn lửa yêu thương và một sự sốt sắng muốn đền bù đã lớn dần lên trong linh hồn của Phê-rô trong 40 đêm ngày ấy; và trong thời gian này, Chúa Giê-su còn hiện ra với ông và còn trò chuyện với ông về Vương quốc Thiên Chúa, về tương lai của Giáo Hội, mãi cho đến khi Người ba lần hỏi cùng một câu: "Phê-rô, con có yêu mến Thầy không?" và rồi Người cũng đã ba lần trao sứ mạng này cho Phê-rô: "Con hãy chăn chiên con, chăn chiên mẹ của Thầy". Tất cả những điều đó dạy ta điều gì? Ðấng Chăn Chiên lành quan tâm lo lắng cho Phê-rô, làm cho Phê-rô thêm can đảm, và đem lại cho ông một đà tiến và một sức mạnh để sau khi đã té ngã, vì muốn đền bù tội lỗi, ông đã can đảm đến độ có thể chịu tử đạo trên đồi Va-ti-ca-nô.

Gương sáng của Ðấng Chăn Chiên lành dạy cho các vị chủ chăn là các linh mục cũng biết quan tâm lo lắng cho các người giáo dân và các hối nhân đã đi lầm đường lạc lối, hoặc có nguy cơ mất linh hồn, và các ngài còn phải cầu nguyện cho họ. Sự quan tâm lo lắng đó, vừa êm ái, vừa lo lắng; tự nó lại không phải là một ơn Chúa sao? Ai đã gợi cho Thánh Mô-ni-ca một tình yêu nồng cháy, những cố gắng không mệt mỏi và những lời cầu nguyện kèm theo bao nước mắt để cầu cho Âu-tinh, con của bà được ơn cứu thoát? Ai đã làm cho những hi sinh và những lời van xin mà bà đã dâng lên trước Tòa Con Chiên với tất cả sự đau đớn đến độ đã có thể tranh thủ được ơn cứu rỗi cho vị thánh này? Ôi! Mầu nhiệm của ơn thánh!

Ta cũng nên xin Chúa ban cho ta có được một sự quan tâm lo lắng như thế, để những lời nguyện xin mà chúng ta dâng lên Chúa cầu cho những con chiên của ta được trái tim Chúa chấp nhận. Khi vị linh mục cầu nguyện cho các linh hồn đang lâm nguy, thì ngài không được kém lòng sốt sắng của Thánh nữ Mo-ni-ca.

Đamien
13-09-2006, 10:01 PM
"ÐẠT TỚI SỰ THÔNG HIỂU PHONG PHÚ VÀ ÐẦY ÐỦ" (Cl.2,2)

"Divitiae plenitudinis intellectus" (Cl 2,2)

Thánh Phao-lô đã tỏ ra một sự quan tâm to lớn đối với những tín hữu mà ngài không có thể tiếp xúc trực tiếp với họ. Ðối với những cộng đoàn sống xa xôi, rải rác, cũng như đối với những cộng đoàn khác, Ngài luôn cố gắng tỏ ra mình là vị thầy dạy và là vị hướng đạo. Ngài cảm thấy có một sức mạnh thôi thúc ngài phải gởi đến họ những lời khuyên răn, khuyến cáo, để họ được dạy dỗ để có được đức mến và họ có thể tới được sự hiểu biết rõ và sâu sắc hơn về những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ta hãy nghe Thánh Tông Ðồ dạy dỗ trong thư gởi cho người Cô-lô-sê:

Anh em hãy đem lại cho những người tín hữu- ta có thể thêm về phía các cha giải tội: anh em hãy đem lại cho các hối nhân- những tư tưởng cao quý, trình bày một cách ngắn gọn và đơn giản, nhưng đầy tràn thân tình và khẩn trương, những tư tưởng và những lời khuyên sẽ hướng dẫn họ trong cuộc đời và khi họ gặp những giờ phút tối tăm, thì họ được khuyến khích, an ủi, có được ánh sáng; những tư tưởng có khả năng tạo nên trong trái tim họ trọn vẹn một thế giới các tâm tình đẹp đẽ và cao quý. Không phải là một thế giới đầy giấc mơ với những lời hoa mỹ chóng qua, nhưng, theo lời của Thánh Tông Ðồ, trình bày một cái nhìn đúng đắn về những sự phong phú các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ðó là ý nghĩa của đề tài mà tôi đã đặt ra dưới nhan đề là: "Divitiae plenitudinis intellectus".

Thế giới nột tâm đó quả là lãnh vực chuyên môn của chúng ta, thế giới này to lớn và an ủi cho người nghèo cũng như cho người giàu. Vị linh mục lại còn có khả năng đem lại cách riêng sức mạnh và niềm vui cho các linh hồn đơn sơ bình dân, vì họ thường là những người ít lãng quên, lo ra hơn những người khác, trên bình diện thinh lặng của đời sống nội tâm.

Vậy quả là một bổn phận thật cao đẹp đối với cha giải tội, khi nghĩ đến việc phải truyền đạt, chia sẻ một cách dồi dào cho các hối nhân của mình, tất cả những kho tàng đó; ngài cố nghiên cứu, suy tư và quan sát tâm hồn bình dân, để tìm ra được những phương tiện đạt được mục tiêu đó.

Ỏ đây, có một bài thuốc rất hữu hiệu đó là: những tư tưởng và những gợi hứng cao quý là những phương tiện tốt nhất để chống lại những tư tưởng cám dỗ quyến rũ. Ta cũng có thể nói như thế về cuộc tranh đấu trong đời sống tình dục- những cơn cám dỗ dâm dục, nó lẫn vào mà mà ta không biết, xuyên qua con đường tưởng tượng. Ai cũng biết các trò chơi của trí tưởng tượng thì nguy hiểm hơn là những thúc đẩy của đời sống cảm giác bội phần. Vậy, bài thuốc chữa lành : tránh xa những trò chơi đó bằng những tư tưởng cao thượng.
</O:p
Và đây là những điểm chính của những tư tưởng lớn đó:

1/ Chúa yêu tôi. Tôi sống trong tình yêu của người. Tình yêu của Chúa bao bọc tôi và đồng hành với tôi. Sự quan phòng của Chúa luôn bao bọc tôi, ngay cả tới những biến cố nhỏ bé của cuộc đời tôi. Những tư tưởng này đem lại sự tín nhiệm, sự can đảm và sự an bình nội tâm cho người hối nhân đang bị các cơn cám dỗ quấy nhiễu.

2/ Các Thiên Thần Chúa cùng đồng hành với tôi, nói chuyện với tôi và che chở tôi.

3/ Mỗi ngày trong đời tôi là một trang trong cuốn sách đời đời của tôi. Các Thiên Thần Chúa mang mỗi một hi sinh của tôi lên trước tòa của Con Chiên. Thật là một ân huệ cho tôi khi có thể dâng lên những hi sinh như thế! - Những tư tưởng này đem lại sự can đảm cho những ai đang bị khổ cực dưới sức nặng của công việc, cho các bà mẹ các gia đình đang phải chịu bao nhiêu lo lắng.

4/ Chớ gì mọi nỗ lực của ta đều nhằm tới: Magis credere, magis in Te spem habere, magis Te diligere (Tin mạnh hơn, trông cậy Chúa nhiều hơn và yêu Chúa nhiều hơn). Lời kinh "Adoro Te devote" của Thánh Tô-ma A-qui-nô không dễ một ngày nào qua đi mà lại không thêm niềm tin, lòng trông cậy và lòng kính mến, lòng mến tận hiến cho Chúa. Ba nhân đức đối thần đều là ánh sáng và sự nâng đỡ của mọi người tín hữu.

5/ Linh hồn tôi và thân xác của tôi đều là Ðền Thờ của Thiên Chúa, trái tim của tôi là bàn thờ của Chúa, là nhà tạm của Chúa. Vào những giờ đen tối, những tư tưởng này gợi cho chúng ta biết tự trọng.

6/ Có phải tôi đã phạm một điều lỗi phạm hoặc một sự liều lĩnh (không khôn ngoan)? Ngay cả trong trường hợp này, tôi cũng phải rút tỉa được ích lợi và có được một bài học.

7/ Thomas a Kempis, nhà tâm lý học sâu sắc cũng đã đề nghị cho các cha giải tội một số những lời khuyên dạy quý hóa: Esto humilis et pacificus, et erit tecum Jesus. Sis devotus et quietus et manebit tecum Jesus (Imitatio, II, 8). Ðó là bản tóm của cả một chương trình cuộc sống cho những ai đi tìm sự bình an.

8/ Vào những giờ đen tối, hãy nhớ điều này: Chính lúc mà linh hồn bị rơi vào chỗ đen tối, thì chính lúc đó bạn phải nghĩ đến niềm vui ở trên trời. Chỉ những ai đã gieo trong lệ sầu mới có thể gặt trong vui sướng.

9/ Nếu bạn siêng năng rước lễ thì bạn hãy nghĩ đến việc đưa vào lòng đạo đức của bạn, một tình yêu ngày một lớn hơn cho tha nhân. Bạn hãy chăm lo nhiều hơn cho gia đình bạn, làm việc nghề nghiệp lương tâm hơn, và sẵn sàng giúp đỡ người khác trong các quan hệ xã hội của bạn.

Trên đây chỉ là một vài gợi ý trong muôn vàn gợi ý khác. Cha giải tội có thể tìm ra được nhiều ý khác từ kinh nghiệm đời sống nội tâm của mình nếu quả ngài có được sự quan tâm cũng giống như điều đã tỏ hiện trong thư của Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Cô-lô-sê.

Đamien
13-09-2006, 10:04 PM
"ÐÔI MẮT CỦA VỊ LINH MỤC"

Tất cả những gì thuộc lãnh vực dẫn dắt các linh hồn, việc xây dựng và mở rộng vương quốc của Thiên Chúa đều đòi hỏi rất nhiều kiến thức và một kho tàng kinh nghiệm. Vậy, chỉ thêm vào đây một lời khuyên gởi đến các tân chức, đó là: khi các bạn bước vào làm mục vụ, các bạn đừng từ bỏ việc học các môn đạo, các môn về Giáo hội. Nói theo kiểu Thánh Phan-xi-cô đờ-Xan thì: sự hiểu biết và lòng đạo đức là đôi mắt của vị linh mục.

Tuy nhiên, xem ra là có một số linh mục, vì quá bận rộn với công việc, nên không đánh giá cho đủ nhu cầu phải tiếp tục việc nghiên cứu các môn học về đạo, về Giáo Hội. Vậy tôi xin phép để trích dẫn ra đây lời nhận xét của một linh mục có nhiều kinh nghiệm mục vụ, về tầm quan trọng của việc nghiên cứu học hỏi này.

Việc học hỏi là khí giới của ta. Nhờ vũ khí này mà ta có thể bảo vệ linh hồn ta chống lại những kẻ thù đe dọa linh hồn ta, và chủ yếu là chống lại sự nhàn rỗi, sự nhẹ dạ, tính hời hợt, thiếu chiều sâu. Và cũng chính nhờ vũ khí này mà chúng ta phải dùng để bảo vệ các linh hồn đã được trao phó cho ta, cho dù họ ở bất cứ đâu, vì ngày nay, ngay cả tại một ngôi làng rất hẻo lánh, thì cũng là một nơi diễn ra những đấu tranh về trí tuệ.

Trong những điều kiện như thế này, điều vô cùng quan trọng cho các linh mục là các ngài phải hiểu biết, để có thể tranh luận một cách mạnh mẽ và có được sức mạnh của chân lý. Người lính của Chúa Giê-su Kitô lại có thể đến với một kẻ địch mà trong tay lại không có vũ khí sao?

Việc học hành, nghiên cứu đối với linh mục phải là nguồn vui trong sáng nhất. Nếu trên tòa giảng mà mình không có được sự tự tin, hoặc tại tòa giải tội, hoặc trong các quan hệ với giáo dân hoặc với các nhóm khác, thì quả điều này sẽ gây nên một cảm giác thật suy sút. Việc học hành đến nơi đến chốn, thì điều này bảo đảm là ta làm việc đúng hướng, thêm vào đó, có được niềm vui nội tâm, một cái nhìn chính xác về thế giới bên ngoài và một niềm phấn khởi thực sự có tính cách linh mục.

Việc học hành đem lại cho nhân phẩm của ta dấu ấn của một sự quý phái cao thượng, không phải là để vị linh mục, vì học hành giỏi giang mà lên mặt kẻ cả, nhưng tất cả những tư tưởng, lời nói và hành động của ngài phải để lộ ra một sự huấn luyện vững chắc, và đồng thời càng pha trộn một sự khiêm tốn hoàn toàn. Hơn nữa, việc học vấn cũng là một sự nâng đỡ cho sự hoàn thiện linh mục. Lịch sử Giáo Hội đã làm chứng cho điều này một cách rõ rệt. Khi một linh mục nào đó không yêu mến các môn học thánh, không trung thành trong việc học hằng ngày, thì người ta cũng không thấy nơi ngài tập quán suy tư vững chắc và có kết quả; ngài cũng không có được các tư tưởng cao quý và một sự tu luyện khổ hạnh được thể hiện dưới ánh sáng của Chúa.

Tất cả những điều này cho ta thấy được tầm quan trọng của việc chăm lo học hành nghiên cứu. Vậy ta nên đặt vào số những quan tâm nghiêm chỉnh nhất, việc lo hi sinh vài giờ yên tĩnh để học các môn đạo. Ngày nào cũng đều đặn và trung thành như thế. Trong trường hợp chúng ta quá bận vì công việc, thì ít ra cũng được một nửa giờ hay năm phút. Ta học không phải là tùy hứng, hoặc không có chủ đích, nhưng là do một chương trình làm việc đã được hoạch định một cách rất cẩn thận, chín chắn và cũng giữ một thời khóa biểu được hoạch định một cách khôn ngoan .

"Custos, quid de nocte?". Hỡi người lính canh, chuyện gì đã xảy ra ban đêm?

Chính bạn hãy trả lời câu hỏi này.

Ngày nay, có nhiều vấn đề quan trọng đang làm xáo trộn xã hội hôm nay. Và vị linh mục, người đã lãnh nhận từ Thiên Chúa nhiệm vụ phải hướng dẫn dân chúng, liệu ngài mang lại giải pháp nào đây?

Bên cạnh môn học thần học luân lý, các vị giáo sĩ còn cần yêu mến môn Kinh Thánh, cuốn Tổng Hợp Thần Học của Thánh To-ma A-qui-nô, các thông điệp của Ðức Giáo hoàng, tài liệu Công Ðồng Va-ti-ca-nô II và những vấn đề thuộc lãnh vực luân lý xã hội đang khuấy động thế giới ngày nay.

Nếu vị linh mục có được những kiến thức vững vàng đó, nếu ngài tiếp tục việc học hành của mình thì, ngay tại giáo xứ và vượt luôn qua ranh giới giáo xứ, ngài có thể tiếp tục công việc mà Ðấng Chăn Chiên nhân lành đang chờ đợi từ ngài, vào thời đại đang xảy ra bao cuộc tranh đấu này.

Đamien
13-09-2006, 10:06 PM
KẾT SÁCH NHỎ NÀY

Khi giới thiệu với các linh mục và các ứng viên lên chức linh mục, những bài viết của Thánh Bê-na-đô mô tả hình ảnh lý tưởng của linh mục, thì tác giả cuốn sách: "Lý tưởng của linh mục theo Thánh Bênađô", đã viết thêm như sau:

"Vị linh mục triều, thì chính ngài phải đặt ra cho mình một cách hết sức nghiêm chỉnh câu hỏi: "Ad quid huc venisti?". ("Con đến đây để làm gì?") . Câu trả lời là: ngài đã được đặt lên để dẫn dắt người ta về với Chúa Kitô, không những bằng lời nói, nhưng còn phải bằng các việc làm, các gương sáng của tất cả con người và đời sống linh mục của mình. Sức mạnh của gương sáng của ngài là rất lớn. Chắc chắn là: vào thời đại ta đang sống đây, thời đại mà người ta không những quan tâm đến những vấn đề luân lý, mà còn quan tâm cả đến những vấn đề kỹ thuật nữa.

Tuy nhiên, điều này cũng đúng không kém, đó là con người thời nay vẫn giữ được ý nghĩa của các giá trị luân lý của bản thân cá nhân con người. Và ngay cả ngày nay, cũng xem ra rằng: những người có nhân cách và có đời sống luân lý cao thì vẫn gây được trên những người khác một ảnh hưởng sâu sắc hơn là các bậc thầy về phương diện khoa học hay phương diện lời nói. Các giáo dân thường được nghe giảng là phải bắt chước Chúa Kitô, cần ao ước sự hoàn thiện, và vẻ đẹp cuốn hút của các nhân đức. Chớ gì họ cũng thấy tất cả những điều đó được thể hiện trong con người của vị linh mục!

Nếu Chúa Kitô, nếu sự trong sạch và lòng tốt, sự vô tư và sự khiêm tốn của Thầy chí thánh tỏa sáng suốt cuộc đời của vị linh mục, đời sống ngoài xã hội, cũng như đời sống riêng tư , thì hoạt động của vị linh mục này trong giáo xứ sẽ đi từ thắng lợi này đến thắng lợi kia. Bài giảng đối với mỗi vị linh mục là một phương tiện hữu hiệu nhất để có thể có ảnh hưởng đến giáo dân của mình. Những người giáo dân ngày nay cũng còn cảm thấy có một sự đói khát thật sự đối với lời Chúa; họ ao ước được soi sáng và phát triển đời sống thiêng liêng của họ theo những lời giảng dạy của Ðức Kitô.

Thời gian của vị linh mục được chia ra cho tác vụ thuần túy thuộc lãnh vực linh mục một bên, và bên kia là những việc mục vụ gián tiếp của nhiều nhóm khác nhau. Những nhóm này đều nhằm mục đích là thực hiện đời sống đạo đức, thực thi bác ái hoặc làm việc tông đồ ngoài xã hội; tất cả những nhóm này đều có vai trò rất quan trọng cho đời sống đạo đức của giáo xứ. Chính thông qua họ mà ảnh hưởng của vị linh mục, thông qua các nguồn mạch khác nhau, có thể thấm nhập vào các linh hồn và làm cho các linh hồn thấm nhuần tinh thần và các cảm tình Kitô. Trong tất cả những việc này, cần quan tâm bồi dưỡng gốc rễ của ảnh hưởng mà vị linh mục có thể có, đồng thời cũng phải phòng ngừa tất cả các nguyên nhân có khả năng làm phai nhạt đời sống nội tâm của linh mục.

Những tư tưởng và những nguyên tắc trên đây, được trích ra từ những lời dạy bảo tuyệt vời của Thánh Bê-na-đô, thì cũng chính là những điều cơ bản mà tôi đã sử dụng khi giảng giải cho các tân chức. Những giờ phút mà tôi đã dành ra cho những bài giảng thuyết này - những giờ phút mà tôi đã sử dụng để cắt nghĩa, theo tinh thần của Thánh Phaolô, những "Charismata meliora" (những đặc sủng trội hơn), những giây phút đó, đối với tôi, quả là những giờ phút quý giá nhất của đời tôi. Vào dịp tôi kỷ niệm ngân khánh giám mục, tôi xin tóm tắt những điều đó và gom lại trong cuốn sách này, để tặng các linh mục mà tôi đã đặt tay truyền chức cho, và tôi muốn kết thúc bằng lời cầu xin, lời cầu xin cuối cùng sau mỗi nghi lễ truyền chức: "Et omnipotentem Deum etiam pro me orate". ("Và cũng xin anh em cầu nguyện Thiên Chúa toàn năng cho tôi.").

Đamien
13-09-2006, 10:12 PM
XIII

VÀ BÂY GIỜ, XIN TỪ BIỆT, BẠN ĐỒNG NGHIỆP THÂN MẾN!

Cuốn sách này được viết ra trong tâm tình mến thương thân hữu và được ví như là một cuộc đi dạo với tác giả, vừa đi vừa trao đổi một cách cởi mở và chân thành. Tôi rất thích thú mỗi khi nghe thấy hai bạn đồng nghiệp, sau khi cùng đi dạo và trao đổi những tư tưởng, cuối cùng, hai bạn chia tay nhau rất tình nghĩa. "Và bây giờ, xin từ biệt bạn!". Sau khi cùng đi một vòng, tác giả và độc giả đã cùng đồng hành, còn có biết bao điều hai người muốn trao đổi dài dài. Nhưng, viết dài thêm nữa liệu có ích gì không? Những kinh nghiệm đời sống nội tâm và việc mục vụ của cha lại không phải là một cuốn sách có nội dung phong phú hơn ư?

Vì thế, trước khi chia tay, tôi chỉ xin thêm một vài lời với bạn thôi. Tôi không có một lời chúc nào tốt đẹp gởi đến cha hơn là ước nguyện được thực hiện nơi cha lời trích trong sách nguyện vào dịp lễ Thánh Bo-na-ven-tu-ra: "Illa morum suavitas, gratia sermonis et caritas in omnes diffusa, qua singulorum animos sibis arctissime devinciebat". Cần cố gắng để tìm ra được các "từ" có khả năng bày tỏ một cách tàm tạm điều mà tiếng La-tinh cổ điển diễn tả:

- Sự quyến rũ trong cách cư xử của ngài
- Lời nói nhẹ nhàng dễ thương
- Và đức ái mà ngài tỏ ra cho mọi người.

Tất cả những điều này chinh phục và liên kết chặt chẽ trái tim của bất cứ ai tiếp xúc với ngài. Vậy lời chia tay của tôi với độc giả, chắc chắn là xin chúc quý độc giả tính cách độc đáo của Thánh Bo-na-ven-tu-ra, đó là: "Sự quan hệ và các cách đối xử nhã nhặn của vị linh mục thật có sức chinh phục biết bao !". Ôi! Ðiều này thật quan trọng cho việc tông đồ của cha, đó là: chớ gì, cha có một lòng đạo đức dễ mến, dễ thương, nhã nhặn. Nếu đạo đức mà lại không dễ thương thì người đời không ưa đạo của ta đâu. Cứ xem Chúa Giê-su, Người đã tỏ lộ lòng đạo đức của Người ra bên ngoài như thế nào! Chính bản thân tôi, rất nhiều lần tôi thật ngạc nhiên nhìn thấy tỏ hiện sáng ngời trên khuôn mặt của các cha dòng khổ tu một sự nhã nhặn vui tươi và cử chỉ thật vô cùng dễ thương.

Ðối với mọi người và đối với từng người một, ta hãy biết nói một lời dễ thương, một lời đơn sơ, tự nhiên và chân thành, một lời phát ra từ tâm hồn và trái tim. Ðó chính là dấu ấn của một sự huấn luyện nội tâm đích thực, và nếu thiếu điều này, thì cho dù ta có nhiều bằng cấp đến đâu cũng thì cũng không có giá trị gì nhiều. Ai có tính tình dễ yêu thì người ấy có được một sự hấp dẫn chinh phục. Các Giáo Phụ thường tự hỏi tại sao những người đã được Chúa Giê-su kêu gọi lần đầu tiên lại đã bỏ tất cả mọi sự để đi theo Người ngay. Ðó chính là vì ơn nội tâm đã được ban cho họ- gratia antecedens et concomitans- và còn phải kể đến sự dễ mến cuốn hút của Ðấng Cứu Thế Sự cuốn hút chinh phục đó là một nhân đức xứng đáng để ta hi sinh để đạt được.

Chiến thắng chính bản thân trong những quan hệ với người khác, đó là cuộc chiến thắng tốt đẹp nhất của nền tu đức. Ðức mến chinh phục mà được đưa ra thực hành một cách đơn sơ, tự nhiên, lúc nào cũng tỏ ra bình tĩnh, ngay cả khi thần kinh ta căng thẳng, luôn nhìn xem khía cạnh tốt của mọi vấn đề, quan tâm đến những nỗi lo âu của tha nhân, cũng như những kỳ vọng và số phận của họ, luôn sẵn sàng giúp họ hết sức mình- luôn tỏ ra tín nhiệm, đồng thời cũng phải khôn ngoan trong khi nhận những lời tâm sự- vực những kẻ sa ngã lên, trong mọi hoàn cảnh, luôn khao khát đưa những người ta gặp đến với Trái Tim Chúa Giê-su. Ðó là gương sáng ngời mà Vị Tông Ðồ các dân ngoại để lại cho ta. Ðó cũng là điều mà Thánh Bo-na-ven-tu-ra mô tả: "caritas in omnes effusa". (Ðức ái đổ tràn đầy trên tất cả mọi người).

Trong mọi hoàn cảnh luôn giữ bình tĩnh vui vẻ, ngay cả trong những tình huống đau xót, điều này đòi hỏi một tinh thần từ bỏ đặc biệt. Sự từ bỏ này quả là một việc thực tập tu đức thực sự, và sự từ bỏ này ở tại điểm: ta nhìn cuộc sống từ góc độ siêu nhiên, và ta phải thích ứng một cách siêu nhiên với mọi tình huống.

Về điểm "thích ứng" này, tôi nhớ tới trường hợp của một bạn đồng nghiệp, vào dịp ban thưởng trong Giáo Hội, vị này đã bị bỏ quên, không ai để ý tới, và điều này xảy ta trong những điều kiện mà sự "bị gạt ra rìa" này chắc chắn sẽ gây thương tích cho bạn đó. Có người đã nhận xét:

"Bạn đó sẽ cảm thấy chua xót trong nhiều năm về chuyện này".

"Nhưng không đâu!" - một người bạn thân của vị đó, mà tôi được biết, đã nói - "vị đó chỉ cần suy niệm một lần là đã có thể tìm được sự ứng xử thích hợp rồi!". Lời nhận xét này quả là hoàn toàn đáp ứng với tinh thần rất siêu nhiên của tác giả cuốn "Theo Gương Chúa Giê-su", dễ dàng và nhanh chóng tìm được sự thích ứng xứng hợp. Ðó chính là dấu ấn của một cá tính cao thượng và trưởng thành.

Lời "từ giã" của tôi còn muốn nói với bạn điều này nữa, đó là: Cha hãy khôn ngoan và can đảm trong việc tổ chức chương trình làm việc hàng ngày của cha". Vậy, điều cần phải làm là: cân nhắc, sắp xếp, phân chia một cách cẩn thận tất cả những việc phải làm trong ngày, những tiên liệu này lại không thể là thành phần của bài nguyện ngắm mỗi buổi sáng của ta hay sao? Ta hãy nghe lời sách "Theo Gương Chúa Giê-su" về điểm này như sau (II, 3, 3): "Người tốt và đạo đức sắp xếp công việc bên trong của mình trước khi làm những công việc bên ngoài".Những lời chỉ dẫn này không những chỉ áp dụng cho nhiều công việc của ta trong ngày, mà ta còn áp dụng cho cả những lúc ta được thong thả. Những lúc ta được tự do như thế, thì ta lại càng cần phải có một thời khóa biểu nghiêm ngặt hơn nữa, bởi lẽ vấn đề sống riêng biệt một mình được đặt ra, nên tôi không thể không chia sẻ với các linh mục điều sau đây: Sự tương phản giữa cuộc sống vui tươi trong cộng đoàn nhiều năm khi còn đi học, sánh với căn phòng thinh lặng, đơn độc riêng tư một mình của một cha phó, điều này tự nhiên tạo ra một cảm giác đơn độc, lẻ loi!

Đamien
13-09-2006, 10:13 PM
Vậy cha phó phải phản ứng như thế nào đây? Cha phó phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cảm giác lẻ loi đó. Ðừng chịu thua nó, nhưng cách tốt nhất để đối phó lại là bằng cách nào? Trước hết là bằng quan hệ tín nhiệm mật thiết với Chúa Cứu Thế ngự trong Bí Tích Thánh Thể. Thứ đến, là tìm làm bạn với sách vở, đó là những người bạn tốt nhất của cha! Rồi đến "Hiệp hội tông đồ", liên kết các linh mục lại với nhau.

"Prius intus disponere", Thomas a Kempis đã khuyên như thế.

Ta không nên quên là ta phải tổ chức sắp xếp một cách khôn ngoan không những các giờ làm việc, mà còn phải sắp xếp những giờ nghĩ ngơi thư giãn nữa. Ta phải chọn cách thư giãn cho hợp lý và ích lợi. Không phải ai cũng có thể leo núi; thời gian nghỉ ngơi tắm biển không hợp với tất cả mọi người; và tại những nơi ăn chơi phù phiếm, levis vivendi ratio, quả không phù hợp cho việc giữ được tinh thần linh mục. Ta phải nghĩ đến những điều đó trước đã. Prius intus disponere!

Những thời gian nghỉ ngơi có thể dùng để làm việc có ích.

Một hôm, tôi hỏi một nhà bác học mà tôi quen biết, hỏi ông định đi nghỉ hè ở đâu. Ông trả lời: đối với bản thân, sự kiện thay đổi việc làm, đó là cách tốt nhất và thú vị nhất để tôi được nghỉ ngơi!

Có một vị linh mục rất bận công việc, và còn phải lo nhiều việc bác ái xã hội khác, thì vị linh mục này đã sử dụng thời gian nghỉ hè bằng cách đi thăm các cựu học viên của các cơ sở bác ái tại các miền quê. Ðó lại không phải là cách khéo léo và thú vị để sử dụng mấy tuần nghỉ hè đó sao? Vị linh mục cũng nên hiểu rằng: vào thời buổi kinh tế khó khăn, mình cũng nên từ bỏ những cuộc du lịch vui chơi, tốn kém, ít ra cũng vì lý do tôn trọng dư luận quần chúng.

Tổ chức khôn khéo việc sử dụng thời gian theo kiểu của Thomas a Kempis mời gọi mỗi người nên sắp xếp một cách cẩn thận hết sức các công việc của mình, ngay cả những công việc không ai biết tới.

Xin đưa ra một sự so sánh: các nhà hâm mộ nghệ thuật nhiều lần đã nhận ra được sự tinh tế và tài nghệ tuyệt vời mà các nhà xây cất các nhà thờ chính tòa thời Trung Cổ. Các chi tiết kiến trúc, các nhân vật được tạc bằng đá và được đặt ở những đỉnh rất cao, mà không có mắt người phàm nào trông thấy, nơi mà chỉ có các thiên thần và các chim trời mới có thể quan chiêm. Ta có thể đọc được những lời khen ngợi như trên của bá tước Podewils, khi vị này viết về các hành lang, các hình mũi tên, các chóp đỉnh của nhà thờ chính tòa thành Chartres.

Ðó là gương mẫu của tác vụ linh mục, ngay trong những việc kín đáo nhất mà không con mắt người trần thế nào trông thấy.

Đamien
13-09-2006, 10:17 PM
LỜI KINH NGUYỆN CÔNG GIÁO TRÃI DÀI VÀ TẾ NHỊ NHƯ THẾ NÀO

Bất cứ một vị linh mục nào cũng cảm thấy một niềm vui tràn đầy khi thấy lời cầu nguyện của Giáo Hội Công Giáo trải dài và sâu sắc như thế nào.

Như thế, các cha cũng vui mừng biết bao khi thấy có một sự tế nhị tuyệt vời được tỏ hiện trong cấu trúc của Phụng Vụ, và hơn nữa, còn hiện trong lòng đạo đức của một người phụ nữ khiêm tốn nhất. Chân trời được rộng mở trước mắt chúng ta, khi chúng ta nâng tâm hồn lên lúc ta thờ lạy, cảm tạ và tôn vinh, những lời kinh này đưa chúng ta lên tới đỉnh cao nhất của các mầu nhiệm thánh. Lời kinh đền tạ và van xin, lời kinh ca tụng và thờ lạy. Chính vì thế mà vị linh mục yêu quý việc cầu nguyện bằng các thánh vịnh - quan tâm đến việc thờ lạy quả đã là điểm chung của các việc tìm tòi của nhà bác học thật sự có tinh thần công giáo. Frédéric Ozanam kể rằng: một hôm ngồi ăn cơm với nhà khoa học thời danh Ampère, ông đã nghe thầy Ampère kêu lên: "Ôi! Ozanam ạ, Thiên Chúa cao cả biết bao! Thiên Chúa thực vĩ đại!".
</O:p
Ðó, ta thấy tinh thần thờ lạy nơi Ampère như thế nào, khi ông cảm thấy ngạc nhiên biết bao trước những khám phá khoa học của ông. Lời cầu xin của ta cũng bao la như lời kinh thờ lạy. Chúa Giê-su biết điều gì làm ta lo lắng khổ sở, những nỗi khổ đau riêng tư của từng vị. Nhưng lời kinh của vị linh mục, mỗi ngày và mỗi giờ, phải vượt qua giới hạn riêng tư. Vị linh mục phải dành một lãnh vực lớn cho cầu nguyện như những lời kinh của ngày Thứ Sáu chịu nạn: Lời kinh cho toàn thể Giáo hội, cho các phẩm trật trong Hội Thánh, cho mọi tầng lớp trong xã hội, cho mọi người đau khổ, cho những người lầm đường lạc lối, cho những người chưa biết Chúa.

Lời cầu xin của ta phải có chiều kích hoàn vũ. Cầu nguyện hợp ý với Ðức Thánh Cha. Lời cầu nguyện "Theo ý Ðức Giáo Hoàng" là một lời cầu nguyện có tính cách đặc biệt công giáo, nghĩa là cho chiều kích toàn cầu - cầu cho cả thế giới.

Rồi còn phải kể đến lời cầu nguyện của các thánh, những lời cầu này có thể ví như các đám hương thơm ngát, thoát ra từ các bình hương do tay các thiên thần cầm và tung lên.


HÃY CHIẾN ÐẤU ÐỂ CÓ ÐƯỢC SỰ TRONG SẠCH NGÀY CÀNG HOÀN HẢO HƠN.

"Amplius lava me". Ðó là điều mà ta muốn đạt tới nhờ việc năng xưng tội.

Từ "amplius" nói lên lòng ao ước được thấy biến đi không những hình phạt tạm thời phải chịu vì tội lỗi, mà còn muốn xóa bỏ cả những di lụy do các tội đã được tha gây nên- thêm vào đó, còn muốn cho lòng mến Chúa được tăng thêm để chữa lành trái tim ta, và mỗi ngày trở nên sốt sắng hơn và hữu hiệu hơn.

"Amplius lava me" : Ðó là một lời kêu xin có ý nghĩa sâu xa, và có ích lợi biết mấy! Những di lụy và việc nhớ lại các tội đã phạm quả là một thánh giá nặng nề cho ta- nhất là cho những tâm hồn đang khao khát tiến bước trên đường đạo đức, mỗi lúc một lên cao hơn. Và ta cũng dễ hiểu tại sao những người ấy lại ao ước được năng lãnh nhận Bí tích Hòa giải.

Amplius lava me: (Xin rửa con sạch các lỗi lầm)

Lời kêu xin áp dụng cho các cuộc tranh đấu liên tục để có thể đạt được một sự trong sạch ngày càng hoàn hảo hơn.

Dĩ nhiên, điều giúp gìn giữ vị linh mục cũng như người giáo dân tránh khỏi những sai phạm đức trong sạch, trước hết đó là những lý do siêu nhiên; nhưng thêm vào những lý do đó, còn phải có được sự hiểu biết các hậu quả tâm lý của tội lỗi mà người giáo dân cũng như vị linh mục cần phải quan tâm nghiên cứu vì chúng vẫn còn tồn tại ngay cả khi đã được ơn trở lại rồi.

Ðiều này cũng năng xảy ra, đó là vẫn còn vấn vương những giao động trong tưởng tượng, và niềm vui mà trước đây ta có khi nghĩ đến ơn gọi của mình, thì nay cũng đã giảm thiểu đi rồi. Lúc đó, ta cảm thấy sút đi nhiều sự hấp dẫn kỳ diệu đưa ta đến gần Chúa, sự mềm dẻo của ý chí nên luôn đi kèm với sự trong trắng thì cũng bị yếu đi nhiều. Sự tế nhị làm ta tránh được những thái độ thô tục và những điều vô độ cũng kém đi. Ta không còn sẵn sàng đón nhận ơn Chúa và các sự an ủi của Chúa Thánh Linh. Rồi ta cũng đánh mất sự tín nhiệm của giáo dân, họ cảm thấy có điều gì không ổn, tuy không biết rõ hoàn cảnh đó là gì, chỉ biết là có điều gì lộn xộn đang xảy ra.

Vậy bất cứ ai thường xuyên suy nghĩ đến những hậu quả này thì đều kinh sợ trước những tàn phá đó. Vậy, sự nghĩ đến những thiệt hại thiêng liêng đó thì nó sẽ là phương tiện có khả năng bảo vệ ta khỏi những chuyện lầm lạc như thế. "Principiis obsta, sero medicina paratur": (Hãy chống lại ngay từ đầu, nếu không thì thuốc sẽ quá trễ). Về điều này tôi xin đề cử ra đây một kinh nghiệm, thưa cha đồng nghiệp, cha càng thêm tuổi, cha càng cần thắt chặt dây liên lạc với Thiên Thần bản mệnh của cha hơn. Có bao lần bàn tay của ngài đã giữ ta khỏi rơi xuống vực thẳm. Ðã bao lần ngài đã báo nguy trước cho ta.

Ta vui mừng vì có Thiên Thần bản mệnh bên cạnh ta, và khi ta tới giây phút cuối cùng cuộc đời, đôi cánh che chở của ngài che phủ ta, và khi tới quê hương trên trời, lúc đó sẽ thực hiện lời hứa: "erunt sicut angeli": (Họ sẽ trở nên giống các thiên thần). Và trong cuộc sống vĩnh hằng, ta sẽ vui sướng nhận ra, ta cùng một tư tưởng với các Thiên Thần là: trong muôn vàn hoàn cảnh và trong muôn lúc quyết định, ngài đã mau lẹ báo cho ta biết, và ngài cũng đã xin cho ta biết bao ơn Chúa - đồng thời ngài cũng đã khuyến khích và gây nơi ta một ảnh hưởng có tính cách quyết định.

Ðó là những trang của một cuốn sách, mà đã gây được một sự quan trọng có tính cách vĩnh cửu đời đời.

Đamien
13-09-2006, 10:21 PM
CHA HÃY TÍN NHIỆM CÁC BẠN ÐỒNG NGHIỆP VÀ CÁC NGƯỜI PHỤ TÁ CỦA CHA.

Khi có vấn đề gì, các cha nên bàn luận với các linh mục khác, các bạn đồng nghiệp, đặc biệt là với cha chính xứ, và cha chính xứ cũng nên bàn bạc với cha phó như thế. Tại Breslau, trong một buổi hội thảo, các linh mục đã thảo luận về đề tài: "Các giáo dân có thể giúp các linh mục trong tác vụ của các ngài như thế nào?". Trong bài nói chuyện về đề tài này, tôi đã đưa ra ý kiến sau đây: "Ðiều nên làm đối với cha xứ, đó là ngài cũng nên hỏi ý kiến cha phó về những gợi ý, theo đó, các giáo dân có thể giúp đỡ các linh mục trong việc mục vụ như thế nào". Rồi tự nhiên tôi thêm vào một câu nói đùa như sau: "Không có tín điều nào nói là cha phó xứ lại không bao giờ có khả năng đưa ra được một ý kiến hay". Không ngờ, câu nói đùa này lại được tiếp nhận bằng một tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt như một tiếng sấm, và tôi đã sợ hãi về câu nói của mình có phần châm biếm quá mức chăng? Thực ra tôi không có ý như thế chút nào.

Rồi sau đó, để bổ túc ý kiến trên đây, tôi đã nói thêm điều này. Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mà bản thân cha chính xứ không thể đưa ra bàn thảo với bất cứ cha phó nào; có rất nhiều trường hợp cha xứ phải tự giải quyết lấy một mình; và cần phải có một sự suy xét khôn ngoan mới phân định được ranh giới xứng hợp.

Các cha hãy cư xử nhã nhặn với những giáo dân giúp việc các cha, đàn ông cũng như đàn bà. Chúng ta quả rất cần đến việc giáo dân làm tông đồ! Trong một bức thư có chữ ký tay của Ðức Giáo Hoàng Pio XI, đã gởi cho tác giả của tập sách này vào ngày 13-11-1928, Vị đại diện Chúa Kitô đã nhắc lại sự kiện sau đây: Trong thư gởi cho Giáo đoàn Philippi, Thánh Phao-lô đã nhắc tới các cộng tác viên của ngài và ngài đã xin họ giúp đỡ các phụ nữ, "những người đã làm việc với ngài cho Tin Mừng" (Ph 4, 3).

Ðó cũng là điều Ðức Giáo Hoàng khuyến cáo giám mục và các linh mục về vấn đề: những người giáo dân cộng tác với các ngài, những người này dĩ nhiên là bao gồm cả các bà và các cô, những người có khả năng giúp ích rất nhiều trong việc dọn đường cho Ðấng Chăn Chiên lành cách âm thầm và khiêm tốn.

<O:p
</O:p

Đamien
13-09-2006, 10:22 PM
CÁC CHA HÃY YÊU MẾN THOMAS A KEMPIS

Và các cha cũng tìm để tinh thần của ngài thổi vào nơi các cha. Benoit Momme Nissen đã nhận xét rất khéo về ngài như sau: Thomas a Kempis là một người thân hình nhỏ bé (theo tài liệu của tu viện "Núi Thánh Anê"), nhưng là một người rất nhân đức. Ngài có đời sống đạo rất sâu sắc, thích nơi cô tịch và không bao giờ ở nhưng không làm việc gì. Ngài luôn kiểm soát miệng lưỡi cách đặc biệt; nhưng ngài cũng biết tiếp chuyện một cách nhã nhặn với các người khách đạo đức và luôn tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ họ. Trong các lời ngài nói, cũng như trong các tác phẩm của ngài, ngài luôn tỏ ra quan tâm đến các tâm tình nóng ấm hơn là tỏ ra sự tinh tế của tinh thần. Văn phong đơn giản và rõ ràng, ngài đã gây được ảnh hưởng sâu sắc trên các linh hồn bằng sức mạnh của các câu châm ngôn của mình.

Ta nên nhớ lại là ngài đã sống rất thọ tại Hà Lan- 80 năm trong việc luyện tập các nhân đức và luôn làm việc trong một bầu khí thánh thiện- và trước khi qua đời vào tuổi 92, ngài đã chiếu dõi ánh sáng và các nhân đức của ngài với một sự hăng say đặc biệt- ngài đã biên soạn và phổ biến các tác phẩm của ngài cách liên tục, đến độ đem trình bày cho chúng ta một nguồn suối sống động và dồi dào của lòng đạo đức thực sự có tính cách công giáo, điều mà hiếm có tại những nước Bắc Âu.

Thomas a Kempis sống đồng thời với Fra Angelico, Étienne Lochner, Van Eyck, và Jean Memling. Chính vào thời đại của ngài tại miền nam nước Ðức, nghệ thuật chạm trổ trên gỗ đã tiến tới độ khai hoa vô song, chứng cớ là các nhà thờ Xanten vaw Calcar, quê hương ngài, ngày nay vẫn còn giữ được các tác phẩm tuyệt vời.

Tinh thần đức tin sâu xa, tế nhị, đôi khi ngây ngô, hồn nhiên và hơn nữa, rất có trật tự, đã in dấu ấn vào thế kỷ thời danh nghệ thuật này, được thể hiện trong tất cả những tác phẩm của Thomas a Kempis- những tác phẩm mà được ít người biết đến- Lời văn cùng với những thi phẩm của ngài đều đượm một tình mến Chúa nồng nàn, văn phong đó đã tới đỉnh cao nghệ thuật. Với lời văn không rườm rà, đơn giản, ngài đã có được bí quyết trình bày một cách hoàn hảo bằng tiếng La-tinh đơn giản, những tâm tình tế nhị khéo léo nhất.

Ngài thường đạt được một sự hào hứng và một sức sống dồi dào đã biến ngài thành một trong những bậc thầy cổ điển của nền văn chương tu đức thiêng liêng. Thêm vào đó, ngài luôn có một sự khiêm tốn, không tìm tỏ ra mình tài giỏi, và cũng không muốn tranh giành việc được coi như là "thông thái". Ngài chỉ muốn không ai thấy mình và luôn tìm ẩn mình tại một góc xó tối tăm nhất, không ai biết tới. Thomas a Kempis và các tâm tình sâu kín nhất của ngài được tỏ lộ cho ta thấy bởi những lời ghi trên bia mộ của ngài tại "Núi Thánh Anê" như sau: "Trong mọi sự, tôi đã chỉ tìm sự yên tĩnh và tôi không tìm thấy nó ở đâu trừ khi được làm bạn với một cuốn sách, tại một nơi xa xôi ẩn dật nhất".

Mấy lời trên đây,viết bằng tiếng miền nam nước Ðức đủ cho ta nhận ra được nơi Thomas a Kempis một con người thuộc miền Nam. Và đây, ta nên trích dẫn lời sách "Theo Gương Chúa Giê-su" như sau:

"Bạn đừng quan tâm tìm xem ai nói, mà hãy chú tâm đến điều đã được nói ra".

Cuốn sách cỡ nhỏ mà Thomas a Kempis đã biên soạn, cách đây gần 600 năm, quả là một kiệt tác văn chương thế giới. Từ nhiều thế kỷ, người ta đánh giá là cuốn sách đã đưa số người trở lại nhiều hơn là các "từ" trong cuốn sách này. Sự khôn ngoan và sự trưởng thành mà ta tìm được trong sách này- và điều này làm ta liên tưởng đến nội dung và hình thức các sách khôn ngoan trong Cựu Ước- những điều trên đây chỉ có thể được cắt nghĩa bằng sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta cũng còn có thể đặt ra câu hỏi sau đây nữa, đó là: bằng cách nào của con và bằng thứ văn chương nào mà kết quả có một không hai mà cuốn sách đã đạt được? Tự đâu mà cuốn sách này đã trổi vượt lên trên cả từng ngàn những sách tu đức thời danh nhất? Ðó là câu hỏi mà một hôm tôi đã đặt ra với một nhà văn người Na-uy, bạn thân của tôi, thì được ông cho biết:

"Ðức Cha có biết tại sao cuốn "Theo Gương Chúa Giê-su" lại là một cuốn sách tuyệt diệu không? Theo thiển ý, thì đó là tại vì người ta tìm được tại đó những tâm tình phát xuất ra thẳng từ trái tim. Cuốn sách cũng rất chân thành và sâu sắc. Phải, chính là như thế!". Bí quyết của sự thành công của cuốn sách nằm ở chỗ nó rất đơn giản - điều này chắc không ai chối cãi được.

Và đây không phải là một sự đơn sơ khô khan, lạnh lùng và nghèo nàn, nhưng đây chính là một sự đơn sơ tế nhị và thánh thiện phát xuất từ sâu kín của cõi lòng với một sự ngọt ngào kỳ diệu. Ðó là ý nghĩa của từ ngây thơ mà nhà văn Na-uy đã khéo sử dụng- "từ" có thể áp dụng cho phần đông các tác phẩm nghệ thuật của thời trung cổ- nhưng, vào thời đại của ta, thì ta đã mất đi hầu hết sự sâu sắc và sự tinh tế của các ý nghĩa đó, và cũng không còn được áp dụng vào một tác phẩm văn chương nữa. Những từ: ngây thơ và từ:sâu sắc thực tế tỏ lộ cho thấy sự tràn đầy của một tâm hồn, một nền văn hóa, một sự chất phác, một sự pha trộn của một viễn tượng của tâm hồn bé thơ, và đồng thời cũng là một sự trưởng thành của tinh thần, những điều mà ngày nay xem ra xa lạ với chúng ta.

Và đó cũng chính là những đặc điểm tâm lý mà ta tìm thấy trong sách "Theo Gương Chúa Giê-su".

Đamien
13-09-2006, 10:26 PM
TA HÃY NGƯỚC MẮT NHÌN LÊN NỮ VƯƠNG CÁC TÔNG ÐỒ

Những điều suy niệm sau đây sẽ có giá trị rất nhiều đối với các linh mục chúng ta. Nếu Ðức Mẹ Maria đã ở giữa các Tông Ðồ vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, thì Ðức Mẹ cũng đã tham dự mật thiết vào các công việc, các thành tựu cũng như các khổ đau của các Tông Ðồ. Ðó là điều đã xảy ra vào buổi Giáo Hội sơ khai, nhưng tình yêu ấy Ðức Mẹ đã đem về trời cùng với Mẹ.

Ngay cả lúc này trên thiên đàng, Mẹ vẫn còn là Nữ Vương các Thánh Tông Ðồ, và điều này không phải chỉ là trong hạnh phúc vinh quang, nhưng vẫn còn có tính cách thời đại này đây, Ðức Mẹ vẫn còn tham dự- với tính cách trung gian- vào các công việc, các tranh đấu, và các khổ đau của các vị nối nghiệp các Tông Ðồ và của tất cả các linh mục. Mối dây liên kết này chắc chắn đối với các giám mục và các linh mục là một phương tiện hữu hiệu để lãnh nhận được các ơn. Sự tín nhiệm phó thác vào vai trò vị trung gian của các ngài quả là một bảo vật thừa kế, một trong những bảo vật quý hóa nhất, đối với tất cả các linh mục.

Xác tín công giáo vào sự các Thánh cùng thông công cần phát triển lòng tôn sùng của ta đối với Ðức Mẹ Maria! Lạy Mẹ, "Xin hãy tỏ ra Mẹ là Mẹ của con" (Monstra te esse matrem). Lời kinh này trên môi miệng của vị linh mục chắc chắc rất có một ý nghĩa: vì Ðức Mẹ, với tính cách của một người mẹ - sẽ chia sẻ tất cả những quan tâm lo lắng mục vụ của chúng ta. Dưới sự bảo vệ che chở của Mẹ Maria trong những lúc ta phải chiến đấu, hoặc những lúc gặp hiểm nguy, trong các việc làm cũng như trong những lo âu, trong khi vui cũng như buồn , cùng với sự nâng đỡ trung gian của Mẹ Maria; nào ta hãy lên đường tiến về cõi vĩnh hằng. Ðó là lời chào chúc cuối cùng của tôi gởi đến các bạn độc giả.


HẾT

Đamien
13-09-2006, 10:41 PM
MỤC LỤC


I. THÂN THẾ CỦA VỊ LINH MỤC
Nói chuyện "cóc nhảy": Vì sao? Ðể làm gì?
Trước ngày truyền chức linh mục
"Lạy Chúa Thánh Linh xin hãy đến!
Ðã đến giờ truyền chức
Giá trị cá tính của con người linh mục
Huynh đệ linh mục
Thái độ đối với những người sai đường lạc lối
Những âu lo
Thời gian đã mất không bao giờ trở lại


II. NHỮNG NGUỒN SUỐI SINH ÐỘNG CỦA ÐỜI LINH MỤC
Tới nguồn nước hằng sống
Manna được giấu kín
Ta phải xử lý các việc làm như thế nào?
Sức mạnh chinh phục
Cung giọng làm nên âm nhạc
Xin thương nhận chúng con đang hết lòng khiêm nhu thống hối
Một sự đa dạng tuyệt vời


III. DƯỚI ÁNH SÁNG VĨNH CỬU
Bạn tâm giao của linh mục
"Khiên thuẫn của thiện chí"
Khi Chúa Giêsu cầu nguyện một mình
"Của con ở đâu thì lòng con ở đó"
Các việc thánh cần phải được làm cách thánh thiện
Nhà của Thiên Chúa và cửa của Thiên đàng
Aperire librum: mở sách ra
Giới thiệu cho người tín hữu sự phong phú của phụng vụ


IV. "CÙNG VỚI ÐỨC MARIA, MẸ CHÚA GIÊSU" (Cv.1,14)
"Bây giờ thì tôi hiểu chuỗi mân côi"
Tiếng vang vọng từ thượng giới
Những điểm thông ơn thánh


V. SÁCH NGUYỆN, CUỐN SÁCH THIÊNG LIÊNG CỦA VỊ LINH MỤC
In unione divinae intentionis: Hiệp ý với Chúa
Trường dạy việc thánh hoá
Làm sao để đọc sách nguyện một cách chú ý và sốt sắng


VI. NHỮNG NHÂN TỐ KHÔNG TƯỞNG ÐƯỢC
Không được ai biết đến? Bị gạt xuống hàng bét
Vào những ngày buồn khổ
Ximon - người Ky-rê-nê
Những tư tưởng lầm lạc chăng ?


VII. "BẢO VỆ VIÊN ÐÁ QUÝ"
Họ sẽ nên giống như các thiên thần
Về lễ thánh Lu-y Gon-za-ga
Sự kín đáo: đặc điểm của vị linh mục
Nghĩ tới núi Taborê và niềm vui núi Taborê đem lại
Những bài học rút ra từ "sách ánh sáng" và "sách bóng tối"
"Sức mạnh của thấy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối"
Hãy ý thức được phẩm tước của mình! Hãy mạnh mẽ lên!


VIII. "CÓ TÌNH HUYNH ÐỆ LẠI THÊM BÁC ÁI"
"CÒN TẤT CẢ ANH EM ÐỀU LÀ ANH EM VỚI NHAU"
Không phải bằng đầu môi chóp lưỡi, nhưng bằng việc làm
Ðức mến không nóng giận, không nuôi hận thù
Ta hãy cầu nguyện cho các anh em vắng mặt


IX. GIÁO HỘI DƯỢC HIỆP NHẤT NHỜ BỘ LUẬT TUYỆT DIỆU,
LÝ TƯỞNG HAY THỰC TẾ ?
Tín nhiệm và tế nhị
Những năm tháng tập sự là những năm tháng quý báu
Một sự thử thách xem ra hơi kỳ!
Chỉ trích và phê bình, phải chăng là dấu trí thức trổi vượt?


X. PHỤC VỤ CÁC LINH HỒN
Biết và phục vụ các linh hồn
Hãy an ủi nhau (1Tex.4,18)
Lòng yêu thương nhân loại
Giữ miệng lưỡi
"Tôi mắc nợ mọi người" (x.Rm 1,14)
Bạn của người nghèo
Nên gương cho giới trẻ. Tinh thần hiệp sĩ
Giáo dân làm việc tông đồ cho giáo xứ
Ðánh giá đúng khả năng con người
Cha phó
Kiên nhẫn
Ðừng nổi nóng vô ích
Áo chức (áo thâm chùng): niềm vinh dự của linh mục
"Không phải cho chúng con, vâng lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng chỉ xin cho Chúa được hiển danh
Không nên quá tầm thường để không thể bay bổng lên
Những điều mà những người giáo dân không sẵn sàng bỏ qua
Tâm hồn người bình dân và tiếng hát tại nhà thờ
Sự tiết độ và sức khoẻ luân lý của các giáo dân


XI. LỜI CHÚA: GƯƠM CỦA THẦN KHÍ
Rõ và rành mạch
Trách nhiệm nặng nề
Dàn bài và bố cục
Con ong siêng việc
Lúc thuận tiện, lúc không thuận tiện
Ngôn ngữ và thái độ
Cần quan tâm đến nỗi khốn quẫn của người giáo dân
Ngôn ngữ của trái tim và chất thơ
Mục đích của bài giảng và phần kết
Những lời khuyên ngắn gọn theo hoàn cảnh
Những điều sai sót tai hại
Những bài điếu văn
Bài giảng tuyệt diệu nhất


XII. BÁC SĨ VÀ TIẾN SĨ TRONG BÍ TÍCH HOÀ GIẢI
NHỮNG Ý MUỐN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG BÍ TÍCH HOÀ GIẢI
"Chớ gì lời giảng dạy của anh em trở nên thuốc thiêng liêng cho anh em"
"Con sẽ trở thành nên người chinh phục người khác"
Việc ăn năn có hiệu quả
Cha giải tội, vị trung gian bằng lời cầu nguyện và lời cầu thay nguyện giúp
"Ðạt tới sự thông hiểu phong phú và đầy đủ"
"Ðôi mắt của vị linh mục"
Kết sách nhỏ này


XIII. LỜI KINH NGUYỆN CÔNG GIÁO TRẢI DÀI VÀ TẾ NHỊ NHƯ THẾ NÀO
Hãy chiến đấu để có được sự trong sạch ngày càng hoàn hảo hơn
Cha hãy tín nhiệm các bạn đồng nghiệp
và các người phụ tá của cha
Các cha hãy yêu mến Thomas a Kempis
Ta hãy ngước mắt nhìn lên nữ vương các tông đồ.