Pham Ngoc
04-06-2009, 03:55 PM
Thứ sáu Tuần IX TN
Thánh Bônifaciô
Sứ Giả Tin Mừng. Một tu sĩ được sai đi rao giảng Tin Mừng; một nhà chiêm niệm trở thành một người hoạt động, với nhiệm vụ thiết lập cộng đoàn Giáo Hội. Điều mà Đức Grêgôriô đã sai Augustinô đến Nước Anh, thì Ngài cũng đã làm khi sai Bônifaciô đến nước Đức. Người kitô phải học cách sống liên kết hành động và chiêm niệm, trở thành nhà chiêm niệm trong khi hành động. Loan báo Tin Mừng. Thế kỷ VIII là thời kỳ hết sức khó khăn: các cuộc xâm lăng của dân man di làm tan rã hoàn toàn đế quốc Lamã; bè rối Ariô làm khuynh đảo đức tin. Khẩn trương tái lập lại một nếp sống mới cho các Giáo Hội, làm cho các Giáo Hội thông hiệp với nhau và với Giáo Hội Roma. Đó là công việc của Bônifaciô nhà thừa sai của Tin Mừng. Trong mọi thời, Giáo Hội chỉ có thể sống nhờ đón nhận Thánh Thần, Đấng thông truyền nhiệt huyết truyền giáo.
Tin mừng của ngày hôm kia, Đức Giêsu chỉ trích giáo lý của các Sadducêô (Mc 12,24-27). Tin mừng hôm nay, Ngài chỉ trích giáo huấn của các tiến sĩ luật. Lần này, Ngài không nhắm trực tiếp đến sự tương phản (không nhất quán) trong cuộc sống của họ, mà nhắm đến giáo huấn họ dạy cho dân chúng. Một dịp khác, Đức Giêsu đã chỉ trích sự không nhất quán của họ và ngài đã nói với dân chúng: ‘Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy. Vậy tất cả những gì họ nói, anh em hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm’ (Mt 23,2-3). Giờ đây, Ngài hướng về những người giảng dạy niềm hy vọng cứu thế, lời chỉ trích của Ngài trên dựa trên Thánh Kinh.
Mc 12,35-36: Giáo huấn của các tiến sĩ Luật về Đấng Messia. Suy nghĩ chung chung của mọi người cũng như của các tiến sĩ Luật cho rằng đấng Messia đến với tư cách là Con Vua Đavít. Là cách thức để nói rằng Đấng Messia là một vị vua vinh quang, mạnh mẽ và thống trị. Nên dân chúng đã hô vang ngày Lễ Lá: ‘Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta’! Và cả anh mù thành Giêricô cũng hô to: ‘Lạy ông Giêsu, con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi’!
Mc 12,37: Đức Giêsu đặt vấn đề lời giảng dạy của các tiến sĩ Luật. Ngài trích thánh vịnh vua Đavít: ‘Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân con’ (Tv 110,1). Và Đức Giêsu còn thêm: ‘Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì Đấng Kitô lại là con vua ấy thế nào được’? Có nghĩa là Đức Giêsu không hoàn toàn đồng ý với ý nghĩ về một Đấng Cứu Thế vinh quang, đến như một vị vua quyền năng để thống trị và quy phục mọi quân thù. Mátcô còn thêm rằng dân chúng nghe Đức Giêsu cách thích thú. Quả thật, lịch sử cho biết rằng ‘những người nghèo của Giavê’ không mong chờ một Đấng Cứu Thế thống trị mà là người tôi tớ của Thiên Chúa đến cứu độ nhân loại.
Những hình thái khác nhau của niềm mong đợi thiên sai. Suốt nhiều thế kỷ, niềm mong đợi thiên sai mặc lấy nhiều hình thức. Hầu như các nhóm, các phong trào vào thời Đức Giêsu đều mong chờ Triều Đại đến, nhưng mỗi người theo cách riêng của mình; Người ta có thể phân biệt ba khuynh hướng của niềm hy vọng thiên sai vào thời Đức Giêsu:
1. Đấng Cứu Thế, sứ giả của Thiên Chúa. Đối với một số người, Triều Đại tương lai sẽ đến nhờ một sứ giả của Thiên Chúa, gọi là Đấng Kitô. Ngài được xức dầu để thi hành sứ vụ này (Is 61,1). Một ít người hy vọng rằng Ngài là vị tiên tri; số khác cho là một vị vua, một tư tế. Malakia nghĩ đến hình ảnh tiên tri Elia (Mal 3,23-24). Thánh vịnh 72 diễn tả niềm mong chờ một quân vương lý tưởng, một Đavít mới. Thần ô uế la lên: ‘Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Mc 1,24). Những người nghèo của Giavê mong chờ Đấng thiên sai, người tôi tớ của Thiên Chúa, mà Isaia tiên báo.
2. Chủ nghĩa thiên sai không có sứ giả. Đối với những người khác, tương lai sẽ đến bất ưng, không nhờ bất cứ trung gian nào, cũng chẳng nhờ sự trợ giúp của người nào. Chính Thiên Chúa đích thân đến để thực hiện những lời tiên tri. Không có một Đấng Thiên Sai. Chỉ là một chủ nghĩa thiên sai mà không có sứ giả. Ta nhận thấy điều này trong sách Isaia, Thiên Chúa ngự đến cùng với cánh tay chiến thắng (Is 40,9-10; 52,7-8).
3. Đấng Cứu Thế đã đến. Có những nhóm không còn mong chờ đấng thiên sai nữa. Đối với họ, tình trạng hiện tại sẽ tiếp tục như thế, vì họ nghĩ rằng tương lai đã đến rồi. Những nhóm này không mang tính phổ thông. Ví dụ, các người Sadducêô không mong đợi đấng thiên sai. Những người phe Hêrôđê cho rằng Hêrôđê là vị vua thiên sai.
Thánh Bônifaciô
Sứ Giả Tin Mừng. Một tu sĩ được sai đi rao giảng Tin Mừng; một nhà chiêm niệm trở thành một người hoạt động, với nhiệm vụ thiết lập cộng đoàn Giáo Hội. Điều mà Đức Grêgôriô đã sai Augustinô đến Nước Anh, thì Ngài cũng đã làm khi sai Bônifaciô đến nước Đức. Người kitô phải học cách sống liên kết hành động và chiêm niệm, trở thành nhà chiêm niệm trong khi hành động. Loan báo Tin Mừng. Thế kỷ VIII là thời kỳ hết sức khó khăn: các cuộc xâm lăng của dân man di làm tan rã hoàn toàn đế quốc Lamã; bè rối Ariô làm khuynh đảo đức tin. Khẩn trương tái lập lại một nếp sống mới cho các Giáo Hội, làm cho các Giáo Hội thông hiệp với nhau và với Giáo Hội Roma. Đó là công việc của Bônifaciô nhà thừa sai của Tin Mừng. Trong mọi thời, Giáo Hội chỉ có thể sống nhờ đón nhận Thánh Thần, Đấng thông truyền nhiệt huyết truyền giáo.
Tin mừng của ngày hôm kia, Đức Giêsu chỉ trích giáo lý của các Sadducêô (Mc 12,24-27). Tin mừng hôm nay, Ngài chỉ trích giáo huấn của các tiến sĩ luật. Lần này, Ngài không nhắm trực tiếp đến sự tương phản (không nhất quán) trong cuộc sống của họ, mà nhắm đến giáo huấn họ dạy cho dân chúng. Một dịp khác, Đức Giêsu đã chỉ trích sự không nhất quán của họ và ngài đã nói với dân chúng: ‘Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy. Vậy tất cả những gì họ nói, anh em hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm’ (Mt 23,2-3). Giờ đây, Ngài hướng về những người giảng dạy niềm hy vọng cứu thế, lời chỉ trích của Ngài trên dựa trên Thánh Kinh.
Mc 12,35-36: Giáo huấn của các tiến sĩ Luật về Đấng Messia. Suy nghĩ chung chung của mọi người cũng như của các tiến sĩ Luật cho rằng đấng Messia đến với tư cách là Con Vua Đavít. Là cách thức để nói rằng Đấng Messia là một vị vua vinh quang, mạnh mẽ và thống trị. Nên dân chúng đã hô vang ngày Lễ Lá: ‘Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta’! Và cả anh mù thành Giêricô cũng hô to: ‘Lạy ông Giêsu, con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi’!
Mc 12,37: Đức Giêsu đặt vấn đề lời giảng dạy của các tiến sĩ Luật. Ngài trích thánh vịnh vua Đavít: ‘Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân con’ (Tv 110,1). Và Đức Giêsu còn thêm: ‘Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì Đấng Kitô lại là con vua ấy thế nào được’? Có nghĩa là Đức Giêsu không hoàn toàn đồng ý với ý nghĩ về một Đấng Cứu Thế vinh quang, đến như một vị vua quyền năng để thống trị và quy phục mọi quân thù. Mátcô còn thêm rằng dân chúng nghe Đức Giêsu cách thích thú. Quả thật, lịch sử cho biết rằng ‘những người nghèo của Giavê’ không mong chờ một Đấng Cứu Thế thống trị mà là người tôi tớ của Thiên Chúa đến cứu độ nhân loại.
Những hình thái khác nhau của niềm mong đợi thiên sai. Suốt nhiều thế kỷ, niềm mong đợi thiên sai mặc lấy nhiều hình thức. Hầu như các nhóm, các phong trào vào thời Đức Giêsu đều mong chờ Triều Đại đến, nhưng mỗi người theo cách riêng của mình; Người ta có thể phân biệt ba khuynh hướng của niềm hy vọng thiên sai vào thời Đức Giêsu:
1. Đấng Cứu Thế, sứ giả của Thiên Chúa. Đối với một số người, Triều Đại tương lai sẽ đến nhờ một sứ giả của Thiên Chúa, gọi là Đấng Kitô. Ngài được xức dầu để thi hành sứ vụ này (Is 61,1). Một ít người hy vọng rằng Ngài là vị tiên tri; số khác cho là một vị vua, một tư tế. Malakia nghĩ đến hình ảnh tiên tri Elia (Mal 3,23-24). Thánh vịnh 72 diễn tả niềm mong chờ một quân vương lý tưởng, một Đavít mới. Thần ô uế la lên: ‘Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Mc 1,24). Những người nghèo của Giavê mong chờ Đấng thiên sai, người tôi tớ của Thiên Chúa, mà Isaia tiên báo.
2. Chủ nghĩa thiên sai không có sứ giả. Đối với những người khác, tương lai sẽ đến bất ưng, không nhờ bất cứ trung gian nào, cũng chẳng nhờ sự trợ giúp của người nào. Chính Thiên Chúa đích thân đến để thực hiện những lời tiên tri. Không có một Đấng Thiên Sai. Chỉ là một chủ nghĩa thiên sai mà không có sứ giả. Ta nhận thấy điều này trong sách Isaia, Thiên Chúa ngự đến cùng với cánh tay chiến thắng (Is 40,9-10; 52,7-8).
3. Đấng Cứu Thế đã đến. Có những nhóm không còn mong chờ đấng thiên sai nữa. Đối với họ, tình trạng hiện tại sẽ tiếp tục như thế, vì họ nghĩ rằng tương lai đã đến rồi. Những nhóm này không mang tính phổ thông. Ví dụ, các người Sadducêô không mong đợi đấng thiên sai. Những người phe Hêrôđê cho rằng Hêrôđê là vị vua thiên sai.