View Full Version : Từ Suy Niệm đến Chiêm Niệm
admin
29-08-2006, 04:51 PM
Từ Suy Niệm đến Chiêm Niệm
MỤC LỤC
Phần một: ÐỜI SỐNG CHIÊM NIỆM
1. Suy niệm dẫn đến chiêm niệm
2. Con đường chiêm niệm
3. Kỹ thuật chiêm niệm
4. Chiêm niệm trong nơi cô tịch
5. Những người sống đời chiêm niệm
6. Sự chiêm ngắm thiên nhiên
Phần hai: ÐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
7. Cầu nguyện (bài 1)
8. Cầu nguyện (bài 2)
9. Con đường cầu nguyện
10. Ý nghĩa của việc cầu nguyện
11. Mục tiêu đích thực của việc cầu nguyện
12. Tại sao con người phải cầu nguyện
13. Cầu nguyện: sự hiệp thông với Thiên Chúa
14. Cầu nguyện: một điểm gặp gỡ giữa các tôn giáo
15. Kỹ thuật cầu nguyện
16. Cộng đồng tính của sự cầu nguyện
17. Hiệp nhất trong cầu nguyện
18. Sức mạnh của lời cầu nguyện
19. Cầu nguyện cho tha nhân
20. Cầu nguyện trong lao động
21. Xin được thấy vinh quang
22. Cầu nguyện: từ thất bại đến chiến thắng
23. Khi lời cầu xin không được đáp trả
Phần ba: ÐỜI SỐNG TIN-CẬY-MẾN
1. Sống đức tin (bài 1)
2. Sống đức tin (bài 2)
3. Niềm xác tín
4. Tín thác vào Thiên Chúa
5. Niềm tín thác vào Ðức Giêsu Kitô
6. Ba nhân đức đối thần: Tin-Cậy-Mến (bài 1)
7. Ba nhân đức đối thần: Tin-Cậy-Mến (bài 2)
8. Bàn về Tình yêu (bài 1)
9. Bàn về Tình yêu (bài 2)
10. Bàn về Tình yêu (bài 3)
11. Thiên Chúa tình yêu (bài 1)
12. Tình yêu Thiên Chúa (bài 2)
13. Thiên Chúa tình yêu (bài 3)
14. Tình yêu (bài 1)
15. Tình yêu (bài 2)
16. Tình yêu (bài 3)
17. Ðức ái
18. Ðức Giêsu là tình yêu
19. Tình yêu và Thiên Chúa
20. Tình yêu và sự chết
21. Yêu phải chăng là điên dại
22. Mến Chúa yêu người. - Tình bạn
23. Mến Chúa yêu người. - Tình yêu gia đình
24. Mến Chúa yêu người. - Tình yêu nhân loại
25. Mến Chúa yêu người. - Tình thân hữu
26. Mối quan hệ giữa người với người
Phần bốn: ÐỜI SỐNG ÐẠO
* Những chỉ dẫn tổng quát cho cuộc sống Kitô hữu
* Trên đường lữ thứ trần gian
* Thinh lặng để tìm gặp Thiên Chúa
* Ðời sống hoàn thiện
* Thời gian và hoạt động thiêng liêng
* Nghệ thuật sống
* Sự an bình nội tâm
* Bình an của Chúa Kitô
* Sức quyến rũ của hải đảo
* Sức hấp dẫn của núi cao
* Những ngọn tháp nhà thờ
* Ðường dẫn đến Thiên Chúa
* Nước Trời ở trong anh em
* Ðừng lẩn trốn
* Viết một trang sử mời
* Dạy dỗ chính mình
* Yêu thương và phục vụ tha nhân
* Thực hiện đức bác ái
* Công bằng và bác ái
* Kính trọng niềm tin của người khác
* Sự cảm thông (bài 1)
* Sự cảm thông (bài 2)
* Sự cảm thông (bài 3)
* Càng gặp may càng thêm trách nhiệm
* Lòng thành thật
* Không nên tập cho miệng mình nói dối
* Ðạo nghiêm khắc hay là đạo yêu thương
* Vai trò của phụ nữ
* Sự tranh chấp của gia đình
* Tình huynh đệ
admin
29-08-2006, 04:53 PM
Lời nói đầu
Tủ sách Tu Ðức xin được giới thiệu tập "Từ Suy niệm đến Chiêm niệm". Tập nhỏ này đã ra mắt các bạn từ thập niên 90, nay được cập nhật hóa và được thêm vào 3 phần nữa, đó là:
1. Ðời sống Cầu nguyện
2. Ðời sống Tin, Cậy, Mến
3. Ðời sống Ðạo.
Tập "Từ Suy niệm đến Chiêm niệm" này không phải là một chuyên luận thần học hoặc là sách hướng dẫn Tu Ðức được dạy trong các học viện, mà đơn thuần chỉ là kinh nghiệm của nhiều người đã tập suy niệm, cầu nguyện, sống đời sống tin, cậy, mến, sống đời sống đạo để có thể cảm nghiệm được một chút chiêm niệm.
Khi nói đến kinh nghiệm thì điều quan trọng chỉ là kinh nghiệm, nghĩa là không phải là một luận án, một học thuyết hoặc là một chuyên luận, mà chỉ là kể lại một câu chuyện hoặc là một chặng đường đã đi qua.
Tủ sách Tu Ðức chỉ làm phận sự là kể lại những kinh nghiệm này của nhiều người, sau khi đã sắp xếp lại thành hệ thống và đem ra giới thiệu với những tâm hồn đang mong tìm hiểu về suy niệm, cầu nguyện và chiêm niệm.
Không ai lãnh nhận để giữ lại cho riêng mình, người ta chỉ lãnh nhận để rồi đem ra chia sẻ, trao tặng cho người khác.
Ðã có rầt nhiều sách dạy cầu nguyện, suy niệm và chiêm niệm; Những sách này rất tốt, nhiều sách đã trở thành những sách cổ điển, những sách giáo khoa.
Nhưng khi hiểu biết về cầu nguyện, suy niệm hoặc chiêm niệm là gì thì điều đó không có nghĩa là ta đã biết cầu nguyện, suy niệm và chiêm niệm rồi. Không có một chuyên luận nào đã đưa ai đến đời sống cầu nguyện, suy niệm và chiêm niệm mà họ mong tiến đến. Ngay tập sách mà bạn đang có trong tay cũng không làm được việc đó.
Bạn chỉ có thể tìm thấy nó trong chính trái tim bạn, theo sau những kinh nghiệm của bạn.
Tủ sách Tu Ðức chỉ có một hoài bão là giúp các bạn, một cách đơn sơ và khiêm tốn, tới ngưỡng cửa của việc cầu nguyện, suy niệm và chiêm niệm. Còn bước tiếp theo là thuộc về bạn, dĩ nhiên là với ơn Chúa.
Chỉ có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh mới làm cho bạn được tràn đầy.
Vì "muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người" (Rm 11,36). Ta chỉ có thể trả lại cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Người, nghĩa là: TẤT CẢ.
Bạn có thể quên chúng tôi, chỉ trừ khi bạn muốn cầu cho chúng tôi. Xin cảm ơn.
Tủ Sách Tu Ðức
admin
29-08-2006, 04:57 PM
PHẦN MỘT: ÐỜI SỐNG CHIÊM NIỆM
1. SUY NIỆM DẪN ÐẾN CHIÊM NIỆM
Suy niệm là gì? Chiêm niệm là gì? Có những tương quan nào giữa suy niệm và chiêm niệm? Người Kitô hữu chúng ta thường tự hỏi như vậy và cảm thấy khó phân biệt được những đường lối cầu nguyện đó.
A. ÐƯỜNG LỐI SUY NIỆM:
Việc suy niệm của chúng ta phải được bắt đầu bằng tư duy sâu sắc về các mầu nhiệm trong đạo, sẵn sàng chối bỏ tất cả những gì thuộc về thế giới bên ngoài và cố gắng tập trung mọi khả năng trong tư tưởng, để những lo ra, chia trí chết dần đi và mất hẳn (tựa như một chiếc quạt máy khi tắt đi còn quay thêm ít vòng chậm chạp trước khi đứng yên hoàn toàn). Ðây là điểm bắt đầu dẫn đến chiêm niệm, một sự nhìn ngắm bằng đôi mắt trí khôn, đôi mắt giữa nội tâm. Ðôi mắt ấy chính là trái tim và linh hồn của mỗi người chúng ta!
Nhưng chúng ta nhìn ngắm những gì ?
Ðiều mà chúng ta cần đặt ra chiêm ngắm là chính Ðấng Tạo hóa. Tất cả chúng ta chỉ là thụ tạo, vì thế, chúng ta phải tin và tìm đến Ðấng đã tác thành chúng ta là chính Thiên Chúa. Nhưng chúng ta không thể nhìn ngắm Thiên Chúa như nhìn ngắm một hữu thể trực tiếp được, cũng như chúng ta không thể nhìn trực tiếp mặt trời với đôi mắt trần của chúng ta. Là một tạo vật rất nhỏ bé và tầm thường, chúng ta chỉ có thể nhìn ngắm Thiên Chúa với con mắt đức tin. Ðó là lý do giải thích tại sao suy niệm thường đi trước chiêm niệm. Thực vậy, chỉ khi nào chúng ta không còn phải suy niệm về Danh Thánh của Thiên Chúa nữa, lúc đó chúng ta mới thực sự bắt đầu nhìn ngắm Người một cách bình thản. Ðiều chính yếu ở đây là thái độ tập trung tư tưởng của chúng ta.
Như thế, chiêm niệm không phải là một hành động chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc tức thời, nhưng đó là một hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tìm gặp chính Thiên Chúa trong khát vọng của lý trí. Có một chàng thanh niên hỏi nhà triệu phú nọ: "Thưa ngài, làm thế nào để trở thành triệu phú như ngài?" Nhà triệu phú liền trả lời: "Anh hãy tư duy cho đến khi cảm thấy đau nhức...!" Ðối với chúng ta cũng vậy, Thiên Chúa như một kho tàng huyền nhiệm mà muốn đạt tới và muốn chiếm hữu, chúng ta phải "tư duy cho đến khi đau nhức". Ðó là suy niệm, cũng giống như một cuộc tập thể dục đến khi các bắp thịt dãn nở, đau nhức, để thân xác được phát triển hoàn toàn. Việc suy niệm có thể đến chậm đối với một số người, nhưng nếu không biết suy niệm, người ta không thể tin tưởng một điều gì cả.
Trong suốt bốn mươi năm bôn tẩu ngược xuôi, một doanh gia giàu có nọ nay đã trở nên danh giá và sang trọng. Thế nhưng, một lần kia, trong một quán rượu, người ta đã nhìn thấy ông: già yếu, và tưởng như hơi thở đã sắp tàn, đang mải miết nhìn ngắm một chai rượu đã cạn. Người bạn ngồi bên nghe ông thì thào: "Tôi đã nhận ra, nhưng bây giờ thì quá trễ rồi... Ðiều quan trọng nhất trên đời là phải biết tin tưởng vào một điều gì và cần phải tập trung hết tư tưởng vào điều ấy!" Nói xong, ông lại đăm chiêu nhìn vào những cái vỏ chai trên bàn.
Câu nói thật chí lý! Nhưng đáng tiếc thay, những cái vỏ chai kia không thể giúp ích gì cho ông! Phần chúng ta, chúng ta phải biết tận dụng hết các khả năng, tập trung mọi tư tưởng để tin vào Thiên Chúa và tin vào Tình yêu vô biên của Người. Và chúng ta tìm đến Người bằng con đường suy niệm và chiêm niệm. Việc suy niệm sử dụng tất cả những tài năng và trí khôn để nắm vững hoàn toàn một ý tưởng nào đó, một ý tưởng trong Kinh Thánh chẳng hạn. Chúng ta có thể cân nhắc kỹ lưỡng từng khía cạnh một để đi sâu hơn và khám phá ra những ý tưởng được hàm chứa trong đó, đồng thời sử dụng những ý tưởng đó như chìa khóa để mở ra và để minh chứng cho những ưu tư còn lại hoặc những nghi ngờ còn được chôn kín trong đức tin của chúng ta. Chúng ta hãy tìm hiểu Kinh Thánh cặn kẽ để rút tỉa những ý tưởng học tập cho chính bản thân mình. Lúc đó, suy niệm trở thành một lối hoạt động trong bản chất riêng của chúng ta và là nguyên lý hướng dẫn đời sống của chúng ta.
admin
29-08-2006, 04:58 PM
B. ÐƯỜNG LỐI CHIÊM NIỆM:
Chiêm niệm có thể được giải thích như một hiện tượng chăm chú nhìn vào một đối tượng nào đó; và nếu nói đến hành động, chúng ta có thể gọi chiêm niệm là hình ảnh tư duy đích thực về Thiên Chúa và tựa như một tấm gương phản chiếu rất trung thực hình ảnh của vật đứng trước nó.
Chúng ta thử tưởng tượng ra một vòng tròn chứa đựng niềm tin và những ý thức huyền nhiệm: Thiên Chúa được ví như tâm điểm của vòng tròn và tất cả chúng ta như những điểm nằm trên vòng tròn đang hướng về tâm điểm Thiên Chúa. Như thế, muốn tiến lại gần Thiên Chúa, chúng ta phải đi qua đường bán kính nối từ những điểm trên vòng tròn với tâm điểm. Ðường bán kính ở đây là "con đường chiêm niệm"!. Thật vậy, "con đường chiêm niệm" quy hướng tất cả chúng ta về với Thiên Chúa, và đời sống chiêm niệm càng phong phú, chúng ta càng được tiến đến gần Thiên Chúa hơn.
Nhưng chiêm niệm không phải là một hành động trong chốc lát, một sự nghĩ tưởng đến Thiên Chúa qua những việc cố định trực tiếp thường ngày, qua tranh ảnh, hình tượng, hoặc qua những lời kinh nguyện thuộc lòng đầy chia trí, lo ra... Chiêm niệm cũng không phải là hình thức tư duy tích cực bằng những cảm giác chọn lọc và đầy sốt sắng từ nội tâm. Hơn nữa, đời sống chiêm niệm của mỗi người chúng ta không phải chỉ được thực hiện theo khuôn thước có sẵn, hay chỉ đơn thuần do thói quen suy tư, nhưng đời sống chiêm niệm nhất thiết phải được phát xuất từ một nột tâm phong phú, đồng thời đòi hỏi phải đạt tới biểu tượng đích thực của tư duy và những thái độ đam mê là chính Thiên Chúa. Như thế, chiêm niệm càng không phải là một sự nhìn ngắm say sưa nhưng trống không, mà còn phải biết kết hợp tất cả tâm trí, tập trung mọi suy nghĩ và luôn luôn chú ý vào đó. Chiêm niệm đến từ suy niệm: Khi suy niệm đạt đến cao độ với những liên tưởng rõ ràng, lúc đó chiêm niệm trở nên hoàn toàn và bắt đầu dừng lại ở mức độ chiêm ngắm thực sự. Ðây là một trạng thái ngồi yên. Chúng ta không còn phải vận dụng những cố gắng của trí khôn nữa, và tất cả những hoạt động trong não bộ đều nhường chỗ cho sự thinh lặng hoàn toàn.
Nói tóm lại, đời sống của chúng ta tùy thuộc vào sự chiêm niệm này một cách rất thiết thực và trong sáng. Tuy nhiên, chặng đường suy niệm dẫn đến chiêm niệm đòi hỏi nhiều ân sủng của Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta. Vì thế, chúng ta cần phải biết chuẩn bị và sẵn sàng đón nhận những ân sủng đó bằng cách mau dập tắt đi những suy nghĩ viển vông, lướt thắng hết những cơn cám dỗ, những sự lôi cuốn của thế gian. Có như thế, đời sống suy niệm và chiêm niệm mới có thể giúp chúng ta gặp gỡ thân tình với Thiên Chúa, để kính dâng lên Người những lời cầu nguyện đầy tâm tình cảm tạ, tri ân, để tìm hiểu thêm về chính Người và để tăng lòng kính tin, yêu mến Người.
Rồi như một khát vọng hữu ích cho đời sống của mỗi người chúng ta, chúng ta sẽ cảm thấy Thiên Chúa và Tình yêu bao la của Người và là nhu cầu cần thiết nhất trong cuộc sống trần gian này.
admin
04-09-2006, 04:30 PM
2. CON ÐƯỜNG CHIÊM NIỆM
Isaac, nhà tư tưởng thế kỷ VII, người Syria, thuộc Giáo hội Chính Thống đã viết như sau: "Khi nói rằng: "Triều đại Thiên Chúa đang ở trong các ông" (Lc 17, 21), Ðức Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta: Hãy tìm sự an bình nội tâm! Ðược như thế, đất trời sẽ hòa điệu với chúng ta. Bạn hãy mau mau vào nội cung nhà bạn, nơi có kho tàng quý giá, lúc đó bạn sẽ nhìn thấy những sự quý giá nhất trên trời. Cái thang dẫn lên Nuớc Trời được cất giấu trong chính nội tâm của bạn, ở trong thâm sâu của lòng bạn. Phải, ở tận chốn thâm sâu đó, bạn sẽ tìm thấy chân thang và hãy leo lên..."
Ðó là lời chỉ dẫn cho những tâm hồn đang bước đi trên con đường chiêm niệm. Trong tâm linh của mỗi người chúng ta có chứa đựng một kho tàng bí mật - chúng ta có thể gọi đó là "Triều-đại-Bên-Trong" mà chúng ta không biết đến, hoặc nhiều khi không để ý tới. Và nếu chúng ta biết nhìn vào thực tại tâm linh của lòng mình, chúng ta sẽ thấy rằng cửa Thiên Ðàng gần gũi chúng ta hơn là chúng ta tưởng. Ðược tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta có những khả năng hầu như vô tận; vì thế, chúng ta có thể bước lên những bậc thang mà mắt chúng ta không thể trông thấy được. Ðó là phương tiện giúp chúng ta bước sâu vào thâm cung của lòng mình để đối diện với Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Vĩnh Cửu.
"Triều đại Thiên Chúa" ở trong các ông. Chiêm niệm không là gì khác hơn ngoài việc khám phá "Triều-đại-Bên-Trong" này. Ðiều đó có nghĩa là chúng ta phải trở về với chính bản thân mình, phải tiến sâu vào tận trái tim của chúng ta, và cũng chính trong trái tim này, chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa Hằng Sống. Nhưng trước khi bước vào con đường chiêm niệm này, làm sao chúng ta tìm được chìa khóa mở cửa nhà nội tâm? và chúng ta phải bắt đầu từ đâu?
Muốn bước vào con đường chiêm niệm, chúng ta phải hoàn thành hai điều kiện sau :
1. Sống hoán cải (Metanoia, từ Hy Lạp, có nghĩa là: thay đổi toàn bộ), sống tiết độ.
2. Sống giây phút hiện tại.
Xuân đi, Hạ đến... Thu tàn, Ðông sang... chúng ta vẫn luôn ý thức được dòng thời gian trôi qua, đồng thời mỗi năm mới, mỗi tháng mới, chúng ta vẫn thường đưa ra những điều dốc lòng. Vậy, chúng ta phải thực hiện các điều dốc lòng ấy ngay đi, bởi vì ngày mai, hay giây phút sắp tới có thể là quá muộn! Ðừng quên lời nhắc nhở của Thánh Phaolô Tông đồ với giáo dân Côrintô: "Ðây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ" (2 Cr 6, 2). Sống hoán cải, sống tiết độ, đó là sự đáp ứng cho lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô. Chúng ta phải tỉnh thức, phải canh chừng, phải sống trọn vẹn những phút giây hiện tại và phải biết mau chớp lấy thời cơ, nếu chúng ta thật sự muốn dấn thân trên con đường chiêm niệm.
Ðiều bức thiết cần phải làm ngay: đó là hiện hữu ở tại chỗ chúng ta đang sống lúc này, cả trong không gian và thời gian. Biết bao lần chúng ta đã sống lang thang vô định. Chúng ta luyến tiếc dĩ vãng... Chúng ta mơ tưởng đến tương lai... Nhưng dĩ vãng đã qua và tương lai chưa đến! Chỉ có hiện tại là thời gian thuận tiện, thời gian của tự do và của hiện hữu. Chính trong hiện tại mà chúng ta có thể gặp gỡ vĩnh cửu, bởi vì chỉ có hiện tại là đời sống thực, là những giây phút giao tiếp quá khứ và tương lai. Còn những cơn cám dỗ vẫn là ngày hôm qua và ngày mai. Nhưng, Thiên Chúa hằng luôn nhắc nhở chúng ta. Người thì thầm bên tai: Hôm nay, con ạ!
Vậy, một khi nghe theo tiếng Chúa, chúng ta hãy sống phút giây hiện tại với lòng hăng say, trung thành và sinh động. Hãy nhìn xem, hãy lắng nghe, hãy hành động và hãy sống phút giây hiện tại mà có người gọi là "bí tích" (The sacrament of the present moment). Có như thế, chúng ta mới thật sự bắt đầu bước vào con đường chiêm niệm và mới hy vọng đạt tới được đỉnh cao của đời sống chiêm niệm.
admin
04-09-2006, 04:32 PM
3. KỸ THUẬT CHIÊM NIỆM
Kỹ thuật chiêm niệm có thể được ví như việc lau sạch một tấm gương soi và khi được sạch bụi, tấm gương ấy sẽ phản chiếu hình ảnh một cách trung thực hơn. Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề đơn giản, bởi vì trong nhiều trường hợp, hoặc quá dơ bẩn, hoặc không được lau sạch, tấm gương sẽ không thể phản chiếu hình ảnh một cách rõ ràng được. Con đường chiêm niệm của chúng ta, cũng có nhiều trở ngại như thế, và muốn lướt thắng được những trở ngại này không phải là điều dễ dàng. Ðó không phải là công việc của ngày một ngày hai, nhưng là của cả một đời... điều cần khẳng định ngay là tất cả những chướng ngại vật ấy không phải hoàn toàn do bàn tay Thiên Chúa xếp đặt, mà trái lại là sản phẩm của chính bản thân con người chúng ta tạo nên.
Một trong những chướng ngại vật đầu tiên phải kể ra, đó là sự lo ra, chia trí. Cần phải có một kỹ thuật tinh vi lắm mới có thể vượt qua được trở ngại này. Ðiều tiên quyết là chúng ta phải chú ý tập trung tư tưởng và phải luyện tập nhiều lần để đi tới thành công, dù là một sự thành công chưa đạt tới mức độ hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quá quan tâm đến sự lo ra chia trí đang theo đuổi chúng ta, vì khi chúng ta quan tâm đến là lúc chúng ta thực sự chia trí mất rồi! Vậy, nguyên tắc tốt nhất là hãy bình tĩnh và hãy cứ để những tư tưởng ngoài lề đó phảng phất quanh mình một chút, rồi tập trung tư tưởng vào trọng tâm của vấn đề chiêm niệm. Chỉ cần một giây lát, những lo ra, chia trí kia sẽ tan đi, tựa như một đám mây dần dần tan biến giữa bầu trời mùa hạ.
Trên con đường chiêm niệm, chỉ những trở ngại thực sự mới đáng ngại và rất khó loại bỏ, vì chúng ở ngay trong chính bản thân chúng ta: đó là những cơn cám dỗ, những khó khăn nội tại, cũng như ngoại tại. Tuy nhiên, đây chính là dịp mà chúng ta có thể dùng như bàn đạp để nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa; đây cũng là cơ hội để chúng ta hết hợp với Người cách mật thiết hơn, bằng cách giục lòng tin cậy, với một tinh thần mến yêu và phó thác. Những thời gian lỡ mất sẽ được đền bù lại bằng việc gia tăng lòng sốt mến. Lúc đó, đức tin của chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn, đức cậy sẽ vững bền hơn và đức mến sẽ thiết tha hơn. Ngoài ra, những lầm lỗi hay những khuyết điểm trong đời sống hằng ngày của chúng ta cũng có thể là những trở ngại cho việc chiêm niệm. Ðó là những vết bẩn và có khi là những rạn nứt trên tấm gương. Khi bắt đầu chiêm niệm, chúng ta sẽ nhận thấy những lầm lỗi đó quả là nghiêm trọng, gây nhiều khó khăn, đồng thời làm cho những cố gắng của chúng ta trở nên vô hiệu, và như thế, chúng ta khó lòng tập trung tư tưởng để tiến đến tình trạng tĩnh tâm thực sự.
Vì vậy, những tâm hồn muốn sống đời chiêm niệm cần phải luôn luyện tập, trau dồi các nhân đức, tuân giữ các giới răn, kính sợ Thiên Chúa đồng thời tuyệt đối tin tưởng ở nơi Người, tránh xa các dục vọng và nhất là luôn sống trong tâm tình nghèo khó thiêng liêng. Ở đây, chúng ta có thể tự hỏi: thế nhưng việc tập tành các nhân đức nào có quan hệ gì đến sự chiêm niệm? Thực ra, giữa hai phạm trù này không những đã có một sự quan hệ mà sự quan hệ đó còn mật thiết nữa, bởi vì việc tập tành các nhân đức giúp cho người sống đời chiêm niệm luôn ở trong thái độ "chuẩn bị sẵn sàng để lãnh nhận", lãnh nhận chính Thiên Chúa và Tình yêu của Người.
admin
04-09-2006, 04:34 PM
4. CHIÊM NIỆM TRONG NƠI CÔ TỊCH
Một trong nét chính trong đời sống chiêm niệm theo giáo huấn của Giáo hội là sự "rút lui vào sa mạc". Khi dạy các môn đồ của Ngài cầu nguyện. Chúa Giêsu đã bảo: "Hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh" (Mt 6,6). Và trong cuộc đời rao giảng công khai, Ngài cũng đã từng thực hiện chính điều Ngài đã truyền dạy: Ngài vào sa mạc, ăn chay, cầu nguyện và chịu cám dỗ (x. Mt 4,1-11); Ngài trốn lên núi cầu nguyện một mình khi chiều về (Mt 14,23).
Từ xa xưa, đã có rất nhiều vị Thánh cũng từng rút lui vào sa mạc như vậy. Thánh Phaolô tông đồ, sau khi trở lại, đã vào nơi cô tịch để học biết thánh ý Chúa. Các thánh Tổ phụ sa mạc -như thánh Antôn-, vì lòng chiêm niệm, đã tìm đến cư ngụ trong nơi sa mạc; các Thánh Biển đức, Têrêxa thành Avila, Gio-an Thánh giá... chuyên sống đời chiêm niệm cũng vậy. Vị thánh nghèo Phanxicô thành At-xi-di, sau những cuộc giảng thuyết, cũng đã từng rút lui ra ngoại thành, tìm đến Alverna, một nơi cô tịch ở phía bắc thành Assisi để tĩnh tâm, và chính tại nơi đây, ngài được phúc in 5 dấu đanh. Rồi đến tác giả sách "Gương Chúa Giê-su" cũng đã khuyên dạy chúng ta nên tìm nơi hoang vắng để chiêm niệm và học hỏi gương của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta...
Ngày nay, mặc dù hoàn cảnh sống cần phải được thích nghi cho phù hợp với thời đại, nhưng không vì thế mà đời sống chiêm niệm mất đi chân giá trị của nó. Trái lại, có một sự kiện rất ngoạn mục và lý thú, đó là: giữa một thế giới đang theo đà trần tục hóa, một thế giới đầy hưởng thụ và tiêu thụ, một thế giới trong đó con người chỉ thích chạy theo các tiện nghi vật chất, nhất là trong khoảng thời gian 40 năm gần đây - lại đã nảy sinh một ý thức hệ quan tâm đặc biệt đến đời sống suy niệm và chiêm niệm (chúng ta có thể nêu lên ở đây những cộng đoàn huynh đệ dòng Ba Phan Sinh làm tiêu biểu). Ngoài ra, Kinh Thánh và các loại sách tôn giáo đã được sử dụng rất nhiều. Hiện nay Kinh Thánh đã được in ra trên 1800 ngôn ngữ và người ta đang soạn dịch sang 5000 thổ ngữ khác nữa. Do đó, Kinh Thánh hiện đang là loại sách bán chạy nhất trên khắp thế giới! Cả trong nước Xã hội Chủ Nghĩa, Kinh Thánh cũng đã được nhìn nhận là "một kho tàng quý giá của nhân loại" (Báo Nhân Dân tháng 10/1982). Như thế, đời sống chiêm niệm ngày nay hẳn đã vượt qua bốn bức tường của các Ðan viện và Tu viện và khả năng chiêm niệm đã được mở ra cho bất cứ những ai muốn trở về với Ðức Kitô, muốn đóng cửa lại và cầu nguyện với Chúa Cha trong thầm kín. Những chiều cuối tuần, đây đó đã dấy lên phong trào các nhóm người đi tìm nơi vắng vẻ để chiêm niệm. Có người, một mình lặng lẽ, tìm gặp Chúa trên bãi biển, bên dòng sông, trong căn phòng nhỏ ấm cúng, hoặc ở giữa thánh đường rộng lớn trang nghiêm... Có những người khác lại họp thành từng nhóm hay từng cộng đoàn vui nhộn hơn, sống động hơn... Nhưng tất cả họ có một điểm chung, đó là qui hướng về chiều sâu nội tâm, điều này có nghĩa là giữa cảnh huyên náo, rộn ràng của nhịp sống thường ngày, chúng ta phải biết dành khoảng thời gian cho Thiên Chúa, đồng thời cũng cần phải biết luyện tập tinh thần tương thân tương trợ, để biết nhìn và biết quan tâm đến vấn đề lớn như nạn nghèo đói của thế giới thứ ba... Càng ngày con người càng nhận ra rằng đời sống chiêm niệm thật sự là một món quà của Thiên Chúa và con người đã biết sẵn sàng mở cửa lòng mình để đón nhận chính Thiên Chúa, trong suy niệm và chiêm niệm, con người như nghe được tiếng nói của Thiên Chúa vang vọng từ đáy thẳm sâu của tâm hồn mình: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con" (Lc 15,31).
Con đường chiêm niệm là một cuộc hành trình và tất cả những ai sống đời chiêm niệm đều là những khách bộ hành. Vậy nếu muốn tìm gặp Thiên Chúa, chúng ta phải ra đi, đi vào sa mạc, vừa đi vừa học hỏi, và chắc chắn không có phần nào trong cuộc hành trình của chúng ta trở nên vô ích. Trong cuộc hành trình này, chúng ta sẽ được hiểu biết nhiều hơn về chính bản thân mình và về chính Thiên Chúa, vì Thiên Chúa sẽ mặc khải Người cho chúng ta; đồng thời chúng ta sẽ được dẫn lên núi Chúa Giê-su hiển dung, nơi mà các môn đệ của Ngài ngày xưa đã từng chứng kiến vinh quang của Ngài, đã học biết thêm về đời sống vĩnh cửu, và thực sự lúc ấy không còn đức tin nữa, mà chỉ còn là thực tại. Chúng ta hãy mau lên đường, ra đi trong tinh thần khó nghèo. Chính lòng yêu mến bừng cháy trong con tim sẽ thôi thúc chúng ta vững tiến. Và rồi... con đường chiêm niệm sẽ dẫn đưa chúng ta đến nơi trông thấy và hiểu biết.
admin
04-09-2006, 04:37 PM
5. NHỮNG NGƯỜI SỐNG ÐỜI CHIÊM NIỆM
Từ bao nhiêu thế kỷ nay, các tu sĩ nam nữ sống đời chiêm niệm đã hiện hữu trong Giáo Hội. Cuộc sống của các tu sĩ này rất bình thường, ngày ngày chuyên tâm cầu nguyện. Họ cũng lao động và cũng thực hiện những công việc mang lại lợi ích chung. Tất cả những công việc họ làm đều có tính chất cầu nguyện! Tuy nhiên, sự hiện diện của các tu sĩ nam nữ sống đời chiêm niệm này đã gây nên thắc mắc cho nhiều người trong thời đại chúng ta ngày nay. Họ tự hỏi: tại sao các vị tu sĩ ấy lại có thể giam mình trong bốn bức tường tu viện như thế? Tại sao các vị này không tích cực tham gia vào việc xây dựng xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho con người?
Thực ra, nhìn vào dòng lịch sử, chúng ta nhận thấy các tu sĩ sống đời chiêm niệm đã đóng góp rất nhiều công sức vào công việc xây dựng xã hội loài người. Chính các vị đó cũng đã từng chống lại những bạo chúa, đã từng đương đầu với những kẻ xâm lăng... Các vị cũng đã từng giúp cho bao nhiêu dân tộc trở lại và đã mở mang văn hóa cho biết bao người. Nhìn về lịch sử Âu Châu, chúng ta thấy: phần đông những vị đã sáng lập ra các trường đại học (như đại học Sorbonne ở Pháp, đại học Oxford ở Anh) là những thầy dòng và chính các thầy dòng như Tôma thành Aquinô, Phanxicô Xaviê... đã là những giáo sư đại học.
Sự kiện trên đây giúp chúng ta nhận ra được sự hiện hữu của các dòng tu chiêm niệm. Ðối với những người không tin tưởng vốn chẳng bao giờ chấp nhận những gì mà họ không thể chứng minh được một cách trực tiếp, thì đời sống chiêm niệm quả là vô ích. Tuy nhiên, chúng ta chẳng cần phải bàn cãi với họ! Chỉ biết rằng là những người tin tưởng, chúng ta không những mạnh dạn từ chối không nhìn nhận quan điểm cho rằng chỉ những gì có thể cảm nghiệm được mới là hiện thực, nhưng chúng ta còn xác tín thêm rằng: thực sự đã có những thực tại vượt quá những gì mà con người có thể xem thấy hoặc sờ mó được ở trên trần gian này. Riêng đối với những người sống đời chiêm niệm, trong kinh nghiệm bản thân, họ đã được hé mở cho thấy phần nào những thực tại lớn lao hơn; hay ít ra, họ đã cảm thấy sự hiện hữu của những thực tại này được pha trộn với những thực tại của thế giới hữu hình.
Vấn đề chúng ta muốn bàn đến ở đây là những gì mắt trần không thể thấy thì vượt quá kinh nghiệm thường ngày của con người và những gì mắt trần không thể thấy, đó là một sự kiện có thật, rất gần gũi chúng ta. Người có đức tin tin rằng thế giới này được kết cấu bởi thần khí mắt trần không thể thấy. Họ cũng tin rằng các thiên thần nghe được hết những điều con người nói và khi con người cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ ở bên cạnh và lắng nghe lời họ. Chiều kích của những điều không trông thấy này chính là chiều kích thực. Ðó chẳng phải là mơ hồ, cũng chẳng phải là ảo tưởng, nhưng là những hình ảnh huyền nhiệm chỉ huy đời sống và quy định cho bất cứ điều gì sẽ xảy ra tại trần gian này. Và sự hiện hữu thật sự tùy thuộc vào chiều kích không trông thấy chứ không phải do mức độ hiện hữu trông thấy trước mắt.
Thật vậy, đời sống chiêm niệm không phải là vô ích, bởi vì, bất cứ ở đâu, bất cứ tại một điểm nào trên trái đất này, nếu có một người nào đó đang cầu nguyện, người ấy sẽ trở thành một điểm tiếp xúc giữa trời và đất, thành một tấm gương phản chiếu ánh sáng của Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng vũ trụ, mà nếu không có ánh sáng phản chiếu này, thế giới của chúng ta sẽ bị chìm ngập trong bóng tối âm u vô tận...
Đamien
08-09-2006, 04:52 PM
6. SỰ CHIÊM NGẮM THIÊN NHIÊN
"Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
Không trung loan báo việc người làm"(Tv. 18.2)
Một nhà học giả nọ, trong dịp ghé thăm Thánh Antôn (251-356), vị Thánh ẩn tu thời danh miền sa mạc Ai-cập, đã ngạc nhiên hỏi người rằng: "Thưa cha, tại sao cha lại vui sống được trong chốn sa mạc hoang vu này, nơi mà cha đã không có lấy một cuốn sách để đọc? hay là cha không có thú vui đọc sách?" Thánh nhân từ tốn trả lời: "Thưa ông triết gia, ông lầm rồi! Tôi thích đọc sách lắm chứ và bên mình tôi luôn luôn có sẵn một cuốn sách mà tôi có thể đọc bất cứ vào lúc nào tôi thích: đó là cuốn sách "Thiên Nhiên", cuốn sách các tạo vật !"
Thật vậy, thiên nhiên và tất cả các tạo vật sống trong đó là cuốn sách rất đầy đủ, hoàn toàn phong phú và sống động. Ðây là một cuốn sách vô giá mà chúng ta, những người đang sinh sống trong thời đại này, cần phải gìn giữ như một báu vật, đồng thời phải biết tận dụng sự ích lợi vô vàn của nó. Chính thánh Antôn đã chân nhận ra điều này. Ngài đã biết sử dụng cuốn sách quí ấy như con đường dẫn đến Thiên Chúa, con đường chiêm niệm, và chắc chắn không phải vì tình cờ mà giữa vùng sa mạc nóng bỏng đó, ngày ngày vẫn vang lên tiếng ca tụng, cảm tạ Thiên Chúa.
Nói đến chiêm niệm, chúng ta hiểu ngay đến việc chiêm ngắm Thiên Chúa một cách trực tiếp, không cần phải thông qua một hình ảnh hay một tư duy nào. Ðó là sự cảm nghiệm trực tiếp và là sự kết hợp mật thiết với Người. Sự chiêm ngắm trực tiếp này đòi hỏi nhiếu cố gắng để tập trung tư tưởng, ý nghĩ, để loại bỏ những lo ra, chia trí bên ngoài, và dĩ nhiên, cần đến nhiều ân sủng Chúa ban. Ðối với chúng ta -những người chưa đủ khả năng để đạt tới hoặc chưa quen nhiều với mức độ chiêm ngắm này- chúng ta có thể sử dụng đường lối chiêm ngắm tự nhiên, còn được gọi là sự chiêm ngắm "thiên nhiên". Ðây là sự chiêm ngắm ở mức độ thấp hơn, chắc chắn sẽ rất thích hợp với khả năng và vừa với tầm tay của nhiều người trong chúng ta.
Chiêm ngắm thiên nhiên là đón nhận tất cả các tạo vật như là "bí tích" của sự hiện diện của Thiên Chúa, là nhìn thấy Người trong mọi sự vật và mọi sự vật trong chính Người. Cầm một viên đá trên tay, chúng ta có thể nhận ra Người ở trong đó. Nhìn một cánh chim bay, chúng ta vẫn nhận ra Người. Ngay cả khi bổ đôi trái đất này ra, chúng ta cũng còn thấy Người hiện diện... Vì thế, người chiêm niệm là người sống phút giây hiện tại, trong thời gian này và trong khoảng không gian này. Có nghĩa là người ấy đang sống trong thế giới hữu hình, với đôi mắt luôn mở rộng, với đôi tai luôn lắng nghe để ý thức được công cuộc của Thiên Chúa, Ðấng tác tạo vũ trụ. Người hiện diện ở khắp mọi nơi.
Chúng ta đừng lầm tưởng rằng chỉ khi nào chúng ta bước vào nhà thờ, nhìn lên các ảnh tượng trước mặt hoặc xung quanh mình, hít thở bầu không khí của thế giới trang nghiêm, linh thiêng đó, chúng ta mới cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải chỉ hiện diện nơi các ảnh tượng bên trong nhà thờ, nhưng Người còn hiện cả ở bên ngoài nhà thờ, trong thế giới hữu hình. Trong mọi sự vật, mọi sinh vật, trong những con người sống động mà hằng ngày chúng ta vẫn thường gặp gỡ, tiếp xúc, chung đụng. Tất cả các tạo vật đó, một phần nào, cũng đã mang tính cách thánh thiện như các ảnh tượng bên trong nhà thờ. Với ý nghĩ này, chúng ta sẽ hiểu được rằng thiên nhiên và các tạo vật giống như một cuốn sách đã mở sẵn, kể cho chúng ta nghe về Thiên Chúa, giúp chúng ta nhận ra Người, để cùng nhau dâng lời ca tụng, ngợi khen, cảm tạ Người, đồng thời, cùng biểu lộ một niềm hân hoan vui sướng vì sự hiện diện của Người. Ðây cũng chính là ý nghĩa sâu xa nhất của sự chiêm ngắm thiên nhiên.
Trong tập "Bút ký viết trong một đường hầm" xuất bản năm 1861, Fedor Dostoïevsky (1821-1881), nhà văn hào Nga, đã mô tả con người sa ngã, xa lìa Thiên Chúa như sau: "Chúng ta cứ cho rằng con người không ngu si. Ừ, nếu con người không ngu si thì con người hẳn là một vật vô ơn nhất thế giới, vô ơn không thể tưởng được! Và tôi nghĩ rằng muốn định nghĩa thật chính xác "Con người là gì?", chúng ta phải định nghĩa thế này: "Con người là một vật có hai chân và hoàn toàn không có một ý niệm nào về sự biết ơn cả". Chỉ có con người mới biết nguyền rủa. Ðó là một đặc tính của con người và là điểm chính yếu để có thể phân biệt con người với các tạo vật khác...".
Xét về một phương diện nào đó, câu định nghĩa của Dostoïevsky về con người quả thật quá gay gắt. Nếu đứng trong trường hợp của một người chiêm niệm thì câu định nghĩa ấy hoàn toàn sai. Chúng ta phải dám nói ngược lại: "Ðịnh nghĩa chính xác nhất về con người và đặc tính siêu việt của con người trên các loại thụ tạo khác, đó là sự biết ơn". Thật vậy, chỉ có con người mới có khả năng ca ngợi, chúc tụng, và người chiêm niệm, trên con đường dẫn đến Thiên Chúa, phải đi qua chặng đường tri ân và cảm tạ. Ðó là khởi thủy, là giai đoạn đầu của chiêm niệm để chúng ta nhận ra Thiên Chúa trong mọi sự và mọi sự trong Người.
"Khi mọc lên, mặt trời trông giống như một đĩa lửa, hay cũng giống như một đồng tiền lớn, phải không các bạn?
Nhưng tôi xin thưa rằng: "Không phải thế!"
Khi mặt trời mọc lên,
Tôi thấy vô số các Thiên Thần
và các ngài đang ca hát:
"Thánh, Thánh, Thánh!"
Thiên Chúa là Ðấng quyền phép vô song!"
(William Blake)
Đamien
09-09-2006, 08:51 AM
PHẦN HAI:
ÐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
7. CẦU NGUYỆN (bài 1)
Khi nghe lời mời gọi "Hãy theo Thầy", các môn đệ, dù đang ở trong hoàn cảnh nào, cũng đã từ bỏ tất cả để đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (x. Mt. 4,18-22; 9,9). Cũng bắt đầu từ đó, Chúa Giêsu đã cùng chia sẻ cuộc sống với các môn đệ của Ngài trong tình nghĩa Thầy trò rất sâu đậm...
Theo Ngài trong suốt cuộc đời rao giảng công khai, các môn đệ của Ðức Giêsu vẫn thường để ý quan sát, tìm hiểu con người thật của Thầy mình và một trong những điều mà các ông tò mò muốn biết, đó là xem Thầy mình có hay cầu nguyện không và Thầy cầu nguyện như thế nào. Cho đến một ngày kia, một người trong các ông đã mạnh dạn xin Ðức Giêsu chỉ dạy cho cách cầu nguyện. Ngài đã dạy cho các ông kinh: "Lạy Cha" mà cho đến nay chúng ta vẫn đọc hàng ngày: "Lạy Cha, chúng con ở trên trời..." (x. Lc 11,1-4), Ngài đã không dạy các ông thưa gì cùng Chúa Cha cũng được, nhưng Ngài đã dạy kinh "Lạy Cha", bởi vì nói đến cầu nguyện tức là nói đến sự liên lạc mật thiết giữa con người với Thiên Chúa. "Thiên Chúa yêu thương chúng ta", đó là căn bản của tất cả những lời cầu nguyện !
Từ khi con người được tạo dựng nên giống hình ảnh của Người, Thiên Chúa đã ban cho con người ơn biết sử dụng ngôn ngữ, để con người có thể quan hệ hiệp thông với nhau và với chính Thiên Chúa. Một điều tự nhiên và rất dễ hiểu, là khi chúng ta muốn quan hệ với Thiên Chúa, nghĩa là muốn kết hợp thân tình với Người bằng sự cầu nguyện, chúng ta có thể sử dụng ngôn ngữ như phương tiện căn bản và cần thiết để ca ngợi, tôn vinh, cảm tạ Người. Nhìn vào dòng lịch sử, và theo kinh nghiệm của con người qua các thời đại, chúng ta nhận thấy rằng con người đã biết sử dụng ngôn ngữ để cầu nguyện trước khi những lời cầu nguyện này được ghi vào sách vở. Ðối với các Kitô hữu cũng như đối với những người ngoài Kitô-giáo, sự kiện trên đây đều giống nhau. Ðức Giêsu cũng đã từng lớn lên trong truyền thống của các Thánh vịnh. Những đoạn trích của Lề Luật và của các Ngôn Sứ, đặc biệt là của các Thánh vịnh, là một kho tàng cầu nguyện: khi van lơn, khi ca tụng, lúc thở than, lúc tôn vinh Thiên Chúa... Trong những lần cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha để tìm hiểu và thi hành theo thánh ý của Người, Ðức Giêsu cũng đã dùng đến kho tàng vô giá ấy. Ðến cuối đời, lúc đang hấp hối trên Thập giá, Ngài vẫn còn dùng lời Thánh vịnh để kêu lên "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Tv 21,2; Mt 27,46). Như vậy, sử dụng ngôn ngữ để cầu nguyện là một điều cần thiết và có tính cách lâu dài. Chúng ta có thể cầu nguyện lớn tiếng, hoặc thì thầm, hoặc hát một bài ca...
Về điểm này, Giáo hội cũng đã đưa ra những phương thức cầu nguyện như các giờ kinh Phụng vụ, để tất cả mọi người cùng hợp ý cầu nguyện với nhau, hoặc một phương thức rất bình dân là lần chuỗi Mân Côi. Qua những lời kinh "Lạy Cha", "Kính mừng" trong chuỗi Mân Côi này, chúng ta suy niệm về các mầu nhiệm của Ðức Giêsu và của Mẹ Maria. Ðó là lời kinh có thể giúp chúng ta quy hướng tâm hồn về với Thiên Chúa một cách sáng suốt hơn.
Một vị linh mục nọ, trong dịp đi thăm các giáo dân ở một vùng cao nguyên hẻo lánh tại Ái Nhĩ Lan, đã được tiếp xúc với một bà cụ già đã từ lâu lắm không hề bước ra khỏi nhà. Khi vị linh mục hỏi bà có hay cầu nguyện không, bà ngần ngại trả lời:
-Thưa cha, không chắc lắm.
-Thế cụ có lần chuỗi không? -Vị linh mục hỏi tiếp.
-Thưa, không ạ!
Vị linh mục ngạc nhiên nói với bà:
-Cụ không hề đi đâu ra khỏi nhà, chắc chắn cụ phải có nhiều thời gian để cầu nguyện chứ? Thế mà cụ không cầu nguyện cũng chẳng lần chuỗi sao?
-Thưa Cha, con rất muốn lần chuỗi, nhưng lại không thể được, bởi vì mỗi lần con bắt đầu đọc mấy tiếng "lạy Cha chúng con" thì con không thể đọc tiếp được nữa. Lần nào cũng vậy, tự nhiên con muốn dừng lại để suy niệm...
Như vậy, mỗi người chúng ta đều có phương thức riêng cầu nguyện và tất cả các phương thức cầu nguyện ấy đều giúp chúng ta quy hướng về Thiên Chúa. Sự cầu nguyện của chúng ta cũng giống như một cuộc trò chuyện của hai người bạn thân tình. Ðôi khi không cần nhiều lời mà hai người vẫn có thể hiểu được nhau. Ðối với Thiên Chúa cũng vậy -và chắc chắn còn hơn thế nữa- Người chẳng cần chúng ta phải nói nhiều lời hoặc dài dòng. Một sự thinh lặng, một ánh mắt biểu hiện, một niềm tin sâu xa và một tâm tình yêu mến thiết tha cũng đủ để Người thấu hiểu lòng chúng ta.
Cầu nguyện đem lại cho chúng ta niềm bình an, lòng yêu mến và sự liên kết thánh thiện. Thật vậy, khi cầu nguyện, chúng ta an tâm vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, đồng thời cũng chính nhờ những phút giây cầu nguyện này mà chúng ta tạo nên được một bầu khí yêu thương thân tình giữa chúng ta với Thiên Chúa và sự hiệp nhất giữa chúng ta với nhau. Trong niềm xác tín đó, chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện và cầu nguyện liên lỉ, để tình yêu Thiên Chúa thấm nhập vào hồn xác chúng ta và để Tình Yêu Tuyệt Ðối của Người ngự trị trên toàn thể nhân loại.
Đamien
09-09-2006, 08:52 AM
PHẦN HAI:
ÐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
7. CẦU NGUYỆN (bài 1)
Khi nghe lời mời gọi "Hãy theo Thầy", các môn đệ, dù đang ở trong hoàn cảnh nào, cũng đã từ bỏ tất cả để đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (x. Mt. 4,18-22; 9,9). Cũng bắt đầu từ đó, Chúa Giêsu đã cùng chia sẻ cuộc sống với các môn đệ của Ngài trong tình nghĩa Thầy trò rất sâu đậm...
Theo Ngài trong suốt cuộc đời rao giảng công khai, các môn đệ của Ðức Giêsu vẫn thường để ý quan sát, tìm hiểu con người thật của Thầy mình và một trong những điều mà các ông tò mò muốn biết, đó là xem Thầy mình có hay cầu nguyện không và Thầy cầu nguyện như thế nào. Cho đến một ngày kia, một người trong các ông đã mạnh dạn xin Ðức Giêsu chỉ dạy cho cách cầu nguyện. Ngài đã dạy cho các ông kinh: "Lạy Cha" mà cho đến nay chúng ta vẫn đọc hàng ngày: "Lạy Cha, chúng con ở trên trời..." (x. Lc 11,1-4), Ngài đã không dạy các ông thưa gì cùng Chúa Cha cũng được, nhưng Ngài đã dạy kinh "Lạy Cha", bởi vì nói đến cầu nguyện tức là nói đến sự liên lạc mật thiết giữa con người với Thiên Chúa. "Thiên Chúa yêu thương chúng ta", đó là căn bản của tất cả những lời cầu nguyện !
Từ khi con người được tạo dựng nên giống hình ảnh của Người, Thiên Chúa đã ban cho con người ơn biết sử dụng ngôn ngữ, để con người có thể quan hệ hiệp thông với nhau và với chính Thiên Chúa. Một điều tự nhiên và rất dễ hiểu, là khi chúng ta muốn quan hệ với Thiên Chúa, nghĩa là muốn kết hợp thân tình với Người bằng sự cầu nguyện, chúng ta có thể sử dụng ngôn ngữ như phương tiện căn bản và cần thiết để ca ngợi, tôn vinh, cảm tạ Người. Nhìn vào dòng lịch sử, và theo kinh nghiệm của con người qua các thời đại, chúng ta nhận thấy rằng con người đã biết sử dụng ngôn ngữ để cầu nguyện trước khi những lời cầu nguyện này được ghi vào sách vở. Ðối với các Kitô hữu cũng như đối với những người ngoài Kitô-giáo, sự kiện trên đây đều giống nhau. Ðức Giêsu cũng đã từng lớn lên trong truyền thống của các Thánh vịnh. Những đoạn trích của Lề Luật và của các Ngôn Sứ, đặc biệt là của các Thánh vịnh, là một kho tàng cầu nguyện: khi van lơn, khi ca tụng, lúc thở than, lúc tôn vinh Thiên Chúa... Trong những lần cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha để tìm hiểu và thi hành theo thánh ý của Người, Ðức Giêsu cũng đã dùng đến kho tàng vô giá ấy. Ðến cuối đời, lúc đang hấp hối trên Thập giá, Ngài vẫn còn dùng lời Thánh vịnh để kêu lên "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Tv 21,2; Mt 27,46). Như vậy, sử dụng ngôn ngữ để cầu nguyện là một điều cần thiết và có tính cách lâu dài. Chúng ta có thể cầu nguyện lớn tiếng, hoặc thì thầm, hoặc hát một bài ca...
Về điểm này, Giáo hội cũng đã đưa ra những phương thức cầu nguyện như các giờ kinh Phụng vụ, để tất cả mọi người cùng hợp ý cầu nguyện với nhau, hoặc một phương thức rất bình dân là lần chuỗi Mân Côi. Qua những lời kinh "Lạy Cha", "Kính mừng" trong chuỗi Mân Côi này, chúng ta suy niệm về các mầu nhiệm của Ðức Giêsu và của Mẹ Maria. Ðó là lời kinh có thể giúp chúng ta quy hướng tâm hồn về với Thiên Chúa một cách sáng suốt hơn.
Một vị linh mục nọ, trong dịp đi thăm các giáo dân ở một vùng cao nguyên hẻo lánh tại Ái Nhĩ Lan, đã được tiếp xúc với một bà cụ già đã từ lâu lắm không hề bước ra khỏi nhà. Khi vị linh mục hỏi bà có hay cầu nguyện không, bà ngần ngại trả lời:
-Thưa cha, không chắc lắm.
-Thế cụ có lần chuỗi không? -Vị linh mục hỏi tiếp.
-Thưa, không ạ!
Vị linh mục ngạc nhiên nói với bà:
-Cụ không hề đi đâu ra khỏi nhà, chắc chắn cụ phải có nhiều thời gian để cầu nguyện chứ? Thế mà cụ không cầu nguyện cũng chẳng lần chuỗi sao?
-Thưa Cha, con rất muốn lần chuỗi, nhưng lại không thể được, bởi vì mỗi lần con bắt đầu đọc mấy tiếng "lạy Cha chúng con" thì con không thể đọc tiếp được nữa. Lần nào cũng vậy, tự nhiên con muốn dừng lại để suy niệm...
Như vậy, mỗi người chúng ta đều có phương thức riêng cầu nguyện và tất cả các phương thức cầu nguyện ấy đều giúp chúng ta quy hướng về Thiên Chúa. Sự cầu nguyện của chúng ta cũng giống như một cuộc trò chuyện của hai người bạn thân tình. Ðôi khi không cần nhiều lời mà hai người vẫn có thể hiểu được nhau. Ðối với Thiên Chúa cũng vậy -và chắc chắn còn hơn thế nữa- Người chẳng cần chúng ta phải nói nhiều lời hoặc dài dòng. Một sự thinh lặng, một ánh mắt biểu hiện, một niềm tin sâu xa và một tâm tình yêu mến thiết tha cũng đủ để Người thấu hiểu lòng chúng ta.
Cầu nguyện đem lại cho chúng ta niềm bình an, lòng yêu mến và sự liên kết thánh thiện. Thật vậy, khi cầu nguyện, chúng ta an tâm vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, đồng thời cũng chính nhờ những phút giây cầu nguyện này mà chúng ta tạo nên được một bầu khí yêu thương thân tình giữa chúng ta với Thiên Chúa và sự hiệp nhất giữa chúng ta với nhau. Trong niềm xác tín đó, chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện và cầu nguyện liên lỉ, để tình yêu Thiên Chúa thấm nhập vào hồn xác chúng ta và để Tình Yêu Tuyệt Ðối của Người ngự trị trên toàn thể nhân loại.
Đamien
09-09-2006, 08:59 AM
8. CẦU NGUYỆN (bài 2)
<O:p</O:p
"Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả" (Rm 8, 26).
Cầu nguyện là một trong những khía cạnh đơn sơ nhất, nhưng cũng phức tạp nhất của đời sống Kitô. Nếu định nghĩa một cách đơn giản thì cầu nguyện là mở lòng ra với Thiên Chúa, cùng dâng lên Người tất cả những gì chất chứa trong trái tim của chúng ta và đồng thời tiếp nhận từ nơi Người những gì cần thiết cho bản thân của chúng ta.
Có nhiều cách thức cầu nguyện: cầu nguyện chung, cầu nguyện riêng, cầu nguyện bên ngoài, bằng lời nói, cầu nguyện bên trong, trong thinh lặng, cầu nguyện bằng những lời kinh có sẵn, cầu nguyện bột phát từ đáy lòng. Ðó là những khía cạnh của một sự đơn sơ căn bản! Thực ra, cầu nguyện là một hành động rất phức tạp, bởi vì chúng ta thật sự chẳng bao giờ có thể dùng lời nói để biểu lộ một cách trọn vẹn ra bên ngoài những điều mà chúng ta cảm nghiệm tự đáy lòng, cũng như chúng ta chẳng bao giờ có thể trình bày rõ hết được những điều mà chúng ta thực sự muốn diễn tả. Giả như cần phải diễn tả bằng lời nói hết những cảm tình sâu đậm nhất trong tâm hồn, hẳn chúng ta sẽ chẳng bao giờ có khả năng thưa chuyện cùng Thiên Chúa. Chính vì thế mà Thánh Phaolô Tông Ðồ, trong thư gửi tín hữu Roma, đã khuyên dạy họ -và cả chúng ta nữa- hãy cầu nguyện với sự nâng đỡ và trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Chính Người sẽ giúp dâng lên Thiên Chúa những lời than van mà tự chúng ta không thể thốt nên lời. Ðiều này quả là rất xác thực, mặc dù chúng ta không biết được nó đã xảy ra như thế nào?
Thật vậy, vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống cầu nguyện của chúng ta rất quan trọng. Chúng ta hãy khởi sự cầu nguyện bằng chính sự trợ giúp của Người, và nhờ Người, chúng ta có thể dễ dàng thưa lên với Chúa tất cả các nỗi niềm sâu kín từ tận đáy lòng, tất cả những nguyện ước của trái tim, mà tự bản thân mình, chúng ta hoàn toàn không có đủ khả năng để bộc lộ!
Đamien
09-09-2006, 09:03 AM
9. CON ÐƯỜNG CẦU NGUYỆN
Trong bản "kinh cầu Chúa Giêsu" của Giáo Hội Chính Thống có lời kinh sau đây: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con vì con là người tội lỗi". Nếu mỗi ngày, chúng ta đọc lời kinh này, hoặc đọc bất cứ một kinh nào khác, thì điều gì sẽ xảy đến với chúng ta? Chúng ta có thể cảm nhận được một lợi ích nào qua những lời kinh như thế không?
Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là một sự quan hệ "liên bản vị", vừa mang tính cách cá nhân, vừa mang tính cách tập thể, cộng đoàn. Ðó là một cuộc gặp gỡ sống động, thoải mái giữa con người với Thiên Chúa, và vì thế, từ xưa đến nay đã không có một khuôn khổ, một mẫu mực nhất định và tiên quyết nào cho việc cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt hai cách cầu nguyện đơn giản như sau:
- Cầu nguyện cách lớn tiếng: Lời cầu nguyện được bộc lộ qua tiếng nói, qua lời kinh.
- Cầu nguyện trong thinh lặng: cầu nguyện bằng tâm trí, bằng tư duy, bằng suy niệm.
Cả hai cách cầu nguyện trên đều được hoàn thành bằng lòng yêu mến thiết tha.
Trong các giờ cầu nguyện - nhất là cầu nguyện chung, như giờ kinh sáng, tối - chúng ta thường dành nhiều thời gian cho việc đọc kinh. Nhưng nếu chúng ta chỉ đọc kinh thuộc lòng mà hoàn toàn không chú tâm, không có một ý thức nào về lời kinh đang đọc, thì đó không phải là lời cầu nguyện đích thực. Vì thế, ngay từ lúc bắt đầu những lời kinh chúng ta đọc cần phải được trở thành những lời kinh của trí khôn, nghĩa là chúng ta cần phải biết tập trung tư tưởng và ý nghĩa vào lời kinh, như lời thánh Gioan "Bậc thang" (Thánh Giáo phụ thuộc Giáo Hội chính thống Hy lạp) đã dạy: "Phải cố gắng đưa trí khôn vào lời kinh chúng ta đọc". Phải luôn chú ý đến những lời kinh, phải luôn ý thức rõ những gì mình đang đọc, để nhờ ơn Chúa những lời kinh sẽ trở nên có ý nghĩa hơn, thiết tha hơn, tâm tình hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn. Ở đây, chúng ta cần dừng lại để nhắc nhở cho mình lời phê bình của Ðức Giêsu về việc cầu nguyện của những người Pha-ri-sêu và luật sĩ: "Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta" (Mt 15, 7-8).
Lời kinh chúng ta đọc sẽ có giá trị nhờ vào sự ý thức của trí khôn chúng ta, và lời kinh ấy sẽ hoàn toàn hơn nữa khi chúng ta biết dùng trọn cả con tim đầy tin yêu phó thác để cầu nguyện. Ðó là cách cầu nguyện bằng trái tim. Lời cầu nguyện của chúng ta đi từ trí khôn đến trái tim, tạo nên một sự kết hợp tuyệt hảo và làm cho toàn thể con người chúng ta cùng rung lên một nhịp điệu đầy tin yêu trong cuộc gặp gỡ thân tình này. Ðây chính là lời cầu nguyện đích thực và chân thành nhất, một lời cầu nguyện thiêng liêng bằng cả trái tim, lời cầu nguyện xuất phát từ con người toàn diện, lời cầu nguyện có chiều sâu nội tâm hơn, và chắc chắn Thiên Chúa sẽ không nỡ chê chối tâm tình thiết tha này của các con cái Người !
Chúng ta vừa đề cập đến trái tim. Trái tim ở đây không chỉ đơn thuần là tình yêu hay những cảm xúc, nhưng nó còn là trung tâm thiêng liêng của con người toàn diện, là chính thực chất sâu xa, là chốn thâm cung của con người và là nơi Thiên Chúa ngự trị. Chiếm hữu được trái tim có nghĩa là đã chiếm hữu được trọn vẹn. Tìm đến chỗ của trái tim có nghĩa là đã đạt tới sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Tuy nhiên chúng ta đừng lầm lẫn rằng cách cầu nguyện bằng suy niệm, với một tâm tình yêu mến thiết tha là một điều có thể thực hiện được một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Thực ra, đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó sẽ là một công việc vất vả của cả một đời! Ngay đã đến khi gần bước tới ngưỡng cửa của tử thần, chúng ta có thể vẫn nhận thấy rằng mình chưa tiến xa hơn bao nhiêu. Vì thế, dù cầu nguyện cách lớn tiếng hay cầu nguyện trong thinh lặng, chúng ta cần phải luôn tập trung tư tưởng và ý nghĩ vào đó. Phải chú tâm vào lời kinh chúng ta đang đọc cũng như vào đề tài chúng ta đang suy niệm. Bất cứ một lời kinh nào, bất cứ một đề tài suy niệm nào, chúng ta cũng cần phải đặt hết tâm trí để thực hiện. Rồi điều gì sẽ xảy ra vào lúc nào, đó là công việc của ân sủng, do ý định của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể quả quyết, xác tín điều này là Thiên Chúa sẽ không bao giờ thờ ơ lạnh nhạt trước tấm lòng thành tín của chúng ta.
Dầu vậy, chúng ta cũng đừng nghĩ rằng việc cầu nguyện đòi hỏi một kỹ thuật tinh vi và phức tạp lắm. Thực ra, khi cầu nguyện, chúng ta chỉ cần có một thái độ sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa, trong một tình yêu thật khiêm tốn, như lời khuyên sau đây của cha Makariô, một vị trưởng lão người Nga ở Ovkin:
"Bạn hãy cầu nguyện cách đơn sơ, khiêm tốn. Bạn đừng trông chờ một ơn đặc biệt nào đó có thể xảy ra để có thể giúp bạn biết cầu nguyện. Bạn hãy cứ nghĩ rằng chẳng bao giờ mình xứng đáng lãnh nhận được ơn đặc biệt ấy đâu. Và như thế, tâm hồn bạn sẽ được bình an".
Thật vậy, mỗi khi đọc kinh cầu nguyện, chúng ta cần phải đọc một cách chậm rãi, có ý thức và cầu nguyện bằng một tâm tình thiết tha, khiêm tốn: "Lạy Chúa, con chẳng xứng đáng, thật con chẳng xứng đáng chút nào!" Lời cầu nguyện này của chúng ta chắc chắn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận.
Đamien
09-09-2006, 09:10 AM
10. Ý NGHĨA CỦA VIỆC CẦU NGUYỆN
Cầu nguyện là cuộc gặp gỡ, cuộc chuyện trò thân mật giữa Thiên Chúa và con người, cũng giống như sự liên lạc giữa một đài kiểm soát không lưu với các phi công đang bay trên bầu trời. Ðây là một cuộc gặp gỡ khó nhận ra nhưng không phải là không hiện thực. Chúng ta có thể giở lại những trang Cựu ước để hiểu rõ hơn về những cuộc gặp gỡ này: Một Mô-sê trước bụi gai đang bốc cháy (Xh. 3,4), hay một Samuel với tiếng gọi trong Ðền thờ (1 Sm. 3,4...) Trong những giây phút gặp gỡ chuyện trò này, Thiên Chúa đã tỏ mình cho các vị đó -cũng như cho con người chúng ta hôm nay- biết Người là Ðấng nào.
Phần chúng ta, trong cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa, dù với mức độ nhiều hay ít, chắc chắn chúng ta cũng đều đã cảm nhận được và phần nào đã đáp ứng lại điều mà chúng ta cho rằng rất xác thực ấy. Dĩ nhiên chúng ta không có đủ khả năng để tranh luận về những cuộc gặp gỡ thân tình này mà cũng chẳng có đủ bằng chứng để trả lời khi có người vặn hỏi: "Tại sao anh (chị) biết được điều này?". Câu trả lời duy nhất mà chúng ta có thể dùng để đối đáp với họ, đó là: bởi vì chúng tôi đã "cảm nghiệm" được cuộc gặp gỡ. Trong các cuộc gặp gỡ, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho chúng ta nhận biết Người, cũng như Người đã từng tỏ mình ra cho nhiều vị đi trước chúng ta. Hơn nữa, chúng ta còn có thể hiểu biết thêm về Người qua mối quan hệ của chúng ta với Con một Người là Ðức Giêsu-Kitô: trong Tin Mừng và trong đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu.
Ðiều quan trọng ở đây là mỗi người chúng ta cần phải luôn sẵn sàng đáp ứng, vì chính khi chúng ta đáp ứng lại những điều mà Thiên Chúa đã trao ban cho trong cuộc gặp gỡ là lúc đức tin của chúng ta tăng triển. Nhờ vào sự đáp ứng này mà biết bao nhiêu người đã thay đổi lối sống thường ngày của họ. Thật vậy, Thiên Chúa đã thiết tha mời gọi từng người một trong chúng ta hãy biết lắng nghe và đáp ứng lại lời mời gọi đó để tìm cho cuộc đời mình một hướng đi đúng đắn. Ðây chính là mục tiêu thật sự của những lời cầu nguyện, là đích điểm mà tất cả chúng ta phải kiên trì hướng tới.
Tuy nhiên, dù đã tìm được hướng đi đúng đắn, hay dù đã nhìn thấy mục tiêu, thì chưa hẳn là chúng ta sẽ đạt tới đích nếu không có Ðức Giêsu Kitô làm người dẫn đường chỉ lối và làm bạn đồng hành để nâng đỡ, an ủi, khích lệ chúng ta: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối; nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống" (Ga 8,12). Chính vì lẽ đó mà chúng ta vẫn thường kết thúc lời cầu nguyện bằng câu "Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con..." Nhờ Ngài, chúng ta hiểu biết rõ hơn về Thiên Chúa Cha, Ðấng tạo thành con người. Và qua Ngài, chúng ta sẽ đến được với Thiên Chúa Cha, được tham dự vào đời sống vĩnh cửu và được chung hưởng nguồn hạnh phúc bất tận.
Lạy Cha toàn năng,
xin giúp chúng con mỗi ngày
mỗi nhìn thấy Cha rõ ràng hơn,
yêu mến Cha thiết tha hơn
và được tiến đến với Cha mỗi ngày một gần hơn.
Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.
11. MỤC TIÊU ÐÍCH THỰC CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
<O:p</O:p
"Lạy Chúa nhân từ, xin lắng nghe lời các tôi tớ hèn mọn của Chúa khẩn cầu, xin Chúa thương ban cho như lời chúng con cầu xin và xin dạy chúng con chỉ biết cầu xin những gì làm đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Kitô con Chúa, Chúa chúng con..."
Lời cầu nguyện trên đây vừa đơn sơ lại vừa rõ ràng. Khi suy nghĩ về lời kinh này, chúng tôi nhận thấy rằng: nếu lời cầu nguyện là phương tiện không thể không phát sinh hiệu quả đúng như lời cầu -đến nỗi bất cứ ai cầu xin điều gì cũng đều được thỏa nguyện- thì quả thật thế giới này rồi sẽ trở nên rối loạn! Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải cầu nguyện làm sao để biết khấn xin "những điều gì làm đẹp lòng Thiên Chúa" mà thôi. Thật vậy, nếu tất cả chúng ta đều đòi hỏi được như sở nguyện và nếu Thiên Chúa làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của từng con người, người xin mưa, người xin nắng trái nghịch nhau và ai ai cũng đều được toại nguyện - thì rối loạn chắc chắn sẽ là điều không thể tránh được!
Có lẽ chúng ta cần phải cảm tạ Chúa mới đúng, bởi vì Người đã không nghe theo và không đáp ứng nhiều lời cầu xin quá ích kỷ và đôi khi vô lý của chúng ta. Lời cầu nguyện trên đây đã làm nổi bật cái mục tiêu đích thực của lời cầu nguyện, đó là: Chúng ta cầu nguyện không phải chỉ cốt để lãnh nhận những điều chúng ta ước muốn, mà còn để trở nên điều Thiên Chúa mong muốn chúng ta trở nên.
Chúng ta hãy học hỏi và luôn tự nhắc nhở mình mẫu gương của Ðức Giêsu, khi Ngài cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha trong vườn Ghết-sê-ma-ni: "... nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Mt 26,39).
Trong kinh "Lạy Cha", Ngài cũng đã dạy cho các môn đệ Ngài lời: xin cho "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" (Mt 6,10). Và chính nhờ sự vâng phục này, chúng ta được hiểu biết Chúa nhiều hơn và được trở nên thân tình với Người. Người sẽ không còn gọi chúng ta là tôi tớ nhưng là bạn hữu (Ga 15,15).
Đamien
09-09-2006, 09:12 AM
12. TẠI SAO CON NGƯỜI PHẢI CẦU NGUYỆN
"Lạy Thiên Chúa toàn năng và từ bi, xin đoái thương loại trừ mọi điều nguy hại ra khỏi chúng con, để khi hồn xác được thư thái, tâm hồn chúng con được tự do tìm kiếm những điều thuộc về Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con ..."
Trên đây là lời cầu nguyện của Chúa nhật 32 Quanh năm. Thoạt mới nghe, lời cầu nguyện này xem ra đơn thuần chỉ là một lời cầu xin ơn phù trợ, chở che trong một thời đại mà vũ lực đang chiếm ưu thế và mạng sống con người bị coi là rẻ mạt, nhưng thực ra, nếu suy nghĩ cặn kẽ, chúng ta sẽ nhận thấy là lời nguyện này còn hàm chứa nhiều điều hơn thế.
Trước hết, qua lời nguyện này, chúng ta ý thức được rằng: Thiên Chúa không những là mục tiêu đích thực của lời cầu nguyện của con người chúng ta mà đồng thời người còn là nguồn mạch. "Tại sao con người phải cầu nguyện?". Ðứng trước câu hỏi này, chúng ta cũng có thể trả lời bằng một câu hỏi khác tương tự: "Nhưng tại sao con chim lại hót?". Quả vậy, con người phải cầu nguyện và con chim phải cất tiếng hót líu lo là bởi vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên các tạo vật này theo cách đó. Ở đây, chúng ta cần lưu ý tới điều này là: cũng như con chim có thể đánh mất tiếng hót, con người chúng ta có thể đánh mất khả năng cầu nguyện của mình !
Một điểm khác nữa mà chúng ta cần phải quan tâm không ít, đó là không phải chúng ta chỉ biết cầu xin cho được thoát khỏi những sự dữ hoặc những điều nguy hại mà thôi -đây chỉ là một khía cạnh tiêu cực!- nhưng chúng ta cần phải biết cầu xin cho hồn xác được an bình thư thái và nhất là cầu xin cho chúng ta luôn được tìm kiếm những gì thuộc về Chúa, những gì làm đẹp lòng Người, ngay cả đó là những sự dữ, những điều sỉ nhục, đau khổ đối với bản thân mình. Vì thực ra, chính những điều đó sẽ đem lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho phần rỗi linh hồn của mỗi người chúng ta !
13. CẦU NGUYỆN: SỰ HIỆP THÔNG VỚI THIÊN CHÚA
Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a
Hãy tạ ơn Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
It-ra-en hãy nói lên rằng: Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Nhà A-ha-ron, hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng: Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi.
Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì, Hỡi người đời làm chi tôi được?
(Tv 117, 1-6)
Thế giới chúng ta đang sống ngày nay đầy dẫy những thông điệp: chúng ta nói chuyện với nhau, chúng ta gọi điện cho nhau, chúng ta viết thư cho nhau, chúng ta nghe đài, xem truyền hình, e-mail... Luôn luôn, không ngừng, chúng ta gởi đi và tiếp nhận những thông điệp. Thế nhưng, giữa cuộc sống xô bồ, nhộn nhịp và quá bận bịu ấy, có lẽ ít khi chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa cũng luôn gởi đến cho chúng ta những thông điệp Tình Yêu của Người và sự quan tâm, chăm sóc của Người đối với tất cả mọi người chúng ta.
Chính vì thế mà nhiều khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, chán nản khi phải chịu những khó khăn, những đau khổ do hoàn cảnh sống mang lại, và trong những trạng huấn đó, nhiều người trong chúng ta băn khoăn tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại cho phép tất cả những chuyện đó xảy đến với chúng ta như thế? Mặc dù trong thâm tâm, chúng ta vẫn biết, vẫn tin rằng Thiên Chúa hằng luôn yêu thương chúng ta và quan tâm săn sóc chúng ta. Cũng chính vì thế mà chúng ta không làm sao hiểu hết được những gì đã và đang xảy đến cho chúng ta. Chỉ biết rằng những lúc đó, chúng ta cảm thấy mình bị hất hủi, bị bỏ rơi, bị lạc lõng, bị cô đơn...
Người Kitô hữu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã sai Con Một Người là Ðức Giêsu-Kitô, đến trong thế gian để trở thành nên một sứ điệp cho con người chúng ta, để tỏ ra cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai và đồng thời để khuyên dạy chúng ta phải sống cuộc sống như thế nào. Ðức Giêsu, Ngài đã phải chịu đau khổ, đã bị giết chết, nhưng rồi ngày thứ ba, Ngài đã sống lại và sống mãi mãi. Và đây chính là lý do giải thích tại sao con người chúng ta muốn cầu nguyện, hay nói cách khác, muốn gởi tới Thiên Chúa "thông điệp" của chúng ta, đồng thời cũng tiếp nhận luôn những thông điệp của Người gởi đến chúng ta trong đời sống hằng ngày.
Cầu nguyện không phải là một điều gì đó mà những tín hữu đạo đức thỉnh thoảng vẫn làm, nhưng đó phải là một công việc thường xuyên và liên tục của hết mọi người không trừ ai. Trong mọi giây mọi phút, ở mọi nơi mọi chỗ, con người phải luôn hiệp thông với Thiên Chúa, với Ðấng Tạo Hóa. Có thể nói: con người cần sự cầu nguyện, cần sự hiệp thông thường xuyên với Thiên Chúa như cần chính không khí để hít thở. Tuy nhiên, có lẽ không có lời nói nào có thể diễn tả được hết tâm tình mến yêu lòng tri ân cảm tạ và niềm hân hoan phấn khởi của chúng ta khi được hiệp thông với Thiên Chúa, được sống trong Tình Yêu bao la của Người, Tình Yêu vĩnh cửu,
Tình Yêu bất diệt, Tình Yêu tồn tại đến muôn muôn đời.
Và như thế, chúng ta chỉ có thể kêu lên:
Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a.
Đamien
09-09-2006, 09:20 AM
14. CẦU NGUYỆN: MỘT ÐIỂM GẶP GỠ GIỮA CÁC TÔN GIÁO
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tôn giáo. Một tôn giáo có thể gồm nhiều giáo phái khác nhau, và đôi khi, một giáo phái lại chia thành nhiều nhóm nhỏ khác nữa ví dụ như Tin lành có hơn 300 nhóm khác nhau. Các tôn giáo lớn hiện nay phải kể đến Công giáo, Tin lành, Ấn giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, các nhóm Sikh... Mỗi tôn giáo có những tín điều riêng của mình và các tín hữu của mỗi tôn giáo đó cũng có riêng một niềm tin, một niềm hy vọng sâu xa của họ.
- Người Hồi giáo tin rằng Mahomet (570-632) là vị ngôn sứ cuối cùng trong số các ngôn sứ xuất hiện từ trước tới nay, kể cả các ngôn sứ Do Thái - điều này dĩ nhiên đi ngược lại với niềm tin của những người Do Thái giáo.
- Những người Kitô giáo tuyên tín rằng Ðức Giêsu-Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể. Ðây là hành động duy nhất, có tính cách quyết định của Thiên Chúa can thiệp vào đời sống nhân loại, để đánh bại thực tại của tội lỗi và của sự chết.
- Nhưng những người Ấn Ðộ giáo lại không có cùng một niềm tin như thế! Họ tin rằng có tới hàng triệu cuộc nhập thế và không một cuộc nhập thế nào có tính cách quyết định tối hậu.
- Người Hindu, người Sikh lại tin rằng có một thứ linh hồn được tái sinh, nhưng chính bản thân mình thì chẳng bao giờ được tái sinh lại.
- Riêng Người Phật giáo, họ tin vào Thuyết Luân Hồi, điều mà người Công Giáo không chấp nhận được.
Như thế, mỗi tôn giáo mỗi niềm tin khác nhau, và dĩ nhiên là tất cả các tôn giáo không có thể cùng một lúc mà đúng hết được - ít là trong tất cả những điều mà các tôn giáo ấy quan niệm và tuyên bố ra. Bởi vì như chúng ta đã biết, tất cả những điều các tôn giáo ấy tuyên tín đều đã tương phản với nhau cách rõ rệt. Tuy nhiên, giữa những tín điều rất khác biệt nhau đó, tất cả các tôn giáo đã gặp nhau ở một điểm chung, một hoạt động có tính cách đồng nhất: Ðó là sự cầu nguyện.
Bất cứ người tín hữu nào, thuộc tôn giáo nào, cũng đều đã hơn một lần dâng lời cầu nguyện, vì đây chính là cách thế để liên kết bản thân con người với Thiên Chúa, Ðấng tối cao, Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Bề Trên mà mình hết lòng tin tưởng. Mục đích của lời cầu nguyện là ý thức một cách sâu sắc về sự tùy thuộc của bản thân mình vào Thiên Chúa trong tất cả các trang huống khác nhau của đời sống con người. Dù thuộc về tôn giáo nào cũng vậy, với tất cả những khả năng có giới hạn của mình, con người luôn luôn thèm khát mối quan hệ mật thiết và sâu xa với chính Thiên Chúa. Vì thế, họ đã cầu nguyện, và chỉ trong những lúc cầu nguyện như thế, họ mới cảm nghiệm được mối quan hệ này. Cầu nguyện giúp con người chúng ta xích lại gần Thiên Chúa, gần Ðấng Tối Cao, gần Thượng Ðế hơn và cầu nguyện chính là sự gặp gỡ chính Người. Nhờ cầu nguyện, con người có được niềm vui sống, niềm hân hoan, niềm tin tưởng và hy vọng, để có thể đương đầu với tất cả những khó khăn, những trở ngại và những cạm bẫy của cuộc sống.
Dĩ nhiên, mỗi tôn giáo sẽ có những phương thế, những đường lối cầu nguyện khác nhau, tùy theo truyền thống của mình, và trong vấn đề cầu nguyện cũng có nhiều vấn nạn được đặt ra, như: "Thiên Chúa, Ðấng Tối Cao, Thượng Ðế... có thực sự đã hiện diện lúc con người cầu nguyện không?", hoặc là "Lời cầu xin có được Người sẵn sàng chấp nhận không?". Dẫu vậy, tất cả mọi tín hữu thuộc mọi tôn giáo lớn nhỏ đều đã không phủ nhận mà còn đánh giá rất cao sự lợi ích và sự cần thiết của việc cầu nguyện.
Thật vậy, việc cầu nguyện được ví như một sợi dây thừng mà con người đã tung ra từ bên này vực thẳm, lúc mà con người cảm thấy Thiên Chúa ở bên bờ kia như đang bỏ rơi mình. Cuối cùng rồi con người cũng sẽ thấy sợi dây căng ra: từ bên kia bờ vực thẳm, Người đã nắm chặt lấy đầu dây và một sức mạnh thần kỳ đã lôi kéo con người vượt qua vực thẳm bình an !
Đamien
09-09-2006, 09:21 AM
15. KỸ THUẬT CẦU NGUYỆN
Tất cả chúng ta ai ai cũng đều biết cầu nguyện và có thể đã từng cầu nguyện rất hăng say. Nhưng chúng ta đã biết thế nào là cầu nguyện sốt sắng chưa? Thực ra, chúng ta đã từng cầu nguyện -có khi còn cầu nguyện rất lâu giờ- nhưng có lẽ chưa bao giờ chúng ta biết để hết tâm trí vào những lời cầu nguyện đó, mà vẫn thường hay lo ra, chia trí, có nghĩa là tâm hồn chúng ta chưa kết hợp trọn vẹn và mật thiết với Thiên Chúa, hay còn bị phân tán bởi những tác động chung quanh hoặc bởi những biểu tượng nào đó đang diễn ra trong tâm trí chúng ta. Vì thế, quả thật là tai hại nếu chúng ta để giờ cầu nguyện trở thành giờ suy nghĩ viển vông về một vài vấn đề riêng tư nào đó.
Vậy, chúng ta phải cầu nguyện như thế nào ?
Ðể hướng dẫn chúng ta cầu nguyện, các nhà tu đức học đã viết nhiều về những nguyên tắc và phương thức cầu nguyện. Chúng ta có thể học hỏi ở những người trưởng thành giàu kinh nghiệm, biết sống đạo đức, những người xứng đáng làm gương cho chúng ta trên bước đường cầu nguyện, như thánh nữ Têrêxa thành Avila, Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh Phanxicô đệ Salê, Thánh Gioan Boscô... Các Ngài đã là những gương mẫu của sự cầu nguyện sốt sắng và của đời sống thiêng liêng đạo đức. Vì nếu trong những lúc buồn bực, đau khổ, chán nản hoặc thất vọng mà được nghe những lời cầu nguyện sốt sắng, tâm hồn chúng ta sẽ bừng dậy niềm tin yêu mãnh liệt, đầy phấn khởi, và chắc chắn, chúng ta sẽ quên đi các thực tại đau buồn. Cũng chính lúc này, chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.
Trong thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê, Thánh Phaolô Tông đồ đã dạy chúng ta một cách thức cầu nguyện: "Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa... khi cầu nguyện cho anh em" (Cl 1: 3). Ngài đã thay cho các tín hữu của Ngài dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.
Phần chúng ta, những lời cầu nguyện của chúng ta đôi khi chỉ là những lời than van kêu trách, hoặc chúng ta chỉ biết đặt trọng tâm vào những lời xin. Có nghĩa là chúng ta nghĩ đến Chúa và kêu cầu Người, chỉ vì chúng ta muốn Người ban cho một ơn nào đó, một điều chúng ta đang cần. Ðó là chưa nói đến vấn đề những điều chúng ta xin đó có thích hợp với tinh thần Kitô giáo hay không. Như thế thì chưa phải là cầu nguyện! Lời cầu nguyện đúng đắn phải là những lời khẩn cầu với tất cả tâm tình biết ơn, cảm tạ Thiên Chúa vì các ân huệ Người đã ban cho chúng ta, cho bản thân, cho gia đình, cho bạn hữu, cho tất cả những người anh em và cho toàn thể nhân loại.
Thật vậy, mỗi lần đến thưa chuyện cùng Thiên Chúa, điều tiên quyết là chúng ta hãy dâng lên Người những lời chúc tụng, tôn vinh, cảm tạ và lòng yêu mến thiết tha, bởi vì Người xứng đáng với tất cả những điều đó. Rồi chúng ta còn phải biết tích cực hơn trong lời cầu. Chúng ta có thể tâm sự với Người về những băn khoăn lo lắng trong đời sống hàng ngày của chúng ta, tất cả những ưu tư về sức khỏe, về vật chất, về hoàn cảnh... để cảm tạ Người đã xếp đặt, nâng đỡ và giữ gìn chúng ta trong cuộc sống, đồng thời cũng để cầu xin Người ban thêm sinh lực giúp chúng ta biết chấp nhận thánh ý Chúa và đủ sức chịu đựng những gian lao thử thách. Thế nhưng... trong thực tế, nhiều người trong chúng ta đến với Chúa chỉ để than thân trách phận, chỉ để "kiện tụng" Người về các thứ thua thiệt mà chúng ta đã phải chịu. Có người còn ngây thơ "bắt đền" Chúa nữa, làm như chính Người là "thủ phạm" gieo rắc tai họa xuống trên họ! Có người khác tìm đến với Người là chỉ để xin xỏ điều này điều nọ, và chỉ biết xin, xin, xin mà thôi! Có những người khác nữa lại tỏ thái độ hờn giận, hoặc vô lý hơn nữa là "hù dọa" Người để ép buộc Người ban cho họ điều họ mong muốn!... Những lời cầu nguyện như thế làm sao có thể đem lại sự hào hứng, sự thánh thiện và ích lợi thiết thực cho tâm hồn chúng ta được? Và chắc chắn, Chúa cũng chẳng hài lòng!
Vậy, để những lời cầu nguyện của chúng ta trở nên sốt sắng thánh thiện và đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta hơn, chúng ta phải biết bắt chước đường lối cầu nguyện của Thánh Phaolô Tông đồ, nghĩa là cầu nguyện với tất cả tâm tình yêu mến và biết ơn. Hơn nữa, không phải chúng ta chỉ biết nghĩ đến Chúa trong một khoảnh khắc nào đó mà thôi, nhưng chúng ta phải luôn luôn biết kết hợp mật thiết với Người trong giây phút hiện tại, qua những lời nguyện chân thành, để cảm tạ tri ân Người vì những ơn lành Người đã thương ban cho chúng ta. Cầu nguyện như thế nào chắc chắn Thiên Chúa sẽ hài lòng và chính chúng ta cũng cảm thấy được bình an trong Người.
Khi nghe tin các tín hữu đã tiến bộ nhiều trong đường lối cầu nguyện, Thánh Phaolô Tông đồ rất vui mừng và Ngài không ngừng cầu nguyện thêm cho họ. Cả những lúc vui lúc buồn, cả những khi gặp thành công hay thất bại, Ngài đều đã thưa chuyện cùng Chúa và dâng lời cảm tạ Người.
Chúng ta hãy noi gương Thánh Phaolô để biết cầu nguyện sốt sắng hơn và cầu nguyện liên lỉ. Hãy luôn nghĩ đến những người anh chị em sống chung quanh chúng ta và hãy cầu nguyện cho họ. Gặp những hoàn cảnh sống phức tạp, những khó khăn về kinh tế hay những khủng hoảng về xã hội, chúng ta hãy mau đến tâm sự với Thiên Chúa. Bất cứ vào lúc nào, ở nơi nào, hoặc trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng hãy tập cầu nguyện ngay. Ðược như thế, chúng ta sẽ trở nên giống Thánh Phaolô, biết cầu nguyện một cách tự động, bột phát và tự nhiên.
Đamien
09-09-2006, 09:24 AM
16. CỘNG ÐỒNG TÍNH CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
Ðối với những người bình dân, ít học thức, cầu nguyện là ngày ngày được tiếp chuyện với Thiên Chúa. Họ muốn dùng những giây phút thân tình này để nói lên một cách đơn sơ, nhưng rất chân thành về niềm hy vọng hay về những nỗi lo âu của họ trong cuộc sống. Ðã nhiều lần tôi cảm thấy an tâm khi biết rằng các giáo dân của tôi thường nài xin ơn tha thứ trong lúc cầu nguyện. Nhưng cũng có khi tôi băn khoăn lo lắng vì được nghe kể lại rằng có nhiều người ngày nào cũng chỉ lặp đi lặp lại lời cầu xin này: "Lạy Chúa, xin cất đi tấm màng nhện khỏi lòng chúng con trong suốt 30 năm trường!"
Tuy nhiên, điều quan trọng và thiết yếu mà tôi muốn đề cập đến đây, đó là sự hợp nhất của các tín hữu trong lời kinh: tính cộng đoàn của sự cầu nguyện. Họ đã biết cầu nguyện chung với nhau từng nhóm một, người trẻ học hỏi nơi người cao tuổi và người giàu kinh nghiệm hơn. Dầu vậy, cũng còn có nhiều người trong chúng ta hiện nay cho rằng cầu nguyện là một vấn đề riêng tư, không cần đến cộng đoàn. Thực ra, trên con đường chiêm ngắm, chúng ta không thể nào đi đều bước nếu chúng ta không biết cầu nguyện chung với nhau. Từ thời Giáo hội sơ khai các tín hữu đã nhận thức được việc cầu nguyện chung với nhau là một vấn đề bức thiết, vì sự hợp nhất đó tăng thêm sức mạnh cho họ để có thể đương đầu với những sức ép đang đè nặng trên họ. Nhiều người, do suy nghĩ còn non nớt -và cũng vì con số người tòng giáo ngày càng thêm đông- đã cho rằng muốn sống sót thì chỉ còn cách là cầu nguyện chung với nhau. Vì thế, họ ao ước được tụ họp lại, nghe các tông đồ giảng dạy, chia sẻ đời sống cộng đoàn, cùng nhau cầu nguyện và cùng nhau bẻ bánh. Nhờ đó, đời sống thiêng liêng của các Kitô hữu đầu tiên được triển nở một cách phong phú, sống động.
Ngày nay, nhờ vào ân sủng các hoạt động của Chúa Thánh Thần trên đời sống chúng ta, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện chung với nhau mà không cần phải hội họp lại ở một nơi nào đó, trong một căn phòng bé nhỏ hay giữa một thánh đường rộng lớn. Càng ngày Giáo hội càng trở nên rất đa dạng và bao trùm cả thế giới. Ðã có nhiều sách báo, nhiều lịch Công Giáo hướng dẫn cầu nguyện do Giáo hội hoặc do nhiều nhóm Kitô Hữu và nhóm phổ biến Kinh Thánh soạn thảo và thực hiện, cùng với những lời kinh, những bài suy niệm giúp chúng ta cầu nguyện, đồng thời được liên kết với toàn thể Giáo hội trong cùng một ý nguyện. Thật vậy, mỗi người chúng ta đều có thể liên kết với tất cả anh chị em trên khắp thế giới để chiêm ngắm và để cầu nguyện, mặc dù chúng ta không hề bước ra khỏi căn phòng chật hẹp của mình. Ðây là điều mà Giáo Hội dạy chúng ta tin khi nói về tín điều các Thánh cùng thông công.
Trên tường nhà bếp của một gia đình kia, người ta đọc thấy hàng chữ này: "Chẳng cần phải đi vòng quanh thế giới, tôi vẫn có thể hiểu biết được thế giới, cũng chẳng cần phải nhìn qua cửa sổ, tôi vẫn thấy được đường đi của Ngài".
Đamien
09-09-2006, 09:24 AM
17. HIỆP NHẤT TRONG CẦU NGUYỆN
Trong cuộc sống cá nhân và gia đình, chúng ta thường hay đặt ra những biên giới chung quanh mình hoặc gia đình mình để tạo nên những khoảng cách giữa chúng ta với người khác, giữa gia đình mình với gia đình người khác. Không mấy ai muốn người khác xâm nhập vào đời tư của mình hoặc của gia đình mình, cũng như không một quốc qia, không một đất nước nào có thể chấp nhận cho một quốc gia, một đất nước khác tự do xâm lấn lãnh thổ của mình. Ðó là những hàng rào chắn, những bức tường cao hay những hố sâu không thể vượt qua! Thành cao hào sâu, như ta thường nói.
Thiết nghĩ tinh thần hiệp nhất Kitô không bao giờ cho phép chúng ta hành động như thế, nhưng trái lại, đòi buộc chúng ta phải luôn biết nghĩ đến mọi người sống chung quanh chúng ta, những người không cùng một gia đình, một quốc gia, một dân tộc, những người không cùng một ngôn ngữ, một màu da, một nền văn hóa, hay những người không cùng một tôn giáo, một niềm tin, một lý tưởng... và chúng ta nghĩ đến họ bằng cách cầu nguyện. Thật vậy, trong những lúc suy niệm, hoặc trong kinh nguyện, chúng ta vẫn cầu nguyện "Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con", nghĩa là tất cả chúng ta cùng cầu nguyện với nhau và chung một lời cầu. Khi cầu nguyện như thế, mặc nhiên chúng ta đã phá tan được những hàng rào, những bức tường hoặc những hào sâu ngăn cách và làm cho mọi người được gần gũi với nhau hơn.
Trong những buổi vui chơi tập thể, hay sinh hoạt cộng đồng, người ta thường tổ chức trò chơi cho các em. Có những trò chơi mang tính chất giáo dục rất lớn. Ngay cả một trò chơi đơn giản sau đây vẫn có thể giáo dục cho các em về tình bằng hữu, tình đồng đội: gọi 3 em nhỏ ra giữa sân chơi (sân trường học, sân nhà thờ, hay một khoảng đất trống...) nắm lấy tay nhau làm thành một vòng tròn nhỏ, rồi ra hiệu cho các em ở ngoài chui vào đầy vòng tròn này. Khi vòng tròn đã đầy, những em ở trong vòng tròn sẽ nắm lấy tay của 3 em đầu để làm thành một vòng tròn lớn hơn, rồi lại ra hiệu cho những em còn ở ngoài chui vào cho đầy vòng tròn. Cứ tiếp tục chơi như thế, vừa chơi vừa hát một bài ca ngợi sự hiệp nhất, ca ngợi tình bằng hữu... cho đến khi tất cả các em đã làm thành một vòng tròn rộng lớn ở giữa sân chơi. Như vậy, tất cả mọi người đều được tham dự vào cuộc chơi, dự phần vào vòng tròn, gần gũi nhau và làm thành một đơn vị. Ðây thực là một trò chơi có tác động giáo dục tinh thần đoàn kết cho các em.
Cũng vậy, khi cầu nguyện "Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con", tất cả chúng ta đều hợp thành một lòng một ý với mọi người anh chị em khác cùng chung một vòng tròn, trong đó có cả Ðức Giêsu và các đòi hỏi của Ngài đối với chúng ta. Như thế, trên con đường hành hương về quê Trời, chúng ta không đi một mình mà còn có tất cả mọi người anh chị em cùng đi với chúng ta và dĩ nhiên, mọi người đều phải biết chia sẻ cuộc sống với các bạn đồng hành của mình.
Chúng ta không dám nói rằng các anh chị em Kitô hữu không thích nối rộng vòng tay để làm thành một vòng tròn thật rộng lớn, nhưng phải nhận thức rằng nhiều khi chính họ cảm thấy khó mà phá đi những hàng rào ngăn cách hay những hào sâu ngăn cách các nhóm với nhau: nhóm Công giáo, nhóm Tin lành, nhóm Phục Lâm, nhóm Cực đoan... Chính vì thế mà từ lâu nay đã phát sinh phong trào "Ðại kết" thực hiện chương trình hiệp nhất các Kitô hữu! Trong đời sống chúng ta đã thấy bao nhiêu hàng rào ngăn cách giữa Linh mục với giáo dân, giữa các giáo dân với nhau, giữa người Bắc với người , người Trung... Vì thế, dù là Kitô hữu hay là bất cứ ai khác, tất cả chúng ta đều phải cố gắng đem hết khả năng của mình để quyết phá tan đi những hàng rào ngăn cách này, đặc biệt là bằng đời sống cầu nguyện.Bởi vì mỗi khi chúng ta cầu nguyện cùng với toàn thể Dân thánh Chúa, chúng ta mở rộng lòng trí ra để ý thức được nhiều hơn những ý định của Thiên Chúa trên tất cả chúng ta và trên cả toàn thế giới. Chẳng phải một trong những ý định của Người trên chúng ta là "tất cả được nên một" (Ut sint unum!) đó sao?.
Xưa kia, dân tộc Ít-ra-en cũng đã từng bị khủng hoảng trong đời sống quốc gia của họ. Họ đã thua trận: Ðền thờ, thủ đô và tất cả các thành phố đều bị đổ nát hoàn toàn, dân chúng bị bắt đi lưu đày... Ai ai cũng cảm thấy tuyệt vọng, khóc thương cho số phận bi đát của mình và dường như muốn buông xuôi tất cả. Thế nhưng, Thiên Chúa không hề bỏ rơi dân tộc Người đã chọn. Người đã sai các ngôn sứ đến với họ, loan báo sự giải thoát và ngày cứu độ. Lời của Thiên Chúa nói với Dân riêng của Người trong cơn khủng hoảng trầm trọng này cũng có thể giúp chúng ta học tập các cách cầu nguyện và suy niệm lời Chúa chung với nhau: "Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất" (Is: 49,6)
Đamien
11-09-2006, 09:07 AM
8. CẦU NGUYỆN (bài 2)
"Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả" (Rm 8, 26).
Cầu nguyện là một trong những khía cạnh đơn sơ nhất, nhưng cũng phức tạp nhất của đời sống Kitô. Nếu định nghĩa một cách đơn giản thì cầu nguyện là mở lòng ra với Thiên Chúa, cùng dâng lên Người tất cả những gì chất chứa trong trái tim của chúng ta và đồng thời tiếp nhận từ nơi Người những gì cần thiết cho bản thân của chúng ta.
Có nhiều cách thức cầu nguyện: cầu nguyện chung, cầu nguyện riêng, cầu nguyện bên ngoài, bằng lời nói, cầu nguyện bên trong, trong thinh lặng, cầu nguyện bằng những lời kinh có sẵn, cầu nguyện bột phát từ đáy lòng. Ðó là những khía cạnh của một sự đơn sơ căn bản! Thực ra, cầu nguyện là một hành động rất phức tạp, bởi vì chúng ta thật sự chẳng bao giờ có thể dùng lời nói để biểu lộ một cách trọn vẹn ra bên ngoài những điều mà chúng ta cảm nghiệm tự đáy lòng, cũng như chúng ta chẳng bao giờ có thể trình bày rõ hết được những điều mà chúng ta thực sự muốn diễn tả. Giả như cần phải diễn tả bằng lời nói hết những cảm tình sâu đậm nhất trong tâm hồn, hẳn chúng ta sẽ chẳng bao giờ có khả năng thưa chuyện cùng Thiên Chúa. Chính vì thế mà Thánh Phaolô Tông Ðồ, trong thư gửi tín hữu Roma, đã khuyên dạy họ -và cả chúng ta nữa- hãy cầu nguyện với sự nâng đỡ và trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Chính Người sẽ giúp dâng lên Thiên Chúa những lời than van mà tự chúng ta không thể thốt nên lời. Ðiều này quả là rất xác thực, mặc dù chúng ta không biết được nó đã xảy ra như thế nào?
Thật vậy, vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống cầu nguyện của chúng ta rất quan trọng. Chúng ta hãy khởi sự cầu nguyện bằng chính sự trợ giúp của Người, và nhờ Người, chúng ta có thể dễ dàng thưa lên với Chúa tất cả các nỗi niềm sâu kín từ tận đáy lòng, tất cả những nguyện ước của trái tim, mà tự bản thân mình, chúng ta hoàn toàn không có đủ khả năng để bộc lộ!
Đamien
11-09-2006, 09:09 AM
9. CON ÐƯỜNG CẦU NGUYỆN
Trong bản "kinh cầu Chúa Giêsu" của Giáo Hội Chính Thống có lời kinh sau đây: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con vì con là người tội lỗi". Nếu mỗi ngày, chúng ta đọc lời kinh này, hoặc đọc bất cứ một kinh nào khác, thì điều gì sẽ xảy đến với chúng ta? Chúng ta có thể cảm nhận được một lợi ích nào qua những lời kinh như thế không?
Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là một sự quan hệ "liên bản vị", vừa mang tính cách cá nhân, vừa mang tính cách tập thể, cộng đoàn. Ðó là một cuộc gặp gỡ sống động, thoải mái giữa con người với Thiên Chúa, và vì thế, từ xưa đến nay đã không có một khuôn khổ, một mẫu mực nhất định và tiên quyết nào cho việc cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt hai cách cầu nguyện đơn giản như sau:
- Cầu nguyện cách lớn tiếng: Lời cầu nguyện được bộc lộ qua tiếng nói, qua lời kinh.
- Cầu nguyện trong thinh lặng: cầu nguyện bằng tâm trí, bằng tư duy, bằng suy niệm.
Cả hai cách cầu nguyện trên đều được hoàn thành bằng lòng yêu mến thiết tha.
Trong các giờ cầu nguyện - nhất là cầu nguyện chung, như giờ kinh sáng, tối - chúng ta thường dành nhiều thời gian cho việc đọc kinh. Nhưng nếu chúng ta chỉ đọc kinh thuộc lòng mà hoàn toàn không chú tâm, không có một ý thức nào về lời kinh đang đọc, thì đó không phải là lời cầu nguyện đích thực. Vì thế, ngay từ lúc bắt đầu những lời kinh chúng ta đọc cần phải được trở thành những lời kinh của trí khôn, nghĩa là chúng ta cần phải biết tập trung tư tưởng và ý nghĩa vào lời kinh, như lời thánh Gioan "Bậc thang" (Thánh Giáo phụ thuộc Giáo Hội chính thống Hy lạp) đã dạy: "Phải cố gắng đưa trí khôn vào lời kinh chúng ta đọc". Phải luôn chú ý đến những lời kinh, phải luôn ý thức rõ những gì mình đang đọc, để nhờ ơn Chúa những lời kinh sẽ trở nên có ý nghĩa hơn, thiết tha hơn, tâm tình hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn. Ở đây, chúng ta cần dừng lại để nhắc nhở cho mình lời phê bình của Ðức Giêsu về việc cầu nguyện của những người Pha-ri-sêu và luật sĩ: "Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta" (Mt 15, 7-8).
Lời kinh chúng ta đọc sẽ có giá trị nhờ vào sự ý thức của trí khôn chúng ta, và lời kinh ấy sẽ hoàn toàn hơn nữa khi chúng ta biết dùng trọn cả con tim đầy tin yêu phó thác để cầu nguyện. Ðó là cách cầu nguyện bằng trái tim. Lời cầu nguyện của chúng ta đi từ trí khôn đến trái tim, tạo nên một sự kết hợp tuyệt hảo và làm cho toàn thể con người chúng ta cùng rung lên một nhịp điệu đầy tin yêu trong cuộc gặp gỡ thân tình này. Ðây chính là lời cầu nguyện đích thực và chân thành nhất, một lời cầu nguyện thiêng liêng bằng cả trái tim, lời cầu nguyện xuất phát từ con người toàn diện, lời cầu nguyện có chiều sâu nội tâm hơn, và chắc chắn Thiên Chúa sẽ không nỡ chê chối tâm tình thiết tha này của các con cái Người !
Chúng ta vừa đề cập đến trái tim. Trái tim ở đây không chỉ đơn thuần là tình yêu hay những cảm xúc, nhưng nó còn là trung tâm thiêng liêng của con người toàn diện, là chính thực chất sâu xa, là chốn thâm cung của con người và là nơi Thiên Chúa ngự trị. Chiếm hữu được trái tim có nghĩa là đã chiếm hữu được trọn vẹn. Tìm đến chỗ của trái tim có nghĩa là đã đạt tới sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Tuy nhiên chúng ta đừng lầm lẫn rằng cách cầu nguyện bằng suy niệm, với một tâm tình yêu mến thiết tha là một điều có thể thực hiện được một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Thực ra, đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó sẽ là một công việc vất vả của cả một đời! Ngay đã đến khi gần bước tới ngưỡng cửa của tử thần, chúng ta có thể vẫn nhận thấy rằng mình chưa tiến xa hơn bao nhiêu. Vì thế, dù cầu nguyện cách lớn tiếng hay cầu nguyện trong thinh lặng, chúng ta cần phải luôn tập trung tư tưởng và ý nghĩ vào đó. Phải chú tâm vào lời kinh chúng ta đang đọc cũng như vào đề tài chúng ta đang suy niệm. Bất cứ một lời kinh nào, bất cứ một đề tài suy niệm nào, chúng ta cũng cần phải đặt hết tâm trí để thực hiện. Rồi điều gì sẽ xảy ra vào lúc nào, đó là công việc của ân sủng, do ý định của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể quả quyết, xác tín điều này là Thiên Chúa sẽ không bao giờ thờ ơ lạnh nhạt trước tấm lòng thành tín của chúng ta.
Dầu vậy, chúng ta cũng đừng nghĩ rằng việc cầu nguyện đòi hỏi một kỹ thuật tinh vi và phức tạp lắm. Thực ra, khi cầu nguyện, chúng ta chỉ cần có một thái độ sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa, trong một tình yêu thật khiêm tốn, như lời khuyên sau đây của cha Makariô, một vị trưởng lão người Nga ở Ovkin:
"Bạn hãy cầu nguyện cách đơn sơ, khiêm tốn. Bạn đừng trông chờ một ơn đặc biệt nào đó có thể xảy ra để có thể giúp bạn biết cầu nguyện. Bạn hãy cứ nghĩ rằng chẳng bao giờ mình xứng đáng lãnh nhận được ơn đặc biệt ấy đâu. Và như thế, tâm hồn bạn sẽ được bình an".
Thật vậy, mỗi khi đọc kinh cầu nguyện, chúng ta cần phải đọc một cách chậm rãi, có ý thức và cầu nguyện bằng một tâm tình thiết tha, khiêm tốn: "Lạy Chúa, con chẳng xứng đáng, thật con chẳng xứng đáng chút nào!" Lời cầu nguyện này của chúng ta chắc chắn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận !
Đamien
11-09-2006, 09:15 AM
10. Ý NGHĨA CỦA VIỆC CẦU NGUYỆN.
Cầu nguyện là cuộc gặp gỡ, cuộc chuyện trò thân mật giữa Thiên Chúa và con người, cũng giống như sự liên lạc giữa một đài kiểm soát không lưu với các phi công đang bay trên bầu trời. Ðây là một cuộc gặp gỡ khó nhận ra nhưng không phải là không hiện thực. Chúng ta có thể giở lại những trang Cựu ước để hiểu rõ hơn về những cuộc gặp gỡ này: Một Mô-sê trước bụi gai đang bốc cháy (Xh. 3,4), hay một Samuel với tiếng gọi trong Ðền thờ (1 Sm. 3,4...) Trong những giây phút gặp gỡ chuyện trò này, Thiên Chúa đã tỏ mình cho các vị đó -cũng như cho con người chúng ta hôm nay- biết Người là Ðấng nào.
Phần chúng ta, trong cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa, dù với mức độ nhiều hay ít, chắc chắn chúng ta cũng đều đã cảm nhận được và phần nào đã đáp ứng lại điều mà chúng ta cho rằng rất xác thực ấy. Dĩ nhiên chúng ta không có đủ khả năng để tranh luận về những cuộc gặp gỡ thân tình này mà cũng chẳng có đủ bằng chứng để trả lời khi có người vặn hỏi: "Tại sao anh (chị) biết được điều này?". Câu trả lời duy nhất mà chúng ta có thể dùng để đối đáp với họ, đó là: bởi vì chúng tôi đã "cảm nghiệm" được cuộc gặp gỡ. Trong các cuộc gặp gỡ, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho chúng ta nhận biết Người, cũng như Người đã từng tỏ mình ra cho nhiều vị đi trước chúng ta. Hơn nữa, chúng ta còn có thể hiểu biết thêm về Người qua mối quan hệ của chúng ta với Con một Người là Ðức Giêsu-Kitô: trong Tin Mừng và trong đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu.
Ðiều quan trọng ở đây là mỗi người chúng ta cần phải luôn sẵn sàng đáp ứng, vì chính khi chúng ta đáp ứng lại những điều mà Thiên Chúa đã trao ban cho trong cuộc gặp gỡ là lúc đức tin của chúng ta tăng triển. Nhờ vào sự đáp ứng này mà biết bao nhiêu người đã thay đổi lối sống thường ngày của họ. Thật vậy, Thiên Chúa đã thiết tha mời gọi từng người một trong chúng ta hãy biết lắng nghe và đáp ứng lại lời mời gọi đó để tìm cho cuộc đời mình một hướng đi đúng đắn. Ðây chính là mục tiêu thật sự của những lời cầu nguyện, là đích điểm mà tất cả chúng ta phải kiên trì hướng tới.
Tuy nhiên, dù đã tìm được hướng đi đúng đắn, hay dù đã nhìn thấy mục tiêu, thì chưa hẳn là chúng ta sẽ đạt tới đích nếu không có Ðức Giêsu Kitô làm người dẫn đường chỉ lối và làm bạn đồng hành để nâng đỡ, an ủi, khích lệ chúng ta: "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối; nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống" (Ga 8,12). Chính vì lẽ đó mà chúng ta vẫn thường kết thúc lời cầu nguyện bằng câu "Nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con..." Nhờ Ngài, chúng ta hiểu biết rõ hơn về Thiên Chúa Cha, Ðấng tạo thành con người. Và qua Ngài, chúng ta sẽ đến được với Thiên Chúa Cha, được tham dự vào đời sống vĩnh cửu và được chung hưởng nguồn hạnh phúc bất tận.
Lạy Cha toàn năng,
xin giúp chúng con mỗi ngày
mỗi nhìn thấy Cha rõ ràng hơn,
yêu mến Cha thiết tha hơn
và được tiến đến với Cha mỗi ngày một gần hơn.
Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.
Đamien
11-09-2006, 09:18 AM
11. MỤC TIÊU ÐÍCH THỰC CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
"Lạy Chúa nhân từ, xin lắng nghe lời các tôi tớ hèn mọn của Chúa khẩn cầu, xin Chúa thương ban cho như lời chúng con cầu xin và xin dạy chúng con chỉ biết cầu xin những gì làm đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Kitô con Chúa, Chúa chúng con..."
Lời cầu nguyện trên đây vừa đơn sơ lại vừa rõ ràng. Khi suy nghĩ về lời kinh này, chúng tôi nhận thấy rằng: nếu lời cầu nguyện là phương tiện không thể không phát sinh hiệu quả đúng như lời cầu -đến nỗi bất cứ ai cầu xin điều gì cũng đều được thỏa nguyện- thì quả thật thế giới này rồi sẽ trở nên rối loạn! Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải cầu nguyện làm sao để biết khấn xin "những điều gì làm đẹp lòng Thiên Chúa" mà thôi. Thật vậy, nếu tất cả chúng ta đều đòi hỏi được như sở nguyện và nếu Thiên Chúa làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của từng con người, người xin mưa, người xin nắng trái nghịch nhau và ai ai cũng đều được toại nguyện - thì rối loạn chắc chắn sẽ là điều không thể tránh được!
Có lẽ chúng ta cần phải cảm tạ Chúa mới đúng, bởi vì Người đã không nghe theo và không đáp ứng nhiều lời cầu xin quá ích kỷ và đôi khi vô lý của chúng ta. Lời cầu nguyện trên đây đã làm nổi bật cái mục tiêu đích thực của lời cầu nguyện, đó là: Chúng ta cầu nguyện không phải chỉ cốt để lãnh nhận những điều chúng ta ước muốn, mà còn để trở nên điều Thiên Chúa mong muốn chúng ta trở nên.
Chúng ta hãy học hỏi và luôn tự nhắc nhở mình mẫu gương của Ðức Giêsu, khi Ngài cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha trong vườn Ghết-sê-ma-ni: "... nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Mt 26,39).
Trong kinh "Lạy Cha", Ngài cũng đã dạy cho các môn đệ Ngài lời: xin cho "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" (Mt 6,10). Và chính nhờ sự vâng phục này, chúng ta được hiểu biết Chúa nhiều hơn và được trở nên thân tình với Người. Người sẽ không còn gọi chúng ta là tôi tớ nhưng là bạn hữu (Ga 15,15).
12. TẠI SAO CON NGƯỜI PHẢI CẦU NGUYỆN
"Lạy Thiên Chúa toàn năng và từ bi, xin đoái thương loại trừ mọi điều nguy hại ra khỏi chúng con, để khi hồn xác được thư thái, tâm hồn chúng con được tự do tìm kiếm những điều thuộc về Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con ..."
Trên đây là lời cầu nguyện của Chúa nhật 32 Quanh năm. Thoạt mới nghe, lời cầu nguyện này xem ra đơn thuần chỉ là một lời cầu xin ơn phù trợ, chở che trong một thời đại mà vũ lực đang chiếm ưu thế và mạng sống con người bị coi là rẻ mạt, nhưng thực ra, nếu suy nghĩ cặn kẽ, chúng ta sẽ nhận thấy là lời nguyện này còn hàm chứa nhiều điều hơn thế.
Trước hết, qua lời nguyện này, chúng ta ý thức được rằng: Thiên Chúa không những là mục tiêu đích thực của lời cầu nguyện của con người chúng ta mà đồng thời người còn là nguồn mạch. "Tại sao con người phải cầu nguyện?". Ðứng trước câu hỏi này, chúng ta cũng có thể trả lời bằng một câu hỏi khác tương tự: "Nhưng tại sao con chim lại hót?". Quả vậy, con người phải cầu nguyện và con chim phải cất tiếng hót líu lo là bởi vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên các tạo vật này theo cách đó. Ở đây, chúng ta cần lưu ý tới điều này là: cũng như con chim có thể đánh mất tiếng hót, con người chúng ta có thể đánh mất khả năng cầu nguyện của mình !
Một điểm khác nữa mà chúng ta cần phải quan tâm không ít, đó là không phải chúng ta chỉ biết cầu xin cho được thoát khỏi những sự dữ hoặc những điều nguy hại mà thôi -đây chỉ là một khía cạnh tiêu cực!- nhưng chúng ta cần phải biết cầu xin cho hồn xác được an bình thư thái và nhất là cầu xin cho chúng ta luôn được tìm kiếm những gì thuộc về Chúa, những gì làm đẹp lòng Người, ngay cả đó là những sự dữ, những điều sỉ nhục, đau khổ đối với bản thân mình. Vì thực ra, chính những điều đó sẽ đem lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho phần rỗi linh hồn của mỗi người chúng ta !
Đamien
11-09-2006, 09:23 AM
13. CẦU NGUYỆN: SỰ HIỆP THÔNG VỚI THIÊN CHÚA
Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a
Hãy tạ ơn Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
It-ra-en hãy nói lên rằng: Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Nhà A-ha-ron, hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng: Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi.
Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì, Hỡi người đời làm chi tôi được?
(Tv 117, 1-6)
Thế giới chúng ta đang sống ngày nay đầy dẫy những thông điệp: chúng ta nói chuyện với nhau, chúng ta gọi điện cho nhau, chúng ta viết thư cho nhau, chúng ta nghe đài, xem truyền hình, e-mail... Luôn luôn, không ngừng, chúng ta gởi đi và tiếp nhận những thông điệp. Thế nhưng, giữa cuộc sống xô bồ, nhộn nhịp và quá bận bịu ấy, có lẽ ít khi chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa cũng luôn gởi đến cho chúng ta những thông điệp Tình Yêu của Người và sự quan tâm, chăm sóc của Người đối với tất cả mọi người chúng ta.
Chính vì thế mà nhiều khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, chán nản khi phải chịu những khó khăn, những đau khổ do hoàn cảnh sống mang lại, và trong những trạng huấn đó, nhiều người trong chúng ta băn khoăn tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại cho phép tất cả những chuyện đó xảy đến với chúng ta như thế? Mặc dù trong thâm tâm, chúng ta vẫn biết, vẫn tin rằng Thiên Chúa hằng luôn yêu thương chúng ta và quan tâm săn sóc chúng ta. Cũng chính vì thế mà chúng ta không làm sao hiểu hết được những gì đã và đang xảy đến cho chúng ta. Chỉ biết rằng những lúc đó, chúng ta cảm thấy mình bị hất hủi, bị bỏ rơi, bị lạc lõng, bị cô đơn...
Người Kitô hữu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã sai Con Một Người là Ðức Giêsu-Kitô, đến trong thế gian để trở thành nên một sứ điệp cho con người chúng ta, để tỏ ra cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai và đồng thời để khuyên dạy chúng ta phải sống cuộc sống như thế nào. Ðức Giêsu, Ngài đã phải chịu đau khổ, đã bị giết chết, nhưng rồi ngày thứ ba, Ngài đã sống lại và sống mãi mãi. Và đây chính là lý do giải thích tại sao con người chúng ta muốn cầu nguyện, hay nói cách khác, muốn gởi tới Thiên Chúa "thông điệp" của chúng ta, đồng thời cũng tiếp nhận luôn những thông điệp của Người gởi đến chúng ta trong đời sống hằng ngày.
Cầu nguyện không phải là một điều gì đó mà những tín hữu đạo đức thỉnh thoảng vẫn làm, nhưng đó phải là một công việc thường xuyên và liên tục của hết mọi người không trừ ai. Trong mọi giây mọi phút, ở mọi nơi mọi chỗ, con người phải luôn hiệp thông với Thiên Chúa, với Ðấng Tạo Hóa. Có thể nói: con người cần sự cầu nguyện, cần sự hiệp thông thường xuyên với Thiên Chúa như cần chính không khí để hít thở. Tuy nhiên, có lẽ không có lời nói nào có thể diễn tả được hết tâm tình mến yêu lòng tri ân cảm tạ và niềm hân hoan phấn khởi của chúng ta khi được hiệp thông với Thiên Chúa, được sống trong Tình Yêu bao la của Người, Tình Yêu vĩnh cửu, Tình Yêu bất diệt, Tình Yêu tồn tại đến muôn muôn đời.
Và như thế, chúng ta chỉ có thể kêu lên:
Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a, Ha-lê-lui-a.
Đamien
11-09-2006, 09:23 AM
14. CẦU NGUYỆN: MỘT ÐIỂM GẶP GỠ GIỮA CÁC TÔN GIÁO
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tôn giáo. Một tôn giáo có thể gồm nhiều giáo phái khác nhau, và đôi khi, một giáo phái lại chia thành nhiều nhóm nhỏ khác nữa ví dụ như Tin lành có hơn 300 nhóm khác nhau. Các tôn giáo lớn hiện nay phải kể đến Công giáo, Tin lành, Ấn giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, các nhóm Sikh... Mỗi tôn giáo có những tín điều riêng của mình và các tín hữu của mỗi tôn giáo đó cũng có riêng một niềm tin, một niềm hy vọng sâu xa của họ.
- Người Hồi giáo tin rằng Mahomet (570-632) là vị ngôn sứ cuối cùng trong số các ngôn sứ xuất hiện từ trước tới nay, kể cả các ngôn sứ Do Thái - điều này dĩ nhiên đi ngược lại với niềm tin của những người Do Thái giáo.
- Những người Kitô giáo tuyên tín rằng Ðức Giêsu-Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể. Ðây là hành động duy nhất, có tính cách quyết định của Thiên Chúa can thiệp vào đời sống nhân loại, để đánh bại thực tại của tội lỗi và của sự chết.
- Nhưng những người Ấn Ðộ giáo lại không có cùng một niềm tin như thế! Họ tin rằng có tới hàng triệu cuộc nhập thế và không một cuộc nhập thế nào có tính cách quyết định tối hậu.
- Người Hindu, người Sikh lại tin rằng có một thứ linh hồn được tái sinh, nhưng chính bản thân mình thì chẳng bao giờ được tái sinh lại.
- Riêng Người Phật giáo, họ tin vào Thuyết Luân Hồi, điều mà người Công Giáo không chấp nhận được.
Như thế, mỗi tôn giáo mỗi niềm tin khác nhau, và dĩ nhiên là tất cả các tôn giáo không có thể cùng một lúc mà đúng hết được - ít là trong tất cả những điều mà các tôn giáo ấy quan niệm và tuyên bố ra. Bởi vì như chúng ta đã biết, tất cả những điều các tôn giáo ấy tuyên tín đều đã tương phản với nhau cách rõ rệt. Tuy nhiên, giữa những tín điều rất khác biệt nhau đó, tất cả các tôn giáo đã gặp nhau ở một điểm chung, một hoạt động có tính cách đồng nhất: Ðó là sự cầu nguyện.
Bất cứ người tín hữu nào, thuộc tôn giáo nào, cũng đều đã hơn một lần dâng lời cầu nguyện, vì đây chính là cách thế để liên kết bản thân con người với Thiên Chúa, Ðấng tối cao, Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Bề Trên mà mình hết lòng tin tưởng. Mục đích của lời cầu nguyện là ý thức một cách sâu sắc về sự tùy thuộc của bản thân mình vào Thiên Chúa trong tất cả các trang huống khác nhau của đời sống con người. Dù thuộc về tôn giáo nào cũng vậy, với tất cả những khả năng có giới hạn của mình, con người luôn luôn thèm khát mối quan hệ mật thiết và sâu xa với chính Thiên Chúa. Vì thế, họ đã cầu nguyện, và chỉ trong những lúc cầu nguyện như thế, họ mới cảm nghiệm được mối quan hệ này. Cầu nguyện giúp con người chúng ta xích lại gần Thiên Chúa, gần Ðấng Tối Cao, gần Thượng Ðế hơn và cầu nguyện chính là sự gặp gỡ chính Người. Nhờ cầu nguyện, con người có được niềm vui sống, niềm hân hoan, niềm tin tưởng và hy vọng, để có thể đương đầu với tất cả những khó khăn, những trở ngại và những cạm bẫy của cuộc sống.
Dĩ nhiên, mỗi tôn giáo sẽ có những phương thế, những đường lối cầu nguyện khác nhau, tùy theo truyền thống của mình, và trong vấn đề cầu nguyện cũng có nhiều vấn nạn được đặt ra, như: "Thiên Chúa, Ðấng Tối Cao, Thượng Ðế... có thực sự đã hiện diện lúc con người cầu nguyện không?", hoặc là "Lời cầu xin có được Người sẵn sàng chấp nhận không?". Dẫu vậy, tất cả mọi tín hữu thuộc mọi tôn giáo lớn nhỏ đều đã không phủ nhận mà còn đánh giá rất cao sự lợi ích và sự cần thiết của việc cầu nguyện.
Thật vậy, việc cầu nguyện được ví như một sợi dây thừng mà con người đã tung ra từ bên này vực thẳm, lúc mà con người cảm thấy Thiên Chúa ở bên bờ kia như đang bỏ rơi mình. Cuối cùng rồi con người cũng sẽ thấy sợi dây căng ra: từ bên kia bờ vực thẳm, Người đã nắm chặt lấy đầu dây và một sức mạnh thần kỳ đã lôi kéo con người vượt qua vực thẳm bình an !
Đamien
11-09-2006, 09:27 AM
15. KỸ THUẬT CẦU NGUYỆN
Tất cả chúng ta ai ai cũng đều biết cầu nguyện và có thể đã từng cầu nguyện rất hăng say. Nhưng chúng ta đã biết thế nào là cầu nguyện sốt sắng chưa? Thực ra, chúng ta đã từng cầu nguyện -có khi còn cầu nguyện rất lâu giờ- nhưng có lẽ chưa bao giờ chúng ta biết để hết tâm trí vào những lời cầu nguyện đó, mà vẫn thường hay lo ra, chia trí, có nghĩa là tâm hồn chúng ta chưa kết hợp trọn vẹn và mật thiết với Thiên Chúa, hay còn bị phân tán bởi những tác động chung quanh hoặc bởi những biểu tượng nào đó đang diễn ra trong tâm trí chúng ta. Vì thế, quả thật là tai hại nếu chúng ta để giờ cầu nguyện trở thành giờ suy nghĩ viển vông về một vài vấn đề riêng tư nào đó.
Vậy, chúng ta phải cầu nguyện như thế nào ?
Ðể hướng dẫn chúng ta cầu nguyện, các nhà tu đức học đã viết nhiều về những nguyên tắc và phương thức cầu nguyện. Chúng ta có thể học hỏi ở những người trưởng thành giàu kinh nghiệm, biết sống đạo đức, những người xứng đáng làm gương cho chúng ta trên bước đường cầu nguyện, như thánh nữ Têrêxa thành Avila, Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh Phanxicô đệ Salê, Thánh Gioan Boscô... Các Ngài đã là những gương mẫu của sự cầu nguyện sốt sắng và của đời sống thiêng liêng đạo đức. Vì nếu trong những lúc buồn bực, đau khổ, chán nản hoặc thất vọng mà được nghe những lời cầu nguyện sốt sắng, tâm hồn chúng ta sẽ bừng dậy niềm tin yêu mãnh liệt, đầy phấn khởi, và chắc chắn, chúng ta sẽ quên đi các thực tại đau buồn. Cũng chính lúc này, chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.
Trong thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê, Thánh Phaolô Tông đồ đã dạy chúng ta một cách thức cầu nguyện: "Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa... khi cầu nguyện cho anh em" (Cl 1: 3). Ngài đã thay cho các tín hữu của Ngài dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.
Phần chúng ta, những lời cầu nguyện của chúng ta đôi khi chỉ là những lời than van kêu trách, hoặc chúng ta chỉ biết đặt trọng tâm vào những lời xin. Có nghĩa là chúng ta nghĩ đến Chúa và kêu cầu Người, chỉ vì chúng ta muốn Người ban cho một ơn nào đó, một điều chúng ta đang cần. Ðó là chưa nói đến vấn đề những điều chúng ta xin đó có thích hợp với tinh thần Kitô giáo hay không. Như thế thì chưa phải là cầu nguyện! Lời cầu nguyện đúng đắn phải là những lời khẩn cầu với tất cả tâm tình biết ơn, cảm tạ Thiên Chúa vì các ân huệ Người đã ban cho chúng ta, cho bản thân, cho gia đình, cho bạn hữu, cho tất cả những người anh em và cho toàn thể nhân loại.
Thật vậy, mỗi lần đến thưa chuyện cùng Thiên Chúa, điều tiên quyết là chúng ta hãy dâng lên Người những lời chúc tụng, tôn vinh, cảm tạ và lòng yêu mến thiết tha, bởi vì Người xứng đáng với tất cả những điều đó. Rồi chúng ta còn phải biết tích cực hơn trong lời cầu. Chúng ta có thể tâm sự với Người về những băn khoăn lo lắng trong đời sống hàng ngày của chúng ta, tất cả những ưu tư về sức khỏe, về vật chất, về hoàn cảnh... để cảm tạ Người đã xếp đặt, nâng đỡ và giữ gìn chúng ta trong cuộc sống, đồng thời cũng để cầu xin Người ban thêm sinh lực giúp chúng ta biết chấp nhận thánh ý Chúa và đủ sức chịu đựng những gian lao thử thách. Thế nhưng... trong thực tế, nhiều người trong chúng ta đến với Chúa chỉ để than thân trách phận, chỉ để "kiện tụng" Người về các thứ thua thiệt mà chúng ta đã phải chịu. Có người còn ngây thơ "bắt đền" Chúa nữa, làm như chính Người là "thủ phạm" gieo rắc tai họa xuống trên họ! Có người khác tìm đến với Người là chỉ để xin xỏ điều này điều nọ, và chỉ biết xin, xin, xin mà thôi! Có những người khác nữa lại tỏ thái độ hờn giận, hoặc vô lý hơn nữa là "hù dọa" Người để ép buộc Người ban cho họ điều họ mong muốn!... Những lời cầu nguyện như thế làm sao có thể đem lại sự hào hứng, sự thánh thiện và ích lợi thiết thực cho tâm hồn chúng ta được? Và chắc chắn, Chúa cũng chẳng hài lòng!
Vậy, để những lời cầu nguyện của chúng ta trở nên sốt sắng thánh thiện và đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta hơn, chúng ta phải biết bắt chước đường lối cầu nguyện của Thánh Phaolô Tông đồ, nghĩa là cầu nguyện với tất cả tâm tình yêu mến và biết ơn. Hơn nữa, không phải chúng ta chỉ biết nghĩ đến Chúa trong một khoảnh khắc nào đó mà thôi, nhưng chúng ta phải luôn luôn biết kết hợp mật thiết với Người trong giây phút hiện tại, qua những lời nguyện chân thành, để cảm tạ tri ân Người vì những ơn lành Người đã thương ban cho chúng ta. Cầu nguyện như thế nào chắc chắn Thiên Chúa sẽ hài lòng và chính chúng ta cũng cảm thấy được bình an trong Người.
Khi nghe tin các tín hữu đã tiến bộ nhiều trong đường lối cầu nguyện, Thánh Phaolô Tông đồ rất vui mừng và Ngài không ngừng cầu nguyện thêm cho họ. Cả những lúc vui lúc buồn, cả những khi gặp thành công hay thất bại, Ngài đều đã thưa chuyện cùng Chúa và dâng lời cảm tạ Người.
Chúng ta hãy noi gương Thánh Phaolô để biết cầu nguyện sốt sắng hơn và cầu nguyện liên lỉ. Hãy luôn nghĩ đến những người anh chị em sống chung quanh chúng ta và hãy cầu nguyện cho họ. Gặp những hoàn cảnh sống phức tạp, những khó khăn về kinh tế hay những khủng hoảng về xã hội, chúng ta hãy mau đến tâm sự với Thiên Chúa. Bất cứ vào lúc nào, ở nơi nào, hoặc trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng hãy tập cầu nguyện ngay. Ðược như thế, chúng ta sẽ trở nên giống Thánh Phaolô, biết cầu nguyện một cách tự động, bộc phát và tự nhiên.
Đamien
11-09-2006, 09:30 AM
16. CỘNG ÐỒNG TÍNH CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
Ðối với những người bình dân, ít học thức, cầu nguyện là ngày ngày được tiếp chuyện với Thiên Chúa. Họ muốn dùng những giây phút thân tình này để nói lên một cách đơn sơ, nhưng rất chân thành về niềm hy vọng hay về những nỗi lo âu của họ trong cuộc sống. Ðã nhiều lần tôi cảm thấy an tâm khi biết rằng các giáo dân của tôi thường nài xin ơn tha thứ trong lúc cầu nguyện. Nhưng cũng có khi tôi băn khoăn lo lắng vì được nghe kể lại rằng có nhiều người ngày nào cũng chỉ lặp đi lặp lại lời cầu xin này: "Lạy Chúa, xin cất đi tấm màng nhện khỏi lòng chúng con trong suốt 30 năm trường!"
Tuy nhiên, điều quan trọng và thiết yếu mà tôi muốn đề cập đến đây, đó là sự hợp nhất của các tín hữu trong lời kinh: tính cộng đoàn của sự cầu nguyện. Họ đã biết cầu nguyện chung với nhau từng nhóm một, người trẻ học hỏi nơi người cao tuổi và người giàu kinh nghiệm hơn. Dầu vậy, cũng còn có nhiều người trong chúng ta hiện nay cho rằng cầu nguyện là một vấn đề riêng tư, không cần đến cộng đoàn. Thực ra, trên con đường chiêm ngắm, chúng ta không thể nào đi đều bước nếu chúng ta không biết cầu nguyện chung với nhau. Từ thời Giáo hội sơ khai các tín hữu đã nhận thức được việc cầu nguyện chung với nhau là một vấn đề bức thiết, vì sự hợp nhất đó tăng thêm sức mạnh cho họ để có thể đương đầu với những sức ép đang đè nặng trên họ. Nhiều người, do suy nghĩ còn non nớt -và cũng vì con số người tòng giáo ngày càng thêm đông- đã cho rằng muốn sống sót thì chỉ còn cách là cầu nguyện chung với nhau. Vì thế, họ ao ước được tụ họp lại, nghe các tông đồ giảng dạy, chia sẻ đời sống cộng đoàn, cùng nhau cầu nguyện và cùng nhau bẻ bánh. Nhờ đó, đời sống thiêng liêng của các Kitô hữu đầu tiên được triển nở một cách phong phú, sống động.
Ngày nay, nhờ vào ân sủng các hoạt động của Chúa Thánh Thần trên đời sống chúng ta, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện chung với nhau mà không cần phải hội họp lại ở một nơi nào đó, trong một căn phòng bé nhỏ hay giữa một thánh đường rộng lớn. Càng ngày Giáo hội càng trở nên rất đa dạng và bao trùm cả thế giới. Ðã có nhiều sách báo, nhiều lịch Công Giáo hướng dẫn cầu nguyện do Giáo hội hoặc do nhiều nhóm Kitô Hữu và nhóm phổ biến Kinh Thánh soạn thảo và thực hiện, cùng với những lời kinh, những bài suy niệm giúp chúng ta cầu nguyện, đồng thời được liên kết với toàn thể Giáo hội trong cùng một ý nguyện. Thật vậy, mỗi người chúng ta đều có thể liên kết với tất cả anh chị em trên khắp thế giới để chiêm ngắm và để cầu nguyện, mặc dù chúng ta không hề bước ra khỏi căn phòng chật hẹp của mình. Ðây là điều mà Giáo Hội dạy chúng ta tin khi nói về tín điều các Thánh cùng thông công.
Trên tường nhà bếp của một gia đình kia, người ta đọc thấy hàng chữ này: "Chẳng cần phải đi vòng quanh thế giới, tôi vẫn có thể hiểu biết được thế giới, cũng chẳng cần phải nhìn qua cửa sổ, tôi vẫn thấy được đường đi của Ngài".
Đamien
11-09-2006, 10:17 AM
17. HIỆP NHẤT TRONG CẦU NGUYỆN
Trong cuộc sống cá nhân và gia đình, chúng ta thường hay đặt ra những biên giới chung quanh mình hoặc gia đình mình để tạo nên những khoảng cách giữa chúng ta với người khác, giữa gia đình mình với gia đình người khác. Không mấy ai muốn người khác xâm nhập vào đời tư của mình hoặc của gia đình mình, cũng như không một quốc qia, không một đất nước nào có thể chấp nhận cho một quốc gia, một đất nước khác tự do xâm lấn lãnh thổ của mình. Ðó là những hàng rào chắn, những bức tường cao hay những hố sâu không thể vượt qua! Thành cao hào sâu, như ta thường nói.
Thiết nghĩ tinh thần hiệp nhất Kitô không bao giờ cho phép chúng ta hành động như thế, nhưng trái lại, đòi buộc chúng ta phải luôn biết nghĩ đến mọi người sống chung quanh chúng ta, những người không cùng một gia đình, một quốc gia, một dân tộc, những người không cùng một ngôn ngữ, một màu da, một nền văn hóa, hay những người không cùng một tôn giáo, một niềm tin, một lý tưởng... và chúng ta nghĩ đến họ bằng cách cầu nguyện. Thật vậy, trong những lúc suy niệm, hoặc trong kinh nguyện, chúng ta vẫn cầu nguyện "Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con", nghĩa là tất cả chúng ta cùng cầu nguyện với nhau và chung một lời cầu. Khi cầu nguyện như thế, mặc nhiên chúng ta đã phá tan được những hàng rào, những bức tường hoặc những hào sâu ngăn cách và làm cho mọi người được gần gũi với nhau hơn.
Trong những buổi vui chơi tập thể, hay sinh hoạt cộng đồng, người ta thường tổ chức trò chơi cho các em. Có những trò chơi mang tính chất giáo dục rất lớn. Ngay cả một trò chơi đơn giản sau đây vẫn có thể giáo dục cho các em về tình bằng hữu, tình đồng đội: gọi 3 em nhỏ ra giữa sân chơi (sân trường học, sân nhà thờ, hay một khoảng đất trống...) nắm lấy tay nhau làm thành một vòng tròn nhỏ, rồi ra hiệu cho các em ở ngoài chui vào đầy vòng tròn này. Khi vòng tròn đã đầy, những em ở trong vòng tròn sẽ nắm lấy tay của 3 em đầu để làm thành một vòng tròn lớn hơn, rồi lại ra hiệu cho những em còn ở ngoài chui vào cho đầy vòng tròn. Cứ tiếp tục chơi như thế, vừa chơi vừa hát một bài ca ngợi sự hiệp nhất, ca ngợi tình bằng hữu... cho đến khi tất cả các em đã làm thành một vòng tròn rộng lớn ở giữa sân chơi. Như vậy, tất cả mọi người đều được tham dự vào cuộc chơi, dự phần vào vòng tròn, gần gũi nhau và làm thành một đơn vị. Ðây thực là một trò chơi có tác động giáo dục tinh thần đoàn kết cho các em.
Cũng vậy, khi cầu nguyện "Nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con", tất cả chúng ta đều hợp thành một lòng một ý với mọi người anh chị em khác cùng chung một vòng tròn, trong đó có cả Ðức Giêsu và các đòi hỏi của Ngài đối với chúng ta. Như thế, trên con đường hành hương về quê Trời, chúng ta không đi một mình mà còn có tất cả mọi người anh chị em cùng đi với chúng ta và dĩ nhiên, mọi người đều phải biết chia sẻ cuộc sống với các bạn đồng hành của mình.
Chúng ta không dám nói rằng các anh chị em Kitô hữu không thích nối rộng vòng tay để làm thành một vòng tròn thật rộng lớn, nhưng phải nhận thức rằng nhiều khi chính họ cảm thấy khó mà phá đi những hàng rào ngăn cách hay những hào sâu ngăn cách các nhóm với nhau: nhóm Công giáo, nhóm Tin lành, nhóm Phục Lâm, nhóm Cực đoan... Chính vì thế mà từ lâu nay đã phát sinh phong trào "Ðại kết" thực hiện chương trình hiệp nhất các Kitô hữu! Trong đời sống chúng ta đã thấy bao nhiêu hàng rào ngăn cách giữa Linh mục với giáo dân, giữa các giáo dân với nhau, giữa người Bắc với người <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com /><st1:country-region w:st=Nam</st1:country-region>, người Trung... Vì thế, dù là Kitô hữu hay là bất cứ ai khác, tất cả chúng ta đều phải cố gắng đem hết khả năng của mình để quyết phá tan đi những hàng rào ngăn cách này, đặc biệt là bằng đời sống cầu nguyện.Bởi vì mỗi khi chúng ta cầu nguyện cùng với toàn thể Dân thánh Chúa, chúng ta mở rộng lòng trí ra để ý thức được nhiều hơn những ý định của Thiên Chúa trên tất cả chúng ta và trên cả toàn thế giới. Chẳng phải một trong những ý định của Người trên chúng ta là "tất cả được nên một" (Ut sint unum!) đó sao?.
Xưa kia, dân tộc Ít-ra-en cũng đã từng bị khủng hoảng trong đời sống quốc gia của họ. Họ đã thua trận: Ðền thờ, thủ đô và tất cả các thành phố đều bị đổ nát hoàn toàn, dân chúng bị bắt đi lưu đày... Ai ai cũng cảm thấy tuyệt vọng, khóc thương cho số phận bi đát của mình và dường như muốn buông xuôi tất cả. Thế nhưng, Thiên Chúa không hề bỏ rơi dân tộc Người đã chọn. Người đã sai các ngôn sứ đến với họ, loan báo sự giải thoát và ngày cứu độ. Lời của Thiên Chúa nói với Dân riêng của Người trong cơn khủng hoảng trầm trọng này cũng có thể giúp chúng ta học tập các cách cầu nguyện và suy niệm lời Chúa chung với nhau: "Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất" (Is: 49,6)
Đamien
11-09-2006, 10:18 AM
18. SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
Hẳn là không có ai trong chúng ta dám phủ nhận tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của lời cầu nguyện trong đời sống hàng ngày của người Kitô hữu, cũng như không một người nào có thể tự lừa dối rằng mình chưa bao giờ cầu nguyện hoặc phải khẩn xin cùng ai điều gì, dù là dưới bất cứ hình thức nào? Vậy, để giúp cho lời cầu nguyện của chúng ta có ý nghĩa thực sự và có thể đem lại cho chúng ta nhiều kết quả mong muốn, xin được phép gợi ra đây một vài khía cạnh thực hành:
Trước khi cầu nguyện, chúng ta hãy tự đặt mình trước mặt Chúa. Khởi đầu, chúng ta có thể nhớ đến hoặc đọc lại một đoạn Kinh Thánh, một đoạn lời Chúa trong Tin Mừng rồi hãy hình dung ra hình ảnh của Thiên Chúa, chiêm ngắm Người, đồng thời suy niệm về những lời nói, những hành động và thái độ cư xử của Người. Chúng ta có thể cầu nguyện thinh lặng hoặc thầm thì đọc kinh, khẩn cầu cho chính bản thân chúng ta, và cho cả những người khác nữa. Cầu nguyện cho kẻ khác, đó là một bổn phận của mỗi người chúng ta! Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là chúng ta không phải chỉ chú ý đến con người, hoặc chỉ đặt trọng tâm vào những lời kinh mà thôi đâu! Một khi cầu nguyện cho ai, chúng ta xin cho ý Chúa được thể hiện nơi người ấy và trong những nhu cầu của người ấy. Chúng ta có thể nhắc đến đích danh người ấy, nhớ đến cả gia đình của người ấy và cũng có thể đốt lên những nén hương hay thắp sáng một hai ngọn nến trước bàn thờ để cầu cho họ cách đặc biệt.
Trong khi cầu nguyện, chúng ta hãy tỏ ra khiêm tốn và thật chân thành, đừng quanh co giả dối, bởi vì Thiên Chúa, Người thấu suốt hết mọi điều bí ẩn trong thẳm sâu tâm hồn của mỗi người chúng ta. Hãy thân thưa với Chúa một điều gì đó thật rõ rệt, một ơn đặc biệt nào đó mà chúng ta -hoặc những người chúng ta cầu nguyện cho- thực sự ước muốn và đang cần đến. Rồi hãy để cho Thiên Chúa được tự do đáp trả theo ý Người.
Thiên Chúa có nhiều cách thể hiện đáp trả và làm trọn những ý nguyện chân thành và xác đáng của chúng ta. Ở đây một vấn nạn có thể được đặt ra, đó là: Làm sao chúng ta có thể tiếp tục cầu nguyện được khi những lời nguyện rất thiết tha của chúng ta, ngày này qua ngày khác, xem ra không đem lại một kết quả nào cụ thể? Câu trả lời quả thực không có gì khó khăn: Chính chúng ta không thể biết được lời cầu xin của chúng ta có bị Thiên Chúa khước từ hay không, bởi vì như đã nói, Thiên Chúa luôn sẵn sàng đáp trả và Người có nhiều cách thế để đáp trả lời cầu xin của chúng ta. Chúng ta cần phải xác tín điều này là không có lời cầu nguyện nào trở thành vô hiệu! Lời cầu nguyện, tự bản chất, đã là một cố gắng để Thiên Chúa đổ tràn tình yêu bao la của Người vào trong thế giới này, và bất cứ một hành động giúp đỡ người lân cận nào -cho dù là nhỏ bé đến đâu mà không hề pha một chút ích kỷ- thì cũng đều có ảnh hưởng tốt đẹp vào bầu khí chung của cả thế giới này.
Chúng ta có nên cầu nguyện cho những người ghen ghét chúng ta, hoặc những kẻ thù nghịch với chúng ta không?
Dĩ nhiên là chúng ta có bổn phận phải cầu nguyện cả cho họ. Ðiều này quả thật là khó khăn, nhưng là một điều phải làm! Và không những chúng ta phải cầu nguyện cho những kẻ ghen ghét, những kẻ thù nghịch, những kẻ cư xử không tốt đối với chúng ta, mà còn phải cầu nguyện cho hết mọi người thuộc mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ, mọi tôn giáo..., bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa mới thấu suốt được hết tâm can của từng con người. Một lý do khác để chúng ta sẵn sàng cầu nguyện cho những kẻ đã gây ra phiền toái cho chúng ta là bởi vì những người này đã không có được mấy cơ may trong cuộc đời: Họ thuộc thành phần "cặn bã" trong xã hội và có thể họ là nạn nhân của hoàn cảnh bất thuận lợi, thoái hóa đã đưa đẩy họ tới chỗ có những hành vi thô bạo, bất chính, phạm pháp...
Lời cầu nguyện cho kẻ khác của chúng ta có thể gây nhiều ảnh hưởng trên đời sống tư riêng của họ. Một điều chắc chắn là người ấy (hoặc những người ấy), khi biết được rằng chúng ta đã cầu nguyện cho, sẽ cảm thấy được nâng đỡ rất nhiều. Họ sẽ được mạnh sức hơn để chịu đựng các nghịch cảnh và được can đảm hơn để tiếp tục sống và sống sót. Ngay chính bản thân chúng ta cũng vậy, chúng ta sẽ cảm thấy được an ủi, được khích lệ, được nâng đỡ biết bao, khi biết rằng có những người, những cộng đoàn đang giúp lời cầu nguyện cho chúng ta, nhất là khi họ nhắc đến đích danh của chúng ta trong lời kinh khẩn nguyện cùng Thiên Chúa!
Trên đây là một vài khía cạnh thực hành của lời cầu nguyện có thể giúp mỗi người chúng ta hiểu biết hơn, tin tưởng hơn và gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp hơn trong đời sống cầu nguyện.
Chúng ta hãy nâng đỡ nhau bằng lời cầu nguyện, và lời cầu nguyện lại sẽ nâng đỡ mỗi người chúng ta trong cuộc sống đời thường. Hãy cầu nguyện liên lỉ và cầu nguyện cho hết mọi người được sống trong yêu thương và trong hòa bình!
Đamien
11-09-2006, 10:23 AM
19. CẦU NGUYỆN CHO THA NHÂN
Trong cuộc sống hàng ngày, có lẽ ai ai trong chúng ta cũng đều đã hơn một lần cầu nguyện, và chắc chắn, không nhiều thì ít, chúng ta cũng đã từng nhớ đến những người khác trong các lời khẩn nguyện tha thiết dâng lên Thiên Chúa.
Quan tâm đến tha nhân trong kinh nguyện, đây thực sự là một trong những điểm chính yếu của lời cầu nguyện! Mỗi khi chúng ta dùng lời kinh đơn sơ này: "Lạy Chúa, xin thương nhìn đến các tôi tớ Chúa...", chúng ta biểu lộ một tình thương, một sự quan tâm đến người khác, và chính nhờ đó, Thiên Chúa cũng sẽ yêu thương và quan tâm đến tất cả chúng ta, như Người đã từng yêu thương con người từ ngàn đời và hằng vẫn quan tâm đến từng người một trong chúng ta. Người đã tỏ bày tình yêu bao la của Người nơi Ðức Giêsu Kitô, Con một Người, đã chịu đóng đinh trên Thập Giá, đã sống lại và đang hiện diện ở bên cạnh chúng ta để quan tâm lo lắng, để chăm sóc ủi an, để cảm thông và để dẫn đường chỉ lối cho chúng ta. Chúng ta có thể xác tín điều này là: Không một trạng huống nào của con người mà Thiên Chúa đã không hiện diện sẵn sàng ở đó!
Thật vậy, Thiên Chúa đã đi bước trước trong sự yêu thương và trong mối bận tâm đối với từng chúng ta, mặc dù con người chúng ta thực sự chẳng là gì và cũng chẳng xứng đáng chút nào (Tv 8,5). Vì thế, Người mong muốn tất cả chúng ta hãy noi gương Người để mà thực hiện điều đó đối với tha nhân.
Sau đây là một bản kinh nghiệm của người Do Thái giáo, với những lời kinh rất súc tích, giàu hình ảnh và dào dạt những cảm tình, mà chúng ta có thể học tập và đem áp dụng cụ thể vào các buổi cầu nguyện của chúng ta:
Lạy Chúa, con cầu xin Chúa, từ tận đáy lòng con,
Con muốn cầu xin cách thành khẩn hết sức
Cho những ai đang bị hạ nhục
Cho những ai đang sa lệ
Cho những ai đã đến điểm không thể trở về,
Cho những người bất lực,
Cho những người đang hấp hối,
Cho những người đang buồn sầu vì bị hiểu lầm,
Cho những người bị khinh rẻ, bị coi thường,
Cho những người yếu đuối, những người bị áp bức,
Cho những người bị cư xử tồi tệ, bị ngược đãi,
Cho những kẻ ngu si, những kẻ xấu nết, những kẻ ti tiện
Cho những kẻ vụng về, những kẻ xấu xí, vô duyên,
Cho những ai đang gặp nghịch cảnh, đang phải chịu khổ đau trên thân xác và trong tâm hồn,
Cho những bệnh nhân đang trên đường tới bệnh viện gần nhất,
Cho những người không tìm được giấc ngủ suốt một đêm dài,
Cho những người thiếu cơm ăn áo mặc, không có chỗ trú ngụ,
Cho những người vừa đi làm về, đôi tay còn đang run rẩy và trái tim còn đang thổn thức âu sầu,
Cho những ai đang sợ phải chết,
Cho những ai cầu xin mà không được đáp ứng,
Cho những ai đang chờ mua thuốc ở cửa hàng,
Cho những ai chậm chuyến đò, lỡ chuyến xe, hụt chuyến tàu,
Cho những ai đang chán nản và cảm thấy buồn nôn,
Cho những kẻ đang chiến bại,
Cho những người đang ao ước niềm bình an, niềm vui và hạnh phúc,
Cho tất cả mọi người.
Xin Chúa chiếu dọi ánh sáng của Chúa trên chúng con cùng với nguồn tình yêu thiết tha và bao la của Chúa.
Lạy Chúa, con cầu xin Chúa, với tất cả lòng chân thành, con cầu xin Chúa từ tận đáy thâm sâu của trái tim con, xin Chúa thương nhậm lời.
Amen.
Đamien
11-09-2006, 10:23 AM
20. CẦU NGUYỆN TRONG LAO ÐỘNG
Tại bảo tàng viện Louvre ở Pháp có trưng bày một bức họa tuyệt tác rất sinh động của J.H. Millet (1814-1875) mà người nào đã có dịp chiêm ngưỡng thì khó lòng quên được! Nội dung của bức họa mô tả cảnh hoàng hôn ở một miền quê nước Pháp: Một cánh đồng rộng mênh mông, chung quanh là núi rừng hùng vĩ với những sắc lá úa vàng của mùa thu, làm nền cho hình ảnh của đôi vợ chồng bác nông dân đứng giữa bức họa, đang cúi đầu cầu nguyện, bên cạnh họ có một chiếc xe đẩy và một vài cái cào rơm; phía bên trái bức họa là hàng cây cao vút và giữa những tán lá sắp ngả sang màu đỏ, ẩn hiện một tháp chuông nhà thờ chan hòa trong sắc nắng chiều tà; phía dưới bức họa, người ta đọc được chữ "Angelus" (Angelus: Kinh nhật một, Kinh Truyền Tin mà chúng ta vẫn thường đọc lên mỗi khi nghe ngân vang tiếng chuông nhà thờ...)
Thật vậy, người ta không thể nào quên được, nếu đã có dịp nhìn ngắm, những đường nét độc đáo, sắc sảo và những màu sắc đặc biệt hài hòa của bức họa tuyệt tác này. Bức họa đã nói lên được cái phẩm giá cao quý của những người lao động chân tay. Nhưng không phải đơn thuần chỉ có thế! Chúng ta còn có thể nhận ra một khía cạnh khác nổi bật hơn, đó là màu sắc thiêng liêng được tác giả thể hiện một cách phong phú trong bức họa: Hình ảnh của Thiên Chúa đang thực sự hiện diện ngay trong đời sống lao động của con người.
Nói cách khác: Thiên Chúa mà hai vợ chồng bác nông dân kia đang dâng lời cầu nguyện không phải là một Thiên Chúa bị đóng khung trong nhà thờ, nhưng là một Thiên Chúa rất gần gũi với thực tại, với môi trường sinh sống của con người. Ðiều này có nghĩa là Thiên Chúa không phải chỉ hiện diện trong nhà thờ, trên trời cao, nhưng Người còn hiện diện ở ngay bên chúng ta, trong tất cả mọi người và ở tất cả mọi nơi. Người không bao giờ bị hạn hẹp bởi không gian và thời gian, và Người sẽ rất gần gũi với chúng ta khi chúng ta biết cảm nhận Người với một niềm tin tưởng hoàn toàn. Hình ảnh hai vợ chồng bác nông dân đang cúi đầu cầu nguyện đã thể hiện được sự nhìn nhận Thiên Chúa một cách sâu xa tuyệt đối đó. Họ đã không tách biệt công việc lao động với niềm tin vào Thiên Chúa, nhưng đã hội nhập cả hai thành một. Thiên Chúa và môi trường sinh sống của họ đã hợp nhất với nhau, có nghĩa là Thiên Chúa đã thâm nhập vào thực sự chính nhịp sống hằng ngày của họ.
Có thể có nhiều người trong chúng ta sẽ bảo rằng: Ðiều đó thì khó gì đối với những người được phác họa trong tranh! Rất may mắn cho chúng ta, bởi vì quanh đây vẫn không thiếu những người thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau đã không nghĩ như vậy! Những người này đã hơn một lần thực hiện được kinh nghiệm sống đó trong chính đời thường của họ, mặc dù họ cũng là những người phải bận rộn nhiều với công việc hằng ngày như tất cả chúng ta: Các bạn hãy cố gắng dùng tất cả công việc lao động mỗi ngày của các bạn như một của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa. Dù bạn là người cha, người mẹ trong gia đình, dù bạn là một y tá, một bác sĩ ở bệnh viện, dù bạn là một tài xế, một khách bộ hành ở đường phố, hoặc dù bạn là ai, ở bất cứ một địa vị nào trong xã hội... , bạn cũng hãy dâng tất cả công việc và chính cả đời sống của bạn lên Thiên Chúa!. Trên các bản nhạc của ông sáng tác, J.S. Bach vẫn thường ghi chú: "Dâng kính vinh quang Thiên Chúa chí cao, và ước gì những người khác cũng được nhiều lợi ích từ những bản nhạc này!".
Thờ phượng Chúa, yêu mến Chúa là như thế đó! Ðây là điểm then chốt của vấn đề: Sự hiểu biết và sự thực hành tình yêu. Lòng kính mến Chúa phải luôn đi đôi với tình yêu thương người và cả hai phải được thể hiện trong thực tại của công việc hằng ngày, trong môi trường lao động của bản thân mỗi người chúng ta. Chúng ta phải biết nhìn nhận Thiên Chúa ngay trong công việc, không chờ đợi ở một thời gian hoặc ở một không gian nào khác, và cầu nguyện cùng Người trong phút giây hiện tại, dù là giữa lúc chúng ta đang bề bộn trăm công nghìn việc đi nữa!
Hình ảnh của đôi vợ chồng bác nông dân trong bức họa nói trên là một hình ảnh gương mẫu và là những đường nét sống động góp thành một tuyệt tác giá trị cho con người. Vì thế, cho dù có thể chúng ta chưa được chiêm ngưỡng bức họa, nhưng chúng ta vẫn có thể hình dung ra được những sắc thái đặc biệt ấy thể hiện trên tầm mắt, trên tâm linh và trên cả cuộc sống của chúng ta. Những biểu tượng đó dẫn đưa chúng ta lại gần Thiên Chúa hơn, đồng thời giúp chúng ta luôn xác tín rằng: Thiên Chúa luôn hiện diện thực sự bên cạnh chúng ta, trong chúng ta, ngày hôm nay và cả trong những giây phút hiện tại này !
Đamien
11-09-2006, 10:26 AM
21. XIN ÐƯỢC THẤY VINH QUANG
Nhìn lại dòng lịch sử nhân loại, chúng ta nhận thấy là ngay từ xa xưa, con người đã ao ước được thấy Thiên Chúa. Trong sách xuất hành có ghi lại câu chuyện ông Môsê, lúc thưa chuyện cùng Thiên Chúa trên Núi Thánh, đã thốt lên: "Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài" (Xh 34, 19). Quả thực, Môsê đã không biết mình nói gì khi xin điều đó, bởi vì "không ai nhìn thấy Thiên Chúa mà còn sống!". Cuối cùng, Môsê cũng không nhìn thấy trực tiếp Thánh nhan Chúa, mà chỉ được xem thấy phía đàng sau Người (x. Xh 33, 18-23). Hoặc như Tông đồ Philippê đã có lần nài xin với Ðức Giêsu cho các ông được nhìn thấy Chúa Cha (Ga 14, 8)... Cũng như Môsê, cũng như Philippê, ai ai trong chúng ta cũng muốn được nhìn thấy, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Thiên Chúa. Thế nhưng, bao lâu chúng ta còn sống nơi dương thế này, chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm Thiên Chúa qua Ðức Tin, chúng ta chỉ có thể xem thấy lờ mờ như trong một tấm gương và chỉ đến mai sau, chúng ta mới được mặt giáp mặt: "Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi" (1Cr 13, 12). Trong lúc chờ đợi được nhìn thấy Chúa diện đối diện, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc với Người, hiểu biết và "thấy" Người phần nào qua đời sống chiêm niệm, qua việc cầu nguyện.
Cầu nguyện là thời gian hoàn toàn hiến dâng cho Chúa, trong một sự phó thác trọn vẹn, với tất cả lòng yêu mến thiết tha. Cầu nguyện, là thời gian an bình, thanh thản ở bên Chúa. Cầu nguyện là thời gian chờ đợi và yêu mến Chúa, thời gian mở rộng lòng ra để tâm sự với Người trong thinh lặng, và có khi trong đêm tối nữa.
Vậy chúng ta hãy cứ tiếp tục cầu nguyện trong đơn sơ phó thác và trong mến thương tràn đầy. Hãy mở cửa trái tim để tình yêu đi vào. Hãy hướng tâm hồn về Thiên Chúa như kim nam châm luôn hướng về hướng Bắc. Và hãy thật chân thành trong lời cầu nguyện. Ðó là cuộc hành trình đi về với Thiên Chúa!
Chúng ta cứ tiếp bước, cứ tiếp tục cầu nguyện, và hãy luôn phó thác bản thân trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện của tất cả chúng ta rồi sẽ trở nên lễ Phục sinh của chúng ta. Và sau này, qua Phục sinh, chúng ta sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa cách viên mãn, sẽ được Người tỏ cho thấy vinh quang của Người như lòng vẫn ước mong !
Đamien
11-09-2006, 10:26 AM
22. CẦU NGUYỆN: TỪ THẤT BẠI ÐẾN CHIẾN THẮNG
Ngay khi bắt đầu cuộc đời công khai, nghĩa là lúc tra tay làm công việc Chúa Cha giao phó, Ðức Giêsu đã thành công rực rỡ. Dân chúng từ khắp nơi lũ lượt tuôn đến nghe Ngài... Thế nhưng vào cuối đời, Ngài đã bị nhiều người xem như một nhân vật nguy hiểm và cuối cùng, Ngài bị rơi vào tay những kẻ chống đối. Ngài bị họ liệt vào hạng người phá rối trật tự, và rất nhiều người trước đây theo Ngài bây giờ vội tránh xa. Ngài đã phải chịu cảnh cô đơn, bị lột trần, bị hành hạ và có lúc xem ra như đã bị Chúa Cha lãng quên, ruồng bỏ. Ngài có vẻ như đã bị thất bại nặng nề !
Một trong những vấn đề phiền toái của xã hội chúng ta ngày nay là vấn đề con người muốn và phải đạt tới thành công: thành công trong công ăn việc làm, thành công trong hôn nhân, trong đời sống gia đình, thành công trong các hoạt động xã giao... Thế nào cũng phải đạt tới thành công, dù là với bất cứ giá nào. Với não trạng này, chúng ta cũng muốn tìm cách đạt tới thành công trên bình diện siêu nhiên. Từ đó, chúng ta quyết tâm chuyên lo việc cầu nguyện cách nghiêm chỉnh. Chúng ta dành nhiều thời giờ để cầu nguyện. Chúng ta tận hiến bản thân cho Thiên Chúa và sẵn sàng tuân hành theo thánh ý của Người. Chúng ta cho rằng như thế là chúng ta đang tiến đến thành công rực rỡ, nhưng đâu biết rằng điều đó cũng có thể chỉ là ảo tưởng mà thôi.
Câu chuyện Ðức Giêsu chịu tử nạn xoay đổi hẳn chiều hướng suy tư của chúng ta. Không, chúng ta không thành công lắm trong việc cầu nguyện! Chúng ta cố gắng ngồi đó, xa rời với các thụ tạo khác, và chỉ mong được kết hợp với Chúa. Nhưng sự thực thì lại khác. Chúng ta chẳng chú tâm được bao nhiêu. Sau nửa giờ ngồi suy niệm, chúng ta bỗng sực tỉnh và không nhớ chuyện gì đã xảy ra trong thời gian đó. Dường như chẳng có gì xảy ra cả !
Có người nghĩ rằng: Cầu nguyện, đối với giới tu sĩ, là một vấn đề rất dễ thực hiện. Thực ra, theo lời thú nhận của một người nữ tu chuyên sống đời chiêm niệm, Nữ tu Maria Bolding, O.S.B., người Anh, tác giả của nhiều cuốn sách về cầu nguyện và chiêm niệm, thì: vấn đề cầu nguyện chẳng phải là việc dễ như trở bàn tay đâu! Cho dù cả một đời đã dành cho Thiên Chúa và cho việc cầu nguyện, cũng như việc suy niệm, chiêm niệm đã chiếm trọn cả thời giờ của các tu sĩ, nhưng các vị này cũng vẫn có cảm giác là mình đã không thành công lắm trong việc cầu nguyện !
"Có lẽ tôi chưa bao giờ thực sự biết cầu nguyện". Nếu quả thực chúng ta đã từng cảm nghiệm như thế thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được điều này: Một đàng chúng ta chẳng tin tưởng chút nào vào chính bản thân mình, đàng khác, chúng ta hoàn toàn tín nhiệm vào Thiên Chúa và luôn luôn tuân hành theo thánh ý của Người. Vậy, chúng ta không cần phải giấu giếm sự thất bại trong việc cầu nguyện của chúng ta trước cái nhìn thấu suốt của Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy mình trơ trọi, chúng ta dễ nhìn nhận những yếu đuối, những tội lỗi của mình. Và một khi biết nhìn nhận những yếu đuối, những tội lỗi của mình, chúng ta sẽ ở trong sự thất bại. Ở đây, chúng ta có thể nhớ lại câu chuyện Ðức Giêsu đã kể về người Phan-ri-sêu và người thu thuế lên Ðền thờ cầu nguyện. Người Pha-ri-sêu này có một cuốn sổ ghi các thành tựu thiêng liêng và ông ta đem ra đọc cho Thiên Chúa nghe. Chính ông đã chẳng cần đến Thiên Chúa. Ông nghĩ rằng tự mình ông đã đạt được tất cả những thành quả mỹ mãn đó. Phần người thu thuế, ông này chẳng có một thành tựu nào hết. Ông chỉ biết thưa: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18, 13). Ông thực sự rất cần đến Thiên Chúa. Và tất cả những gì ông có thể làm được đó là dành chỗ cho Thiên Chúa để Người là Thiên Chúa cho ông. (x. Lc 18, 9-14).
Lời cầu nguyện chân thành nhất phải là như thế! Cầu nguyện là dành chỗ cho Thiên Chúa để Người trở thành Thiên Chúa cho bản thân chúng ta. Người thấu suốt mọi sự, Người biết tất cả những thất bại ê chề của từng người chúng ta. Người thương yêu chúng ta bằng một tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện, không phải vì các thành tựu của chúng ta mà chính vì chúng ta thuộc về Người. Tất cả chúng ta đều là con cái của Người! Cầu nguyện cũng chính là đồng ý với cách sắp xếp trên đây, nghĩa là lời cầu nguyện của chúng ta phải đạt tới mức độ không tìm ý riêng của mình nữa, nhưng chỉ tìm thánh ý của Thiên Chúa, cho dù thánh ý của Người có trái ngược với ý muốn tầm thường của chúng ta và thường làm cho chúng ta phải khổ sở.
Hơn nữa, nhiều khi chúng ta bị ảo tưởng là đã cầu nguyện nên, trong khi không những về hình thức mà cả về nội dung, chúng ta đã nài xin Chúa thực hiện ý riêng của chúng ta. Vì thế, mỗi khi cầu nguyện, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của Ðức Giêsu lúc Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trong vườn Ghết-sê-ma-ni: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha" (Lc 22, 42).
Đamien
11-09-2006, 10:31 AM
23. KHI LỜI CẦU XIN KHÔNG ÐƯỢC ÐÁP TRẢ
"Tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em" (Ga 15,16)
Ðức Giê-su đã hứa điều này ba lần trong Phúc âm (Ga 14,14; 15,16; 16,23). Chúng ta phải hiểu lời hứa của Ngài như thế nào, vì nhiều lần chúng ta đã cầu xin cho bản thân hoặc cho tha nhân -xin cho được khỏi bệnh chẳng hạn- nhưng xem ra những lời cầu xin ấy của chúng ta đã không được chấp nhận?
Một vị linh mục nọ đã cắt nghĩa về những lời cầu xin không được đáp trả như sau: Dĩ nhiên là Thiên Chúa bao giờ cũng đáp trả lại lời cầu xin của chúng ta. Có điều là sự đáp trả ấy không phải luôn luôn là "Ðược". Ðôi khi Người trả lời: "Không, không được đâu!". Có lúc Người lại bảo: "Chờ một chút!".
Chúng ta biết và tin rằng Thiên Chúa biết hết mọi sự. Người biết rõ điều gì là tốt nhất cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cảm thấy khó mà hiểu được tại sao những lời cầu xin khẩn thiết nhất của chúng ta lại không được đáp trả. Lời cắt nghĩa của vị Linh mục nọ xem ra không được ổn lắm, bởi vì trong trường hợp của những người đã bị mắc bệnh lâu năm, những người đang hấp hối, đang chết đói hoặc đang gặp phải cơn gian nan khốn khó mà chúng ta nói với họ rằng Thiên Chúa bảo họ phải chờ đợi thêm hay Thiên Chúa đã khước từ lời cầu xin thiết tha của họ, thì làm sao họ có thể an tâm được, hoặc có thể nói: làm sao họ có thể kiên trì giữ vững niềm tin của họ trước những thử thách đó được. Vì thế, chính chúng ta -hoặc những người chúng ta đang quan tâm- chỉ có thể tìm thấy được sự an ủi, sự nâng đỡ trong những lúc lời cầu xin khẩn thiết nhất của chúng ta không được Thiên Chúa đáp trả, khi chúng ta tự nhắc nhở mình hoặc người khác rằng Ðức Giêsu ít ra cũng đã có lần không nhận được lời đáp trả cho một lời cầu xin của Ngài. Trong lúc đau khổ nhất ở vườn Ghết-sê-ma-ni, Ngài đã cất tiếng cầu xin: "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha" (Lc 22, 42).
Thật vậy, mặc dù Ðức Giêsu đã hứa là Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những điều gì chúng ta xin nhân danh Ngài, những thực ra, chính lời cầu xin cuối cùng của bản thân Ngài đã bị Cha Ngài từ chối. Và đó chính là câu trả lời độc nhất mà chúng ta có thể nhận được. Chính bản thân Người, trong Ðức Giêsu-Kitô, Con một Người, là lời đáp trả duy nhất Người dành cho tất cả chúng ta. Người quá biết rằng chúng ta phải đau xót như thế nào khi lời cầu xin của chúng ta không được đáp trả, kể cả nỗi tuyệt vọng vì cảm thấy dường như Thiên Chúa đã bỏ rơi chúng ta. Chính Ðức Giêsu cũng đã từng bật kêu lên "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27, 46) lúc Ngài bị đóng đinh trên thập giá.
Qua sự kiện này, chúng ta nhận được bài học: Thiên Chúa không phải là Ðấng ngự ở nơi cao thẳm và quyết định một cách đầy bí mật điều gì Người cho và điều gì Người không cho, nhưng Người là Ðấng ở ngay bên cạnh chúng ta Em-ma-nu-en Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Và chính vì thế mà Người có quyền yêu cầu mỗi người chúng ta phải đặt trọn niềm tín nhiệm ở nơi Người, ngay cả trong trường hợp mà chúng ta không hiểu được.
Chính vì thế mà chúng ta phải thưa lên như Ðức Giêsu: "Xin vâng ý Cha", ngay cả trong những lúc gian nan, khổ cực nhất, vì chúng ta biết rằng: cuối cùng rồi chúng ta cũng sẽ nhận được những điều chúng ta khẩn thiết cầu xin và được lãnh nhận một cách đầy tràn !
Đamien
11-09-2006, 10:36 AM
PHẦN BA :
ÐỜI SỐNG TIN-CẬY-MẾN
1. SỐNG ÐỨC TIN (bài 1)
Trong cuộc sống hằng ngày, con người vẫn thường có những hoạt động thiêng liêng quy hướng về Thiên Chúa để ca ngợi và tôn vinh Người. Tuy nhiên, đã có không ít người tìm đến với Thiên Chúa vì thói quen, vì cuồng tín, hoặc vì muốn bắt chước người khác. Ðây hẳn là sự sai lầm của những người sống thiếu đức tin! Thật vậy, điều thực sự quan trọng làm cho con người quy hướng về Thiên Chúa là đức tin: đức tin giải thoát cho các tâm hồn khỏi bị mê hoặc, khỏi bản chất mê tín dị đoan, đồng thời đức tin đã chinh phục được con người phải sống trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chính vì lẽ đó, việc sống đạo của chúng ta chỉ thực sự có giá trị thiêng liêng khi nào chúng ta biết sống đạo bằng đức tin.
Sống đức tin có nghĩa là sống trong sự hiểu biết về Thiên Chúa một cách xác thực và phong phú. Ðức tin đã hợp nhất con người lại với Thiên Chúa trong sự tin tưởng và phó thác hoàn toàn. Nếu chúng ta định nghĩa một người giữ đạo tốt là người siêng năng đọc kinh sớm tối, chuyên cần đi tham dự thánh lễ hằng ngày, người giữ đạo đúng là người vẫn giữ đạo theo thói quen, chỉ biết dừng lại ở những tập quán thường lệ, thiếu sự hăng say, thiếu niềm tin, không có hy sinh và không có cả sự dấn thân... thì quả thật việc giữ đạo ấy quá dễ dàng như đưa tay ngắt một bông hoa mà không cần một chút cố gắng nào, dù là rất nhỏ. Thực ra, chúng ta có thể khẳng định rằng: mẫu người trên đây chỉ là mẫu người sống có những thói quen tốt chứ không hoàn toàn là một mẫu người sống đạo thực sự hay là một người sống đức tin. Việc sống đạo bằng đức tin đòi hỏi mỗi người chúng ta phải trả một giá rất đắt để có thể nhận lãnh đời sống thiêng liêng đích thực, đồng thời còn phải biết kết hợp mật thiết với Chúa qua thánh giá hằng ngày. Ðó là niềm tin tưởng tuyệt đối, đó là thái độ vâng phục hoàn toàn giúp chúng ta hoàn thiện con đường sống đạo trong đức tin vững mạnh. Chỉ có sống đức tin, chúng ta mới thực sự tham dự vào bàn tiệc của Thiên Chúa và được thánh hóa qua việc lãnh nhận các Bí tích. Nhưng sống đức tin không phải chỉ cần có đức tin mà còn phải biết hành động trong đức tin nữa: đó là sự kết hợp thầm kín với Thiên Chúa. Như thế, việc sống đạo của chúng ta không hề dừng lại ở việc đến nhà thờ đọc kinh cầu nguyện và tham dự thánh lễ, nhưng việc sống đạo ấy cần phải được thể hiện trong tất cả các hoạt động của con người đối với Thiên Chúa và đối với mọi người chung quanh. Chính đức tin làm cho con người biết trung tín và không thể đánh mất Thiên Chúa trong chính tâm hồn mình.
Trong cuộc tiếp xúc với các giáo dân, khi được hỏi tại sao ngài lại chọn cuộc đời linh mục, vị linh mục nọ trả lời: "Ðây là một vấn đề mà tôi không mấy thích bàn đến, dù là với bất cứ ai. Tuy nhiên, có một điều tôi biết chắc chắn và có thể nói được một cách chẳng ngần ngại, đó là suốt cả đời tôi, tôi không muốn làm gì khác ngoài chức vụ linh mục, bởi vì tôi không thể cưỡng lại những điều mà chính tôi không thể cưỡng lại được". Rồi Ngài còn nói thêm một cách rất chân thành: "Khó có thể chối từ hoặc gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài được...!"
Phải chăng đó là sức mạnh của đức tin, một đức tin đòi hỏi nhiều tin tưởng và dấn thân, một đức tin như chiếc chìa khóa linh thiêng có thể mở toang tất cả? Người giữ đạo có đức tin là người đã được trao ban chiếc chìa khóa ấy. Họ phải biết gìn giữ nó cho mình như một phương tiện để giao tiếp với Thiên Chúa và như một báu vật một ngày nào đó sẽ trao trả lại cho Người. Nếu họ làm mất đi thì đó là cả một sự sai lầm lớn lao. Họ có bổn phận phải tìm lại bằng bất cứ giá nào. Chính những lúc đó là lúc con người cần sám hối, cần chuộc lại lỗi lầm của mình bằng cách tìm lại đời sống đức tin, như tìm lại chiếc chìa khóa linh thiêng đã mất ấy.
Ðối với chúng ta, những người Kitô hữu, đức tin phải là một vật gì quý giá nhất trần gian. Chúng ta không thể nói: "Có hay không có Ðức tin cũng được!", bởi vì sống đức tin là lối sống hoàn toàn nhất của chúng ta, một lối "sống đạo" thực sự chứ không phải chỉ là một lối "giữ đạo" suông. Phải nhìn nhận rằng chúng ta đã lãnh nhận được đặc ân trở thành công dân của Nước Thiên Chúa và được hân hạnh dự phần vào vinh quang của Nước Người.
Nước Thiên Chúa được ví như một bữa tiệc lớn trong một ngôi nhà lúc nào cũng mở rộng cửa đón chờ, và tất cả những thực khách đã đến dự không ai muốn bỏ ra về. Nếu bữa tiệc không được kéo dài mãi mãi thì những người có đức tin sẽ là những người đang đến dự và đang ước mong cho tất cả mọi người cùng được đến dự, còn những người chỉ biết giữ đạo suông thì hoặc chính bản thân họ đã không sẵn sàng hoặc họ chưa có thể đến dự. Dĩ nhiên, như thế thì họ bị chậm trễ và bị mất mát! Ngược lại, nếu bữa tiệc đó được kéo dài mãi mãi thì những người giữ đạo suông chỉ mong muốn rằng bữa tiệc ấy được tổ chức có giới hạn cho một số người được mời và được tuyển chọn, còn đối với những người đã có đức tin, họ lại mong muốn cho bữa tiệc được tổ chức lớn hơn nữa để tất cả mọi người đều được tham dự một khi đã biết chuẩn bị sẵn sàng.
Vậy, chúng ta hãy vào dự tiệc với Thiên Chúa cùng với tất cả mọi người anh em chúng ta. Ðừng chậm trễ, cũng đừng khước từ, để chúng ta sẽ không bị mất mát. Chúng ta được diễm phúc vì đã nhìn nhận Thiên Chúa và có chính Người làm gia nghiệp. Chúng ta có đời sống đạo đức thiêng liêng hằng được tôi luyện, không phải vì thói quen hay vì tập quán, không phải vì bị mê hoặc hay vì cuồng tín, nhưng vì một ý nghĩa đích thực: đó là sự triển nở cao đẹp của đức tin, của sự sống thiêng liêng dưới tầm mắt và bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, và đó mới thực sự là sống với đức tin !
Đamien
11-09-2006, 10:37 AM
2. SỐNG ÐỨC TIN (bài 2)
Ðối với từng cá nhân và tùy theo từng thời điểm, niềm tin không luôn luôn hoàn toàn giống nhau. Nói cách khác: mỗi người chúng ta quan niệm niềm tin mỗi khác. Tuy nhiên, có một điều mà bất cứ ai trong chúng ta cũng phải đồng ý, đó là: nếu không có niềm tin, con người không thể sống còn được! Ví dụ như trước khi chúng ta ngồi xuống một chiếc ghế nào đó hẳn là chúng ta đã tin chắc rằng không có ai lại chơi xỏ, kéo chiếc ghế ấy ra xa đúng vào lúc chúng ta đặt sức nặng của thân xác mình xuống chiếc ghế ấy. Hoặc trước khi chúng ta bước lên xe đò, máy bay, hẳn chúng ta đã phải đặt hết tin tưởng vào khả năng, vào sự khéo léo vững vàng của bác tài xế hay của chàng phi công... Chúng ta không cần phải nhấn mạnh hơn nữa đến tầm quan trọng của một niềm tin tưởng giống như thế, bởi vì nó đã thực sự là một phần của bản tính con người chúng ta. Không có thứ niềm tin ấy, cuộc đời của chúng ta sẽ dễ dàng tan nát ra từng mảnh vụn. Phải, một niềm tin tưởng như thế quả thật là cần thiết !
Chúng ta còn một niềm tin tưởng khác nữa vốn có nhiều đòi hỏi hơn và đồng thời cũng đem lại cho chúng ta rất nhiều ân huệ: Ðó là niềm tin mà chúng ta ký thác ở nơi những người khác, bắt đầu từ những anh chị em ruột thịt, những người bà con trong họ hàng, trong gia tộc của mình. Mặc dù không cần phải ký kết bất cứ một thỏa ước nào giữa các người thân với nhau, nhưng chúng ta vẫn tin rằng mọi người sẽ đối xử với nhau đầy tình nghĩa. Lý do rất đơn giản: là bởi vì chúng ta tin tưởng nhau, mà một khi đã tin tưởng nhau, sẵn sàng quan tâm đến nhau, sẵn sàng chia sẻ với nhau những vui buồn sướng khổ, những đắng cay ngọt bùi...
Hai quan niệm về sự tin tưởng trên đây có thể giúp chúng ta hiểu biết dễ dàng hơn về đức Tin Kitô giáo, đức tin mà chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng...". Ngày nay, có rất nhiều người -nhất là những người không tin tưởng- chỉ chấp nhận những điều gì họ có thể chứng minh được. Họ quan niệm những người tín hữu chỉ là những kẻ có đầu óc hẹp hòi, hay dễ tin và ưa tin những chuyện hoang đường, những thần thoại...
Vậy thì đức Tin là gì ?
Ðó là một phương thế giúp con người chúng ta có một ý thức hoàn hảo về cuộc sống. Ðức tin đồng hành với những nghiên cứu khoa học, đồng hành với văn chương nghệ thuật, với âm nhạc, báo chí, với những buổi gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi vốn là những thành phần của một quá trình học hỏi. Ðức tin hoàn toàn không phải là một miếng băng keo được dán lên sự "không hiểu biết" của con người, nhưng trái lại, đức tin mở ra cho con người một lối đi vào thế giới trừu tượng và giúp con người tiếp xúc với khía cạnh thiêng liêng của cuộc sống.
Dĩ nhiên chúng ta cần phải vun trồng, nuôi dưỡng đức tin, đồng thời cần phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu về đức tin. Cũng giống như những người học chơi đàn dương cầm - chỉ có thể tiến bộ được khi biết dìm mình trong âm nhạc, chúng ta cần phải sẵn sàng dấn thân, thám hiểm vào thế giới vĩnh cửu, phải tìm hiểu thêm quan niệm về siêu thời gian, phải nghiên cứu thêm về Thiên Chúa, về sự cầu nguyện và về những vấn đề giống như thế, nếu chúng ta thực sự luôn mong cho đức tin của chúng ta được phát triển. Ðó là một công việc mang tính cách khoa học, bởi vì khi quyết đoán một vài điều gì đó, chúng ta cũng đem ra giảo nghiệm để tìm xem có chỗ nào sai trái chăng. Ðiểm cao của Ðức Tin Kitô Giáo là khi chúng ta cảm nghiệm được rằng chúng ta đã được sống hài hòa với Thiên Chúa, khi thời gian của chúng ta được chìm đắm vào trong vĩnh cửu và những ước vọng, những hoài bão của chúng ta bắt đầu được thể hiện ra bên ngoài, trong cách thế mà chúng ta đang sống. Thánh Phaolô Tông đồ đã nắm được ý tưởng ấy khi Ngài đề cập đến quan niệm sống hiện hữu và chuyển động trong Ðức Kitô, hay khi Ngài trích dẫn kiểu nói "Sống nhờ đức tin": "Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống" (Rm 1, 17).
Vì thế, đức tin không phải là điều gì đơn giản, nhưng đức tin giúp chúng ta nắm bắt được những điều cao cả như vũ trụ, Thiên Chúa, sự phong phú của cuộc sống... Và đó chính là điều mà Thiên Chúa đã trao ban cho tất cả chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 10:39 AM
3. NIỀM XÁC TÍN
Ai trong chúng ta cũng biết chắc chắn rằng khi để bàn tay vào lửa thì bàn tay sẽ bị bỏng và nếu chúng ta lấy dao cắt vào da thịt thì phần chi thể ấy sẽ bị chảy máu. Vậy khi bàn về đức tin, chúng ta có thể xác tín về niềm tin của mình không? Làm sao chúng ta có thể biết được chân lý mà chúng ta đang tin tưởng đó là có thật, là thực sự như thế ?
Với tư cách là tín hữu, chúng ta phải nhờ đến Kinh Thánh để trả lời cho các vấn nạn trên đây. Trong thư gởi cho giáo đoàn Galát chúng ta đọc thấy câu này của Thánh Phaolô Tông đồ: "Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em, mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi!" (Gl 4, 6). Thánh Phaolô đang cắt nghĩa tại sao các tín hữu có thể có lý do vững chắc để coi mình như là con cái của Thiên Chúa. Ngài nói rằng chính Thiên Chúa, cùng nhịp với tác vụ của Ðức Giêsu trên trần gian, đã ban Thần Khí cho những ai có niềm tin. Một trong những hậu quả hồng ân đó là họ có được sự xác tín nội tâm rằng họ là con cái của Thiên Chúa. Họ gọi Thiên Chúa là "Áp-ba" -từ mà các trẻ em thường dùng để gọi người cha trong ngôn ngữ Aram, tương đương với từ "bố" hay "ba" trong ngôn ngữ Việt Nam chúng ta- vì đối với những kẻ làm con cái, không có niềm tin nào lớn hơn niềm tin tưởng vào một người đàn ông, người mà họ gọi là "bố".
Nhưng làm sao chúng ta có thể vững tâm tin tưởng được điều đó? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này bằng ba cách sau đây :
1. Trước hết, chúng ta có thể vững tâm tin tưởng nhờ vào những lời Thiên Chúa đã nói với chúng ta. Trong Kinh Thánh, chúng ta có thể đọc thấy đủ những lời Thiên Chúa đã hứa. Ví dụ như khi chúng ta lỡ phạm tội, chúng ta sẽ đọc được lời hứa, lời trấn an sau đây của Người: "Cho dù tội của chúng con có đỏ như son -khi chúng ta phạm tội sát nhân chẳng hạn- thì những tội ấy cũng sẽ trở nên trắng như tuyết (Is 1, 18) -màu trắng biểu tượng cho sự trong sạch. Rồi khi Giáo hội sơ khai bắt đầu rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, chúng ta đọc được nơi Thánh Phêrô: "Hết những ai kêu cầu danh Ðức Chúa, sẽ được ơn cứu độ" (Cv 2, 21). Và chính Ðức Giêsu, Thầy chí Thánh của chúng ta, cũng đã từng quả quyết rằng: "Ai đến với Tôi, Tôi sẽ không loại ra ngoài" (Ga 6, 37).
Ðó là một số trong rất nhiều lời hứa của Thiên Chúa. Những lời hứa này đã vạch rõ cho chúng ta thấy rằng không những chúng ta có thể biết được Thiên Chúa nhờ tin vào Ðức Giêsu-Kitô, mà chúng ta còn được tiếp nhận một cách rất nồng nhiệt. Chúng ta có tin rằng Thiên Chúa sẽ giữ những lời Người đã hứa không ?
2. Thứ đến, điều làm cho các tín hữu có cơ sở để vững tin đó là chính điều Ðức Giêsu đã làm. Tác vụ của Ðức Giêsu trên trần gian này, xét về mọi khía cạnh, thì thật là đặc biệt. Những lời giáo huấn của Ngài tuy rất đơn giản, nhưng thâm thúy vô cùng, và vì lẽ đó, dân chúng vẫn thường bảo nhau: "Ngài lấy đâu ra những điều ấy?". Ðiều chủ yếu Ngài thường khuyên dạy và vẫn hay đề cập đến, đó là: Thiên Chúa là Tình yêu, và chúng ta có thể nhờ đức tin mà cảm nghiệm được Tình Yêu này. Cái chết và sự sống lại vinh hiển của Ngài, một sự toàn thắng của Ngài trên sự chết, đã nói lên rằng Tình Yêu của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn bất cứ một quyền lực nào khác. Bằng cách tỏ hiện Tình Yêu Thiên Chúa ra như thế, Ðức Giêsu đã mở rộng con đường để chúng ta có thể bước theo, và mang lại một bầu khí mới để chúng ta có thể hít thở. Ngài đã gợi ý một nền tảng căn bản mới mà trên đó chúng ta có thể xây dựng cuộc sống của chúng ta. Theo quan điểm của Ngài, tình yêu có thể đem lại sự tha thứ và một lối sống mới. Chúng ta có thể xác quyết được điều đó, bởi vì chúng ta tin rằng Ngài đã làm đủ cách để thực hiện được điều đó.
3. Lý do thứ ba mà chúng ta có thể xác tín về niềm tin Kitô của chúng ta, đó là đã có một điều trổi vượt lên trên khả năng của chúng ta và đã làm cho chúng ta được vững tin. Cũng trong đoạn thư được trích dẫn ở trên Thánh Phaolô đã đề cập đến sự kiện Thiên Chúa sai Thần Khí của Con của Người vào trong tâm hồn của chúng ta. Nói cách khác, khi chúng ta, nhờ Ðức Giêsu, đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ thực hiện ngay bên trong chúng ta một sự thay đổi mà Ðức Giêsu gọi là "Sự sinh lại", cuộc tái sinh. Ðiều này có nghĩa là có một quyền năng hoạt động ngay ở trong trung tâm của con người chúng ta và quyền năng đó chính là Tình yêu Thiên Chúa. Tất cả chúng ta là tín hữu, chúng ta sẽ cảm nghiệm dần dần Tình yêu ấy và sẽ cảm nghiệm một cách liên tục trong suốt cuộc đời chúng ta.
Như thế, đối với các tín hữu, những lời hứa của Thiên Chúa, tác vụ của Ðức Giêsu đã làm cho chúng ta và Chúa Thánh Linh sống động trong chúng ta. Ðó là những lý do vững chắc giúp cho chúng ta được vững tin. Tuy nhiên, chúng ta có thể vững tin mà không bao giờ kiêu căng, bởi vì bất cứ sự vững tin nào cũng đều do lòng nhân hậu của Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 10:44 AM
4. TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA
Hãy cố gắng làm việc. Hãy chu toàn bổn phận. Hãy làm tất cả những gì chúng ta có thể làm và làm hết sức mình, rồi trao phó tất cả mọi sự trong tay Thiên Chúa. Người là Ðấng Quan Phòng, cho dù con người chúng ta có ý thức được điều này hay không. Chúng ta không thể trông thấy Người, nhưng Người luôn hiện diện ở khắp mọi nơi và hằng ở với chúng ta cho đến muôn đời. Dù sống hay chết, tất cả chúng ta đều thuộc về Người.
Người khôn ngoan làm tất cả những gì hợp với khả năng của họ, mà khả năng của con người chúng ta thì rất hạn hẹp. Chúng ta không thể làm chủ được vận mệnh của mình, nhưng chúng ta có thể hành động một cách có trách nhiệm, đồng thời đặt trọn niềm tin yêu, tín thác vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta sống ở trần gian này với một chân trời hạn hẹp và với một nhãn quan nhỏ bé. Thiên Chúa thì trái lại, Người nhìn chúng ta với một nhãn quan vô cùng rộng khắp. Ðối với Người, không có chân trời và Người không hề bị hạn hẹp trong bất cứ một môi trường sống nào hay trong bất cứ một khoảnh khắc thời gian nào. Người là chủ của cả thời gian và không gian. Chính Người biết rõ điều gì là tốt nhất cho mỗi người chúng ta, và không phải chỉ hạn hẹp ở trong cuộc đời rất ngắn ngủi này, mà còn bao la hơn trong những chiều kích khác nữa, những chiều kích đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích hơn về phương diện siêu nhiên.
Có một số người chúng ta quan niệm rằng những người Hồi Giáo không có niềm tin. Ðiều đó có đúng không? Thực ra, trong sách Coran của người Hồi giáo có chép: "Ðối với kẻ tin, thì mọi sự sẽ được tốt đẹp". Câu này có nghĩa là: Trong bất cứ trạng huống nào, cho dù việc gì xảy ra đi chăng nữa, thì rồi mọi sự cũng sẽ được kết thúc một cách tốt đẹp. Vả lại, không nhất thiết là chúng ta phải được thưởng công ngay ở đời này.
"Có một người Ấn Ðộ kia đến Luân Ðôn để giao dịch buôn bán. Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì bỗng nhiên, ông nhận được điện tín phải về Ấn Ðộ ngay trong vòng 48 tiếng đồng hồ, vì nếu không có sự hiện diện của ông, công việc kinh doanh của gia đình ông tại quê nhà có thể sẽ bị thiệt hại nặng nề... Cầm giấy điện báo ở trong tay, ông vội vã đón taxi ra phi trường ngay, hy vọng sẽ tìm được chỗ trên chuyến bay đi Ấn Ðộ sớm nhất. Chẳng may trên đường ra phi trường, chiếc taxi của ông bị nạn kẹt xe. Vì thế, khi ông tới nơi thì các hành khách của một chuyến bay đi Ấn Ðộ cũng vừa lên phi cơ hết. Ðứng lại sân bay, ông không biết làm sao hơn là đưa tay lên cầu nguyện. Ngay lúc đó, bỗng có một bàn tay của ai đó đập nhẹ vào vai ông. Quay lại, ông nhận ra một bạn học cũ trong bộ đồ bay, và còn may mắn hơn người bạn này lại là viên phi công của chính chuyến bay đi Ấn Ðộ này. Thế là mọi sự được giải quyết một cách êm xuôi và tốt đẹp".
Thiên Chúa chúng ta là Ðấng vô cùng quảng đại!
Tất cả chúng ta thực sự đều thuộc về Người, và một ngày nào đó, chúng ta rồi cũng sẽ được trở về với Người. Ðó là một chân lý giúp chúng ta được vững tâm hơn và được cảm thấy an toàn, mỗi khi chúng ta gặp những trở ngại hoặc những nguy hiểm đe dọa cuộc sống của chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 10:48 AM
5. NIỀM TÍN THÁC VÀO ÐỨC GIÊSU KITÔ
Qua lời phán hứa của Giavê Thiên Chúa với dân Do Thái ngày xưa: "Ta sẽ không bỏ rơi các người", chúng ta có thể kêu lên cùng Người, với niềm tín thác: "Chúa là Ðấng phù trợ con, con không sợ gì, nào ai có thể làm gì được con?..." Sự tín nhiệm này được làm nổi bật lên trong câu chuyện Ðức Giêsu chữa lành người phụ nữ bị băng huyết và con gái ông Gia-ia mà thánh sử Luca đã thuật lại trong Phúc Âm của Ngài (Lc 8, 40-56).
Ông Gia-ia, ông trưởng hội đường, một ngày kia đến sấp mình xuống dưới chân Ðức Giêsu, nài xin Ngài tới nhà chữa cho đứa con gái ông đang đau nặng gần chết. Ðức Giêsu ra đi, và Ngài phải vất vả lắm mới có thể lách mình đi giữa một đám đông dân chúng theo Ngài đang chen lấn, xô đẩy nhau. Trên đường đi, bất chợt Ðức Giêsu cảm thấy có một chuyện gì đó vừa xảy ra. Ngài hỏi:
"- Ai là người đã sờ vào tôi?
Ðưa tay chỉ đám đông, Phêrô trả lời:
- Thưa Thầy, đám đông xô đẩy chen lấn Thầy đấy!
- Ðức Giêsu bảo, có người đã đụng vào Thầy, vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra"
Ngay lúc ấy, có một người phụ nữ run lẩy bẩy đến sấp mình lạy Ngài. Chính bà là người vừa mới chạm đến Ngài. Mắc bệnh đã 12 năm, bà tin vào Ðức Giêsu và tự nghĩ: mình chỉ cần đụng tới gấu áo của Ngài là đủ để được khỏi bệnh.
-"Này con, Ðức Giêsu nói với người phụ nữ, lòng tin của con đã cứu con. Con hãy đi bình an !"
Ngài còn đang nói thì người nhà của ông Gia-ia chạy đến báo tin rằng cô con gái của ông vừa chết. Dầu vậy, Ðức Giêsu vẫn cứ nhất định đến thăm cô. Ngài nói với truởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu."
Phần ông Gia-ia, ông cũng có lòng cậy trông vào Ðức Giêsu và vẫn muốn đưa Ngài về nhà mình, mặc dù chung quanh ông có nhiều người đang than khóc, can ngăn ông đừng làm phiền đến Ngài nữa: "Cháu nhỏ đã chết rồi mà!"...
Ðến nhà, Ðức Giêsu cầm tay cô gái và truyền :
-"Này bé, chỗi dậy đi!"
Lập tức, cô gái tỉnh dậy và đứng thẳng lên. Ðức Giêsu bảo người ta lấy gì cho cô gái ăn. Tất cả mọi người hiện diện đều vô cùng sửng sốt...
Qua câu chuyện trên đây, chúng ta nhận ra bài học tín nhiệm vào Ðức Giêsu Kitô và lòng can đảm của người phụ nữ mắc bệnh băng huyết, cũng như của ông trưởng hội đường Gia-ia. Người phụ nữ có đủ can đảm để len lỏi qua đám đông, tiến đến gần Ðức Giêsu Kitô và đưa tay ra chạm tới gấu áo của Ngài. Còn ông Gia-ia thì đã can đảm kìm giữ thái độ do dự của mình và bỏ ngoài tai những lời can ngăn của đám người xung quanh, để đưa Ðức Giêsu về nhà chữa cho con gái của mình.
Ngày xưa, sau khi được nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Thánh Phê-rô cùng với các bạn ngài cũng đã có đủ niềm tín thác và lòng can đảm để rao giảng Ðức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, rồi Phục Sinh, cho một đám đông không có mấy thiện cảm. Thế nhưng ngày nay, nhiều tín hữu trong chúng ta xem ra không có mấy cam đảm để làm chứng và rao giảng Tin mừng Ðức Giêsu Kitô, vì thiếu sự tín nhiệm vào Ngài.
Cách đây không lâu, trong bài thuyết trình về đề tài "Quan hệ giữa người Kitô hữu và những người thuộc các tôn giáo khác", linh mục Hans Kng, nhà thần học nổi tiếng người Thụy Sĩ, đã gợi lên 2 quan điểm nổi bật sau đây :
a) Chân lý của Thiên Chúa thật quá vĩ đại để trí khôn con người có thể quán triệt, và người Kitô giáo, người Do Thái giáo, người Hồi Giáo, người Ấn Ðộ giáo phải biết lắng nghe những người thuộc các tôn giáo khác một cách kính trọng.
b) Tất cả mọi người thuộc mọi tôn giáo phải thực sự can đảm để tuyên xưng niềm tin của mình một cách xác tín.
Thật vậy, mỗi người chúng ta cần phải tự vấn xem mình đã thể hiện niềm tín thác vào Chúa Kitô tới mức nào. Chúng ta có đủ can đảm để tuyên xưng: đây là niềm tin của tôi, đây là chân lý, đây là điều mà Thiên Chúa đã chỉ cho tôi biết là chính sự thật - chứ không phải chỉ là một dư luận có thể thật mà cũng có thể không thật không?
Chúng ta còn phải tự vấn xem mình đã biểu lộ niềm tín thác ấy như thế nào, đã tin tưởng thế nào vào sức mạnh của giáo lý của Ðức Giêsu Kitô?
Chúng ta làm thế nào để truyền rao chân lý về Thiên Chúa, hoặc phải nói thế nào về đức tin của chúng ta, trong khi chúng ta còn có những thái độ khinh dể, miệt thị, còn có những hành động gây gổ đối với những người không cùng một tôn giáo với mình ?
Lạy Chúa,
Xin cho mỗi người chúng con biết can đảm
làm chứng cho Chân lý của Chúa,
Chân lý được mạc khải trong Ðức Giê-su Kitô;
đồng thời, xin Chúa cho chúng con
biết tỏ lòng kính trọng
và thể hiện tình yêu thương của Chúa
đối với những người đang làm chứng cho niềm tin khác.
Đamien
11-09-2006, 10:51 AM
6. BA NHÂN ÐỨC ÐỐI THẦN : TIN-CẬY-MẾN (bài 1)
A. ÐỨC TIN
Quãng thời gian nằm giữa Lễ Hiện xuống và Chúa Nhật I Mùa vọng được gọi là Mùa Thường Niên sau lễ Hiện xuống, quãng thời gian "trái độn", ở giữa. Ðây là thời gian hậu Phục sinh kéo dài tới thời gian tiền Giáng sinh, là thời gian người giáo dân sống giữa 2 cao điểm của Năm Phụng vụ. Có lẽ rất nhiều người trong chúng ta không khỏi cảm thấy sống đạo của chúng ta trong khoảng thời gian này như quá đều đều, bình dị. Vậy đức tin Kitô giáo không có gì để nhấn mạnh cho các tín hữu trong thời gian mùa Quanh Năm sao? Vả lại, Mùa Quanh Năm kéo dài gần như suốt năm, hẳn là mùa này phải giữ một vai trò quan trọng cho cuộc sống của các tín hữu chứ?
Thánh Phaolô Tông đồ đã đem lại cho chúng ta một số chỉ dẫn khi Ngài viết: "Hiện nay, đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại"(1Cr 13,13), và Giáo hội luôn nhìn đến thái độ tin cậy mến của các tín hữu như nền tảng của cuộc sống thường ngày của họ. Vậy chúng ta thử xét đến từng điểm một, trước hết là Ðức Tin.
Dĩ nhiên, không phải chỉ có các tín hữu hoặc những người tin tưởng vào Thiên Chúa mới có niềm tin, nhưng niềm tin là một yếu tố rất thường tình của mọi cuộc sống con người và mọi cuộc sống đó sẽ không thể hiện hữu và tồn tại nếu không có sự tin tưởng. Chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận biết bao nhiêu sự kiện như là những điều cần thiết phải có: như việc các trẻ em tin cậy vào người lớn, việc các bạn bè, các đồng nghiệp và hàng xóm láng giềng cần sự giúp đỡ lẫn nhau, việc những người dân trong một nước tùy thuộc vào các nhà lãnh đạo. Thật vậy, tất cả mọi người đều phải "phó thác" bản thân cho nhau bằng nhiều thể, nhiều cách. Chính vì thế mà xét trên bình diện luân lý, tất cả chúng ta đều được mời gọi sống thế nào cho xứng đáng, để người khác có thể tin tưởng vào mình, có thể tín nhiệm mình. Và một điều thật cần thiết là mọi người đều phải biết giữ lòng trung tín với nhau. Như thế, những giá trị như: sự thật, sự trung thực, lòng trung thành... đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi người chúng ta. Nếu không có mạng lưới tin tưởng và tín nhiệm thì cuộc sống sẽ trở nên rối loạn, vô trật tự; đồng thời, sự tín nhiệm cơ bản này của con người không phải chỉ cần cho xã hội mà còn cần cho cả thế giới chúng ta đang sống nữa.
Một trong những kinh nghiệm đáng sợ nhất cho con người chúng ta khi gặp nạn động đất là tuyệt đối không còn một cái gì vững chắc để chúng ta có thể tin tưởng hoặc bám víu vào. Giữa những cơn rung chuyển kinh hoàng, sự tin tưởng vào các tạo vật mà cuộc sống của chúng ta vẫn thường tùy thuộc vào sẽ bị lung lay. Tuy nhiên, cả thế giới khoa học đã không ngừng đặt niềm tin vào cái mà chúng ta gọi là thiên nhiên, vào tính cách đều đặn mà thiên nhiên hoạt động. Tất cả chúng ta cũng vậy, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng phải tín nhiệm vào thiên nhiên, tin tưởng vào thiên nhiên để có thể tiếp tục sống cuộc sống chúng ta.
Tất cả những điều đó - tín nhiệm vào người khác và tin tưởng rằng chúng ta có thể tin tưởng vào thiên nhiên - là thành phần của niềm tin Kitô giáo. Bởi vì niềm tin tôn giáo không phải chỉ là tin tưởng rằng có Thiên Chúa, tin rằng Ðức Giê-su Kitô đã từ cõi chết sống lại (đức tin Kitô có nghĩa là tín thác bản thân chúng ta nơi Thiên Chúa và nơi Ðức Giêsu Kitô), mà còn bao gồm cả ý nghĩa tin tưởng vào các sự vật mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên trong vũ trụ, chung quanh chúng ta, tin tưởng vào xã hội mà trong đó chúng ta đang sống. Ðối với người Kitô hữu chúng ta, niềm tin căn bản là tất cả mọi sự và mọi người đều tùy thuộc vào cánh tay uy quyền của Thiên Chúa, Ðấng hoàn toàn xứng đáng cho chúng ta đặt trọn niềm tín thác. Kinh Thánh luôn luôn nhắc nhở cho chúng ta rằng: Chính Thiên Chúa là Ðấng trung thành đối với chúng ta, bởi vì Người là đấng tuyệt đối trung thành nên chúng ta ngày càng thêm tín nhiệm vào Người như lời sách Xuất hành khuyên dạy: "Con hãy tin tưởng vào vòng tay vĩnh cửu".
Như thế, điều mà chúng ta có thể nhận thức được ở đây, đó là giá trị của cuộc sống kitô không phải là một cái gì không quan trọng được choàng ở bên ngoài những giá trị nhân bản, mà là nền tảng của tất cả những gì chúng ta quý trọng và đánh giá cao trong cuộc sống của chúng ta. Có một cái gì đó nằm bên dưới những giá trị nhân bản, nhưng cuối cùng, chính "cái gì đó" đã đem lại ý nghĩa và giá trị cho những giá trị nhân bản này. "Cái gì đó" này hẳn phải là đức tin kitô, và khi đức tin kitô bao trùm cả cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ nhìn thấy một tương lai và tìm ra một hướng đi cho cuộc sống của chúng ta. Lúc đó, dức tin trở nên một thái độ hy vọng mà chúng ta sẽ bàn đến trong bài Ðức Cậy sau đây.
Đamien
11-09-2006, 10:53 AM
B. ÐỨC CẬY
Thánh Phaolô Tông đồ đã viết: Ba nhân đức căn bản của cuộc sống thường ngày của người tín hữu là Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Mến. Ðức tin là niềm tin tưởng thường xuyên của người tín hữu đặt trọn ở nơi Thiên Chúa, cũng như ở tất cả những gì Người đã tạo thành trong thế giới chung quanh chúng ta và ở nơi những người anh chị em trong xã hội chúng ta đang sống. Trong câu chuyện tạo dựng được ghi lại trong Kinh Thánh, Thiên Chúa "nhìn xem" những sự vật Người đã dựng nên, thế giới và xã hội loài người sống trong đó, và Người thấy mọi sự đều tốt đẹp. Người quả thật xứng đáng cho chúng ta đặt niềm tin cậy và phó thác bản thân trong tay Người, và Người còn là Ðấng luôn luôn trung thành. Tuy nhiên, Ðức Tin, sự tin tưởng ở nơi Thiên Chúa không phải đơn thuần chỉ là một thái độ tin tưởng. Khi nhìn ra chung quanh -và điều này cũng có nghĩa là nhìn về phía trước, nhìn vào tương lai- chúng ta còn tin rằng Thiên Chúa sẽ mãi mãi tiếp tục trung thành, và đây chính là niềm trông cậy vào Thiên Chúa. Như thế, Ðức Cậy là sự tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ bảo đảm tương lai cho chúng ta, là tín thác vào những ý định Người đã dành cho mỗi một người chúng ta, và thái độ này của Ðức Cậy, cũng giống như của Ðức Tin, là một nhu cầu căn bản nhất của con người.
Nhà tư tưởng Mỹ Henry Torrel, sống vào thế kỷ XIX, đã có nhận định này: "Ðông đảo quần chúng đang sống một cuộc sống âm thầm và thất vọng". Nhìn vào thực trạng của thế giới chung quanh với biết bao gian lao, đau khổ, bất công, chúng ta buộc phải đồng ý -ít ra là trên một vài bình diện nào đó- với nhận định bi quan trên đây. Dầu sao, con người chúng ta vẫn tiếp tục hy vọng điều đó không xảy ra. Chúng ta đã hoạch định lại chương trình, bắt đầu lại cuộc sống, và đã rất nhiều lần, chúng ta tìm được sự can đảm để bắt đầu lại. Ðiều mà Kitô giáo quả quyết đó là: niềm hy vọng của con người chúng ta có cơ sở vững chắc, bởi vì Thiên Chúa hành động trong thâm sâu tâm hồn của chúng ta khi Người tạo dựng nên thế giới, tác tạo và rồi tái tạo chúng ta. Người thực hiện điều đó như thế nào, chúng ta không hiểu được luôn luôn. Tuy nhiên, khi chúng ta tin, chúng ta dám đối diện với tương lai, và cho dù bất cứ sự gì xảy ra đi nữa, chúng ta vẫn không hề thất vọng. Có Chúa ở với chúng ta. Có Chúa hoạt động trong chúng ta.
Có một tác giả nọ đã dùng một kiểu nói rất hay trong cuốn tiểu thuyết của ông bàn về cuộc sống vất vả và bấp bênh của những người làm nghề nông: "Khung cửa xanh của viễn tượng". Qua câu này, người đọc có thể nhìn thấy cảnh miền quê thanh bình với những cánh đồng lúa trải dài bát ngát, xanh tươi. Thật là một cảnh tượng đẹp mắt làm sảng khoái lòng người! Câu nói này cũng có thể nhắc nhở chúng ta rằng đức cậy của người tín hữu cũng phải giống như thế. Chúng ta phải biết ngẩng đầu lên trên những nỗi ưu tư, lo lắng, phiền muộn của cuộc sống hàng ngày, để một lúc nào đó, đưa mắt ngắm nhìn cái viễn tượng huy hoàng của Thiên Chúa và để có thể múc ra nguồn sức mạnh từ chính viễn tượng ấy, như trong sách Châm Ngôn của người Do Thái có câu viết: "Bao lâu không có viễn tượng thì bấy lâu dân chúng sẽ tiêu ma".
Tuy nhiên, Ðức Cậy Kitô không phải chỉ có nghĩa là hy vọng vào một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn để bù lại cho cuộc sống hiện tại khổ cực này. Nhà thần học người Ðức, Y. Mormann, và một số nhà thần học khác nữa, đã triển khai một thứ thần học được gọi là thần học hy vọng, tức là đem tương lai tháp nhập vào hiện tại. Thực vậy, chúng ta được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa để thực hiện ngay tại đây và trong lúc này điều mà Thiên Chúa dự định cho tất cả chúng ta. Ðó là nền luân lý của đức cậy: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, chữa lành kẻ yếu đau, bệnh tật, kính trọng phẩm giá của mọi người do Thiên Chúa tạo dựng nên: đàn ông, đàn bà, con trẻ... Chính Ðức Giêsu đã thực hiện những điều này để Nước Thiên Chúa trị đến trên trần gian, và mỗi người chúng ta cũng được mời gọi thực hiện liên tục những điều đó, nhờ quyền năng của Ðức Kitô Phục Sinh. Ðức cậy kitô là quyền năng của sự Phục Sinh của Ngài đã bắt đầu hoạt động trong lịch sử loài người để đem lại một ý nghĩa mới, một phẩm chất mới cho cuộc sống hôm nay.
Phẩm chất mới của cuộc sống hôm nay là gì?
Xin được đề cập đến trong bài Ðức Mến sau đây!
Đamien
11-09-2006, 10:55 AM
C. ÐỨC MẾN
Ba thái độ cần phải có trong cuộc sống hàng ngày của người Kitô hữu, theo Thánh Phaolô tông đồ, đó là: Tin, Cậy, Mến. Ðó cũng là ba thứ kinh nghiệm, ba thái độ sống và cư xử của mỗi một người chúng ta trong xã hội hiện nay. Riêng đối với các Kitô hữu thì ba thái độ này còn hàm chứa nhiều chiều sâu thầm kín. Chúng ta muốn, nhưng cần phải làm thế nào để sự tín nhiệm của chúng ta đối với những người khác ngày càng thêm sâu sắc hơn và để chúng ta biết phó thác bản thân mình cho Thiên Chúa, biết chấp nhận mọi điều Người đang thực hiện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cần phải làm thế nào để niềm tin này được kéo dài mãi trong tương lai, trở thành niềm trông cậy vào Thiên Chúa. Niềm hy vọng đó đặt ra trước mắt chúng ta không phải một ảo ảnh, nhưng là một viễn tượng đầy sáng tạo mà tất cả chúng ta điều phải tiến bước về hướng đó, ngay cả trong chính lúc này, trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Viễn tượng này liên quan đến phẩm chất của cuộc sống con người chúng ta.
Chúng ta có thể quen thuộc với nhiều chương trình chính trị và xã hội -những chương trình này cũng là thành phần của chương trình của niềm hy vọng và niềm yêu mến- nhưng xét cho cùng, chỉ có một điều có thể đem lại cho cuộc sống con người cái phẩm chất đích thực của nó, đó là Tình Yêu, là Ðức Mến. Trong thư thứ nhất gởi cho các Tín hữu Côrintô (1Cr 13, 13), Thánh Phaolô Tông đồ viết: "Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến". Một lần nữa chúng ta cần nhấn mạnh rằng chúng ta không nghĩ đến một hình thức hiếm hoi nào của tình yêu, của lòng mến, là một nhân đức có giá trị đặc biệt đối với người tín hữu và chắc chắn là rất khác biệt với tình yêu theo nghĩa thông thường giữa con người với nhau. Trong cuộc sống, chúng ta có nhiều kinh nghiệm về tình yêu con người và nếu cứ khám phá, cứ đào sâu tình yêu này hơn nữa, chúng ta sẽ tìm ra được nguồn gốc của nó phát xuất từ chính Thiên Chúa và trong các hành động của Người.
Dĩ nhiên, từ "Tình yêu" là một từ bao hàm nhiều ý nghĩa trong bất cứ một ngôn ngữ nào. Chúng ta có thể dùng câu định nghĩa của Thánh Phaolô như sau: "Ðức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu; không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật" (1Cr 13, 4-6). Ðó là những đặc tính rất thường tình của con người, không có gì là đặc biệt hoặc lạ thường. Tất cả chúng ta đều đồng ý như thế! Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng: khi mọi người đều cố gắng khám phá ra những điều huyền nhiệm của cuộc đời, thì không phải cứ đã là tín hữu thì dễ đem những điều đó ra thực hành hơn những người khác đâu! Phải thú nhận rằng chúng ta đã không dành đủ thời giờ để tư duy về mầu nhiệm cao cả cuộc sống của chúng ta: Chúng ta thực sự là ai? Chúng ta từ đâu tới? Chuyện gì sẽ xảy đến cho tất cả chúng ta? Hoặc rồi chúng ta sẽ đi về đâu ?...
Ðức Kitô đã hé mở cho chúng ta thấy Tình Yêu tạo dựng của Thiên Chúa và giúp chúng ta nhận ra cái căn tính của con người chúng ta là tình yêu. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta ý thức được điều này là: Không có gì có giá trị và làm cho chúng ta hài lòng hơn là được yêu mến người khác. Ðược như thế cũng là do lòng yêu mến Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta, để chúng ta thực thi giới răn quan trọng nhất mà Ðức Giêsu đã trao ban cho tất cả các môn đệ của Ngài.
Nếu người Công giáo chúng ta nghĩ rằng thời gian nằm giữa Lễ hiện xuống và Chúa Nhật I Mùa vọng như là mùa "trái độn" giữa hai mùa Phục Sinh và Giáng Sinh, có nghĩa là chúng ta đã cắt vụn tôn giáo ra thành các mùa nhỏ và sắp xếp vào trong các hộp riêng, mà quên đi chiều kích đích thực của cuộc sống hàng ngày. Dĩ nhiên trong năm Phụng vụ cũng đã có những cao điểm, khi mà các tín hữu được mời gọi chú trọng nhiều hơn vào một biến cố hay vào một mầu nhiệm nào đó của cuộc đời Ðức Giêsu Kitô, nhưng không phải vì thế mà những thời gian còn lại kia không quan trọng hoặc ít có ý nghĩa hơn đâu.
Còn một biến cố rất quan trọng nữa mà chúng ta chưa nhắc đến ở đây, đó là biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Ðây là dịp lễ mừng hồng ân của Ðức Giêsu trao ban Thần Khí của Ngài cho các môn đệ. Chúa Thánh Thần là mối dây liên kết giữa Ngôi Cha và Ngôi Con. Người nâng đỡ chúng ta quanh năm suốt tháng và suốt cả cuộc đời của chúng ta, bởi vì Người không phải chỉ là Thánh Thần của Ðức tin Kitô, nhưng còn là Thánh Thần cội nguồn cho tất cả niềm tin của con người, mọi cố gắng của sự hiệp thông, chia sẻ. Thánh Thần là Thiên Chúa của sự trung thành, Người bay lượn trên nước của sự tạo dựng. Người là Thiên Chúa của tương lai. Người ban cho niềm hy vọng của chúng ta một ý nghĩa và một hướng đi, đồng thời Người vẫn tiếp tục công việc tạo dựng và và dẫn đưa chúng ta về mọi chân lý, Người là Thiên Chúa của tình yêu và hồng ân Người trao ban chính là sự hiệp thông giữa những con người được tạo dựng và là sự tham dự vào chính bản tính của Thiên Chúa.
Ðó là Thánh Thần của Ðức Giêsu Kitô. Người ban Tình Yêu cho chúng ta suốt cả cuộc đời, thứ tình yêu biết chấp nhận mọi sự, tin tưởng mọi sự, hy vọng mọi sự và chịu đựng mọi sự.
Đamien
11-09-2006, 10:58 AM
7. BA NHÂN ÐỨC ÐỐI THẦN : TIN-CẬY-MẾN (bài 2)
Ba nhân đức Tin, Cậy, Mến là ba nhân đức nền tảng của Kitô giáo. Ba nhân đức này bao gồm nhiều ý nghĩa và sắc thái đặc biệt. Trước hết, chúng ta thử bàn đến Ðức Tin.
A. ÐỨC TIN :
Có người đã lầm tưởng rằng Ðức Tin là một điều gì mù quáng. Thực ra, không phải thế.
Tin là mở mắt ra để nhìn.
Tin là mở tai ra để nghe.
Tin là mở trí khôn ra để tiếp nhận chân lý,
Và Tin là mở con tim ra để tiếp nhận điều mỹ, điều thiện.
Trong Tin Mừng từ "tin" được dùng để chỉ điều mà con người phải làm để có thể nhận những điều mà Ðức Giê-su thực hiện ở nơi họ. Về phía Ðức Giêsu, Ngài luôn rao giảng và hành động với tình yêu Thiên Chúa đang dạt dào trong tim của Ngài. Ngài không hề cưỡng bức ai phải chấp nhận tình yêu của Ngài, nhưng con người cần phải nhận ra nhu cầu đó, cần phải biết tìm kiếm, lựa chọn và chiếm hữu cho bằng được Tình Yêu đó, như trường hợp của người thiếu phụ bị băng huyết ngày xưa (Lc 8, 43-48). Với niềm tin tưởng rằng mình sẽ được khỏi bệnh nếu được chạm tới gấu áo của Ðức Giêsu, người thiếu phụ ấy đã cố gắng len lỏi đám đông để tiến gần Ðức Giêsu và thực hiện quyết tâm của mình. Bà đã được khỏi bệnh thực sự, và khi tìm thấy bà trong đám đông đang chen lấn xô đẩy nhau, Ðức Giêsu tuyên bố: "Lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an" (Lc 8, 48). Phải, niềm tin vững mạnh của người thiếu phụ và tình yêu bao la của Thiên Chúa đã chữa lành cho chính người thiếu phụ ấy. Thật vậy dân chúng ngày xưa thường vẫn đem Ðức Tin ra đáp trả lại tình yêu mà Ðức Giêsu đã đem đến cho họ. Chính đức tin cũng đã có thể mang lại cho họ hoặc cho các bạn hữu của họ những điều họ mong muốn: như trường hợp có mấy người kia khiêng người bạn bại liệt của họ đến với Ðức Giêsu, nhưng vì không tìm ra cách nào để lách qua đám đông và đưa bệnh nhân đến gần Ngài, họ liền trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, rồi thả người ấy với cái giường xuống ngay giữa trước mặt Ngài. Cảm động vì lòng tin mạnh mẽ của họ, Ðức Giêsu đã chữa lành cho người bạn bại liệt của họ (Lc. 5, 17-20).
Thánh Phaolô Tông Ðồ đã sử dụng từ "Ðức Tin" cũng một cách thế như vậy, khi Ngài lên tiếng chống lại một số người có quan niệm rằng họ có thể tự sắm "Kitô giáo" cho mình nhờ vào việc tuân giữ lề luật Do Thái. Thánh Phaolô đã khẳng định rằng: "Không phải như thế đâu! Thiên Chúa ban cho anh em Thánh Thần của Ðức Giêsu nếu anh em chấp nhận Ngài. Chấp nhận Ngài, đó là tất cả những điều cần phải có, cùng với lời cầu nguyện và sự học hỏi. Ðó chính là Ðức tin vậy!".
Ở đây, chúng ta cần ghi nhận 3 điều quan trọng này:
1. Không nên nhầm lẫn Ðức tin với tình cảm đạo đức, bởi vì đức tin không phải điều chúng ta "cảm thấy" -cho dù chúng ta có chân thành đến mấy- nhưng là điều chúng ta thực hiện, cởi mở chính bản thân mình để lãnh nhận.
2. Ðức tin không đi ngược với lý trí con người và không gạt bỏ ra ngoài mọi sự tìm tòi, nghiên cứu. Ðức tin không phải là việc đặt ra những câu hỏi rồi rất ít khi đi tìm câu trả lời. Trái lại, đức tin là sự mở rộng lý trí, đặt ra các sự kiện, nêu lên các vấn đề, rồi tìm hiểu chúng một cách trung thực và lần theo tất cả những lý luận để khám phá cho đến tận gốc rễ. Cần phải có sự nghiên cứu, tìm tòi một cách nghiêm chỉnh và cần phải kiên trì để tìm ra chân lý: điều này quả thật là cần thiết để đức tin được trở nên đúng nghĩa hơn.
3. Ðức tin, niềm tin, sự tín nhiệm, lòng tín thác có một nghĩa chung trong Tin Mừng và cũng đòi hỏi lòng can đảm dấn thân, sự sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm, cho dù chúng ta không biết rồi đây kết quả sẽ ra sao! Cũng như khi chúng ta có thể mở đài là chúng ta đã làm một công việc tích cực để có thể tiếp nhận những tin tức hoặc một chương trình nào đó, nhưng chúng ta không thể biết được chắc điều gì chúng ta sẽ được nghe. Thật vậy, khi chấp nhận tin tưởng vào Thiên Chúa, cũng như khi chú tâm vào việc học hỏi đức tin, tăng gia việc cầu nguyện, hoặc cố gắng vâng theo Thánh ý Chúa, chúng ta không biết được điều Người đòi hỏi chúng ta phải làm.
Ở đây chúng ta có thể nêu ra những ví dụ cụ thể, những nhân chứng trong thế giới xưa và nay đã biểu hiện niềm tin: một Galilêô, nhà toán-lý, thiên văn học trứ danh người I-ta-li-a đã biết mở rộng trí óc đón nhận sự kiện này là ông có thể quan sát vũ trụ không gian; một Desmond Tutu, Tổng Giám mục Anh giáo người Nam Phi lúc còn là một mục sư trẻ tuổi du học bên Anh, ngài đã có thể ở luôn tại đó, sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi, sung túc, thoải mái nhưng rồi ngài đã quyết định trở về quê hương Nam Phi để có thể lãnh nhận và trao ban Tình Yêu Thiên Chúa dành cho mình và cho tất cả những người khác trong các trạng huống thật khó khăn; một bé trai 10 tuổi nọ, mặc dù mắc phải chứng bệnh nan y và có lẽ khó qua khỏi, nhưng em vẫn can đảm đặt mình nơi bàn tay của bác sĩ phẫu thuật may ra có thể cứu thoát em. Và còn rất nhiều những nhân chứng khác nữa.
Niềm tin của mỗi người chúng ta cũng giống và phải giống như thế đó!
Đamien
11-09-2006, 11:04 AM
B. ĐỨC CẬY
Ðức tin của chúng ta rất cần nhờ đến sự nâng đỡ của Ðức cậy, nhưng Ðức cậy có phải là một nhân đức thật sự không ?
Có người chủ trương rằng Ðức cậy là một nhân đức yếu ớt nhất trong các nhân đức. Họ cho rằng đức cậy (hy vọng rằng tất cả mọi sự rồi ra đều sẽ tốt đẹp) chỉ là chuyện lạc quan rẻ tiền, là niềm hy vọng mơ hồ, hão huyền, hoặc là chuyện có cảm tình với những điều kỳ cục một cách vô căn cứ. Họ ví đức cậy giống như một người tài xế cho xe của mình vượt qua một chiếc xe khác tại một khúc quanh hiểm nghèo, hoặc như một thí sinh bước vào phòng thi khi chỉ mới học xong hai phần ba chương trình thi... Nếu quả thật đức cậy chỉ là việc ngồi khoanh tay chờ một cơ may nào đó, hoặc cứ để cho các biến cố xảy ra, rồi hy vọng rằng mọi sự sẽ kết thúc một cách tốt đẹp, thì chắc chắn một đức cậy như thế hoàn toàn không phải là một nhân đức.
Thực ra, đức cậy kitô giáo rất khác biệt với quan niệm trên đây. Chúng ta có thể sử dụng quan niệm "tưởng niệm" như một chiếc gương soi phản chiếu một hình ảnh, để có thể dễ dàng hiểu rõ về Ðức cậy Kitô giáo. Trong Kinh Thánh, từ "tưởng niệm" (nhớ tới) không có nghĩa là quay trở về lại với dĩ vãng, tỷ như một người đã luống tuổi nào đó ngồi ôn lại những kỷ niệm xa xưa, thuở còn đi học; nhưng "tưởng niệm" ở đây có nghĩa là đem những giá trị, những phẩm chất của quá khứ tới thời gian hiện tại. Ví dụ như trường hợp dân Do Thái mừng lễ Vượt qua, đó là sự tưởng niệm việc Thiên Chúa đã một lần cứu thoát dân Người khỏi cảnh nô lệ và ngày nay Thiên Chúa vẫn còn ở bên họ như là Ðấng Cứu thoát.
Trong bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Ðức Giê-su cũng đã triển khai quan niệm này, khi Ngài trao ban cho các ông Bánh và Rượu, là Mình và Máu Ngài, và khuyên dạy các ông hãy làm việc đó mà nhớ đến Ngài. Dĩ nhiên, Ðức Giêsu không muốn các môn đệ chỉ nhớ đến Ngài như một nhân vật lịch sử, hoặc chỉ nhớ đến các việc làm của Ngài như những sự kiện đã qua rồi. Ðiều Ngài muốn khuyên dạy các ông ở đây là: điều Ngài đang thực hiện lúc này sẽ còn được tái diễn mai sau, và hôm nay, Ngài trao ban sự sống mình cho thế gian, thì rồi đây Ngài cũng sẽ còn trao ban thực sự cho những ai hội họp lại để cùng chia sẻ Mình và Máu Ngài, để tưởng nhớ đến Ngài và nhân danh Ngài.
Như vậy, cũng như "tưởng niệm" đem hậu quả của quá khứ đến hiện tại, thì đức cậy đem hậu quả đó đến tương lai. Tưởng cũng cần nhấn mạnh đến điểm thực tế, đó là hiện tại lúc này, những điều mà chúng ta lúc này đang tin tưởng, những điểm tốt lành, những điều làm cho chúng ta thỏa mãn, chính những điều này đã có, đang có và vì thế, sẽ vẫn luôn luôn hiện thực! Ðây là một ý tưởng khó hiểu, bởi vì điểm mà chúng ta đang ở nằm trên con đường thời gian đi từ quá khứ xuyên qua hiện tại và dẫn đến tương lai. Nhưng Thiên Chúa, Người là Ðấng hằng có đời đời, Người không thuộc về phía nào của thời gian: không ở phía trước cũng chẳng ở phía sau. Người hoàn toàn ở ngoài thời gian, và trên một chiều kích khác, Người nhìn tất cả thời gian cùng một lúc.
Khi một vị linh mục được mời đến bên giường một bệnh nhân đang hấp hối, thì Ngài không những sẽ nhắc nhở bệnh nhân về đời sau mà còn phải nhắc nhở tới cuộc sống của bệnh nhân, cả hiện tại cũng như cả quá khứ. Ngài nói rằng: "Con hãy phó thác mọi sự trong tay Chúa, dĩ vãng cũng như hiện tại và tương lai. Hãy an tâm! Chúa đang ở cùng con ngay trong giây phút này đây. Người tha thứ mọi tội lỗi cho con và Người sẽ giữ gìn con an toàn, hôm nay và mãi mãi". Rồi vị linh mục đọc lớn tiếng bài Tv. 22. Ðiều cần lưu ý là các động từ trong Thánh vịnh này mặc dù được đặt ở thì hiện tại, nhưng đều nhắc đến những kinh nghiệm trong quá khứ và niềm hy vọng ở tương lai.
Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người
Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u,
Con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm
Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Ðầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
Ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
Ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời
Và tôi được ở đền Người
Những ngày tháng,, những năm dài triền miên.
Đamien
11-09-2006, 11:07 AM
C. ÐỨC MẾN:
Ðể dễ hiểu hơn, có thể gọi Ðức Mến là Tình Yêu.
Trong ý nghĩa trọn vẹn của nó, tình yêu rộng lớn hơn bất cứ điều gì mà con người có thể làm, bởi vì tình yêu không chỉ là hoạt động của con người, mà còn hoạt động của chính Thiên Chúa. Tình yêu là bản tính của Thiên Chúa như lời Thánh Gioan đã khẳng định: "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Ga 4, 8). Chính Thiên Chúa đã tạo dựng và hòa hợp tất cả vũ trụ.
Hoạt động hòa hợp này chính là Tình Yêu. Trên bình diện thể lý tự nhiên, vũ trụ sinh động đều đặn theo ý muốn của Thiên Chúa và chúng ta gọi hoạt động này là luật của tạo vật. Còn trên bình diện nhân sinh, trong đó con người được tự do cộng tác hay không cộng tác, chúng ta gọi hoạt động đó là tình yêu. Sống trong yêu thương đó là sống trong sự sống của Thiên Chúa, là tham dự vào cuộc sống của Người. Nhưng nếu chúng ta sống mà không yêu thương, điều này có nghĩa là chúng ta đã sống xa rời Thiên Chúa và cách biệt với mọi người. Thực ra đó là cách sống xa lạ với môi trường mà con người hiện hữu.
Vậy khi người ki-tô hữu chúng ta nói "Thiên Chúa là Tình Yêu" là chúng ta muốn nói đến Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Người ki-tô hữu tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển. Người ki-tô hữu tôn thờ Ba Ngôi, tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau.
Cũng có một nguyên tử là một đơn vị vật chất mà trong đó có sự quan hệ, thì trong bản thể duy nhất của Thiên Chúa cũng có sự quan hệ. Ngoài ra, tất cả mọi vật trong vũ trụ, từ nguyên tử cho đến chòm sao (Constellation) đều kết hợp hài hòa với nhau, không một vật nào hiện hữu đơn độc. Con người chúng ta cũng vậy, tất cả chúng ta đều hiện hữu trong các mối quan hệ với nhau, và ở đâu những quan hệ này chấp nhận hoặc được áp dụng một cách trọn vẹn, cùng với sự chịu đựng thông cảm lẫn nhau, cùng với lòng quảng đại, vị tha, thì ở đó có Tình yêu. Tình yêu này cần phải được trả giá, bởi vì chúng ta là những kẻ hay sa ngã trong một thế giới đã bị thương tích. Tình yêu đem lại cho chúng ta nhiều niềm vui trong cuộc sống.
Ðể hiểu rõ hơn thế nào là tình yêu, chúng ta thử lấy một ví dụ điển hình sau đây:
Trong một dàn nhạc -dàn nhạc giao hưởng chẳng hạn- chúng ta nhận thấy có rất nhiều nhạc công: người thổi sáo, người thổi kèn, người kéo vĩ cầm, người đánh dương cầm, người gõ nhịp trống... Nếu để ý kỹ từng nghệ sĩ, chúng ta sẽ thấy họ rất khác biệt nhau, mỗi người một nét, mỗi người một vẻ. Tuy nhiên, từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc, trên khuôn mặt của mỗi người đều toát ra vẻ quan tâm đặc biệt đến toàn ban, như muốn phản chiếu lại toàn bộ nhạc phẩm mà tất cả mọi người đang cố gắng góp phần trình tấu. Dù là người nhiều tuổi hay người ít tuổi, ai nấy đều chú tâm trong sự nhẹ nhàng thanh thoát, bình tĩnh, thông cảm và nhất là kỷ luật. Dù là từng người hoặc từng nhóm phụ trách từng nhạc khí khác nhau, nhưng tất cả đã biết khéo léo hài hòa, tưởng như đã kết hợp thành một trong âm nhạc. Người này đặt hết tín nhiệm vào tài nghệ của người kia và mỗi người cùng đóng góp một cách trọn vẹn phần của mình cho âm nhạc, để có thể cống hiến cho các khán thính giả những giây phút êm đềm, thoải mái nhất.
Ðó là tình yêu. Âm nhạc cũng là Tình Yêu.
Tuy nhiên, trên đây chúng ta chỉ mới xét đến một bình diện là sự trình tấu tuyệt diệu của toàn ban. Còn một bình diện khác nữa, đó là sự tập dượt. Có thể trong thời gian tập dượt đã từng có xảy ra những tranh cãi vì bất đồng ý kiến, vì cá tính khác biệt. Vì thế, mỗi nghệ sĩ cần phải biết thông cảm, biết tha thứ và sẵn sàng hy sinh cả ý riêng của mình.
Người Ki-tô hữu chúng ta cũng vậy, chúng ta có sự tự do của mình. Nhưng muốn yêu thương, muốn xây dựng và bảo vệ tình thương ấy, chính chúng ta cần phải biết chấp nhận những hy sinh gian khổ. Ðiều này quả là một điều khó thực hiện, nhưng nếu chúng ta không ngại khó khăn, thì điều này sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta thêm phong phú và hạnh phúc.
Ðức Giê-su chính là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, Ngài đã được Chúa Cha sai đến để sống, để trao ban và đổi mới Tình yêu này, và trong đức tin, đức cậy, chúng ta có thể mở rộng lòng chúng ta để đón nhận Tình Yêu và cố gắng sống Tình Yêu đó.
Đamien
11-09-2006, 11:09 AM
8. BÀN VỀ TÌNH YÊU (bài 1)
Bàn về tình yêu thì dễ hơn là thể hiện và trao ban tình yêu, cũng như lạnh nhạt với người khác thì dễ hơn là chân thành yêu mến họ. Phê bình chỉ trích người khác quả thật là một điều thú vị, bởi vì người phê bình nghĩ rằng mình không có những khuyết điểm ấy. Ðó cũng là một cách nói rằng: "Nếu anh bạn quả thật dễ thương thì chắc chắn tôi đã yêu mến anh bạn rồi!".
Trong cuộc sống của chúng ta, đôi khi cũng đã xảy ra những chuyện tương tự như thế, dường như chúng ta muốn nói: "Chúng tôi cũng thích bạn lắm chứ, chúng tôi cũng muốn quan tâm đến bạn lắm, nhưng chẳng làm sao thực hiện được điều đó. Mà chính là tại anh bạn đó thôi...". Có lẽ sau khi đã thốt ra những lời như vậy, chúng ta cũng cảm thấy môi miệng mình đắng chát, như dư vị của một điếu thuốc rẻ tiền! Lẽ ra chúng ta phải biết quan tâm đến người khác nhiều hơn nữa - mặc dù vẫn biết rằng điều này không phải dễ thực hiện. Chúng ta phải tự hỏi lòng mình xem đã dẹp tan được tính tự cao tự đại, đã sửa sai được những lầm lỡ, những khuyết điểm, những sai trái của mình hay chưa? Hay là chúng ta vẫn cứ tự bào chữa hoài?
Ngày nay, khoa tâm lý đang cố gắng giúp ta đập tan cái vòng luẩn quẩn đó để chúng ta dễ dàng biến tình yêu thương thành hiện thực. Khoa tâm lý dạy: "Bạn có biết vấn đề được đặt ra cho bạn như thế nào không? Bạn không thể biết yêu thương người khác cho đến khi bạn biết yêu thương chính bản thân mình. Chỉ khi nào bạn cố gắng học tập để yêu thương và sẵn sàng chấp nhận chính bản thân bạn với tất cả những ưu và khuyết điểm của nó, với tất cả những yếu đuối và tội lỗi của nó, thì lúc đó -và chỉ tới lúc đó- bạn mới có thể yêu thương người khác và sẵn sàng chấp nhận họ, dù họ có vụng về hay dù họ đã không thực hiện được những điều mà bạn đã đề ra như tiêu chuẩn cần thiết". Ðiều này gợi lên trong chúng ta nhiều tia hy vọng. Tuy nhiên, nếu chúng ta lại cảm thấy không hài lòng với cách cư xử, cách đi đứng, nói năng, cách bày tỏ cảm tình của chính bản thân mình, thì chúng ta có thể lại càng cảm thấy mình thiếu sót và có lỗi hơn những người khác, nghĩa là có thể chúng ta không biết yêu thương chính mình cho đúng, theo như bổn phận đòi buộc.
Vậy, trong trường hợp này, Kinh Thánh có giúp chúng ta được điều gì không ?
Kinh Thánh không đưa ra nhiều lời khuyên bảo, nhưng Kinh Thánh có thể giúp chúng ta bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn của sự phê bình chỉ trích người khác và tình trạng cảm thấy mình sai trái, đồng thời Kinh Thánh còn giúp chúng ta khám phá ra rằng chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và nâng đỡ. Về điểm này, nhiều người trong chúng ta có thể đưa ra thắc mắc này là làm thế nào mà Thiên Chúa có thể yêu thương chúng ta được ngay trong trạng huống hiện tại của chúng ta đây: chúng ta chẳng xứng đáng chút nào, chúng ta chỉ là những kẻ những kẻ ích kỷ, hèn hạ và tội lỗi ?
Thực ra, Thiên Chúa yêu thương chúng ta không phải vì chúng ta đã lập được chút công trạng gì, cũng không phải chính chúng ta đã tự mình dành được tình yêu của Người, nhưng Người yêu thương con người chúng ta vì bản tính của Người là Tình Yêu. Người yêu thương chúng ta trước, bằng một tình yêu thương nhưng không như lời Thánh Gioan tông đồ đã khẳng định: "Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và đã sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1Ga 4, 10). Quả thật các vấn đề khó khăn của chúng ta đã quá lớn lao, lớn đến độ chính Thiên Chúa phải trực tiếp can thiệp vào, và để thực hiện điều này, nghĩa là để giải phóng chúng ta, để mang lại tự do cho chúng ta chứ không phải để ràng buộc, kìm kẹp chúng ta -Thiên Chúa đã cúi xuống trên chúng ta với lòng nhân hậu và thương xót của Người. Người đã ôm hôn chúng ta mặc dù chính bản thân chúng ta đầy những kiêu căng, giả dối và ưa đòi hỏi, Người đã đến bên cạnh chúng ta để gánh lấy và để tẩy xóa hết mọi tội lỗi của chúng ta. Người đã dang rộng vòng tay để ôm lấy chúng ta và tha thứ cho chúng ta. Ðó chính là sứ mạng của Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa. Ðó là mục đích cao cả của Thập Giá. Ðức Giêsu đã được Chúa Cha sai đến trần gian này, mặc lấy thân phận thấp hèn của con người chúng ta, để thương yêu, ban sức mạnh, để cải tạo, sửa dạy và để biến đổi chúng ta thành những người biết yêu thương.
Khám phá này thực sự là một khởi điểm! Nó có thể được ví như sự tái sinh mà Ðức Giêsu đã mô tả. Các tác giả Phúc Âm còn thêm vào một từ mới -ít được sử dụng hơn- để mô tả sự khám phá này: đó là từ Hy Lạp "Agapè". Thực tại chứa đựng trong từ mới này có sức mạnh tái tạo lại cuộc sống, và những khó khăn, những nguy hiểm của cuộc sống được sắp xếp vào một cuộc hành hương, một chuyến đi có chủ đích, đó là sự chữa lành và là sự tái tạo nhờ bởi Tình Yêu.
Đamien
11-09-2006, 11:14 AM
9. BÀN VỀ TÌNH YÊU (bài 2)
Ngày xưa, khi nói về Tình Yêu, người ta thường nghĩ ngay đến tình yêu lãng mạn. Ðó là thứ tình yêu mà các ca sĩ vẫn trình bày qua các bài hát trên đài truyền thanh, truyền hình, hoặc trên các sân khấu. Khi ta yêu thì ta thấy cuộc đời thật tươi sáng, rực rỡ. Khi ta không còn yêu nữa, hay khi mà người ta yêu lạnh nhạt với ta, thì cuộc đời và tình yêu nào có nghĩa gì đối với ta. Ðối với nhiều người trong chúng ta, tình yêu thật đáng giá ngàn vàng khi tình yêu vẫn còn mãi. Nhưng rất nhiều khi, tình yêu lại không mấy bền lâu. Tại sao vậy? Ðó là vì tình yêu được con người lý tưởng hóa trong trí tưởng tượng của mình; chúng ta khéo hình dung ra một người lý tưởng, thật thích hợp với mộng ước của chúng ta, rồi ngày ngày rắp tâm tìm kiếm... cho đến một ngày kia, chúng ta bỗng nhìn thấy "người trong mộng", xuất hiện bằng xương bằng thịt trước mặt chúng ta. Và thế là chúng ta bắt đầu yêu người ấy...
"Tôi yêu người vì tôi rất ước ao được chiếm hữu cái hình ảnh đó, mà sao người lại có những nét giống như in cái hình ảnh mà tôi đã từng phác họa ra? Người thật đúng là người bạn tình mà tôi hằng đã mơ ước! Nhưng rồi thời gian trôi qua, càng ngày tôi càng hiểu biết người rõ hơn, càng nhìn thấy tường tận hơn bản thân người với đầy đủ cá tính, cả những khuyết điểm và những tật xấu của người nữa, lúc đó... thật khó cho tôi có thể tiếp tục ước mơ và lý tưởng hóa người nữa. Người luôn luôn chuyển biến, người hay thay đổi làm sao! Người đã làm phai nhòa hình ảnh mà tôi đã dán lên bản thân người!".
Và chính lúc này, cơn khủng hoảng xảy ra làm tan vỡ tình bạn, tan vỡ hạnh phúc hôn nhân.
"Tôi không thể tiếp tục yêu người được nữa, mặc dù cuộc đời thực tế đã đặt người vào vòng tay ôm ấp của tôi, hoặc chính tôi đã từng tôn người lên ngôi thần tượng. Giờ đây, tôi đã hiểu -có lẽ vậy- . Nếu tôi vẫn cứ tiếp tục đi tìm tình yêu lãng mạn thì có thể tôi sẽ tìm được thứ tình yêu ấy, nhưng tôi chẵng có thể tìm được sự quan hệ bền chặt và sự dấn thân lâu dài".
Bây giờ chúng ta có thể khám phá tại sao các tác giả Phúc Âm, khi diễn tả Tình Yêu Thiên Chúa, đã tránh không dùng từ "Eros". Trong ngôn ngữ Hy Lạp, từ "Eros" (ái tình) diễn tả kinh nghiệm ao ước, thèm muốn chiếm hữu những gì mà chúng ta đã gắn liền với tính chất hấp dẫn lãng mạn. Trái lại, các vị ấy đã sử dụng từ "Agapè". Từ này diễn tả một tình yêu tận hiến, tình yêu hy sinh có thể cứu thoát cái vòng lẩn quẩn của Eros. Agapè giúp chúng ta xét lại thứ tự ưu tiên mà chúng ta dành cho hình ảnh yêu thương được lý tưởng hóa. Vả lại, những người được chúng ta yêu thương cũng cần phải ra đi và chiến đấu như chính chúng ta vậy. Trong đoạn 13 thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Corintô -đoạn thư rất thời danh mô tả Tình Yêu hiến thân- thánh Phaolô Tông Ðồ đã làm nổi bật những kinh nghiệm của Agapè vượt trên Eros. Trong khi Eros -tình yêu lãng mạn- chỉ đặt trọng tâm vào những ao ước, thèm muốn riêng tư, thì Agapè -tình yêu tận hiến- luôn sẵn sàng chịu đau khổ, nhẫn nại và nhã nhặn. Eros thì ghen tương, gây nên những ảo tưởng, những ước vọng hão huyền vào một hình ảnh lý tưởng tự tạo và đòi buộc người được yêu phải thế này hoặc phải thế kia. Agapè không tự nâng mình lên và không khoe khoang. Eros có thể sẽ phản bội người yêu, nhưng Agapè không bao giờ bội phản hoặc bất tín. Eros luôn áp đặt ý kiến của mình trên kẻ khác, nhưng Agapè chẳng bao giờ tìm làm theo ý riêng. Agapè biết chịu đựng tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả và luôn luôn đứng về phía sự sống.
Chúng ta, có thể khẳng định rằng Tình yêu Hy sinh là phương cách Thiên Chúa thi hành tình yêu, mặc cho tình yêu tính cách thực tế -chứ không phải lý tưởng-, bởi lẽ cuộc sống của chúng ta là một cuộc sống rất thực tế, nhất là khi chúng ta ngồi tính sổ chi thu, hoặc khi con cái chúng ta khóc đêm đòi ăn hai, ba lần! Tình yêu này không phải là thứ tình yêu luôn luôn đòi hỏi phải được đóng thành kịch hoặc thèm muốn khoái lạc tuyệt diệu, nhưng là thứ tình yêu chỉ muốn cộng tác để làm cho mọi việc được êm xuôi, trôi chảy. Agapè muốn thực hiện điều này, vì Agapè đặt trọng tâm vào "chúng ta" chứ không đặt vào chính "cái tôi". Agapè không quan hệ đến lý tưởng, mà quan hệ đến những con người thực sự như chúng ta đây, những con người đôi khi vẫn lẩm cẩm và hay làm hư sự, những con người có thể trở nên cứng cỏi, chai đá, không muốn thương yêu.
Vì thế, trong cái thế giới vốn có nhiều sự lộn xộn này, tất cả chúng ta đều cần phải có thiện chí -tuy là điều khó, nhưng không phải là không thực hiện được- để yêu thương thực tại. Chúng ta có thể sẽ chết đi cho chính bản thân, nhưng rồi sẽ sống lại để sống một cuộc sống mới với Ðức Kitô. Chính tình thương yêu hiến dâng và tự trao ban của Thiên Chúa đã chinh phục chúng ta và đem lại tự do cho chúng ta. Tình yêu đó biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta biết yêu thương, biết ôm hôn những con người thực sự, bằng xương, bằng thịt. Dĩ nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng cử chỉ yêu thương, ôm hôn có thể mặc lấy hình thức của Thập giá; nhưng vượt lên trên Thập giá ấy đã có tiếng đồn của sự sống lại, và chúng ta chỉ nhận ra tin đó là thực, bằng cách chúng ta vác lấy Thập giá hằng ngày của mình và bước đi theo Ðức Kitô.
Đamien
11-09-2006, 03:17 PM
10. BÀN VỀ TÌNH YÊU
Một vấn nạn được đặt ra là: Nếu Thiên Chúa quả thật là một người Cha Nhân Lành, đầy tình thương, thì tại sao Người lại để cho con người chúng ta phải gánh chịu bao nỗi thương đau, bao điều tai hại? Tại sao Thiên Chúa để cho hàng vạn con người bị chết vì đói khát, vì lụt lội, vì động đất? Tại sao, Người lại để cho một người mẹ đang nuôi con thơ phải chết vì ung thư? Kitô giáo có thể trả lời như thế nào những bi kịch, những thảm họa, những tai ương và những nỗi đau của con người?
Giả như không có niềm tin vào Thiên Chúa Tình Yêu, Ðấng quyền phép vô song, thì những tai nạn xảy ra cho con người, được xem như sự đùa giỡn, một điều gây ngạc nhiên, chúng ta sẽ tự hỏi: sau một biến cố đau thương sẽ còn xảy ra điều gì nữa? Một niềm vui, một điều may mắn, hay là một tai nạn còn khủng khiếp hơn nữa? Giả như không có Thiên Chúa Tình Yêu, thì đau khổ chỉ là chuyện tình cờ, và con người đâu phải chờ đợi một lời giải thích thỏa đáng nào. Vậy, người Kitô hữu chúng ta sẽ phải trả lời như thế nào đây ?
Trước hết, chúng ta phải nhận thức điều này là: dù có tình yêu hay không, thì con người chúng ta vẫn phải sống trong một thế giới vốn dĩ vẫn thường xảy ra nhiều thảm kịch, nhiều tai họa, và chính chúng ta phải cố mà cắt nghĩa lý do, ngay cả khi chúng ta đi đến kết luận: "Tất cả đều là vô nghĩa !". Thứ đến, đức tin Ki-tô giải thích cho chúng ta biết rằng Tình Yêu dâng hiến, tình yêu hy sinh có sức chữa lành và xoa dịu những hoàn cảnh đau thương, bi đát, dựa vào lịch sử của 2 dân tộc Do Thái và Ai Cập đã được ghi chép lại trong Cựu Ước.
Những lý luận của con người không có khả năng giải quyết vấn đề đau khổ, nhưng mỗi người chúng ta có thể cảm nghiệm được tình yêu như là một ân huệ giữa những đau khổ của cuộc đời chúng ta và giữa cuộc sống của những người khác. Chúng ta có thể dùng ví dụ sau đây của Simone Weil: "Hãy tưởng tượng giữa chúng ta và Tình Yêu có một khoảng cách rất xa, rất dài, dài hết sức có thể và trong đó là một sự vắng bóng tuyệt đối. Không có lấy một chút chân, thiện. Rồi chúng ta có thể mờ mờ cảm thấy có một cái gì đó đang lấp vào sự vắng bóng này. Chúng ta cảm thấy như mình đang bị đóng đinh vào tận trung tâm điểm của tâm hồn...".<O:p></O:p>
Ngày xưa, khi bị đóng đinh trên Thập giá, Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, cũng đã cảm thấy một sự xa cách giống như thế. Tuy nhiên, khi đau khổ làm cho con người chúng ta phải xa cách tất cả, xa cách Tình Yêu và niềm hy vọng, thì chính lúc đó Thiên Chúa dang rộng đôi tay để ôm chúng ta, và đó là một ý nghĩ cao đẹp của Thập giá. Phải, Thiên Chúa đã dang tay bao phủ và chiến thắng cái khoảng cách dường như vô tận ấy.
Ðiều này không có nghĩa là Thiên Chúa sẽ can thiệp một cách thật kỳ diệu để cứu chúng ta khỏi phải đau khổ, nhưng điều này đã chứng tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã chân thành và can đảm trở nên con người như tất cả chúng ta. Người cũng đã phải nếm mùi khổ đau, và trong khi lãnh nhận khổ đau như thế, Người đã giúp chúng ta nhận thức được rằng chúng ta không hề cô đơn trong những lúc phải chịu đau khổ. Nhưng ngay trong khoảng giữa chúa Cha và Chúa Con, Ðấng đang bước đi trên con đường sứ mạng của Ngài, chúng ta có được một cửa sổ để có thể nhìn thấy một lời hứa, đó là tất cả chúng ta đều có thể cảm nghiệm được Tình Yêu hiến dâng giữa Chúa Cha và Chúa Con. Mỗi khi chúng ta bị đời bạc đãi, chúng ta được cùng chia xẻ Tình Yêu đó như hai người kẻ trộm bị đóng đinh bên cạnh Ðức Giêsu ngày nào. Ðôi khi chúng ta bị treo trên Thập giá vì chính các lỗi lầm của mình, nhưng chắc hẳn chúng ta cũng đã từng cảm thấy là mình đã được nâng đỡ không ít. Hơn nữa, bởi vì Thập giá của Chúa Kitô đứng bên cạnh thập giá của mỗi người chúng ta, nên chúng ta sẽ không cô đơn, không tuyệt vọng. Bi kịch của cuộc đời chúng ta được chia sẻ và trong nội tâm mình, chúng ta cảm nhận được ân sủng, bất kể những cây đinh. Chúng ta còn nhận thức được rằng Tình Yêu tự hiến chẳng bao giờ bị rót vào khoảng không, nhưng tình yêu này là trung tâm của mọi sự, và kinh nghiệm của Ðức Giêsu đã dẫn đưa chúng ta tới đó và tới Thập giá của Ngài.
Giữa lúc ấy, tự xa xa như có tiếng sấm, và từ ngôi mộ đang hé mở, một tiếng động phát ra phá tan bầu khí yên lặng dày đặc đen tối của ngày thứ Sáu chịu nạn, rồi bỗng nhiên vang lên bài ca hân hoan của ngày Phục Sinh !
Đamien
11-09-2006, 03:21 PM
11. THIÊN CHÚA TÌNH YÊU (bài 1)
Tôi bắt đầu cuộc đời trưởng thành bằng nghề giáo viên, và cũng giống như các giáo viên vừa mới tốt nghiệp, tôi gắng giữ cho lớp học tôi làm chủ nhiệm được trật tự, với quyết tâm là sẽ trở thành một giáo viên tốt và được các em học sinh yêu quý. Tôi rất ngại sửa phạt các em. Lớp tôi phụ trách gồm các em thuộc lứa tuổi 15, và tôi đã được mách trước rằng vị giáo viên tiền nhiệm đã phải bị khủng hoảng thần kinh. Ðiều này thực sự làm tôi e ngại và quả thật là thế. Các bạn chỉ cần bước qua ngưỡng cửa lớp học của tôi, các bạn có thể xác tín hơn về giáo lý tội nguyên tổ !
Có rất nhiều cơ hội buộc giới nhà giáo chúng tôi phải áp dụng biện pháp kỷ luật, phải ra tay sửa phạt và trừng trị những kẻ phạm lỗi. Tôi vẫn nhớ hoài chuyện một lần kia, một cậu học sinh đã trợn mắt, nghiến răng, thét to lên ở giữa lớp học và thề rằng sẽ thù ghét tôi suốt đời! Thực ra, để trở thành một giáo viên tốt, chúng tôi không thể nhắm mắt làm ngơ hoặc bỏ qua những hành động ngỗ ngược, phá rối trật tự, hoặc gian lận của các em học sinh được. Bài học này đến với tôi sau khi lập gia đình và bắt đầu có con cái. Chắc chắn tôi không phải là một người cha tốt, nếu tôi cứ để cho đứa lớn ăn hiếp đứa bé. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ thông cảm và đồng ý với tôi về điều này là làm cha, làm mẹ cần phải có biện pháp cứng rắn với những đứa con nào hay làm điều sai trái. Nói cách khác, các bậc cha mẹ vừa phải biết yêu thương con cái mình vừa phải biết dạy dỗ, sửa phạt chúng. Chúng ta có thể đi xa hơn nữa để nói rằng: Làm sao có thể là người cha người mẹ tốt được nếu không biết sửa phạt những điều ngang trái của con cái mình ?
Vì thế, khi nghe biết ở đâu đó xảy ra những chuyện tàn ác, bất công mà con người đã gây cho nhau, tôi tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại không làm một điều gì đó để ngăn chặn lại? Tại sao Người lại lặng thinh khi nghe bao tiếng khóc trẻ thơ không tìm được giọt sữa nào nơi bầu vú mẹ? Tại sao Người không ra tay bẻ gãy vũ khí, phá tan bom đạn của những kẻ khủng bố đang đe dọa số phận hẩm hiu của những người không có tiếng nói, không có quyền lực? Tại sao Người không giáng phạt những kẻ khát máu đang lùng bắt, đả thương và sát hại những con người vô tội?... Những hình ảnh đó quả thật đã làm tôi suy nghĩ nhiều: Nếu thực sự có một Thiên Chúa thì tại sao Người lại không can thiệp? Người phải làm một điều gì đi chứ!? Dĩ nhiên điều mà tôi mong muốn Thiên Chúa thực hiện là Người hãy mau tách biệt kẻ lành ra khỏi kẻ dữ. Nói cách khác, tôi muốn Thiên Chúa trở thành một "Thiên Chúa phán xét". Xin Người hãy đem lửa trời xuống thanh luyện tạo vật, thiêu hủy những điều tàn ác cùng mọi căn cớ đã gây ra biết bao đau thương và buồn khổ cho con người.
Tuy nhiên, đối với nhiều người, tư tưởng "Thiên Chúa là Ðấng xét xử và sửa phạt" lại là một điều khó chấp nhận. Họ nói rằng: "Chúng tôi tin vào một Thiên Chúa Tình Yêu hay thương xót chứ không phải một Thiên Chúa hay sửa phạt". Họ quan niệm tình thương và sự sửa phạt là hai điều không thể đội trời chung với nhau và cho là nghịch lý nếu Thiên Chúa vừa là Ðấng Yêu Thương vừa là Ðấng Xét Xử.
Thực ra, cả hai quan niệm trên đây -một của nhóm người kia và một của tôi- đều có chỗ không ổn tí nào. Làm sao một Thiên Chúa Tình Yêu lại không có thể áp dụng biện pháp chống lại những sự dữ mà Người thấy xảy ra trên trần gian này? Chính vì Người là Thiên Chúa đầy tình thương mà Người đã gớm ghét điều dữ và đến một ngày nào đó, Người sẽ ra tay xét xử một lần quyết liệt thay cho mọi lần. Cả bạn và tôi, cho dù đôi khi chúng ta tỏ ra thật ích kỷ, nhưng đã rất có lý khi chúng ta thực sự cảm thấy chán ngấy vì hằng ngày phải chứng kiến hoặc được thông tin về những sự độc ác đang xảy ra trong thế giới này. Cứ tưởng tượng xem, Thiên Chúa là Ðấng hoàn toàn tốt lành, Người sẽ phản ứng ra sao trước những thảm kịch này ?
Dẫu vậy, thiết tưởng chúng ta cũng nên dừng lại ở đây để suy nghĩ thêm và tìm hiểu tại sao Thiên Chúa lại không làm một điều gì đó để điều chỉnh hoặc ngăn chặn các thảm họa lại trước khi chúng ta có thể còn nêu lên những vấn nạn khác nữa.
Ai trong chúng ta cũng muốn Thiên Chúa xóa bỏ khỏi mặt đất này tất cả những nguyên nhân đã gây nên biết bao đau buồn cho con người. Vậy, thử nghĩ xem, giả như Thiên Chúa thực hiện ý muốn trên đây của chúng ta, thì ai trong chúng ta sẽ còn sót lại? Chắc không phải là tôi! Phần bạn, bạn có hy vọng sẽ là người còn sót lại không ?
Đamien
11-09-2006, 03:22 PM
12. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA (bài 2)
Ðứng trước tình trạng hận thù rối ren của thế giới ngày nay chúng ta phải làm gì ?
Hãy biết yêu thương! Phải, đúng thế, con người phải biết yêu thương nhau! Tình Yêu có thể là câu trả lời cho các vấn đề của thế giới hiện nay. Nhưng riêng bạn, bạn đã thử yêu chưa và bạn đã thực hiện tình yêu như thế nào ?
Trong các mối quan hệ giữa con người với con người, từ "tình yêu" bao gồm nhiều ý nghĩa khác nhau. Khi tôi nói: "Tôi yêu các học trò của tôi" thì câu này có ý nghĩa khác với câu "Tôi yêu con cái của tôi". Tình yêu có thể có nghĩa là lòng mến chuộng, là một cuộc tình hoặc là một tình bạn... Tuy nhiên tất cả những khía cạnh khác nhau của tình yêu đều tùy thuộc vào một điều kiện này là: Tình yêu, nếu muốn được tồn tại, cần phải đáp trả lại. Bạn có thể yêu say đắm một người nào đó; nhưng nếu người ấy lại chẳng thèm đếm xỉa gì tới bạn, hoặc tỏ vẻ hất hủi, khinh khi bạn, chắc bạn sẽ cảm thấy đau lòng lắm, có khi còn đâm ra ghen tương hoặc tức giận nữa. Cả đến tình yêu của cha mẹ đến với con cái mình cũng không phải là vô hạn. Nếu một đứa trẻ, mà sau này khi lớn lên, vẫn có thái độ khinh rẻ hoặc ghét bỏ cha mẹ mình, thì cha mẹ nó - cuối cùng rồi cũng sẽ thấy bực mình, thất vọng cho dù trước kia họ đã yêu thương nó biết bao!
Tình yêu của con người đòi hỏi sự "có qua có lại" để có thể tồn tại. Nói cách khác tình yêu phải có hai chiều. Nhờ vào tình yêu mà thế giới này mới sinh động và trái đất này mới tiếp tục xoay tròn. Tuy nhiên, thứ tình yêu mà chúng ta đề cập tới trên đây không có khả năng giải quyết các vấn đề khó khăn của thế giới và cũng không phải là thứ tình yêu mà thế giới đang cần, bởi vì khi tình yêu chấm dứt thì các vấn đề khó khăn cũng bắt đầu phát sinh. Tình yêu mà thế giới chúng ta đang cần là một thứ tình yêu mới, một tình yêu vẫn cứ mãi tiếp tục cho dù không được đáp trả lại, một tình yêu đầy kiên nhẫn và rất đại lượng, yêu cả những người không đáng được yêu, một tình yêu sẵn sàng tha thứ, tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh tình yêu trên thập giá. Tình yêu này không phải là thứ tình yêu tự nhiên, nhưng lại là một tình yêu siêu nhiên mà chúng ta đã tìm thấy ở nơi Ðức Giêsu Kitô. Ðó là tình yêu bao la của Thiên Chúa, và chính Người đã dùng tình yêu này để yêu thương nhân loại chúng ta.
Tôi nhớ rằng khi tôi cảm nghiệm được tình yêu này, tôi ý thức một cách sâu xa hơn về bản tính yếu đuối và ích kỷ của chính mình. Nhưng tôi lại càng ngạc nhiên hơn nữa khi khám phá ra rằng Thiên Chúa vẫn hằng yêu thương tôi ngay trong tình trạng xấu xa hiện tại của tôi. Nhưng tại sao Thiên Chúa lại yêu thương tôi như thế? Người không nhìn thấy những tội lỗi và những khuyết điểm của tôi sao? Dĩ nhiên là Thiên Chúa nhìn thấy hết. Người thấu suốt mọi sự, vì chẳng có gì có thể được giấu kín khỏi mắt Người. Người còn có thể lấy lửa mà thanh luyện những điều tồi tệ đó, thanh luyện toàn thể các tạo vật nữa. Nhưng Người đã không làm như thế, vì người yêu thương tôi, yêu thương các tạo vật, và Người vẫn cứ yêu thương mãi mãi. Chúng ta không thể cắt nghĩa tại sao, vì đây là một huyền nhiệm! Hoặc giả chúng ta chỉ có thể nói: Thiên Chúa yêu thương con người vì một lý do duy nhất này là Người muốn yêu thương con người. Chỉ có thế thôi! Xét cho cùng, tình yêu đích thực thì chẳng cần một lý do nào khác cả: chúng ta yêu ai thì lý do đơn giản là bởi vì chúng ta yêu người ấy. Thật vậy, nếu chúng ta yêu thương một người nào đó vì lý do này nọ, hoặc vì một nguyên nhân đang ẩn giấu phía sau, thì tình yêu của chúng ta chưa phải là một tình yêu đích thực. Vì thế, Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu đích thực và vô vị lợi. Người đã trao ban cho tất cả chúng ta một cách nhưng không, vô điều kiện. Tình Yêu là bản tính của Người! Chính vì yêu thương thế gian mà Người đã sai Con Một của Người đến trong thế gian cùng với sứ điệp của sự tha thứ.
Người ta có kể lại câu chuyện sau đây: Một người kia rất hăng say trong việc tông đồ. Ông vẫn hằng cầu xin Chúa cho mình luôn biết yêu thương và sẵn sàng phục vụ mọi người. Chắc chắn Thiên Chúa đã khấng nhậm lời cầu xin tha thiết của ông, vì mọi người sống xung quanh ông trong cùng một giáo xứ, một thôn xóm, đều nhìn nhận rằng ông là người đạo đức thực sự, một con người giàu lòng quảng đại, luôn yêu mến mọi người và thật sự hiếm khi thấy ông từ chối giúp đỡ bất cứ ai cần nhờ đến ông. Ông có một cậu con trai, đứa con trai độc nhất, khá kháu khỉnh và dĩ nhiên, ông rất quý mến và chiều chuộng cậu ấm hết mực. Chính vì thế mà ông không bằng lòng, cũng như không cho phép bất cứ một người nào "đụng" tới cậu con trai quý, dù họ là những người vẫn từng được ông yêu thương và giúp đỡ, hoặc dù chính bản thân ông ngày ngày vẫn hằng cầu xin Chúa ban cho ông ơn lành đó.
Có lẽ không ít người trong chúng ta cũng đã và đang tỏ lòng quý mến con cái mình như vậy. Còn Thiên Chúa, chúng ta nghĩ rằng Người không yêu thương chính Con Một của Người là Ðức Giêsu Kitô sao? Thế mà Người đã không dung tha chính Người Con ấy và đã trao ban Ngài cho tất cả chúng ta.
Tại sao? Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, và đây chính là thứ tình yêu mà thế giới của chúng ta đang thật sự cần đến.
Đamien
11-09-2006, 03:24 PM
13. THIÊN CHÚA TÌNH YÊU (bài 3)
Ngay từ nhỏ, mỗi lần nghe nói đến phẫu thuật là tôi lại rùng mình, lo sợ và sợ nhất là bị chích thuốc mê. Nhưng thật oái ăm cho tôi, cách đây 10 năm, chính tôi đã được chở đến bệnh viện cấp cứu và lần đầu tiên, tôi phải nằm trên bàn mổ để bác sĩ cắt bỏ ruột thừa. Sau một thời gian mê man, lúc tỉnh dậy, tôi cảm thấy thật ngỡ ngàng. Tôi không biết mình đang ở đâu và chuyện gì đã xảy ra. Khuôn mặt của một người nào đó lúc ấy đang cúi xuống nhìn tôi, tôi thấy thật lớn và thật xa lạ. Có một vài tiếng động ở đâu đó, nghe như từ xa xa vẳng lại... Dần dần, tôi tỉnh trí lại và bắt đầu nhớ ra mọi chuyện. Tôi nhận ra những gương mặt quen thuộc của bệnh viện: bác sĩ, các cô y tá, các trợ lý và từ đó, tôi bắt đầu nhận thức được thực tại của thế giới xung quanh tôi.
Sự nhận thức được Thiên Chúa cũng gần giống với sự nhận thức được thực tại chung quanh của một người vừa tỉnh dậy sau liều thuốc mê. Trong bao năm trời, nhiều người trong chúng ta đã như người ngủ mê, không biết đến Thiên Chúa, không hề nghĩ tới thế giới thiêng liêng của Người và các thiên thần. Tâm hồn và trí khôn của chúng ta như đã bị đóng kín. Chúng ta giống như một bệnh nhân nằm trên bàn mổ, không hề biết đến sự hiện diện của vị bác sĩ và các cô y tá đang làm phẫu thuật, không hề biết gì về trạng huống của mình, không có một cảm giác nào rõ rệt và cũng không nhận thức được quá trình chữa lành của cơ thể. Rồi cũng giống như liều thuốc mê ở bệnh nhân dần dần tan đi và bệnh nhân bắt đầu nhận thức được các sự việc đang xảy ra, thì liều thuốc mê về phương diện thiêng liêng ở trong chúng ta cũng dần dần tan biến và chúng ta bắt đầu nắm chắc được thực tại của Thiên Chúa. Thoạt tiên, những câu chuyện về Thiên Chúa xem ra không thực tế và có vẻ xa vời làm cho chúng ta khó có thể nhận ra Người. Nhưng dần dần vì một lý do nào đó mà chúng ta không biết được, Thiên Chúa đã trở thành một thực tại rất gần gũi với chúng ta. Sự thức tỉnh thiêng liêng này chắc chắn là do hồng ân của Thiên Chúa.
Một cảm giác kỳ diệu khác nữa mà bệnh nhân có thể nhận thức được, đó là sức mạnh, sự chói chang của ánh sáng. Lần đầu tiên được tiếp xúc trở lại với ánh sáng sau khi đã hồi sức, bệnh nhân cảm thấy chói mắt, phải nhắm mắt lại thật chặt rồi mới hé mở ra từ từ. Dần dần, đôi mắt của bệnh nhân tự điều chỉnh lại và thích ứng với ánh sáng. Thiên Chúa, Ðấng đánh thức chúng ta khỏi cơn hôn mê thiêng liêng cũng là Thiên Chúa của ánh sáng. Ánh sáng của Người soi dẫn cho chúng ta biết được sự thật về chính bản thân chúng ta và về thế giới chúng ta đang sống. Tuy nhiên, con người chúng ta thường có những phản ứng lẫn lộn trước ánh sáng. Chúng ta thích ánh sáng, vì ánh sáng giúp cho chúng ta nhìn thấy người khác hoặc các sự vật một cách rõ ràng hơn. Nhưng khi áng sáng chiếu thẳng vào mặt, vào bản thân chúng ta thì chúng ta lại cảm thấy khó chịu, không mấy thích thú, bởi vì áng sáng đó có thể làm cho chúng ta đâm ra lúng túng, cảm thấy bất ổn. Lúc đó, chúng ta lại tỏ ra thích bóng tối hơn, chúng ta muốn tắt hết mọi đèn đóm, đặt biệt là trong những lúc ánh sáng trở nên cực kỳ chói lòa.
Sự phản ứng trước áng sáng này đã được tiên báo không phải bởi một vị ngôn sứ nào của thời Cựu Ước, nhưng là bởi chính Platon, một triết gia Hy Lạp, qua câu chuyện "ngụ ngôn" về một cái hầm được ông thuật lại trong cuốn sách nhan đề "Nước Lý Tưởng":
"Có mấy người bị nhốt trong một cái hầm (động) lớn, toàn thân bị xích chặt vào một chiếc ghế dài và đằng sau họ có một luồng ánh sáng mà họ không thể thấy được, vì họ không thể ngoảnh mặt lại. Họ chỉ có thể trông thấy bóng mình ở trước mặt. Một hôm có một người kia ở ngoài vào, tháo xích và giải thoát cho họ. Họ được tự do và có thể tìm ra sự thật về cái bóng ở trước mặt mỗi người. Tuy nhiên, họ chẳng hề tỏ vẻ biết ơn hoặc hoan nghênh vị khách quý đã đến giải thoát cho họ, mà trái lại, họ đã nhất tề xông vào giết chết "vị cứu tinh" của mình..."
Hình ảnh trên đây nhắc nhở chúng ta nhớ đến câu chuyện của Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa. Ngài đã được Chúa Cha sai đến trần gian, mang theo chân lý về ánh sáng, nhưng trần gian u tối đã không tiếp nhận, lại còn giết chết Ngài. Dầu vậy, ánh sáng chói lọi huy hoàng vẫn còn đó, không chịu tan biến đi, để ngày nay vẫn chiếu sáng rực rỡ cho thế giới đầy tăm tối này và cho tất cả những ai ngước mắt nhìn lên Ngài.
Đamien
11-09-2006, 03:26 PM
14. TÌNH YÊU (bài 1)
Yêu và được yêu, đó là hai nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người chúng ta.
Trong đời thường, từ "tình yêu" bao gồm một số khá lớn các kinh nghiệm khác nhau. Còn trong cuộc sống Kitô, từ "tình yêu" là một trong những từ có rất nhiều ý nghĩa. Trong Phúc Âm Thánh Gioan ở đoạn 3, câu 16, chúng ta đọc được câu nói thời danh sau đây của Ðức Giêsu: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời". Ðây quả là một lời khẳng định rất mạnh mẽ và quan trọng, đồng thời cũng là để tài thường xuyên cho biết bao bài giảng thuyết hùng hồn. Nếu Thiên Chúa yêu thương thì tình thương của Người là một điều gì rất hiện thực và riêng tư, giữa Thiên Chúa và từng người được yêu. Khi yêu, Thiên Chúa không phải là một vị Thiên Chúa bất động hoặc là một Ðấng siêu việt quá xa vời đối với kẻ Người yêu thương.
Ở một chỗ khác trong thư của Ngài, Thánh Gioan đã khẳng định "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Ga 4, 8). Tình yêu của Thiên Chúa có đầy tràn những đặc tính mà chúng ta cần. Sau những tháng năm tìm kiếm được thể hiện trong Cựu Ước, và khi thời gian đã chín muồi, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho nhân loại trong Ðức Giêsu Kitô, Con Một của Người. Ðây là một hành động của tình thương! Và Ðức Giêsu, suốt một đời Ngài, Ngài đã thể hiện và trao ban tình yêu Thiên Chúa cho hết mọi người, để rồi cuối cùng Ngài phải chịu đau khổ, chịu chết nhục nhã trên Thập giá. Dầu vậy, Ngài vẫn tỏ lòng yêu thương đối với những kẻ đã làm cho Ngài phải chết. "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13), thánh Gioan đã bình luận như thế về biến cố cuộc Tử nạn của Ðức Giêsu trên thập giá. Thập giá là một bằng chứng nhắc nhở chúng ta về sự kiện Thiên Chúa là Tình Yêu, và vì quá yêu thương nhân loại mà Con Một Người đã phải đổ hết máu mình ra để chuộc tội cho nhân loại. Chúng ta không thể dùng phương trình toán học để cắt nghĩa Tình Yêu này, cũng như chúng ta không thể nói được rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vì lẽ này hoặc vì lẽ kia cho nên phải thế này hoặc thế kia. Ðối với chúng ta, Tình Yêu ấy thật quá khó hiểu, và để được chấp nhận có khi còn khó khăn hơn, bởi lẽ chúng ta đã quen cái lối yêu thương vì những nguyên nhân này nọ: một đôi trai gái yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân, vì họ đã cảm nghiệm được một số đặc tính hấp dẫn, lôi cuốn ở người bạn của mình, cha mẹ yêu thương con cái, bởi vì chúng được phát sinh từ chính cha mẹ, chúng là kết quả của tình yêu của họ... Riêng đối với Thiên Chúa, bạn là bạn và tôi là tôi. Người nhìn xem mỗi người chúng ta xuyên qua những tự phụ rởm của chúng ta và Người thực sự yêu thương chính bản thân mỗi người chúng ta, không vì bất cứ một lý do nào cả. Và Người vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta như thế! Không ai trong chúng ta có thể chạy trốn khỏi tình yêu của Người. Thánh Âu-tinh đã có lần viết: "Thiên Chúa yêu thương từng người một trong chúng ta như thể chỉ có người ấy là người duy nhất được Người yêu thương".
Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến cùng và Tình Yêu của Người đem lại cho chúng ta một phẩm giá cao quý và không ai trong chúng ta có thể tự tạo cho mình, dù bằng bất cứ cách nào. Những điều trên đây thật sâu sắc và làm cho chúng ta an tâm. Tuy nhiên, chúng ta còn phải ý thức thêm một điều này nữa là nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta - điều này nâng cao phẩm giá của chúng ta lên và làm cho chúng ta có thế giá hơn - thì Người cũng yêu thương cả những người khác nữa. Thiên Chúa cũng yêu thương họ như Người đã yêu thương mỗi một người chúng ta. Chính chúng ta cần phải học hỏi và noi gương bắt chước Người điểm này, để cư xử với người khác như lời khuyên dạy của Thánh Gioan Tông Ðồ: "Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Ðức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em" (1Ga 3, 16).
Đamien
11-09-2006, 03:28 PM
15. TÌNH YÊU
"Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35).
Ðó là lời khuyên dạy của Ðức Giêsu trước khi Người ra đi chịu chết với các môn đệ, những người làm thành phần đầu tiên của Giáo hội Ki-tô. Nhưng thử hỏi: từ Giáo hội này, thế giới của chúng ta đã cảm nhận được gì, đã hiểu biết được gì trong vòng 20 thế kỷ qua?
Vào thế kỷ II, Diogène đã viết về những người Kitôhữu như sau: "Linh hồn đối với thân xác như thế nào thì người Kitô hữu đối với thế giới cũng vậy. Họ yêu thương tất cả mọi người, nhưng đồng thời họ cũng bị mọi người bắt bớ!" Ðây quả thực là viễn tưởng cao đẹp.
Nhưng lịch sử đã chứng minh như thế nào?
Vào năm 1889, trong bức tông thư gởi cho hàng Giám mục và Giáo sĩ Pháp, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã viết: "Thiên Chúa không cần sự sống của chúng ta. Lịch sử ngày càng có khả năng chứng minh rằng nguồn gốc của Giáo Hội phát xuất từ Thiên Chúa. Giáo hội luôn trung thành theo dõi kinh nghiệm qua những yếu đuối của con cái mình, và sự kiện Giáo hội đã chiến thắng được mọi sai lầm là một bằng chứng có tính cách quyết định của chân lý và nguồn gốc Thiên Chúa của Kitô giáo".
Dầu vậy, không phải mọi người đều đã đồng ý như thế. Ông Gardner, một nhà toán học và là một nhà triết gia, đã có một quan niệm khác về lịch sử Giáo hội khi ông viết: "Có một câu khẳng định của Thánh Âu-tinh là: "Nếu bạn yêu mến Thiên Chúa, bạn có thể làm điều bạn muốn".
Than ôi! chuyện ấy đâu có đơn giản như thế! Các vị chánh án thuộc tòa án tôn giáo thời Trung cổ cũng đã yêu mến Thiên Chúa; các Kitô hữu kia cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi họ thiêu cháy mấy người phù thủy; Jean Calvin cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi ông cho phép đốt cháy một người lạc giáo; Martin Luther cũng đã yêu mến Thiên Chúa, khi ông đề nghị trục xuất người Do Thái ra khỏi nước Ðức; Gíp-tác cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi ông sẵn lòng giết đứa con gái của mình (Tl 11, 29-39), Ap-ra-ham cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi ông đưa con trai của ông là Isaac lên núi để sát tế" (St 22, 1-14), Mô-sê cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi ông ra lệnh cho quân lính của mình giết chết các đàn bà và các trẻ em trai của những người Madian, chỉ để lại các gái tơ cho chính họ (Ds 31,17-18); những người Kitô giáo và Hồi giáo, những người Công giáo và Tin lành, tất cả cũng đã yêu mến Thiên Chúa khi họ tham gia vào các cuộc chiến tranh đẫm máu giữa họ với nhau..."
Thực ra, tất cả những sự nhầm lẫn, những sự độc ác và điên cuồng của con người mà sử sách đã ghi chép lại không phải chỉ là những hành động của riêng người Kitô hữu mà thôi. Trong bất cứ tôn giáo nào, cũng có những người đã hành động theo những đường lối này trong cảm nghĩ của họ, những đường lối này hoàn toàn phù hợp với điều mà niềm tin của họ đòi hỏi. Tuy nhiên, với một cái nhìn xa rộng hơn, chúng ta có thể thấy rõ hơn họ một chút: những điều họ làm thực sự đi ngược lại với ý nghĩa sâu xa của đức tin của họ. Cũng vậy, khi người khác nhìn vào những công việc mà chúng ta đã làm, họ có thể dễ dàng nhận ra những sai trái, những nghịch lý hơn là chính chúng ta. Vả lại, Thánh Âu-tinh đã không nói: "Nếu bạn yêu mến Thiên Chúa, bạn có thể làm điều bạn muốn", nhưng Ngài nói: "Hãy yêu đi, rồi điều gì bạn muốn, thì bạn hãy làm". Vậy tình yêu mà Ðức Giêsu đã truyền dạy cho các môn đệ của Ngài là chính cội rễ và là sự kiểm soát của tất cả mọi điều chúng ta đã thực hiện, và đó chính là nơi lịch sử Kitô giáo đã được viết ra. Lịch sử đó đã được viết ra không phải trong những lúc đại sự, hoặc ở nơi những người quyền thế, cao trọng, nhưng là nơi chúng ta, nơi bạn, nơi tôi, những người chẳng bao giờ được thế giới, các báo chí, các phương tiện truyền thông nhắc đến tên tuổi. Thật vậy, lịch sử Kitô giáo được viết trong dụ ngôn "Người cha nhân hậu", nơi những bức tượng Ðức Mẹ ở Sixtina, trong Kinh nguyện Thánh Thể của Thánh lễ, trong lời hát bình ca của các Thầy dòng trên vùng núi Apennina (miền Trung nước Italia) cao vút và lạnh lẽo, trong lời kinh "Te Deum" của chúng ta tuyên xưng: Chúa đã chiến thắng sự chết và đã mở cửa Thiên Ðàng cho tất cả những ai tin tưởng.
Trong cuộc sống Kitô, âm thầm, thực thụ, quý giá, đã có biết bao người, trải qua các thế kỷ, nhận biết rằng: "Trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta" (Rm 8,39), một Ðức Giê-su lịch sử, Ðấng đã đạt tới điểm viên mãn. Ðó chính là nhịp tim của một đức tin hoàn toàn sống động, điều mà tất cả mọi nguồn mạch, mọi tòa giảng và mọi tác giả đều đã từng công bố!
Đamien
11-09-2006, 03:30 PM
16. TÌNH YÊU (bài 3)
Chúng ta không bao giờ biết được điều này là khi một người đàn ông và một người đàn bà yêu nhau thì giữa họ đã tỏa ra bao nhiêu nghị lực. Ðây không phải là hoàn toàn chỉ là tình yêu phái tính, nhưng còn là một sự chia sẻ cả một cuộc sống. Hai người cùng chia sẻ với nhau từ những điều nhỏ mọn đến những việc thật lớn lao và cùng nhau đi tìm một ý nghĩa cho tất cả mọi sự xảy đến trong cuộc sống chung của họ.
Tuy nhiên, đã có biết bao lần chúng ta tự khép kín, tự đóng khung chính bản thân mình, chúng ta tự dựng lên chung quanh mình một tường lũy quá vững vàng, kiên cố, khó có thể vượt qua, mà nhiều khi ngay cả chính mình cũng không thể ngờ được rằng bức tường bao bọc mình lại vững chắc đến độ ấy.
Một lần kia, tôi đang ngồi đọc sách một mình trong giờ nghỉ giải lao ở một phim trường, thì có một nam diễn viên tiến đến đứng bên cạnh. Nhìn thấy tôi đang đọc tác phẩm của Carl Jung, một nhà phân tâm học thời danh người Thụy Sĩ, anh ta liền gợi chuyện :
- "Tôi đã được vinh dự nói chuyện với bác sĩ Jung một lần".
Nói rồi, anh nhẹ nhàng ngồi xuống và chúng tôi bắt đầu trao đổi câu chuyện với nhau về bác sĩ Jung, về các tác phẩm của ông và về một vài vấn đề liên quan đến đời sống diễn viên của chúng tôi.
Ngày hôm sau, đến giờ nghỉ giải lao, tôi vẫn ngồi một mình đọc tiếp những trang sách bỏ dở. Anh bạn diễn viên nọ lại tới và thân mật trao cho tôi một tập sách nhỏ.
"Xin biếu chị -anh nói- Tôi đã đọc rồi và tôi nghĩ rằng chắc chị cũng sẽ thích đọc cuốn sách này".
Cầm tập sách trên tay, tôi hết sức cảm động... Và cho dù quanh tôi có một bức tường kiên cố bao bọc, tôi cũng đã đáp ứng lại những cử chỉ thân thiện ấy của anh, những cử chỉ tuy rất đơn sơ nhưng quảng đại, chan chứa tình người và không hề biểu lộ một sự đòi hỏi thầm kín nào...
Chúng tôi cùng nhìn nhau và cùng mỉm cười. Không còn gì hơn nữa, nhưng trong nụ cười ấy, chúng tôi đã gặp gỡ nhau... Và quả thật, đó là cuộc gặp gỡ mà suốt cuộc đời tôi giữ mãi trong vũ trụ nội tâm của tôi. Trong cuộc gặp gỡ này, đã có một điều gì đó rất bổ ích, như là một sự gần gũi thân thiện, như là một sự cảm thông, cùng chia sẻ những kinh nghiệm và như là một mối chân tình đang dần lớn lên. Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy bức tường bao bọc chung quanh tôi đã bị sụp đổ và niềm hân hoan vui sướng, như một dòng suối, đang tuôn chảy dạt dào trong tôi. Tất cả đã được bắt đầu chỉ từ một sự trao tặng một tập sách nhỏ, món quà tuy đơn sơ nhưng chứa đựng cả một tấm lòng đầy chân thành và thương mến...
Sau này, tôi nhớ là có đọc được một câu chuyện tương tự trong Tin Mừng theo Thánh Mác-cô. Chuyện kể về một người phụ nữ đã trao tặng Ðức Giêsu một cử chỉ thật cao đẹp làm cho Ngài thực sự cảm động và phải lên tiếng ngợi khen cô.
"Lúc đó, Ðức Giê-su đang ở làng Bê-ta-ni-a, tại nhà ông Si-mon Cùi. Giữa lúc Người dùng bữa, có một người phụ nữ đến, mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Có vài người lấy làm bực tức, nói với nhau: "Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo". Rồi họ gắt gỏng với cô. Nhưng Ðức Giê-su bảo họ: "Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Ðiều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ, thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô". (Mc 14, 3-9).
Thật vậy, một tình yêu chân chính phải là một tình yêu không biết so đo, tính toán hơn thiệt. Những món quà dù nhỏ mọn như một tập sách, hay to lớn như một bình dầu thơm quý giá vẫn chỉ là một vật tượng trưng. Ðiều chính yếu và mang nhiều ý nghĩa hơn cả phải là mối chân tình được thể hiện xuyên qua sự trao tặng.
Tuy nhiên, để có thể bước tới sự gặp gỡ, đón nhận được sự chia sẻ những niềm thương mến, thông cảm, những kinh nghiệm trong đời sống, mỗi người chúng ta cần phải phá tan đi bức tường thành kiên cố đang bao bọc chính bản thân mình. Chỉ khi nào chúng ta biết tạo nên chung quanh mình một vòng tròn áng sáng để tất cả những điều thiện hảo có thể xuyên qua, xâm nhập một cách dễ dàng, khi đó chúng ta mới có được một cuộc sống an bình, thoải mái và đầy tin tưởng hơn"
(Shirley Dixon)
Đamien
11-09-2006, 03:32 PM
17. ÐỨC ÁI
Tân ước không phải là một thiên khảo luận lý thuyết nhưng là một cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề rất thực tế có quan hệ trực tiếp đến cuộc sống đời thường của con người. Ðó là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Tân ước!
</O:p
Chúng ta thử lấy thư của Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô làm ví dụ cụ thể: Cô-rin-tô là một thành phố thương mại, một trung tâm văn hóa nghệ thuật và cũng là nơi để tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, thể dục. Có nhiều tôn giáo rất thịnh hành ở đây, nhưng đời sống luân lý của các cư dân lại rất kém cỏi và suy đồi. Vì thế, từ thời đó đã lưu truyền câu nói "đi tới Cô-rin-tô", có nghĩa là đi tới một thành phố ăn chơi, trụy lạc và sa đọa... Tại đây đã có một cộng đoàn Kitô được thành lập: đó là một giáo đoàn địa phương có một sắc thái rất đặc biệt đối với các giáo hội địa phương khác. Giáo đoàn Cô-rin-tô có nhiều vị giảng thuyết rất hùng biện, có nhiều ơn đoàn sủng và nhiều phần tử nói được các tiếng lạ (ngôn ngữ khác với các ngôn ngữ khác) mà chỉ những người có ơn đặc biệt mới có thể hiểu được. Cô-rin-tô quả là trung tâm của một giáo hội rất phồn thịnh. Tuy nhiên, điều này cũng có mặt trái của nó: đó là những chia rẽ trong nội bộ của giáo đoàn. Các nhóm chống đối nhau: nhóm này theo vị này, nhóm kia theo vị kia. Ngay trong giáo đoàn cũng có cả những phần tử sống vô luân, những cuộc tranh chấp, kiện tụng nhau ra cả tòa án đời. Thật vậy, giáo đoàn Cô-rin-tô là một cộng đoàn Kitô rất sống động, nhưng đồng thời cũng là một cộng đoàn có nhiều khuyết điểm, nhiều việc làm sai trái khó mà tưởng tượng được.
Thánh Phaolô Tông đồ, trong hai bức thư gởi cho giáo đoàn này -đặc biệt là đoạn 13 ở cuối thư thứ nhất- đã không ngần ngại đề cập thẳng đến những vấn đề ấy: Giữa những điều tốt và cả những điều sai trái, xấu xa đang xảy ra trong giáo đoàn, có một tiêu chuẩn kitô nào có thể được đem ra sử dụng để đo lường và đánh giá các giá trị khác không? Sau khi đã đề cập đến những điểm tốt mà giáo đoàn Cô-rin-tô có thể lấy làm tự hào, Thánh Phaolô viết: "Bây giờ tôi chỉ cho anh em một đường lối tốt hơn: có một đặc điểm siêu việt vượt lên trên tất cả những đặc tính khác cộng chung lại với nhau, đó là Ðức Ái". Từ Hy lạp Agapê ám chỉ đức ái (lòng mến) chỉ là một từ thường dùng không gây ấn tượng gì đặc biệt, nhưng Thánh Phaolô đã mặc cho từ này một ý nghĩa mới, khi Ngài viết: "Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của thiên thần đi nữa mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng hay chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn tiên tri, được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì" (1Cr 13, 1-3).
Thánh Phaolô quan niệm đức mến chẳng khác gì dòng máu chảy trong huyết quản để nuôi thân thể. Không có máu huyết, thì thân thể dù có cái gì đi nữa, cũng không thể nào sống được và dĩ nhiên cũng chẳng hoàn thành được chức năng của mình. Cũng vậy, cuộc sống mà không có đức mến thì chỉ là cái chết mà thôi.
Như vậy, Thánh phaolô đã định nghĩa đức mến như thế nào? Nếu chiếu một luồng ánh sáng xuyên qua một lăng kính (prisme) chúng ta sẽ thấy tia sáng phát ra có nhiều màu sắc khác nhau. Thánh Phaolô đã sánh ví đức mến cũng giống như sắc nhãn kính ấy: "Ðức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Ðức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi ... Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến" (1Cr 13, 4-13).
Chúng ta có thể lấy một vài đặc tính của đức ái và đem ra thực hành như ý muốn. Nhưng đó chưa phải là mục tiêu mà Thánh Phaolô nhắm tới. Ngài đã họa ra một bức tranh với đầy đủ các đặc tính mà một người Kitô hữu cần phải có, và Ngài dạy chúng ta hãy thực hành đức mến cách trọn vẹn. Có một số người đã gợi ý rằng: khi trình bày các đặc điểm của đức mến thánh Phaolô như một họa sĩ vẽ một bức tranh, đã lấy chính Ðức Giêsu Kitô làm khuôn mẫu. Trong cuộc đời của Ngài, quả thật Ðức Giêsu đã có tất cả những đặc điểm của đức mến. Vì thế, chúng ta sẽ ở rất xa đức mến đó, nếu chúng ta không để cho Tình yêu của Ðức Giêsu gợi hứng cho chúng ta, hoặc không để cho quyền năng của Ngài chiếm hữu trọn vẹn cả cuộc đời của chúng ta !
Đamien
11-09-2006, 03:34 PM
18. ÐỨC GIÊSU LÀ TÌNH YÊU
Ðôi lúc tôi vẫn nghĩ rằng: giả như không có thực tại nhân loại của Ðức Giêsu và giả như con người chúng ta không nhận ra được sự hiện hữu này, thì thật là khó mà khám phá ra mầu nhiệm cao cả của Thiên Chúa. Thật vậy, giả như Ðức Giêsu đã không hề hiện hữu, chắc là tôi phải "phát minh" ra Ngài. Ðối với tôi, hình ảnh mà Maria thành Magdala đã gợi lên khi bà nói về Ðức Giêsu mới tuyệt vời làm sao !
Ngài là Con Người
Miệng Ngài tươi như quả thạch lựu
Ánh mắt Ngài sâu đậm
Ngài rất nhã nhặn
như một người nắm vững được sứ mạng của mình
Trong giấc mơ, tôi thấy
các vua chúa trần gian kinh ngạc đứng trước tôn nhan Ngài
Còn tôi, tôi là ai mới được chứ ?
Làm sao có đêm nếu không có tiếng côn trùng ?
Làm sao có ngày nếu không có tiếng ồn ào ?
Khuôn mặt Ngài đầy vẻ đăm chiêu và hơi buồn,
nhưng đó là khuôn mặt của một người Do Thái
Và tôi thích biết bao hình ảnh Ngài
Thuở tôi còn thơ ấu, Ðức Giêsu đã là một người bạn rất thân của tôi. Chúng tôi thường nói chuyện với nhau. Tôi tỏ cho Ngài biết những bí mật của riêng tôi. Ngài cùng tôi vui đùa, cùng tôi dùng bữa. Mẹ tôi vẫn lo cho Ngài một chỗ trong bàn ăn, ngay bên cạnh tôi... Cách đây ít lâu, tôi lại có thêm một kinh nghiệm thật thích thú: Hôm ấy, tôi được chỉ định đọc lời Chúa trong Phụng vụ ở nhà thờ. Người ta phân công cho tôi đọc bài Thánh thư: bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gởi giáo đoàn Cô-rin-tô. Ðó là bài ca Tình Yêu: và tôi có cảm giác như đây là lần đầu tiên trong đời được đọc những dòng này. Tôi tin chắc rằng Ðức Giêsu Kitô -người bạn rất thân của tôi- là Tình yêu và Tình yêu chính là Ngài! Khi tôi đọc đến từ "Tình Yêu", tôi có thể thay thế tên "Giêsu" của Ngài vào đó.
"Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi." (1Cr 13, 1-3)
Ðức Giêsu là một con người nhẫn nhục. Ngài rất nhã nhặn, Ngài không hay ghen tương. Ngài không cố chấp, cũng chẳng hề tỏ ra cục cằn. Ngài không bao giờ ích kỷ, cũng chẳng mau chấp nê. Ngài không nhớ những điều mà người ta đã cư xử tàn tệ với Ngài, cũng chẳng chấp tội con người hèn yếu. Ngài cũng thấy thích thú mỗi khi gặp những người có lòng ngay thật. Không có điều gì mà Ngài không thể đối diện và cũng chẳng có gì có thể giới hạn được lòng tin cậy và sự chịu đựng của ngài.
"Ðức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." (1Cr 13, 8-13)
(Bài của Shirley Dixon)
Đamien
11-09-2006, 03:35 PM
19. TÌNH YÊU VÀ THIÊN CHÚA
"Tình yêu Thiên Chúa" là đề tài của chương IX trong tác phẩm Tình Yêu" của tôi, và không phải đơn thuần là một trong nhiều chương của tác phẩm, nhưng còn là một thành phần khá quan trọng trong cuộc sống của tôi. Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất và vào một thế giới thiêng liêng vẫn là một sức mạnh trong cuộc sống và trong cách sống của tôi. Chính niềm tin này đã đem lại ý nghĩa cho cuộc sống và tất cả các công việc hằng ngày của tôi.
Ngay sau khi chồng tôi qua đời (lúc tôi mới 22 tuổi), tôi tạm thời bỏ nghề ca sĩ và xin vào trú ngụ trong một nhà dòng nữ suốt 12 năm trường. Phần lớn thời gian tôi dành cho việc chuyên tâm cầu nguyện và suy niệm. Ðây quả là một thời điểm quan trọng trong cuộc đời của tôi. Tôi được tiếp xúc với thế giới thiêng liêng và điều này luôn thấm nhập vào tất cả các công việc của tôi. Tôi thích gọi đó là một cuộc đời đặt trung tâm vào Thiên Chúa. Có nhiều người cho rằng các thần minh mà người tạo nên thì nhỏ bé hơn Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng nên con người và muôn loài muôn vật; đồng thời, Thiên Chúa nhỏ bé đủ để con người chúng ta hiểu biết được Người, thì Người lại không lớn đủ để đáp ứng hết những nhu cầu của chúng ta. Chính vì thế mà cách làm việc của Thiên Chúa luôn luôn vẫn là điều bí nhiệm đối với tất cả chúng ta, như lời Thánh Phaolô Tông đồ đã quả quyết trong thư thứ nhất cho giáo đoàn Cô-rin-tô: "Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ, tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi" (1Cr 13,12)
Thật vậy, cách chúng ta định nghĩa về hiện thực tùy thuộc vào rất nhiều hoàn cảnh. Chẳng bao giờ chúng có thể biết chắc được chúng ta sẽ gặp an toàn hay không trên con đường chúng ta đang đi. Là những lữ khách, những người đang trên đường hành hương, chúng ta cũng đã có lần đi lạc hướng, và nhiều khi còn bị vấp ngã trong bóng đêm dày đặc... Riêng tôi, tôi rất xác tín điều này là có một Thiên Chúa đầy tình thương đang hiện hữu cách sống động trong mỗi người chúng ta và quyền lực vô song của Người luôn hoạt động mạnh mẽ trong cuộc sống và trong tất cả các công việc hàng ngày của chúng ta. Vì thế tôi hằng luôn tin tưởng và phó thác trọn vẹn ở nơi Người.
Tôi ước nguyện sao cho suốt đời tôi sẽ không bao giờ trở thành một cản trở cho quyền lực của Người đến hoạt động trong chính bản thân tôi và trong hết mọi người trên thế giới.
(Mary O Hara)
Đamien
11-09-2006, 03:37 PM
20. TÌNH YÊU VÀ SỰ CHẾT
Niềm hạnh phúc và mơ ước lớn nhất của những đôi bạn đang thực sự yêu nhau là được ở với người mình yêu luôn mãi. Nhưng ngược lại, thật là một điều bất hạnh, một kinh nghiệm rất đau thương, nếu vì một lý do hay vì một hoàn cảnh nào đó mà họ phải sống chia lìa, xa cách nhau.
Thực ra, một sự xa cách tạm thời, ngắn hạn không hẳn là một điều tai hại, nhưng còn có thể là một liều thuốc giúp cho mối quan hệ tình yêu giữa đôi bạn khỏi trở nên như "nước ao tù" hoặc khỏi bị "han gỉ" đồng thời còn là một sự nhắc nhở cho đôi bạn ý thức hơn về chân giá trị và tầm quan trọng của mối quan hệ này. Nếu đôi bạn coi thường tình yêu, hoặc xem tình yêu như một chuyện đương nhiên thì bất cứ một sự xa cách nào, dù thật ngắn ngủi, cũng là một điều rất nguy hiểm, có thể phá hủy mối quan hệ tình yêu một cách dễ dàng. Nhưng nếu được xếp đặt một cách khôn khéo thì một sự xa cách có thể giúp cho đôi bạn có được một cái nhìn tươi mát và sáng suốt hơn về người bạn của mình. Ðồng thời, nỗi luyến tiếc khi phải xa nhau một thời gian có thể thanh luyện và làm cho tình yêu của đôi bạn trở nên cao quí hơn nữa.
Cũng vậy, khi một người thân yêu của chúng ta vĩnh viễn ra đi, chúng ta không khỏi cảm thấy bùi ngùi thương tiếc, và tôi tin chắc rằng nhiều người trong chúng ta cũng đã từng cảm nghiệm được nỗi đau xót trước cảnh ly biệt này. Tuy nhiên, cũng giống như tất cả những nỗi khổ đau khác, nỗi đau trước sự ra đi vĩnh viễn của một người nào đó có thể soi sáng cho chúng ta nhiều điều bất ngờ. Thật vậy, đối với tất cả chúng ta, những người có niềm tin vào sự sống lại như Ðức Kitô, Chúa chúng ta, đã sống lại thật, chết không phải là hết, mà là trở về cùng Thiên Chúa để tiếp tục sống một cuộc sống mới, cuộc sống vĩnh cửu. Sự chết chỉ là một chân trời đặt giới hạn cho nhãn giới của con người mà thôi. Sự chết đem cuộc sống con người vào một viễn tượng đúng đắn, giúp trí khôn con người tập trung một cách dễ dàng hơn, và có thể nói, sự chết chẳng khác gì một máy đập lúa giúp chúng ta phân biệt được đâu là những hạt thóc và đâu là rơm rạ. Chúng ta cảm nghiệm được sự ngắn ngủi chóng qua của cuộc đời trần thế này và như thế, chúng ta chiếm hữu được sự khôn ngoan của trái tim.
"Pie Jesu Domine, dona eis requiem sempiternam!" (Lạy Chúa Giêsu nhân lành, xin ban cho họ được an nghỉ đời đời!). Giáo hội vẫn hiệp lời cầu xin Thiên Chúa ban sự an nghỉ đời đời cho những người thân yêu của chúng ta đã qua đời. Thật vậy, đối với người Kitô hữu chúng ta, sự chết không phải là một sự xa cách mãi mãi, và những người đã qua đời, thực sự họ không chết đâu, nhưng vẫn đang sống, có thể các vị đó hiện giờ đang còn cất lời cầu bầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa nữa. Ðiều này giúp chúng ta nhận thức rõ ràng hơn về tín điều "các Thánh cùng thông công", về niềm hy vọng sống lại và về cuộc sống trường sinh bất diệt sau này. Ðiều đó còn nhắc nhở cho mọi người chúng ta phải biết sống thế nào cho xứng đáng để có thể đón nhận hồng phúc vinh quang mà Chúa đã hứa ban cho tất cả chúng ta.
"Lạy Chúa, xin ban cho các linh hồn những người thân yêu của chúng con đã qua đời được an nghỉ đời đời".
(Mary O Hara)
Đamien
11-09-2006, 03:38 PM
21. YÊU PHẢI CHĂNG LÀ ÐIÊN DẠI?
Tục lệ và nghi lễ hôn phối vẫn thường mang nhiều sắc thái khác nhau tùy theo từng tôn giáo hoặc tùy theo từng địa phương. Ðối với Kitô-giáo, nghi lễ hôn phối phần lớn bao gồm các bài thánh ca để ngợi khen Thiên Chúa là Ðấng ban phát tình yêu và đồng thời, cũng để cầu xin Người ban cho đôi tân hôn được hạnh phúc trọn đời. Ở nhiều nơi, người ta vẫn có thói quen thường cho tôi tân hôn tự chọn những bài dùng trong hôn lễ của mình. Thông thường tất cả họ đều đã chọn bài ca có ý tưởng tương tự như thế này: "Lạy Chúa, là Chúa và là Cha của nhân loại, xin tha thứ những lỗi lầm và những thiếu sót của chúng con...". Rồi dựa vào các ý tưởng đó, vị chủ lễ có thể nói với đôi tân hôn rằng:
"Cha rất hài lòng vì X. và Y., chúng con đã chọn những bài ca này. Phải, chúng con hoàn toàn có lý khi chọn lựa như thế, bởi vì chúng con chắc chắn sẽ cần đến sự tha thứ kéo dài trong suốt cuộc đới chung sống của chúng con. Hơn thế nữa, cha dám quả quyết rằng: Không có gì "điên dại" hơn là trao mình cho người khác. Và khi yêu nhau, chắc chắn sẽ có lần chúng con cảm thấy bị tổn thương, bị vỡ mộng, có khi còn bị ruồng bỏ nữa... mà nếu như thế thì đừng đi vào hôn nhân có phải hơn không? Vì nếu mình đừng đến gần "ai đó" để khỏi phải yêu "người ta", thì có lẽ chẳng bao giờ mình bị thương tích!? Tuy nhiên, chúng ta không thể nào nghĩ như vậy được, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta và đã xếp đặt chúng ta theo ý định của Người mà ý định của Người hẳn là tất cả chúng ta đều trở nên "điên dại" trong ý nghĩa này là: mỗi người cần phải biết trao trọn bản thân mình cho người khác.
Trong thời Ðức Quốc Xã, Maximilien Kolbé, một linh mục người Ba Lan (đã được phong Thánh ngày 10/10/1982) tình nguyện chết thay cho một người bạn tù đã có gia đình. Hành động của vị Linh mục này không phải là điên dại sao, điên dại vì tình yêu tha nhân ?
Người ta cũng kể lại một câu chuyện thương tâm sau đây: Vì nghiện ma túy, cô con gái yêu quý của một người kia đã bỏ nhà ra đi theo chúng bạn... Một thời gian sau, cô gái tỏ vẻ hối hận, và nhờ vào sự nâng đỡ, khuyến khích của một số người hảo tâm, cô đã từ bỏ hẳn nếp sống nghiện ngập sa đọa và trở về trạng thái bình thường. Một vị ân nhân của cô gọi điện thoại đến nhà, báo cho cha cô gái hay rằng cô thành thật muốn quay trở lại với gia đình. Nhưng đáng tiếc thay, người cha tức giận trả lời: "Tôi thực sự đã có một đứa con gái, nhưng nó đã... chết từ lâu rồi". Và ông cúp máy...
Hành động của người cha này quả thật là một hành động sai lầm nghiêm trọng.
Yêu là điên dại, Tình yêu có thể gây được niềm cảm thông trong trái tim con người, kể cả trái tim của những người khô khan, lạnh lùng nhất. Không có ai chai đá đến nỗi tình yêu không thể nào làm họ xúc động mảy may. Không nhiều thì ít, họ cũng biết ban phát tình yêu và tiếp nhận những cảm tình của người khác. Trong số những người điên dại vì tình yêu theo nghĩa mà chúng ta đã đề cập đến ở trên, người điên dại nhất chính là Ðức Giêsu-Kitô. Cả cuộc đời, Ngài đã không ngừng yêu thương và yêu thương tất cả mọi người không trừ ai. Có những người xem ra không xứng đáng để Ngài yêu thương, thế mà Ngài vẫn quan tâm đến họ. Những bệnh nhân đau khổ trên giường bệnh đã được Ngài viếng thăm và chữa lành. Ðối với những kẻ sống ngoài xã hội, những kẻ mà không một ai thèm để ý, lưu tâm đến, thì chính Ngài đã chấp nhận họ và đã chuyện trò thân mật với họ. Cả những cô gái điếm cũng vẫn có giá trị trước mặt Ngài. Tất cả mọi người đều quan trọng trước mắt Ngài. Ngài luôn luôn yêu thương, cả trong những lúc gặp nguy hiểm để rồi cuối cùng, Ngài đã hy sinh chịu chết, vì Ngài không muốn cũng như không thể nào cắt đứt sự yêu thương. Ngài quả thật là "người điên" số 1 của thế giới cổ kim.
Mỗi chủ nhật chúng ta cùng nhau tụ họp lại để phụng thờ và tôn vinh Ðấng yêu thương điên dại này. Ngài đã chịu biết bao thương tích. Ngài đã từng chấp nhận biết bao hiểm nguy. Ngài đã chịu chết cách nhục nhã trên thập giá... Tất cả chỉ vì yêu thương thế giới, một thế giới luôn mơ ước tình yêu nhưng lại mãi sống trong hận thù. Chúng ta phụng thờ Ngài như một người đã vì quá sức yêu thương mà chiến bại. Dù vậy, sự chết đã không cầm giữ được Ngài lâu. Ngài đã thực sự sống lại hiển vinh: sự sống lại toàn thắng của một người đã yêu thương và muốn yêu thương cho đến cùng. Ðức Kitô đã sống lại và Ngài đang sống, để ban sức mạnh cho tất cả những ai sẵn sàng chấp nhận đi theo con đường tình yêu điên dại ấy, con đường tình yêu chân chính của Ngài.
Vậy hãy tin tưởng bước đi ... vì cuối cùng chính tình yêu sẽ thắng
Đamien
11-09-2006, 03:40 PM
22. MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI - TÌNH BẠN
Trong Ðức Giêsu-Kitô, Tình Yêu của Thiên Chúa đã được thể hiện một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Ðó là Tình yêu vĩnh cửu; cao quý hơn bất cứ hình thức nào của tình yêu con người, và giữa hai tình yêu này -Tình yêu Thiên Chúa và tình yêu nhân loại-, Thiên Chúa đã đặt để một mối quan hệ trực tiếp rất mật thiết. Thật vậy, nếu tất cả mọi người chúng ta biết yêu mến nhau, thì tình yêu của chúng ta sẽ trở nên phương tiện thông ban Tình Yêu của Thiên Chúa đến cho mọi người; đồng thời, chính Tình Yêu của Thiên Chúa sẽ thánh hóa, thêm sức mạnh và làm cho tình yêu của chúng ta được trọn vẹn, như lời Thánh Gioan Tông đồ đã quả quyết: "Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo" (1Ga 4, 12).
Trong ngôn ngữ Hy Lạp, người ta đã sử dụng nhiều từ khác nhau để diễn tả ý nghĩa của từng cảm tình, từng mối quan hệ, nhưng trong ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta chỉ dùng một từ duy nhất là "tình": giữa bạn bè với nhau là tình bạn, tình thân; giữa hai nam nữ là tình yêu; giữa họ hàng thân thuộc là tình nghĩa, giữa người với người là tình người, tình nhân loại...
Ở đây chúng ta hãy cùng nhau suy niệm về tình bạn, tình thân liên kết giữa các bạn bè với nhau.
Tất cả chúng ta đều đã nhận thức được rằng Tình bạn là một trong những kinh nghiệm phong phú nhất của con người. Trong sách Huấn ca đoạn 6, câu 14-15 có ghi: "Người bạn trung thành là một nơi nương tựa vững chắc, ai gặp được người bạn như thế là gặp được kho tàng" (Hc 6, 14). Thật là quý hóa nếu chúng ta tìm ra được một người bạn thân thật sự, một người bạn luôn biết sẵn sàng nâng đỡ, ủi an chúng ta những khi gặp gian nan hoạn nạn, người bạn hiểu biết chúng ta, biết thông cảm, biết chia sẻ những nỗi vui buồn, biết khích lệ và dẫn dắt chúng ta trên đường ngay lẽ phải.
Trong cuốn tiểu thuyết "Những Người Bạn Tốt" của ông J.B.Priestley đã kể chuyện này: Một người kia, sau khi đã đi du lịch nhiều hơn, tham quan nhiều danh lam thắng cảnh, cũng như gặp gỡ, trao đổi kiến thức với nhiều người, trở về và thuật lại chuyến đi cho các bạn thân của ông nghe. Kể xong, ông ôn tồn kết luận: "Ði du lịch cũng có nhiều cái thú vị, đồng thời học hỏi được nhiều điều bổ ích, nhưng đối với tôi, ở nhà thực sự vẫn là điều thích thú hơn cả, bởi vì ở đây, tôi còn có những bạn bè rất thân mến..."
Thật vậy, điều quan trọng trong cuộc sống của mỗi người chúng ta không phải là được ở nơi này hay nơi khác, nhưng là làm thế nào để tạo được mối quan hệ thân mật thiết và tốt đẹp giữa con người với nhau. Chúng ta đừng lầm tưởng rằng các mối quan hệ ấy -giữa chúng ta và những người xung quanh- và sự chân thành trong tình bạn là chuyện tự nhiên, bình thường mà có. Hoàn toàn không phải thế đâu! Thực ra tình bạn chúng ta có thể ví như một cây con vừa được trồng xuống đất, nếu chúng ta biết chăm bón, vun xới, tưới tiêu cho nó, nó sẽ đâm bông kết trái; ngược lại, nếu chúng ta cứ để mặc nó, thì chắc chắn nó sẽ khô héo dần và chết đi. Chúng ta cũng đã biết rằng có nhiều nguyên nhân có thể làm tổn thương hay hủy hoại tình bạn, như tính ghen tỵ, vị kỷ, như sự gian dối, nghi ngờ, hay như lòng hẹp hòi, ưa so đo tính toán ... Và một nguyên nhân tai hại hơn cả, đó là sự lãng quên. Ðiều này rất thường dễ xảy ra: Khi chúng ta biếng nhác trong việc liên lạc thư từ, khi chúng ta bỏ lỡ một cú điện thoại, khi chúng ta tỏ ra lơ là, có thái độ vô lo, không quan tâm cũng chẳng để ý gì tới ai... Tất cả những sự kiện đó, sẽ nới lỏng dần các mối dây quan hệ và cuối cùng, sẽ dẫn chúng ta tới chỗ lạnh nhạt; thờ ơ, quên lãng nhau hoàn toàn, có khi còn đau lòng hơn nữa là chúng ta chỉ còn nhìn nhau những ánh mắt thật xa lạ.
Chỉ có những người có tâm tình biết ơn, luôn sẵn sàng tha thứ, biết sống nhẫn nại, chịu đựng và luôn kiên tâm bền chí mới có thể nuôi dưỡng, giữ vững được tình thân giữa bạn bè với nhau. Vì thế, chúng ta hãy chân thành thương mến nhau để Tình Yêu của Thiên Chúa đến ngự trị giữa chúng ta. Chính Tình Yêu của Người sẽ tăng thêm sinh lực, liên kết và siết chặt mối dây thân ái cho tình bạn của tất cả chúng ta, và qua đó, Tình Yêu bao la của Người sẽ được lan tràn trong khắp thế giới !
Đamien
11-09-2006, 03:42 PM
23. MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI - TÌNH YÊU GIA ÐÌNH
<O:p
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của con người, chúng ta có thể nói đến một hình thức tình yêu nổi bật nhất, và có lẽ cũng quan trọng nhất, được thể hiện giữa những con người cùng chung sống dưới một mái nhà, đó là Tình Yêu gia đình.
Cơ cấu phức tạp của tổ chức gia đình được kết thành bởi nhiều mối dây quan hệ của tình yêu: Có thứ tình yêu giữa hai người nam nữ gọi là tình nghĩa vợ chồng, khi hai người được liên kết nhau qua Bí tích Hôn nhân họ sẽ thể hiện tình yêu của mình bằng cả tâm hồn và thân xác, sẽ cùng nhau chia sẻ một cuộc sống chung và tất cả những của cải, tài sản thuộc về họ. Có thứ tình thương giữa cha mẹ và con cái, được thể hiện quan sự tôn kính, qua lòng hiếu thảo, sự vâng phục, qua việc nuôi nấng, giáo dục, qua việc ân cần chăm sóc, bảo vệ và qua những mối bận tâm lo lắng. Có thứ tình yêu giữa những con người trong gia đình, gọi là tình nghĩa anh chị em. Và còn có những thứ tình yêu khác nữa, đó là tình thương giữa ông bà và các cháu, tình thương giữa những họ hàng thân thuộc với nhau... Tất cả những thứ tình yêu này xây dựng nên Tình Yêu gia đình.
Giáo hội của chúng ta ngày nay luôn nhấn mạnh và quan tâm đến tính cách thánh thiện của hôn nhân, của tình nghĩa vợ chồng, của tình yêu và của cả nếp sống gia đình, bởi vì Giáo Hội vẫn luôn quan niệm rằng gia đình nằm trong ý định, trong chương trình mà Thiên Chúa đã đặt ra và đã hoạch định cho con người. Giáo hội của chúng ta có trường tồn hay không, xã hội này có tốt đẹp hay không là tùy thuộc rất nhiều vào sự thuận hòa êm ấm, vào tình yêu của gia đình. Nói cách khác, gia đình chính là chìa khóa của một Giáo hội vững chắc, thánh thiện và của một xã hội hùng mạnh, thịnh vượng, hạnh phúc. Có thể có nhiều người trong chúng ta sẽ mỉm cười bảo rằng đây là một quan niệm lạc hậu, cổ hủ, nếu không nói là phản động, đối với một thế giới quá tự do như hiện nay? Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng sự gia giáo của một đời sống gia đình thực sự cần thiết và quan trọng biết bao! Chính ở trong khung cảnh, trong bầu khí đầm ấm của gia đình và nhờ vào ảnh hưởng của các bậc cha mẹ, của bà con họ hàng, mà chúng ta học biết được cách phân biệt thiện ác, cách cư xử tốt với người khác và phát triển mối quan hệ với tất cả mọi người. Trên hết tất cả, chúng ta đã tiếp nhận được đức tin và cảm nghiệm được Tình Yêu của Thiên Chúa thông qua tình thương và sự âu yếm của một gia đình đạo đức, thánh thiện, êm ấm và thuận hòa.
Tuy nhiên, trong thế giới hiện nay chúng ta đang sống, đã có không ít những gia đình bất hạnh, những gia đình mà trong đó các bậc cha mẹ không có đức tin, hoặc không có thái độ quí mến đức tin và những giá trị linh thiêng, luân lý. Chúng ta nên biết rằng tình yêu gia đình có thể trở nên máng chuyển thông tình yêu của Thiên Chúa; đồng thời, tình yêu này cũng rất cần đến sự chung tay xây dựng và gìn giữ của tất cả các thành viên trong gia đình. Nhưng thật đáng buồn thay, cái nhân tố thiết yếu và quan trọng nhất để gầy dựng một gia đình thuận hòa, đoàn kết với nhau là tình yêu thì lại thường không được nuôi dưỡng và bảo toàn! Biết bao cuộc hôn nhân đã tan vỡ làm cho tất cả các thành phần trong gia đình phải chịu cảnh chia rẽ, phân ly. Càng ngày con số những gia đình tan vỡ này xem ra càng gia tăng cách nhanh chóng và vấn đề ly dị đã là chuyện rất bình thường, xảy ra "như cơm bữa" trong các xã hội. Một điều đáng tiếc hơn nữa là chính con cái, những người trẻ trong gia đình sẽ là những nạn nhân đầu tiên của các thảm kịch này.
Nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh các gia đình tan vỡ hẳn cũng nhận thấy rằng nguyên nhân đưa đến những cuộc đổ vỡ này hoàn toàn không đơn giản chút nào và thật là nguy hiểm nếu chúng ta chỉ biết phán đoán một cách nông cạn, thiếu suy xét. Ở đây, chúng ta có thể khẳng định điều này là tình yêu của con người không đủ khả năng bảo tồn hôn nhân và đời sống gia đình. Duy chỉ có Tình Yêu của Thiên Chúa được thể hiện trong Ðức Giêsu Kitô mới có thể thâm nhập vào và thánh hóa các cuộc hôn nhân, các gia đình để làm cho chúng ta được thêm vững mạnh và bền bỉ.
Thật vậy, chúng ta có thể bắt chước Thánh Gioan để quả quyết rằng: "Nếu chúng ta biết biểu lộ tình thương mến nhau trong gia đình thì Thiên Chúa sống trong gia đình chúng ta. Chúng ta rất cần đến tình yêu của Người, vì chỉ có tình yêu của Người mới có thể thánh hóa kiện toàn tình yêu chúng ta".
Đamien
11-09-2006, 03:43 PM
24. MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI- TÌNH YÊU NHÂN LOẠI
Một hình thức khác của tình yêu giữa con người với con người là Tình Yêu Nhân Loại.
Ðức Giêsu đã truyền dạy chúng ta phải yêu mến người thân cận như chính bản thân mình (Lc 10, 27). Theo nghĩa Kitô giáo, "người thân cận" ở đây là tất cả mọi người, là đồng loại của chúng ta bất luận là ai, người thân hay kẻ thù.
Vậy, "yêu mến người thân cận", "yêu mến tất cả mọi người" điều này có thể thực hiện được không ?
Một điều mà chúng ta có thể khẳng định ngay được, đó là chúng ta không thể nào yêu thích hết mọi người được. Có nhiều người làm cho chúng ta không thể nào thương được: họ xấu nết, khó tính, và đôi khi trông thật là đáng ghét! Họ luôn làm cho chúng ta cảm thấy bực bội và khó chịu đến nỗi chúng ta không thể nào quan hệ hoặc sống chung với họ được. Tuy nhiên, vấn đề "yêu thương người thân cận" không hệ trọng gì đến những tâm tình hay những cảm xúc của chúng ta cả! Ðó không phải là chuyện thích hay không thích người khác, nhưng là một hành động yêu thương có tính cách thiết thực. Thật vậy, yêu thương người thân cận ở đây có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn ở trong tình trạng sẵn sàng đáp ứng lại những nhu cầu thiết yếu của người khác, sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ tất cả những ai đang đau khổ, đang túng thiếu, đang đói khát, sẵn sàng thông cảm, chia sẻ những nỗi đau của những ai tật nguyền, yếu đau, của những ai kém may mắn hơn chúng ta, bằng sự ân cần chăm sóc, ủi an, khích lệ và với thái độ hoàn toàn tự nguyện, vô vị lợi.
Chúng ta dễ bị xúc động trước cảnh những trẻ em chết vì đói khát. Chúng ta dễ tỏ lòng thương hại đối với những kẻ xấu số. Nhưng tất cả những cảm tình xót thương đơn thuần ấy vẫn chưa đủ! Chúng ta cần phải tích cực giứp đỡ họ, cần phải làm một nghĩa cử hy sinh nào đó để chia sẻ với họ, và điều quan trọng là cần phải luôn cố gắng kiên trì trong việc giúp đỡ và chia sẻ này.
Chúng ta thử kiểm lại xem chúng ta đã phản ứng thế nào mỗi khi đứng trước những thảm kịch ấy: Chúng ta đã có đủ thông cảm để có thể móc ví ra chia sẻ với họ chưa? Hay thay vì cần phải biểu lộ lòng thương xót và sự cảm thông với họ, chúng ta đã quay lưng, chán ớn, buồn nôn, chúng ta đã có thái độ bất cần, lạnh nhạt, dửng dưng? Hay đôi khi vì quá quan tâm đến những kẻ xấu số ấy mà chúng ta lại đâm ra bực bội khó chịu, buông lời oán trách trời đất? Chúng ta tỏ vẻ tức giận vì những cảnh khổ cực đau lòng ấy ngày nào cũng xuất hiện ngay trước cửa ngõ nhà chúng ta hay trên màn ảnh nhỏ trong góc phòng chúng ta?
Một nhà Truyền giáo kia sống giữa những người nghèo khổ bên Ấn Ðộ, có lần đã viết thư tâm sự với một người bạn của mình như sau: "...Khi trông thấy một em bé chết đói, chúng ta dễ cảm thấy xót xa, động lòng. Nhưng quả thực là khó khăn khi hằng ngày chúng ta phải cùng chia sẻ đời sống với những con người nghèo khổ, phải gần gũi với những cảnh dơ bẩn, hôi thối nồng nặc, phải cảm thấy thất vọng, bất lực trước cảnh trơ trụi, bệnh tật của những xác thân gầy còm và như đang rữa thối. Càng ngày tôi càng cảm nhận được rằng chỉ khi nào tình yêu của con người được bồi dưỡng và được đổi mới bằng chính Tình Yêu của Thiên Chúa, thì lúc đó con người mới có thể tiếp tục sống trong những trạng huống như thế..."
Thật vậy, chỉ có Thiên Chúa và Tình Yêu cao cả của Người mới đủ sức giúp chúng ta kiên trì giữ vững tình yêu đối với tha nhân và chuyển thông tình yêu của Thiên Chúa đến trong thế giới này. Bởi vì một khi không còn tiếp xúc với Thiên Chúa, không còn cảm nhận được tình yêu của người nữa, chúng ta sẽ giảm thiểu dần mối quan hệ và sự quan tâm đến người khác.
Trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng nhan đề "Phóng sự gởi về Greco", tiểu thuyết gia Hy lạp Nikos Kazantzakis đã kể lại tất cả giai đoạn quyết định của đời ông, lúc ông trở về với đức tin. Ông đã thú nhận là ông bị lôi cuốn bởi hai nhân vật, hai vị này tuy sống rất cách xa nhau trong thời gian, nhưng lại rất gần gũi và rất giống nhau qua đời sống. Hai vị đó chính là Thánh Phanxicô Atsidi và Mục sư Bác sĩ Albert Schweitzer. Các Ngài đều đã có thể đem phép lạ xuống trần gian này. Nhờ vào sự cảm thông chân thành và tính hiền hòa nhã nhặn được thể hiện bằng các hành động cụ thể, các Ngài đã lướt thắng được những kẻ thù truyền kiếp của con người là bệnh tật, đói khát, sự ngu dốt và bất công. Nhà văn N. Kazantzakis đã nhận xét rằng; Sở dĩ Thánh Phanxicô Atsidi và Mục sư Bác Sĩ A. Schweitzer cũng như tất cả những người đồng ý hướng với các ngài, đã có thể kiên trì tận tụy phục vụ nhân loại đang đau khổ này là vì các ngài đã được tiếp xúc với một Tình Yêu lớn hơn, là suối nguồn của mọi tình yêu, đó là chính Thiên Chúa.
Vậy, nếu chúng ta muốn yêu mến người thân cận, yêu thương đồng loại của chúng ta và muốn trở nên máng chuyển thông tình yêu của Thiên Chúa đến trong thế giới này, thì chúng ta phải chiếm hữu được Thiên Chúa để Người hằng sống trong chúng ta. Chính Tình Yêu của Người sẽ hoàn tất tình yêu của chúng ta và như thế, tình yêu của chúng ta sẽ nên trọn vẹn.
Đamien
11-09-2006, 03:45 PM
25. MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI - TÌNH THÂN HỮU
Tất cả chúng ta đang sống trong một thế giới đầy dẫy những mối hiểm nguy và đe dọa: Nào là nạn đói ở Phi Châu, nạn bão lụt ở khắp nơi và đây đó vẫn thường xảy ra những nạn động đất lớn; nào là chuyện cướp máy bay, xâm lấn lãnh thổ, hiểm họa chiến tranh hạt nhân, nào là hận thù chia rẽ vì lý do tôn giáo, vì kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da, tranh chấp ý thức hệ giữa các siêu cường quốc. Càng ngày con người như càng nhẫn tâm hơn, càng đối xử tàn tệ hơn với đồng loại của mình, và sự đau khổ chết chóc như càng gần gũi hơn với đời sống con người. Biết bao trẻ em vô tội và biết bao gia đình đã phải trở thành nạn nhân của những thảm họa hãi hùng đó... Vậy, đứng trước những cảnh thống khổ của con người vì thiên tai hay vì sức ép nặng nề của bạo lực đàn áp, khủng bố, hoặc vì nghèo túng, đói khát cùng cực..., chúng ta phải có thái độ nào, phải phản ứng ra sao ?
Dĩ nhiên, chúng ta chỉ có thể sử dụng các phương tiện trong tầm tay, còn ngoài ra là việc của Thiên Chúa và những ân huệ của Người. Một trong những phương tiện mà Thiên Chúa đầy tình thương đã trao ban cho chúng ta như quà tặng vô giá, đó là tình thân hữu. Tình thân hữu, trước hết, là sự cảm thông chân thành, là thái độ sẵn sàng chia sẻ tất cả những nỗi thống khổ của người khác, bởi vì chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ được những nỗi ưu tư dằn vặt của tha nhân trước cuộc sống luôn bị đe dọa, chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được những nỗi đớn đau quằn quại của người thân cận trước cảnh nghèo túng, đói khát, thì chúng ta mới có thể nhận thức được chân giá trị đích thực của tình thân hữu và sự cần thiết của nó đối với đời sống con người quan trọng như thế nào !
Thật vậy, nếu tất cả mọi người, mọi dân nước trên trái đất này biết sống hòa bình, thân thiện, hữu nghị với nhau, con người chắc chắn sẽ không còn cảm thấy, hay nói đúng hơn, sẽ không hề biết tới những hiểm họa chiến tranh hay những nạn kỳ thị tàn ác. Nếu tất cả mọi người, mọi dân nước trên hành tinh này biết chia sẻ, phân phối đồng đều cho nhau các tài nguyên, của cải, lương thực... vì tình thương liên đới mật thiết, con người chắc chắn sẽ cảm thấy vui tươi, hạnh phúc. Và nếu tất cả mọi người mọi dân nước trên thế giới này biết sẵn sàng phục vụ, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp thiên tai, hoạn nạn... chắc chắn bộ mặt con người sẽ đầy lạc quan và tin yêu hơn.
Tình thân hữu giữa người với người, giữa nước này với nước kia có thể xóa tan đi tất cả những hận thù chia rẽ và đem lại nguồn hạnh phúc đích thực cho con người, đồng thời dẫn đưa con người đến chỗ thiện hảo. Tình thân hữu cũng còn là một phương tiện nhân loại của Thiên Chúa để tình yêu của người đi vào lòng thế giới, đến với từng người, từng tâm hồn, từng con tim. Chính Tình Yêu của Người sẽ làm tăng lực và thánh hóa tình thân hữu của con người chúng ta, để chúng ta có thể kiên trì giữ vững mối dây liên kết thân thiện giữa con người với nhau, và nhất là để chúng ta biết đáp trả lại tấm chân tình của Người đối với toàn thể nhân loại.
Ở đây, chúng ta cũng nên lưu ý đến một vài khía cạnh tiêu cực của tình thân hữu. Cũng như mọi hình thức tình yêu khác, tình thân hữu cũng có thể bị thương tích, bị đổ vỡ nếu chúng ta không biết bồi đắp, vun xới cho nó, hoặc nếu chúng ta đã sử dụng nó vì một mục đích xấu, vì một tư lợi nào đó. Ðối tượng chính yếu của tình thân hữu là con người, và mục đích của tình thân hữu là xây dựng một tinh thần hữu nghị, thân thiện, là tạo ra niềm vui, niềm hạnh phúc cho nhau. Dĩ nhiên là chúng ta vẫn có thể cậy vào tình thân hữu để được nâng đỡ, được ủi an, được sự khích lệ trong những khi gặp khó khăn, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có quyền lạm dụng tình thân hữu như một phương tiện để phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình hoặc để đạt tới mục tiêu nào khác. Yêu mến bạn là yêu mến chính bản thân của bạn, vì lợi ích và vì hạnh phúc của bạn: đó mới thực sự là một tình thân hữu chân chính. Trái lại, nếu chúng ta chỉ biết lãnh nhận mà không biết cho đi, tình thân hữu giữa chúng ta và người khác sẽ bị mất thăng bằng rồi chắc chắn sẽ đi đến tan vỡ.
Một nguyên nhân khác có thể làm sứt mẻ hoặc cắt đứt hẳn tình thân hữu, đó là sự bất trung, sự phản bội. Ðây là hai yếu tố gây nhiều đau thương nhất cho tâm hồn con người. Làm sao chúng ta không khỏi cảm thấy đau lòng, xót xa khi bị chính những người bạn thân thiết, những người đã từng chia sẻ ngọt bùi với chúng ta, manh tâm phản bội lại chúng ta?
Dẫu vậy, Thiên Chúa là Ðấng giàu lòng thương xót, là Ðấng thấu suốt mọi sự, Người không thể để chúng ta phải rơi vào ngõ cụt. Người đã trao ban cho mỗi người chúng ta một trái tim biết yêu thương và biết tha thứ. Chính nhờ vào lòng nhân từ, quảng đại hay tha thứ được nhận lãnh từ trái tim yêu thương của Thiên Chúa mà chúng ta có thể hàn gắn và nối kết lại tình thân hữu. Tuy nhiên, điều này quả là khó thực hiện mỗi một khi chúng ta không biết dẹp bỏ tính tự ái, lòng tự tôn và không biết noi theo tấm gương cao cả của Ðức Giêsu Kitô, vị Thầy Chí Thánh của chúng ta. Trong suốt cuộc đời trần thế của Ngài, Ngài đã không ngừng thể hiện một lòng yêu thương, hay tha thứ vô bờ bến đối với bất cứ hạng người nào. Ngài đặc biệt quý mến các trẻ em. Ngài chăm sóc ủi an những kẻ khốn khổ. Ngài nâng đỡ, chữa lành những kẻ yếu đau, tật nguyền. Ngài gần gũi, thân thiện và cùng đồng bàn với những người tội lỗi, cả với những kẻ luôn tìm cách chống đối, phản nghịch lại Ngài. Ðối với các môn đệ Ngài đã cư xử với họ chí thiết chí tình, đã nâng họ lên hàng bạn hữu của Ngài: "Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa. nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu" (Ga 15,15). Và mặc dù biết trước một Giuđa phản bội (Ga 13, 21) một Phêrô chối bỏ (Ga 13, 38) nhưng Ngài vẫn yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho các ông. Ngay cả khi sắp tắt thở nhục nhã trên thập giá, Ngài vẫn còn xin ơn tha thứ cho những kẻ hành quyết Ngài: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23, 34).
Thật là một tấm gương cao đẹp của tình thân hữu! Ðức Giêsu đã thực hiện trọn vẹn câu nói thời danh của chính Ngài: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13)
Vậy mỗi người chúng ta hãy chung tay xây dựng, bồi đắp, vun xới cho tình thân hữu giữa chúng ta càng ngày càng thêm bền chặt, để xuyên qua tình thân hữu này, Tình Yêu của Thiên Chúa sẽ đến ngự trị giữa chúng ta và chính Tình Yêu của Người sẽ đổi mới bộ mặt trái đất. Ước mong rằng mỗi người đều biết cộng tác, đóng góp phần mình vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa là đem lại niềm hạnh phúc tươi vui cho toàn thể nhân loại, bằng chính thái độ hòa bình, hữu nghị và thân thiện của chúng ta đối với hết mọi người.
Đamien
11-09-2006, 03:47 PM
26. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI VỚI NGƯỜI
Trong thế giới hiện nay, vấn đề căn bản được đặt ra cho mỗi người chúng ta là: chúng ta phải cư xử với nhau như thế nào để có thể chung sống với nhau?
Mối quan hệ giữa người với người là cội gốc của những vấn đề quan trọng nhất và đồng thời là yếu tính của tất cả những cơ hội vinh quang nhất của chúng ta. Cũng giống như đôi bạn trẻ sắp bước vào đời sống hôn nhân cần phải giải quyết vấn đề thách đố này là làm sao hai cá nhân riêng biệt, có những mục tiêu, ý tưởng và cá tính khác nhau có thể học sống chung với nhau trong sự hài hòa, thuận thảo và hợp nhất. Tất cả chúng ta trong các quan hệ xã hội, cũng phải học sống hài hòa và hiệp nhất với mọi người. Tuy nhiên, phải thú nhận là chúng ta đang sống trong một xã hội mà mọi người, bằng cách này hay cách khác, đang phải tranh sống trên bình diện cá nhân như công ăn việc làm: những hoài bão, những ước mơ; cũng như trên bình diện xã hội rộng lớn hơn như thương mại, nghiệp đoàn, chủng tộc hoặc quốc gia. Xem ra thế giới chúng ta đang sống đang đi về hướng tự phân hóa, tự chia rẽ, bởi vì mỗi người đều nghĩ rằng mình có quyền bảo vệ những lợi ích riêng tư rằng bất cứ giá nào, và điều tự nhiên dễ hiểu là ai ấy cũng đều chỉ lo phục vụ cho những lợi ích riêng tư ấy.
Chúng ta cứ thử lấy đời sống hôn nhân làm ví dụ: Nếu hai vợ chồng, người nào cũng chỉ biết quan tâm đến chính bản thân mình hoặc chỉ hành động theo sở thích, theo ý riêng, thì họ không thể nào chung sống với nhau lâu dài được. Thế nào rồi cuộc sống hôn nhân của họ cũng đi đến chỗ tan rã. Ðàng khác, cuộc sống hôn nhân cũng khó mà tồn tại một khi trong hai người bạn đời luôn chấp nhận sự thua thiệt, luôn phải chịu nhường bước trước sự lấn át quá ồ ạt, mạnh bạo của người kia, hoặc tệ hơn nữa chỉ là con số không đối với người bạn của mình. Ðiều cần phải được điều chỉnh lại ở đây là mỗi người phải biết giữ lại cho mình sự tự trọng, phải biết cộng tác với người bạn đời của mình, cùng nhau xây dựng, cùng nhau sáng tạo, cùng nhau hướng về một mục tiêu chung, rộng lớn hơn và có giá trị hơn những lợi ích riêng tư của mình. Mỗi người sẽ sẵn sàng đóng góp tất cả nghị lực của mình vào công việc chung, và chính nghị lực này sẽ lôi kéo hai người đến gần nhau hơn nữa. Mỗi người cần phải biết luôn quan tâm đến người bạn đời của mình và chấp nhận từ bỏ tính vị kỷ quá lộ liễu.
Mối quan hệ giữa con người với nhau trong đời sống xã hội cũng giống như thế. Tất cả chúng ta cần phải học hỏi để cộng tác với nhau một cách đắc lực và hữu hiệu hơn, cần phải gạt bỏ những ý riêng để dễ dàng thống nhất với nhau, hướng về các mục tiêu chung, và nhất là cần phải có một lý tưởng siêu việt trên đó chúng ta có thể xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa hơn, cao đẹp hơn và phong phú hơn. Hơn nữa, chúng ta còn phải cố gắng làm thế nào để những ý tưởng trên đây không phải chỉ đơn thuần là những ý tưởng suông; nhưng là một sức mạnh thật sự luôn thôi thúc chúng ta hành động, đem cuộc sống mình cống hiến cho người khác và làm cho cuộc sống của những người anh chị em đó thêm phần tươi đẹp.
Ðiều này đem lại sự đoàn kết yêu thương và sự tự do thật sự cho con người, đồng thời bằng một cách nào đó, còn là một sức mạnh có thể đổi mới hoàn toàn cuộc sống của chúng ta. Thực ra, đây không phải là vấn đề tư duy khéo léo, nhưng là một vấn đề tôn giáo, một vấn đề quan trọng liên quan đến những giá trị cao cả. Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là vấn đề: chúng ta có biết tìm đến với Thiên Chúa để xin Người dẫn đưa tất cả chúng ta đến một chiều kích mới, đến sự hiểu biết, thông cảm, chịu đựng lẫn nhau và cùng hợp tác với nhau hay không ?
Chúng ta cần xác tín thêm rằng: chúng ta không tự cứu thoát được mình, và nếu muốn được cứu thoát, chúng ta cần phải nhờ vào những điều Thiên Chúa đang hoạt động cho chúng ta và trong chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 03:50 PM
PHẦN BỐN: ÐỜI SỐNG ÐẠO
NHỮNG CHỈ DẪN TỔNG QUÁT CHO CUỘC SỐNG KITÔ HỮU
Trong đời sống con người, quần áo là một nhu cầu cần thiết và không kém phần quan trọng. Nhìn cách ăn mặc, người khác có thể đoán ra phần nào thành phần xã hội của bản thân chúng ta: sang hay hèn, giàu hay nghèo. Người ta cũng có thể nhận ra, qua lối phục sức của chúng ta, một giai đoạn chuyển tiếp, một dịp lễ hay một ngày hội mừng nào đó trong cuộc đời của chúng ta.
Thánh Phaolô Tông đồ, khi nhấn mạnh đến khía cạnh mới mẻ của một người vừa trở thành tín hữu, đã sử dụng các kiểu nói "loại bỏ" hoặc "mặc lấy", những từ mà chúng ta vẫn thường dùng để chỉ việc thay đổi y phục (x. Rm. 13,12.14; Gl 3,27; 1Cr 5,7). Trong thư gởi cho giáo đoàn Êphêsô 4,17-32, thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu hãy "cởi bỏ" con người cũ và "mặc lấy" con người mới, "cởi bỏ" sự gian dối khỏi bản thân mình, đừng bao giờ gắt gỏng, nóng giận, giận hờn mà phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau cũng như người khác có thể hiểu biết được một phần nào con người chúng ta qua cách ăn mặc của chúng ta, thì người ta cũng có thể hiểu biết và đánh giá được người tín hữu dựa vào những hành động và thái độ mà người tín hữu ấy đang "mặc lấy" trên bản thân mình. Chắc chắn các tín hữu thuộc cộng đoàn Êphêsô đã rút tỉa ra được nhiều điều hữu ích cho cuộc sống của họ nhờ vào các lời chỉ dẫn của Thánh Phaolô, mặc dù chúng ta quá biết là không mấy ai muốn để cho mình bị người này người kia thúc đẩy hoặc "lên lớp" là nên làm điều này tránh điều kia, hoặc làm việc này thì tốt việc kia thì xấu...
Vậy, đâu là cách xử thế đúng đắn của các cộng đoàn tín hữu, khi mà các giáo hội ngày càng thêm phát triển, hoặc các thành phần mỗi ngày một thêm đông đúc hơn, hoặc khi mà mỗi nơi trên thế giới có mỗi nền văn hóa và mỗi hoàn cảnh xã hội khác nhau? Ðâu là những tiêu chuẩn có thể hướng dẫn các tín hữu về cách "ăn mặc" trên bình diện thiêng liêng ?
Ý thức được vấn đề trên đây, nên sau khi đã vạch ra cho các tín hữu những chỉ dẫn chi tiết về những thứ mà họ phải cởi bỏ và những thứ mà họ phải "mặc lấy", về những điều họ phải suy nghĩ và những việc họ phải làm, thánh Phaolô Tông đồ đã trình bày thêm một số những chỉ dẫn tổng quát mà chúng ta có thể đọc thấy trong đoạn 5, thư gởi cho giáo đoàn Êphêsô.
1) Lời chỉ dẫn đầu tiên: "Hãy sống trong tình bác ái như Ðức Kitô đã yêu thương chúng ta" (Ep. 5,2). Nếu lời chỉ dẫn này đơn thuần chỉ có thế thì thực sự cũng chẳng có gì gọi là đặc thù, bởi vì nhiều người cũng đã và đang cố gắng sống cuộc đời yêu thương. Nhưng không, Thánh Phaolô đã không dừng lại ở đây. Ngài chỉ dẫn một cách rõ ràng: "Hãy sống trong tình bác ái, như Ðức Kitô đã yêu thương chúng ta và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt" (Ep. 5,2). Thật vậy, nếu mỗi người chúng ta biết lấy cuộc sống của Ðức Kitô làm khuôn mẫu để rồi cũng sống thương yêu như Ngài, thì chúng ta sẽ khám phá ra nét đặc thù rất nổi bật của cuộc sống đó. Ðức Giêsu không những đã giúp đỡ dân chúng trong mọi hoàn cảnh, nhưng Ngài còn đem lại cho họ sự tự do. Ngài năng lui tới với những người nghèo khổ nhất, những người thiếu thốn nhất, những kẻ lạc lõng cô đơn, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ... Ngài không những chỉ để ý đến các nhu cầu thể lý của họ để đưa tay nâng đỡ chữa lành, mà Ngài còn rất quan tâm đến các nhu cầu thiêng liêng sâu xa nhất của bản thân họ nữa. Ðối với Ngài, cái giá mà Ngài phải trả để được yêu mến Chúa Cha và yêu mến người lân cận là hy sinh chính mạng sống của Ngài. Và chính Tình yêu này của Ngài đã thúc đẩy biết bao người trên khắp thế giới cũng muốn được trả giá như vậy. Họ đã sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình và dám liều cả mạng sống của họ nữa, để có thể rao giảng Tin mừng Ðức Giêsu Kitô và để có thể phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của biết bao người đang túng đói và nghèo khổ, đang yếu đau tật nguyền, đang bị áp bức, bị bỏ rơi... Và chúng ta thực sự chẳng bao giờ biết rõ được Tình yêu đó sẽ còn đòi hỏi thêm những gì và sẽ dẫn đưa chúng ta tới điểm nào nữa!
2) Lời chỉ dẫn thứ hai có thể giúp cho các tín hữu trang bị đủ hành trang để tiến bước trên đường đạo đức, đó là: "Anh em lại là ánh sáng" (Ep. 5, 8). Ðây cũng là một lời chỉ dẫn rất độc đáo! "Bóng tối" thường được dùng để che đậy những hành động mà chúng ta không muốn người khác nhìn thấy. Ngược lại, "ánh sáng" tượng trưng cho một cuộc sống đàng hoàng, trong sạch với những hành động ngay lành, chân thật mà bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy được. Ðiều này thực sự không phải là chuyện dễ dàng, khi chúng ta phải lựa chọn một cuộc sống phù hợp với sự thật, một cuộc sống mà bất cứ ai muốn cũng có thể nhìn thấy thấu đáo từng chi tiết một.
3) Anh em "hãy sống như người khôn ngoan" (Ep. 5,15). Ðây là lời chỉ dẫn thứ ba cho các tín hữu. Chúng ta không có thời giờ để sống như kẻ dại khờ hoặc để làm những việc ngu xuẩn, nhưng chỉ có thời giờ để sống như người khôn ngoan và để thực hiện những việc lành thánh. Và như lời mời gọi của thánh Phaolô Tông đồ, chúng ta phải nhìn thẳng vào thực tại của cuộc sống, phải biết dùng thời giờ cho đúng đắn, nhất là phải luôn luôn tìm biết thánh ý Chúa và hiến dâng cuộc đời để phụng sự Người.<O:p></O:p>
Ðó là những chỉ dẫn cụ thể cho đời sống Kitô hữu mà mỗi người chúng ta cần phải trang bị cho mình, để có thể vững bước và thẳng tiến trên con đường sứ mạng: Phụng sự Thiên Chúa và phục vụ người lân cận !
Đamien
11-09-2006, 03:53 PM
TRÊN ÐƯỜNG LỮ THỨ TRẦN GIAN
Các du khách có dịp đến du ngoạn ở miền Bắc Xcốt-len thường gặp thấy những đống đá nằm chồng chất lên nhau gọi là "Cairn". Những đống đá này trở nên một cái mốc quen thuộc và hàm chứa một ý nghĩa lịch sử đối với dân chúng miền đó. Ðây là kỷ niệm của những người dân Xcốt-len đã di cư đi nơi khác làm ăn... Người ta kể lại rằng: vì thiếu công ăn việc làm, vì điều kiện sinh sống khó khăn, nên những người dân miền này phải tìm kiếm đến sinh sống ở các nước công nghiệp như Canada, Úc hoặc Mỹ... Khi ra đi, họ thường nhặt lấy một viên đá của làng mình và đem theo cho đến khi nào bóng dáng xóm làng chỉ còn là một chấm mờ ở đàng sau. Lúc đó, họ dừng lại, trịnh trọng đặt viên đá xuống như một kỷ niệm yêu thương cuối cùng để lại quê hương nhỏ bé của họ.
Rồi hằng năm, cứ vào dịp lễ thánh Anrê, thánh Bổn mạng của Xcốt-len, dù bất cứ nơi nào trên thế giới, người dân Xcốt-len cũng đều tụ họp nhau lại để tưởng nhớ đến quê hương mình đã cách xa và cũng để nhớ đến những họ hàng thân thuộc còn lại ở quê nhà. Bất cứ một người dân Xcốt-len tha hương nào cũng đều đã gói ghém trong hành trang của mình ít nhiều tình yêu quê hương sâu đậm như thế! Người ta tìm ra hai nguyên nhân chính yếu sau đây vốn là những động lực thúc đẩy các cuộc ra đi ấy :
1. Một động lực thúc đẩy từ đàng sau: đó là một đời sống cơ cực, nghèo nàn, đói khát, với những điều kiện sống quá khắc khổ, không công ăn việc làm, không có gì bảo đảm cho tương lai.
2. Một hấp lực cuốn hút từ phía trước: đó là một đời sống no đủ, sung túc hơn, với những hứa hẹn của một tương lai tươi sáng và vững bền hơn.
Vì thế, những người dân Xcốt-len vẫn di cư và các đống đá "Cairn" càng ngày càng thêm nhiều, mặc dù vẫn biết rằng đứng trước những cuộc ra đi đó, lòng người dân Xcốt-len không khỏi cảm thấy tiếc nuối, lưu luyến với một quê hương đã từng cưu mang và dưỡng nuôi họ.
Người Kitô hữu chúng ta cũng có thể được ví như người dân di cư đó và cuộc ra đi của chúng ta là một cuộc hành hương về Nước Trời, Nước của Thiên Chúa. Chúng ta cũng có một động lực thúc đẩy từ cuộc sống trần gian này và một hấp lực cuốn hút từ một Quê Trời hạnh phúc. Tuy nhiên, đứng trước một số vấn đề trọng đại của thế giới ngày nay, như là: làm thế nào để phân phối thực phẩm đồng đều? Làm thế nào để những kẻ vô gia cư có nơi trú ngụ? Làm thế nào để giải phóng những người bị áp bức, bị bóc lột? Làm thế nào để xoa dịu những nỗi khổ đau, những vết thương sâu hoắm trong lương tâm nhân loại?... Người Kitô hữu chúng ta phải trở thành những người đầy "bất mãn". Ðây cũng là một động lực thúc đẩy chúng ta trong các giai đoạn của cuộc hành hương. Phải, chúng ta không được tự cảm thấy hài lòng về những tình trạng gây nên đói khát, khốn khổ trong thế giới hiện nay. Chúng ta phải biết "bất mãn", phải biết "phản kháng" trước những điều kiện sống quá thiếu thốn mà đại đa số nhân loại đang gánh chịu. Và không phải chỉ bất mãn mà thôi, đôi khi còn phải giận dữ nữa! Chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ hoặc tỏ ra tự mãn trước các thảm kịch ngày ngày vẫn xảy ra chung quanh chúng ta.
Nhà thần học Niehbur đã có lần nói: "Dĩ nhiên, điều mơ ước về triều đại Thiên Chúa có thể được xem như một lý tưởng không thể nào thực hiện được. Nhưng thực ra, đó là một lý tưởng vẫn có thể thực hiện được do những người không tin rằng đó là điều không thể thực hiện được". Vì thế, tất cả chúng ta hãy vững tâm tiến bước đi trong cuộc hành hương về triều đại Thiên Chúa, Nước Trời, Thành Phố của Thiên Chúa, Thành Phố Trên Trời, Thành Giêrusalem mới... dù dưới tên gọi nào cũng vậy, Nước Thiên Chúa vẫn đang hấp dẫn, cuốn hút nhân loại chúng ta như một thỏi nam châm vĩ đại với sức hút vô cùng mãnh liệt.
Đamien
11-09-2006, 03:56 PM
THINH LẶNG ÐỂ TÌM GẶP THIÊN CHÚA
Một trong những nhà thơ thời danh nhất của thế giới nói tiếng Anh trong thế kỷ XX này là T.S.Eliot. Lúc còn thanh niên, ông đã cùng bè bạn sống một cuộc sống vô tín ngưỡng. Ông đã từng mô tả cái thế giới vô vọng của thập niên 1920 trong một bài thơ rất nổi tiếng "The Wasteland" (Ðất Hoang). Tuy nhiên, thời gian này cũng là thời gian mà ông cảm thấy bất an nhất... Sau đó, ông đã tìm được đức tin và trở thành một nhà giảng đạo hết sức hăng say và tận tụy. Cũng kể từ đó, thơ ca của ông bắt đầu chuyển hướng, thường đề cập đến khía cạnh vĩnh cửu và sự cảm nghiệm về thời gian.
Bài thơ được nhiều người ái mộ nhất của ông là bài "The Four Quartets" (Bốn khúc tứ tấu). Bài thơ này đề cập đến sự chờ đợi của Mùa Vọng:
"Tôi nói với hồn tôi:
Hãy thinh lặng, nhưng đừng hy vọng,
Vì hy vọng chỉ là chờ mong những điều hão huyền.
Hãy chờ đợi, nhưng đừng yêu thương,
Vì yêu thương chỉ là quý mến những điều ngang trái.
Hãy giữ lấy đức tin,
Vì nhờ đức tin
Mà niềm hy vọng và lòng yêu mến mới biết chờ đợi!"
Khi tìm đến với Thiên Chúa, chúng ta đừng mang theo những quan niệm của loài người, và nếu muốn hiểu biết Người thực sự theo đúng bản tính của Người, chúng ta phải sẵn sàng giũ bỏ tất cả những hình ảnh sai lầm về Người và phải có thái độ chờ đón Người. Các vị thánh, các tư tưởng gia của Giáo hội đều là những người đã biết chờ đợi để đón nhận từ Thiên Chúa; và cho dù đôi khi sự đón nhận này xem ra trống rỗng và vô ích, nhưng thực ra, đó là những lúc mà các ngài đến gần Thiên Chúa nhất.
Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong mọi khía cạnh của công cuộc tạo dựng của Người. Người là vẻ đẹp, là cảm nghiệm của tuyệt mỹ, là trật tự của trật tự mọi tạo vật, là tình yêu trong mọi tình yêu của con người. Tuy nhiên, trong tất cả các cảm nghiệm này, chúng ta chỉ biết được Thiên Chúa qua các tạo vật Người đã tạo dựng nên. Vậy, chúng ta phải làm gì để đến gần Người và để hiểu biết về Người ?
Các vị thánh, cũng như các nhà thần bí của Tây Ban Nha đã cho chúng ta một câu trả lời: trong thời gian thinh lặng, lúc mà chúng ta cảm nghiệm thấy thật xa Thiên Chúa, có khi cảm thấy Người như không còn hiện hữu nữa, thì đó chính là lúc chúng ta tiến lại gần Người và thực sự hiểu biết Người. Nhà thơ T.S. Eliot viết tiếp trong bài thơ của ông :
"Và như thế, bóng tối sẽ trở nên ánh sáng
Thinh lặng trở thành bài ca vũ..."
Simone Weil, một nhà tư tưởng Pháp cũng đã từng khẳng định: "Thiên Chúa chỉ có thể hiện diện nơi công cuộc tạo dựng bằng sự vắng bóng". Ðiều này có nghĩa là: những khi chúng ta cảm thấy lạc lõng, cô đơn, những khi chúng ta cảm thấy thiếu vắng Thiên Chúa... thì đó chính là những lúc mà Thiên Chúa muốn lôi kéo chúng ta đến gần Người hơn và giúp cho chúng ta hiểu biết về bản tính thực sự của Người. Chính vì thế mà sự thinh lặng là một yếu tố rất tích cực. Ðó là một cách dẹp bỏ những chướng ngại vật để dọn đường cho Chúa đến. Cho dù đôi lúc, chúng ta cảm thấy cuộc đời sao quá lặng lẽ, trống rỗng và tối đen, nhưng thực ra, thinh lặng là âm nhạc của Thiên Chúa, sự trống rỗng chính là sự tràn đầy, và bóng tối âm u lại chính là ánh sáng chói lọi của Người. Và Người luôn hiện diện thực sự trong không gian và trong thời gian.
Có thể chúng ta không cảm thấy rõ rệt điều có trong thời gian, nhưng hãy cứ kiên tâm bền chí, rồi chúng ta sẽ cảm nghiệm được thực tại này một phần nào. Hãy chờ đợi để đón nhận từ Thiên Chúa niềm tin kính, lòng cậy trông và đức mến yêu. Hãy chờ đợi thực sự, chờ đợi Người trong thinh lặng.
Đamien
11-09-2006, 03:58 PM
ÐỜI SỐNG HOÀN THIỆN
Bạn nghĩ thế nào về đời sống hoàn thiện ?
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường quá bận rộn với công việc đến nỗi không còn thời giờ để nghĩ tưởng đến Thiên Chúa, cũng chẳng có một giây phút nào để suy tư về đời sống thiêng liêng của mình.
Có người kia ngày ngày vẫn thường qua lại với tôi để nói chuyện về Thiên Chúa. Ông ta tỏ ra rất sốt sắng trong việc học đạo và tìm hiểu về Thiên Chúa... Nhưng bỗng dưng có một dạo, tôi đâm ra lo lắng vì ông ta không đến nữa. Sau khi gặn hỏi, tôi biết được lý do thoái thác rất đơn giản của ông: ông không còn thời giờ rảnh rỗi dành cho việc tìm hiểu và trao đổi về Thiên Chúa nữa. Ông quá bận rộn với biết bao công việc làm ăn, áp phe, vui chơi, giải trí...
Thật đáng thương cho ông ta! Và điều này cũng là một cảnh giác, hay còn là một thách đố cho mỗi người chúng ta, nếu chúng ta thực sự không biết sử dụng thời giờ Chúa ban cho, để lúc nào cũng chỉ bận rộn với những thực tại xã hội bên ngoài, lúc nào cũng chỉ quan tâm đến những tác động của đời sống vật chất, mà quên đi chính điểm tựa duy nhất và cơ bản trong đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng của mình.
Vậy, chúng ta có chút thời giờ nào dành cho Thiên Chúa không? Có khi nào chúng ta cảm thấy mình thực sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, hoặc có lần nào chúng ta dành những giây phút thinh lặng để tâm tình với Người, mà tư tưởng của chúng ta không hề bị phân tán bởi các mối quan hệ bên ngoài không? Có bao giờ chúng ta cảm thấy tâm hồn mình thực sự khát khao và như đang được ràng buộc với Thiên Chúa không ?
Nếu chúng ta không có chút thời giờ nào dành cho Thiên Chúa, hoặc không có giây phút nào nghĩ tưởng đến Người, hay chỉ dành cho Người quá ít thời giờ, thì quả là chúng ta đã vô tình đánh mất những khía cạnh quý giá trong đời sống của chúng ta. Chúng ta quên rằng Thiên Chúa đóng một vai trò rất quan trọng và rất cần thiết trong đời sống của mỗi người chúng ta. Chính Người là Ðấng tác tạo mọi loài và Người luôn hiện hữu trong cuộc sống của các thụ tạo ấy. Cũng chính Người là Ðấng tạo nên lịch sử và làm cho lịch sử trở nên hoàn thiện. Người đã tiêu diệt sự chết và tái lập sự sống để tất cả mọi người đều được chung hưởng hạnh phúc với Người. Có ai bận rộn như Người không? Thế mà chưa một lần nào, chưa một giây phút nào Người bỏ quên chúng ta, và sẽ chẳng có bao giờ Người quên lãng chúng ta dù trong những giờ phút đen tối đau khổ nhất của Người. Người hằng luôn yêu thương chúng ta và yêu thương cho đến cùng! Ðời sống của Người quả thật là một đời sống hoàn thiện! Còn chúng ta, có mấy khi chúng ta nghĩ đến Người ?
Vậy, chúng ta hãy đừng bận tâm nữa. Hãy tìm đến với Thiên Chúa để đáp lại Tình yêu của Người đã dành cho chúng ta. Hãy hướng lòng về Người, hãy dành nhiều thời giờ trong ngày sống của chúng ta cho Người, không phải chỉ để dâng lên Người những chuỗi giây phút thinh lặng, mà còn là để kết hợp mật thiết với Người, trong tâm hồn và trong tư duy, trong hành động. Kết hợp với Chúa trong giây phút hiện tại, kết hợp với Chúa bằng đức tin, đức cậy, đức mến được thể hiện qua các hành vi cử chỉ: điều này sẽ làm cho cuộc đời của chúng ta thêm phong phú và có giá trị vĩnh cửu.
Ðó là đời sống hoàn thiện mà tất cả chúng ta đều khát khao đạt tới. Vì thế, chúng ta đừng để mình quá bận rộn mà quên trang bị cho đời sống thiêng liêng của mình. Hãy để cho tâm hồn của chúng ta được thảnh thơi yêu mến Chúa và đạt tới lãnh vực cao nhất của tình yêu là sự HY SINH: hy sinh cả mạng sống của mình vì Thiên Chúa, vì mọi người và vì đời sống hoàn thiện.
Đamien
11-09-2006, 04:01 PM
THỜI GIAN VÀ HOẠT ÐỘNG THIÊNG LIÊNG
A. Giá trị của thời gian:
Nói đến thời gian là nói đến một phương tiện lớn lao, cần thiết và có giá trị đích thực trong đời sống con người. Thời gian sẽ rất quý giá nếu chúng ta biết cân nhắc và đem ra sử dụng trong tất cả các hoạt động hằng ngày. Thời gian sẽ càng quý giá hơn nữa khi chúng ta biết sử dụng thời gian để khoác vào cuộc sống của riêng mình một giá trị thiêng liêng.
Thật vậy, muốn thực hiện bất cứ một công việc nào cho dù không đáng kể, chúng ta cũng cần có thời gian. Thời gian giúp chúng ta hoàn tất công việc, giúp chúng ta đạt tới thành quả, và nhất là thời gian có thể trở thành một phương tiện đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn. Mỗi một giây phút trôi qua là thời gian đã bước vào dĩ vãng xa vời của chính nó, và thời gian còn lại sẽ là sự tiếp diễn của một tương lai vô hạn. Tuy nhiên, thời gian của mỗi người chúng ta không bao gồm tất cả những hiện hữu của quá khứ và tương lai, mà thực ra mỗi người chỉ được Thiên Chúa ban cho một khoảng thời gian nào đó có hạn định riêng biệt.
Con người chúng ta được sinh ra giống hình ảnh Thiên Chúa và Người còn tác tạo nên mọi loài mọi vật, cùng tất cả các phương tiện khác dành riêng cho chúng ta. Người đã ban cho thời gian để chúng ta sống và hiệp nhất với nhau. Vì thế, thời gian của chúng ta có giá trị biết bao! Ðó hẳn là dấu chỉ của một tình yêu tuyệt đối, một báu vật linh thiêng, một hành trang hay một cơ hội thuận tiện mà Thiên Chúa đã dành riêng cho con người. Vậy, chúng ta phải biết lãnh nhận và chiếm hữu thời gian một cách trọn vẹn đồng thời phải biết sử dụng ngay, đừng chậm trễ trong các hoạt động thiêng liêng của cuộc đời chúng ta.
B. Thời gian và những hoạt động của chúng ta:
Ðời sống của mỗi người chúng ta đã được phác họa trong một phạm trù rất đặc sắc, đó là được ở gần Thiên Chúa, và còn tuyệt diệu hơn nữa, được kết hợp mật thiết với Ðức Giêsu Kitô, Con Một Người. Tuy nhiên, sự hợp nhất này không phải chỉ được thể hiện qua kinh nguyện hằng ngày, hoặc chỉ được chứa đựng trong một tâm hồn hướng thượng, mà điều quan trọng là sự hợp nhất ấy phải được thể hiện qua thời gian hoạt động và qua các thành tựu của chính bản thân chúng ta.
Như vậy, hoạt động của chúng ta là thời gian vươn mình lên tới Thiên Chúa, bằng tất cả sức mạnh của niềm xác tín và của sự say mê, để chiếm hữu lấy lý tưởng của Người; đồng thời những thành tựu của bản thân chúng ta là sự góp nhặt những yếu tố cao đẹp và cường độ đam mê Thiên Chúa trong mọi hoạt động chung quanh. Nói như thế không phải là để chúng ta có thể trang trải những tư duy "mơ hồ", nhưng thực sự đó chính là nguồn sống, là công cụ để chúng ta đo lường, luyện tập và đem áp dụng trong tương quan những thử thách mỗi ngày. Do đó thời gian của chúng ta là thời gian dành cho những hoạt động gương mẫu đối diện với chính Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta cần phải có thái độ sẵn sàng đón nhận thời gian Chúa trao ban và sẵn sàng vâng phục Người để có thể đạt tới những khát vọng thiêng liêng.
C. Cầu nguyện trong hoạt động:
Hoạt động của chúng ta hướng về những thành quả có giá trị thiêng liêng. Vì thế, chúng ta không thể tách rời sự cầu nguyện ra khỏi các hoạt động của chúng ta được; và không phải chúng ta chỉ có thể cầu nguyện vào những giờ rảnh rỗi, ngồi thinh lặng nghĩ tưởng đến Thiên Chúa, nhưng bất cứ vào lúc nào ngay cả trong khi hoạt động, làm việc, chúng ta cũng vẫn có thể cầu nguyện. Từ một công việc rất nhỏ nhặt cho đến một công trình lớn lao, chúng ta có thể cầu xin Chúa hướng dẫn nâng đỡ và giúp sức cho chúng ta, đồng thời phải biết kính dâng lên Người các thành quả mà chúng ta đã đạt được nhờ ơn Người. Nhiều người trong chúng ta thường vẫn phân chia thời gian trong ngày ra để sinh hoạt: có thời gian để học tập, có thời gian để lao động, có thời gian để vui chơi, giải trí, có thời gian để nghỉ ngơi và có thời gian dành cho các sinh hoạt khác nữa. Có lẽ chúng ta đã không quên dành thời gian để cầu nguyện, để gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa. Thực ra, chúng ta không nên tách rời thời gian cầu nguyện ra một phạm trù riêng biệt, nhưng cần phải biết kết hợp sự cầu nguyện với mọi hoạt động của chúng ta, bởi vì sự cầu nguyện làm tăng thêm giá trị cho từng công việc. Hơn nữa, chúng ta cần phải luôn xác tín rằng tất cả mọi công việc, mọi hoạt động trong ngày của chúng ta, dù lớn, dù nhỏ, từ khởi điểm cho đến hoàn thành, đều cần nhờ đến ơn Chúa.
"Dù chúng ta sống, dù chúng ta chết, chúng ta đều thuộc về Chúa". Thật vậy, không chỉ lúc sống chúng ta mới có thời gian, nhưng ngay cả khi chúng ta chết, chúng ta cũng được lãnh nhận thời gian. Thời gian đó là thời gian vĩnh cửu, thời gian của sự sống đời đời. Thời gian của mỗi người chúng ta sẽ trôi qua theo ngày tháng, không thể nào tìm lại được, bởi vì một quá khứ xa xôi làm sao có thể bước tới gần hiện tại, một hiện tại không biết chờ đợi và không ngừng trôi qua. Chính vì thế mà chúng ta cần phải thực hiện ngay trong giây phút này công việc của ngày hôm nay và ngay trong hôm nay công việc của ngày mai...
Nhận thức sâu sắc được ý nghĩa và giá trị tuyệt đối ấy của thời gian, chúng ta hãy quay về với thời gian của chính mình để thực hiện đúng theo chương trình của chúng ta đối với Thiên Chúa. Hãy kiểm soát lại, đừng để phung phí hay đánh mất thời gian. Chúng ta cũng đừng lãng quên hiện tại, vì đây là phần thưởng của Thiên Chúa. Chính Người đã trao ban cho chúng ta thời gian để chúng ta sử dụng và tìm lối bước vào đời sống tư duy trong Thiên Chúa.
Đamien
11-09-2006, 04:03 PM
NGHỆ THUẬT SỐNG
Biết sống cho đúng, đó là cả một nghệ thuật!
Nghệ thuật sống mà chúng ta muốn nói đến ở đây là làm thế nào để có được một sự lưu thông liên tục và một sự hài hòa giữa các bình diện khác nhau trong đời sống con người, một thế quân bình giữa đời sống chiêm niệm và đời sống hoạt động, giữa đời sống nội tâm bên trong và đời sống xã hội bên ngoài.
Trong cùng một lúc, chúng ta có thể sống trên nhiều bình diện khác biệt nhau: Trên bình diện này, chúng ta cảm thấy được an toàn, nhưng trái lại, trên bình diện kia, chúng ta có thể sẽ cảm thấy sợ hãi, âu lo... Câu chuyện sau đây đã xảy ra trong thời kỳ Napoléon đưa quân đi chinh phạt khắp nơi:
Một buổi sáng nọ, vừa định nhảy lên lưng ngựa, một viên sĩ quan trong quân đội của Napoléon chợt nhìn xuống chân con ngựa của ông đang run lập cập. Ông liền nhìn xuống đôi chân mình rồi phá lên cười: "Giả như ngươi biết ta đưa ngươi đi đâu thì chắc là ngươi sẽ càng run hơn nó gấp bội!".<O:p></O:p>
Viên sĩ quan nầy, trên một bình diện, đã tỏ ra bình tĩnh, tự tin, nhưng có thể trên một bình diện khác, ông ta hẳn không khỏi cảm thấy bồn chồn, lo lắng.
Thật vậy, kinh nghiệm hằng ngày giúp chúng ta phân biệt được hai chiều kích khác nhau của đời sống con người: chiều kích bên trong và chiều kích bên ngoài. Có thể nói hai chiều kích này hoàn toàn tương phản với nhau, vì thế, cần phải tạo ra một sự dung hòa để đem lại thế quân bình cho cả hai chiều kích ấy. Một bên là một nhóm người có thái độ rất tỉ mỉ trong việc tuân giữ các lề luật và lề thói bên ngoài của tôn giáo. Những người này tuân giữ rất cẩn thận từng chi tiết một, từng dấu chấm, dấu phẩy của lề luật. Có thể là họ rất siêng năng lui tới nhà thờ, tham gia hội này, đoàn kia; nhưng người ta e rằng họ chưa có được một đời sống thiêng liêng đích thực và sâu sắc. Trong trường hợp bất chợt xảy ra một biến cố nào đó, một trường hợp mà không có một khoản luật cụ thể nào dạy họ cách ứng xử, đối phó, thì nhóm người này có thể có những thái độ hoặc cách cư xử rất trái ngược với đạo giáo và niềm tin của họ. Bên kia là một nhóm người khác chủ trương rằng: không nên câu nệ vào những nghi thức và sắc thái bên ngoài. Ðối với họ, điều cần thiết duy nhất không phải là các nghi lễ phụng vụ trong tôn giáo, những cuộc rước kiệu linh đình, hay những giờ kinh nguyện kéo dài, nhưng là những gì ở bên trong, những gì nằm sâu kín trong trái tim con người.
Không cần lý luận, ai ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra điều thiếu sót căn bản trong chủ trương của nhóm người thứ nhất. Chính họ đã làm mất thanh danh tôn giáo của họ! Người ngoài gọi họ là những kẻ "giả hình". Còn sự giả hình của nhóm người thứ hai thì ít lộ liễu hơn. Họ tưởng rằng trái tim của họ đã nằm đúng vị trí rồi, chẳng còn gì gọi là sai trái!?
Một sự kiện hiển nhiên là con người chúng ta gồm hai phần: linh hồn và thân xác. Hồn và xác có những đặc điểm, những chiều kích riêng biệt khác nhau, nhưng cả hai làm thành một toàn thể, và mỗi phần thể riêng biệt đều có quan hệ mật thiết đối với tất cả những phần thể khác. Cũng vậy, sự chiêm niệm mà không có hoạt động sẽ dễ dàng đưa chúng ta đến chỗ mơ mộng, còn sự hoạt động mà không có chiêm niệm thì sẽ dễ dàng dẫn đến chỗ thất bại, hư sự. Thánh Giacôbê Tông dồ quả quyết rằng: "Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì?... Ðức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2,14,17).
Quả vậy, đức mến trong tâm hồn chúng ta rất dễ bị khô héo, mai một đi nếu không có những nghi thức bên ngoài nâng đỡ. Chúng ta cũng chưa thực sự có đời sống thiêng liêng đích thực nếu niềm tin của chúng ta không gây được một chút ảnh hưởng nào trên thái độ sống, trên tính tình, hoặc không làm cho chúng ta ý thức được trách nhiệm và bổn phận của mình đối với lề luật. Với một niềm tin như thế, chắc chắn chúng ta không thể nào gặt hái được bất cứ một thành quả tốt đẹp nào trong cuộc sống.
Nghệ thuật sống là chúng ta phải tạo cho mình có được sự an bình nội tâm để chế ngự những nỗi lo âu sợ hãi. Chúng ta cũng phải tập chịu đựng để có thể sẵn sàng chấp nhận những gian nan thử thách trong niềm vui và trong niềm tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Tạo được sự hài hòa như thế giữa các chiều kích của cuộc sống, bản thân chúng ta sẽ trở nên quân bình và vững vàng hơn. Chúng ta không còn phải run sợ hay lo lắng về bất cứ điều gì nữa, bởi vì một khi sự khó khăn bước tới, thì sự thoải mái, sự bình thản cũng sẽ nối gót theo sau !
Đamien
11-09-2006, 04:05 PM
SỰ AN BÌNH NỘI TÂM
Có một điều mà rất nhiều người trong chúng ta vẫn thường mong muốn tạo cho mình, đó là sự an bình nội tâm. Hằng ngày, vì thường phải giải quyết quá nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống, phải đương đầu với biết bao lo lắng, bực dọc, căng thẳng..., nên chúng ta dễ dàng đánh mất sự an bình nội tâm này. Vậy muốn tái tạo và giữ vững mãi được sự an bình nội tâm, chúng ta cần phải dành nhiều thời giờ để suy niệm, nguyện ngắm và để kiểm điểm lại cuộc sống bản thân mình.
Sự nguyện ngắm trong thinh lặng, nếu được sử dụng đúng lúc và đúng chỗ, có thể đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích, nhiều hoa trái: đó là sự bình thản trong tâm hồn, là tinh thần biết cởi mở và biết đáp ứng. Ðể tạo điều kiện cho việc nguyện ngắm này, chúng ta cần một khoảng không gian rộng rãi, yên tĩnh và thoáng mát: một gian phòng sáng sủa, trang trí đẹp mắt; một ngôi thánh đường trang nghiêm, thanh vắng; một khu vườn, một công viên, hay một khoảng rừng nhiều hoa thơm cỏ lạ, vẳng tiếng chim hót líu lo... Ở đó chúng ta sẽ được sống tự do, thoải mái. Ở đó, chúng ta sẽ được hít thở bầu không khí trong lành và tươi mát. Ở đó, chúng ta không còn nghe thấy những tiếng động ồn ào của thành phố, chúng ta được thoát ly ra khỏi sự náo nhiệt của cuộc sống đầy xô bồ, bon chen. Ở đó, tâm hồn của chúng ta được hoàn toàn thư thái, nhẹ nhàng... Có được một khoảng không gian thích hợp và lý tưởng như thế rồi, chúng ta còn phải biết cương quyết ném cho thật xa tất cả những băn khoăn lo lắng, phải quét sạnh đi những mảnh vụn thừa thãi, những rác rến nằm ngổn ngang trong tâm trí chúng ta. Chúng ta phải giũ sạch, phải nhổ tận gốc rễ các thứ cỏ: cỏ giận hờn, ghét ghen, hận thù, cỏ khinh khi, chế nhạo, dối trá, để cho sự bình an được thấm nhập vào tận thâm sâu tâm hồn chúng ta. Và hãy biết tha thứ để tất cả chúng ta cũng được thứ tha. Chỉ đến lúc này, khi tâm hồn đã được dọn sạch sẽ, chúng ta mới hãy đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa và để Người đến ngự trị trong chúng ta. Chính Người sẽ đem lại cho chúng ta nguồn bình an và niềm vui lâu dài. Chúng ta cũng sẽ không còn cảm thấy cô đơn, không còn cảm thấy bị khinh rẻ, bị ruồng bỏ, bởi vì Thiên Chúa đang ở với chúng ta và Người dẫn dắt chúng ta bước qua ngưỡng cửa của thời gian mà đi vào vĩnh cửu.
Ðạt tới sự thinh lặng nội tâm là chúng ta đã có thể tìm lại được sự an bình, có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Ðức Kitô. Chúng ta đã có thể nghe thấy tiếng nói đầy thương yêu của Ngài, tiếng nói của an bình, tiếng nói làm đổi mới hoàn toàn cuộc sống của chúng ta. Chúng ta đã có thể chiêm ngưỡng dung nhan của Ngài rạng ngời ánh vinh quang, sự vinh quang mà mỗi người chúng ta rồi sẽ được chung hưởng ngày sống lại, như lời Ngài đã hứa!
Nguyện ngắm còn là thời gian để mỗi người chúng ta đem cuộc sống riêng tư của mình ra đối chiếu với cuộc sống của chính Ðức Kitô, để xem chúng ta đã biết suy nghĩ và hành động đúng với những suy nghĩ và hành động của Ngài chưa. Nguyện ngắm cũng còn là thời gian để chúng ta múc lấy nguồn sinh lực mới từ nơi Ðức Kitô cho những ngày sống kế tiếp của chúng ta. Ai trong chúng ta có thể có dồi dào sinh lực như Ngài? Ai trong chúng ta có thể có một đời sống tốt lành và gương mẫu như Ngài? Và có ai trong chúng ta đã phải bận rộn vất vả suốt ngày như Ngài? Thế mà biết bao lần Ngài đã rút lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện, để chiêm ngắm.
Trước khi bắt đầu cuộc đời rao giảng công khai, Ðức Giêsu đã vào sa mạc, ăn chay cầu nguyện và chịu ma quỷ cám dỗ suốt bốn mươi đêm ngày (Mt 4, 1-11). Ngài đã từng trốn lên núi để cầu nguyện một mình vào những lúc chiều tà (Mt 14, 23), mặc dù một ngày sống của Ngài quá bận bịu, chẳng có phút giây nào được ngơi nghỉ: nào là giảng dạy, nào là chữa bệnh, nào là thăm viếng..., có khi Ngài còn phải đương đầu với những câu hỏi thật hóc hiểm với các thái độ phản kháng, bất phục tùng của những kẻ chống đối, hoặc phải mệt nhoài với những chuyến đi rao giảng qua các thành phố, các thôn làng, từ Galilê qua Giuđêa, tới Giêrusalem. Cả đến khi sắp tự nộp mình, Ngài cũng đã rút lui vào vườn Ghếtsêmani để xin được tuân hành theo những thánh ý Chúa Cha, chu toàn sứ mạng Người đã giao phó cho Ngài (Mt 26, 36-39).
Cuộc sống của Ðức Kitô có hai chiều kích xem ra như tương phản với nhau: một là cuộc sống hoạt động không ngừng, một cuộc sống tạm bợ và rất bình dị: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" (Mt 8, 20); hai là cuộc sống nội tâm dồi dào và phong phú. Cả hai chiều kích đã kết thành một cuộc sống đích thực của Ngài, một cuộc sống gương mẫu toàn diện.
Vì thế, ngoài cuộc sống hoạt động với biết bao xáo trộn, biết bao căng thẳng, chúng ta phải tạo cho mình có được một cuộc sống nội tâm phong phú và phải dành nhiều thời giờ nữa để nguyện ngắm, để chiêm niệm. Ðây chính là một trong những phương thế tốt nhất để chúng ta có thể trở nên trọn lành trong đời sống Kitô hữu.
"Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15, 5).
Chúng ta hãy đặt trọn niềm tin tưởng và hy vọng vào Thiên Chúa, vì tất cả những của cải vật chất hay tất cả quyền lực của trần gian này không thể nào giúp chúng ta chiếm hữu được điều mà bản tính con người không thể chiếm hữu. Chỉ có quyền năng của Thiên Chúa và ân sủng của người mới có thể giúp chúng ta chiếm hữu được điều đó, là được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, được trở nên một với Người trong tình yêu.
Đamien
11-09-2006, 04:08 PM
BÌNH AN CỦA CHÚA KITÔ
Trong thư gởi cho giáo đoàn Cô-lô-sê, Thánh Phaolô Tông đồ khuyên dạy các tín hữu của ngài hãy sống đúng với đời sống Kitô hữu là một đời sống vốn đòi hỏi rất nhiều thứ: lòng thiện cảm, tinh thần quảng đại, thái độ khiêm tốn và thái độ sẵn sàng nhượng bộ. Thế giới này sẽ tốt đẹp hơn biết bao nếu mọi người đều biết cư xử với nhau một cách có thiện cảm hơn, quảng đại hơn, khiêm tốn hơn và cởi mở hơn! Và như thế, chúng ta cũng sẽ có được một Giáo hội tốt đẹp hơn. Vấn đề ở đây là làm thế nào để chúng ta có thể biết chắc được rằng chúng ta đang sống đúng với tiêu chuẩn kitô? Có những chỉ dẫn nào giúp chúng ta biết được là chúng ta đang đi đúng hướng ?
Ðể giải thích cho các câu hỏi này, Thánh Phaolô đã dùng đến hình ảnh người trọng tài (người điều khiển các cuộc tranh tài thể thao trong trật tự, trong công bằng và đúng luật quy định). Trong thư Côlôsê, đoạn 3 câu 15, Ngài viết: "Ước gì ơn bình an của Ðức Kitô điều khiển tâm hồn anh em". Từ "điều khiển" dịch từ chữ "βeưέtw", ám chỉ công việc của người trọng tài, và theo quan điểm của Ngài thì sự "Bình an của Chúa Kitô" chính là người trọng tài của chúng ta.
Vậy, ơn bình an của Chúa Kitô là gì ?
Ơn bình an của Ðức Kitô chắc chắn phải là sự bình an nội tâm! Ơn bình an này đến với mỗi người chúng ta khi chúng ta thực thi ý muốn của Chúa Kitô. Ở đây, thánh Phaolô có ý muốn nói rằng mỗi người tín hữu chúng ta phải làm thế nào để vừa có thể cư xử đúng đắn với nhau, với tất cả mọi người trong xã hội, lại vừa có thể trung kiên giữ trọn các việc bổn phận để thực thi ý muốn của Ðức Kitô. Và ngài cho rằng chính ơn bình an của Chúa Kitô, sự bình an nội tâm sẽ là người trọng tài dẫn dắt chúng ta. Ðến đây chúng ta vấp phải một câu hỏi khác, đó là: làm thế nào để chúng ta biết được đâu là ý muốn của Chúa Kitô ?
1)Chúng ta có thể biết được ý muốn của Chúa Kitô bằng cách học và noi theo những điều Ngài đã nói, những việc Ngài đã làm trong lúc đi rao giảng, ví dụ như Ngài đã nhấn mạnh đến sự trong sạch nội tâm như là cội nguồn cho cách đối xử đạo đức đích thực, hay như Ngài đã khuyên dạy chúng ta đừng tìm hạnh phúc như là mục tiêu tối hậu. Ngài nói: nếu chúng ta cố gắng sống xứng đáng là người Kitô hữu thì hạnh phúc sẽ là sản phẩm tất yếu, và nếu chúng ta ích kỷ, chỉ biết tìm sống cho riêng mình, thì chúng ta sẽ đánh mất cuộc sống hạnh phúc đó. Tự hiến thân để phụng sự Chúa và phục vụ người anh em, điều này có nghĩa là để chúng ta được sống phong phú hơn !
2)Ðể nhận ra ý muốn của Ðức Kitô, chúng ta cũng cần phải hiểu biết về lối sống của Ngài tại trần gian này: Ngài đã sinh ra trong nghèo nàn, cơ cực giữa những người bị xã hội xa lánh, ruồng rẫy. Khi đi rao giảng, Ngài thường nói với tầng lớp nhân dân về Tình yêu bao la của Thiên Chúa là Cha dành cho họ. Khi dạy dỗ và chữa lành cho dân chúng, Ngài luôn luôn nhấn mạnh đến công tác làm cho người nên trong sạch, nên trọn lành. Ngài vẫn tìm trong kinh nguyện sức mạnh của đời sống Ngài. Vì yêu thương, Ngài đã hiến dâng cuộc đời, hy sinh mạng sống Ngài cho nhân loại, và cũng chính vì yêu thương mà Ngài đã chiến thắng sự chết.
Ðó là nhịp điệu của cuộc đời rao giảng của Ðức Kitô, đồng thời cũng là những tiêu chuẩn dẫn dắt cuộc sống Kitô của tất cả chúng ta.
3)Phương pháp thứ ba có thể giúp chúng ta nhận biết được ý muốn của Chúa Kitô có phần cá biệt hơn. Chúng ta sẽ có được một cuộc sống nội tâm thật dồi dào phong phú, sẽ nhận thức được điều nào đúng điều nào sai, khi chúng ta tiến bước trên con đường đạo đức, tham dự vào phụng vụ, khi chúng ta cầu nguyện, đọc Kinh thánh, chia sẻ các kinh nghiệm và cảm nghĩ với người khác, hay khi chúng ta cố gắng tìm ra ý nghĩa của thế giới chung quanh chúng ta.
Ðến điểm này, thánh Phaolô Tông Ðồ trấn an các tín hữu là họ sẽ không đơn độc một mình, bởi vì như những phần của một thân thể, tất cả mọi người đều được mời gọi đến chung hưởng sự bình an đó (Cl: 3,15). Mối dây liên kết giữa chúng ta và những người anh em khác, cũng giống như mối dây liên kết giữa các chi thể của một thân thể chúng ta, đều đã được sắp xếp để chúng ta có thể tìm ra sự Bình An của Ðức Kitô.
Vì thế, sống giữa các trạng huống khác nhau của cuộc đời, tất cả chúng ta hãy biết trân trọng và giúp đỡ lẫn nhau, đồng thời hãy sẵn sàng chấp nhận các quyết định của "người trọng tài", đó là ơn Bình An của Chúa Kitô trong tâm hồn mỗi một người chúng ta !
Đamien
11-09-2006, 04:09 PM
SỨC QUYẾN RŨ CỦA HẢI ÐẢO
Sống trong một thế giới quá ồn ào náo nhiệt như hiện nay, người ta cảm thấy sự nghỉ ngơi, xa lánh những công việc bận bịu hằng ngày - ít là trong một thời gian ngắn - là một nhu cầu thật cấp bách và cần thiết. Nhiều người đã lợi dụng ngày nghỉ cuối tuần, những ngày nghỉ phép thường niên, hay các dịp nghỉ hè để ra ngoại ô, về nông thôn, đến một miền biển hoặc lên một vùng núi cao nào đó mong tìm lại một khoảng không gian yên tĩnh, một bầu khí trong lành, tươi mát bồi dưỡng cho sức khỏe và cho cả tâm linh.
Từ bao lâu nay, hải đảo vẫn là nơi nghỉ ngơi lý tưởng cho rất nhiều người. Với sự yên tĩnh gần như tuyệt đối của nó, hải đảo đã thu hút không ít những tâm hồn ưa thích sự thanh vắng, sự yên tĩnh để suy tư và cầu nguyện.
- Chúng ta muốn tránh xa đám đông, muốn thoát khỏi những huyên náo của cuộc sống để tìm cho mình một khoảng không gian thanh vắng hơn, êm đềm hơn: hải đảo giúp cho chúng ta có được cơ hội ấy và đem lại bầu khí thiêng liêng tiện cho việc bồi dưỡng tâm linh của chúng ta.
- Chúng ta cần có không gian và thời gian để tĩnh dưỡng, để suy tư những lúc cảm thấy thần kinh của mình đã quá căng thẳng, hoặc quá suy nhược vì phải đương đầu với biết bao khó khăn trong xã hội, trong gia đình, trong xí nghiệp hoặc vì phải giải quyết các vấn đề bức thiết của cộng đoàn mà chúng ta có trách nhiệm chăm sóc, hướng dẫn: hải đảo có đủ những điều kiện giúp chúng ta quên đi những xáo trộn, xoa dịu vết thương lòng và gợi ý cho chúng ta vượt qua các khó khăn.
- Chúng ta hằng ngày phải sống trong một môi trường bụi bặm, hít thở bầu không khí đầy ô nhiễm nguy hại đến sức khỏe: hải đảo có thể cung cấp cho chúng ta một bầu không khí trong sạch, nhiều ô-xy bổ ích cho sức khỏe con người.
- Người Anh có câu: "Hai người là bạn thân thiết, ba người là đám đông". Sống giữa một môi trường xô bồ, bon chen chúng ta dễ dàng đánh mất cá tính. Có khi, vì phải sống lệ thuộc vào người khác, chúng ta có thể đã cảm thấy bị mất mát phần nào giá trị của bản thân mình: hải đảo là nơi cô tịch có thể giúp chúng ta tìm lại khoảng không gian cho chính bản thân mình. Lối sống hải đảo giúp chúng ta phát triển cá tính, đào tạo con người chúng ta có thêm bản lĩnh và biết sống tự lập hơn.
- Cuộc sống chung đụng, va chạm với những người chung quanh làm cho đời sống chúng ta tan vỡ ra từng mảnh vụn. Chúng ta muốn thu lượm tất cả những mảnh vụn đó lại để kết thành một toàn thể, để khám phá lại xem mình là ai và mình ao ước được trở nên hạng người nào: hải đảo có thể giúp chúng ta thu gọn đời sống vào một phạm vi nhỏ bé, để dễ kiểm soát và dễ hoạch định con đường đi của chúng ta hơn.
Thật vậy, với tất cả sức hấp dẫn và vẻ quyến rũ diệu kỳ của nó, hải đảo thực sự là nơi nghỉ ngơi lý tưởng cho mỗi người chúng ta.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải đề phòng, vì hải đảo cũng có thể trở thành một mối nguy hiểm cho chính chúng ta. Hải đảo có thể tạo nên trong chúng ta tính hẹp hòi, ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến đời sống tư riêng của mình. Lối sống hải đảo có thể làm cho chúng ta tự cô lập mình, không muốn quan hệ với thế giới chung quanh và không còn là một thành phần của thế giới này nữa. Chúng ta lúc đó chỉ còn biết lo lắng đến những khó khăn của bản thân chúng ta mà không hề nghĩ gì đến những dư luận sôi nổi của thế giới hoặc của nhu cầu bức thiết của những người xung quanh.
Làm thế nào để dàn xếp những khác biệt, những tranh chấp thuộc phạm vi tôn giáo và chủng tộc ?
Làm thế nào để xóa bỏ những bất công, những bóc lột ?
Làm thế nào để cứu giúp những người nghèo đói, khổ đau ?
Làm thế nào để mọi xã hội đều được giàu mạnh, no đủ ?
Làm thế nào để tránh cho nhân loại một cuộc chiến tranh hạt nhân và để có thể xây dựng một nền hòa bình đích thực cho thế giới ?
Ðó là những câu hỏi mà mỗi người chúng ta phải tìm ra câu trả lời và chung tay giải quyết. Vì thế, chúng ta phải cố gắng sống thân thiện với nhau dưới một mái nhà trên hải đảo chung này. Chúng ta thực sự chỉ có thể sống còn khi mà tất cả mọi người chúng ta đều biết chung lưng đấu cật cộng tác với nhau, cùng nhau xây dựng một cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Hãy hy vọng lên, vì hải đảo vẫn luôn là nơi gợi nguồn cảm hứng và đem lại nhiều tiềm lực thiêng liêng cho chúng ta. Chúng ta có đủ cơ hội và thời gian để hòa giải và xây dựng một nền hòa bình chân chính. Ðiều này giúp chúng ta hiểu rõ tại sao ngày xưa các thánh cũng như những người ưa thích sống đời chiêm niệm, đã chọn hải đảo làm nơi tĩnh tâm lý tưởng cho mình. Các vị ấy đã tìm đến những nơi hải đảo và xây dựng lên những ngôi nhà bằng đá để ở đó sống đời chiêm niệm và suy niệm. Chính tại nơi đây, các vị đã kiên tâm cầu nguyện và giữ vững một lòng đạo đức quyết cố gắng bảo vệ, gìn giữ gia tài Kitô giáo, trong khi Tây Phương còn đang sống kém mở mang và chưa biết đến văn minh. Cũng chính từ nơi trú ngụ đơn độc đầy gian lao và thử thách này mà đức tin của các vị được tôi luyện, tăng trưởng và truyền bá đi nhiều nơi, như trường hợp của thánh Columba và các bạn của Ngài. Vào năm 563, từ Ai-len Thánh nhân và các bạn Ngài đã tìm đến đảo Iona và lập một tu viện tại đó. Ngày nay, khách hành hương không ngớt tuôn đến hải đảo này, vì cứ mỗi lần ghé đảo thăm viếng tu viện, họ như tìm thấy một sự hiện diện thiêng liêng làm cho tâm hồn họ tràn ngập niềm hân hoan và phấn khởi. Trường hợp của thánh Gioan Tông đồ cũng vậy, Ngài đã được thị kiến những điều huyền nhiệm (mà ngài đã thuật lại trong sách Khải Huyền của ngài) trên một hòn đảo, đảo Patmos.
Phần chúng ta, có khi chúng ta chẳng được thị kiến gì cả, dù sao chúng ta vẫn tin tưởng rằng trong cô tịch và trong thinh lặng, khi đến trước Thiên Chúa, chúng ta sẽ có được những phút giây trong sáng và một thoáng an bình cho tâm hồn mình. Và cho dù ngày nay, không phải ai cũng có đủ hoàn cảnh thuận tiện để đến nghỉ ngơi tại một hải đảo, chúng ta vẫn tin rằng chúng ta có thể tìm gặp Thiên Chúa trong một hải đảo mà ai ai cũng có, đó chính là trái tim của mỗi người.
Đamien
11-09-2006, 04:11 PM
SỨC HẤP DẪN CỦA NÚI CAO
Hầu hết chúng ta, trong một khoảnh khắc nào đó, hẳn đều đã cảm thấy một sức mạnh từ bên trong thôi thúc chúng ta tạm thời rời xa khung cảnh, môi trường sống quen thuộc hằng ngày để đi du lịch, đi tham quan tìm hiểu hoặc thám hiểm một khung cảnh, hay một môi trường sống nào đó khác lạ hơn.
Thường vào các dịp hè, nhiều người dễ có cơ hội để thực hiện ý định ấy. Thay vì đến những bàn giấy, những công xưởng, những nhà máy, những văn phòng dịch vụ,... họ tìm đến những bờ cát trắng mịn màng hay những dòng nước xanh tươi mát của biển cả, của đại dương. Ai có phương tiện, có điều kiện hơn, họ có thể đi nghỉ mát ở những hải đảo xa xôi đầy thơ mộng, đến những miền có nhiều danh lam thắng cảnh hay những vùng mang nhiều di tích lịch sử cổ xưa! Mỗi người một sở thích và mỗi người tùy theo khả năng của mình. Cũng có những người thích tìm đến những đỉnh non cao lộng gió, núi đồi trùng trùng điệp điệp. Họ như bị một sức hấp dẫn nào đó từ trên cao cuốn hút, như lời Tv 121, 1 (120) ghi :
"Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi,
ơn phù trợ tôi đến từ nơi nao?"
Ai trong chúng ta cũng muốn tìm đến những vẻ đẹp của thiên nhiên để nhìn lại hình ảnh con người thiêng liêng của chính mình và để tâm hồn mình được bồi dưỡng, được thanh thản. Và có lẽ núi cao đã có một vài nét đặc sắc nào đó để mời gọi chúng ta vươn lên và đồng thời cũng tạo cho mỗi người chúng ta có được một chiều sâu nội tâm. Với sức mạnh hùng vĩ của nó, núi cao đã gợi lên trong chúng ta một cảm giác bất lực, nhỏ bé trước một thế giới đầy dẫy những mối đe dọa trầm trọng. Núi cao đứng sững dó, biểu tượng cho một sức mạnh nổi bật trên mặt đất, bao năm tháng vẫn trơ trơ chống lại cùng gió bão và tuyết sương. Núi cao cũng là biểu tượng của sự kiên vững giữa những bất ổn trong đời sống con người, của những giá trị lâu bền giữa những đổi thay và của những nhân đức vững mạnh chống lại sự tấn công của thuyết luân lý tự con người bày ra cho chính bản thân mình.
Một đôi khi chúng ta cũng cần phải trèo lên núi cao để có được một cái nhìn bao quát, vì những người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống đồng bằng trải dài dưới chân núi, họ sẽ thấy nào là những ruộng đồng bát ngát, những khe suối, ao hồ, nào là những con đường, nhà cửa, ruộng vườn,... Tất cả, dưới con mắt của họ, đã làm thành một bức tranh sống động, đầy màu sắc mà khi ở dưới thấp, họ không thể nhìn thấy được. Hơn nữa, có những vấn đề mà chỉ khi nào đứng trên một đỉnh cao, có một tầm nhìn rộng khắp, chúng ta mới có thể nắm vững được, cũng như mới ý thức được tầm quan trọng của vấn đề đó.
Núi cao còn có thể thông truyền cho chúng ta một sự hiện diện siêu việt hơn cả bản thân con người, và chắc chắn đây là lý do cắt nghĩa tại sao nhiều nơi thánh như đền thờ, giáo đường, tu viện,... đã được xây cất cheo leo trên các sườn đồi hay trên các đỉnh núi. Những nơi thánh này biểu tượng cho sự việc con người đi tìm kiếm Thiên Chúa và đồng thời là những chứng tá huyền nhiệm của sự kiện Thiên Chúa đang tìm gặp con người. Những cố gắng của chúng ta trong công cuộc trèo lên non cao có thể dẫn đưa chúng ta đến chỗ cao xa và tuyệt vời như thế! Rồi một khi đã đến nơi, chúng ta còn phải biết kiên nhẫn đợi chờ, phải biết quan sát và lắng nghe... cho tới khi Thiên Chúa đến với chúng ta. Người đến mời gọi chúng ta tham dự vào đời sống siêu nhiên của Người, và chỉ cần một khoảnh khắc thoáng qua, đỉnh núi cao của chúng ta sẽ trở thành Núi Chúa Biến Hình! Chúng ta được nếm thử trước sự sống siêu nhiên đó và được báo trước vận mệnh đời đời của chúng ta.
Núi cao còn nhắc nhở cho chúng ta nhớ đến những tiềm năng chưa được phát triển của chính mình và cả những dự phóng chưa được thực hiện. Phải, chúng ta vẫn còn nhiều đỉnh núi cao để chinh phục, còn nhiều mục tiêu để đạt tới và còn biết bao nhiêu điều bí ẩn đang chờ đợi chúng ta khám phá ra. Và cũng giống như những người đang tập sự leo núi rất cần đến sự hướng dẫn, nâng đỡ và khuyến khích của các nhà chuyên môn già dặn kinh nghiệm, chúng ta hãy tìm cho được sự hiện diện của Thiên Chúa bên cạnh chúng ta. Chính Người sẽ dìu dắt, cỗ vũ, nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta đạt tới đích điểm. Hãy tin tưởng bước theo chân của Người, và rồi các khả- năng-chưa-được-thực-hiện của chúng ta sẽ trở thành những thực tại mới.
Thực ra trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta khó có thể có được những phương tiện để thưởng ngoạn núi cao, nhưng thiên nhiên muôn đời vẫn còn đó và lúc nào cũng như đang mời gọi chúng ta. Nhiều người trong chúng ta lam lũ từng ngày chẳng dám mơ tưởng có được một lần nào đó trèo lên núi cao, nhưng tất cả chúng ta vẫn có thể có những cơ hội để nâng tâm hồn lên: đó là những dịp tĩnh tâm riêng hoặc chung. Chính trong những cơ hội quý giá này, chúng ta sẽ được hưởng niềm an bình nội tâm và chúng ta sẽ cảm nghiệm được một cách sâu xa hơn sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 04:12 PM
NHỮNG NGỌN THÁP NHÀ THỜ
Xưa cũng như nay, phần lớn các nhà thờ đều được xây dựng tại trung tâm thành phố hay ở giữa làng mạc và mỗi nhà thờ thường vẫn có một hoặc nhiều ngọn tháp cao chót vót. Những ngọn tháp nhà thờ này biểu hiện cho một lối thoát: con người có thể thoát khỏi những cảnh sống nhàm chán của một xã hội công nghiệp hóa. Lối thoát ấy chính là đức tin Công giáo! Nhờ vào Ðức Tin, con người có thể khám phá lại được sự hiện diện và Tình yêu bao la của Thiên Chúa, con người có thể liên kết và hợp nhất với những ý định của Ðức Kitô trong thế giới này.
Người ta nhận thấy ở nhiều người dấu hiệu của một sự bất mãn nào đó đối với cuộc sống hiện tại. Riêng ở giới lao động nghèo, người ta nhận ra một sự bất an, một sự thất vọng thầm lặng vì họ phải tranh đấu liên tục và phải đương đầu với tất cả những trở ngại, những khó khăn để sống còn.
Có một thiếu nữ người Hoa đã viết: "Tôi không thể tin được rằng: cuộc đời của con người chúng ta sẽ kết liễu bằng một xác chết". Ở một số nước giàu, người dân càng ngày càng giàu thêm. Người ta đua nhau mua sắm nhiều hơn: mua một cái nhà rộng lớn hơn, sắm một chiếc xe lộng lẫy hơn, xây một hồ tắm sang hơn,... Cái gì cũng phải hơn, hay ít ra cũng bằng người hàng xóm! Nhưng tất cả những tiện nghi vật chất đó vẫn không làm cho họ cảm thấy thỏa mãn, hài lòng và cũng không đem lại hạnh phúc thực sự.
Vì thế, con người ngày nay -dù giàu hay nghèo- đang tìm mọi cách để thoát ra khỏi những cảnh nhàm chán, những cảnh vỡ mộng và những nỗi khổ đau. Có người đi tìm sự thỏa mãn trong những thú vui hạ đẳng, trong hút xách nghiện ngập, trong những kích thích tình dục tự do hỗn tạp, bất bình thường và vô luân. Nhưng sự tự do buông thả hạ đẳng này cũng không đem lại hạnh phúc như họ mong muốn, mà trái lại còn cho họ thêm chán ngấy và đau xót. Có người lại bung ra đi tìm thỏa mãn theo chiều ngang. Họ muốn khám phá ra những cái hay cái đẹp, những điều kỳ diệu trong văn chương nghệ thuật và trong khoa học kỹ thuật. Họ lấy làm thú vị khi có được một nền văn minh tiên tiến, một sức sống mãnh liệt và họ tỏ ra hiên ngang về những thành tựu của trí khôn nhân loại. Họ muốn thỏa mãn tính hiếu kỳ bằng cách đi du lịch vòng quanh thế giới, đến tận cùng trái đất này, bằng cách thám hiểm những vùng núi cao, hiểm trở, hay những rừng rậm âm u, kỳ bí,... Nhưng tất cả những thành tựu đó cũng vẫn chưa đem lại cho con người niềm hạnh phúc ngoài một chút tự hào, hãnh diện hay một thoáng vinh quang hào nhoáng!
Tuy nhiên cũng đã có một số không ít người biết tìm đến một nguồn hạnh phúc cao cả đích thực hơn: đó là con đường hướng thượng, con đường vươn lên theo những ngọn tháp nhà thờ cao vút, con đường dẫn đến Thiên Chúa, và đây chính là phương cách giúp họ hiểu được ý nghĩa sâu xa của lời Ðức Giêsu đã phán: "Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Ga10,10). Ðiều này tùy thuộc vào bản tính đích thực của con người, một bản tính hoàn toàn khác biệt với bản tính của loài vật. Thật vậy, Thiên Chúa đã dựng nên con người có lý trí, có tự do, có những khả năng quan hệ tình yêu..., vì nếu không những có khả năng này, con người chỉ hơn con khỉ một chút... Kinh Thánh đã chẳng dạy chúng ta rằng con người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa đó sao? Cũng chính nhờ vào điểm này mà thánh Âu-tinh đã khẳng định: "Tâm hồn con luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa". Phải, con người chúng ta chỉ được thỏa mãn thực sự khi chúng ta đã vươn tới Thiên Chúa. Ðời sống vắng bóng Thiên Chúa sẽ trở nên vô nghĩa, trống vắng. Ngược lại, đời sống có Thiên Chúa sẽ được tràn đầy và hạnh phúc! Nếu chúng ta liên kết mật thiết với Thiên Chúa, tâm hồn chúng ta sẽ tràn ngập niềm hân hoan và cuộc đời chúng ta sẽ trở nên có ý nghĩa, có mục đích, có giá trị hơn.
Hơn nữa, không phải chúng ta chỉ biết nhận lãnh mà thôi; nhưng còn phải biết cho đi. Ðó là mục đích cao thượng của cuộc đời chúng ta. Chúng ta được mời gọi đóng đúng vai trò của mình trong cuộc sống hôm nay, trong sự đấu tranh nhằm giải phóng con người thoát khỏi cảnh nô lệ, nghèo đói, kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da, phân biệt giai cấp...
Vậy, mỗi người chúng ta hãy tích cực đóng cho thật khéo vai trò của mình trong chương trình và ý định của Thiên Chúa để thiết lập Nước Chúa ở dưới đất cũng như ở trên trời: Nước của Công Bằng. Nước của Tự Do và Nước của nền Hòa Bình Vĩnh cửu.
Đamien
11-09-2006, 04:14 PM
ÐƯỜNG DẪN ÐẾN THIÊN CHÚA
Thỉnh thoảng chúng ta vẫn được nghe lời thú nhận sau đây của một người nào đó -thường là với một giọng dường như thách đố: "Xin lỗi, tôi không được ngoan đạo lắm!". Chúng ta có thể hiểu lời thú nhận này qua một trong những quan niệm sai lầm về tôn giáo của ba hạng người: hạng người thứ nhất có tin tưởng vào Thiên Chúa, nhưng chỉ tin tưởng một cách mơ hồ và cũng chẳng mấy quan tâm đến điều này; hạng người thứ hai cho rằng theo đạo chỉ là một chuyện tình cảm; hạng người thứ ba quan niệm rằng tin đạo là chuyện mê tín, nghịch lý và không có cơ sở trí thức.
Vậy, như thế nào là quan niệm đúng đắn về niềm tin tôn giáo? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy và con đường nào đã dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa,đến với niềm tin đích thực?
Ðứng trước Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa, con người chúng ta, loài thụ tạo, có thể có những thái độ này hoặc là tỏ bày niềm kính sợ Người, hoặc là sấp mình thờ lạy Người vì lòng yêu mến Người thiết tha, hoặc cảm thấy thỏa mãn được hiểu biết về Người nhờ ơn soi sáng. Ðó cũng là ba con đường có thể dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa, đến với niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, trên đây chỉ là cách phân loại sơ yếu. Ðiều đã thực sự xảy ra là mỗi người chúng ta đều được thúc đẩy tùy theo mức độ bởi sự kính sợ Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng bởi lòng yêu mến và bởi sự hiểu biết về Người. Trừ phi chúng ta đã trở thành những vị thánh, bằng không thì trong mỗi một người chúng ta đều có những yếu tố làm thành con đường dẫn đến Thiên Chúa: vừa kính sợ Người, vừa yêu mến Người và được Người luôn yêu thương. Hơn nữa, con người chúng ta tự bản chất là loài thụ tạo biết tư duy, tất cả chúng ta đều có khả năng tri thức để hiểu biết và cảm thấy thỏa mãn mỗi khi đạt được một sự biểu biết nào đó. Hẳn chúng ta sẽ vui sướng biết bao khi được hiểu biết về Thiên Chúa mỗi ngày một nhiều hơn. Như thế, sự ngoan đạo không những chỉ đòi hỏi người tín hữu phải có lòng kính sợ Thiên Chúa một cách đúng đắn, ngày này qua ngày khác trong suốt cuộc đời mình, nhưng còn phải luôn luôn tỏ lòng mộ mến, kính phục Người và tìm hiểu thêm về Người.
Nhiều người trong chúng ta có thể nêu lên thắc mắc này: "Chắc chắn Thiên Chúa là Tình yêu, vậy tại sao chúng ta lại phải run sợ trước thánh nhan Thiên Chúa Tình yêu?. Ðể trả lời thắc mắc này, văn sĩ T.S. Luis viết: "Họ có ý gì khi nói rằng họ không phải sợ Thiên Chúa vì Người là Ðấng rất tốt lành. Những người có quan niệm ấy, chẳng lẽ họ chưa bao giờ đến với một nha sĩ hay sao". Vì vậy, dựa theo lời khẳng định "Thiên Chúa là mục tiêu cuối cùng của mọi tình yêu đích thực", chúng ta có thể nói thêm rằng: "nếu con người chúng ta có phải sợ hãi điều gì -dĩ nhiên chỉ có những kẻ ngu dại mới không biết sợ hãi- thì mục tiêu cuối cùng của tất cả mọi niềm kính sợ cũng sẽ phải là chính Thiên Chúa".
Cả Hồi Giáo và Kitô Giáo đều đã nhấn mạnh đến cuộc phán xét chung, vậy ai trong chúng ta -nếu thật sự là người biết điều- lại có thể cảm thấy mình hoàn toàn được thoải mái khi nghĩ tưởng đến ngày ấy ?
Đamien
11-09-2006, 04:15 PM
NƯỚC TRỜI Ở TRONG ANH EM
Nước Trời ở trong mỗi người chúng ta và Nước Trời phải được lan rộng ra bên ngoài, chan hòa trên khắp thế giới. Thế nhưng thế giới hôm nay đã có biết bao nhiêu là giá trị tương phản nhau, vậy làm sao chúng ta có thể tìm ra hướng đi đúng đắn trong "căn hầm" quá to lớn, quá vĩ đại này? Chúng ta phải làm thế nào để tỏ hiện và trình bày đúng những giá trị vĩnh cửu ?
Ai trong chúng ta cũng đã từng có được những giây phút thiêng liêng hay những lúc mà tâm hồn chúng ta cảm thấy lâng lâng say đắm, như khi ngồi suy niệm trong thánh đường dưới ánh sáng lung linh của ngọn đèn chầu, hoặc như những lần dạo chơi trên cánh đồng, nhìn ngắm cảnh vật với vẻ đẹp huyền diệu trong muôn sắc màu... Trong những lúc đó, chúng ta cảm thấy xác tín hơn và niềm tin đã dẫn đưa chúng ta đến những lý tưởng cao cả. Nhưng rồi sau những giây phút say sưa đó, chân chúng ta lại chạm đất, và cho dù muốn hay không muốn, chúng ta cũng phải chạm trán với biết bao vấn đề muôn thuở: Làm thế nào để sống còn? Làm sao có công ăn việc làm? Làm thế nào để giải quyết được các vấn đề sinh sống hằng ngày v.v... Khi phải đương đầu với những câu hỏi hóc búa này, với thực tế không thể nào tránh khỏi, tâm trí của chúng ta bỗng như quay cuồng và như quên hết viễn ảnh đã có về những giá trị cao cả. Rồi chúng ta mải miết đi theo các đường lối khác nhau mà không hề quan tâm đến vấn đề trước tiên là phải tìm kiếm nước Trời! Ðiều này đối với chúng ta xem ra quá khó khăn!
Phải, quả thật là khó khăn! Bởi vì "tìm kiếm Nước Trời" trước tiên, có nghĩa là chúng ta phải đảo ngược lại tất cả các giá trị, một ý nghĩ mà không có mấy ai ưa thích! Cũng chính vì e ngại khó khăn mà chúng ta đã có thể dễ dàng chấp nhận những giá trị thấp kém của trần gian này và không muốn để mình được biến đổi nhờ quyền lực của Thiên Chúa. William Temple, Cựu Tổng Giám Mục Canterbury, đã phác họa tình trạng này bằng một hình ảnh rất trong sáng như sau: Ngài đã mô tả sự lẫn lộn các giá trị thực sự với các giá trị giả dối cũng giống như một cửa tiệm bầy hàng nọ. Mỗi món hàng được ghi giá biểu hẳn hoi, nhưng vì đãng trí, ông chủ tiệm đã đặt sai giá biểu trên các món hàng, thành thử những món hàng kém giá trị lại để giá đắt, còn những món hàng có giá trị thì lại bị để giá rẻ mạt !
Trong đời sống hằng ngày, nhiều lần chúng ta đã cảm thấy phấn khởi khi được tiếp xúc với những người suốt một đời chỉ biết dấn thân phục vụ người khác. Họ sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời và sẵn sàng hy sinh cả chính mạng sống mình để phục vụ những người già cả, neo đơn, để an ủi những kẻ yếu đau, tật nguyền, để chăm sóc những bệnh nhân tâm thần và những người phong cùi, những bệnh nhân mà rất nhiều người trong chúng ta muốn tránh xa, không dám đến gần và cả không muốn nhìn thấy. Có những cộng đoàn tu sĩ nam nữ đã chọn sống giữa những xóm dân nghèo. Họ đã hy sinh rất nhiều thời giờ để chăm sóc, phục vụ những hạng người bần cùng khốn khổ trong xã hội. Cửa nhà của họ luôn luôn rộng mở để sẵn sàng đón nhận tất cả những ai nghèo khó, bất hạnh cần đến sự trợ giúp của họ, bất cứ vào giờ nào. Hơn nữa, cho dù những công việc phục vụ đó có nặng nhọc vất vả đến đâu, họ vẫn không bao giờ phải hối tiếc hoặc phàn nàn, vì họ rất xác tín trong niềm tin và trong tinh thần phục vụ của mình... Tuy nhiên, chúng ta đừng bao giờ lầm tưởng rằng những người dấn thân phục vụ tha nhân ấy không gặp phải những khó khăn, trở ngại, không phải đương đầu với những tranh chấp, bất mãn. Trái lại, như chúng ta đã từng được chứng kiến những cuộc xung đột, những mối nghi ngờ xảy ra liên tục trong cuộc sống, và có khi ngay trong chính bản thân chúng ta, hằng ngày, họ phải ra sức chiến đấu và kiên tâm cầu nguyện, xin Chúa Thánh Thần đến thêm sức mạnh nội tâm cho họ, để họ có thể khắc phục và lướt thắng tất cả những khó khăn đó. Thật vậy, là những người đã nguyện theo chân nối gót Ðức Kitô, họ cũng muốn được trở nên giống vị Thầy Chí Thánh của mình. Chính Ngài vẫn thường được mô tả là Người-tôi-tớ-đau-khổ của Thiên Chúa. Nhưng ở đây chúng ta cũng đừng quên rằng Ngài còn là chính niềm vui, chính nguồn sống và Ngài đã được sai đến trong thế giới này là để đem lại nguồn vui sống đó cho toàn thể nhân loại. Những dụ ngôn của Ngài rất thâm thúy và cũng đầy vẻ dí dỏm. Có lẽ khi nói đến chuyện "con lạc đà chui qua lỗ kim..." Ngài cũng đã nhoẻn miệng cười !
Trong thế giới riêng của mỗi người chúng ta, và cả ở thế giới bên ngoài, không thể nào không có xáo trộn, không thể nào không có bóng tối -có khi còn dầy đặc là đàng khác- nhưng ánh sáng trong chúng ta sẽ rạng ngời. Mà ánh sáng đó sẽ rạng ngời nhiều hay ít là tùy thuộc ở mức độ chúng ta đã lãnh nhận ánh sáng của Chúa Kitô, nguồn ánh sáng luôn rực rỡ chiếu soi và xua tan bóng tối. Hãy mở rộng tâm hồn u tối của chúng ta để tiếp nhận Ánh sáng và Tình yêu, là chính Ngài, và để trái tim của chúng ta sẽ cùng hòa chung một nhịp sống với Trái Tim Cực Thánh của Ngài !
Đamien
11-09-2006, 04:21 PM
ÐỪNG LẨN TRỐN!
Ðứng trước những nỗi đau, những thương tổn, đặc biệt là những nỗi đau và những thương tổn nội tâm, thầm kín, chúng ta thường hay có thái độ trốn chạy. Chúng ta không muốn chấp nhận, cũng như không muốn đối diện với thực trạng phũ phàng ấy. Chúng ta thích lẩn trốn hoặc muốn tìm mọi cách để trù dập nó. Chúng ta có thể dìm mình vào trong đời sống hoạt động để lãng quên nó, hoặc làm ra vẻ như chẳng có vấn đề gì cả. Chúng ta từ chối không muốn đối diện với nó và lẩn tránh nó, đến độ chúng ta có thể tạo ra cho mình một thế giới không tưởng, nơi mà mọi người muốn làm gì thì làm, không ai làm mất lòng nhau, người khác không làm phiền hà gì đến chúng ta và chúng ta cũng chẳng làm phiền hà gì đến họ !
"Mọi người trong gia đình đều cư xử tốt với tôi, họ chẳng bao giờ làm phật lòng tôi!". Chúng ta thử nghĩ tới một gia đình nào đó và chuyện xảy ra là một người trong gia đình ấy bị những người thân của mình làm phiền lòng. Sự tổn thương này, dù có thật hay được tưởng tượng ra, cũng đều có thể được phóng đại, được chiếu lên trên màn ảnh, và thế là hạnh phúc gia đình bị tan vỡ. Ðiều đó cũng có thể làm tiêu tan cả những mối quan hệ xã hội tốt đẹp, và không phải nó chỉ tác hại đến hai người, hoặc hai nhóm người mà thôi, nhưng còn phương hại đến mọi người xung quanh nữa, bởi vì nếu tôi bất hạnh thì tất cả những người sống bên cạnh tôi cũng phải bất hạnh và họ sẽ phải biết là tôi thật vô phúc !
Ðối với Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể gây nên một việc tương tự như thế! Chúng ta có thể thầm nhủ rằng: "Tôi bị làm tổn thương thì việc gì tôi lại phải tôn thờ Thiên Chúa nữa? Tôi sẽ "dạy" cho Người một bài học là tôi sẽ không thờ phượng, cũng chẳng yêu mến Người nữa đâu!. Chúng ta chơi một trò chơi tương tự đối với những người chung quanh và cũng thử chơi trò chơi "bắt bí" ấy đối với Thiên Chúa nữa.
Một bà mẹ kia gọi điện báo tin cho một Cha Bề Trên Dòng hay rằng con của bà vừa bị kết án tù. Theo lời bà kể thì đứa con trai của bà là một thanh niên rất tốt. Mọi chuyện xảy ra chỉ là do bạn bè xấu lôi kéo xúi giục mà thôi. Nghe vậy, Cha Bề Trên thử đi xem xét tình hình, và thật đáng buồn thay, Cha được biết rằng cậu quý tử của bà mẹ kia thực sự là một tội nhân vốn đã có rất nhiều thành tích bất hảo, kể cả việc ăn cướp bằng vũ lực! Thế mà người mẹ tội nghiệp ấy cứ vẫn cứ xem cậu ta như một thiên thần!
Có một lúc nào đó, một người mà chúng ta thực sự yêu thương lại quay gót, phản lại chúng ta, hoặc bắt chẹt chúng ta về một điều gì đó, hẳn là lúc đó chúng ta cảm thấy bị thương tổn nhiều lắm. Nhưng nếu người ấy hồi tâm và quay trở lại xin lỗi chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ không để cho người ấy kịp nói hết câu đã vội tha thứ và sẵn sàng làm hòa với họ ngay.
Tình yêu đã có sẵn ở đó rồi và luôn luôn có sẵn ở đó. Chỉ cần người ấy sẵn lòng quay trở lại và lãnh nhận tình yêu ấy mà thôi! Thiên Chúa cũng vậy, Người hằng luôn trông chờ chúng ta hồi tâm và quay trở lại với Người để lãnh nhận ơn tha thứ và tình yêu đã dành sẵn cho chúng ta, cho dù chúng ta đã từng bắt bí Người, cho dù chúng ta đã từng muốn giơ gót chống lại Người, muốn làm phiền lòng Người, hoặc muốn phạm những tội trọng... Tội là gì? Ðó chẳng phải là sự mất trật tự ở bên trong bản thân chúng ta sao? Quả thật đó là một sự mất trật tự, vì nó không còn hòa hợp với sự hoàn thiện của tình yêu là chính Thiên Chúa. Tất cả những việc mà chúng ta cần phải làm, đó là biết cởi mở tâm hồn để đón nhận chính Chúa, để được Người chữa lành và để được phục hồi chức năng.
"Tôi phải biết rằng tôi đã được Thiên Chúa chấp nhận, nhưng tôi còn phải bám vào chính Người nữa. Tôi phải di chuyển từ chỗ "tri thức" đến chỗ thâm sâu nhất trong tôi để được tháp nhập hoàn toàn vào với Người, đến độ Người bao trùm toàn diện bản thân tôi. Như thế, tôi không còn cảm thấy nhu cầu phải chạy trốn khỏi chính bản thân tôi, không còn phải lẩn tránh xa Thiên Chúa nữa. Tôi đã đến độ thực sự nhận biết được rằng Thiên Chúa đã chấp nhận tôi với thân phận thực sự của bản thân tôi vào lúc này, chứ không phải với tình trạng mà tôi ao ước trở thành. Và chỉ khi ấy, tôi mới có thể vượt qua sự sợ hãi, vượt qua mọi giận hờn, mọi thứ bắt chẹt, mọi điều tội ác...; đồng thời tôi nhận thức được là chính tôi có thể trở nên một người theo như ý tôi mong muốn, bởi vì Thiên Chúa yêu thương tôi như chính bản thân tôi lúc này.
Tất cả chúng ta đều là con cái của Cha, Ðấng "biết" từng người một. Chúng ta có thể lẩn trốn, nhưng phần Người luôn sẵn sàng chấp nhận hết thảy chúng ta. Người yêu thương tất cả chúng ta, và đó mới là điều thật sự quan trọng.
Đamien
11-09-2006, 04:22 PM
VIẾT MỘT TRANG SỬ MỚI
Ðã bao lần, nhiều người trong chúng ta muốn viết nên một trang sử mới cho cuộc đời mình, nhưng lại cứ trì hoãn mãi. Chúng ta muốn chờ đến một thời gian, một dịp thuận tiện nào đó: như dịp đầu năm, một dịp lễ hay ngày kỷ niệm nào đó, dịp được "thăng quan tiến chức" hay khi dọn sang nhà mới..., bởi lẽ chúng ta hy vọng rằng những cơ hội đó sẽ mang lại một cơ may mới, một sức lực mới, một sự thúc đẩy mới có thể giúp chúng ta dễ dàng thực hiện ý định tốt hơn. Thực ra, thái độ lần lữa, chờ đợi đó thường chỉ mang lại cho chúng ta một ảo tưởng lớn. Người nào bước vào đời với một quyết tâm sắt đá, dám đương đầu với bất cứ hoàn cảnh nào xảy đến cho bản thân, thì người ấy đã có đủ sức mạnh tinh thần, sức mạnh nội tâm để có thể lướt thắng mọi khó khăn, thất bại, tiến tới thành công mà không cần phải chờ đợi hoặc nhờ đến bất cứ một sức mạnh, một sự kích thích nào ở bên ngoài làm tăng thêm ý chí, nghị lực và lòng quả cảm. Ví dụ: giữa các điều kiện thuận tiện của đất tốt, của phân bón, của khí hậu và thời tiết thích hợp, hạt giống chúng ta đã gieo xuống trong vườn sẽ dễ dàng nẩy mầm và mau chóng phát triển. Tuy nhiên, ngay cả trong điều kiện khó khăn, hoặc vì mảnh đất không màu mỡ, ít được chăm bón, tưới tiêu, hoặc vì thời tiết xấu đi nữa, thì hạt giống ấy vẫn cố vươn lên khỏi mặt đất để hưởng lấy những giọi sương mai, những tia nắng ấm áp của mặt trời...
Niềm tin của con người chúng ta chắc chắn phải mạnh mẽ hơn hạt giống ấy nhiều! Chúng ta hãy tưởng tượng ra xem: nhân một dịp liên hoan nào đó, chúng ta mời người thân, bạn bè đến chung vui với mình trong một buổi tiệc. Mặc dù trước khi khách đến, hẳn chúng ta chuẩn bị kỹ lưỡng mọi sự, từ một lọ hoa nhỏ bé, cho đến phòng tiếp tân, phòng ăn, tất cả đều trật tự, ngăn nắp, đẹp đẽ và hài hòa... Nhưng rồi, khi cuộc vui đã tàn, mọi người lục tục kéo nhau ra về, để lại không ít những sự bề bộn, mất trật tự, mất gọn gàng sạch sẽ... Lúc đó, nếu muốn cho ngôi nhà của mình lấy lại tất cả sự trật tự ngăn nắp, tất cả vẻ đẹp tươi sáng, hài hòa trước đây của nó, dĩ nhiên chúng ta phải lăn xả vào công việc thu dẹp, quét dọn, lau chùi, sắp xếp lại... Cũng thế đối với chính tâm hồn của mỗi người chúng ta! Chúng ta cần có sự kích thích, sự thúc đẩy của đức tin, và chúng ta cần phải biết quan tâm nhiều hơn nữa để có thể duy trì được sự trong sáng, sự hài hòa để thăng tiến, sự phát triển hữu hiệu bên trong nội tâm chúng ta. Vì thế, chúng ta cần phải nhìn vào tận thâm sâu tâm hồn và phải dò tìm trái tim của chúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta đều có viết nhật ký, chúng ta hãy viết sang một bên những điều tốt điều lành mà chúng ta đã cố gắng thực hiện trong ngày và viết sang bên kia những gì mà chúng ta đã lỗi phạm, sai trái, để vào cuối ngày, chúng ta dễ dàng duyệt xét lại những hành vi cử chỉ, những lời nói việc làm của chúng ta.
Từ đó, chúng ta hãy chuyên cần cầu nguyện để xin Chúa ban ơn giúp sức, nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta biết thực hiện những việc lành việc tốt nhiều hơn nữa trong ngày hôm sau, vì đó chính là những món lời lãi của chúng ta, đồng thời chúng ta cũng cần phải cố gắng để thanh toán hết các món nợ nần của bản thân chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cũng không nên lo lắng hoặc sợ hãi quá khi chợt nhận ra rằng số nợ của bản thân mình lớn hơn nhiều so với số vốn chúng ta hiện có. Bởi vì, như lời vị sáng lập Hồi Giáo đã nói, thì "Thiên Chúa đưa tay ra trong ban đêm để nắm lấy bàn tay của những kẻ đã lầm lỗi trong ban ngày mà giúp họ ăn năn thống hối và nối lại mối dây liên kết với Người, và Người đưa tay ra ban ngày để khuyến cáo và hướng dẫn những kể lầm lạc biết tìm đường trở về cầu xin ơn tha thứ".
Vậy, tất cả chúng ta, những người đã từng hơn một lần lỗi phạm, hãy cương quyết đứng dậy và mau tìm đến gõ cửa nhà Thiên Chúa. Người sẽ đón tiếp chúng ta cách nồng hậu! Hãy tín thác và cậy trông vào lòng nhân hậu của Người. Người sẽ tha thứ hết các lỗi lầm cho chúng ta, vì Người là Ðấng giàu lòng khoan dung và là Ðấng đầy lòng từ bi, nhân ái!
Đamien
11-09-2006, 04:23 PM
DẠY DỖ CHÍNH MÌNH
Mỗi một Kitô hữu chúng ta đều đã được trao phó một trách nhiệm đặc biệt, đó là phải giúp đỡ người khác hiểu biết Kitô giáo là gì. Như thế, tất cả những ai có thời giờ để học hỏi, nghiên cứu và hiểu biết đức tin nhiều hơn, thì họ có bổn phận phải chia sẻ sự hiểu biết ấy cho những ai thiếu thời giờ, thiếu phương tiện, thiếu khả năng hơn mình.
Tuy nhiên, trong thư gởi cho Tín hữu Rô-ma (Rm 2, 11-29), thánh Phaolô Tông đồ quan niệm rằng trách vụ đầu tiên của người thầy dạy đức tin phải là "dạy dỗ chính mình". Thật vậy, theo quan niệm Kitô giáo, đức tin và cách sống có quan hệ rất mật thiết với nhau. Vì thế, điều quan trọng đối với các bậc thầy dạy đức tin là chính họ trước hết phải trở thành những người thực sự biết sống đức tin ấy! Ðiều này không có nghĩa là các vị đó phải trở nên hoàn hảo trước khi mở miệng dạy dỗ người khác về đức tin. Ðòi hỏi như thế là một điều quá đáng! Tuy nhiên, người thầy dạy đức tin cần phải cố gắng liên tục, không những trong công cuộc tìm hiểu đức tin mà còn trong cách sống niềm tin ấy cho trọn vẹn. Nếu vị nào không sống đúng với niềm tin của mình thì những lời giảng dạy của vị ấy sẽ trở nên trống rỗng và người khác sẽ sớm nhận ra vị ấy cũng chẳng có bao nhiêu để dạy dỗ, để truyền đạt lại.
Rất nhiều người trong chúng ta vẫn thường nghĩ rằng chỉ có các linh mục, tu sĩ mới là những bậc thầy dạy dỗ đức tin, và chúng ta chờ đợi, mong muốn được nhìn thấy ở nơi các ngài một cuộc sống thực sự nghiêm túc, gương mẫu, để khi các ngài cất lời giảng dạy thì người khác có thể nghe theo. Nhưng chúng ta quên rằng chính chúng ta, dù là giáo dân, cũng cần phải nỗ lực phấn đấu để trở thành các bậc thầy dạy dỗ những điều chúng ta tin tưởng. Mà muốn được như vậy, chúng ta phải biết dạy dỗ chính mình trước hết để trở nên những Kitô hữu đạo đức, gương mẫu, lương thiện và nhã nhặn. Người khác sẽ nhìn vào cuộc sống đạo của chúng ta để chân nhận ra hình ảnh của một người tin vào Chúa.
Bạn sẽ dạy dỗ người khác, vậy bạn đã sẵn sàng dạy dỗ chính mình chưa?
Đamien
11-09-2006, 04:25 PM
YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ NGƯỜI LÂN CẬN
"Tôi thực sự chẳng có một chút ảnh hưởng nào đối với thế giới chung quanh tôi. Nào tôi có thể làm gì cho thế giới này?"
Nếu đã có lần nào chúng ta tự đặt ra câu hỏi ấy, thì hãy thử trắc nghiệm một lần xem sao: chúng ta hãy cố gắng ghi chép lại con số những khuôn mặt mà chúng ta có dịp gặp gỡ, tiếp xúc trong một ngày, kể từ buổi sáng thức dậy cho đến chiều tối lúc lên giường nằm: bác tài xế, em bé bán báo, cô hàng càphê, ông bán phở, người thủ trưởng cơ quan, các bạn đồng nghiệp, cô mậu dịch viên ở cửa hàng, ông hàng thịt, bà bán hoa quả, những người chúng ta đã viết thư thăm hỏi, giao dịch trong ngày, những người thân trong gia đình: Ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em,... tất cả mọi người. Rồi cộng tất cả lại, chúng ta sẽ ngạc nhiên biết bao khi nhận thấy là chúng ta đã đụng chạm, tiếp xúc với biết bao con người, biết bao cuộc sống khác nhau, dù chỉ trong một giây lát thoáng qua hay chỉ trong một ngày. Nếu trong tất cả những cuộc tiếp xúc đó, chúng ta biết duy trì một cuộc sống nội tâm phong phú, một cuộc sống cầu nguyện liên tục, chúng ta biết thể hiện sự yêu thương chân thành và lòng hăng say phục vụ tha nhân, thì chắc chắn sẽ có lúc Thiên Chúa gởi đến cho chúng ta những người mà Người muốn chúng ta giúp đỡ bằng cách này hoặc bằng cách khác. Mỗi người chúng ta, cho dù có nhiều khuyết điểm, nhiều tật xấu đến mấy, vẫn không hoàn toàn vô dụng với thế giới chung quanh đâu !
Thật vậy, chỉ bằng một ánh mắt thân thiện, thương yêu, một nụ cười thông cảm, chân thành, chỉ bằng một lời an ủi, khích lệ hay bằng một cử chỉ nhã nhặn, dịu hiền, khiêm tốn,... chúng ta đã có thể đem lại sự tươi vui, niềm an bình hạnh phúc cho những ai chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc, cho tất cả mọi người xung quanh. Thánh Phanxicô Salêsiô dạy rằng: Chúng ta có thể đo lường được sự tiến bộ thiêng liêng, không phải bằng sự kiện chúng ta sẽ giúp đỡ người này người khác, nhưng là bằng tính cách mau mắn, và tự nguyện mỗi khi chúng ta giúp đỡ, phục vụ người anh em!
THỰC HIỆN ÐỨC BÁC ÁI
Trong thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Cô-rin-tô, thánh Phaolô Tông đồ viết: "Anh em hãy cố đạt cho được đức mến, hãy khao khát những ơn của Thần Khí, nhất là ơn nói tiên tri" (1Cr 14, 1).
"Ðạt cho được đức mến", đó là dấn thân vào thế giới này theo đường lối mà Thiên Chúa đã ấn định, và khi một người nào đó sẵn sàng dấn thân như thế, người ấy có thể hiểu biết được những nền tảng căn bản mà trên đó Thiên Chúa muốn xây dựng đời sống con người, người ấy có thể nhận ra được hướng mình phải đi tới, đồng thời cũng nhận biết ra được nơi đến của những kẻ không thực thi đức mến như Thiên Chúa hằng mong muốn. Ví dụ: khi một người cha yêu mến con cái mình, người cha ấy sẽ nhận biết hướng mà các con mình phải đi theo để có thể tìm ra được cuộc sống đích thực cho bản thân chúng nó; người cha ấy cũng nhìn thấy trước được những lỗi lầm mà các con mình có thể sẽ vấp phạm trên đường đời. Vì thế, chính người cha ấy có bổn phận phải báo trước -tức là nói "tiên tri"- cho các con mình một con đường đi và đồng thời vạch rõ những cạm bẫy, những chướng ngại vật mà chúng nó có thể gặp phải trên con đường ấy. Tuy nhiên, không phải lúc nào hoặc không phải trong một sớm một chiều mà người cha có thể có được khả năng ấy, cái khả năng "có kiến thức rộng" cho phép ông báo trước cho con cái mình nhiều điều. Trái lại, để có thể có được khả năng ấy, người cha đã phải rất kiên trì qua bao tháng năm thể hiện một tình yêu thương sâu xa, nồng nàn đối với các con mình.
Khi yêu thương, con người được tiếp xúc với nền tảng của Tạo Hóa. Nhưng ngược lại, nếu một người nào đó không biết thể hiện tình yêu đối với người xung quanh, thì những viễn tượng cũng như những hiểu biết của người ấy thường thường dễ bị các cảm tình bóp méo và làm cho lệch lạc. Nếu chúng ta tỏ vẻ giận dữ, kiến thức của chúng ta sẽ bị cơn giận dữ ấy làm cho sai lạc đi. Nếu chúng ta tỏ vẻ buồn rầu, kiến thức của chúng ta sẽ không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi nỗi buồn sầu da diết đó. Và như thế, chúng ta sẽ không còn sáng suốt, không còn nhìn thấy mọi sự cách rõ ràng nữa. Chỉ có Tình Yêu Chân Chính mới cho phép con người chúng ta nhìn rõ được thực chất của sự việc, bởi lẽ Tình Yêu Chân Chính không bóp méo, không làm lệch lạc sự việc. Và khi chúng ta nhìn thấy mọi sự cách rõ ràng, trong sáng, nhờ Tình yêu và trong Tình yêu thì đó chính là chúng đã lãnh nhận được ơn "nói tiên tri" vậy.
Đamien
11-09-2006, 04:27 PM
CÔNG BẰNG VÀ BÁC ÁI
Có một người Do Thái nọ rất giàu có, nhưng suốt cả đời, ông chỉ sống đơn giản và ăn uống thanh đạm. Trong một lần đến thăm ông, vị Ráp-bi Do-Thái giáo hỏi:
- "Thường ngày ông ăn uống ra sao?"
Ông thành thật trả lời:
- "Thưa Ráp-bi, tôi chỉ ăn bánh mì với muối."
- "Với muối thôi à? Không được, ông phải dùng bánh mì với thịt cá, ông phải ăn trái cây và uống cả rượu ngon nữa chứ."
- "Thưa Ráp-bi, uống cả rượu ngon nữa sao?" - Ông nhà giàu ngạc nhiên hỏi lại.
- "Phải, tất cả những thứ ấy. Vì nếu ông là người khá giả mà chỉ dùng bánh mì với muối, thì những kẻ nghèo túng chỉ nên ăn khoai, ăn củ và uống nước lã thôi sao? Ông có ăn cá, ăn thịt, uống rượu, thì ông mới có thể dễ dàng rộng tay ban phát cho kẻ nghèo bánh trái để ăn chứ!"
Nghe thuật lại câu chuyện trên đây, nhiều người trong chúng ta đã nghĩ rằng vị Ráp-bi nọ muốn đùa vui người tín đồ ngoan đạo của mình, nhưng thực sự không hẳn là thế! Lời giải thích của vị Ráp-bi trưởng đã bao hàm một ý nghĩa rất sâu sắc về đức công bằng và bác ái, về hai thái độ sống: thái độ của người ban phát -người giàu sang- và thái độ của người lãnh nhận -kẻ nghèo hèn-. Xưa nay, người Do Thái vẫn còn giữ tục lệ này là khi có ai đến nhà xin bánh trái, họ không được phép vặn hỏi gì cả. Luật buộc họ phải cho, phải đáp ứng nhu cầu của người hành khất. Chỉ khi nào có ai xin quần xin áo họ mới có thể hỏi han, tìm hiểu xem nhu cầu đó có thực sự cần thiết cho người xin hay không... Riêng đối với chúng ta, chúng ta đã từng có thái độ nào, đã cư xử ra sao khi có người đến gõ cửa nhà xin chúng ta giúp đỡ? Bản chất của việc đáp ứng phải như thế nào mới thực sự hợp lý? Và việc đáp ứng đó là một nghĩa cử bác ái hay chỉ là một sự thi hành lẽ công bằng ?
Thành thật mà nói, có lẽ từ trước đến nay, chúng ta mới chỉ thực thi công bằng, khi chúng ta làm phúc bố thí cho những người hành khất dăm ba đồng bạc hay một hai lon gạo. Thật vậy, việc làm này chỉ là sự chu toàn bổn phận của người Kitô hữu mà thôi. Vì nếu trong khi chúng ta ăn uống đầy đủ mà những người bên cạnh chúng ta thiếu thốn tất cả, không có cái ăn cái mặc, phải chết đói chết khát, thì đấy quả là một sự bất công!
Trong một ý nghĩa nào đó, chúng ta là những người thừa hành của Thiên Chúa, có nhiệm vụ phân phát của cải vật chất một cách đồng đều. Nếu Thiên Chúa ban cho chúng ta hoặc cho dân tộc chúng ta được dư dật về của ăn, về các tài nguyên thiên nhiên, chúng ta vẫn không có quyền hoàn toàn hưởng thụ một mình, trong khi những người khác hoặc những dân tộc khác đang thiếu thốn, cơ cực. Tất cả những của cải, những sự giàu có đó phải được san sẻ một cách công bằng và hợp lý. Do một sự tình cờ -như người ta vẫn nói: tình cờ địa dư, tình cờ sinh đẻ...- mà trong xã hội hiện nay có kẻ nghèo, người giàu. Vì vậy, sự kiện chúng ta chia sẻ ban phát cho nhau chỉ là một hành động làm cân bằng cán cân, thực thi lẽ công bằng, nhưng chưa phải là một nghĩa cử bác ái cao đẹp. Do đó, giới nghèo có quyền đứng lên đòi hỏi công bằng xã hội khi họ yêu cầu giới giàu có giúp đỡ, và không phải chỉ là một sự giúp đỡ nào đó tối thiểu, có tính cách nhất thời, nhưng phải là môt sự cung ứng đầy đủ những phương tiện cần thiết để họ có thể sống tự lập được. Nói cách khác: Ðừng cho họ con cá, nhưng hãy cho họ cần câu và lưỡi câu! Ðiều này có thể sẽ vượt quá khả năng cá nhân, vì thế, cần phải khuyến khích thiết lập các tổ chức cộng đồng để phân phối đồng đều các của cải, các tài nguyên thiên nhiên và cũng để xem xét nhu cầu của từng cá nhân, từng tập thể sao cho có sự công bằng. Công việc này chắc chắn cũng sẽ đòi hỏi nhiều hy sinh, nhiều ý thức trách nhiệm của mỗi người biết đóng góp một cách thật tích cực vào lợi ích chung.
Chúng ta vừa bàn đến ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân ở đây. Thật vậy, không một ai hoặc một dân tộc nào được quyền thờ ơ, lãnh đạm trước cảnh túng thiếu, đói khát của những dân tộc, những người sống chung quanh mình. Những người, những dân tộc này cần phải được quan tâm, giúp đỡ và được chia sẻ, đồng thời họ có quyền đòi hỏi để cũng được hưởng thụ theo nhu cầu của con người. Nhiều người trong chúng ta vẫn còn có quan niệm sai lầm về điểm này. Chúng ta cho rằng giới nghèo không thể có tiếng nói và họ còn phải biết ơn những ngươi đã ban phát, giúp đỡ họ. Thực ra thì tâm tình biết ơn không hẳn là thái độ của riêng những kẻ được lãnh nhận, nhưng cả những người ban phát nữa cũng phải mặc lấy tâm tình đó, vì nhờ kẻ lãnh nhận mà họ có được những cơ hội để chia sẻ, để chu toàn bổn phận công bằng, hoàn thành thánh ý Thiên Chúa. Sự kiện này xem ra kỳ lạ, ngược đời, nhưng sự thực là thế! Người ban phát phải mang ơn kẻ lãnh nhận! Ngoài tâm tình biết ơn kẻ lãnh nhận, người ban phát còn phải có một thái độ vui vẻ và một tinh thần quảng đại. Chúng ta nên học biết gương của bà góa nghèo dâng của trong đển thờ. "Những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào dâng cúng, còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống" (Lc 21, 4) (x. Mc 12, 41-44). Thái độ ban phát và tấm lòng thành của bà góa đã được Chúa chấp nhận, mặc dù của lễ bà dâng trị giá một phần tư xu. Bà đã không so đo tính toán, không như nhiều người trong chúng ta nhiều khi vẫn làm một bài tính nhẩm trước khi bố thí, xem người hành khất nào đó sẽ kiếm được bao nhiêu trong một ngày. Thái độ này chứng tỏ cho thấy là chúng ta còn mang nặng óc hẹp hòi, vị kỷ, hoàn toàn không thích và trái ngược với tinh thần vị tha trong Phúc Âm.
Thật vậy, chúng ta giúp đỡ những người nghèo, không phải chỉ để cứu họ tạm thời khỏi chết đói, nhưng chúng ta cần phải biết hy sinh và quảng đại hơn nữa: giúp họ trở về nếp sống cũ và cung ứng cho họ những nhu cầu mà họ đã quen dùng trong nếp sống đó. Ý thức và thực hành được điều này là chúng ta đã chu toàn sứ mạng ban phát mà Thiên Chúa đã giao phó cho mỗi người chúng ta. Ðời sống của con người giống như một bánh xe quay đều: những người giàu hôm nay biết đâu sẽ trở thành những kẻ nghèo ngày mai! Vậy, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy tập cư xử tốt đối với người khác, như chính chúng ta hằng vẫn mong muốn được người khác cư xử tốt đối với mình.
Đamien
11-09-2006, 04:31 PM
KÍNH TRỌNG NIỀM TIN CỦA NGƯỜI KHÁC
Dù thuộc bất cứ tôn giáo nào, phần đông các tín hữu, người nào cũng đều xác tín rằng niềm tin của mình là đúng, còn niềm tin của người khác thì không. Hoặc có thể nói cách nhượng bộ hơn: niềm tin của người khác chỉ chứa đựng một số yếu tố đúng nhưng chỉ có "một số" đúng mà thôi! Ðiều xác tín này thường đưa người truyền giáo đến chỗ hung hãn, có tinh thần tấn công, và vì thế, trong cách cư xử, họ có thể tỏ ra khiếm nhã đối với những người thuộc các tôn giáo khác, có niềm tin khác.
Một ví dụ cụ thể: những người đầu tiên theo Hồi Giáo đã có thái độ khiếm nhã đối với những người dân ở thành Mecca. Họ chế nhạo các thần và các đồ thờ phượng của những người dân thành này...
Thực cũng là điều dễ hiểu: Nếu có ai muốn truyền rao một tôn giáo mới nào đó và người ấy muốn thuyết phục, muốn thay đổi thái độ và niềm tin của những người nghe, thì người ấy nghĩ rằng cần phải chế nhạo lập trường cũ của họ và tất cả những gì mà họ đã tin theo trước đây. Vì dễ dàng bị cám dỗ để tin rằng lập trường của mình là đúng, nên người đi truyền giáo thường hay đả phá niềm tin của những người đang nghe mình, cho niềm tin trước đây của họ sai lầm, là tiêu cực và tìm đủ mọi cách để đưa họ về tin theo đạo mà mình đang rao giảng. Thực ra, cách cư xử, cách rao giảng đó đã gây nên nhiều thương tích và làm phật lòng người nghe hơn là chinh phục được họ, đã gây nên nhiều sự chia rẽ hơn là sự đoàn kết, đã khép kín hơn là mở rộng cửa để đối thoại đem lại sự cảm thông.
Vì thế, các tín hữu thuộc mọi tôn giáo cần phải ghi nhớ điều này là trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng không được phép chế nhạo tôn giáo, niềm tin của người khác. Nguyền rủa các vị thần linh mà người khác tôn thờ tức là làm cớ cho họ nguyền rủa chính Thiên Chúa của mình. Chế nhạo hoặc coi rẻ các đồ thờ phượng của họ tức là làm cớ cho họ chế nhạo hoặc coi rẻ Thiên Chúa thật. Khinh thường hoặc nguyền rủa niềm tin của người khác tức là mời gọi họ khinh thường và nguyền rủa chính niềm tin của mình. Cũng như khi chúng ta nguyền rủa cha mẹ của người nào đó là chúng ta đã làm cớ cho họ nguyền rủa chính cha mẹ của chúng ta.
Vậy nếu có dịp nào bàn về vấn đề tôn giáo với các tín hữu theo tôn giáo khác, điều trước hết là chúng ta phải biết tôn trọng niềm tin và tôn giáo riêng của họ. Chúng ta phải chấp nhận sự đối thoại và thành thật trao đổi ý kiến với nhau một cách lịch sự và hết sức tế nhị. Trong lịch sử, chúng ta đã có biết bao nhiêu cuộc tranh chấp về tôn giáo, đồng thời cũng có cả những cuộc chiến tranh tôn giáo nữa !
Sự kính trọng niềm tin của nhau, kính trọng nhân phẩm của người đối thoại, sự tiếp nhận nhau một cách lịch sự và văn minh tuyệt đối, không buông ra những lời chế nhạo và khích bác... đó là tất cả nguyên tắc hướng dẫn các cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Thật vậy, cung cách của người rao giảng phải là sự thể hiện một tình yêu thương và mối quan tâm đối với người khác, chứ không phải và không bao giờ là sự kích động hiềm thù, ghen ghét, hoặc tranh chấp.
Người rao giảng cần phải biết nhìn nhận sự mặc khải và đặt trọng tâm vào Thánh Kinh, vì Thánh Kinh chứa đựng sứ điệp của Thiên Chúa duy nhất mà nhiều tôn giáo khác nhau cùng chia sẻ. Cùng một niềm tin giống nhau, nhưng mỗi tôn giáo có thể có cách trình bày riêng của mình. Vì thế, người rao giảng cần phải tìm cách nhấn mạnh đến những điểm chung trong niềm tin và rồi bàn luận đến những điểm khác biệt trong sự kính trọng lẫn nhau.
Đamien
11-09-2006, 04:33 PM
SỰ CẢM THÔNG (bài 1)
Khi nói đến sự cảm thông, chúng ta thường nghĩ ngay đến lòng nhân hậu, tình thương xót. Ðiều này đúng và hợp lý! Tuy nhiên, đó mới chỉ là ý nghĩa hạn hẹp chứ chưa phải là ý nghĩa căn bản của sự cảm thông.
Từ "cảm thông" do từ Latinh "Compassio" (Passio-cum) hoặc động từ "Compatire" (Patire-cum), có nghĩa là chịu đau khổ cùng với người nào đó. Như vậy, ý nghĩa này bổ túc cho ý nghĩa "nhân hậu, thương xót" trên, bằng cách thêm vào đó yếu tố "tự đồng hóa với những người đang khổ đau". Và khi chúng ta tự đặt mình vào trạng huống của những người đang đau khổ, hoặc khi chính bản thân chúng ta đã từng ở trong một trạng huống hơi giống hay giống hệt như thế, thì lòng nhân hậu, tình thương xót và sự cảm thông, theo nghĩa chính xác của nó, có thể phát xuất tự chúng ta. Theo nghĩa này, từ "cảm thông" trở thành nguồn suối phát sinh ra không phải chỉ có lòng nhân từ mà thôi, nhưng chủ yếu còn có sự công bằng nữa.
Nhìn lại giòng lịch sử, vào thời mà lịch sử mới bắt đầu được ghi chép, lúc mà những giá trị luân lý, xã hội, hoặc tôn giáo rất khác biệt với ngày nay dưới nhiều khía cạnh, chúng ta nhận thấy tác giả của các sách Lêvi và Ðệ nhị luật đã biết chính xác ý nghĩa của từ "cảm thông" và đã nhấn mạnh đến ý nghĩa công bằng rồi. Trong sách Lêvi, chúng ta đọc được ý nghĩa cao đẹp của từ "cảm thông" như sau: "Các ngươi phải đối xử với ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; (các) ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai-cập. Ta là ÐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi" (Lv 19, 34)
Ðiều huyền diệu của những lời này không phải chỉ tùy thuộc ở khía cạnh luân lý, đạo đức, nhưng còn tùy thuộc ở chỗ chúng đã được phát xuất từ môi miệng của chính Thiên Chúa. Ðây là những lời đầy sức mạnh, vì là những lời mặc khải và là thành phần của bản tính Thiên Chúa. Qua những lời này, chúng ta nhận thức được rõ hơn ý nghĩa căn bản của từ "cảm thông". Có thể nói: "cảm thông" là nền tảng, là nguồn gốc phát sinh ra sự công bằng, chứ không phải chỉ đơn thuần là phẩm tính của lòng nhân hậu lòng quảng đại hay lòng khoan dung.
Ngày nay, trên thế giới đã có biết bao nhiêu sự kỳ thị: kỳ thị chủng tộc, kỳ thị mầu da, kỳ thị tôn giáo... và những sự kỳ thị này không phải chỉ được thể hiện bằng ánh mắt, bằng lời nói, mà còn bằng hành động nữa! Người ta kể lại rằng tại Luân Ðôn, có một phụ nữ gốc Do Thái rất hăng say trong việc dấn thân chống lại bất công, những sự kỳ thị đối với những người da mầu đang sinh sống tại khu phố bà ở. Khi được hỏi tại sao bà lại hăng say dấn thân như thế, bà trỏ lời cách đơn sơ: "Bởi vì chúng tôi cũng đã từng là những người ngoại kiều tại đất nước Ai cập". Người phụ nữ này đã cư xử đúng theo lời Thiên Chúa đã từng phán bảo với dân tộc bà: "Vậy các ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai cập" (Lv. 19, 34)
SỰ CẢM THÔNG (bài 2)
Ðọc lại lịch sử thế giới, chúng ta thường gặp thấy các sử gia chép lại những hành động tàn ác, bạo ngược, những sự tham lam, những vụ bóc lột của các bạo chúa hay của các vị vương giả. Tuy nhiên, trong số các hoàng đế, các vị vua thời xa xưa ấy cũng đã có những tấm gương chói lọi của lòng quảng đại, lòng cảm thông đối với người dân.
Chúng ta có thể đơn cử một ví dụ: nhờ được Ðức Chúa tác động lên tâm trí vua Ky-rô II, vua của đế quốc Batư (đã chiếm Babylon và trị vì Tây Á khoảng 2500 năm trước đây) đã có lòng cảm thông với người dân Do Thái, bằng cách tha cho họ khỏi cảnh lưu đày, cho họ hồi hương để tái thiết đền thờ Giêrusalem do ngân khố của chính nhà vua trợ cấp tiền bạc (Er 1, 1-11).
Bên cạnh tấm gương cao đẹp về lòng cảm thông, về lòng nhân hậu của Hoàng đế Ba tư, chúng ta cần phải kể đến một vị Nữ Hoàng Ả Rập, mẹ của Lơ-muel, vua Massa. Những lời vàng ngọc của vị Nữ Hoàng này đã được ghi chép lại trong sách Châm ngôn như sau :
"Lời của Lơ-mu-ên, vua Ma-xa, những lời thái hậu đã dạy người. Hỡi con trai ta, đứa con lòng dạ ta đã cưu mang, đứa con ta đã cầu khẩn được. Ðừng hiến sinh lực của con cho phụ nữ, đừng trao đổi cuộc đời cho những ả làm hư hỏng các vua.
Hỡi Lơ-mu-ên, đã làm vua thì đừng nên uống rượu, làm người lãnh đạo thì đừng thích chất men, kẻo uống vào rồi thì quên cả luật pháp và coi thường quyền lợi của kẻ khốn cùng. Hãy đem chất men cho kẻ đang hấp hối và đem rượu cho người chịu đắng cay, để họ uống mà quên đi cảnh nghèo, khỏi nhớ đến nỗi khổ đau phiền muộn nữa. Con hãy mở miệng nói thay cho người câm và biện hộ cho người bất hạnh. Hãy mở miệng xét xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ". (Cn 31: 1-9)
Trong đoạn trích dẫn trên, chúng ta cần lưu ý đến ba điểm chính sau đây:
1. Ðây là những lời khuyên nhủ của một người mẹ, một người phụ nữ, vào thời kỳ mà ở khắp nơi, thân phận của người phụ nữ không được coi trọng bằng thân phận của người đàn ông.
2. Ma-xa không thuộc về đất nước It-ra-en nhưng chỉ là một vương quốc Ả-rập. Vì thế, người đã thốt ra những lời này hoàn toàn không phải là ngưởi thuộc về dòng giống của "những người được tuyển chọn"
3. Vị Thái Hậu này có một địa vị đặc biệt, vì bà không những là mẹ của một vị vua luôn mến yêu và vâng lời mẹ, nhưng bà còn biết khéo léo sử dụng ảnh hưởng của bà để thúc giục vua con biết động lòng trắc ẩn và biết cảm thông với những người đau khổ, những kẻ yếu đuối, thấp hèn. Mặc dù không thuộc về dòng dõi Do Thái, một dân tộc được tuyển chọn, nhưng bà đã biết rao truyền điều công chính và sự cảm thông chân thành. Những lời khuyên dạy của bà quả là những lời vàng ngọc cần được ghi chép lại và đem ra thực hành.</O:p
Đamien
11-09-2006, 04:38 PM
SỰ CẢM THÔNG (bài 3)
Các tôn giáo lớn trên thế giới đều đề cao giá trị và vai trò quan trọng của lòng cảm thông. Những người Hồi Giáo vẫn thường bắt đầu các lời cầu nguyện của họ như sau: "Nhân danh Thiên Chúa, Ðấng cảm thông vô biên, Ðầng quyền phép và nhân từ vô cùng...". Còn các Kitô hữu chúng ta, không ai lại không nhìn nhận rằng trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Ngài, Ðức Giêsu đã biểu lộ một sự cảm thông vô biên đối với con người, đặc biệt là những người nghèo hèn khổ đau. Một số phép lạ của Ngài như: truyền cho Ladarô, người em trai của Mat-ta và Ma-ri-a, hay truyền cho cô con gái của viên trưởng hội đường Giairô, hoặc đứa con trai duy nhất của bà góa thành Naim được sống lại; chữa lành người phụ nữ bị bệnh loạn huyết hoặc tên đầy tớ của viên sĩ quan... là những phép lạ tiêu biểu cho chúng ta thấy sự quan tâm của Ðức Giê-su đối với những người đau khổ. Tại quê hương, vào lúc khởi đầu cuộc đời rao giảng, Ngài đã biến nước lã thành rượu ngon hảo hạng trong một tiệc cưới ở thành Cana, xứ Galilê, bởi vì Mẹ Ngài không muốn cho người bà con của mình bị lúng túng, và chính Ngài, Ngài cũng không muốn làm cho mẹ Ngài phải cụt hứng. Rồi các quan hệ xã hội của Ngài cũng đã làm cho nhiều người phải ngạc nhiên:
Ngài tiếp xúc với đủ loại hạng người, nào là người thu thuế, nào là người tội lỗi, nào là gái điếm, những người vốn bị xã hội thời đó khinh rẻ. Ðiều này làm cho những kẻ có quyền bính, những người Pha-ri-sêu rất bất bình với Ngài, bởi lẽ chính họ chỉ quan tâm đến những kỷ luật khắt khe về phương diện đạo đức mà lại không hề quan tâm đến khía cạnh cảm thông và thương xót người khác.
Charles Péguy, thi sĩ thời danh người Pháp, đã viết một câu chuyện rất hay như sau: "Một hôm, Chúa Giêsu than phiền với thánh Phêrô về sự kém phẩm chất của một số người đã được vào thiên đàng", Thánh nhân liền phân trần: "Xin Chúa đừng trách con, vì cứ mỗi lần con từ chối không cho họ vào, thì chính Mẹ của Chúa lại mở cửa hậu đón họ vào". Những ai vẫn hy vọng được vào Thiên đàng qua cổng sau đều luôn cảm thấy xúc động mỗi khi đọc lại câu chuyện đầy tình cảm thông và tình thương xót này. Còn Phật giáo thì từ xưa tới nay vẫn được coi là Ðạo Từ bi và cảm thông rồi. Người Phật tử không sát sinh và tránh làm cho người khác phải đau khổ. Sách kinh Phật đã nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần về việc cần thiết phải thực thi lòng từ bi, sự cảm thông đối với mọi loài, mọi vật. Ðức Phật dạy: "như một người mẹ âu yếm nhìn đứa con mình, chúng ta cũng hãy phục vụ chúng sinh như thế!". Trong tác phẩm "Cuộc hành trình đến Ladak, Ấn độ" của ông, nhà văn Andrew Harvey có thuật lại một câu chuyện thật cảm động sau đây:
Một hôm, tôi đang ngồi trong một quán cà phê gần bờ hồ. Lúc ấy trời lạnh lắm. Nhìn ra bên ngoài, tôi chợt thấy một bà hành khất già, rất già, đang ngồi co ro trên một chiếc ghế dài. Lúc ngẩng mặt lên, bà cụ bắt gặp ánh mắt của tôi đang nhìn bà chăm chú. Rồi bà cụ khó nhọc đứng dậy, bước về phía tôi và chìa tay xin làm phúc. Tôi lấy 5 rupi cho bà. Bà cụ khẽ cúi đầu cám ơn, rồi liền đi mua một tô cháo nấu với rau và khoai tây... Sau khi đã trở về chỗ cũ trên chiếc ghế dài, bà cụ lại làm cho tôi phải giật mình sửng sốt qua hành động sau đây của bà. Lúc đó, có một con chó không biết ở đâu chạy tới, cứ quấn quít lấy đôi chân bà cụ. Bà cụ già liền ngồi bệt xuống đất với con chó, chia cho nó nửa tô cháo, rồi cả hai cùng bắt đầu ăn...
Tôi không nghĩ rằng bà cụ già tự nói với mình: "Mình sẽ chia cho con chó một nửa". Bà cụ nghèo quá: tiền bạc chẳng có, của ăn cũng không, quần áo mặc không đủ ấm, và con chó kia cũng đâu phải thuộc quyền sở hữu của bà! Thế mà bà cụ đã tự động chia sẻ tô cháo và không hề có một ý nghĩ gì về sự khác biệt giữa bà với con chó, cũng không nghĩ rằng bà có bổn phận phải cho con vật ăn, hoặc về phía con vật, nó phải biết ơn bà.
Hành động trên đây của bà cụ già hành khất thực sự là một hình ảnh tuyệt vời của lòng cảm thông, với ý nghĩa trọn vẹn nhất của nó. Ðó là điều mà rất ít người trong chúng ta có thể thực hiện được, nhưng cũng là điều có thể gợi hứng cho mỗi người chúng ta trong thế giới bất toàn này.
"Lạy Chúa là nguồn mạch của sự cảm thông.
Trong Chúa, mọi tạo vật được hiện hữu và sống động.
Xin Chúa gợi hứng cho trí khôn tăm tối của chúng con
Xin Chúa nới rộng lòng cảm thông chật hẹp của chúng con
Xin Chúa đào sâu tình yêu nông cạn của chúng con,
để mỗi người chúng con có thể phục vụ thế giới
trong sự cảm thông mỗi ngày một tăng thêm.
Chúng con nguyện xin nhờ Ðức Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, là Ðấng luôn cảm thông, giàu lòng nhân từ và thương xót. Amen".
Đamien
11-09-2006, 04:40 PM
CÀNG GẶP MAY CÀNG THÊM TRÁCH NHIỆM
Có ba người hành khất nọ rất nghèo túng, và bất hạnh thay, cả ba người đều mang tật: một người bị cùi, người thứ hai bị mù và người thứ ba mắc bệnh đầu có gàu! Ðể thử lòng ba người này, một ngày kia, Thiên Chúa sai thiên thần đến gặp họ và hỏi từng người một xem anh ta mơ ước điều gì.
-"Tôi muốn có một làn da thật tươi mát, mịn màng và không hoen chút tỳ ố nào!" - người hành khất bị cùi thưa với thiên thần Chúa khi ngài đến gặp anh ta trước tiên và hỏi anh điều anh mơ ước.
Thiên thần Chúa đưa tay chạm vào người anh ta, tức thì da dẻ của anh cùi liền trở nên nhẵn nhụi, hồng hào. Tiếp đó, thiên thần Chúa hỏi thêm anh ta có muốn được giàu có không và muốn giàu như thế nào. Người hành khất cùi vội nói:
-"Tôi muốn có một đàn lạc đà."
Anh ta liền được thiên thần Chúa trao cho một con lạc đà cái sắp đẻ. Nhờ đó, chẳng bao lâu, đàn lạc đà sinh sôi nảy nở thêm nhiều, và anh ta trở thành một trong những người giàu có nhất vùng.
Sau đó thiên thần Chúa lại tìm đến với người hành khất bị bệnh gàu đầu. Da đầu anh bị nứt nẻ và gàu dính bê bết vào tóc làm anh ta ngứa ngáy, khó chịu. Nghe thiên thần Chúa hỏi đến điều mơ ước, anh ta đáp ngay không chút do dự :
-"Tôi chẳng có mong muốn nào khác hơn là được thoát khỏi cái bệnh gàu đầu quái quỷ này! Cầu cho da đầu tôi được sạch sẽ là quý hóa lắm rồi!"
Và anh này cũng đã được toại nguyện! Anh ta còn được ban cho làm chủ một đàn bò đông đúc theo như ý muốn khi thiên thần Chúa hỏi anh ta có muốn được giàu có như thế nào không.
Cuối cùng, thiên thần Chúa đến gặp người hành khất mù, và cũng giống như hai người kia, anh ta liền được trao ban cho đôi mắt thật đẹp và được trở thành một ông chủ có nhiều chiên nhất miền ấy, đúng như điều mong muốn của anh ta.
Nhiều năm đã trôi qua sau các biến cố ấy... Thiên thần Chúa giờ được sai trở lại để hoàn tất cuộc thử thách. Trong hình dạng một người cùi, thiên thần Chúa tìm đến nhà người hành khất cùi trước đây và cất lời van xin anh ta:
-"Thưa ngài, tôi là một khách bộ hành quá nghèo khổ, xin ngài thương tình giúp cho tôi một con lạc đà để tôi cỡi..."
-"Lạc đà ở đâu ra mà cho anh?" - người kia vội ngắt lời.
Người cùi (thiên thần Chúa) từ tốn nói với anh ta:
-"Tôi nhớ dường như là ngày xưa ngài cũng đã từng bị cùi như tôi bây giờ, nhưng Thiên Chúa đã thương tình chữa ngài lành lặn và còn cho ngài trở nên giàu có."
-"Anh đừng có láo lếu" - người kia giận dữ quát lên- "Tôi chẳng có giống như anh bao giờ cả, và của cải tôi có đây là gia tài ông bà tôi để lại."
-"Có phải ngài vừa nói dối lần thứ hai không?"
Thiên thần Chúa vừa dứt lời, Thiên Chúa liền biến người kia trở lại trạng thái cũ trước đây. Thế là trong nháy mắt, người ấy đã trở lại là một người hành khất cùi!
Một sự kiện tương tự cũng đã xảy ra cho người hành khất mắc bệnh gàu đầu trước đây. Vì từ chối không chịu giúp đỡ theo lời khẩn cầu của thiên thần Chúa trong vai một người bị mắc bệnh gàu đầu - hình ảnh đáng thương của mình ngày xưa, ông chủ đàn bò đông đúc kia đã bị Thiên Chúa biến thành người hành khất mắc bệnh gàu đầu trở lại.
Rồi sau cùng, giả dạng một người mù, thiên thần Chúa lại tìm đến với anh nhà giàu kia, vốn là người hành khất mù trước đây, và ngỏ lời xin anh ta giúp đỡ. Anh này nhìn người khách mù với một vẻ thật trìu mến và thương cảm. Anh nói:
-"Ngày xưa, tôi cũng giống như anh bây giờ đấy, nhưng Thiên Chúa, Người đã dủ lòng thương tôi, ban cho tôi được như hôm nay. Vậy, để tỏ lòng biết ơn đối với Người, mời anh hãy quá bộ đến tệ xá, chia sẻ cuộc sống và của cải với tôi, tôi sẽ đích thân săn sóc cho anh.
Nghe xong những lời ấy, thiên thần Chúa liền bảo:
-"Anh vừa đạt kết quả tốt đẹp trong cuộc thử thách của Thiên Chúa. Anh thực sự xứng đáng được khen ngợi và được lãnh nhận phần thưởng mà Thiên Chúa đã và đang trao ban cho anh."
Nói rồi, thiên thần Chúa từ biệt anh ta ra đi...
Quả thật, đời sống con người chúng ta có những lúc thăng và có những lúc trầm. Chúng ta có thể ngã bệnh giữa lúc đang khỏe mạnh, đang tràn trề sinh lực, và cũng có thể sẽ lâm vào cảnh nghèo túng giữa lúc đang giàu có, sung sướng. Ước mơ rằng câu chuyện ba người hành khất này gợi hứng cho mỗi người chúng ta biết sống quảng đại và biết tỏ lòng cảm thông đối với tất cả mọi người, đặt biệt là đối với những kẻ bất hạnh, kém may mắn hơn chúng ta.
Đamien
11-09-2006, 04:44 PM
LÒNG THÀNH THẬT
Người ta thuật lại câu chuyện sau đây, tuy khó có thể xảy ra nhưng ý nghĩa của câu chuyện quả thực là sâu sắc:
"Ngày xưa, có một vị hoàng đế thích quần áo mới đến nỗi có bao nhiêu tiền của đều tiêu pha vào việc may mặc hết. Ngài không thiết gì đến triều đình, đất nước, mà chỉ thích khoe quần áo mới thôi. Suốt ngày, lúc nào Ngài cũng thay quần thay áo... Một hôm, có hai tên vô lại chuyên nghề lừa gạt tìm đến hoàng cung, tự xưng là thợ dệt và khoe rằng chúng biết dệt những thứ vải đẹp không thể nào tưởng tượng được. Ngoài các màu sắc và vân hoa tuyệt đẹp, thứ vải ấy còn có đặc tính phi thường này là: ai không chu toàn phận sự hoặc ngu độn quá thì không thể nào nhìn thấy thứ vải đó được. Nghe hai tên bịp bợm này nói, vị hoàng đế thích thú thầm nghĩ: "Phải, ta phải cho dệt ngay thứ vải quý ấy để may quần áo, vì chỉ cần mặc bộ quần áo ấy vào là ta có thể biết được trong các quan, ai là người tốt, ai là người xấu, hơn nữa, lại còn có thể phân biệt được người khôn với kẻ ngu!"
Thế là Ngài ban ngay cho hai tên đại bịp một món tiền lớn để chúng chuẩn bị dệt và may cho Ngài bộ quần áo kỳ lạ ấy. Ngày qua ngày, hai tên đại bịp bày ra hai khung cửi vốn chẳng có một chút gì trong khung và ngồi vào làm như đang dệt vải thực sự. Chúng luôn đòi hoàng đế phải cấp cho thứ tơ nhỏ nhất và đặt biệt là thứ vàng quý nhất, nhét tất cả vào túi, rồi tiếp tục miệt mài bên khung cửi rỗng tuếch.
Trong thời gian này, vì muốn biết công việc đã tiến hành tới đâu rồi nên nhà vua sai quan thừa tướng đi xem xét. Ông này đến chỗ làm việc của hai tên thợ dệt bịp bợm, cố giương thật to đôi mắt nhưng nào có gì đâu ngoài khung cửi trơ trụi. Quan nghĩ: "Trời ơi! Ta trở nên ngu độn hay sao thế này? Ta lại là kẻ không chu toàn phận sự sao, vì quả thật là ta chẳng nhìn thấy được thứ vải tuyệt diệu, kỳ lạ này! Phải rồi, chớ có nên tiết lộ rằng ta chẳng trông thấy tí gì!". Rồi sau khi đã công nhận trước mặt hai tên bịp bợm rằng thứ vải đang dệt ấy quả thật là tuyệt tuyệt đẹp, quan thừa tướng về tâu lại với hoàng đế là ông đã tận mắt nhìn thấy thứ vải ấy đẹp tuyệt như thế nào!
Ðược ít lâu, hoàng đế lại sai một tên quan tài giỏi khác nữa đến xem xét công việc và ông này cũng chẳng hơn gì quan thừa tướng. Ông cũng chẳng nhìn thấy gì ngoài hai khung cửi rỗng tuếch, nhưng lại có quá nhiều điều để tâu trình hoàng đế, nào là hoa văn tuyệt mỹ, nào là màu sắc hài hòa...
Từ đó, người ta bắt đầu kháo với nhau về tấm vải kỳ lạ ấy và mọi người dân trong thành ai nấy đều tấm tắc ca ngợi vẻ đẹp tuyệt mỹ của nó, vì không một ai muốn tỏ ra mình là kẻ ngu đần hoặc là kẻ không chu toàn bổn phận cả! Cuối cùng, không nhịn được sự tò mò, chính vị hoàng đế cũng thân hành đến xem vải ngay trên khung dệt. Ngài thấy hai tên thợ dệt vẫn miệt mài làm việc, mặc dù trên tay chúng chẳng có lấy một chút tơ sợi nào. Hoàng đế nghĩ thầm: "Hừ, quái thật! Ta chẳng nhìn thấy gì cả! Ta mà ngu đần sao? Ta chẳng phải là một vị đế vương nhân đức sao? Thế này thì còn gì nhục nhã cho bằng!" Rồi Ngài bấm bụng khen: "Ðẹp, đẹp lắm!". Tất cả một lũ nịnh thần đi theo hoàng đế, trong đó có cả quan thừa tướng và viên quan tài giỏi kia, đều phụ họa theo: "Thật là tuyệt vời!"
Suốt đêm hôm trước ngày lễ rước thần (vì hoàng đế tỏ ý muốn mặc bộ quần áo tuyệt mỹ và kỳ lạ này trong ngày lễ ấy), hai tên bịp bợm vờ như tháo tấm vải ra khỏi khung cửi rồi dùng một cái kéo thật to cắt qua cắt lại vào không khí, lấy kim không xỏ chỉ khâu khâu, đính đính... Sáng hôm sau, chúng mang vào cung trình hoàng đế xem, rồi yêu cầu ngài cởi hết quần áo ra, đứng trước tấm gương lớn để chúng mặc bộ quần áo mới nhẹ như mạng nhện vào cho Ngài. Hoàng đế nghe theo lời và hai tên đại bịp làm ra vẻ như mặc từng cái quần, từng cái áo vào người hoàng đế, rồi đưa tay quành ngang người Ngài làm như thể khoác đai lưng cho Ngài. Xong, vị hoàng đế xoay qua xoay lại trước gương ngắm nghía. Lúc ấy, bọn nịnh thần đồng thanh kêu lên: "Trời! Bộ quần áo mới đẹp làm sao! Ðến là vừa khít!" Vừa kịp lúc quan trưởng lễ đến thông báo giờ rước thần đã điểm, thế là vị hoàng đế cùng đám quần thần bước ra. Ngài ung dung đi theo đám rước dưới chiếc long tán lộng lẫy. Người người đứng chật ních hai bên đường, ai ai cũng tấm tắc khen bộ quần áo mới của hoàng đế thật tuyệt đẹp, không gì có thể sánh bằng. Chẳng một ai dám thú nhận rằng mình là không trông thấy gì cả, vì chẳng ai muốn mình phải mang tiếng là ngu đần hoặc vô trách nhiệm.
Bỗng từ trong đám đông, có tiếng một đứa trẻ thốt lên:
-A! Hoàng đế cởi truồng!
Thế là người nọ rỉ tai nói với người kia:
-Nhìn hoàng đế cởi truồng kìa! Có một thằng bé bảo hoàng đế cởi truồng.
Cuối cùng, toàn thể nhân dân đều nhìn nhận và kêu lên:
-Hoàng đế của chúng ta đang cởi truồng thật!
Hoàng đế có nghe thấy điều ấy và Ngài nghĩ hình như dân chúng nói đúng, nhưng dù sao cũng phải đi rước thần cho xong xuôi đã. Và Ngài vẫn đường hoàng đi theo đám rước cho đến lúc tan cuộc, theo sau Ngài là các qua thị vệ vẫn đưa tay đỡ lấy cái đuôi áo tưởng tượng!..."
Đamien
11-09-2006, 04:45 PM
Thiết tưởng Giáo hội ngày nay cần phải có thái độ giống như thái độ của chú bé con trong câu chuyện trên đây! Vì Giáo hội ngày nay không phải là một Giáo hội sống cách biệt trên một hoang đảo xa xôi, cũng không phải là một Giáo hội chỉ tư duy những điều xa thực tế, hoặc hoạt động cách xa từ bao dặm đường, nhưng là một Giáo hội sống ở giữa đông đảo quần chúng, trong lòng thế giới, nên Giáo hội phải sẵn sàng có một lập trường khác biệt, nhưng đúng đắn, nếu cần có thể chấp nhận mình hơi "khùng" đôi chút cũng không thiệt hại gì. Giáo hội phải luôn đứng về phía cởi mở, đổi mới, không sợ hãi, lo lắng cho bản thân, sẵn sàng và cương quyết nói thẳng, nói thật. Tắt một lời: Giáo hội cần phải can đảm. Giáo hội phải nói lên tiếng nói riêng của mình, giữ vững lập trường và bảo vệ quan niệm thực sự đúng đắn của mình ở giữa đám đông, cho dù phải trả bất cứ một giá đắt nào về sự khác biệt của tiếng nói, lập trường và quan điểm của mình. Nếu không thì Giáo hội sẽ dễ dàng có nguy cơ bị lạc mất trong đám đông và rồi sẽ cũng giống như bao người khác, không nói, không làm; dĩ nhiên, cũng chẳng có gì gọi là đặc biệt khác với mọi người. Trong các kinh thành, ở giữa những thị trấn, giữa những làng quê nhỏ bé, người ta dễ dàng nhận ra những ngôi thánh đường với những ngọn tháp cao vút. Tuy nhiên, ai dám quả quyết rằng những ngôi thánh đường này không bao giờ lại có thể trở nên lạc lõng, bị mất hút, tựa như chúng đã được xây cất giữa một cái hải đảo hoang vắng xa xôi ngoài đại dương bao la?
Thật vậy, điều này vẫn có thể xảy ra nếu Giáo hội không cố gắng làm cho mình được hiện diện bằng nhiều cách thế trong nhiều trạng huống khác nhau. Tự bản chất, Giáo hội mang trong mình nhiệm vụ phải luôn luôn hiện diện, phải hô to lên những gì mà Phúc Âm Kitô cần nói ở giữa quần chúng trong từng ngàn từng vạn thành thị, phố xá, làng quê, vùng sâu vùng xa và phải kiên trì bảo vệ lập trường đúng đắn của mình, cho dù lập trường này có khác biệt với lập trường của đa số quần chúng. Quả thật, tất cả chúng ta đều biết rằng đây là điều rất khó thực hiện. Ðể mình hòa lẫn vào trong đám đông hoặc tự thu mình lại, ngồi lì trong một hải đảo thì dễ dàng biết mấy! Tuy nhiên, vẫn còn có không ít những người chấp nhận cởi mở, sống thành thật, sẵn sàng dấn thân và cả "liều lĩnh" nữa, nếu cần, để trở nên "dũng cảm cho sự thật" (John Bunyan, trong cuốn Pilgrims Progress). Trong trường hợp này, Giáo hội có thể trở thành một "hiện tượng địa dư" chứ không phải là một hải đảo! Lúc đó, Giáo hội trở nên một ốc đảo, nơi mà sự dấn thân, sự phong phú và một cuộc sống mới có thể được phát triển rộng lớn trên khắp vùng sa mạc.
Linh mục Schillebeeckx, O.P người Hà Lan, một thần học gia nổi tiếng, đã mô tả điều đó như sau: "Giáo hội được mời gọi hát lên bài ca của Thiên Chúa ở giữa lòng thế giới. Giáo hội là một bài thơ ở giữa đoạn văn xuôi. Giáo hội sống giữa trần gian nhưng lại không thuộc về trần gian. Giáo hội phải từ bỏ đi lối "làm bộ làm điệu" và vẻ huy hoàng lộng lẫy của mình, để mặc lấy trọng trách rao truyền Tin mừng của tình thương, sự đón nhận, sự tha thứ, hòa bình và công lý, và không phải Giáo hội rao giảng từ chỗ an toàn của một hải đảo xa xôi cách biệt nào đó, nhưng là từ một chỗ dễ bị thương tích ở ngay giữa đám quần chúng đông đảo".
Thực sự, lịch sử đã chứng minh cho thấy có rất nhiều tín hữu Kitô đã sống và hành động gương mẫu như thế. Nhưng còn chúng ta thì sao? Trước khi có thể bắt chước lòng thành thật và sự đơn sơ của thằng bé con trong câu chuyện "Bộ quần áo mới của vị hoàng đế" trên đây, chúng ta còn phải biết thực hiện nhiều điều khác nữa. Chúng ta phải dứt khoát từ bỏ cách "làm điệu làm bộ" và sự lộng lẫy của bản thân mình, tự cho mình quan trọng hơn những người khác, hoặc cho chính mình là "cái rốn của vũ trụ".
Đamien
11-09-2006, 04:47 PM
KHÔNG NÊN TẬP CHO MIỆNG MÌNH NÓI DỐI
Người ta có thuật lại câu chuyện sau đây :
"Có một vị mục sư, đồng thời cũng là Giám đốc của một Học viện kia gặp khó khăn với người vợ của mình. Mỗi lần ông này muốn ăn cháo đậu vào bữa ăn chiều thì bà vợ lại nấu và dọn lên cho ông món cháo khoai; ngược lại, khi ông muốn ăn cháo khoai thì bà ta lại nấu cho ông món cháo đậu! Cứ thế tình trạng đối nghịch kéo dài mãi trong một năm.
Hai ông bà mục sư có một cậu con trai và cậu ấm vẫn thường theo bố ngày ngày đến Học viện. Cũng trong thời gian này, cậu ấm ta được bố sai về xin mẹ nấu món cháo mà ông thích, khi thì cháo khoai, khi thì cháo đậu. Ðược ít lâu ông mục sư này lấy làm ngạc nhiên và thích thú vì dường như tình hình đã thay đổi hẳn: hôm nào ông thích thú món gì là "y như rằng" ông được dọn cho ăn món ấy! Ông vui mừng nói với cậu ấm:
-"Mẹ con dạo này xem ra tiến bộ lắm!"
Hiểu ý bố muốn đề cập đến chuyện gì rồi, cậu ấm trả lời:
-"Thưa bố, chẳng có như vậy đâu! Chính con đã làm ngược lại lời bố dặn dò thôi! Khi bố muốn ăn món cháo đậu thì con về nói với mẹ là bố thích ăn cháo khoai, và ngược lại, khi bố dặn món cháo khoai thì con lại về thưa với mẹ là món cháo đậu. Thế là ngày nào bố cũng được dùng như sở thích!"
-"Con quả là tài tình! - Ông mục sư vừa cười vừa nói với con trai, nhưng rồi ông nghiêm mặt lại, nói tiếp - dù sao thì từ nay con không được làm như thế nữa nhé! Con không nên tập cho miệng lưỡi con nói dối!".
Quả đúng như vậy! Nói đúng sự thật bao giờ cũng quan trọng hơn là đạt được điều mình muốn! Có lẽ người vợ của vị mục sư đáng thương trong câu chuyện trên đây đã xử sự như thế là có ý cảnh cáo đức ông chồng vì đã dành quá nhiều thời giờ cho Học viện nhưng lại quan tâm quá ít đến gia đình. Thủ đoạn của bà cũng khá tài tình, nhưng điều này cũng làm gián đoạn sự thông cảm thực sự cần thiết giữa vợ chồng với nhau.
Nói ra sự thật, điều đó làm cho con người chúng ta dễ dàng thông cảm với nhau hơn. Rất nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ rằng: không nên nói dối để thủ lợi cho bản thân mình! Nhưng trên thực tế, quả thật là đáng buồn, vì nhiều khi chính chúng ta chỉ