View Full Version : Trường Thi Tử Đạo
Đamien
29-08-2006, 06:50 PM
Trường Thi
Tử Đạo
http://www.vncatholic.org/images/19880619_andrea_dung-lac.jpg
NGUYỄN VĂN LUYẾN
http://gpnt.net/images/tdvn/gioithieu.JPG
admin
29-08-2006, 09:02 PM
LỜI NÓI ÐẦU
Kính thưa quý độc giả,
Mỗi vị thánh Tử đạo là một nốt nhạc, đã được đại nhạc sĩ Chúa Thánh Thần hoà kết lại, làm nên bài ca ngàn trùng của lịch sử Tử Ðạo Việt Nam. Và mỗi người chúng ta được mời gọi đặt để cuộc đời của chính chúng ta tiếp nối vào bản trường ca hùng tráng đó.
Chứng nhân đức tin. Lòng dũng cảm của các thánh Tử đạo đã chứng tỏ niềm tin sắt đá của các ngài vào thập giá Chúa Kitô. Dẫu biết rằng việc tuyên xưng đức tin và sống theo đức tin chắc chắn gây bất lợi và ngay cả nguy hiểm cho mạng sống các ngài, nhưng nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần mà các ngài luôn hiên ngang tuyên xưng niềm tin, hầu nêu gương sáng cho mọi người. Chẳng hạn như: Thánh Micae Hồ Ðình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê Thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả chỉ vì tình yêu Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa. Các thánh Tử đạo Việt nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương.
Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa.
Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ, nên các ngài không chỉ yêu mến Chúa khi bình an, mà còn trong những khi gặp gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phaolô: "Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Rm 8,35-39).
Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí, để đáp lại tình yêu của Ðức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống mình hầu minh chứng tình yêu với Chúa.
Tình yêu cuộc sống bất diệt. Các ngài là những người yêu mến cuộc sống, không phải một cuộc sống tầm thường, nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như: lý tưởng, tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất, một cuộc sống trung thực không giả dối, một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn, nhưng mở ra đến vĩnh cửu, một cuộc sống không hạ con người xuống, nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Vì thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng cho đức tin, để bảo vệ và xây dựng Giáo hội.
Yêu thương không hận thu. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết, không có ai tỏ lòng oán hận. Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa, nên rộng toả tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền, nên không biết đến sự thù ghét, sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. "Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó" (Fulton Sheen). Ðộng lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Ðó chính là điều mà chúng ta có thể bắt chước các ngài.
Sống chứng tá đức tin. Chúng ta là những người kế thừa mầm sống đức tin ấy. Vậy, chúng ta phải làm gì để bảo vệ mầm sống ấy ngày càng lớn mạnh và phát triển trong cuộc sống của chúng ta. Muốn vậy, chúng ta phải biết chết đi mỗi ngày, chết đi cho con người cũ: con người của những hiềm thù ghen ghét, con người của những nghi kỵ dèm pha, con người của những chia rẽ bất hoà, con người của những hoài nghi ngờ vực, con người của những tham lam ích kỹ. để sống trong yêu thương, tha thứ, bao dung, khiêm nhường hầu làm chứng cho đức tin.
Lạy các thánh Tử đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương, cho Giáo hội Việt Nam và cho mỗi người chúng con.
Tập thơ "Trường Thi Tử Ðạo" được ra mắt với sự động viên của Ðức Cố Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nho, nguyên Giám Mục Phó Giáo phận Nha Trang. Mặc dầu tập thơ này còn nhiều khiếm khuyết, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng nó đáp ứng được phần nào sự chờ đợi của quý độc giả, nhất là cho những ai có lòng khao khát tìm hiểu, học hỏi và yêu mến các thánh Tử đạo Việt Nam.
Tập thơ này được trình bày như sau:
- Mỗi vị thánh được xếp theo Niên Lịch Tưởng Nhớ,
- Lược sử, ngày phong Chân phước và Hiển thánh,
- Thơ,
- Lời bất hủ (Lời tâm niệm).
Rất mong sự đón nhận của quý độc giả.
Oklahoma 2003 Năm Quý Mùi
NGUYỄN VĂN LUYẾN
admin
29-08-2006, 09:06 PM
KÍNH DÂNG
CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM
Noi gương các thánh đã hy sinh
Bền đỗ kiên gan rất nhiệt tình
Tra tấn khổ hình không khuất phục
Vững lòng trông cậy Mẹ Ðồng Trinh
Anh hùng tử đạo thật hiên ngang
Mạng sống hiến dâng quyết sẵn sàng
Phú quý trần gian từ bỏ hết
Hồng ân Chúa thưởng phúc thiên đàng
Pháp trường trảm quyết vẫn tung hô
Thiên Chúa vinh danh rõ ý đồ
Gươm chém chặt đầu không nản chí
Máu đào tử đạo các Tông đồ
Máu đào tử đạo rực Trời Nam
Nhân chứng đức tin thật vững vàng
Triều Nguyễn quan quân luôn bách hại
Tin mừng nước Việt Chúa thương ban
Ðức Nho, ngài đã động viên
Viết về tử đạo khắp miền Việt Nam
Vần thơ Văn Luyến sẵn sàng
Gương lành các thánh vững vàng hy sinh
Ðức Nho Chúa gọi Thiên Ðình
Tập thơ thực hiện biết trình đệ ai
Xin vâng lãnh ý của ngài
Tôn vinh các Thánh Thiên Ðài quang vinh
Đamien
30-08-2006, 08:43 PM
Ngày 13 tháng 01:
Thánh Ðaminh PHẠM TRỌNG KHẢM
Sinh: Khoảng 1780
Quê quán: Làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh (nay thuộc Giáo phận Bùi Chu)
Chức vị: Quan án sát (Giáo dân)
Tử đạo: 13-01-1859 Xử giảo tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Bảy chín tuổi cụ Phạm Trọng Khảm
Sống qua thời dưới tám triều Vua
Gia đình Quần Cống quê mùa
Mẹ cha phú quý chẳng thua thị thành
Phần con cái hạ sanh được bảy
Cả gái trai hết thảy đều ngoan
Mười tám tuổi quen một nàng
Kết hôn chị Phượng người làng đoan trang
Vợ chồng sống đảm đang đạo đức
Ðược bốn con rất mực nết na
Cụ ham học, giỏi tề gia
Dùi mài kinh sử thật là thông minh
Thi đỗ đạt Triều đình phong chức
Án Sát Quan nhất mực thanh liêm
Nhưng sau cụ bị tố liền
Là người Công giáo vua truyền nghe theo
Bị cách chức, phẩm đeo lột hết
Về xóm làng, khăn xếp bạch đinh
Ðức tin cụ vẫn nhiệt tình
Bước theo chân Chúa, tôn vinh danh Ngài
Nơi làng cũ triển khai làm ruộng
Rất cần cù ưa chuộng tình thương
Giúp người lạc lối lỡ đường
Giàu lòng bác ái giáo lương một nhà
Chia của cải gần xa nghèo túng
Nhập dòng ba hướng đúng Ðaminh
Nghèo hèn cụ trọng chẳng khinh
Ðón mời kẻ khó gia đình ăn chung
Ðược Cha xứ trong vùng tín nhiệm
Ðặt làm trùm đại diện giáo dân
Sau bầu lý trưởng thấy cần
Phải nhờ Giám mục lãnh phần động viên
Cụ Trọng Khảm nể liền đảm nhận
Rất nhiệt tình tường tận giúp dân
Các Thừa sai khắp xa gần
Những ngày gặp khó ân cần giúp ngay
Dân mộ mến thăng ngay Tiên Chỉ
Vẫn giữ luôn hoan hỉ đạo đời
Thanh liêm vọng tiếng khắp nơi
Án Quan từ bỏ rạng ngời đức tin
Tại Bảy Mẫu vui nhìn xử trảm
Chúa thưởng ban xứng đáng Nước Trời
Ðaminh Trọng Khảm lìa đời
Ðược phong Hiển thánh rạng ngời Thiên Cung
Quan Án Sát oai hùng từ bỏ
Trong gia đình giàu có sẻ chia
Bạch đinh từ chối mũ hia
Lý hình xử giảo cắt lia thân mình
Phạm Trọng Khảm hy sinh tử đạo
Vẫn kiên trung loan báo Tin mừng
Thánh nhân gương mẫu sáng trưng
Tôn vinh danh Chúa lẫy lừng năm Châu
Phạm Trọng Khảm sinh đầu Canh Tý (1780)
Năm Kỷ Mùi (1859) vì đạo chứng minh
Tân Mão (1951) Toà Thánh thuận tình
Suy tôn Chân phước hiển vinh Nước Trời
Lời bất hủ: Thánh nhân can đảm tuyên bố trước anh em binh sĩ: "Kẻ nào trong anh em đạp lên Thánh giá, khi quan về, tôi sẽ đuổi ra khỏi làng, sẽ không có chốn nào chôn xác đâu".
Lời tâm niệm chung 1: Chúng ta noi gương các thánh Tử đạo Việt Nam, hết lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người, bằng cách giúp đỡ tha nhân phần hồn lẫn phần xác, trọn đời chịu cực chịu khó để tin thờ Thiên Chúa, sẵn sàng hy sinh giúp đỡ những người làm việc tông đồ, và nâng đỡ anh em đồng đạo, trung thành với Chúa, với Giáo hội cho đến hơi thở cuối cùng...
Đamien
30-08-2006, 08:52 PM
Ngày 13 tháng 01:
Thánh Giuse PHẠM TRỌNG TẢ
Sinh: 1800
Quê quán: Làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh (nay thuộc Giáo phận Bùi Chu)
Chức vị: Cựu Chánh Tổng (Giáo dân)
Tử đạo: 13-01-1859 Xử giảo tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cựu Chánh Tổng ông Phạm Trọng Tả
Chọn quan thầy Thánh cả Giuse
Gia đình sung túc đề huề
Canh Thân (1800) năm đẻ thuộc về Phú Nhai (Nam Ðịnh)
Làm Chánh Tổng công khai sống đạo
Việc ngoài đời thông thạo an dân
Tiếng thơm nổi khắp xa gần
Hể ông mà nói là dân nghe liền
Trong công việc bạc tiền không tưởng
Bởi thế nên ảnh hưởng càng cao
Từ ngày cấm đạo phong trào
Trăm nghìn việc khó đổ vào cho ông
Làm thế nào để không bắt bớ
Làm thế nào để đỡ giáo dân
Cha con bàn bạc xa gần 1
Dĩ hoà vi quý phải cần làm ngay
Phạm Trọng Tả mấy ngày tiếp xúc
Tình hình ta mỗi lúc một êm
Ai ngờ cháy đổ dầu thêm
Công xá một nhóm nửa đêm công đồn 2
Gặp Trọng Tả quan dồn tra hỏi
Việc xảy ra đây hỏi tại ai
Mưu sâu ông sắp sẵn gài
Bắt luôn tra tấn một hai chạy trời
Ông bị bắt dân thời thương tiếc
Rất hoan nghênh những việc ông làm
Thế trần của cải chẳng ham
Xoá nợ, giảm lãi việc làm của ông
Bà thấy thế như không đồng ý
Ông nói làm theo chỉ đạo Cha
Hôm qua mình tội Cha tha
Hôm nay người nợ bỏ qua được rồi
Còn những việc tày trời hơn nữa
Quan tập trung dân giữa sân trường
Trưa hè trời nắng thảm thương
Ðặt cây Thập giá giữa đường bước qua
Trong lúc đó trẻ già trai gái
Còn phân vân ngần ngại biết sao?
Ngoài xa ông nhảybổ vào
Ai mà quá khoá thì tao đánh đòn
Quan thấy thế chẳng còn ngần ngại
Bắt trói ông giam tại huyện đường
Ðánh đập tra tấn thảm thương
Làm đơn đề nghị tỉnh đường xử ngay
Kỷ Mùi (1859) tháng một Mùa chay
Phúc tử vì đạo đúng ngày mười ba
Tân Mão (1951) Toà Thánh ban ra
Tấn phong Chân phước hoan ca Nước Trời
------------
1/ Cha con bàn việc với Ðức Cha Xuyên.
2/ Ở Công Xá có một nhóm quá khích nổi dậy.
Lời bất hủ: Vị thánh đã tuyên xưng đức tin của mình trước quan, qua bản viết như sau: "Tôi là một Kitô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ".
Lời tâm niệm chung 2:
Chúng ta cảm mến các thánh Tử đạo Việt Nam, dù là công chức nhà vua, nhưng các ngài vẫn can đảm sống đời Kitô hữu của mình, dẫu có gặp phải trăm ngàn khốn khó, có khi nguy hại đến tính mạng, các ngài vẫn một lòng trung thành với đức tin, yêu mến Chúa hết lòng, và năng khuyên bảo đồng đạo đừng bao giờ phạm tội dù là tội nhẹ, bằng cái chết anh dũng của mình, các ngài là nhân chứng hùng hồn cho Chúa Kitô đã chịu chết và Phục sinh để cứu chuộc loài người.
Đamien
30-08-2006, 08:58 PM
Ngày 13 tháng 01:
Thánh Luca PHẠM TRỌNG THÌN
Ngài là con trai của thánh Ðaminh Phạm Trọng Khảm
Sinh: 1820
Quê quán: Làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh (nay thuộc Giáo phận Bùi Chu)
Chức vị: Chánh tổng ( Giáo dân)
Tử đạo: 13-01-1859 Xử giảo tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cai Phạm Trọng Thìn con cụ Án
Trí thông minh xứng đáng Tổng Cai
Chuyên cần tầm vóc đẹp trai
Quen nhiều quan lại vấp sai lỗi lầm
Lòng thay đổi tà tâm vợ nhỏ
Là cô Trung, Thìn ngó thấy xinh
Quê Trà Lũ đã liều mình
Thờ ơ việc đạo, coi khinh vợ nhà
Nghe tin đó Bố già khuyên nhủ
Cha ngồi tòa khuyên dụ thành tâm
Ăn năn sám hối lỗi lầm
Thật lòng Chúa sẽ dắt cầm tay con
Rồi từ đó vuông tròn trách nhiệm
Ông trở thành thánh thiện mẫu gương
Gia đình trên thuận dưới nhường
Cai Tổng uy tín yêu thương nghĩa tình
Thìn với Bố Triều đình cho bắt
Cùng giáo dân bị dắt vô tù
Nhốt chung tất cả một khu
Khuyên nhau chịu khổ đòn thù dã man
Cai Thìn hỏi liên can án tội
Quan cho hay là lỗi chống Vua
Ông đề nghị bốn chữ chua
Bất khẳng quá khóa nhà Vua thực hành
Họ mừng rỡ vì danh Thiên Chúa
Là hồng ân chan chứa ban cho
Pháp trường chung một chuyến đò
Lý hình xử giảo đầy no ơn lành
Thánh Tử đạo lưu danh đất Việt
Tưới vun trồng oanh liệt máu hồng
Ðức tin cứu độ cậy trông
Thiên đàng Chúa thưởng con Rồng cháu Tiên
Phạm Trọng Thìn sinh Niên Canh Thìn (1820)
Tại Quần Cống áo mão Tổng cai
Luca tên thánh của ngài
Chịu tử vì đạo tháng hai Kỷ Mùi (1859)
Năm Tân Mão (1951) mừng vui Chân phước
Bỏ trần gian lãnh được Nước Trời
Roma phong thánh cho ngài
Lên hàng Á thánh an bài thiên cung
Lời bất hủ: "Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng chịu mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết điều này. Luca Thìn".
---------------------
Lời tâm niệm chung 3:
Chúng ta noi gương các thánh Tử đạo Việt Nam, các ngài là những người con hiếu thảo, tôn kính, giúp đỡ và vâng lời bố mẹ, xứng danh đạo kẻ làm con. Về đạo, các ngài vững lòng tin cậy mến với Thiên Chúa chí tôn, trung thành với Hội thánh, hằng thương giúp tha nhân, tận tuỵ với công việc trách nhiệm mục vụ của mình, can đảm viết bản tuyên xưng đức tin của mình trước quan quyền vua chúa, vui vẻ chấp nhận đau khổ cực hình vì Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ...
Đamien
31-08-2006, 08:16 AM
Ngày 22 tháng 01:
ThánhMatthêu ALONSO LICINIANA ÐẬU
Tên Tây Ban Nha của ngài là: Mattheo Alonso Liciniana
Sinh: 26-10-1702
Quê quán: Tại Nava del Rey, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Linh mục thừa sai dòng Ðaminh. Cha rao giảng Tin mừng rất nhiều nơi, nay thuộc Giáo phận Thái Bình và Bùi Chu.
Tử đạo: 22-01-1745 xử trảm tại Thăng Long đời Trịnh Doanh
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Matthêu Ðậu nêu gương anh dũng
Trước gian nguy Cha cũng hiên ngang
Thừa sai giảng đạo vững vàng
Xa rời Cố Quốc lên đàng truyền rao
Ơn Thiên Triệu biết bao cao quý
Ví đạo Trời quyết chí hy sinh
Ðầu tiên Ngài ở Trung Linh
Việt Nam Bắc Việt Triều đình lùng săn
Trong năm tháng học chăm tiếng Việt
Cha thông minh hiểu biết lẹ mau
Ðặt tên Ðậu bước khởi đầu
Giáo dân dễ nhớ mặc dầu người Tây
Cha đi lại đó đây đường bộ
Cũng có khi giả bộ thuyền chài
Tông đồ rao giảng công khai
Những nơi nguy hiểm nhưng Ngài vẫn đi
Mở nước Chúa sợ chi cản trở
Nếu bắt ta cũng ở ý Trời
Mười năm Cha trốn khắp nơi
Bao lần thoát hiểm Ngài thời vững tin
Người Kẻ Bái đắm chìm chối đạo
Tên Chính Nam họ báo cho Cha
Ngài liền tìm đến tận nhà
Gặp ông khuyên nhủ thật là khôn ngoan
Tại đất Bắc lan tràn dịch tễ
Cha chăm lo bất kể giáo lương
Giầu lòng bác ái phi thường
Ngày đêm đi khắp nẻo đường cứu dân
Một giáo hữu bất thần xớn xác
Lên tâu quan tố giác nơi Cha
Khi đang dâng lễ tại nhà
Lính quan ùa đến bắt Cha túm đầu
Ðạp vào hông nghe đau té xuống
Lột áo Ngài đụng nhuốm máu đầu
Áp giải đi suốt đêm thâu
Ðưa về Hà Nội ngõ hầu tống giam
Ðến ngày xử Ngài van lãnh án
Cùng Cha Tế người bạn đồng hành
Chúa Trịnh ký án rất nhanh
Hai Cha bị trảm ngoại thành Thăng Long
Trời mưa xuống thấm trong vết máu
Giơ tay lau đau thấu ruột gan
Hai Cha vui vẻ hân hoan
Giáo dân kéo tới xin ban phép lành
Một tên lính đứng canh nói vội
Vua rất ghét phách lối cả gan
Ðạo gì lừa gạt nhân gian
Chém đầu đứt cổ Thiên đàng ở đâu
Cha Ðậu nói phép mầu Chúa xuống
Cứu linh hồn lên chốn Thiên đàng
Xác thân tro bụi tiêu tan
Vua quan cũng vậy suy tàn diệt vong
Lý hình Nhuệ thật lòng sám hối
Cầu xin Cha tha lỗi cho con
Lạ lùng bệnh hết không còn
Thành tâm sám hối lãnh tròn ơn thiêng
Matthêu Ðậu năm sinh Nhâm Ngọ (1702)
Tại Navarey nước họ (Tây) Ban Nha
Ất Sửu (1745) tử đạo xứ ta
Bính Ngọ (1906) phong thánh danh Cha sáng ngời
Lời bất hủ: Quan trấn Sơn Nam lúc đó là Lê Văn Phượng hỏi cha Matthêu Ðậu rằng: "Ông có biết lệnh vua cấm giảng đạo không?" Cha đáp: "Chính vì cấm, tôi mới phải ẩn trốn chứ". Quan liền thảo bản án trảm quyết Cha Ðậu.
Đamien
31-08-2006, 08:22 AM
Ngày 22 tháng 01:
Thánh Phanxicô FEDERICH TẾ
Tên Tây Ban Nha của Ngài là: (Francis Gil de Federich)
Sinh: 1702
Quê quán: Tại Tortosa, nước Tây Ban Nha
Chức vị: Linh mục thừa sai dòng Ðaminh. Cha rao giảng Tin mừng nhiều nơi, nay thuộc Giáo phận Thái Bình và Bùi Chu.
Tử đạo: 22-01-1745 Xử trảm tại Thăng Long đời Trịnh Doanh
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cuộc tử đạo linh mục Federich Tế
Tại Việt Nam phải kể đầu tiên
Mười lăm tuổi nhập tu liền
Thụ phong linh mục qua miền nước Phi
Thừa sai Pháp xin đi rao giảng
Nhưng bề trên ngăn cản không cho
Rôma thuyên chuyển thăm dò
Nơi đây cứu xét thuận cho lên đường
Cha được gởi quê hương miền Bắc
Nước Việt Nam dìu dắt đoàn chiên
Ngài lo tiếng Việt học liền
Ở làng Lục Thủy thuộc miền tỉnh Nam
Cùng Cha Tế cộng đoàn dâng lễ
Ðang cám ơn như thể chia tay
Toán người ập đến bao vây
Xông vào lục soát chốn này hung hăng
Cha liền bảo thưa rằng chạy trốn
Còn phần Cha khiêm tốn nạp mình
Giuse khẩn nguyện cầu kinh
Xin Ngài phù hộ an bình cho Cha
Nhìn bọn chúng Ngài đà liền hỏi
Ði tìm ai Người nói ta đây
Sư Tình ra lệnh lấy giây
Bắt Cha trói lại đưa ngay xuống thuyền
Mấy giáo hữu theo liền đứng ngó
Tại bờ sông chúng nó bắt luôn
Lòng Cha Tế rất u buồn
Bắt tôi là đủ tha luôn mấy người
Như mệnh lệnh chúng thời cởi trói
Trả tự do tiếng nói Sư Tình
Ðem Cha Tế giam một mình
Thủy Nhai Thượng để Sư Tình hỏi Cha
Ngươi bị bắt gặp ta có sợ
Ngài trả lời giúp đỡ giáo dân
Riêng ta vì Chúa đâu cần
Sư Tình sai lính tay cầm gươm đao
Cột nhà hội trói vào Cha Tế
Án tử hình chúng để ngay bên
Triều đình ban lệnh nói lên
Nhưng Cha đâu sợ ngày đêm rao truyền
Chúng móc nối đòi tiền để chuộc
Thả Cha ra bắt buộc khó khăn
Năm trăm lượng đổi Chủ chăn
Giáo dân thấy vậy thưa rằng quan trên
Cử đại diện thưa lên thượng đỉnh
Quỷ quyệt thay sẵn tính bạo tàn
Cấp cao lại quá tham lam
Thả câu nước đục liên can Sư Tình
Giữ đạo trưởng nhà mình trái phép
Phải lo tiền khỏi ghép tội oan
Quan trên lợi cả đôi đàng
Kinh đô đem nộp Thượng Hoàng thưởng công
Tội Cha Tế đeo gông khổ cực
Tại trại giam nóng nực khổ đau
Quan lo tìm thuốc chữa mau
Người nhà săn sóc ngõ hầu hỏi cung
Tại Phủ Chúa quyền dùng kháng cáo
Cơ hội này loan báo giáo dân
Cử Cha Ðậu đóng góp phần
Ði qua Phủ Chúa tới gần đưa Quan
Chúa Trịnh thấy Cha gan can đảm
Tại Ðồng Mơ xử trảm hai Cha
Pháp trường giáo hữu gần xa
Ðọc kinh tin kính tiễn Cha lên đường
Linh mục Tế sinh năm Nhâm Ngọ (1702)
Tại Tostosa nước họ (Tây) Ban Nha
Ất Sửu (1745) tử đạo nước ta
Bính Ngọ (1906) phong thánh hoan ca Nước Trời
Lời bất hủ: Cha trả lời quan tra hỏi: "Chẳng ai có quyền cấm giảng đạo Thiên Chúa đã truyền loan báo cho mọi dân mọi nước. Ai cấm, tức là cướp quyền của Thiên Chúa".
------------------
Lời tâm niệm chung 4:
Các Thánh Thừa sai Tử đạo đã không sợ đường xa dậm thẳng, vượt trùng dương nguy hiểm đến đất Việt Nam chúng ta, để rao giảng Tin mừng cho con dân nước Việt, chúng ta cảm ơn các ngài lắm lắm, và xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho các ngài. Nhìn lại chung quanh chúng ta còn nhiều người chưa biết Chúa, chúng ta nguyện xin Chúa cho mỗi người chúng ta có tâm hồn rộng mở và sốt sắng rao truyền Tin mừng cho nhiều người quanh chúng ta, như các Thánh nhân thuở xưa, và nhất là sống Lời Chúa ngay giữa những người trong gia đình và láng giềng của chúng ta.
Đamien
31-08-2006, 08:26 AM
Ngày 30 tháng 01:
Thánh Tôma KHUÔNG
Sinh: Khoảng 1780
Quê quán: Làng Nam Hoà, xứ Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc Giáo phận Thái Bình.
Chức vị: Linh mục dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 30-01-1860 Xử trảm tại Hưng Yên đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thời Trịnh Nguyễn rộng đường danh vọng
Cha Tuần Phủ ô lọng Hưng Yên
Cậu Khuông thông thái nhất miền
Ðược ơn Chúa gọi chăn chiên Nước Trời
Cậu theo học dâng đời Chủng viện
Là Tông đồ tận hiến thiết tha
Thụ Phong Linh Mục làm Cha
Khiêm cung đạo đức thật là khôn ngoan
Khéo giao thiệp giỏi giang rao giảng
Loan tin mừng can đảm tuyên xưng
Ðaminh gia nhập đón mừng
Gia đình thánh hóa không ngừng canh tân
Khéo thân thiện ba lần cấm đạo
Bắt giữ Cha chúng bảo cho về
Các nơi Ngài vẫn say mê
Nhủ khuyên giáo hữu lời thề sắt son
Cuộc bách hại lại còn mãnh liệt
Tự Ðức vua tiêu diệt thẳng tay
Các làng Công giáo nơi này
Ðứng lên tự vệ Cha hay can liền
Cha quyết định đi liền nơi khác
Quân lính canh đứng gác đầu cầu
Mọi người qua lại nơi đâu
Bước qua Thập Giá ngõ hầu cho đi
Cha khẳng khái tức thì quay lại
Chúng bắt ngay áp tải giải quan
Ông Tổng Ðốc tố cáo gian
Âm mưu theo Pháp để làm tay sai
Cha khẳng định thưa Ngài Tổng Ðốc
Người Việt Nam ai ngốc ai ngu
Chính quyền chống đối theo thù
Quê hương cầu nguyện thiên thu an bình
Cuộc đấu lý thấy mình bị hố
Quan Tổng Ðốc tuyên bố đổi thay
Nếu Cha thực hiện điều này
Bước qua Thánh Giá tha ngay về nhà
Tám mươi tuổi tôi là Linh Mục
Tôi luôn luôn hun đúc giáo dân
Phúc âm lời Chúa trọn phần
Yêu người mến Chúa nếu cần hy sinh
Quan Tổng Ðốc Triều Ðình kính đệ
Tự Ðức Vua phê để chuẩn y
Cha vui chuẩn bị bước đi
Chống gậy Thánh Giá thực thi ý Trời
Quân lính dẫn tới nơi để xử
Cha Khuông quỳ nghĩa cử trang nghiêm
Trước cây Thánh Giá đầu nghiêng
Lưỡi gươm đón nhận tới miền Thiên Cung
Cho đến phút cuối cùng cái chết
Của cuộc đời đã kết thành hoa
Dâng lên tới chốn Thiên Tòa
Tràng hoa tử đạo Tôma trung thành
Tôma Khuông năm sanh Canh Tý (1780)
Tại Nam Hào Phú Hậu Hưng Yên
Suốt đời rao giảng nhủ khuyên
Canh Thân (1860) tử đạo trong niềm hân hoan
Năm Tân Mão (1951) chứa chan chân phước
Công sức nhiều nay được hiển vinh
Hồn ngài về chốn thiên đình
Ðời đời hưởng phúc trong tình Cha con
Lời bất hủ: Quan khuyên cha bỏ đạo, bước qua Thập giá, khuyên tín hữu bỏ đạo. Cha đáp: "Tôi nay đã 80 tuổi rồi lại là linh mục Công giáo, tôi luôn luôn nhắc nhở các tín hữu trung thành giữ đạo thánh Chúa. Giờ đây nếu tôi khuyên họ chối đạo thì tôi thật bất xứng và chẳng đáng làm linh mục. Tôi và các bạn tôi không mong ước gì hơn là được hy sinh mạng sống vì đạo thánh Chúa".
Đamien
31-08-2006, 08:30 AM
Ngày 02 tháng 02:
Thánh Gioan Têphanô VENARD VEN
tên tiếng Pháp của Ngài là: Jean Théophane Venard.
Sinh: 21-11-1829
Quê quán: Tại Saint Loup sur Thouet, thuộc thị trấn Deux Sèvres, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai (Hội Truyền giáo Paris) bị bắt ở xứ Kẻ Bèo, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Tử đạo: 02-02-1861 xử trảm tại pháp trường Cầu Giấy (Hà Nội) đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Têphanô Ven thừa sai linh mục
Sinh Kỷ Sửu (1829) quê thực Paris
Vâng lời Chúa tự nguyện đi
Viễn Ðông truyền giáo ngại gì khó khăn
Việt Nam lúc chủ chăn đang thiếu
Ðặt ngài vào công hiệu mới cao
Khó khăn đường đến làm sao
Bốn tháng trôi nổi dạt vào Hồng Kông
Ở đây đợi đường thông thuận tiện
Sẽ rước ngài thực hiện bài sai
Giáp Dần (1854) Cửa Cấm đón ngài
Ðưa về địa phận đàng ngoài tiếp thu
Ðức Cha Liệu công du kinh lý
Cần có người thư ký tháp tùng
Gặp quan tri huyện đi lùng
Cha con phải trốn tới vùng nhà quê
Xứ Kẻ Bèo đường đi hẻo lánh
Cha về đây tạm tránh cho qua
Ngờ đâu có kẻ tinh ma
Báo quan cha ở trong nhà vách đôi
Quan cai đội một hồi tìm kiếm
Bắt trói ngài kinh nghiệm càng cao
Củi cùm xiềng xích nhốt ào
Cả đoàn dẫn giải ngài vào Thăng Long
Quan Tổng đốc tinh thông lịch sử
Tra hỏi người trình tự qua loa
Cho người thay củi rộng ra
Xích xiềng thì cũng nhưng là nhẹ tênh
Ðường đi những gập ghềnh gai góc
Bọn tham quan muốn móc ngài vào
Thực dân giặc Pháp ra sao?
Bắt ra thể ấy buộc vào thế kia
Tôi đâu có mang hia đội mũ
Mà vào đây do chủ thiên sai
Giảng đạo nhân nghĩa của Ngài
Công bằng, bác ái, thương người neo đơn
Quan án sát muốn hơn một bước
Ép ngài vào mực thước nhà vua
Thập giá ông hãy bước qua
Tha ngay đưa gấp ngài ra khỏi tù
Tôi đâu phải kẻ ngu người dại
Mà quan bày thiệt hại hồn tôi
Một lòng theo Chúa trọn đời
Thà rằng chịu chết tôi thời vẫn vui
Bị trảm quyết tháng hai Tân Dậu (1861)
Hồn người con trung hậu về trời
Một lòng tận hiến tuyệt vời
Kỷ Dậu (1909) phong thánh đời đời ghi công
Lời bất hủ: Khi quan nói với cha: "Hãy đạp lên Thập giá, anh sẽ thoát chết?". Cha trả lời: "Tôi đã suốt đời thuyết giảng về Thập giá, sao tôi làm thế được, tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quá quý, đến độ tôi phải mua nó bằng cái giá bội giáo".
Đamien
31-08-2006, 08:33 AM
Ngày 13 tháng 02:
Thánh Phaolô LÊ VĂN LỘC
Sinh: 1830
Quê quán: Tại làng An Nhơn, tỉnh Gia Ðịnh.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 13-02-1859 Xử trảm tại Trường Thi - Gia Ðịnh (hiện nay là đường Hai Bà Trưng và Hồng Thập Tự) đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Phaolô Lê Văn Lộc
Sinh Canh Dần (1830) gia tộc An Nhơn
Mẹ cha mất sớm cô đơn
Cha sở nuôi dạy công ơn xứ mình
Cái Nhum gởi đăng trình Chủng viện
Ðược Ðức Cha đưa tiễn cậu sang
Vào trường thần học Pénang
Giáo sư khen tặng vào hàng thông minh
Thầy về nước tận tình rao giảng
Ðức Cha Ngãi, Thầy đáng thụ phong
Ngài truyền chức Chúa quan phòng
Bổ làm giám đốc coi trông
Giuse Chủng viện vun trồng tương lai
Ngài dạy dỗ biệt tài mục vụ
Thì giờ làm xếp thu gọn gàng
Tinh thần bác ái Chúa ban
Hăng say làm việc sẵn sàng hy sinh
Thời Tự Ðức lý hình ác cảm
Các Tu Sĩ đâu dám công khai
Lên cơn bách đạo lâu dài
Các Cha ẩn trốn, quan cai truy tìm
Giuse Chủng viện có tin giải tán
Cả Cha con ngao ngán chia tay
Sài Gòn nóng sốt từng ngày
Nay đây mai đó đổi thay từng giờ
Cha Lộc trốn ở nhờ giáo hữu
Các chủng sinh dắt díu bơ vơ
Thầy Ngôn Cha đến nương nhờ
Tìm đường tiếp tế đón chờ chủng sinh
Một phụ nữ đã rình nhận diện
Trình báo quan phát hiện có Cha
Lính vây lục soát cả nhà
Bắt Cha quan xử, qua loa nhẹ nhàng
Rất tình cảm đàng hoàng tử tế
Chỉ cần Cha nói để chứng minh
Rằng Cha bỏ đạo Chúa mình
Tha ngay tiền thưởng đệ huynh hài hòa
Cha Lộc nói thật là khẳng khái
Tôi đạo trưởng không trái đức tin
Giảng rao Thiên Chúa hướng tìm
Hồng ân tử đạo trái tim nhân lành
Các quan vội thảo nhanh bản án
Tâu trình Vua truyền phán thi hành
Lệnh về trảm quyết tới nhanh
Trường Thi cột trói là hành quyết ngay
(Trường Thi là góc ngã tư Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng bây giờ )
Phải chờ tối ban ngày sợ cấm
Bọc Thi Hài bằng tấm vải tang
Ðưa về Chợ Quán đàng hoàng
Nơi đây chôn cất cải sang Phaolồ
(Nữ Tu Viện Thánh Phaolô Sàigòn. Nay Hài Cốt được tôn kính trong Vương Cung Thánh Ðường Sàigòn)
Phúc tử đạo điểm tô Giáo hội
Vì danh Cha vang dội Kỷ Mùi (1859)
Roma Giáo hội mừng vui
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) ngọt bùi Nước Cha
Lời bất hủ: Cha học ở Pénăng, về nước, được Ðức Cha Lefèbvre truyền chức linh mục 7-2-1857, được bổ nhiệm làm Giám đốc tiểu chủng viện Thị Nghè, cuối năm 1858 ngài bị bắt, sách chỉ viết: "Khi bị bắt, cha Lộc khéo léo trả lời, nên các quan đối xử với cha rất tử tế, lại còn có ý định tha về, nếu cha chối đạo".
Đamien
31-08-2006, 08:37 AM
Ngày 13 tháng 02:
Thánh Lôrensô NGUYỄN VĂN HƯỞNG
Sinh: 1802
Quê quán: Tại xã Tụy Hiền, xứ Kẻ Sải, tổng Trinh Tiết, thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 13-02-1856 Trảm quyết tại Ninh Bình đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Hưởng quê hương Kẻ Sải
Năm Nhâm Tuất (1802) sinh tại Thăng Long
Gia đình nghèo sống long đong
Nay đây mai đó quanh vòng chăn trâu
Cho ông chủ nghe đâu ngoại đạo
Tên là Thang khuyên bảo dưỡng nuôi
Ông quý mến thật êm xuôi
Như là con ruột, khôn nguôi học hành
Cậu Hưởng muốn tuổi xanh trọn vẹn
Quyết dâng mình, hứa hẹn Chúa trên
Vào Cha Duyệt Xứ Sơn Miêng
Ðỡ đầu giúp đỡ ơn riêng hộ phù
Ở nhà xứ ba thu học tập
Ðược gởi đi gia nhập chủng sinh
Nhà tràng Vĩnh Trị dâng mình
Sau bị giải tán rối tinh về làng
Cậu làm thuốc lang thang bán dạo
Sống qua ngày học đạo hiểu thêm
Có ông Chú nói cậu nên
Gia đình thành lập nhà bên ông nhường
Một cai tổng cũng thương giúp cậu
Có họ hàng hứa tậu ruộng nương
Vợ con, nhà cửa thân thương
Cậu đều từ chối, theo đường chủng sinh
Ông Chú giận, bực mình đã đuổi
Cậu trở về đúng buổi mở tràng
Ðời tu rộng mở thênh thang
Ðược phong Thầy Giảng lên đàng giảng rao
Kim Sơn, Bạch Bát bao năm tháng
Thầy khiêm nhu xứng đáng Tông đồ
Sau về thần học tiến vô
Thụ phong Linh Mục tiền hô rao truyền
Ði phục vụ khắp miền giáo xứ
Ðược bề trên cắt cử bài sai
Khắp nơi giáo hữu mến Ngài
Siêng năng tận tụy lâu dài bệnh nhân
Có lần nọ Cha cần đò chở
Thuyền Cha đang đi ở giữa sông
Tổng Tùy bệ hạ rất đông
Rượt theo đuổi bắt Cha không sợ phiền
Bảo người lái cập liền vô bãi
Rồi lái đi xa mãi xuôi dòng
Cha đi rảo bộ thong dong
Nép mình tự nguyện vào vòng tội nhân
Cha về huyện tinh thần sảng khoái
Từ Yên Mô lại giải Ninh Bình
Ông quan tỉnh rất chân tình
Nếu Cha quá khóa thì mình giúp ngay
Ðến trụ trì Chùa này Non Nước
Cha đáp ngay sao được thưa quan
Làm con hiếu thảo vững vàng
Ðạp đầu cha mẹ thuộc hàng bất trung
Thưa quan tỉnh đâu cùng đạo Phật
Sao ở Chùa thành thật cảm ơn
Quan trên chớ nghĩ giản đơn
Mười điều Chúa dạy hồng ân thế trần
Quan muốn biết xin cần học hỏi
Ðồn lạc sai chớ nói giỡn đùa
Tổ tiên kính nhớ người xưa
nguyện cầu xin lễ đâu ưa đốt vàng
Các giáo hữu lên quan lo chuộc
Nhận bạc rồi nên buộc giấu che
Cha Hưởng nhất quyết không nghe
Viết thư Giám Mục con e chuộc tiền
Mạng sống con ưu tiên dâng hiến
Là chứng nhân bánh miến rượu nho
Giêsu xin Chúa ban cho
Hồng ân tử đạo đầy no phúc lành
Cha Hưởng đợi lính canh dẫn giải
Ra pháp trường hăng hái chứng nhân
Lý hình đã tiến lại gần
Sau hồi chiêng trống tiếp phần đầu rơi
Giáo dân đón rước nơi an táng
Về ngay làng buổi sáng trong ngày
Quê hương Vĩnh Trị xưa nay
Chứng nhân tử đạo chốn này rất đông
Là linh mục quyết không lùi bước
Năm Bính Thìn (1856) cha được hồng ân
Tử vì đạo chẳng tiếc thân
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) xa gần mến yêu
Lời bất hủ: Cha Hưởng trả lời quan lớn: "Bẩm quan lớn có bao giờ con cái dám đạp lên đầu cha mẹ mình chăng?". Có lần quan dỗ dành: "Nếu ông đạp lên Thánh giá, ta sẽ cho đến trụ trì ở Chùa Non Nước". Cha đáp: "Tôi không biết gì về thần Phật, làm sao ở Chùa được". Quan lại hỏi: "Tại sao các ông khoét mắt người bệnh, và không thờ kính tổ tiên?". Cha bình tĩnh giải thích cho quan: "Xin quan đừng nghe những lời đồn đãi sai lạc, chúng tôi chỉ xức dầu trên mắt mũi, tai miệng và tay chân để xin Chúa tha các tội mà bệnh nhân đã dùng để phạm tội, còn với tổ tiên, chúng tôi hằng cầu nguyện bằng các việc lành, chỉ có điều là chúng tôi không cúng quả, vì biết rằng cha mẹ chẳng trở về ăn uống thứ gì được nữa".
Đamien
31-08-2006, 11:32 AM
Ngày 11 tháng 03:
Thánh Ðaminh CẨM
Sinh: Khoảng 1810
Quê quán: Tại làng Cẩm Giàng hay (Cẩm Chương), xứ Kẻ Roi, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Giáo phận Bắc Ninh.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 11-03-1859 Xử trảm tại Hưng Yên đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ði bất cứ nơi đâu đòi hỏi
Ðaminh Cẩm lính giỏi Kitô
Vinh danh Thiên Chúa tung hô
Cầm đèn chờ đợi đón vô chủ về
Lên đường phục vụ thề cương quyết
Chủ đi về mới biết tôi trung
Nhiệt thành Linh Mục trong vùng
Bắc Ninh Cha Cẩm, Chúa dùng giảng rao
Linh Mục trẻ tiến vào công việc
Ðược bề trên đặc biệt mến yêu
Thông minh sắc sảo nhiều điều
Hăng say hoạt động sớm chiều giúp dân
Ðông tín hữu rất cần Linh Mục
Cha Cẩm đi tiếp tục lên đàng
Miền Trung phục vụ gian nan
Quan quân cấm đạo chặn đàng gắt gao
Cha chẳng ở nơi nào cố định
Sống đó đây theo lệnh bề trên
Những khi phục vụ ngày đêm
Xa gần nguy hiểm kề bên đi liền
Sau Cha đến một miền ẩn náu
Xứ Hà Lan cách sáu bảy cây
Có người xấu bụng nơi đây
Lên quan tố cáo bổ vây bắt liền
Ðược trọng thưởng bằng tiền bằng tước
Kẻ chỉ đường bắt được một Cha
Quan quân lục soát từng nhà
Bắt Cha chúng trói giải ra Bắc liền
Trước mặt Tổng Ðốc truyền xét xử
Tỉnh Hưng Yên căn cứ pháp trường
Ðặt cây Thánh Giá trên đường
Bắt Cha Cẩm đạp, quê hương thả về
Cha khẳng khái lời thề son sắt
Tôi sẵn sàng chịu chặt đầu rơi
Chức Linh Mục Chúa rạng ngời
Khổ hình đón nhận trọn đời trung kiên
Quan Tổng Ðốc ông liền khuyên dụ
Trong nhà giam để Cụ nghĩ suy
Thân thương đức độ nhu mì
Khiến quân lính gác rất thì cảm thông
Thật dễ dãi số đông giáo hữu
Viếng thăm Cha dắt díu trẻ già
Tin mừng rao giảng lời Cha
Trọn niềm trông cậy thiết tha Chúa Trời
Cha đã viết trình nơi Giám Mục
Con nguyện cầu tiếp tục trung thành
Khát khao tử đạo vinh danh
Cho con sớm được thực hành ý Cha
Giờ hành quyết một bà nhân chứng
Cha nguyện cầu khi đứng giữa sân
Lý hình ra hiệu tới gần
Lính vung gươm chém ba lần đầu rơi
Rước thi thể về nơi an táng
Làng Cẩm Chương nguyên quán của Cha
Hào quang Thiên Chúa chói lòa
Ðaminh Linh Mục tỉnh nhà Bắc Ninh
Năm Kỷ Mùi (1895) hiển vinh tử đạo
Thắng ba thù thắng bạo quan quân
Tân Mão (1951) Toà Thánh dành phần
Suy tôn Chân Phước thế trần hoan ca
Lời bất hủ: Trước mặt quan Tổng đốc, Cha Ðaminh Cẩm khẳng khái nhận mình là linh mục Công Giáo và sẵn sàng chấp nhận mọi hình khổ, chứ không bao giờ chà đạp lên Thánh giá. Khi đến nơi xử, cha quỳ gối cầu nguyện một lát, rồi vui vẻ ra hiệu cho lý hình thi hành phận sự.
Đamien
01-09-2006, 08:22 AM
Ngày 02 tháng 04:
Thánh Ðaminh VŨ ÐÌNH TƯỚC
Sinh: 1775
Quê quán: Tại làng Trung Lao, tỉnh Nam Ðịnh, tức xứ Trung Lao, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 02-04-1839. Ðánh chết tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Vũ Ðình Tước nêu gương đạo đức
Quê Trung Lao học thức giỏi giang
Tỉnh Nam Ðịnh Bắc Việt Nam
Vào nhà Chúa được lên hàng chăn chiên
Cha phục vụ các miền say đắm
Luôn giảng rao nguyện ngắm đêm ngày
Ðoàn chiên dìu dắt rất hay
Ðaminh gia nhập khấn ngay vô dòng
Ðức Cha bổ nhiệm trông coi xứ
Lãnh bài sai đề cử Xương Ðiền
Một làng Công giáo ơn riêng
Rất đông bổn đạo nhất miền Thành Nam
Cuộc bách hại Vua ban ác liệt
Cha ẩn nhà thân thiết giáo dân
Cha Ðoài có dịp ở gần
Thấy Cha đạo đức chuyên cần thâu đêm
Lễ tảng sáng tôi lên đầu ngõ
Giúp cho Ngài đây đó canh chừng
Một hôm tôi hỏi bỗng dưng
Quan quân tới bắt Cha từng nghĩ sao
Cha Tước nói xé rào chạy trốn
Nếu bằng không nguy khốn ý Trời
Chăm lo phục vụ chẳng ngơi
Cha đang lánh nạn là nơi Cẩm Hà
Ông chánh hội đứng ra phụ trách
Là Cai Phan hống hách nhiệt tình
Hắn thường dòm ngó rập rình
Ðem quân vây bắt thình lình nhà ông
Cha dâng lễ coi trông báo động
Ngài cởi áo vườn trống chạy qua
Lính canh đã chặn quanh nhà
Cha liền hỏi lại ông đà tìm ai
Bắt Linh Mục Tước Ngài xác nhận
Chính tôi đây bổn phận rao truyền
Tin mừng lời Chúa nhủ khuyên
Tông đồ đạo trưởng Xương Ðiền quản cai
Thế là họ giải Ngài về huyện
Giáo dân tưởng hiện diện Triều Ðình
Ðến khi biết rõ sự tình
Bát Phan bọn họ đã rình từ lâu
Các giáo hữu khởi đầu xin chuộc
Nhưng Bát Phan bắt buộc giải kinh
Phẩm hàm tiền thưởng Triều Ðình
Bát Phan từ chối tình hình đổi thay
Dân gậy gộc theo ngay giải cứu
Cả bọn Phan dắt díu tù nhân
Giáo dân tiến sát lại gần
Bọn này thấy khó đạt phần giải đi
Nên tên Ngọc tức thì búa bổ
Vào đầu Cha máu đổ tuôn ra
Cả bọn chúng bỏ chạy mà
Giáo dân mau chóng chia ra hai phần
Nửa ở lại phải cần săn sóc
Nửa kia thì tức tốc đuổi theo
Tình thế căng thẳng làm sao
Sát nhân tội phạm ngặt nghèo bắt Phan
Ðưa đồng bọn lên quan xét xử
Phần Cha Tước tha thứ cầu mong
Trong giây phút thật đau lòng
Ngài nhìn giáo hữu vòng trong vòng ngoài
Luôn khích lệ triển khai nhân chứng
Sống trung thành cho xứng chiên lành
Tôn thờ Thiên Chúa vinh danh
Trọn đời cảm tạ trung thành đức tin
Vì thương tích Cha nhìn giáo hữu
Giọng thều thào ngất xỉu lìa đời
Hiến dâng thánh lễ máu người
Của Cha chủ tế rạng ngời đổ ra
Các tín hữu gần xa thấm máu
Cha đổ ra nung nấu niềm tin
Xương Ðiền thẳng hướng ngước nhìn
Thi hài Cha Tước đức tin tạc lòng
Máu tử đạo sáng trong đã đổ
Chúa thương ban tuôn đổ Xương Ðiền
Ngàn thu an nghỉ bình yên
Thiên đàng Chúa thưởng con hiền dấu yêu
Cha Ðình Tước sớm chiều khuyên nhủ
Khắp giáo dân làm chủ lấy mình
Phụng thờ một Chúa tôn vinh
Yêu người ta hãy nhiệt tình thứ tha
Năm Ất Mùi (1775) mẹ cha sinh Tước
Xuân Kỷ Hợi (1839) cha được hồng ân
Roma phong thánh đến gần
Suy tôn Canh Tý (1900) lãnh phần Nước Cha
Lời bất hủ: Có giáo dân đến hỏi cha: "Nếu quan quân đến vây bắt cha, cha sẽ xử trí thế nào?". Ngài đáp: "Nếu có thể thì chạy trốn, còn không thể trốn nữa thì xin vâng theo ý Chúa". Ðiều ngài thường lo lắng là làm thế nào tránh được, không gây phiền hà hay thiệt hại cho giáo dân, những người cho ngài trú ẩn.
Đamien
01-09-2006, 08:36 AM
Ngày 06 tháng 04:
Thánh Phaolô LÊ BẢO TỊNH
Sinh: 1793
Quê quán: Tại xã Trịnh Hà, huyện Hoàng Hoá, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
Chức vị: Linh mục triều
Tử đạo: 06-04-1857 Xử trảm tại Bảy Mẫu - Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Từ một ẩn sĩ đến tử đạo
Thầy Bảo Tịnh kín đáo vào rừng
Ẩn tu thuộc phủ Hà Trung
Tỉnh nhà Thanh Hóa thuộc vùng rừng sâu
Mười hai tuổi, đỡ đầu Cha Duệ
Sau ba năm môn đệ học hành
Trí khôn vừa phải không lanh
Gởi vô chủng viện trưởng thành mẫu gương
Nhưng trội hẳn về đường chăm chỉ
Thường ăn chay theo ý khổ tu
Sống đời sám hối đền bù
Bỏ giường nằm đất khiêm nhu hãm mình
Quyết dâng hiến hy sinh vì Chúa
Thầy thực hành lời hứa thì thầm
Cơm khô tích trữ rắp tâm
Xa rời chủng viện âm thầm bỏ đi
Nơi rừng vắng thầm thì cầu nguyện
Suốt đên ngày tâm niệm khẩn cầu
Xa lìa chủng viện đã lâu
Quan phòng của Chúa nhiệm mầu đổi thay
Chúa xếp đặt qua tay Giám Mục
Ngài ban hành hối thúc Quý Cha
Thầy Tịnh xưng tội nói là
Ðến gặp Giám Mục Ngài đà giải cho
Thầy ẩn sĩ Chúa cho hiểu ý
Cả năm trời đăng ký rừng sâu
Vâng lời Giám Mục cúi đầu
Thầy về thần học ngõ hầu lãnh ơn
Lãnh chức nhỏ tập đờn, dạy học
Ðức Cha cử du học Ma Cao
Hai lần bị cướp ập vào
May Thầy thoát chết Chúa trao ấn hồng
Thầy Tịnh dạy tân tòng Thạch Tổ
Xứ Bích Trì gần chỗ Hà Nam
Nơi đây lý trưởng dã man
Rình bắt Thầy Tịnh nộp quan làm tiền
Thầy khí khái nói liền chẳng ngại
Chỉ vì tiền mà lại bắt tha
Tôi xin dám nói thật mà
Là tôi không muốn bắt tha vì tiền
Thầy bị giải qua miền Phủ Lý
Cổ đeo gông quyết chí một lòng
Các quân hùng hổ không xong
Sáu lần để án lòng vòng về kinh
Lần thứ bảy thình lình chuyển án
Ðầy chung thân ở mạn Phú Yên
Vua Tự Ðức ân xá liền
Trở về địa phận cả miền hân hoan
Thầy Bảo Tịnh Chúa ban bàn thánh
Năm sáu tuổi nặng gánh thăng trầm
Giáo sư chủng viện nhiệt tâm
Bán công hình thức đạt tầm Hán Nho
Kiêm luôn cả chăm lo thầy thuốc
Cha Phaolô gầy guộc dỏng cao
Lòng nhân ái giản dị sao
Khôn ngoan từng trải khít khao thì giờ
Những tác phẩm thánh thư dẫn giải
Lục vấn lương tâm, phải thực hành
Chủng sinh kỷ luật tươi xanh
Yêu người mến Chúa chân thành đời ta
Quan Thượng Ðạt vào tù khuyên viết
Là giáo dân hiểu biết Hán Nho
Và làm thuốc giảm án cho
Nhưng Cha khẳng khái đầy no an lành
Chức Linh Mục vinh danh Thiên Chúa
Quyết tuyên xưng đoan hứa trung thành
Cảm ơn thiện cảm Quan Anh
Hồng ân tử đạo Chúa dành cho tôi
Quan Tổng Ðốc liên hồi giúp đỡ
Nêu tuổi cao viết ở bản khai
Lý do nêu để cứu Ngài
Ngày giam trại Vệ kéo dài tại đây
Cha củng cố ban đầy lương thực
Cho tinh thần đỡ vực giáo dân
Ngày lên máy chém tới gần
Cho thêm can đảm lãnh phần vinh quang
Phaolô Tịnh gởi hàng Cha bạn
Bức tâm thư vấn nạn vững tin
Thuyền nan bão tố không chìm
Hồng ân tử đạo cổ kim rạng ngời
Lê Bảo Tịnh sáng ngời linh mục
Sinh Quý Mùi (1793) quê thực Trịnh Hà
Một nhà truyền giáo tài ba
Mùa hè Ðinh Tỵ (1857) lệnh ra pháp trường
Khổ hình tra tấn thảm thương
Mà cha vẫn giữ theo đường Chúa đi
Danh ngài Giáo hội khắc ghi
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) vinh quy Nước Trời.
Đamien
01-09-2006, 08:37 AM
Bức Tâm thư của
Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh
Phaolô Tịnh gởi chào tất cả
Thầy cùng trò từ giã nhà chung
Máu tử đạo hiếm vô cùng
Chúa ban rất ít mỗi vùng nêu gương
Từ Linh Mục dân thường tử đạo
Có nữ nam loan báo tin mừng
Tâm hồn bé mọn sáng trưng
Thuận hòa trong sạch lẫy lừng Thánh Gia
Thành Thánh mới mở ra nhiều cửa
Một trung tâm chan chứa ơn Trời
Ðức tin vững mạnh khắp nơi
Hồng ân phù trợ Chúa thời trao ban
Anh em bước tiến vào thánh đức
Ðã tới gần tỉnh thức dầu đèn
Yêu người chớ có ghét ghen
Triều thiên công chính thưởng khen dân Ngài
Giây phút cuối viết vài lời gởi
Quý anh em và với bề trên
Vâng lời kỷ luật cho bền
Trung thành điều nhỏ chớ quên ghi lòng
Dù sống chết ở trong tay Chúa
Máu đổ ra đất hứa tươi hồng
Tưới vun cây sẽ trổ bông
Việt Nam đạo Chúa cánh đồng phì nhiêu
Phaolô Tịnh đôi điều trăn trối
Hãy siêng năng sớm tối nguyện cầu
Hồng ân mong ước từ lâu
Phúc lành tử đạo cúi đầu xin vâng
Khi tôi chết hiến dâng Thượng Ðế
Luôn nguyện cầu toàn thể đệ huynh
Thông công trong Chúa nghĩa tình
Ngày sau nước Chúa Thiên Ðình thưởng ban
Lời bất hủ: Quan Thượng Tổng đốc Nam Ðịnh Nguyễn Ðình Hưng không hỏi han gì chỉ khuyên dụ cha quá khoá rồi tha cho về, nhưng cha từ tốn đáp lại: "Tôi xin chân thành cám ơn quan, vẫn luôn có lòng tốt tìm cách cứu tôi. Thân xác tôi ở trong tay quan, xin làm khổ nó tuỳ ý, tôi rất vui lòng, không oán thán gì, nó chết đi nhưng mai ngày sẽ sống lại vinh quang. Còn linh hồn tôi là của Thiên Chúa, không có gì làm tôi hy sinh nó được, không ai có thể lay chuyển lòng tin tưởng của tôi. Ðạo Thiên Chúa là chính đạo, là đạo thật, tôi yêu mến và giữ đạo ấy từ thuở bé, và dù tôi có chết cũng chẳng bỏ được".... đến pháp trường Bảy Mẫu Nam Ðịnh, ngài gửi lời từ biệt mọi người: "Anh em ở lại bình an, chịu khó giữ đạo và can đảm bền vững, đừng sợ chết nhé".
Đamien
01-09-2006, 08:41 AM
Ngày 07 tháng 04:
Thánh Phêrô NGUYỄN VĂN LỰU
Sinh: 1812
Quê quán: Tại Gò Vấp, Gia Ðịnh (Sài Gòn).
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 07-04-1861 Xử trảm tại Mỹ Tho đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phêrô Nguyễn Văn Lựu linh mục
Sinh Tân Mùi (1812) quê thực Sài Gòn (Gò Vấp)
Một lòng mến Chúa sắt son
Pénang du học về còn giảng rao
Ðược Ðức Cha ban trao Linh Mục
Giúp nhiều nơi tiếp tục giảng khuyên
Tông đồ phục vụ khắp miền
Quan tâm giáo lý thường xuyên tận tình
Chỉ phiền nỗi lưu linh quá độ
Với giáo dân Cha cố thi đua
Ngà say Cha Lựu giỡn đùa
Một hôm đã sẵn rượu mua trên thuyền
Gặp Cha Thuyết ngồi trên thuyền khác
Cha kéo sang, tôi bác cụng ly
Cha này từ chối tức thì
Tốn tiền gương xấu bỏ đi rượu chè
Ngay lúc đó, Cha nghe, chai ném
Xuống dòng sông hứa hẹn sẽ chừa
Rồi từ đó hết say sưa
Và Cha giữ đúng lời xưa trên thuyền
Ông quan trấn bắt liền tín hữu
Có tuổi tên uy tín Ba Giồng
Ðưa về thị trấn quá đông
Cha Nguyễn Văn Lựu Ngài không đành lòng
Ðã cải trang vào trong thăm viếng
Các giáo dân chứng kiến chủ chăn
Ngài vào ủy lạo khuyên răn
Ðưa Mình Máu Thánh, của ăn phần hồn
Ngài chuẩn bị cho hôm gặp khó
Phải sẵn tiền để đó chuộc mua
Lính canh dễ dãi đón đưa
Cha vào thăm viếng sớm trưa dễ dàng
Một bữa nọ đi ngang nhìn thấy
Viên thanh tra khi ấy sinh nghi
Liền cho lục soát tức thì
Bắt ngay Mục Tử giải đi giam liền
Cha vui vẻ chẳng phiền lo sợ
Ðược nhốt chung giúp đỡ giáo dân
Ngài bị tra tấn nhiều lần
Mẫu gương nhẫn nhục trọn phần đức tin
Quan trấn dụ lối tìm xuất giáo
Tôi Linh Mục bỏ đạo làm sao
Trong xương trong tủy thấm vào
Chấp nhận cái chết Chúa cao phượng thờ
Án trảm quyết xin nhờ quan chuyển
Ðể xử tôi diễn tiến thật mau
Hồng ân Thiên Chúa nhiệm mầu
Pháp trường đao phủ chém đầu tôi rơi
Ðược Triều Ðình phê lời y án
Dẫn chứng nhân ra mạn cửa thành
Vệ đường nghìn mét chém nhanh
Ðao phủ mê tín quăng thanh kiếm chuồn
Thi hài giáo hữu luôn thu lại
Về chôn chung với cái cùm gông
Và luôn hũ đất máu đông
Mộ Cha chôn cất, phía đông nhà thờ
Phúc tử đạo bấy giờ Tân Dậu (1861)
Mất người cha hiền hậu tài ba
Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh Roma
Suy tôn Chân Phước nay ta tôn thờ
Lời bất hủ: Các quan bắt cha xuất giáo, cha trả lời: "Ðạo đã thấm nhập trong xương trong tuỷ, tôi làm sao bỏ được, vả lại một người giáo hữu thường, một thầy giảng còn không có quyền bỏ đạo, huống nữa tôi đây là đạo Trưởng".
Đamien
01-09-2006, 08:45 AM
Ngày 28 tháng 04:
Thánh Phaolô PHẠM KHẮC KHOAN
Sinh: 1771
Quê quán: Tại làng Bồng Hải, tỉnh Ninh Bình, nay thuộc Giáo phận Phát Diệm.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 28-04-1840 Xử trảm tại Lò Gạch - Ninh Bình đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cha Khoan sinh thôn Trung Duyên Mậu
Sinh Tân Mão (1771) ở đậu trại bò
Tân tòng ơn Chúa ban cho
Mẹ Cha theo đạo chuyên lo cấy cày
Cậu Khoan gặp nơi đây Cố Thạch
Xứ Ðông Biên đặc cách nhận nuôi
Học hành kinh bổn xong xuôi
Ðược làm Kẻ Giảng khôn nguôi rao truyền
Lập chủng viện ở miền Vĩnh Trị
Ðược làm cai, quản lý nhà chung
Thụ phong Linh Mục trong vùng
Rất là nghiêm nhặt đi cùng đó đây
Không võng cáng suốt ngày đi bộ
Quần áo Ngài lễ độ đơn sơ
Giúp cho những kẻ bơ vơ
Làm nhà cho họ nương nhờ nắng mưa
Các bài giảng xin thưa đạo đức
Sống công bằng rất mực sạch trong
Tòa hòa giải Cha đợi mong
Giáo dân xưng tội thật lòng ăn năn
Sáu mươi tuổi được thăng cha sở
Xứ Phúc Nhạc Ngài trở về đây
Ba Cha phó có hai Thầy
Ngài hay thăm viếng họ này dòng tu
Cha Khoan đi thăm khu kẻ liệt
Tại trại bò ở miệt Ðông Biên
Ở đây nghỉ hai ngày liền
Hai thầy Thành, Hiếu dùng thuyền đi câu
Ông lý Trạc từ lâu ghen ghét
Phó tổng Dụ lên méc với quan
Tên trộm tới báo rõ ràng
Có ông đạo trưởng ở làng Ðông Biên
Quan cho lính tới liền vây bắt
Trói Cha Khoan và dắt hai Thầy
Giáo dân thì thả ngay đây
Tổng Dụ chạy tới xin thầy bỏ qua
Ông lý Trạc nói là không chịu
Nên hai ông dắt díu tới quan
Quan trên ngồi lại luận bàn
Tờ trình thống nhất giải quan Ninh Bình
Theo chứng từ tình hình ngục thất
Phải gông cùm nặng nhất ngày đêm
Khi ăn được mở cùm lên
Nhờ tiền đút lót cho nên nhẹ xiềng
Trong ngục thất buồn phiền muỗi bọ
Ðốt ngày đêm máu đỏ đầy người
Các người tù khác dể duôi
Lẩm bẩm chửi rủa khi người đọc kinh
Cha Khoan bắt gia đình thăm viếng
Phải đem cơm thân thiện cho tù
Họ khen đạo trưởng khiêm nhu
Hiền lành bác ái bạn tù giúp nhau
Buổi sớm tối cùng nhau cầu nguyện
Khuyên mọi người cải thiện bản thân
Ngài rửa tội được một lần
Là con tướng cướp lúc gần tắt hơi
Quan tuần phủ lại thời chửi mắng
Bảo Cha Khoan hãy gắng nghe lời
Nếu không ngày chết tới nơi
Cha Khoan đáp lại Chúa Trời kính tôn
Giải pháp trường nghe đồn lò gạch
Tháo gông xiềng quan cách trống chiêng
Lý hình kéo cổ Ngài nghiêng
Ba nhát mới đứt đầu liền bay xa
Thầy Huần bỏ xác tà vạt áo
Gói vô trong ôm ráo cả về
Dọc đường than khóc thảm thê
Phúc Nhạc án táng, hồn về nước Cha
Phúc tử đạo đúng là Canh Tý (1840)
Mất một nhà quản lý tài ba
Canh Tý (1900) Toà Thánh Roma
Suy tôn chân phước nay ta tôn thờ
Lời bất hủ: Cha Khoan trả lời quan tổng trấn: "Mấy tháng qua ở trong tù, tôi đã suy tính kỹ lắm rồi, nhưng càng nghĩ, tôi càng xác tín hơn, càng cương quyết giữ vững đức tin cho đến chết.". Tại pháp trường, cha Khoan nói với dân chúng đôi lời sau cùng: "Thưa đồng bào và các bạn hữu, chúng tôi không phạm tội ác, không chống lại vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu, và vì không chịu bỏ đạo Kitô là đạo duy nhất chân thật".
Đamien
01-09-2006, 08:53 AM
Ngày 28 tháng 04:
Thánh Phêrô NGUYỄN VĂN HIẾU
Sinh: 1777
Quê quán: Tại xứ Ðồng Chuối, này thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 28-04-1840 Xử trảm tại Ninh Bình đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Phêrô Nguyễn Văn Hiếu
Sinh Ðinh Dậu (1777) kỷ yếu Ninh Bình
Giảng giáo lý dạy nguyện kinh
Nửa đời kẻ giảng nhiệt tình cha Khoan
Tuổi niên thiếu Hà Nam Bình Lục
Xứ Ðồng Chuối diễm phúc đi tu
Ðược sai đi giúp giáo khu
Vâng lời làm việc cho dù khó khăn
Giúp nhiều Cố chủ chăn giảng đạo
Thông dịch viên thông thạo nhà chung
Ði theo kinh lý tháp tùng
Thánh Kinh giáo luật nói chung thông rành
Thầy bị bắt lính canh tra tấn
Rất nhiều lần nhưng vẫn kiên trung
Bắt quá khóa chống tới cùng
Bằng lòng chịu khó, Chúa dùng truyền rao
Quan muốn dụ đưa vào ngục thất
Lại đưa ra cập nhật hỏi tra
Thầy Hiếu kiên định rõ mà
Tôi đây theo đạo Chúa Cha trên trời
Quan kiếm cách đem lời dụ dỗ
Ðừng nghe theo Cụ Cố nữa Thầy
Quyền hành tha xử ta đây
Thương Thầy, quan mới tỏ bày giúp cho
Không tiền bạc khỏi lo chạy chọt
Nghe lời đi nói ngọt thật thà
Một câu thôi sẽ được tha
Thừa Sai đạo trưởng, trốn đà ở đâu
Khỏi quá khóa ngõ hầu tha bổng
Có giấy khen không chống lệnh vua
Thầy Hiếu nói quan chớ đùa
Tôi đây cương quyết, không thua mưu này
Tôi ước muốn đầu bay xử trảm
Chỉ phượng thờ Chúa đáng tôn vinh
Quyết chống lại lệnh triều đình
Dù tôi có chết, tử hình mừng vui
Xin quan hiểu không lùi một bước
Vẫn hiên ngang để được tiến lên
Thầy Hiếu chí khí vững bền
Quan trên kết án, và truyền lệnh ra
Lính tới ngục dẫn đà đi xử
Thầy hiên ngang vẫn cứ đọc kinh
Gươm đao theo sát lý hình
Vung tay một nhát đầu mình lìa đôi
Dân lấy xác thu hồi chôn cất
Tại pháp trường rất thật thê lương
Về sau cải táng xứ đường
Mộ êm mả ấm Thiên Ðường thưởng công
Máu tử đạo tươi hồng Canh Tý (1840)
Danh tánh ngài đăng ký Roma
Canh Tý (1900) Toà Thánh ban ra
Suy tôn Á thánh nguy nga Nước Trời
Lời bất hủ: Khi ra pháp trường, Thầy giảng Hiếu cùng ca vang bài: " Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời đất, chúng con hiến dâng mạng sống cho Ngài. Xin Chúa chúc phúc cho nhà vua được cai trị lâu dài trong an bình, xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất có thể đem lại cho con người hạnh phúc đích thực".
Đamien
01-09-2006, 08:57 AM
Ngày 28 tháng 04:
Thánh Gioan Baotixita ÐINH VĂN THÀNH
Sinh: 1796
Quê quán: Tại làng Luốn Khê, nay thuộc Giáo phận Phát Diệm.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 28-04-1840 Xử trảm tại Ninh Bình đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Gioan Ðinh Văn Thành thầy giảng
Sinh Bính Thìn (1796) Tiêu Bảng Nôn Khê
Giúp xứ chu đáo khỏi chê
Theo cha ngoại quốc tiện bề đi thi
Rồi sau đó Ngài thì rửa tội
Rất siêng chăm sớm tối đọc kinh
Hăng say chu đáo nhiệt tình
Cha Khoan thay thế, thân tình Việt Nam
Ðược Cha chọn Thầy làm quản lý
Một năm sau được chỉ quản coi
Thầy luôn khiêm tốn học đòi
Nêu cao gương sáng chiếu soi khắp vùng
Mùa gặt lúa thầy cũng ra sân
Tiếp tay giúp việc dân làm mùa
Khéo tay chẳng có chịu thua
Nông dân phấn khởi vụ mùa thu gom
Thầy chịu khó trông nom bổn đạo
Dạy giảng khuyên loan báo đức tin
Thầy luôn theo dõi hướng tìm
Cùng lo bảo vệ giữ gìn của chung
Thầy bị bắt ngay vùng Phúc Nhạc
Nghe hung tin cô bác tiếc thương
Quân lính dẫn giải lên đường
Ninh Bình về tới hội trường cửa quan
Quan án hỏi tràng giang đại hải
Thầy khiêm nhu nhưng lại vững lòng
Quan quân chẳng đạt ước mong
Lại giao cho lính nhốt trong nhà tù
Tôi là người trong khu đạo trưởng
Chúa thương ban được hưởng hồng ân
Không màng danh lợi thế trần
Tùy quan tha xử, đều cần cảm ơn
Quan tức giận nổi cơn thịnh nộ
Bắt đeo gông nặng cổ ngày đêm
Ðòn roi mãi nặng tăng thêm
Thầy Thành chẳng sợ, ơn trên nguyện cầu
Quan cho Cụ Ruyệt câu dụ dỗ
Chối đạo đi có chỗ ăn năn
Phêrô chối Chúa phải chăng
Chúa còn tha thứ, thưa rằng thưởng công
Thầy ôm mặt và không hề nói
Quan lại cho tra hỏi thêm roi
Thầy Thành kiên vững chịu đòn
Phó dâng Thiên Chúa, sắt son không sờn
Xin diễm phúc lãnh ơn tử đạo
Cho trí con tỉnh táo tới cùng
Trong nhà tù Thầy khiêm cung
Khuyên răn nhắc nhở, người cùng bị giam
Bản án lệnh truyền ban Minh Mạng
Ðược châu phê án lệnh đầu năm
Nên lại hoãn mấy tuần trăng
Sau rồi ấn định lại rằm tháng tư
Dẫn pháp trường Thầy ư vui vẻ
Vẫn đọc kinh nhỏ nhẹ cầu xin
Lý hình gươm sẵn đứng nhìn
Tay vung mạnh chém trái tim Thầy ngừng
Ðầu rơi lính nhặt tưng khoái chí
Việc xảy ra theo ý Chúa Cha
Xác thân an táng quê nhà
Hồn về an hưởng nước Cha trên trời
Năm Canh Tý (1840) tuyệt vời tử đạo
Thắng thế gian, thắng cả bạo quyền
Xác chôn hồn thẳng quy thiên
Suy tôn Canh Tý (1900) bình yên Nước Trời
Lời bất hủ: Cứ lặp đi lặp lại câu: "Dù sống, dù chết, chúng tôi không bao giờ bỏ đức tin". Và cùng với hai thánh Khoan và Hiếu đồng ca bài hát trước khi bị trảm quyết như sau: "Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa đất trời. Chúng con hiến dâng mạng sống cho Người. Xin Chúa chúc phúc lành cho nhà vua được cai trị lâu dài trong an bình, xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất có thể đem lại cho con người hạnh phúc đích thực".
Đamien
01-09-2006, 09:01 AM
Ngày 29 tháng 04:
Thánh Giuse TUÂN (Hoan)
Sinh: 1811
Quê quán: tại họ Trần Xá, xứ Cao Xá, tỉnh Hưng Yên.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh.
Tử đạo: 30-04-1861 xử trảm tại Hưng Yên đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Tuân quê hương Trần Xá
Sinh Tân Mùi (1811) ba má nhà nông
Cảnh nhà nghèo lại con đông
Gia đình đạo đức cộng đồng Thánh gia
Giuse Tuân mẹ cha giáo dục
Cả gia đình ơn phúc Kitô
Ðức tin vững mạnh tung hô
Phượng thờ Thiên Chúa điểm tô rạng ngời
Tuân được chọn từ thời niên thiếu
Vào chủng viện năng khiếu triển khai
Thông minh đạo đức hiền tài
Sau về thần học, Ðức Ngài tấn phong
Chức Linh Mục quan phòng ơn Chúa
Ít lâu sau tuyên hứa nhập dòng
Ðaminh lễ khấn đã xong
Lên đường rao giảng cầu mong ơn lành
Thời bách hại Cha đành lẩn trốn
Thăm đoàn chiên khắp chốn bơ vơ
Âm thầm phục vụ đón chờ
Biết bao nguy hiểm bất ngờ xảy ra
Xứ Ngọc Ðồng bà già bệnh nặng
Sai con đi để đặng đón Cha
Xức dầu giải tội cho bà
Người con bất hiếu nó đà tố quan
Ham tiền thưởng sẵn sàng phản bội
Quan cho vây để về bắt Cha
Ngài đang xức dầu bà già
Lính liền trói bắt giải tòa Hưng Yên
Chúng nộp Ngài quan trên tuần phủ
Tại nơi đây lãnh đủ khổ hình
Hù Cha nhìn thấy thất kinh
Sau quan dụ dỗ chưa trình Vua phê
Hãy quá khóa ra về thoải mái
Còn quyền ta trở ngại gì đâu
Cha Tuân cương quyết khởi đầu
Tôi đây Linh Mục cho dầu khó nguy
Ðường lối Chúa sẵn đi tới đích
Về nước Trời giải thích quan hay
Giàu sang phú quý đời này
Như cơn gió thoảng cuốn bay còn gì
Tình yêu Chúa mới thì bền vững
Trước giáo gươm ta đứng hiên ngang
Ðầu rơi tử đạo sẵn sàng
Nhờ quan chuyển án lên đàng cho Vua
Người chiến sĩ chạy đua tới đích
Ra pháp trường mục kích Sông Hồng
Nhiều người trong đám dân đông
Nhìn Cha thọ án mà lòng thương riêng
Ngài bước chậm bị xiềng quá nặng
Cha kêu tên nghe đặng Giêsu
Hồng ân tử đạo hộ phù
Linh hồn Chúa thưởng thiên thu Nước Trời
Thi hài được về nơi an táng
Chết oai hùng xứng đáng con Cha
Máu đào tử đạo chan hòa
Nảy sinh hạt giống quê ta rạng ngời
Phúc tử đạo đẹp ơi Tân Dậu (1861)
Bỏ thế gian để tậu Nước Trời
Gan vàng, dạ sắt tên người
Suy tôn Tân Mão (1951) tuyệt vời thánh nhân
Lời bất hủ: Dù cha bị hành hạ tra tấn gông cùm vẫn hiên ngang trung thành với Thầy Chí Thánh Giêsu, bất chấp những đau đớn và khổ hình trong tù, cha vẫn tiếp tục rao giảng tình thương vô biên của Thiên Chúa, cha khích lệ, nâng đỡ tinh thần những anh em giáo hữu đang bị giam cầm, an ủi những anh em giáo hữu âm thầm đến thăm cha và ban Bí tích cho họ.
Đamien
01-09-2006, 06:31 PM
Ngày 01 tháng 05:
Thánh Augustinô SCHOEFFLER ÐÔNG
tên Pháp của Ngài là: Augustinô Schoeffler
Sinh: 22-11 -1822
Quê quán: Tại Mittelbronn, tỉnh Lorraine, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 01-05-1852, xử giảo tại pháp trường Năm Mẫu - Sơn Tây đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cậu Augutinô sống gương mẫu
Là thanh niên nung nấu thừa sai
Việt Nam truyền giáo lâu dài
Trào lưu gia nhập, sánh vai lên đường
Ði đường biển Ðông Dương Bắc Việt
Tới địa phương đặc biệt tên Ðông
Vườn hoa Giáo hội vun trồng
Nhiệt thành phuc vụ, cộng đồng giáo dân
Ngài học rất chuyên cần tiếng Việt
Sáu tháng sau đã biết nói ngay
Làm việc không kể đêm ngày
Còn mang bệnh tật nơi này nhiễm lây
Suốt một năm, đó đây thăm viếng
Ði tới đâu nổi tiếng giảng rao
Ngồi tòa giải tội ban trao
Giáo dân khuyên nhủ ngọt ngào Phúc âm
Ngài đổi trao sưu tầm kinh nghiệm
Cha Việt Nam trực diện giáo dân
Ðàn anh học hỏi việc cần
Xức dầu rửa tội, xa gần khắp nơi
Tại năm ấy Ngài thời sốt rét
Vẫn cố đi ban phép giải hòa
Mở tuần đại phúc hoan ca
Bầu Nọ giáo xứ, thiết tha chúc lành
Ðức Cha Retord, ngài ra công bố
Cha Ðông, ngài được bổ sai đi
Yên Tập giáo xứ thực thi
Mở màn năm thánh, tức thì tại đây
Người ngoại đạo nơi này tố cáo
Với quan tổng Cố Ðạo về đây
Lính vây thôn ấp tràn đầy
Cho hai chú nhỏ, nơi này dẫn đi
Trên rừng vắng lính thì đã bắt
Tưởng là êm Thầy dắt lên đường
Ðược tin mật báo nhiễu nhương
Thầy Cha lẩn trốn, vào mương bụi rừng
Quan chờ sẵn đã lùng vây bắt
Lính trói tay bẻ quặt ra sau
Ðòn roi tra tấn rất đau
Ðòi tiền để chuộc, ngõ hầu được tha
Trăm nén bạc đó là tiền chuộc
Giá định rồi bắt buộc phải đưa
Cha nói quan lớn xin thưa
Giáo dân tha hết, sẽ đưa đủ tiền
Họ biết trước trong miền có bạc
Quan thuận lòng thả các người ra
Sơn Tây dẫn giải mình Cha
Tiền chưa có chuộc, quan đà khả nghi
Cha Phượng sợ lại thì phải trốn
Ai đảm lo bạc tốn cả trăm
Huyện Nho Lâm tức giận căm
Liền giải về tỉnh, cho nằm nhà pha
Dinh quan án tra tấn xét hỏi
Thừa sai hành động nói ta nghe
Cha Ðông chẳng có dấu che
Tôi là đạo trưởng, nói nghe đạo trời
Đamien
01-09-2006, 06:34 PM
Lên đường đi khắp nơi rao giảng
Những điều lành quan cản cấm tôi
Luật vua nghiêm cấm lâu rồi
Nhưng tôi càng muốn, phục hồi giảng rao
Rời đất Pháp bước vào đất Việt
Ðã được nghe và biết vẫn đi
Cha Ðông gan dạ ngồi lỳ
Các nơi tôi đến, sẽ thì không khai
Một người lính theo Ngài về Huế
Lập gia đình giai tế tân tòng
Giatô đạo Chúa cầu mong
Cha Ðông gương mẫu, sáng trong rạng ngời
Ra pháp trường bỏ đôi dép ấy
Ði chân không cảm thấy nhẹ nhàng
Ngẩng đầu nét mặt hiên ngang
Cầm lòng sốt sắng nhẹ nhàng đọc kinh
Ngài ngước mắt như nhìn vũ trụ
Lý hình theo nhiệm vụ chém đầu
Ba hồi chiêng trống dài lâu
Xác thân ngã gục, còn đầu bay xa
Người chứng kiến gần xa lương giáo
Ðã ùa vào thấm ráo máu người
Ðầu Ngài máu đỏ thắm tươi
Lý hình đem vứt, chìm thời đáy sông
Giáo dân tới mà không tìm thấy
Xác thân Ngài khi ấy đã chôn
Mưu mô kẻ xấu đã đồn
Ðể đòi tiền chuộc, sức dồn ép cao
Giáo dân dù giá nào cũng nhận
Chỉ cần sao tiếp cận thấy đầu
Hồng ân tử đạo nhiệm mầu
Ngài làm phép lạ, ngõ hầu hiển nhiên
Ông Lý Ngọc gặp liền may mắn
Khỏi ốm đau vợ mắn sinh trai
Những người can dự bắt Ngài
Rừng sâu chết thảm không ai đoái nhìn
Người ngoại đạo đã tin trở lại
Xưng đạo trời loan tải Thánh Kinh
Rất nhiều phép lạ điển hình
Sử xanh Giáo hội tường trình Rôma
Augustinô Ðông tải ba linh mục
Sinh Nhâm Ngọ (1822) quê thực Paris
Viễn Ðông truyền giáo xin đi
Nhâm Tý (1852) tử đạo uy nghi danh Ngài
Khắp Giáo hội trần ai ghi nhớ
Các Thừa sai bắt bớ xem thường
Roma Toà Thánh mến thương
Suy tôn Canh Tý (1900) hành hương Nước Trời
Lời bất hủ: Khi bị bắt, dọc đường cha gặp một tín hữu cha nói: "Hãy về nói với anh chị em, đừng lo sợ gì hết, dù thế nào tôi cũng không khai một ai cả".
Quan tra hỏi cha đáp: "Tôi tên là Augustinô, quê ở nước Pháp, tôi năm nay 29 tuổi, tôi đến đây chỉ để giảng đạo Ðức Chúa Trời. Tôi đã biết An Nam cấm đạo ngặt, nhưng tôi không sợ xử tử. Còn việc ở đâu, tôi sẽ không nói, đừng hỏi làm gì".
Đamien
01-09-2006, 06:38 PM
Ngày 01 tháng 05:
Thánh Gioan Louis BONNARD HƯƠNG
(tên tiếng Pháp là: Jean Louis Bonnard)
Sinh: 01-03-1824
Quê quán: Tại Saint Christôt en Jarret, thuộc Giáo phận Lyon, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 01-05-1852 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Bonnard Hương thừa sai linh mục
Sinh Giáp Thân (1824) quê thực Paris
Thừa sai truyền giáo lãnh đi
Sang miền Ðông Á thực thi loan truyền
Thừa Sai đến tại miền Bắc Việt
Nước Việt Nam thuộc miệt Á Ðông
Phép lành truyền giáo tươi hồng
Ðức Cha hy vọng cây trồng xanh tươi
Mới mười tuổi nghe lời ơn gọi
Xa gia đình học hỏi nhà tu
Hai mươi tuổi Chúa hộ phù
Học xong chủng viện, viễn du rao truyền
Ðược bề trên trao quyền Linh Mục
Hai tháng sau tiếp tục xuống tàu
Á Ðông lồng lộng biển sâu
Ðại Dương nước biếc một mầu xanh xanh
Vừa cập bến hoành hành dịch tả
Cha bắt tay vội vã học hành
Học tiếng Việt biết rất nhanh
Bắt đầu giải tội nhiệt thành đơn sơ
Các giáo họ nhà thờ giảng dạy
Khắp giáo dân ai nấy mến thương
Hiền lành mẫu mực khiêm nhường
Tinh thần cao quý, Cha Hương kiêm toàn
Ðức Cha Retorô Ngài đoan vững chắc
Linh Mục Hương tâm đắc đương đầu
Dù cho sóng gió dài lâu
Thì Ngài vững lái, con tàu vượt khơi
Ngài chỉ định coi thời hai xứ
Xứ Kẻ Báng, với xứ Kẻ Trinh
Trong khi lệnh của triều đình
Nhà vua cấm đạo, quân binh truy lùng
Ðến Bối Xuyên để cùng làm phúc
Số giáo dân hối thúc khuyên Cha
Ðừng đi ở lại xứ nhà
Không ngờ ai đó, đến mà báo quan
Cho quân lính vây tràn bốn mặt
Ðang rửa tội người giật áo lôi
Lính vây đã đến làng rồi
Xuống ngay ao nước hạ hồi tính sau
Ðang định hướng ra mau đồng lúa
Lính ập tới chửi rủa trói ngay
Sợi dây xiết chặt sưng tay
Cha xin nới lỏng, bọn nầy không cho
Cha bị bắt kéo co người khác
Là Thầy Kim nhớn nhác cháu Kha
Lội bùn hối thúc quá mà
Làm Cha kiệt sức, chảy đà máu chân
Cha cười nói đâu cần vội thế
Cứ từ từ đã để tôi đi
Trên đường dân chúng tưởng gì
Ra xem mới biết thế thì ông Cha
Tới xẩm tối về đà tới huyện
Ngoài Cha Thảo thực hiện lo tiền
Mười nén bạc để làm duyên
Ðem lo đút lót, quan quyền chuộc ra
Nhưng cửa đóng quan đà uống rượu
Với những người đàm tiếu báo quan
Cha con bị nhốt luận bàn
Hai người muốn chuộc, hỏi han cai tù
Đamien
01-09-2006, 06:41 PM
Họ nói thẳng ai ngu cho chuộc
Bắt được rồi là buộc xử thôi
Giải lên tỉnh võng cho ngồi
Khiêng đi cổ vẫn, liên hồi mang gông
Tới sảnh đường có đông dân chúng
Xem ba người bắt trúng hay sai
Cây cột lớn trước sảnh đài
Cả ba bị cột, lính cai canh chừng
Quan tổng trấn trợn trừng đôi mắt
Ra nhận tù cho dắt nhà giam
Ba tù nhân trí vững vàng
Mân Côi lần chuỗi, kho tàng đức tin
Mang xiềng xích ngắm nhìn thấy Chúa
Chịu cho nên chan chứa ơn thiêng
Có người thăm viếng bớt phiền
Về sau quan cấm, thấy liền cô đơn
Cha bị điệu quan lớn xét hỏi
Bốn năm lần chẳng nói chẳng khai
Chỉ trừ tên tuổi của Ngài
Hay là quốc tịch, không sai chút nào
Quan đưa ảnh đem vào bắt đạp
Cha Hương Ngài đã đáp lại ngay
Tôi tôn thờ hình ảnh này
Yêu cầu quan xử tôi ngay bây giờ
Xin đừng có tưởng tôi khờ dụ dỗ
Chỉ uổng công xấu hổ với dân
Vua quan khổ nhục lãnh phần
Còn ta vì Chúa, không cần quan tha
Quan làm án chúng là miệng sắt
Hễ hỏi tra im bặt không lời
Nghe tin ngày xử tới nơi
Dân tuôn về tỉnh, xem thời khá đông
Quan thấy vậy nên ông tránh né
Qua ngày sau dân sẽ bớt đi
Giáo dân quyết chí gan lỳ
Cánh đồng Ðan Thủy, cạnh thì bờ sông
Lý hình tới tháo gông xử trảm
Quân với quan cả đám hò reo
Ðầu rơi máu vọt một lèo
Giáo dân đứng ngắm, buồn teo muốn vào
Quân lính cấm làm sao lấy xác
Ðem xuống thuyền chỗ khác trôi sông
Dân theo sát rất kỳ công
Tam Tòa bỏ xác với gông xích xiềng
Ngay lúc đó tới liền vị trí
Dân thuyền chài quyết chí thay phiên
Tìm ngay thấy xác Người liền
Ðem về Vĩnh Trị, thuộc miền tỉnh Nam
Mặc áo chức nhập quan tẩm liệm
Ðóng nắp quan tưởng niệm tiễn đưa
Giáo dân thăm viếng sớm trưa
Hôm sau an táng, trời mưa đông người
Ðức Cha, Linh Mục thời đồng tế
Các chủng sinh hát lễ rất đông
Giáo dân hiệp ý thông công
Thừa sai tử đạo máu hồng chiếu soi
Nêu gương sáng giống nòi Lạc Việt
Mộ thánh nhân học viện chủng sinh
Nghĩa trang Kẻ Vĩnh quê mình
Hồn về trên chốn, Thiên Ðình thưởng công
Máu tử đạo tươi hồng Nhâm Tý (1852)
Chịu đầu rơi đấu lý uổng công
Tới mùa lúa đã đơm bông
Suy tôn Canh Tý (1900) cánh đồng phì nhiêu
Lời bất hủ: Quan điều tra về nhiều vấn đề, cha Hương đáp: "Các ông muốn đánh thì đánh, chứ đừng mong tìm được cái gì có hại cho các tín hữu. Tôi đến đây là để phục vụ cho đến chết. Các Ngài đã lầm to nếu nghĩ tôi sẽ tiết lộ điều gì dù là rất nhỏ". Cha trả lời tiếp: "Tôi đã nói tôi sẽ không sợ đòn đánh lẫn cái chết và sẵn sàng chịu tất cả. Tôi không đến đây để chối đạo, hay làm gương xấu cho các Kitô hữu".
Đamien
01-09-2006, 06:44 PM
Ngày 02 tháng 05:
Thánh Giuse NGUYỄN VĂN LỰU
Sinh: 1790
Quê quán: Tại họ Cái Nhum, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long.
Chức vị: Trùm họ
Tử đạo: 02-05-1854 chết rũ tù tại Vĩnh Long đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Văn Lựu quê hương Gia Ðịnh
Sinh Tân Mùi (1790) thanh lịch mẹ cha
Một nền giáo dục Nho gia
Gia đình Công giáo thật là mẫu gương
Ơn Chúa gọi theo đường gia thất
Hai vợ chồng rất thật yêu thương
Tinh thần đạo đức đồng hương
Ðược bầu Trùm họ thánh đường trông coi
Ông đặc biệt sáng soi hòa giải
Thật công minh trái phải rõ ràng
Phúc âm lời Chúa trao ban
Làm hòa tha thứ, sẵn sàng dấn thân
Ông làm phúc người dân nghèo khổ
Ðến viếng thăm những chỗ lâm nguy
Tông đồ can đảm ông đi
Nơi đâu cần đến ông thì tới ngay
Các Tu Sĩ đêm ngày lẩn trốn
Ông sẵn sàng, từ tốn nhiệt tình
Mời Cha, ở lại nhà mình
Hay đi nơi khác tình hình khẩn trương
Một lần nọ, đảm đương lãnh nhận
Quân vây làng tên Nhẫn tay sai
Truy lùng đạo trưởng các Ngài
Chúng không bắt được, Cha khai trong làng
Ông Trùm Lựu cả gan đại diện
Việc nhà thờ thực hiện mình tôi
Phút sau lính đã trói rồi
Giải về tống ngục trước tôi bốn người
Chúng tra tấn tơi bời khổ cực
Bốn người kia quả thực khiếp kinh
Bước qua Thánh Giá khổ hình
Còn ông Trùm Lựu một mình kiên trung
Ông sẵn đón tột cùng xỉ vả
Một niềm tin Cha Cả trên Trời
Phát lưu bản án khơi khơi
Cha đến giải tội ban lời nhủ khuyên
Rồi Ngài chúc bình yên phó thác
Thánh Giá mình hãy vác cho nên
Vợ con chăm sóc ơn trên
Vui lòng dâng Chúa vững bền niềm tin
Ngày ra đi hướng nhìn vô tận
Roi đòn thù tra tấn nặng nề
Tuổi già sức yếu thảm thê
Lại thêm bệnh hoạn gông kề xiềng đeo
Ông Trùm Lựu ngặt nghèo hơi thở
Chốn ngục tù ai đỡ giúp cho
Bám tường ông cố lò dò
Kêu tên Cực Trọng xin cho chết lành
Rồi ngã xuống thật nhanh nhà ngục
Xin quân cai thủ tục lãnh ra
Thi hài đón nhận người nhà
Vẫn luôn mềm mại, người ta lạ lùng
Lễ án táng vô cùng trọng thể
Có bốn Cha đồng tế trang nghiêm
Quan tài gỗ quý đắt tiền
Ðô tùy năm chục người khiêng trai làng
Các di vật phải mang xiềng xích
Cũng được chôn di tích nhà thờ
Tuy rằng cục mịch thô sơ
Thánh nhân tử đạo đón chờ ơn thiêng
Năm Giáp Dần (1854) ơn riêng tử đạo
Chết rũ tù diện mạo trung kiên
Xác chôn hồn thánh quy thiên
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) bình yên Nước Trời
Lời bất hủ: Ông trùm Lựu can đảm trả lời: "Thưa các quan, không có đạo trưởng Lựu nào ở đây. Lựu chính là tên tôi làm trùm họ này".
Đamien
01-09-2006, 06:47 PM
Ngày 09 tháng 05:
Thánh Giuse HIỂN
Ngày sinh: 1769
Quê quán: Tại làng Quần Anh, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh (du học ở Manila)
Tử đạo: 09-05-1840 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giuse Vũ Duy Hiển linh mục
Sinh Kỷ Sửu (1769) quê thực Quần Anh
Ðức Cha Y muốn xin anh
Cho vào chủng viện nổi danh nhà tràng
Manila gởi sang du học
Sau hồi hương dạy học nơi đây
Tấn phong Linh Mục Ðức Thầy
Cha Hiển đón nhận tràn đầy hồng ân
Cha Vũ Hiển xin gần tập viện
Dòng Ðaminh thực hiện khấn liền
Cha đi coi xứ khắp miền
Tông đồ phục vụ giảng khuyên Tin mừng
Ở Cao Mộc nghe chừng lâu nhất
Cha sẻ chia lại rất chân tình
Nêu cao gương mẫu đệ huynh
Sống đời đạo đức đẹp xinh một nhà
Khi chiếu chỉ Vua ra cấm đạo
Thật dã man tàn bạo khắp nơi
Tu sĩ trốn tránh đổi dời
Các Ngài phải ở tạm thời nhà dân
Ðức cha Minh sống gần Cha Hiển
Tới Xương Ðiền di chuyển Nghĩa Hưng
Trung Thành họ đạo tạm ngưng
Phục vụ dân Chúa Tin mừng Phúc âm
Cha thăm viếng âm thầm an ủi
Ðến từng nhà trao gửi phép mầu
Và ban Bí tích xức dầu
Cho người hấp hối từ lâu mong chờ
Người ngoại giáo bất ngờ phát giác
Anh vội trình kiếm chác phẩm hàm
Quang Khanh Tổng Ðốc Thành Nam
Ðến nơi tố cáo cho quan vây làng
Cha thấy vậy lưỡng nan khó trốn
Liền cử hành khiêm tốn lễ dâng
Phúc lành tử đạo xin vâng
Khi trời vừa sáng quan quân tiến vào
Chúng bắt trói đem trao Tổng Ðốc
Ngồi đình làng thúc đốc đánh đòn
Tiết đông giá lạnh héo hon
Lại thêm tê buốt roi đòn lằn sâu
Người rướm máu trên đầu đổ nước
Lạnh thấu gan lại ướt vết thương
Tím bầm nổi rõ từng đường
Cha luôn khẩn nguyện Chúa thương con cùng
Sau chúng giải về vùng Nam Ðịnh
Nhốt nhà giam đợi lịnh nhà Vua
Gặp Thầy Toán như được mùa
Cha con trao đổi thay tua trong tù
Cha truyền đạo trong khu ngục tối
Tại nơi đây rửa tội tân tòng
Thỏa lòng ước nguyện cầu mong
Ở đâu Ngài cũng một lòng kiên trung
Cha bị xử người cùng một toán
Bao chứng nhân là bạn đồng hành
Tôn thờ Thiên Chúa vinh danh
Pháp trường Bảy Mẫu ngoại thành tỉnh Nam
Tại pháp trường dã man trảm quyết
Bị đầu rơi vĩnh biệt trần gian
Hồng ân tử đạo vững vàng
Thiên đàng vĩnh cửu huy hoàng Nước Cha
Máu tử đạo chan hòa Bảy Mẫu
Một niềm tin nung nấu cháu con
Tin mừng đạo Chúa mãi còn
Lưu danh kim cổ sắt son rạng ngời
Năm Canh Tý (1840) phúc ôi tử đạo
Theo nguồn tin thông thạo Roma
Năm Canh Tý (1900) Ðức Thánh Cha
Suy tôn Chân Phước nay ta tôn thờ
Lời bất hủ: Trước các quan tra hỏi lúc thì tra tấn, lúc thì ngon ngọt để cha xuất giáo, cha đáp: "Tôi đã già chẳng còn sống được bao lâu nữa, tôi sẵn sàng chết vì Ðấng đã chết cho tôi".. Cha Hiển nói thẳng với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh: "Xin quan cứ tuân lệnh vua, đừng ép thêm vô ích, chúng tôi sẵn sàng chết để tỏ lòng yêu mến Chúa
Đamien
01-09-2006, 06:51 PM
Ngày 11 tháng 05:
Thánh Matthêu LÊ VĂN GẪM
Sinh: 1813
Quê quán: Tại họ Tắt, làng Long Ðại, xứ Gò Công, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc huyện Thủ Ðức.
Chức vị: Thương gia
Tử đạo: 11-05-1847 Xử trảm tại Chợ Ðũi đời Thiệu Trị
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giáo dân Lê Văn Gẫm tử đạo
Sinh Quý Dậu (1813) thông thạo Gò Công
Mười lăm tuổi xin vào dòng
Mẹ cha chẳng chịu buộc lòng phải ra
Theo mẹ cha về nhà sinh sống
Lập gia đình khăn đóng áo dài
Họ Thành bên vợ sánh vai
Long Ðiền Bà Rịa miệt mài bán buôn
Nghề thương mại Gẫm luôn xa vợ
Ðã ngã sa nên lỡ đèo bòng
Hồng ân Thiên Chúa quan phòng
Hồi tâm từ bỏ thoát vòng trái ngang
Rồi sau đó sẵn sàng hoán cải
Sống thủy chung con cái yêu thương
Bốn con giáo dục theo đường
Gia đình đạo đức Chúa thương thuận hòa
Bị thử thách thật là quá nặng
Hai người con bệnh nặng ra đi
Còn anh cản trở chưa đi
Nhà thờ chúng đốt ắt thì ra can
Cả bọn chúng dã man đã giết
Con thứ tư đặc biệt hơn nhiều
Bắt vì đạo bị chết thiêu
Khám đường bốc cháy với nhiều tù nhân
Về gia cảnh, thập phần gian khổ
Việc bán buôn, Chúa đổ ơn riêng
Làm ăn phát đạt triền miên
Ông luôn giúp đỡ, khắp miền thừa sai
Giúp giáo sĩ, trong ngoài ẩn trốn
Rất nhiệt thành khiêm tốn sớm trưa
Ðức cha Ngãi ông nhận đưa
Sài Gòn về đến, kẻ thưa bắt liền
Lính giải ông và truyền tống ngục
Ðến ngày mai tiếp tục khẩu cung
Lệnh quan mi phải phục tùng
Tên chi khai báo ở vùng nào đâu
Thưa quan lớn khởi đầu tên Bửu
Sau đổi Gẫm dắt díu tới nay
Singapore buôn muối qua ngày
Gặp Tây giáo sĩ nơi này quá giang
Tôi chở họ trên đàng về nước
Lấy tiền công có được đâu sai
Quan cho lính nọc nằm dài
Ba mươi trượng đánh mi khai dối lừa
Lê Văn Gẫm kính thưa quan án
Tại Hạ Châu mua bán đã xong
Chuyến về thuyền chạy xuôi dòng
Quá giang Giáo sĩ thuận lòng chở theo
Đamien
01-09-2006, 06:52 PM
Gẫm khai đúng, quan đèo đánh mãi
Chở Tây về làm cái gì đây
Lòng tôi mộ mến hai Thầy
Sang đây giảng đạo tràn đầy tình thương
Về Chợ Sỏi, mở đường rao giảng
Tôi chở đi có phản ai đâu
Cải tà quy chánh ngõ hầu
Phượng thờ Thiên Chúa nhiệm mầu uy linh
Quan nổi giận bực mình quát lớn
Về nhà ai, chẳng ớn sợ ta
Tôi khai thành thật rõ mà
Nếu quan không thuận, tôi đà nói theo
Quan Thượng giận, gông đeo tống ngục
Ðể lính canh tiếp tục tấn tra
Hôm sau quan dụ sẽ tha
Nếu chịu quá khóa, quan đà thưởng công
Tôi khẳng định sẽ không bỏ đạo
Dù Vua Quan tàn bạo tới đâu
Triều đình bản án về tâu
Chứng nhân anh dũng cứng đầu kiên gan
Các Linh Mục, cải trang giải tội
Trao Máu Mình, sám hối ăn năn
Gia đình thân phụ vào thăm
Chia tay an ủi khuyên răn nguyện cầu
Mấy quan chức đơn tâu giảm án
Cho lưu đầy, ly tán chung thân
Giao tranh thua Pháp thiệt quân
Nhà Vua quyết định nên cần thẳng tay
Ðến pháp trường, ở ngay Chợ Quán
Gọi Da Còm buổi sáng tháo gông
Ðưa tiền đao phủ chém ông
Sao cho thật gọn để không đau lòng
Vừa mới dứt tiếng, xong chiêng trống
Người tiếc thương, xô đống khóc than
Viên đao phủ quá vội vàng
Phải ba lần chém, đứt ngang rơi đầu
Phúc tử đạo từ lâu mong ước
Năm Ðinh Mùi (1847) mới được hiến thân
Võng khiêng đem sẵn lại gần
Thay liền áo trắng, cổ cần khăn xanh
Ðưa Chợ Quán vinh danh an táng
Một chứng nhân xứng đáng kiên trung
Tuyên xưng đạo Chúa uy hùng
Matthêô Thánh Gẫm Thiên Cung đón chào
Người chiến sĩ máu đào tuôn đổ
Tại Sài Gòn giữa chỗ thành đô
Vinh danh Thiên Chúa tung hô
Nêu gương tử đạo điểm tô rạng ngời
Năm Canh Tý (1900) tuyệt vời phong thánh
Ðức Thánh Cha Lêô mười ba
Từ Roma lệnh ban ra
Lên hàng Á thánh hoan ca Nước Trời
Lời bất hủ: Khi thánh Gẫm bị mang gông xiềng xích nặng nề ngài bình tĩnh vui vẻ nói: "Tôi có ăn trộm, ăn cướp gì đâu mà sợ, mà buồn. Ðược chết vì đạo là điều tốt lắm". Thân mẫu của thánh Gẫm là cụ Nhiệm thuật lại trước toà phong thánh rằng: "Hai vợ chồng chúng tôi nghe con chết thì chẳng có thảm thiết gì, một vui lòng mà rằng: chết vậy đặng làm thánh".
Đamien
02-09-2006, 09:09 AM
Ngày 22 tháng 05:
Thánh Micae HỒ ÐÌNH HY
Sinh: 1808
Quê quán: Tại Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên.
Chức vị: Quan Thái Bộc (hàm Tam Phẩm, đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước)
Tử đạo: 22-05-1857 Xử trảm tại An Hoà - Huế đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Hồ Ðình Hy là quan Thái Bộc
Năm Mậu Thìn (1808) quê nội Thừa Thiên
Học hành Hán Pháp chăm chuyên
Tính tình khiêm tốn vốn riêng của chàng
Ra làm việc giỏi giang thơ lại
Thuộc bộ công hăng hái nhiệt tình
Hai mươi tuổi lập gia đình
Cô Tân đức hạnh xinh xinh gần nhà
Hôn nhân kết hợp đa hạnh phúc
Sinh năm con Chúa chúc ơn lành
Con trai trưởng, ơn gọi anh
Cha Thinh linh mục nhiệt thành giảng rao
Cố Hy giỏi vua trao Tham Tán
Chức Thái Bộc xứng đáng vua ban
Coi về ngành dệt Việt Nam
Phong hàm Tam Phẩm đảm đang lâu dài
Ông uy tín vua ngài tin cẩn
Một số quan trắc ẩn ghen tương
Xin truất chức nói trật đường
Nhưng vua Tự Ðức tăng lương cấp hàm
Dưới triều Nguyễn, vua ban bách đạo
Hồ Ðình Huy mạnh bạo tuyên xưng
Bàn thờ đèn nến sáng trưng
Hằng ngày lần hạt không ngừng nguyện kinh
Khi giao dịch thân tình Quan Lại
Ảnh hưởng nhiều mê gái ngã sa
Ngoại hôn con cái có ba
Ðược ơn Chúa xuống nhận ra lỗi lầm
Ông quyết chí tĩnh tâm sám hối
Ba đứa con rửa tội dưỡng nuôi
Gia đình hạnh phúc êm xuôi
Làm nhiều việc thiện khôn nguôi hướng tìm
Ông tâm sự nhận nhìn với bạn
Lấy nước sông rửa cạn còn nhơ
Hồng ân của Chúa con nhờ
Cho con tử đạo tôn thờ Chúa trên
Ta ôn lại nêu lên gương mẫu
Cứu giúp người tốt xấu thanh liêm
Ðược tha chẳng có nhận tiền
Một người khác bị bệnh ghiền muốn cai
Ðược giới thiệu kêu nài Quan giúp
Rất thân tình ở túp lều sau
Thân hình tiều tụy ốm đau
Ði về ông ghé thăm nhau nghĩa tình
Và chăm sóc đệ huynh tận tụy
Người trách ông ngồi nghỉ thảnh thơi
Yêu người mến Chúa đạo Trời
Phải làm việc thiện Chúa thời thứ tha
Ðền bù những lỗi ta sai phạm
Làm tận tâm chớ nản qua lần
Gắng công bác ái cho cân
Chớ đừng máy móc nặng phần phô trương
Có người nọ tai ương gặp khó
Quá bần hàn vì đó cho con
Trẻ thơ hai gái gầy mòn
Quan Hy chuộc lại sau còn dưỡng nuôi
Đamien
02-09-2006, 09:24 AM
Cho học đạo xong xuôi rửa tội
Khi trưởng thành Quan hội ý riêng
Hai cô phát biểu nói lên
Gia đình thành lập cô liền đi tu
Giám Mục giao trách vụ hỗ trợ
Các Thầy dòng, tu ở Thừa Thiên
Quản coi tài sản giáo quyền
Tấm lòng quảng đại giúp tiền của thêm
Thuyền Giám Mục đi bên thuyền lạ
Ðụng vô nhau bắt vạ bồi thường
Quan Hy chạy lại thân thương
Cởi ngay áo quý bồi thường cho êm
Khi tàu Pháp bắn lên Ðà Nẵng
Triều Ðình nghi chắc hẳn Ðình Hy
Quan Thái Bộc nhốt tức thì
Buộc ông bỏ đạo bắt quỳ giữa sân
Tiếp sau đó nhiều lần tra tấn
Ông quá đau lầm lẫn đã khai
Tưởng rằng họ đã chạy dài
Ai ngờ lùng bắt gần vài chục ông
Ông than khóc cậy trông hối hận
Xin Chúa thương bớt giận thứ tha
Sẵn sàng đổ máu mình ra
Tôn vinh danh Chúa xót xa lỗi lầm
Vua Tự Ðức dã tâm dụ giỗ
Ðã khuyên ông giả bộ bước qua
Trên cây Thập Giá dưới nhà
Hạ thần chịu chết vì Cha trên Trời
Vua Tự Ðức cấp thời kết án
Hồ Ðình Hy phản kháng luật vua
Liên can với Pháp vào hùa
Chém đầu đem xử lệnh vua ký vào
Ta hạ lệnh ban trao binh sĩ
Quanh thành nội dẫn Hy ba ngày
Rêu rao tội nó dân hay
Thêm ba mươi trượng chốn này ngã ba
Bọn đạo Chúa thấy mà tủi nhục
Bỏ đạo tà quy phục quyền ta
Hồ Ðình Hy chém đầu mà
Hắn theo tả đạo nước nhà bất trung
Hồ Ðình Hy anh hùng tử đạo
Bị dẫn đi tố cáo Thừa Thiên
Dọc đường cầu nguyện thản nhiên
Ông xin ân huệ sông liền rửa chân
Ngồi trên chiếu rồi châm điếu thuốc
Sau đứng lên tóc buộc chỉnh y
Nguyện cầu sốt sắng bái quỳ
Lý hình trảm quyết biệt ly thế trần
Phúc tử đạo dành phần Ðinh Tỵ (1857)
Ít có người địa vị tuyên xưng
Mừng vui Giáo hội khôn ngừng
Kỷ Dậu (1909) phong thánh tưng bừng hoan ca
Lời bất hủ: Quan Thái Bộc có sa ngã phạm tội, ông có thống hối: "Tôi nghĩ dù lấy nước của các con sông trên địa cầu, cũng không thể rửa sạch tội của tôi được, có lẽ chỉ có thể rửa sạch chúng bằng chính máu của tôi thôi". Có lần chính vua Tự Ðức xét xử và khuyên quan, ít là giả bộ bước qua Thập giá, ông trả lời thẳng thắn: "Tâu Bệ Hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước và tôi trung. Hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Chúa Kitô, đền bù tội lỗi và được chết thánh thiện". Trở lại ngục ông nói với bạn bè: "Tôi thấy đời tôi sắp tận số rồi, chỉ mong sao giữ vững được đức tin đến giờ phút cuối đời". Vua kết án quan Hồ Ðình Hy như sau: "Khinh luật nước, theo tả đạo, lại gởi con đi Tân Gia Ba, thăm đạo trưởng Oai và bàn chuyện liên lạc với tàu Pháp. Rõ ràng là đứa hai lòng đáng chết nghìn lần. Ta truyền phải chém đầu làm gương". Vua thêm chi tiết: "Dẫn y vòng quanh thành nội ba ngày, khi ngang qua chợ hay chỗ công cộng phải rao tội nó, đến ngã ba phải đánh y 30 trượng. Có thể bọn Giatô sẽ lấy làm tủi nhục mà lo sửa mình". Lúc qua cầu An Hoà đến chỗ xử, quan nói câu cuối cùng: "Ði xa làm chi, ở đây tôi có nhiều bạn hữu bà con." Quan được xử tại đó.
Đamien
02-09-2006, 09:27 AM
Ngày 22 tháng 05:
Thánh Lôrensô NGÔN
Sinh: 1840
Quê quán: Tại Giáo xứ Lục Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Nông dân.
Tử đạo: 22-05-1862 hành quyết tại trại giam An Xá- Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lôrensô Ngôn gia đình đạo đức
Sinh Canh Tý (1840) tá túc Thiên Trường
Chính làng Lục Thủy quê hương
Gần Thành Nam Ðịnh kiên cường Việt Nam
Lập gia đình đảm đang gia trưởng
Thương vợ con định hướng đề ra
Tề gia đạo đức thật thà
Yêu người mến Chúa phải là thành tâm
Anh khiêm tốn, âm thầm sống đạo
Phải mẫu gương loan báo đức tin
Phúc âm lời Chúa hướng tìm
Hằng ngày khẩn nguyện, trái tim nhân lành
Vua cấm đạo nên anh bị bắt
Chúng giải đi trói chặt tay chân
Thương vợ con nghĩ xa gần
Tôi trung với Chúa hai phần phân vân
Anh hối lộ quan quân tiền chuộc
Ðược tự do thân thuộc mừng vui
Họ hàng chia sẻ ngọt bùi
Bà con bạn hữu, ngọt bùi ủi an
Ðây hồng phúc, Chúa ban tử đạo
Có đâu ngờ ai báo lên quan
Lần hai bị bắt tống giam
Xuân Trường Nam Ðịnh gian nan ngục tù
Tìm cách trốn khỏi khu ngục thất
Về gia đình thân mật ủi an
Mẹ cha với vợ con bàn
Trung thành với Chúa, vững vàng đức tin
Rồi sau đó anh tìm trở lại
Vào nhà giam quan lại trói gông
Roi đòn tra tấn hội đồng
Bắt anh quá khóa nếu không, tử hình
Anh Ngôn vẫn trọn tình đoan hứa
Mãi tôn vinh Thiên Chúa trên Trời
Ngài là Chúa Tể muôn nơi
Sẵn sàng chịu chết muôn đời tôn vinh
Quan tức giận, bực mình trảm quyết
Nhưng anh Ngôn cương quyết hy sinh
Hai người thân thiết gia đình
Vợ hiền với mẹ nghĩa tình chứng nhân
Phúc tử đạo lãnh phần Nhâm Tuất (1862)
Tại Thành Nam đẹp nhất đời trai
Ðức Thánh Cha (Piô) thứ mười hai
Suy tôn Tân Mão (1951) cho Ngài hiển linh
Lời bất hủ: Quan xét xử và đưa lời dụ dỗ, anh nông dân trai trẻ chất phác trả lời: "Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa cả trời đất, Thập giá là phương thế Thiên Chúa đã dùng để cứu độ nhân loại, tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp. Nếu quan cho tôi sống, tôi cảm ơn quan, còn không, tôi sẵn sàng vui lòng chịu chết vì đức tin vào Chúa tôi".
Đamien
02-09-2006, 09:31 AM
Ngày 25 tháng 05:
Thánh Phêrô ÐOÀN VĂN VÂN
Sinh: 1780
Quê quán: Tại làng Kẻ Bói, xứ Kẻ Sông, tỉnh Hà Nam, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 25-05-1857 Xử trảm tại Sơn Tây - Huế đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðoàn Văn Vân sinh năm Canh Tý (1780)
Tỉnh Hà Nam đăng ký Kẻ Sông
Cha Thi Người rất có công
Nhận Vân nuôi dưỡng nhi đồng đi tu
Và được gởi vào khu chủng viện
Rất thông minh giỏi tiếng Latinh
Hai lăm tuổi khấn dâng mình
Ðược phong Thầy giảng nhiệt tình giảng rao
Thầy được cử đi bao họ đạo
Sau cử về Bầu Nọ quản cai
Nơi đây phục vụ lâu dài
Thầy luôn tận tụy có tài ngoại giao
Hay giúp đỡ người nào nghèo khó
Năng viếng thăm đâu có bệnh nhân
Thật là chu đáo ân cần
Tấm gương Giáo Phận xa gần noi theo
Hai chức sắc bám đeo Thầy giảng
Bắt lão ông gần khoảng tám mươi
Mang gông nặng ra pháp trường
Hai người lính đỡ, dẫn đường chứng nhân
Tuổi già sức yếu gần té ngã
Lính quàng dây cổ, đã kéo đi
Gương mặt ông vẫn kiên trì
Thầy xin vài phút thực thi nguyện cầu
Rồi sau đó cúi đầu chịu chém
Vung gươm lên, sắc bén đứt đầu
Giáo dân Bách Lộc nguyện cầu
Mộ chôn an táng đào sâu pháp trường
Sau cải táng thánh đường Bách Lộc
Tại nơi đây có độc mộ Ngài
Gia đình giáo hữu quản cai
Hằng năm thăm viếng triển khai nguyện cầu
Năm Ðinh Tỵ (1857) rơi đầu tử đạo
Thắng bạo tàn gươm giáo loài người
Ðức Giáo Hoàng Piô mười
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) đời đời quang vinh
Lời bất hủ: Trước công đường quan Phủ tra vấn, thầy khiêm tốn trả lời: "Bẩm quan, tôi nói thật không dám khai man, tôi chỉ là thầy giảng. Quan lớn cho tôi là đạo trưởng thì đó là ý quan lớn, chứ tôi không dám nhận"..Thầy trả lời tiếp: "Bẩm quan lớn, tôi giữ đạo đã bấy nhiêu tuổi đời, lẽ nào còn bỏ đạo".
Đamien
02-09-2006, 09:35 AM
Ngày 26 tháng 05:
Thánh Gioan ÐOÀN TRINH HOAN
Sinh: 1798
Quê quán: Tại họ Kim Long, Phú Xuân, Huế.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 26-05-1861 trảm quyết tại Ðồng Hới đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðoàn Trinh Hoan phụ cận thành Huế
Sinh Mậu Ngọ (1798) huynh đệ Kim Long
Mẹ Cha khuyến khích đồng lòng
Dâng Hoan nhà Chúa, cầu mong ơn lành
Vào chủng viện học hành chăm chỉ
Pénang chọn tu sĩ gởi đi
Chủng viện Thầy đỗ nhất nhì
Hồi hương về nước, sau thì thụ phong
Cha lãnh nhận coi trông nhiệm sở
Hai sáu năm chẳng ở đâu lâu
Hăng say hoạt động tươi mầu
Nhưng vì bách hại, bắt đầu ẩn cư
Ði phục vụ không như ngày trước
Với giáo dân Ngài được mến yêu
Phúc âm lời Chúa tín điều
Biệt tài rao giảng, sớm chiều nhủ khuyên
Ðổi chỗ ở khắp miền liên tục
Ở thuyền nhiều đôi lúc lên bờ
Kiên tâm đào tạo đón chờ
Các Thầy giúp đỡ, những giờ học riêng
Giúp bạn trẻ vào liền chủng viện
Ðể sau này thực hiện đời tu
Nguyện xin ơn Chúa hộ phù
Thụ phong linh mục, giáo khu Tông đồ
Ði phục vụ ra vô quan bắt
Ông Trùm Phượng đi cặp với Cha
Quảng Bình quan trấn ngồi tòa
Ông cho tra tấn, thật là dã man
Kìm sắt nung, sẵn sàng để kẹp
Vào đùi tay, khét nẹt xèo xèo
Lại còn Thánh Giá mang theo
Chứng nhân quá khóa, hò reo chúng mừng
Cha Hoan nói quan đừng hoang tưởng
Dù đầu rơi thịt nướng chẳng sao
Hồng ân tuôn đổ máu đào
Chứng nhân của Chúa Trời cao kiên cường
Quan cho giải khám đường để nhốt
Cha có tài khéo tốt xã giao
Các phòng giam dễ ra vào
Giáo dân khích lệ ban trao Máu Mình
(Cha Hoan cho giáo dân rước lễ)
Cha ra hiệu lý hình tiến tới
Phải ba nhát gươm mới rơi đầu
Thi hài chôn cất nơi đâu
Tài liệu không thấy, ngõ hầu tỏ thông
Chắc có lẽ cũng không thất lạc
Quanh Quảng Bình giáo hạt hỏi thăm
Thời gian cũng khá lâu năm
Mộ linh mục Hoan, trước nằm nơi đâu
Phúc tử đạo chém đầu Tân Dậu (1861)
Là người con trung hậu Nước Trời
Ðức Thánh Cha Piô mười
Vào năm Kỷ Dậu (1909) tôn người thánh nhân
Lời bất hủ: Trong tù, cha đi thăm và khuyên các bạn tù rằng: "Giờ cuối cùng của tôi không còn xa. Phần anh em, những người con yêu quý, anh em còn ở lại trần gian đau khổ này, anh em hãy trung tín đến cùng. Xin anh em cầu nguyện cho tôi hoàn thành ý Chúa cho trọn". Khi nghe đọc bản án cha nói: "Con tạ ơn Chúa, Ngài đã cho con biết trước giờ được đổ máu vì danh Ngài". Quan hỏi: "Có muốn trói vào cột không?". Ngài đáp: "Không cần, tôi sẽ quỳ yên không nhúc nhích, nếu tôi không tự nguyện nhận cái chết, tôi đã chẳng đến đây. Xin cho tôi vài phút để cầu nguyện".
Đamien
02-09-2006, 09:43 AM
Ngày 26 tháng 05:
Thánh Matthêu NGUYỄN VĂN PHƯỢNG
(tức Nguyễn Văn Ðắc)
Sinh: Khoảng 1808
Quê quán: Tại làng Kẻ Lái, tỉnh Quảng Bình.
Chức vị: Trùm họ
Tử đạo: 26-05-1861 xử trảm tại Ðồng Hới đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Văn Phượng là ông Trùm họ
Sinh Mậu Thìn (1808) nơi trọ Quảng Bình
Thật lòng giúp đỡ đệ huynh
Anh theo Cha Ðiểm, như tình Cha con
Tuy tuổi trẻ vuông tròn tận tụy
Cha mai mối đã chỉ cho anh
Một người thiếu nữ hiền lành
Hôn nhân kết hợp đồng hành tề gia
Thời gian đó anh đà theo đạo
Ðược Cha Ðiểm, thông báo giáo dân
Vợ chồng hòa thuận chuyên cần
Dọn về bố vợ dễ phần mưu sinh
Ông đội Khiêm gia đình y sĩ
Sau ba năm quyết chí bán buôn
Gia đình sung túc tiến luôn
Thật là hạnh phúc Chúa tuôn vun trồng
Ông bà Phượng có đông con cái
Vẫn chu toàn khéo lái gia đình
Yêu người mến Chúa hy sinh
Bán buôn với khách đệ huynh thật thà
Xưng tội rước lễ đà nhắc nhở
Thăm bệnh nhân giúp đỡ bà con
Mỗi tuần thu xếp vuông tròn
Có người cháu gái là con tu dòng
Năm mươi tuổi long đong vợ mất
Xứ Sáo Bùn thật rất mến tài
Bầu ông Trùm họ quản cai
Khó khăn linh mục biết ai nhiệt tình
Ông phục vụ quên mình dân Chúa
Nhiều trẻ em, ông rửa tội cho
Tân tòng dậy dỗ chăm lo
Các Cha Thầy giảng, ông cho ở nhà
Trước cái chết người ta dự đoán
Ông mỉm cười, đâu ngán cứ làm
Hồng ân Chúa, sẽ thương ban
Cho người giáo hữu, đảm đang làm Trùm
Ra tới cửa lính cùm Trùm Phượng
Hai Cha con đồng hướng pháp trường
Lính cầm bản án tay giương
Lệnh quan la hét lẽ thường trói tay
Trùm Phượng nói, tôi đây khỏi trói
Ông quay sang, để trối ba con
Ủi an hãy sống cho tròn
Tôn vinh danh Chúa, hẹn còn gặp nhau
Hồi chiêng trống, vang mau kết thúc
Ðầu ông Trùm, tới lúc phải rơi
Ba con than khóc đã đời
Thi hài an táng, về nơi quê nhà
Phúc tử đạo quê ta Tân Dậu (1861)
Lấy máu đào để tậu Nước Trời
Ðức Thánh Cha Piô mười
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) phong người thánh nhân
Lời bất hủ: Trước giờ tử đạo, ông Phượng khuyên các con đang quỳ khóc tiễn biệt như sau: "Các con của cha ơi, đừng khóc, đừng buồn làm chi, cha đã gặp vận hội may mắn. Anh em chúng con hãy sống thuận hoà, yêu thương đùm bọc nhau".
Đamien
02-09-2006, 09:45 AM
Ngày 28 tháng 05:
Thánh Phaolô HẠNH
Sinh: Khoảng 1827
Quê quán: Tại làng Tân Triều, tỉnh Biên Hoà.
Chức vị: Giáo dân
Tử đạo: 28-05-1859 xử trảm tại Nam Việt đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phaolô Hạnh sinh năm Ðinh Hợi (1827)
Tại Tân Triều giáo hội Ðồng Nai
Giáo dân lẩn trốn chạy dài
Vua quan tàn sát những ai đạo trời
Gia đình Hạnh kịp thời chạy thoát
Về Sài Gòn phiêu bạt đó đây
Sống nghề buôn bán qua ngày
Ðến Chợ Quán ở, nơi này nhiễu nhương
Hạnh giao dịch tay thường lường gạt
Bắt chẹt người doạ nạt lương dân
Hình như đã có một lần
Tổ chức băng đảng đích thân cầm đầu
Rồi sau đó nghe đâu thức tỉnh
Ðánh động anh đổi tính giang hồ
Ra tay nâng đỡ thế cô
Giúp cho kẻ yếu nhào vô cứu liền
Lòng hòa hiệp gắn liền hậu quả
Những kẻ này sau đã phục thù
Tố anh giáo hữu trong khu
Tiếp tay với Pháp, giặc thù xâm lăng
Trước tòa án khăng khăng không nhận
Tôi có đâu dắt dẫn theo Tây
Rồi quan hỏi hãy nghe đây
Anh là giáo hữu, nơi này phải không
Anh khẳng định quan ông nói đúng
Ở nơi đây ai cũng biết tôi
Là Kitô giáo lâu rồi
Tôn vinh danh Chúa Ngôi Lời Giêsu
Tôi cương quyết cho dù có chết
Luôn sẵn sàng nhận hết khổ hình
Sắt thanh nung đỏ dí mình
Roi đòn kìm kẹp thật tình dã man
Vẫn không đạt xoay sang dụ dỗ
Bỏ đạo đi ngoan cố nát thây
Bước qua Thánh Giá nơi đây
Quan tha tiền thưởng có đầy tự do
Hạnh lại nói thật to duy nhất
Cho đến chết, đạo thật Kitô
Giêsu Thiên Chúa tung hô
Lý hình trảm quyết đem vô pháp trường
Chí Hòa khoảng giữa đường Văn Duyệt
Thi hài đã đặc biệt đưa về
Nghĩa trang Chợ Quán đông ghê
Ngàn thu an nghỉ, hồn về Thiên Cung
Ðời phiêu bạt sau cùng thống hối
Chúa đón ngay kẻ rối ăn năn
Vượt bao nguy hiểm khó khăn
Hồng ân tử đạo mùa xuân Kỷ Mùi (1859)
Năm Kỷ Dậu (1909) danh người phong thánh
Chiếu chỉ ban Toà Thánh Roma
Triều đại mười Ðức Thánh Cha
Suy tôn Chân Phước thật là vinh danh
Lời bất hủ: Tất cả những lần quan hỏi cung và tra xét rồi dụ dỗ, ngài chỉ khẳng định một điều duy nhất: "Tôi là Kitô hữu, không bao giờ tôi chối đạo". Lầnkhác ngài khẳng định: "Tôi sẽ là Kitô hữu cho đến chết".
Đamien
02-09-2006, 09:49 AM
Ngày 01 tháng 06:
Thánh Giuse TÚC
Sinh: 1843
Quê quán: Tại họ đạo Hoàng Xá, xứ Ngọc Ðồng, tỉnh Hưng Yên (nay là Hải Hưng).
Chức vị: Giáo dân
Tử đạo: 01-06-1862 chém đầu tại Hưng Yên đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Trong hàng ngũ các Thánh Tử Ðạo
Có những gương mạnh bạo thanh xuân
Mười lăm, hai mươi tuổi trần
Như bông hoa nở, toàn phần tươi xinh
Tin vào Chúa hy sinh cao cả
Chết hào hùng nên đã tuyên xưng
Sẵn sàng loan báo Tin mừng
Giuse tên Túc, tưng bừng Hưng Yên
Năm Quý Mão (1843) sinh trên Hoàng Xá
Xứ Ngọc Ðồng, người đã hy sinh
Nông dân đạo đức nhiệt tình
Mẹ cha lại muốn, con mình thành danh
Vâng lời thân phụ, anh chăm chỉ
Học Hán văn hoan hỷ siêng chăm
Bút nghiên mới được mấy năm
Vua ban chiếu chỉ, truy tầm giáo dân
Cuộc bách hại toàn phần lớn nhỏ
Giuse Túc, hồi đó thanh niên
Lính vây đã bắt anh liền
Giải giao về tỉnh, quan truyền tống giam
Ngày gông nặng đêm mang xiềng xích
Sống biệt giam chật ních Ðông Khê
Nơi đây bốn tháng não nề
Rồi sau mới được đưa về nhốt chung
Kiên, Lương, Ngân, thường cùng an ủi
Ðộng viên nhau, lần chuỗi nguyện chung
Ðức tin vững mạnh tới cùng
Một số thân hữu, trong vùng giúp anh
Muốn lo lót lính canh để trốn
Anh cản ngăn, tiền tốn phiền hà
Sợ người liên lụy vì ta
Vâng theo ý Chúa, mới là hồng ân
Còn thân xác giản đơn càng tốt
Chôn thì chôn hay đốt tùy nghi
Mọi người chớ có ngại gì
Linh hồn tin chắc sẽ đi về Trời
Sau lại giải về nơi thị trấn
Tại Hưng Yên tra tấn dụ khuyên
Lòng anh sắt đá trung kiên
Thanh niên dũng cảm, bạo quyền chịu thua
Quan nhất trí cho đưa trảm quyết
Tại pháp trường tha thiết kêu tên
Giêsu lớn tiếng vang lên
Bà Linh nhìn thấy đứng bên pháp trường
(Bà Maria Linh kể lại đã nhìn thấy đầu người tôi tớ Chúa tung lên cao cho quan thấy)
Ðầu tung lên, phô trương quan án
Ðể trình tâu, chứng giám tuân hành
Mộ chôn tại chổ xử anh
Sau được cải táng lưu danh Ngọc Ðồng
Phúc tử đạo tươi hồng Nhâm Tuất (1862)
Tuổi thanh xuân đẹp nhất tên anh
Ðức Giáo Hoàng (Piô XII) tôn thánh danh
Vào năm Tân Mão (1951) sử xanh lưu truyền
Lời bất hủ: Khi thân nhân lo lót cho quân lính để có cơ hội trốn khỏi ngục, anh nói: "Tôi sẽ không trốn bất cứ cách nào, vì nếu tôi trốn sẽ làm khổ người khác. Chúa muốn thế nào tôi xin nhận như thế". Giuse Túc lại nói với những bạn tù như sau: "Tôi an tâm, không lo lắng gì cả, nếu Thiên Chúa cho tôi đổ máu vì đạo, tôi tin chắc sẽ được về trời. Còn thân xác này chôn được thì chôn, bằng không chôn được thì thôi".
Đamien
02-09-2006, 09:54 AM
Ngày 02 tháng 06:
Thánh Ðaminh TRẦN DUY NINH
Sinh: 1841
Quê quán: Tại làng Trung Linh, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Giáo dân (Nông dân)
Tử đạo: 02-06-1862 hành quyết tại An Triêm đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Trần Duy Ninh sinh năm Tân Sửu (1841)
Tại Trung Linh thuộc tỉnh Thành Nam
Nhà nông anh chịu khó làm
Học hành cũng được mấy hàng chữ nôm
Xứ Trung Linh những hôm đại lễ
Toàn giáo dân không kể trẻ già
Vui mừng như hội hát ca
Vì trong làng sống toàn là giáo dân
Ðời sống đạo quây quần vui vẻ
Cũng xứ này nảy nở chủng sinh
Ngày xưa Toà giám đóng dinh
Người ta thường nói Trung Linh đất lành
Tuy làm ruộng anh Ninh tốt bụng
Không gian tham lợi dụng của ai
Gia đình cha mẹ quản cai
Vâng lời đâu dám một hai mất lòng
Cha mẹ anh khi không bắt ép
Cưới vợ về khép nép dám sai
Tuy không thuận chẳng kêu nài
Vợ chồng tuy cưới lạt phai hửng hờ
Lệnh cấm đạo bấy giờ gay gắt
Suốt đêm ngày lùng bắt giáo dân
Lệnh phân sáp vua chỉ cần
Bước qua thấp giá, đỡ đần tha ngay
Trần Duy Linh đêm ngày cầu nguyện
Xin cho con thực hiện ý Cha
Thập giá không chịu bước qua
Dù phải chịu chết khảo tra rũ tù
Quan giận nói mầy ngu quá cỡ
Bước qua đi cho đỡ đòn gông
Một hai ba đến mười không
Anh Ninh vẫn vững như đồng chẳng nao
Với cha mẹ ai nào dám hỗn
Ðây Chúa Trời tôi vốn phụng thờ
Hằng ngày không dám thờ ơ
Mà ông lại bảo tôi giờ bỏ ngay
Quan giận nói thằng này ngoan cố
Làm án ghi chặt cổ cho xong
Trần Duy Ninh đã ghi công
Nhâm Tuất (1962) tử đạo cộng đồng nêu gương
Năm Tân Mão (1951) chủ trương Toà Thánh
Ðã ghi công danh tánh của anh
Suy tôn Chân phước an lành
Anh Ninh tử đạo ghi danh Nước Trời
Lời bất hủ: Quan bắt anh Ninh chà đạp lên Thập giá, nhưng anh can đảm trả lời: "Nếu làm con cái không được phép làm sỉ nhục cha mẹ mình thì làm sao người Kitô hữu lại được phép chà đạp hình ảnh của Ðấng tạo thành trời đất, xin quan cứ thi hành điều quan muốn, còn tôi không bao giờ xúc phạm đến Thánh giá Chúa đâu".
Đamien
02-09-2006, 09:58 AM
Ngày 03 tháng 06:
Thánh Phaolô ÐỔNG (Dương)
Sinh: 1802
Quê quán: Tại Vực Ðường, thuộc xứ Cao Xá, tỉnh Hưng Yên (nay là Hải Hưng).
Chức vị: Thủ bạ (làm quản lý trông coi sổ sách)
Tử đạo: 03-06-1862 chém đầu tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phaolô Ðổng sinh năm Nhâm Tuất (1802)
Tại Vực Ðường đẹp nhất Hưng Yên
Gia đình đạo đức trong miền
Từng làm quản lý bạc tiền vô tư
Thủ Bạ Ðồng thích tự hai má
Một bên là đạo tả Giatô
Bên kia địa chỉ thích vô
Một cụ già bỏ, lại hô không làm
Bị bọn lính dã man cứ thích
Sau cụ già xóa vứt bỏ đi
Bỏ chữ tả, hữu khắc ghi
Quan xem nổi giận, trao đi tử hình
Cụ già đó gồng mình gạch xóa
Họ Vực Ðường, Cao Xá, Hưng Yên
Trông coi tài sản giáo quyền
Thi hành chiếu chỉ, quan liền bao vây
Ðặt Thánh Giá tràn đầy lối ngõ
Dân đi qua tới đó đạp lên
Ông Ðồng can đảm cự liền
Quan truyền lính giải về miền Phủ Thi
Quan dụ dỗ, hãy thì bỏ đạo
Sẽ giúp ông tái tạo cuộc đời
Ông Ðồng khẳng định quan ơi
Trung thành một Chúa trên trời, Kitô
Giải về thành mới vô gần cửa
Ông dừng ngay, cách nửa bước chân
Một cây Thánh Giá sát gần
Ngay trên mặt đất, phải cần bước qua
Phaolô Ðồng ông đà ngừng lại
Quan quát lên sao cãi lệnh ta
Lính cai đánh đập quá mà
Vẫn không tuân phục, quan đà nhốt ông
Vào cái cũi chật không lối cựa
Ðể khiêng qua chỗ cửa vào thành
Một năm tù ngục hôi tanh
Ngày thời gông cổ, tối đành xiềng chân
Vị quan án nhiều lần tra hỏi
Nhưng trước sau ông nói quyết cương
Ðức tin vững mạnh theo đường
Liền sai lính đánh, vết thương đầy người
Nghe được tin vui tươi: trảm quyết
Ông sấp mình tha thiết nguyện xin
ăn năn tội Chúa đón nhìn
Pháp trường trảm quyết, đức tin vững vàng
Kinh phó dâng, trên đàng theo Chúa
Con quyết lòng đoan hứa kính tin
Dù cho roi vọt kẹp kìm
Ngàn lần khổ cực, khắc in dâng Ngài
Tới pháp trường quan cai nạt nộ
Thầm nguyện cầu Mẹ hộ giúp con
Một nhát gươm, đầu đâu còn
Chứng nhân tử đạo, hồn con về Trời
Năm Nhâm Tuất (1862) sáng ngời Tử đạo
Rất oai hùng Tân Mão (1951) suy tôn
Gan vàng dạ sắt tiếng đồn
Phép vua coi nhẹ lại còn dỡn chơi
Lời bất hủ: Quân lính đòi khắc chữ "Tả Ðạo" lên má ông theo lệnh của nhà vua, ông Phaolô Ðổng không chịu, thế rồi quân lính dùng sức mạnh khắc trên má chữ "Tả Ðạo", ông liền rạch xoá đi, quan cấm cốc ông (nhịn ăn)sau ông xin quan nhờ người bạn tù, khắc vào má ông không phải chữ "Tả Ðạo" nhưng là chữ "Chính đạo", khiến vua quan nổi giận, rồi kết án tử hình ông.
Đamien
02-09-2006, 10:00 AM
Ngày 05 tháng 06:
Thánh Luca VŨ BÁ LOAN
Sinh: 1756
Quê quán: Tại họ Bút Quai, thuộc xứ Bút Ðông, tỉnh Hà Nam, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 05-06-1840 xử trảm tại Cầu Giấy đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Vũ Bá Loan sinh năm Bính Tý (1756)
Tại Bút Quai, giáo xứ Bút Ðông
Thiếu thời tin kính cậy trông
Dâng mình nhà Chúa ngài không ước gì
Qua nhiều năm thực thi chủng viện
Ở Kẻ Bèo đối diện Phú Ða
Thụ phong linh mục tài ba
Nam Xang giúp xứ khoảng là nửa năm
Sau về giúp siêng chăm xứ mới
Cha già Liêm tiến tới Kẻ Vôi
Xứ này lại được chia đôi
Kêu là Kẻ Sở giao rồi Cha Loan
Cha sống thọ Chúa ban tám bốn
Tóc bạc phơ nơi chốn nhà giam
Quan quân hội ý họp bàn
Ðều kêu bằng cụ, bỏ đàng tấn tra
Ngày hành quyết cáng ra để xử
Phòng lý hình đề cử mười ông
Tất cả mười trả lời không
Biết rằng bị phạt mười ông chối từ
Ðao phủ mười một như ngần ngại
Cầm gươm dài tiến lại bên Cha
Cho tôi xin lỗi thứ tha
Thi hành phận sự chẳng là ý tôi
Liền sau đó một hồi chiêng trống
Cha nguyện cầu tay chống gậy quỳ
Nhát gươm tiễn biệt Ngài đi
Hồng ân tử đạo đón đi Nước Trời
Phúc tử đạo sáng ngời Canh Tý (1840)
Sáu mươi năm giáo lý loan truyền
Hồng ân Canh Tý (1900) ưu tiên
Suy tôn Chân Phước ở miền Bút Ðông
Theo di chúc chôn ông xứng đáng
Xứ Kẻ Chuôn an táng thi hài
Máu đào rạng rỡ tương lai
Cha Loan gương mẫu của Ngài kiên trung
Lời bất hủ: Các quan khuyên cha chà đạp lên Thánh Giá. Cha chỉ tìm cách nói khéo đi rằng: "Các linh mục nuôi tôi và Ðức Cha truyền chức cho tôi thì đã chết cả rồi, địa chỉ tôi thì nay đây mai đó, chỗ nào không chứa, tôi ẩn vào chùa nọ đình kia. Riêng việc quá khoá thì thưa quan, tôi là đạo trưởng làm sao tuân điều đó được". Khi quan hỏi tại sao đi đạo ngoại quốc, cha trả lời: "Tôi chẳng theo Chúa nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa trời đất, Chúa của muôn dân thôi".
Đamien
02-09-2006, 10:04 AM
Ngày 05 tháng 06:
Thánh Ðaminh TOẠI
Sinh: 1812
Quê quán: Tại làng Ðông Thành, lập nên xứ Ðông Thành (tách ra khỏi xứ Kẻ Mèn), nay thuộc Giáo phận Thái Bình.
Chức vị: Ngư phủ
Tử đạo: 05-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Ông Ðaminh Toại thường nói với các bạn tù rằng: "Nào anh em hãy cam đảm lên! Chúng ta chịu khổ hình vì Ðức Kitô, nên chúng ta phải đón nhận đau khổ cách nhẫn nại. Chúng ta phải bền chí đến cùng, và nếu cần sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Chúa".
Đamien
02-09-2006, 10:07 AM
Ngày 05 tháng 06:
Thánh Ðaminh HUYÊN
Sinh: 1817
Quê quán: Tại làng Ðông Thành, sau gọi là xứ Ðông Thành (được tách ra khỏi xứ Kẻ Mèn), nay thuộc Giáo phận Thái Bình.
Chức vị: Ngư phủ (Giáo dân)
Tử đạo: 05-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Ðaminh Toại & Ðaminh Huyên
Ðaminh Huyên sinh năm Ðinh Sửu (1817)
Ðaminh Toại hiện hữu Nhâm Thân (1812)
Quê hương hai vị rất gần
Ðông Thành Ba Lạt chuyên cần trên sông
Ðêm đánh cá hừng đông Ba Lạt
Khi gió to thuyền bạt vô bờ
Gia đình cuộc sống đơn sơ
Vợ con trông đợi, đón chờ cầu mong
Nghề đánh cá trên sông, trên nước
Sống qua ngày hưởng được bình an
Bất ngờ chiếu chỉ vua ban
Hai ông bị bắt, giải quan huyện liền
Ông Huyên khỏe, ưu tiên giải trước
Ông Toại đau, tính chước vòi tiền
Nhưng ông từ chối đi liền
Ðón xe trình diện, chính quyền Quỳnh Côi
Trình quan án chúng tôi quyết định
Cả Toại, Huyên khẳng định đức tin
Tăng gia tống ngục xà lim
Thời gian chín tháng kẹp kìm đòn roi
Lòng quả cảm được coi về Chúa
Ủi an nhau đoan hứa sẵn sàng
Công đường bị dẫn tới quan
Ép buộc quá khóa, hoàn toàn chối không
Không lay chuyển hai ông chiến sĩ
Các quan đều đề nghị thiêu sinh
Hai ông biết án của mình
Ca vang chúc tụng, tôn vinh Chúa Trời
Hai ông nhốt mỗi người một cũi
Làm bằng tre ngồi cúi đợi chờ
Bỗng đâu lửa phựt bất ngờ
Ðông người hiện diện, cả giờ thiêu sinh
Hai chiến sĩ Ðaminh thọ án
Thật kiên cường, xứng đáng mẫu gương
Hai ngư phủ được Chúa thương
Nhị bình sông nước, hành hương Nước Trời
Phúc tử đạo sáng ngời Nhâm Tuất (1862)
Xác hai ông thiêu ngất khói cao
Tân Mão (1951) Toà Thánh ban trao
Suy tôn Á thánh tuôn trào hồng ân
Lời bất hủ: Ông Huyên bị tống ngục tù Tăng Già. Suốt thời gian chín tháng ở đây, mọi người có thể thấy rõ lòng quả cảm và kiên cường của ông Huyên, nào đói khát, nào đòn vọt và ngay cả án tử hình cũng không làm ông nản chí, ngược lại ông còn khích lệ các bạn tù kiên trì giữ vững đức tin của mình.
Đamien
02-09-2006, 10:10 AM
Ngày 06 tháng 06:
Thánh Phêrô ÐINH VĂN DŨNG
Sinh: 1800
Quê quán: Tại họ Ðông Phú, xứ Trung Ðồng (Kẻ Mèn),
nay thuộc Giáo phận Thái Bình.
Chức vị: Ngư phủ (Giáo dân)
Tử đạo: 06-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðinh Văn Dũng làm nghề ngư phủ
Sanh Canh Thân (1800) Ðông Phú, Thái Bình
Gia đình Công giáo đẹp xinh
Vợ chồng đạo đức thuận tình tiến mau
Dạy con cái trước sau giữ đạo
Không để con ngược ngạo hư thân
Học trường Công giáo rất gần
Hằng ngày dạy phụ, hằng tuần kiểm tra
Phêrô Dũng vốn là ngư phủ
Chiều chiều tập trung đầy đủ lên ghe
Sông sâu biển cả hướng đi
Quăng chài thả lưới ấy thì quanh năm
Về kinh tế hỏi thăm đầy đủ
Chúa ban cho ấp ủ qua ngày
Tưởng rằng được vậy mừng thay
Lệnh ban phân sáp người ngay ở tù
Tự Ðức nói: người ngu theo đạo
Bỏ đạo đi, cấp gạo tiền cho
Gia đình con cái ấm no
Mơ màng chi cái lẫm kho trên trời
Ðinh Văn Dũng ngài thôi đừng nói
Ðạo Chúa Trời sao dối được ai
Dựng nên trời đất tay Ngài
Tôi không bỏ đạo ép nài mất công
Quan Tổng trấn thấy không dụ nổi
Lập tờ trình mang vội về kinh
Bản án đề nghị thiêu sinh
Bỏ vào trong cũi đóng đinh cận kề
Rồi sau đó tứ bề chất củi
Châm lửa vào đen thủi khói lên
Xác ông thiêu rụi cháy đen
Hồn ông thanh thản bay lên Thiên đàng
Phúc tử đạo rõ ràng Nhâm Tuất (1862)
Một chứng nhân hạng nhất trần gian
Tân Mão (1951) Toà Thánh lệnh ban
Suy tôn Chân phước chứa chan phước lành
Lời bất hủ: Ông Phêrô Dũng nói: "Hãy vui mừng vì tôi được hy sinh mạng sống cho Ðức Kitô".
Đamien
02-09-2006, 10:11 AM
Ngày 06 tháng 06:
Thánh Phêrô ÐINH VĂN THUẦN
Sinh: 1802
Quê quán: Tại họ Ðông Phú, xứ Trung Ðồng (Kẻ Mèn), nay thuộc Giáo phận Thái Bình.
Chức vị: Ngư phủ (Giáo dân)
Tử đạo: 06-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðinh Văn Thuần làm nghề đánh cá
Quan thầy ông Thánh Cả Phêrô
Gia đình đạo đức điểm tô
Sinh năm Nhâm Tuất (1802) đồng khô (Thái Bình) Kẻ Mèn
Trên sông rộng ánh đèn le lói
Suốt đêm ngày lặn lội bờ sông
Mùa hè cho chí mùa đông
Quăng chài thả lưới trên sông tối ngày
Khi Tự Ðức đổi thay đàn áp
Ban lệnh ra phân sáp giáo dân
Các làng Công giáo xa gần
Ra lệnh tập hợp toàn dân trẻ già
Trương thập giá bước qua tha gấp
Ai không tuân dồn dập đánh đòn
Cả người già lẫn trẻ con
Trong làng Công giáo không còn một ai
Ðinh Văn Thuần trong vai Lý Trưởng
Sợ để ông ảnh hưởng giáo dân
Bãi nhiệm là việc rất cần
Bắt giam gông cổ xích chân bỏ tù
Ông tuyên bố ai ngu ai dại
Khôn đời sau chịu dại hôm nay
Quyết theo Chúa chẳng đổi thay
Dù cho phải chết trong tay bạo thù
Quan thấy vậy xin ban lệnh đốt
Bỏ mấy người vào nhốt củi tre
Gỗ rơm chất đống bốn bề
Rồi châm lửa đốt không hề kêu la
Phúc tử đạo diễn ra Nhâm Tuất (1862)
Ðược nước trời không mất linh hồn
Rôma Toà Thánh suy tôn
Tân Mão (1951) phong thánh trường tồn Nước Cha
Lời bất hủ: Ðầu năm 1862, ông Phêrô Thuần bị bắt giải về phủ huyện, rồi tống giam vào ngục Ngọc Chí, tại đây ông chịu nhiều cực hình, cổ mang gông, chân chịu xiềng xích, rồi bị ép phải chà đạp lên Thánh giá, nhưng ông nhất mực từ chối lời quan, và thẳng thắn tuyên xưng niềm tin của mình vào Ðức Kitô.
Đamien
02-09-2006, 10:18 AM
Ngày 06 tháng 06:
Thánh Vinhsơn DƯƠNG
Sinh: 1821
Quê quán: Tại làng Doãn Trung, sau gọi là Phương Viên thuộc xứ Kẻ Mèn, tỉnh Thái Bình.
Chức vị: Quan thuế.
Tử đạo: 06-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Vinhsơn Dương sinh năm Tân Tỵ(1821)
Tại Doãn Trung tỉnh lỵ Thái Bình
Nghề nông nuôi sống gia đình
Lại kiêm thu thuế thực tình giỏi giang
Anh tử tế ngoài làng trong họ
Về gia đình có vợ hai con
Vợ chồng hoà thuận vuông tròn
Ban ngày làm ruộng tối còn thu chi
Về việc đạo anh thì sốt sắng
Lễ hằng ngày ít vắng mặt anh
Con cái học đạo tốt lành
Gia đình gương mẫu nổi danh trong làng
Về phần đời giỏi giang thu thuế
Không gian tham áp chế người dân
Thu thuế sòng phẳng chuyên cần
Cũng vì làm tốt nên dân bầu hoài
Làng Doãn Trung bao đời truyền thống
Vững đức tin gieo giống tình thương
Cùng nhau đi một con đường
Trước là mến Chúa sau thương yêu người
Cứ tưởng mãi trọn đời vui sống
Nào ai ngờ biến động đến ngay
Vua Tự Ðức ngài ra tay
Chiếu chỉ phân sáp kỳ này mạnh hơn
Ðạo Công giáo trong cơn bách hại
Người dồn đi của cải tịch thu
Các nhà xứ, các dòng tu
Ðều phải giải tán khổ ư trăm chiều
Các Cha sở phần nhiều phân tán
Phần giáo dân ngao ngán nguồn cơn
Tập trung chửi bớicăm hờn
Làm đàn con Chúa như đờn không dây
Vinhsơn Dương lúc này đang chịu
Những roi đòn chính hiệu Gia-tô
Bụng đói miệng khát nước khô
Chân thì xiềng xích gông vô cổ chàng
Dương chỉ thấy thiên đàng là quý
Chỉ cần ta cố chí bền gan
Ðể thánh giá giục bước sang
Ông mà quá khoá sẵn sàng thả ngay
Dương đứng dậy chỉ ngay vào mặt
Ðừng nói thêm bày đặt quỷ ma
Theo Chúa ta đã quyết mà
Chịu chết vì đạo hồn ta Nước Trời
Quan thấy vậy ấy thời giận dữ
Án hoả thiêu đem xử tên này
Lệnh vua xuống chấp thuận ngay
Nhâm Tuất (1862) tử đạo hồn bay lên Trời
Một chứng tá tuyệt vời gan dạ
Vượt khổ hình chứng tá đức tin
Tân Mão (1951) Toà Thánh hướng nhìn
Suy tôn Chân phước đức tin sáng ngời
Lời bất hủ: Cuối tháng 9/1961, ông Vinh Sơn Dương bị bắt và bị phân sáp vào làng Mỹ Nhuệ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Suốt chín tháng bị giam giữ, tại đây với biết bao hình khổ dữ dằn, bao sỉ nhục nhiếc mắng, ông Vinh Sơn Dương đã vui vẻ chấp nhận tất cả để giữ lòng trung tín với Chúa Giêsu, quyết không chà đạp lên Thánh giá. Cuối cùng ông đã lĩnh bản án "Thiêu sinh"
Đamien
03-09-2006, 03:10 PM
Ngày 07 tháng 06:
Thánh Giuse TRẦN VĂN TUẤN
Sinh: 1824
Quê quán: Tại làng (họ đạo) Nam Ðiền, xứ Phú Nhai, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Nông dân
Tử đạo: 07-06-1862 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Năm Giáp Thân (1824) sinh Trần Văn Tuấn
Làng Nam Ðịnh phấn chấn nghề nông
Luống cầy thu hoạch lúa bông
Ca vang tiếng hát, cánh đồng phì nhiêu
Nắng gay gắt, sớm chiều vất vả
Dưới trời mưa tầm tã ngày đêm
Vững tin có Chúa ơn trên
Ðấng ban mọi sự, vững bền niềm tin
Ðời anh Tuấn hướng nhìn vui vẻ
Thì bỗng dưng phân rẽ nổi cơn
Cuộc bách hại gây căm hờn
Tầm thường nhỏ bé, giản đơn phiền hà
Như anh Tuấn cũng đà bị bắt
Cùng giáo dân quen mặt với nhau
Anh Tuấn phân tán đi mau
Về làng An Bái, rồi sau nhốt tù
Nơi giam giữ là khu chật hẹp
Cổ mang gông, kìm kẹp đôi chân
Mặt anh khắc tự tím bầm
Tháng ngày cơ cực, có phần yếu suy
Quan cứ tưởng anh thì bỏ cuộc
Nhưng ông lầm không buộc nổi anh
Kiên cường Thiên Chúa vinh danh
Chứng nhân của Chúa, chân thành xin vâng
Trên đường tới phó dâng Cha Cả
Anh Giuse thong thả nguyện cầu
Lý hình gươm giáo sợ đâu
Vung gươm đã chém, bay đầu chứng nhân
Phúc tử đạo mùa xuân Nhâm Tuất (1862)
Người chứng nhân đẹp nhất Thành Nam
Tân Mão (1951) Sắc chỉ Giáo Hoàng (Piô XII)
Suy tôn Chân Phước vẽ vang thế trần
Thi hài được chôn gần nơi xử
Hai năm sau giáo xứ rước về
Nam Ðịnh chôn cất chốn quê
Linh đình trọng thể, trọn bề kính tôn
Lời bất hủ: Quan bắt chà đạp lên Thánh giá, thánh nhân đã quỳ gối trước ảnh Chuộc Tội, mắt ngước lên trời cao và cầu nguyện lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải hà của Chúa. Chúa là sức mạnh đỡ nâng con".
Đamien
03-09-2006, 03:12 PM
Ngày 13 tháng 06:
Thánh Augustinô PHAN VIẾT HUY
Sinh: 1795
Quê quán: Tại làng Hạ Linh, xã Lục Thuỷ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Quân nhân
Tử đạo: 12-06-1839 Xử lăng trì tại Thừa Thiên đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Lá đơn gửi lên vua của thánh Huy như sau: "Cha ông chúng tôi đã theo đạo Giatô, năm ngoái các quan tra tấn ép buộc bước qua Thánh Giá, chúng tôi đã miễn cưỡng làm theo, chứ thực tâm không muốn. Nay chúng tôi xin tiếp tục giữ đạo để tròn đạo hiếu với cha ông chúng tôi".
..............................
Ngày 13 tháng 06:
Thánh Nicolas BÙI ÐỨC THỂ
Sinh: 1792
Quê quán: Tại làng Kiên Trung, xã Lục Thủy, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Quân nhân
Tử đạo: 12-06-1839 Xử lăng trì tại Thừa Thiên đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Ba thánh Huy, Thể, Ðạt kiên quyết trả lời với quan rằng: "Các ngài cưỡng bức chúng tôi đạp lên Thánh Giá tượng ảnh Chúa, nhưng lòng chúng tôi không chiều theo, thì chẳng phải chúng tôi bỏ đạo đâu".
..............................
Ngày 13 tháng 06:
Thánh Ðaminh ÐINH ÐẠT
Sinh: 1803
Quê quán: Tại làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Quân nhân
Tử đạo: 18-07-1839 Xử giảo tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Ðinh Ðạt sinh năm Quý Hợi (1803)
Tại Phú Nhai (Nam Ðinh) quân đội nhà vua
Kiên gan chẳng phải tay vừa
Hơn năm trăm lính gạn lừa còn ba
Là trai tráng quốc gia phục vụ
Tự nguyện vào đội ngũ quân nhân
Mười hai năm chốn hải tần
Ðóng quân trấn giữ mười phân vẹn mười
Ðinh Ðạt vốn là người ngoan đạo
Ðược gia đình đào tạo còn thơ
Sáng chiều kinh nguyện phụng thờ
Tôn sùng thánh giá đón chờ đời sau
Trong quân ngũ rũ nhau kinh kệ
Chúa Nhật cùng xem lễ cho đông
Ðất bằng bỗng nổi cơn dông
Ban lệnh bỏ đạo nếu không, ở tù
Thánh Ðinh Ðạt mùa thu năm ấy
Chúa soi đường giữ lấy đức tin
Quyết tâm theo Chúa hướng nhìn
Dù bao tra tấn bạc nghìn cũng không
Quan Tổng trấn cố công dụ dỗ
Phần ông thì cứng cổ không nghe
Hết vàng bạc đến răn đe
Nhờ ơn Ðức Mẹ chở che hộ phù
Quan bày kế công phu ngoan cố
Bắt người thân một số vào khuyên
Sao cho bỏ đạo mới yên
Bằng không sẽ chịu oan khiên khó lường
Ông Ðinh Ðạt thấy thương tình quá
Chỉ vì ta tội vạ đến người
Nói rằng thôi thế thì thôi
Cũng liều nghe họ bạc thời lãnh ngay
Chúa thương ông mấy ngày sau đó
Tự hổ ngươi nhăn nhó xót xa
Chúa nhân từ sinh ra ta
Mà ta bỏ Chúa thực là hổ ngươi
Trên thập giá ơn Người cứu độ
Vì muốn ta giác ngộ trầm luân
Giờ đây ta quyết liều thân
Làm đơn chịu chết bạc khuân trả ngài
Vợ ông cũng rỉ tai đừng chết
Ông nói rằng rất tiếc bà ơi
Tôi phải vâng lệnh Chúa Trời
Có làm chi cái cuộc đời chóng qua
Phúc tử đạo xảy ra Kỷ Hợi (1839)
Là niềm người mong đợi từ lâu
Cộng đồng dân Chúa nguyện cầu
Canh Tý (1900) phong thánh, ngài chầu Thiên nhan.
Đamien
03-09-2006, 03:18 PM
Ba Quân Nhân
Augustinô Phạm Viết Huy - Ðaminh Ðinh Ðạt - Nicola Bùi Ðức Thể
Ðaminh Ðạt sinh năm Quý Hợi (1803)
Năm Ất Mão (1795) rửa tội Viết Huy
Còn Bùi Ðức Thể ấy thì
Sinh năm Nhâm Tý (1792) khoái đi lính mà
Từ Lạc Thuỷ trẩy ra Nam Ðịnh
Ba trai làng nhất định tòng quân
Cũng người Công giáo chuyên cần
Khi vào quân ngũ ở gần bên nhau
Ông Tổng Ðốc nghe đâu bị triệu
Về kinh đô báo hiệu Quang Khanh
Tội ông tiêu cực thi hành
Lệnh Vua khiển trách đích danh hạ thần
Ðể chuộc tội ông cần thanh lọc
Trước hàng quân, ông đọc lệnh Vua
Mở ngay chiến dịch quét lùa
Lùng bắt đạo trưởng cho Vua vừa lòng
Tính kế hoạch ngoài trong chuẩn bị
Mời quân nhân tu sĩ tiệc tùng
Binh sĩ Công giáo tập trung
Hoàn thành thanh lọc truy lùng vào dinh
Trong bữa tiệc điều binh ông hứa
Ban thưởng khen những đứa trung thành
Với Hoàng Thượng được nêu danh
Buông lời dọa nạt chấp hành phải tuân
Ngày hôm ấy trọn phần Công giáo
Khoảng năm trăm theo đạo Kitô
Mời vào dinh xét ý đồ
Cho xem hình phạt bước vô thấy liền
Ðầy dụng cụ xích xiềng kìm kẹp
Ðây kỷ cương sắt thép nhà vua
Quyết ra tay chẳng chịu thua
Ai không quá khoá là mua nhục hình
Quá buồn tủi thực tình đau khổ
Gần năm trăm xấu hổ bước qua
Số còn lại thật ít mà
Chỉ năm người dám đứng ra chối từ
Là trụ cột bây giờ cương quyết
Là tôi trung tâm huyết tới cùng
Nhà Vua tăng viện trong vùng
Sai thêm Tướng Ðức binh hùng Thành Nam
Quang Khanh bị cách làm không đạt
Lê Văn Ðức đề bạt lên thay
Ðức Cha Minh xử tử ngay
Và luôn Thầy Chiểu một ngày đầu rơi
Năm chứng nhân đến nơi cho khiếp
Nhưng cả năm đặc biệt hân hoan
Quan tức giận tống nhà giam
Tuần sau tướng Ðức lệnh ban giải tòa
Ông ngon ngọt nói ra dụ dỗ
Không thành công thịnh nộ kéo khiêng
Lê lên tượng Chúa linh thiêng
Roi đòn túi bụi liên miên từng người
Gần tới đích hai người bỏ cuộc
Còn lại ba gân guốc gan lỳ
Một lòng một dạ khắc ghi
Ông Huy, Thể, Ðạt quyết đi tới cùng
Ông Huy trước ung dung vợ nhỏ
Nay trốn về quyết bỏ trình Cha
Xin ngài ban phép giải hoà
Làm xong ông lại xin ra ngồi tù
Ông tướng Ðức doạ hù quỷ kế
Cứ mỗi ngày thân thể trăm roi
Tướng khuyên bỏ đạo đi coi
Ông Huy đạo Chúa sáng soi trần đời
Quan thét lớn Vua người nghiêm cấm
Không đổi thay thưa bẩm lôi thôi
Ông Huy chủng viện học rồi
Chứng minh mạch lạc liên hồi tỏ thông
Quan nhận thấy là ông đuối lý
Cho đóng gông phơi kỹ nắng mưa
Ðông, Nam hai cửa cho đưa
Ba tuần ở đó xin thưa nhục hình
Dọa nạt vợ, gia đình con cái
Cùng thân nhân trai gái bạn bè
Ba ông nhất mực chẳng nghe
Tập trung kỳ mục răn đe đánh đòn
Ngay trước mặt người con trung tín
Bô lão làng thâm tím vì mình
Ðã ngã lòng phạm Thánh Linh
Cả ba bỏ cuộc triều đình mừng reo
Rồi sau đó lòng đau áy náy
Cả ba ông hết thảy hồi tâm
Tìm Cha xưng tội lỗi lầm
Tới dinh Thống Ðốc quyết tâm trình bày
Bẩm quan lớn nơi đây nguyện vọng
Ðạo Chúa Trời tôn trọng trên đời
Chúng tôi quá khóa nghe lời
Mang tiền trả lại đạo Trời tuyên xưng
Quan nổi nóng bừng bừng mắng chửi
Ðuổi khỏi dinh cho gửi trận đòn
Về nhà sống với vợ con
Số tiền hương chức trao tròn thưởng công
Trở về nhà, ba ông cầu nguyện
Vào kinh đô thực hiện đức tin
Hai Cha hội ý kiếm tìm
Lãnh xin hướng dẫn Trái Tim nhân lành
Cha Chính Lân nổi danh đồng ý
Ba anh em quyết chí tâu Vua
Hai anh Huy, Thể đơn đưa
Anh Ðạt công tác nên chưa lên đàng
Cha Tuyên nhắc bảo ban trông cậy
Xin Chúa ban, chớ cậy sức mình
Hai mươi ngày mới tới kinh
Tới Tòa Tam Pháp Triều Ðình sớ tâu
Quan gìm lại có đâu dâng sớ
Tòa Tam Pháp vô cớ làm ngơ
Hai ông dài cổ đợi chờ
Thấy Vua ngự giá tay giơ tấu trình
Thật táo bạo thân mình đồ lính
Chặn kiệu rồng cung kính dâng Vua
Ngài đọc xong truyền bắt lùa
Nhốt ngay vô ngục chẳng thưa bẩm gì
Tâu Ðức Vua quan thì ép buộc (Nội dung của Sớ )
Các chúng thần đạo thuộc Giatô
Tôn thờ Thiên Chúa tung hô
Tấn tra miễn cưỡng, buộc vô tuân hành
Ông tướng Ðức Nam Thành về Huế
Phan Viết Huy, Bùi Thể gan lỳ
Tại sao Ðinh Ðạt chẳng đi
Vì anh bận việc cũng thì đồng tâm
Vua truyền lệnh hai mâm lựa chọn
Nếu bỏ Chúa, lấy trọn mười vàng
Bên kia cây kiếm sáng choang
Hai ông bình tĩnh bước sang khổ hình
Rồi sau đó quân binh án lệnh
Ðưa hai anh ra tận Thuận An
Phanh thây xẻ xác dã man
Ném luôn xuống biển cho đàn cá ăn
Còn anh Ðạt khó khăn Bảy Mẫu
Ông quỳ trên chiếu khấn nguyện cầu
Nằm gục thầm thĩ hồi lâu
Lý hình tròng cổ hai đầu xiết giây
Phúc tử đạo nơi đây phần thưởng
Cả ba ông được hưởng phúc vinh
Thi hài an táng quê mình
Về sau cải táng linh đình Phú Nhai
Năm tử đạo ba ngài Kỷ Hợi (1839)
Bỏ thế gian hưởng lợi Nước Trời
Lệnh phong thánh được ban ra
Mùa thu Canh Tý (1900) quả là xứng danh
Lời bất hủ: Quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh Nam Ðịnh nói với ông Ðạt: "Hai bạn của ngươi (tức thánh Thể và Huy) vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã bị chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ thứ đạo đó đi để về với vợ con". Ông Ðạt thẳng thắn đáp: "Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay tôi sẵn sàng chịu thêm nhiều hình khổ khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám cũng được".
Đamien
03-09-2006, 03:25 PM
Ngày 16 tháng 06:
Thánh Anrê TƯỜNG
Sinh: 1812
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Ðịnh
Chức vị: Nông gia
Tử đạo: 16-06-1862 Xử trảm tại Làng Cốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ngày 16 tháng 06:
Thánh Vinhsơn TƯƠNG
Sinh: 1814
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Ðịnh
Chức vị: Chánh tổng
Tử đạo: 16-06-1862 Xử trảm tại Làng Cốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ngày 16 tháng 06:
Thánh Ðaminh NGUYỄN ÐỨC MẠO
Sinh: 1818
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Ðịnh
Chức vị: Nông gia
Tử đạo: 16-06-1862 Xử trảm tại Làng Cốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ngày 16 tháng 06:
Thánh Ðaminh NHI
Sinh: 1822
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Ðịnh
Chức vị: Nông gia
Tử đạo: 16-06-1862 Xử trảm tại Làng Cốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ngày 16 tháng 06:
Thánh Ðaminh NGUYÊN
Sinh: 1800
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Ðịnh
Chức vị: Chánh trương
Tử đạo: 16-06-1862 Xử trảm tại Làng Cốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Dưới thời vua Tự Ðức, xứ Lục Thuỷ, tỉnh Nam Ðịnh, Giáo phận Trung Ðàng Ngoài (nay là Bùi Chu) có 13 họ đạo nằm trong chín làng xã. Do đó, làng Ngọc Cục bao gồm hai họ đạo Ngọc Cục và Phú Yên là quê quán của năm vị thánh.
Đamien
03-09-2006, 03:28 PM
Những Anh Hùng Họ Ngọc Cục
Tử đạo 16/06/1862 Xử giảo, Trảm quyết, Chôn sống, Đốt thiêu
Ngọc Cục họ lẻ xứ Lục Thủy
Ngàn giáo dân hoan hỷ Tin mừng
Lệnh vua cấm đạo bỗng dưng
Cha Quyền chánh sở lẫy lừng tiếng tăm
Cha bị bắt cả năm xử trảm
Ngàn giáo dân phân tản khắp nơi
Coi như biệt xứ suốt đời
Chủ chăn không có dân thời cách ly
Người xưng đạo nghe thì ba bảy (37 người)
Rất hào hùng quan đẩy vào tù
Hai huyện kế cận một khu
Quỳnh Côi, Vụ Bản dọa hù tấn tra
Mỗi người chúng nhốt nhà cách biệt
Gởi nhà lương để triệt đức tin
Gia đình chẳng biết lối tìm
Quan quân đem xử bặt tin xóm làng
Năm thánh (bị) chém dã man Vụ Bản
Nguyên, Mạo, Tường, hai bạn Tương, Nhi
Theo nhân chứng sử sách ghi
Các ngài bị bắt, gởi đi Xuân Tràng
Rồi sau đó chuyển sang Bạch Cốc
Huyện Vụ Bản tức tốc mang gông
Tấn tra bởi lính coi trông
Người nhà thăm viếng tốn công tốn tiền
Nếu hối lộ chúng liền cho gặp
Nhưng giáo dân vẫn đặt niềm tin
Các ngài vẫn thẳng hướng nhìn
Mân côi tràng chuỗi khắc in nguyện cầu
Quan án tỉnh yêu cầu đạp ảnh
Gọi từng người để tránh bảo nhau
Năm người nhất quyết trước sau
Ðều không đạp ảnh mặc dầu lệnh quan
Quan nổi giận liền mang chân xích
Phơi nắng hè muỗi chích đốt chơi
Tối giam ngục thất ngộp hơi
Các quan thử thách cũng thời uổng công
Tôi khẳng định quyết không chối đạo
Dù vua quan tàn bạo tới đâu
Tôn vinh Thiên Chúa nhiệm mầu
Lệnh vua quan xử chém đầu chúng tôi
Tới pháp trường ba hồi chiêng trống
Cả ba người trầm bổng đọc kinh
Phía sau đứng sẵn lý hình
Mỗi người ba nhát thình lình đầu rơi
Lấy xác chôn ngay nơi đâu chỗ chém
Sau lệnh ra, trọn vẹn đem về
Là nơi Ngọc Cục làng quê
Ngàn thu an nghỉ, hồn về Nước Cha
Thánh Phêrô Ða đã bị chôn sống
Ít mấy ai bị giống như ngài
Mười tháng giam giữ khổ sai
Bắt ông quá khóa quan cai đầu hàng
Ông cương quyết sẵn sàng chịu chết
Giữ đạo trời liên kết trung thành
Khiến quan tức giận đổi nhanh
Cho đem thiêu sống trở thành tro than
Chưa ai xử dã man thiêu sống
Ném người vào giữa đống lửa hồng
Tử đạo đặc biệt có ông
Xác thành tro bụi lại không mộ phần
Hai ông nữa bạn thân Trinh, Mọi
Bị bắt vì chống chọi lệnh quan
Giáo dân cuộc sống lầm than
Tôn thờ Thiên Chúa chẳng màng lợi danh
Quan án trên tỉnh thành dụ dỗ
Bắt các ông tuyên bố một câu
Từ bỏ đạo Chúa phép mầu
Gông cùm tháo gỡ ngõ hầu được tha
Hai ông Tịnh, Mọi thà chịu chết
Không khi nào đoan kết trái sai
Tôn vinh danh Chúa thiên đài
Xin quan huyện xử chẳng nài chẳng than
Quan tức giận cho mang xử trảm
Tại pháp trường tuyên án hai ông
Xác chôn ngay giữa cánh đồng
Về sau cải táng hai ông về vườn
Ba ông khác pháp trường trảm quyết
Ninh, Bình, Quy cũng miệt Mỹ Côi
Vùng này xử chém liên hồi
Nam Ðịnh, Vụ Bản quê tôi chiên lành
Một nhóm khác nêu danh sáu vị
Mấy bị chôn sống mấy bị thiêu
Quê hương đau khổ đủ điều
Gương sáng linh địa lãnh nhiều thiên ân
Chuyên, Trương, Uy, Vụ, gần Chiêu, Phụng
Cả sáu ông cũng đã đồng tâm
Vua quan dụ dỗ quá lầm
Ðạo đời rao giảng nhiệt tâm trung thành
Trước giờ chết vinh danh đạo Chúa
Dù bạo quyền đao búa dọa đe
Sáu ông nhất quyết không nghe
Hy sinh tử đạo chở che Mẹ hiền
Tại Nam Ðịnh quan quyền kiêng nể
Khối giáo dân không thể lung lay
Giáo hội ghi nhớ ngày này
Tôn kính chư vị, hồn bay về Trời
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=969&page=6)
Đamien
03-09-2006, 03:32 PM
Lời bất hủ: Quan dụ dỗ ngon ngọt để chối đạo. Thánh Ðaminh Mạo đại diện cho 5 anh em khẳng khái trả lời: "Sao quan lại dụ dỗ chúng tôi như vậy? Chắc quan tưởng chúng tôi là con nít khiếp sợ đau đớn, nên quan khuyên dụ chúng tôi xúc phạm Thiên Chúa ư? Nếu chà đạp lên Thánh giá để khỏi bị bắt và bị đánh đập thì chúng tôi đã làm ngay ở làng quê chúng tôi rồi, dại gì phải trải qua biết bao cực khổ nơi đây. Bây giờ quan cứ làm theo ý quan, chúng tôi không bao giờ bỏ đạo đâu".
Trong bức thư đề ngày 2-6-1862, linh mục Estévez Nam đã trình bày cơn sốt bắt đạo tại tỉnh Nam Ðịnh như sau:
"Trong tỉnh Nam Ðịnh, người Công giáo phải đuổi khỏi nhà, quân lính trói từng năm người một, họ chỉ được đem theo mấy nắm gạo đủ ăn chừng hai ngày.". Có 300 giáo hữu đang bị giam tù, Tổng đốc Nguyễn Ðình Tân ra lệnh cấm tiếp tế lương thực, và chỉ mấy ngày sau 240 người gục chết, những người còn lại hấp hối chờ chết. Ngày 18-6-1862, ông ra lệnh chém 21 người, ngày 22 chém 43 người, ngày 26 chém 67 người. Ngày 30-5, ông truyền trói 112 người buông thả sông chết, rồi hôm sau đến lượt 112 người khác.
Việc làm của quan Tổng đốc được các quan phủ huyện noi theo, người Công giáo phải chết hàng trăm, kẻ bị chém, người chịu thiêu sinh trong ngục, hoặc có ai tháo chạy ra ngoài được, cũng bị lý hình cầm gươm dí họ vào lửa cho đến chết. Có lần 150 người bị xử một lúc, lý hình không thành thạo, chém đi chém lại chỉ giết
được 20 người, số còn lại lính đẩy xuống sông. Nhưng sông lại nhỏ, một số người sống sót lội vào bờ, quân lính tóm bắt rồi cứ hai người một buộc vào nhau ném xuống giếng sâu chết cả.
( Trích M,Gispert Historiade las Misiones Dominicas en Tonkin, Avila 1928 trang 610-612)
Đamien
03-09-2006, 03:33 PM
Ngày 17 tháng 06:
Thánh Phêrô ÐA
Sinh:1802
Quê quán: Tại làng Ngọc Cục, xứ Lục Thuỷ, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Thợ mộc
Tử đạo: 17-06-1862 Thiêu sinh tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phêrô Ða một tay thợ mộc
Sinh Nhâm Tuất (1802) Cúc Ngọc Thánh Nam
Cha Công giáo mẹ không ham
Theo nghề thợ mộc giỏi giang hơn người
Việc nhà Chúa ông thời hoan hỷ
Làm ông từ bền bỉ siêng chăm
Từ đầu cho đến cuối năm
Không bao giờ trể hay nằm ngủ quên
Trong gia thất ông khuyên dạy dỗ
Cả đàn con bền đổ đức tin
Tháng ngày thờ Chúa hướng nhìn
Không ham lợi lộc chẳng tìm trăng hoa
Triều Tự Ðức bày ra phân sáp
Ðem quân về đàn áp bắt ông
Chân mang xích, cổ đeo gông
Nhiều lần tra tấn nhưng không đổi lòng
Giam ông đã trong vòng mấy tháng
Ðể xem ông phản kháng ra sao?
Vẫn thờ Chúa vẫn khát khao
Chịu tử vì đạo mong sao tới ngày
Quan thấy rõ ông này gan dạ
Làm tờ trình gieo vạ tử hình
Nhâm Tuất (1802) lãnh án thiêu sinh
Tân Mão (1951) phong thánh an bình Nước Cha
Lời bất hủ: Vị tôi tớ trung kiên Phêrô Ða bị dẫn đến nơi xử án. Trên đường đi, ông biểu lộ nét mặt hân hoan vui mừng, ông bình thản cầu nguyện và phó dâng mọi sự trong tay quan phòng của Chúa. Ðồng thời, ông khẩn xin Chúa cho mình đủ cam đảm chiến thắng cực hình. Sau cùng, vì danh Thầy Chí Thánh, ông bị án thiêu sống. Khi ngọn lửa đã ngàn, lính thấy ông còn sống liền vung đao chém đứt đầu vị tử đạo.
Đamien
03-09-2006, 03:35 PM
Ngày 26 tháng 06:
Thánh Ðaminh HENARES MINH (Xuân)
Sinh: 19-12-1765
Quê quán: Tại làng Bacna, thuộc Giáo phận Cordoba, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Giám mục dòng Ðaminh, Giáo phận Bùi Chu
Tử đạo: 26-06-1838 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Henares Minh sinh năm Ất Dậu (1765)
Tại Bacna quê (Tây) Ban Nha
Quyết đi tu chẳng ở nhà
Vào ngay chủng viện để mà chuyên tu
Hội Thừa sai mùa thu năm ấy
Cậu Henares đơn thấy đệ trình
Á Ðông rao giảng thuận tình
Lên đường phấn khởi phận mình Thừa sai
Bề trên gởi quân cai truyền giáo
Phi Luật Tân đào tạo thụ phong
Tonkin Bắc Việt đi vòng
Macao Trung Quốc vào trong Bắc Kỳ
Học sáu tháng thực thi tiếng Việt
Làm bề trên ở miệt Phú Nhai
Latinh chủng viện quản cai
Bề trên Ðịa phận giỏi tài đầu tiên
Cha nổi tiếng khắp miền bác ái
Chính tay ngài khâu cái áo kia
Người nghèo đem tới phân chia
Ủi an giúp đỡ môi thìa chén cơm
Ngài say đắm tạ ơn cầu nguyện
Giúp giáo dân trực diện khắp nơi
Chuyên cần gương mẫu tuyệt vời
Thụ phong Giám mục rạng ngời Phú Nhai
Làm phụ tá Ðức Ngài ao ước
Ðổ máu mình Chúa được tôn vinh
Cơn cấm đạo chúng rập rình
Ðức Cha Ngài đổi tên mình Trùm Hai
Phải ẩn trốn chạy dài đây đó
Ði giảng rao phải ngó trước sau
Tỉnh Ðông định trốn tới mau
Tới nơi bờ biển buồn rầu gió to
Gặp ông Nghiễm sẵn cho ở trọ
Một lương dân nơi đó an toàn
Ông này mưu độc kế gian
Cho người đi báo cho quan bắt ngài
Năm trăm lính đội cai vây kín
Xông vào nhà thân tín Viết Phương
Ðức Cha xin thả người thường
Vì lòng nhân ái giữa đường giúp tôi
Nhưng quân lính kéo lôi ra lệnh
Cây Thánh Giá khệ nệ để ra
Ông này sợ hãi bước qua
Tự do chúng để Ðức Cha uống trà
Rồi sau đó giải Cha về tỉnh
Nhốt cũi tre quân lính khiêng đi
Công trường gặp Ðức Cha Y
Lập ngay bản án bắt thì phải tuân
Ðức Cha nói xin cần nghe đọc
Bản án này nói móc một câu
Viết tả đạo không ký đâu
Tôi đây rao giảng phép mầu đường ngay
Quan chấp thuận tự tay xóa bỏ
Nên Ðức Cha khi đó ký vào
Pháp trường bọn chúng rêu rao
Người này đạo rối lén vào nước ta
Ði dụ dỗ giảng đàng tả đạo
Lệnh chém đầu loan báo cho dân
Thầy già Chiểu xử một lần
Ngài xin giúp đỡ lãnh phần xử sau
Quan cho phép chém đầu sau trước
Hai đầu rơi đã được tung cao
Giáo dân chạy tới ào ào
Lấy khăn ra thấm máu đào đức tin
Ðầu bỏ cũi đóng ghim lên cọc
Bêu ba ngày lăn lóc giữa trời
Sau rồi buộc đá thả khơi
Thuyền chài vớt được sau thời chôn chung
Về an táng xứ vùng Lục Thủy
Sau đưa về an nghỉ Bùi Chu
Thánh Linh ơn Chúa hộ phù
Nêu cao gương sáng ngàn thu rạng ngời
Phúc tử đạo tuyệt vời Mậu Tuất (1838)
Giáo hội ta lại mất chủ chăn
Năm Canh Tý (1900) Vatican
Suy tôn Chân Phước vinh thăng Nước Trời
Lời bất hủ: Khi quan toà đòi Ðức Cha Minh ký vào bản án đã viết sẵn, ngài yêu cầu cho nghe trước rồi mới ký. Vừa nghe đọc hai chữ "Tả Ðạo", Ðức Cha cắt ngang: "Xin quan sửa lại chỗ đó thành đạo Ðức Chúa Trời". Quan đồng ý và sửa lại. Khi đọc đến chữ "lừa đảo ngu dân". Ðức Cha lại lên tiếng: "Không đúng, chúng tôi không lừa đảo ai, chúng tôi chỉ đến đây để giảng đạo chân chính". Ðức Cha không chịu ký cho đến khi quan đồng ý sửa bản văn lại. Ðức Cha bị xử trảm quyết tại pháp trường Bảy Mẫu, Nam Ðịnh.
Đamien
03-09-2006, 03:37 PM
Ngày 26 tháng 06:
Thánh Phanxicô ÐỖ VĂN CHIỂU
Sinh: 1797
Quê quán: Tại làng Trung Lễ, giáo xứ Liên Thuỷ, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh.
Tử đạo: 26-06-1838 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðỗ Văn Chiểu sinh năm Ðinh Tỵ(1797)
Tại Trung Lễ Liên Thuỷ Thành Nam
Ði tu thầy vốn thích ham
Ðược phong Thầy giảng việc làm Chúa ban
Ði phụ tá theo đàng Giám mục
Ðức cha Minh tiếp tục giảng rao
Hai Cha con rất tự hào
Chẳng may lính bắt, hồi nào không hay
Phủ Xuân Trường nơi này bị nhốt
Mấy ngày sau giải nốt Thành Nam
Cổ gông mang nặng cũng cam
Roi đòn tàn nhẫn, quất ngang lưng người
Thầy cúi xuống tươi cười hôn ảnh
Chúa Giêsu trên Thánh Giá này
Yêu thương Ngài đã chết thay
Loài người cứu độ, khỏi ngày tối tăm
Quan án bảo bước nhằm Thánh giá
Thầy trả lời ta chả bước qua
Ðây giường Cha Cả Thiên Tòa
Tôi luôn tôn kính, Chúa Cha trên trời
Sai lính trói tơi bời roi đánh
Thầy thản nhiên phản ảnh coi thường
Quan truyền xiềng xích khám đường
Cha con đói khổ, vẫn thường nguyện xin
Bản án đã nghe tin phê chuẩn
Hai Cha con lính dẫn pháp trường
Ðột nhiên hoãn lại dở giương
Thời gian chờ đợi, là đường thêm roi
Thật tàn nhẫn lại còn đói khát
Thêm nhiều lần phản bác với quan
Lời thầy đanh thép vững vàng
Làm quan nổi giận, dã man đòn thù
Thầy bị xỉu ngay khu tòa án
Cho lính khiêng nó đáng tống tù
Mấy hôm lại gọi ra khu
Quan tòa ngồi xử, lại hù dọa khuyên
Thầy nhất định nói liền cương quyết
Tôi sẵn sàng chịu chết đạo trời
Quan giận cho đánh một hơi
Vô cùng man rợ, tơi bời nát thây
Rồi dẫn giải đưa thầy trảm quyết
Cổ mang gông chúng xiết hai xiềng
Kéo lê từng bước triền miên
Quân nhân có đạo, đi bên năm người
Các anh tưởng tới nơi sẽ xử
Ðâu có ngờ quan thử bắt về
Một mình thầy Chiểu kéo lê
Pháp trường đã tới, bốn bề đông tây
Thầy Ðỗ Chiểu tới đây xử trước
Rất hiên ngang mạnh bước dâng mình
Và quỳ xuống trước lý hình
Vung gươm bốn nhát, đầu mình mới rơi
Phúc tử đạo sáng ngời Mậu Tuất (1838)
Một chứng nhân chí rất oai hùng
Kiên gan bền đổ đến cùng
Suy tôn Canh Tý (1900) cả vùng hoan ca
Lời bất hủ: Các quan bảo thầy bước qua Thánh giá, thầy Chiêu trả lời: "Ðức Chúa Trời là Chúa thật, là căn nguyên của mọi sự, người ta phải thờ lạy, kính mến Ngài, vì thế tôi không dám bước qua Thánh Giá, chắc chắn tôi không làm điều đó".
Đamien
03-09-2006, 03:39 PM
Ngày 27 tháng 06:
Thánh Tôma TOÁN
Sinh: 1764
Quê quán: Tại làng Cần Phán, tỉnh Thái Bình.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 27-06-1840 Chết rũ tù tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Tôma Toán sinh năm Giáp Thân (1764)
Tại Xuân Trường còn gọi Cần Phán
Nhà chung quản lý đảm đang
Thầy luôn đắc lực chu toàn tiền nong
Là Thầy giảng có công uy tín
Ở Trung Linh giữ kín của công
Phúc âm rao giảng hợp đồng
Giáo dân mến mộ vui đông quý thầy
Nhưng có kẻ nơi đây tố cáo
Là Lang Tư đi báo với quan
Ham tiền ham bạc ham vàng
Lính về vây kín cả làng Trung Linh
Thầy Toán trốn quân binh bắt lại
Khai tên Thi ngồi đại với dân
Lang Tư chỉ điểm tới gần
Kéo khăn đầu sói đâu cần tên khai
Sau chúng biết được ngài Thầy giảng
Cũng trói tay bắt phản đạo trời
Bước qua Thập Giá thả chơi
Thầy Toán chống lại chúng thời tấn tra
Tôma Toán tuổi già sức yếu
Bị tấn tra nên thiếu kiên trì
Bước qua Thập Giá thuận đi
Quang Khanh chưa thả muốn thì thử thêm
Trở về ngục Cha Hiền khuyên giải
Thầy ăn năn hối cải khóc than
Con là kẻ lạc xa đàng
Tôma đấm ngực vững vàng tuyên xưng
Quang Khanh nói thẳng thừng thằng Toán
Nó gan lỳ ăn cám ăn bùa
Làm trâu làm ngựa làm cua
Lột hết quần áo giữa mùa trời đông
Ðứng phơi nắng phạt ông nửa tháng
Trêu chọc thầy xỉ báng bứt râu
Vững tin vào Chúa nhiệm mầu
Tôi không hổ thẹn nguyện cầu thứ tha
Thấy thầy Toán thật là đói khát
Ðem mâm cơm đĩa bát rượu ngon
Món ăn thịt cá thơm dòn
No say ăn uống, roi đòn được tha
Với điều kiện bước qua Thập Giá
Thầy trả lời tôi chả thèm ăn
Trung thành với Chúa chủ chăn
Quang Khanh tức giận cấm ăn uống gì
Quan Tổng Ðốc hãy thì ngừng trảm
Nhốt Tôma dụ phản đạo trời
Nhục hình đầy ải khắp nơi
Bày mưu tính kế lại thời dụ tha
Cấm ăn uống để mà đói khát
Thầy già cả thân xác rã rời
Nhà tù ngục tối bí hơi
Quang Khanh bách đạo khắp nơi đằng ngoài
Một người lính quản cai ngoại đạo
Nhưng một lòng thấu đáo niềm tin
Nhớ con cụ ghé mắt nhìn
Dòng máu tử đạo khắc in Tin mừng
Thầy kiệt sức tim ngưng gục ngã
Rồi tắt hơi thầy đã qua đời
Quang Khanh tâm trí rối bời
Thua người nhân chứng tuyệt vời đức tin
Có anh Thám đứng nhìn tắt thở
Rất lành thánh thấy ở nơi thầy
Thầy về xin nhớ tôi đây
Cho con về với cùng thầy Tôma
Năm tử đạo tính ra Canh Tý (1840)
Danh tánh Thầy đăng ký Roma
Năm Canh Tý (1900) Ðức Thánh Cha (Lêô XIII)
Suy tôn Chân Phước thật là hiển vinh
Phêrô Ðậu thân trình cải táng
Ðã đưa về an táng lăng chung
Nơi đây các Thánh anh hùng
Thuộc làng Lạc Thủy trong vùng Thành Nam
Lời bất hủ: Quan dọn cho thầy một mâm cơm có rượu thịt thơm ngon và nói, ăn đi rồi bước qua Thập giá. Nhưng vị anh hùng đức tin thà chết đói hơn là phải bỏ đạo, thầy nói: "Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn".
Đamien
03-09-2006, 03:41 PM
Ngày 30 tháng 06:
Thánh Vinhsơn ÐỖ YẾN
Sinh: 1764 (thời hậu Lê)
Quê quán: Tại làng Trà Lũ, giáo xứ Phú Nhai, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 30-06-1838 Xử trảm tại Hải Dương đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh linh mục Vinh Sơn Ðỗ Yến
Năm Giáp Thân (1764) xuất hiện Phú Nhai (Trà Lũ)
Kẻ Sặt nhà xứ quản cai
Chiếu chỉ cấm đạo đàng ngoài khắt khe
Rồi Kẻ Sặt không nghe từ giã
Chúa quan phòng, ngài đã ra đi
Ðến nơi Thừa Xá còn nghi
Sau Cha cố gắng, hướng đi Lạc Ðiền
Ðường xa mệt mỏi liền ngồi nghỉ
Bụi tre xanh hoan hỉ một mình
Khách qua ghé hỏi linh tinh
Bố già đứng dậy, ta mình cùng đi
Cha giả bộ lại thì hỏi lối
Khách kia liền chỉ rồi đi ngay
Rồi sau mới gặp ông này
Cai Phan thương cảm, đưa ngay về nhà
Rồi trở mặt bắt cha đem nộp
Cho đóng gông, một tốp giải quan
Hay tin giáo hữu trong làng
Ðem tiền đến chuộc, Cai Phan chối từ
Hắn mong đợi, quan dư trọng thưởng
Nhiều tiền hơn và hưởng phẩm hàm
Vinh sơn Cha sợ khuyên can
Dân đòi giải thoát, cả làng vạ lây
Giải thị xã nơi đây Tổng Ðốc
Tỉnh Hải Dương, vốn gốc lòng nhân
Ðiều Hàn can thiệp góp phần
Tự khai thầy thuốc, xa gần thả ngay
Chứng nhân nói tôi đây Thầy Cả
Chuyên giảng rao, sao giả thầy lang
Nếu mà chịu chết sẵn sàng
Chớ không khai dối, khai man làm gì
Quan tìm cách lái đi lối khác
Vẽ vòng tròn cha bác bước qua
Cha từ chối cách đó mà
Vẫn là bỏ đạo, vẫn là dối gian
Xin không được, vua ban dẫn độ
Ðưa cha về quê chỗ tỉnh Nam
Vua Minh Mạng không luận bàn
Hải Dương xử trảm, khó đàng thoái lui
Quan muốn tránh tới lùi phải xử
Ðỗ Yến Ðạo Trưởng xứ Kitô
Pháp trường đao phủ dẫn vô
Hiên ngang cha Yến, lính xô đẩy ngài
Tới địa điểm quan cai xử án
Cha quỳ ngay, sốt sáng nguyện cầu
Lý hình đao phủ cúi đầu
Vung gươm mạnh chém, bay đầu chứng nhân
Quan tặng vải khâu nơi thủ cấp
Vào thân mình vá lấp cổ Cha
Giáo dân với lại người nhà
Bình Lao an táng, sau là Thọ Ninh
Phúc tử đạo đinh ninh Mậu Tuất (1838)
Giáo hội ta lại mất một Cha
Ðức Giáo Hoàng Lêô mười ba
Suy tôn Canh Tý (1900) thật là quang vinh
Lời bất hủ: Quan tuần phủ tỉnh Hải Dương xin với vị linh mục: tự nhận là lang y để ông được phóng thích, vị chứng nhân đức tin trả lời: "Không, tôi không phải là thầy lang. Tôi là Thầy Cả chuyên giảng đạo và tế lễ Thiên Chúa, tôi sẵn lòng chịu chết vì lẽ đó, chứ không nói dối để được sống".
Đamien
03-09-2006, 04:01 PM
Ngày 03 tháng 07:
Thánh Philipphê PHAN VĂN MINH
Sinh: 1815
Quê quán: Tại làng Cái Mơn, huyện Mỏ Cầy, tỉnh Vĩnh Long.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 03-07-1853 Xử trảm tại Ðình Thao đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ngày 25/12/1842 Thầy Philipphê viết lời phi lộ
cho việc xướng họa chủ đề Giatô Cơ Ðốc
Giatô Cơ Ðốc đấng con Trời
Ðặc cách lâm phàm cứu khắp nơi
Chẳng lấy lợi danh mà tạo nghiệp
Không dùng vương bá để xây đời
Vâng lời Thiên mệnh đành thân diệt
Gánh tội nhân gian chịu máu rơi
Dĩ nhược thắng cường mệnh chứng tỏ
Kiếp sau hiện hữu sống muôn đời
Phan Văn Minh còn khai hội thơ cho một đợt khác,
50 bài với chủ đề Vịnh Ê-Van
Gia cang đất nước với thân danh
Tô điểm Ê-Van tận gốc nhành
Cơ cấu nhân sinh theo Ðạo Thánh
Ðốc hành thế sự với tâm thành
Con đường bác ái khi chung sống
Ðức độ công bằng lúc đấu tranh
Chúa đã hoằng khai nguồn cứu độ
Trời cao không bỏ kẻ ngay lành
Sài Gòn 25/12/1842 Tác giả Thánh Philipphê Phan Văn Minh Linh mục Tử đạo
Dưới chủ đề Nước Trời Ca, Nhà thơ Họ Phan đã sáng tác 29 bài ca
Nước Trời giống một vật chi
Ví như hột cải tí ti đen tròn
Gieo vào đất một thời gian
Mọc lên đâm tược nẩy nhành xum xuê
Chim trời bốn hướng bay về
Nắng thì núp bóng, mưa thì an thân
=================
Sài Gòn 25/12/1842 Tác giả Thánh Philipphê
Phan Văn Minh Linh mục Tử đạo
Nước Trời rộng mở gian trần
Hễ ai trung tín hiến thân vì Người
Máu đào tử đạo sáng tươi
Thấm sâu đất Việt rạng ngời chiếu soi
Cháu con các Thánh giống nòi
Anh hùng nhân chứng học đòi noi gương
Cha Ông Tiên Tổ dẫn đường
Ngày sau hội ngộ, hành hương nước Trời
Đamien
03-09-2006, 04:04 PM
Thánh Philipphê
Phan Văn Minh Linh mục
Tử đạo 03/07/1853 Xử Trảm
Phan Văn Minh sinh năm Ất Hợi (1815)
Tại Cái Mơn quê nội Vĩnh Long
Cha mẹ mất sớm long đong
Người chị lo liệu từ trong chí ngoài
Thật khôn khéo thật tài lo liệu
Như Mẹ hiền túng thiếu đông em
Tinh thần vật chất nghèo hèn
Chị tôi thật khéo đáng khen kiên trì
Tinh thần vật chất thì chu đáo
Cho học hành cơm cháo đói no
Lần đầu rước lễ mừng lo
Chu toàn thêm sức cũng do Ðức Thầy (Ðức Cha)
Lái Thiêu học, nơi đây chủng viện
Ðược ít lâu tai biến can qua
Nhà tràng giải tán cho ra
Thầy đi lánh nạn Ðức Cha Berd Từ
Cùng Giám mục định cư xứ Thái (Thái Lan)
Thầy vô chủng viện tại Pénang
Sau rồi Ấn Ðộ gọi sang
Tự điển La Việt giỏi giang tuyệt vời
Và ngược lại Việt La tự điển
Thầy thông minh đặc biệt gắn liền
Với Ðức Cha Berd soạn biên
Ấn in hai cuốn đầu tiên phát hành
Thầy Minh đã nổi danh từ đấy
Về thần học hồi ấy Pénang
Giáo sư bạn học lân bang
Rất là quý mến tôn hàng thông minh
Rồi sau đó hồi kinh về nước
Chúa quan phòng đạo được tự do
Thầy đi phục vụ chăm lo
Dạy kinh dạy bổn giúp cho các miền
Ðức cha Thể ngài liền công bố
Phong linh mục một số quý thầy
Cha Minh được chọn từ đây
Ngài đi thăm viếng miền Tây chuyên cần
Cha vẫn lo bản thân thánh hóa
Còn quan tâm đến cả tương lai
Tông đồ nối nghiệp lâu dài
Chủng sinh đệ tử do ngài đảm lo
Vua Tự Ðức gởi cho chiếu chỉ
Khắp các nơi tu sĩ khó khăn
Cha Minh ngài vẫn siêng chăm
Chu toàn bổn phận đi thăm khắp miền
Ðến họ đạo kế liền Mặt Bắc
Có tên Nhẫn lặt vặt xin tiền
Ðể tâm thù oán như điên
Lên quan tố giác lính liền bổ vây
Cha Minh ở nơi đây Trùm Lựu
Ông nhận ngay không chịu chỉ ai
Cha lo liên lụy vì ngài
Nhận mình linh mục, quan sai trói liền
Mang gông cổ xuống thuyền thị trấn
Tại Vĩnh Long quan trấn hỏi cha
Các nơi trú ẩn gần xa
Thấy cha học thức rất là thông minh
Các quan muốn thực tình để cứu
Không ép cha kéo níu dắt qua
Chỉ cần nói, bỏ đạo mà
Cha Minh khẳng định chẳng thà chết thôi
Thấy không đạt phải ngồi chờ án
Giam Tuyến Phong vua phán gởi về
Bạn tù yên ủi say mê
Hẹn ngày tái ngộ trên quê Nước Trời
Ngày mong đợi kíp thời đã đến
Cha hiên ngang dâng hiến pháp trường
Nguyện cầu Ðức Mẹ xót thương
Cầu bầu cùng Chúa dẫn đường con đi
Sau chiêng trống tức thì đao phủ
Cầm thanh gươm chém đủ đầu rơi
Cái Mơn an táng nghỉ ngơi
Rồi sau hài cốt về nơi Sài Gòn
Phúc tử đạo sử son chép lại
Năm Quý Sửu (1853) trảm tại Ðinh Khao
Canh Tý (1900) Toà Thánh ban trao
Suy tôn Á thánh trời cao hộ phù
Lời bất hủ: Cha Minh an ủi các bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời, Cha nói: "Xin anh em vững lòng tin và hết dạ cậy trông Chúa. Ngài chẳng từ bỏ ai, và sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ Ngài". Lời nguyện sau cùng của cha: "Lạy Chúa, xin thương xót con, lạy Ðức Giêsu, xin cho con sức mạnh và cam đảm chịu khổ để vinh danh Ngài. Lạy Mẹ Maria , xin nâng đỡ con".
Đamien
03-09-2006, 04:13 PM
Ngày 04 tháng 07:
Thánh Giuse NGUYỄN ÐÌNH UYỂN
Sinh: 1775
Quê quán: Tại xứ Ninh Cường, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 04-07-1838 Chết rũ tù tại Hưng Yên đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Ðình Uyển quê hương Nam Ðịnh
Sinh Ất Mùi (1775) quê chính Ninh Cường
Yêu người mến Chúa thân thương
Sớm xin gia nhập dòng trường Ðaminh
Mười hai tuổi dâng mình Nhà Chúa
Rất hăng say tuyên hứa khấn dòng
Thánh Kinh giáo lý học thông
Trở nên Thầy giảng Á Ðông biệt tài
Thầy được chọn bài sai phụ tá
Với Ðức Cha đi cả đó đây
Hăng say phục vụ nhất Thầy
Bề trên kính nể lập đầy thành công
Trao trách nhiệm xứ đông bổn đạo
Tại Tiên Chu khuyên bảo giáo dân
Thay Cha phục vụ việc cần
Thật là chu đáo xa gần mến thương
Sáu ba tuổi trên đường rao giảng
Lệnh vua ban ngăn cản bao vây
Tiên Chu thấy lính về đầy
Giám mục chạy thoát nơi đây xa rồi
Chúng phẫn nộ lệnh lôi ra biển
Khảo tra rồi kiểm điểm từng người
Dân làng về hết xong xuôi
Sau rồi Thầy Uyển nối đuôi cùng về
Lính nhìn thấy có bề đeo ảnh
Giấu trong người lấp lánh lộ ra
Bắt thầy Uyển chúng khảo tra
Ðeo ảnh Ðức Mẹ theo tà Cố Tây
Chúng diễu cợt nhìn Thầy mũi lớn
Thầy lắc đầu chẳng ớn lính vua
Quan quyền chẳng có chịu thua
Ðể cây Thánh Giá nói lùa Thầy qua
Thầy Uyển nói dù là có chết
Không bước qua đoan kết một lòng
Quan Phủ thấy dụ không xong
Rằng ta sẽ chém chớ hòng thả mi
Thầy Uyển đáp quan thì cứ chém
Ðầu ta rơi dù ném đi đâu
Quan phòng Thiên Chúa nhiệm mầu
Hồng ân tử đạo thưởng chầu Chúa trên
Quan tức giận điệu lên tuần phủ
Tại nơi đây hỏi đủ mọi điều
Nhưng Thầy giữ vững chỉ tiêu
Chẳng rằng chẳng nói nửa điều với quan
Quan bực tức bắt quàng xiềng xích
Tống cũi giam chật ních cúi khom
Thông hơi lỗ nhỏ ngó nhòm
Thầy Uyển dũng cảm lại còn nguyện kinh
Bắt xuất giáo nhất định từ chối
Quan tuần lại giục hối dọa đe
Thầy Uyển khẳng định không nghe
Quan hỏi lẽ đạo Thầy khoe mười điều
Thầy lợi dụng theo chiều rao giảng
Giới răn Chúa chính đáng rõ ràng
Tôn vinh danh Chúa cao sang
Làm quan bực tức cắt ngang đánh đòn
Lính xô đẩy lăn tròn dưới đất
Thầy đớn đau nên ngất xỉu đi
Quan liền lo thuốc tức thì
Sau hai tuần lễ lương y chữa lành
Người Thầy Uyển tái xanh rời rã
Mà Quan Tuần vội đã hỏi cung
Vợ con muốn sống ở chung
Hãy mau xuất giáo khai cùng với ta
Thầy Uyển nói ta là Ðạo Trưởng
Sống độc thân được hưởng hồng ân
Vợ con theo lối thế trần
Vua quan trần tục muôn phần khổ đau
Thầy Uyển nói trước sau cũng chết
Tôi tôn thờ trên hết Chúa Trời
Quan Tuần dụ dỗ mệt hơi
Nhưng Thầy cương quyết trọn đời kính tin
Quan tức giận nên tìm mọi cách
Từ ngọt bùi hống hách xổ ra
Thầy Uyển sức yếu tuổi già
Giatô đạo Chúa hoan ca đón mừng
Xin Quan xử chớ đừng dụ dỗ
Gần tới ngày ra chỗ pháp trường
Linh hồn Thầy, Chúa yêu thương
Bệnh Thầy quá nặng lên đường khoan thai
Bổn đạo xin xác ngài mai táng
Ðông giáo dân đem cáng đưa về
Tiên Chu Giáo xứ thảm thê
Xác Thầy an táng hồn về Thiên Cung
Phúc tử đạo oai hùng Mậu Tuất (1838)
Thà đầu rơi không mất linh hồn
Một lòng thờ Chúa chí tôn
Suy tôn Canh Tý (1900) trường tồn Nước Cha
Lời bất hủ: Quan tỉnh Hưng Yên đe chém đầu, thầy mạnh dạn thưa: "Bẩm quan lớn, tôi có bị chém đầu chết mới trông được sống lại mai sau". Quan hỏi lão không sợ ta chém đầu ư ? Thầy trả lời: "Hãy chém đi, đến ngày phán xét, tôi lại được cái đầu khác. Tôi coi sự sống đời này chỉ lớn bằng cái móng tay thôi".
Đamien
03-09-2006, 04:16 PM
Ngày 10 tháng 07:
Thánh Phêrô NGUYỄN KHẮC TỰ
Sinh:1808
Quê Quán: Tại Ninh Bình, nay thuộc Giáo phận Phát Diệm.
Chức Vị: Thầy giảng
Tử Ðạo: 10-07-1840 Xử giảo tại Quảng Bình đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Phêrô Nguyễn Khắc Tự
Sinh Mậu Thìn (1808) vinh dự Ninh Bình
Theo cha Cao rất nhiệt tình
Lính nghi bắt Tự xưng mình chẳng sai
Lính dẫn lại hỏi ngài ai đấy
Cha trả lời chẳng thấy anh này
Bỏ tiền chuộc để tha ngay
Nhưng thầy Tự, vẫn không thay ý mình
Thầy xác định thật tình môn đệ
Xin cho con đi kế bên Cha
Chiếc khăn quàng cổ xé ra
Chia cho thầy Tự, nói là chứng nhân
Môn đệ cha, tinh thần đã hứa
Chia cho con một nửa chiếc khăn
Miếng vải bằng chứng chủ chăn
Cùng là cộng sự nhiều năm Tông đồ
Khoảng bốn tháng đòn đi đòn lại
Chúng bắt khai ở tại nơi đâu
Lời khai ý Chúa nhiệm mầu
Toàn là người chết đã lâu ngoài đồng
Thấy thầy Tự vẫn không khiếp sợ
Trong nhà tù giúp đỡ đức tin
Giảng rao trong ngục dõi tìm
Lính canh các bạn hướng nhìn trung kiên
Cha Ngôn khéo vào liền thăm viếng
Tiếp tế thầy bánh miến rượu nho
Vua Minh Mạng bút phê cho
Cả hai xử trảm lệnh cho nhà tù
Một trăm lính tới khu hành xử
Dẫn giải đi, thầy cứ hỏi thăm
Ðức cha Cao năm trước nằm
Rồi ngừng tại đó lăm răm nguyện cầu
Ông Quỳnh nhắc một câu xin chúng
Ðể ông qua như cũng chào thầy
Pháp trường vĩnh biệt nơi đây
Nhớ cầu khẩn nguyện đó đây thanh bình
Xưa Chúa bị đóng đinh Thập Giá
Chúa giang tay nghiêng ngả đầu mình
Bữa nay con phải hy sinh
Giang tay trên chiếu lý hình xiết tay
Hai đầu kéo dây này vào cổ
Con tắt hơi Chúa đổ ơn riêng
Thi hài Xứ Nghệ về liền
Là nơi chôn cất thuộc miền nghĩa trang
Thầy Tự gương mẫu đàng can đảm
Dù hiểm nguy quyết dám hy sinh
Vinh danh Thiên Chúa quên mình
Ðồng lao cộng khổ đệ huynh trong tù
Phúc tử đạo mùa thu Canh Tý (1840)
Ðược trao ban theo ý của thầy
Roma Canh Tý (1900) mới hay
Suy tôn Chân Phước ta nay tôn thờ
Lời bất hủ: Thầy Tự lần đầu tiên bị quan ra lệnh đánh 20 roi vì tội không chịu quá khoá, rồi thầy Tự không khai chỗ ở của các cha nên quan lại ra lệnh đánh thêm 30 roi. Thầy thường khuyên các giáo hữu đến thăm thầy như sau: "Hãy chấp nhận thánh ý Chúa, trung thành giữ đạo và cầu nguyện cho nhau đủ sức chịu đựng đến cùng".
Đamien
03-09-2006, 04:18 PM
Ngày 10 tháng 07:
Thánh Antôn NGUYỄN HỮU QUỲNH
(Năm Quỳnh)
Sinh: 1768
Quê quán: Tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình .
Chức vị: Trùm họ
Tử đạo: 10-07-1840 Xử giảo tại Ðồng Hới đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Antôn Quỳnh sinh năm Mậu Tý (1768)
Làng Mỹ Hương tỉnh lỵ Quảng Bình
Hai anh tu học chủng sinh
Mẹ Cha bắt lập gia đình bản thân
Khi tới tuổi vua cần bắt lính
Gia nhập vào có tính hiên ngang
Phú Xuân giặc giã dẹp tan
Anh thật can đảm phong hàm chức cai
Hết loạn lạc anh khai xuất ngũ
Về gia đình bạn rủ học nghề
Bán buôn làm thuốc làm thuê
Mát tay thầy thuốc, hết chê tiếng đồn
Coi người bệnh sớm hôm thăm viếng
Với tình thương thực hiện lòng nhân
Tiền bạc bác ái ân cần
Chỉ lo giúp đỡ xa gần bệnh nhân
Làng Mỹ Hương đang cần trùm trưởng
Ðã chọn ông trọng thưởng công đầu
Ðức cha để ý ông lâu
Muốn phong Thầy giảng, phép mầu cho ông
Vua Minh Mệnh tấn công bắt đạo
Rất gắt gao xục xạo khắp nơi
Thừa sai chạy trốn tơi bời
Việt Nam đạo trưởng, cũng thời trốn chui
Cố Kim sai tới lui làng cũ
Lấy đồ dùng, ông Dụ gia nhân
Lính liền chận lại cầm chân
Trùm Quỳnh dấu Cố, xa gần nơi đâu
Ông Dụ chối, hồi lâu thú nhận
Có đồ đạo ở tận Kim Sen
Quân quan vội vã đuốc đèn
Bao người có mặt, quan bèn bắt ngay
Người con cả đem ngay tiền chuộc
Ðược tha ra chỉ buộc Trùm Năm
Chuyển về Ðồng Hới giam cầm
Giải đi khám lớn, trung tâm nhốt tù
Tại khám lớn là khu đạo trưởng
Cùng Thừa sai được hưởng xiềng gông
Nơi đây nhốt cũng khá đông
Bao người thăm viếng, cộng đồng giáo dân
Quan Lệ Thủy lại gần tra hỏi
Ông Trùm Năm chỉ nói mấy cha
Bắt giam bị nhốt trong nhà
Không khai vị khác, thật là khôn ngoan
Ông bị tra dã man khổ cực
Nhưng vững lòng nhất mực không khai
Quan bộ tức giận tát tai
Ông không quá khóa, quan sai lính liền
Khiêng qua ảnh, buồn phiền ông nói
Ðó quan làm theo lối bạo quyền
Trước mặt Chúa, tôi bình yên
Lòng tôi kiên vững, một niềm đức tin
Con ông Năm đã tìm đến báo
Cho hai vị tử đạo biết ngay
Trối trăn mọi việc trao tay
Nhà tù đóng cửa chẳng tày tiếp ai
Riêng hai vị kêu nài khẩn nguyện
Ra pháp trường trực diện sẵn sàng
Lý hình hống hách gươm mang
Tay vung một nhát nhẹ nhàng đầu rơi
Quan cho phép vào thời lấy xác
Ðem về chôn phó thác nghĩa trang
Mồ êm mả ấm Nghệ An
Hồn về Thiên quốc Chúa ban phúc lành
Phúc tử đạo ghi danh Canh Tý (1840)
Một danh y thiện chí thương người
Sáng danh Chúa cả trên Trời
Suy tôn Canh Tý (1900) tuyệt vời thánh nhân
Lời bất hủ: Ông tuyên xưng đức tin trước các quan. "Thà chết không thà chối đạo, dù chỉ là trong giây lát". Quan cho lính lôi ông qua Thập giá, ông lớn tiếng phản kháng: "Việc này do quan lớn làm, nếu có tội là quan phạm tội, chứ không phải tôi". Thánh nhân khuyên các con: "Cha đã nuôi dưỡng các con từ nhỏ, nay đã lớn khôn, các con sẽ lo tất cả cho gia đình. Cha muốn dành tiền bán thuốc để chia sẻ với bà con nghèo khó".
Đamien
03-09-2006, 04:24 PM
Ngày 12 tháng 07:
Thánh Inhaxiô DELGADO Y
Sinh: 23-11-1761
Quê quán: Tại làng Villa Felice, tỉnh Saragozza, miền Aragon, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Giám mục thừa sai dòng Ðaminh
Tử đạo: 14-06-1838 Chết rũ tù tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Inhaxiô Delagado (Y) giám mục
Sinh Tân Tỵ (1761) quê thực (Tây) Ban Nha
Nhiệt thành rộng mở nước Cha
Thừa Sai truyền giáo nước ta đăng trình
Thầy cố gắng hy sinh học tập
Sau bao năm khẩn cấp ở Phi
Thụ phong linh mục gởi đi
Bài sai truyền đạo Bắc Kỳ Việt Nam
Cha rất giỏi học ham tiếng Việt
Tên địa phương tha thiết là Y
Bề trên chủng viện kiên trì
Quản coi linh mục trường kỳ Ðaminh
Vua Cảnh Thịnh thình lình cấm đạo
Ngài gởi thư loan báo ẩn mình
Nhủ khuyên cầu nguyện hy sinh
Ăn chay sám hối hãm mình nêu gương
Ðức cha Chính trên đường lẩn trốn
Ðã qua đời trên chốn rừng sâu
Gia Long cai trị khởi đầu
Tự do truyền đạo tươi mầu khắp nơi
Ðức cha Y trước thời làm phó
Sau trống tòa khi đó lên thay
Chủ chăn ngài rất gặp may
Sửa sai tệ trạng những ngày sơ khai
Ði thăm họ đạo ngài sốt sắng
Giảng truyền rao cố gắng chủng sinh
Phúc âm lời Chúa nhiệt tình
Vườn nho của Chúa, đẹp xinh trái nhiều
Lại vượt trổi chỉ tiêu đức hạnh
Ðức Giáo Hoàng Tòa Thánh tuyên dương
Thừa sai vững mạnh lên đường
Việt Nam Công giáo, tình thương Chúa Trời
Công ngài lớn tuyệt vời làm án
Phong chân phước cha bạn tu dòng
Ðaminh linh mục sẵn lòng
Hy sinh tử đạo sáng trong rạng ngời
Rồi sau đó tới thời Minh Mạng
Các Thừa sai ra lệnh về cung
Mở màn trang sử khốn cùng
Việt Nam Giáo hội nhà chung điêu tàn
Các tu sĩ Bắc Nam ẩn trốn
Các Thừa sai khốn đốn khắp nơi
Quan quân vây bắt đạo Trời
Ðức Y giả dạng ngài thời đổi tên
Ðức Giám mục kêu lên Trùm Cả
Vị Chủ chăn ngài giả giáo dân
Ðó đây thoát hiểm nhiều lần
Quang Khanh cho lính xa gần bổ vây
Chúng cho lính đứng đầy lục soát
Bắt được người cộng tác đưa thư
Hồ sơ đầy đủ chứng từ
Quang Khanh mừng rỡ, y như được vàng
Liền cử lính lên đàng khẩn cấp
Ðem về kinh sẽ lập công to
Nhà vua tức giận phê cho
Truất quyền truất chức mà lo về vườn
Bị mất chức tìm phương chuộc tội
Cả tháng trời lặn lọi khắp nơi
Sáu ngàn lính đã kịp thời
Ông sai đi khắp chẳng rời ngày đêm
Sai lục soát làng trên xóm dưới
Xét từng nhà giăng lưới sớm trưa
Giáo dân sợ hãi chúng lùa
Thừa sai không dám đón đưa về nhà
Ðang khi ấy Ðức cha Y ẩn
Trong hầm sâu ở tận Kiên Lao
Gia đình Công giáo hồi nào
Giuđa bán Chúa xé rào báo quan
Lê Ngọc Thể dã man tới bắt
Giáo dân khiêng ngài, tắt lối sau
Nhưng mà lính rượt quá mau
Giáo dân bỏ chạy mà đau đớn lòng
Quan bắt được tay còng tra tấn
Bấy lâu nay trốn ẩn những đâu
Nay đây mai đó dãi dầu
Kiên Lao mới tới lần đầu mà thôi
Xin quan lớn hãy hồi tha họ
Tôi tới đây chẳng trọ nhà ai
Tự vẫn trọng tội thưa ngài
Chết vì đạo Chúa quan cai chém đầu
Tử vì đạo phép mầu Chúa thưởng
Cảm ơn quan cho hưởng chém đầu
Ðức cha vừa nói xong câu
Quan liền cho lính phủ đầu đánh la
Chúng áp tải ngài đà vào cũi
Tội nghiệp ngài phải cúi lom khom
Giáo lương theo sát ngó dòm
Cửa thành lính chặn hết còn lối vô
Ngài nhìn thấy liền hô Thánh giá
Xin cầm lên như đã yêu cầu
Cửa Nam phơi nắng khá lâu
Cả gần tháng rưỡI dãi dầu gió sương
Giám mục hai mươi năm trường dạy đạo
Tại tỉnh Nam đôn đáo khắp nơi
Tả đạo truyền giảng lừa người
Lệnh vua bắt nhốt sẽ thời đầu rơi
Khi chờ đợi tuổi đời già yếu
Ðức cha Y chết yểu rũ tù
Lính khiêng cái cũi ra khu
Pháp trường Bảy Mẫu chém thù xác thân
Xin lấy xác, giáo dân chôn cất
Ở Bùi Chu rất thật trang nghiêm
Ðầu ngài bêu nắng triền miên
Ba ngày sọt đá ném liền xuống sông
Thuyền đánh cá có ông vớt được
Ðem đầu ngài kết ước với thân
Bùi Chu chôn cất mộ phần
Việt Nam Giáo hội xa gần kính tôn
Phúc tử đạo tiếng đồn Mậu Tuất (1838)
Ðã chết rồi còn mất cái đầu
Khải hoàn Chân phước không lâu
Suy tôn Canh Tý (1900) nguyện cầu thánh nhân
Lời bất hủ: Ðức Cha nói với binh lính: "Các ngài chưa biết về đạo Chúa Giêsu, nếu các ngài biết, hẳn các ngài sẽ theo đạo". Ðức Cha nói cùng quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh rằng: "Tôi ở Annam đã 48 năm, tôi có giấy tờ của Tiên Ðế (Gia Long) cho phép giảng đạo. Xin quan cứ dẫn tôi đến triều đình, nếu vua muốn nướng thịt tôi mà ăn tôi cũng chịu. Xin đừng để lâu kẻo quân lính phải canh coi vất vả làm gì".
Đamien
03-09-2006, 04:27 PM
Ngày 12 tháng 07:
Thánh Anê LÊ THỊ THÀNH
(tức Bà Thánh Ðê)
Sinh: 1781
Quê quán: Tại làng Bái Ðiền, huyện Yên Ðịnh, Thanh Hoá.
Chức vị: Nữ giáo dân
Tử đạo: 12-07-1841 Chết rũ tù tại Nam Ðịnh đời Thiệu Trị
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lê Thị Thành sinh năm Tân Sửu (1781)
Tại Bái Ðiền tiêu biểu tỉnh Thành
Khi cấm đạo rất nhiệt thành
Giấu nuôi cha Thị nhà mình vào ra
Xứ Phúc Nhạc bốn cha hiện diện
Riêng cha Thành ẩn hiện một nhà
Bà Ðê quý mến mời cha
Về nhà bà ở để mà tránh quan
Nhưng có kẻ tiền ham tên Ðễ
Một thanh niên theo để giúp cha
Tên này phản bội gian tà
Manh tâm xảo quyệt hắn đà tố quan
Làng Phúc Nhạc có hàng đạo trưởng
Hắn ham tiền muốn hưởng lập công
Quang Khanh huy động quân đông
Khoảng năm trăm lính chính ông điều hành
Vào sáng sớm Phục sinh cứu thế
Bắt tập trung toàn thể giáo dân
Lính đi lục soát xa gần
Hai cha may mắn lẹ chân Ngân, Thành
Cha dâng thánh lễ nhanh rời vi
Gác bếp kia máng xối chui lên
Vội vàng cha lỡ để quên
Vô tình gấu áo ló bên xối nhà
Bọn lính thấy hò la tới bắt
Còn cha Lý chạy tắt Trùm Cơ
Vườn bên ẩn nấp nương nhờ
Bà Ðê lấy lá che hờ phủ lên
Nhưng một lính đứng bên nhìn thấy
Có bóng người vườn ấy chạy sang
Bụi cây chúng bắt quả tang
Bắt ngay cha Lý liên can chủ nhà
Bắt bà Ðê rất là sợ hãi
Lính trói ngay chúng giải đình làng
Nơi đây trình diện với quan
Bà Ðê gương mặt vững vàng vui tươi
Nạn nhân điệu về nơi thị xã
Ði suốt đêm mệt lả rã rời
Bà Ðê sức yếu hụt hơi
Mang gông quá nặng phải người tiếp tay
Về Nam Ðịnh đưa ngay vô nhốt
Ðược giam chung dịp tốt nữ tu
Cùng nhau trao đổi trong tù
Thêm lòng can đảm đòn thù tấn tra
Trước quan tòa bắt bà bỏ đạo
Bà đáp lời Chúa tạo muôn loài
Tôn vinh Thiên Chúa quản cai
Tôi luôn kính trọng thờ Ngài Chí Tôn
Quan tức giận lính dồn đòn đánh
Lính dùng roi với thanh củi dài
Vô cùng hung dữ trần ai
Bà luôn khẩn nguyện kêu nài Nữ Trinh
Xin Mẹ hãy thương tình giúp đỡ
Ðược kiên tâm luôn ở trong Cha
Vì con yếu đuối đàn bà
Nhiều lần thẩm vấn trước tòa quan quân
Bà sấp mình nhiều lần kêu tiếng
Xin Chúa thương đến viếng cứu con
Ðể con giữ đạo vuông tròn
Chồng con thăm viếng héo hon u buồn
Nhưng bà vẫn luôn luôn an ủi
Vinh danh Cha chớ tủi nản lòng
Quan quân bạo lực không xong
Chúng dùng mưu độc muốn hòng thắng thua
Quan Tổng Ðốc cho đùa với rắn
Túm áo quần bỏ rắn vào trong
Toàn loài rắn độc lòng vòng
Bà Ðê bình tĩnh rắn không cắn người
Trịnh Quang Khanh ngồi cười khoái chí
Rắn lượn vòng tự ý bò ra
Quan quân tức giận quá mà
Liền cho lính đánh đập bà dữ hơn
Bà kiệt sức cô đơn trong ngục
Nhưng ý bà tiếp tục nguyện cầu
Cho con chịu khó dài lâu
Thân mình đầy máu từ đầu đến chân
Lời khẩn nguyện là lần sau hết
Xin cho con được chết trong Cha
Cuối cùng bà thở hắt ra
Linh hồn siêu thoát Nước Cha vĩnh hằng
Lễ an táng đất bằng Bảy Mẫu
Sáu tháng sau phối ngẫu, giáo dân
Cháu con thân thuộc xa gần
Ðem về Phúc Nhạc mộ phần thánh nhân
Phúc tử đạo lãnh phần Tân Sửu (1841)
Phận nữ nhi nặng trĩu niềm tin
Roma Toà Thánh hướng nhìn
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) đức tin vững vàng
Viết đôi nét về đàng gia tộc
Chồng tới thăm phút chốc nhà tù
Bà khuyên hãy sống khiêm nhu
Trông coi con cái hộ phù Chúa ban
Con thương mẹ nhà giam khổ cực
Bà lại khuyên phải thực là ngoan
Chăm lo đạo đức vững vàng
Giúp cha sớm tối xóm làng thân thương
Bà sống đạo tấm gương hậu thế
Nghĩa vợ chồng dâu rể cháu con
Gia đình hạnh phúc sắt son
Thánh Ðê tử đạo mãi còn khắc ghi
Bà thánh Ðê quê nội ở làng Bái Ðiền, huyện Yên Ðịnh, tỉnh Thanh Hóa. Quê Ngoại ở làng Phúc Nhạc, tỉnh Nam Ðịnh. Năm 17 tuổi lập gia đình quê ngoại với anh Nguyễn Văn Nhất, hạ sanh được 2 trai 4 gái bà hưởng thọ 60 tuổi.
Lời bất hủ: Bà thánh Ðê khuyên các con: "Con hãy về (tức chị Lucia Nụ) chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác Thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên đàng". Khi chị Nụ thăm mẹ trong tù thấy y phục loang lổ máu, khóc thương, mẹ an ủi: "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu sao con lại khóc?". Khi chồng bà vào thăm, bà giải thích vì sao bà được kiên tâm như vậy: "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng tôi đã được Ðức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn". Quân lính được lệnh vừa đánh vừa lôi qua Thánh giá. Nhưng bà sấp mình xuống đất kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để cưỡng bức con đạp lên Thánh giá". Cuối cùng bà đã dâng lời cầu sau hết: "Giêsu Maria Giuse! Con xin phó linh hồn và thân xác con trong tay Chúa, xin ban ơn cho con được tuân theo ý Chúa trong mọi sự".
Đamien
04-09-2006, 03:38 PM
Ngày 12 tháng 07:
Thánh Phêrô HOÀNG KHANH
Sinh: Khoảng 1780
Quê quán: Tại làng Nguyên Kiệt, xã Hoa Duệ, tỉnh Nghệ An.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 12-07-1842 Xử trảm tại Hà Tĩnh đời Thiệu Trị
Ngày phong Chân phước: 02-05 1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Các cuộc bách hại đạo lắng dịu
Giáo hội Việt vá víu tự do
Ðạo Trưởng đi lại khỏi lo
Bất thần lính chặn không cho rao truyền
Cha Hoàng Khanh đi miền Hà Tĩnh
Gặp giữa đường bị lính bắt giam
Trói còng dẫn giải tới quan
Nơi đây tra hỏi ông làm chức chi
Cha liền nói tôi thì Ðạo Trưởng
Quan quát to ngang bướng nhốt tù
Tính tình ngài rất khiêm nhu
Mọi người lính gác trong khu mến ngài
Ðược uy tín có tài y tế
Chữa bệnh nhân cụ thể điển hình
Viên cai ngục có nhân tình
Mang thai chạy chữa thân hình xanh xao
Nhiều thầy thuốc tiền hao không khỏi
Cha Khanh ngài chẩn hỏi cho toa
Thuốc men dược thảo quê nhà
Sắc lên cho uống mới đà qua đêm
Sáng người bệnh nói lên đã đỡ
Cha tới thăm vui nở nụ hoa
Ba ngày sẽ khỏi đó mà
Ông cai quỳ lạy tạ cha chữa lành
Rồi từ đó nổi danh Hà Tĩnh
Rất nể vì cả lính tới quan
Cha vui mừng nhờ việc làm
Nhiều người theo đạo tiếng lan xa gần
Trong số đó song thân Quan Án
Hai mẹ con bệnh hoạn chữa lành
Các quan đề nghị dấu danh
Không khai Linh mục trở thành Thầy Lang
Quan Án Sát sẵn sàng giúp đỡ
Cha nói ngay đâu nỡ khai man
Tôi đây Linh mục Chúa ban
Chứng nhân của Chúa sẵn sàng hy sinh
Lập bản án tường trình vào Huế
Tâu lên vua sự thể duyệt phê
Ðợi ngày Hà Tĩnh án về
Ðiên rồ mù quáng chuẩn phê chém đầu
Thi thể ngài để đâu xứng đáng
Về Kẻ Gòn an táng lễ dâng
Chứng nhân tử đạo xin vâng
Cử hành thánh lễ hiến dâng Chúa Trời
Xin tóm lược vào thời thơ ấu
Quê Nguyễn Kiệt năng khiếu Chúa ban
Xã Hòa Duệ, tỉnh Nghệ An
Mẹ cha gởi cậu nhà tràng chủng sinh
Ðược đào tạo dâng mình Thầy giảng
Mười bốn năm sang sảng học hành
Thụ phong Linh mục vinh danh
Cánh đồng truyền giáo Hoàng Khanh lên đường
Cần thợ gặt đảm đương đồng lúa
Người Tông đồ đạo Chúa giảng rao
Tin mừng cứu độ tuôn trào
Cha Khanh phục vụ giảng rao khắp miền
Cha đóng góp ưu tiên đào tạo
Cho tương lai đông đảo chủ chiên
Rao truyền lời Chúa nhủ khuyên
Nghệ An, Hà Tĩnh khắp miền đó đây
Một Linh mục tràn đầy nghị lực
Thật mẫu gương trung thực chu toàn
Chủng sinh dạy lén đảm đang
Thụ phong tám vị lên hàng Chủ chăn
Lời bất hủ: Trong một giai đoạn lịch sử khó khăn, việc đào tạo nhân sự phải thực hiện cách lén lút và riêng tư từng người một, con số Chủng sinh cha huấn luyện là 40, tám linh mục quả là con số đáng kể với 22 năm linh mục của cha. Cuối tháng 1/1842, khi tháp tùng cùng cha Masson phụ tá giám quản đi công tác mục vụ ở Hà Tĩnh thì bị bắt.
Đamien
04-09-2006, 03:40 PM
Ngày 15 tháng 07:
Thánh Phêrô NGUYỄN BÁ TUẦN
Sinh: 1766
Quê quán: Tại làng Ngọc Ðồng, tỉnh Hưng Yên .
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 15-07-1838 Chết rũ tù tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Bá Tuần sinh năm Bính Tuất (1766)
Tại Ngọc Ðồng đẹp nhất Hưng Yên
Hồng ân Chúa được ưu tiên
Nhập vào chủng viện học liền Latinh
Ðược ít lâu Triều đình bắt đạo
Giải tán trường, đôn đáo đó đây
Cha Chính Hoan nhận Bá Tuần
Chờ thời ổn định, toàn phần vui tươi
Tin mở cửa khắp nơi chủng viện
Về học thêm thực hiện thụ phong
Thầy Tuần ơn Chúa quan phòng
Thụ phong Linh Mục, ngoài vòng bốn mươi
Tác vụ thánh nhiều nơi kết quả
Các bề trên tất cả đều khen
Bất ngờ vua lại bật đèn
Truy lùng đạo Chúa, nhiều phen tơi bời
Cha Bá Tuần đương thời Cha sở
Giáo dân đông ngài ở Lác Môn
Quần Liêu sợ hãi nóng nôn
Cha Hiền đau ốm, dân không chứa ngài
Cha Tuần tới ghé vai can thiệp
Ðể giáo dân cứ việc an tâm
Lính vây kéo tới rầm rầm
Bắt luôn một lúc giam cầm hai cha
Lính giải đi đường xa thị xã
Tỉnh Ninh Bình có cả cũi gông
Cha Hiền vô cũi khổ không
Cha Tuần chúng bắt, mang gông mang xiềng
Tổng Ðốc nói lời khuyên già lão
Không chịu nổi gươm giáo khổ hình
Tôi đây già yếu thực tình
Vững tin vào Chúa, tôn vinh danh Người
Quan xúi dại, không ai nghe được
Sống mẫu gương mực thước khiêm nhu
Tôi không theo kẻ bội thù
Ðạp lên Thánh Giá, Giêsu nhân lành
Quan lại hỏi xung quanh quen biết
Cha trả lời, đặc biệt lệnh vua
Mạnh ai nấy trốn thi đua
Quan quân truy quét, đi lùa đó đây
Quan lại hứa kiếm thầy thông dịch
Nếu nghe ta chắc nịch là xong
Quan ơi chớ có lòng vòng
Sẵn sàng chịu chết, cầu mong Nước Trời
Trong ngục tối, yếu hơi kiệt sức
Cha xỉu đi, lập tức lìa trần
Gia đình thân thuộc giáo dân
Thi hài đón rước, mộ phần tiễn đưa
Ngọc Ðồng chốn quê xưa làng cũ
Khi di cư thường trú Phú Cường
Lạc An giáo xứ thân thương
Hồng ân Chúa thưởng, Thiên Ðường quang vinh
Phúc tử đạo linh đình Mậu Tuất (1838)
Bỏ thế gian không mất Nước Trời
Thiên đàng vĩnh phúc thảnh thơi
Suy tôn Canh Tý (1900) trọn đời Thánh gia
Lời bất hủ: Cha Tuần trả lời quan lớn: "Qủa thực, tôi ốm yếu già nua, nhưng Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh để đón nhận mọi cực hình và cả cái chết vì Ngài". Lần khác, quan cho một người tín hữu đã bỏ đạo ra đạp lên Thánh Giá và bảo cha làm theo như vậy, cha nói: "Sao tôi lại phải bắt chước kẻ bội giáo?! Mẫu gương tôi
học là hai Ðức Cha của tôi, tôi muốn noi gương các Ðấng ấy". (Ý nói Ðức Cha Henares Minh và Delgado Y mới chịu Tử Ðạo).
Đamien
04-09-2006, 03:42 PM
Ngày 15 tháng 07:
Thánh Anrê NGUYỄN KIM THÔNG
(Năm Thuông)
Sinh: 1790
Quê quán: Tại Gò Thị, thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh.
Chức vị: Trùm họ
Tử đạo: 15-07-1855 Chết rũ từ tại Mỹ Tho đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Kim Thông là ông trùm họ
Canh Tuất (1790) sinh Gò Thị, Xuân Phương
Ông người trung nghĩa phi thường
Kiêm chức xã trưởng nêu gương cả vùng
Gia đình ông vô cùng hạnh phúc
Tiền tài dư đạo đức càng hay
Vốn lòng mến Chúa xưa nay
Người con trai cụ anh này đi tu
Chúa đã chọn Kim Thư linh mục
Rất khôn ngoan rất mực nết na
Còn cô con gái thứ ba
Ðiều cô mong ước cũng là nữ tu
Ông làm việc xuân thu có lẻ
Giúp giáo dân, giúp kẻ khó nghèo
Dù ai gặp cảnh gieo neo
Ðến ông giúp đỡ càng nghèo càng thương
Là xã trưởng ông thường rộng rãi
Nên cửa quan nho lại đều quen
Việc đời việc đạo đều siêng
Bầu làm trùm cả ơn riêng dẫn đường
Thời cấm đạo ông thường che chở
Các Cha Tây nuôi ở trong nhà
Làm sao che mắt người ta
Ðứa cháu tên Út vào ra xem thường
Một bữa nọ Út ương quá đổi
Ông Năm Thuông bổng nổi nóng lên
La rầy thằng Út một phen
Ai ngờ thằng cháu trở nên báo thù
Út về viết nặc thư tố cáo
Ông Năm Thuông chứa giáo sĩ Tây
Quan tỉnh lúc đó mới hay
Bủa quân vây bắt quả thì bốn Cha
Bắt giam cả thẩm tra nguồn ngọn
Tại sao ông chứa bọn ngoại xâm
Ông Thông tuy bị giam cầm
Song không tra tấn hằng tuần về quê
Lợi dụng lúc đi về thăm hỏi
Ông nhủ khuyên và nói mọi người
Siêng năng giữ đạo Chúa trời
Phận già tôi nguyện suốt đời theo Cha
Khi bị giam được ra quan gặp
Quan khuyên ông xếp đặt trong nhà
Ðặt cây thập tự bước qua
Không ai biết được chỉ là tôi ông
Ðơn sơ vậy nhưng ông không chịu
Ðạo Chúa Trời tự liệu lương tâm
Tôi nay tuy bị giam cầm
Nhưng lòng phơi phới lương tâm vui vầy
Tôi mong ước đến ngày tận số
Chúa đem về hưởng chổ thanh nhàn
Chúc quan ở lại bình an
Lệnh tù biệt xứ càng oan trái nhiều
Ðường vào Nam bao nhiêu cách trở
Mà thân giàtuổi cở sáu lăm
Chân mang xích, cổ đeo gông
Qua đèo vượt suối băng đồng kể chi
Gặp Cha Thư cực kỳ may mắn
Là con ông uốn nắn ngày xưa
Bên nhau chốc lát chỉ vừa
Ban phép hoà giải xong đưa đi liền
Ðến Mỹ Tho thì chiên của Chúa
Ðã không còn sức nữa chao ôi
Ông Thông ngã xuống lìa đời
Cuộc đời theo Chúa tuyệt vời ông Thông
Phúc tử đạo lãnh công Nhâm Tuất (1862)
Một ông trùm bậc nhất của ta
Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh Rôma
Suy tôn Chân phước hoan ca Nước Trời
Thật xứng đáng tuyệt vời trùm cả
Sống tuyên xưng hỷ xả tha nhân
Mậu Thìn (1988) Ngài được thêm phần
Suy tôn Hiển thánh ân cần nêu gương
Lời bất hủ: Quan khuyên ông bước qua Thập giá, ông trả lời: "Không được, Thập giá tôi tôn kính mà dẫm lên sao được". Ông khẳng định với quan: "Thà tôi chịu lưu đầy và chết vì Chúa, chứ tôi không chối đạo". Các con ông dự định bỏ tiền xin giảm án, nhưng ông cản: "Các con cứ để Thánh Ý Chúa được thể hiện".
Đamien
04-09-2006, 03:46 PM
Ngày 20 tháng 07:
Thánh Giuse DIAZ SANJURJO AN
Sinh: 26-10-1818
Quê quán: Tại Santa Eulatia de Sucgos, tỉnh Lugô, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Giám mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 20-07-1857 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giuse Maria An giám mục
Năm Mậu Dần (1818) quê thực Sucgos (Tây Ban Nha
Thừa Sai truyền giáo điểm tô
Loan truyền đạo Chúa tung hô danh Ngài
Nhận nhiệm sở quản cai chủng viện
Tại nơi đây huấn luyện chủng sinh
Ngài học tiếng Việt thông minh
Nhiều người quý mến, tận tình giúp Cha
Thời gian ấy đạo ta ổn định
Khỏi phải lo quân lính bao vây
Chỉ chuyên đào tạo các thầy
Tấn phong Linh mục ơn đầy giảng rao
Ðược mấy năm lính bao Lục Thủy
Người lương dân bắt quý Thừa sai
Nộp quan được thưởng tiền tài
Cũng như chức tước thẻ bài vua khen
Giám mục An nhiều phen chạy trốn
Tại làng Cao Xá chốn tạm yên
Người luôn thăm viếng các miền
Chăm lo dạy học nhủ khuyên các thầy
Phong Giám mục nơi đây phụ tá
Vatican phúc cả ban trao
Bùi Chu thành lập nâng cao
Trở nên Giáo phận giảng rao Tin mừng
Tòa Giám Mục bỗng dưng ngọn lửa
Cháy rụi thiêu nhà cửa ra tro
Ðức Cha An can đảm lo
Chúa ban Chúa cất con đò giữa khơi
Hãy cố gắng ta thời vượt sóng
Cố mà bơi mau chóng tới bờ
Thử lòng Chúa chẳng làm ngơ
Ngài sẽ trọng thưởng bến bờ đón ta
Thời kỳ ấy dân đà nổi loạn
Cấm giáo dân bè bạn kéo theo
Khắp nơi tình thế ngặt nghèo
Thống Ðốc Nam Ðịnh truy theo cấp kỳ
Mắt đau chữa khỏi vì Cha Tịnh
Nhiều cảm tình có tính nể nang
Bao che cho cả xóm làng
Thừa sai Công giáo dễ dàng truyền rao
Nhưng tầu Pháp tiến vào gây hấn
Lòng thượng quan trác ẩn đổi thay
Các nơi cho lính bao vây
Thừa sai lùng bắt cả ngày lẫn đêm
Bùi Chu sẵn có tên danh sách
Từ tỉnh Nam có cách đâu xa
Lính về vây bắt Ðức Cha
Xiềng gông giải tỉnh quan tra hỏi ngài
Ðức Cha nói một hai về đạo
Không hề chịu khai báo tin gì
Quan đòi xét lại hỏi đi
Nhưng ngài cương quyết vẫn thì tuyên xưng
Quan loan báo tin mừng trục xuất
Ðức Cha buồn như mất dịp may
Tôi xin ở lại nước này
Pháp trường tử đạo hồn bay về Trời
Tên đạo trưởng không rời đất Việt
Ở lại đây vĩnh biệt thế gian
Quả rằng cố chấp quá gan
Xin vua duyệt xét lệnh ban chém đầu
Khi nhận lệnh ngõ hầu khẩn cấp
Nhặt đầu rơi bỏ gấp vào bao
Cả xác thân nhặt gom vào
Cho thêm nhiều đá ném vào đáy sông
Ðể bổn đạo nó không tìm thấy
Trộm đem về giữ lấy tôn thờ
Nghiêm ngặt chớ có làm ngơ
Lâu sau phép lạ bất ngờ Chúa ban
Một giáo hữu dân làng lưới cá
Vớt được xác nên đã đem về
Liệm ngài án táng miền quê
Mồ êm mả ấm hồn về Thiên Cung
Phúc tử đạo oai hùng Ðinh Tỵ (1857)
Danh tánh Ngài đề nghị vinh thăng
Năm Tân Mão (1951) sắc chỉ đăng
Suy tôn Chân phước vĩnh hằng thánh An
[I]Lời bất hủ: Ðức cha An xin hoãn một lát, rồi lớn tiếng nói đôi lời với những người có mặt, sau đó nói với viên chỉ huy: "Tôi xin gởi 30 đồng tiền để xin một ân huệ, xin đừng chém tôi một nhát, nhưng là ba nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến đất Annam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ đã sinh thành ra tôi, còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế, họ đáng lãnh phần hạnh phúc cùng các thánh trên trời". Trích lá thư Ðức cha viết cho người thân yêu từ trong ngục tù như sau: "Tù nhân trong Chúa gửi lời tạm biệt Ðức cha và các cha cho tới ngày gặp nhau trên nước trời. Xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi và gương xấu tôi đã làm. gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Chúa Giêsu gửi đến cho tôi. Tôi vui mừng lắm và chỉ ước ao đổ máu vì Chúa, để máu tôi hoà với Máu Cực Thánh Chúa Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch mọi tội lỗi. Xin anh em cầu cho tôi vững đến cùng."
Viết tại ngục Nam Ðịnh ngày 28-05-1857
Pray José Maria.
Đamien
04-09-2006, 03:53 PM
Ngày 24 tháng 07:
Thánh Giuse FERNANDEZ HIỀN
Sinh: 03-12-1775
Quê quán: Tại Ventosa de la Cuesta, tỉnh Valladolid, Giáo phận Avila, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 24-07-1838 Xử trảm tại Nam Ðịnh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giuse Fernandez Hiền linh mục
Sinh Ðinh Sửu (1775) quê thực (Tây) Ban Nha
Gia đình đạo đức sinh ra
Thủa nhỏ học giỏi nết na hơn người
Mười lăm tuổi được vào chủng viện
Cha mẹ thầy cầu nguyện không ngừng
Trong nhà bày tiệc ăn mừng
Ðây là ơn huệ gia đình Chúa cho
Tại tu viện Phaolô tuyên khấn
Hai mươi bảy (tuổi) dấu ấn của thầy
Triết lý, thần học giỏi hay
Ðược phong linh mục năm thầy ba mươi (tuổi)
Nuôi hoài bảo trong người truyền giáo
Xin vào dòng đào tạo tại Phi
Học xong cất bước ra đi
Macao rồi đến Trung Kỳ Việt Nam
Chuyến tàu đáp Cửa Hàn Ðà Nẵng
Vượt biển đông đằng đẳng mấy tuần
Ðến đây lại được chia phần
Kẻ thì ở lại Cha phân Bắc Kỳ
Mấy ngày ấy trời thì nổi bão
Chuyến tàu đi chao đảo phải ngừng
Chuyển sang đường bộ đi dần
Tháng sáu ngài đến Bắc phần trình thư
Ðạo Công giáo vô tư thời ấy
Vua Gia Long ngài thấy không sao
Tự do thờ phượng giảng rao
Nhà thờ lễ hội ra vào tự do
Cha Hiền được người ta quý mến
Từ giáo dân cho đến lương dân
Giảng khuyên nhã nhặn ân cần
Kiên Lao là xứ dừng chân khá dài
Cha Hiền vốn có tài đào tạo
Nâng giáo dân xứ đạo năm nghìn
Cùng nhau gìn giữ đức tin
Ðầy lòng mến Chúa hướng nhìn Nước Cha
THỜI CẤM ÐẠO
Vua Minh Mạng đưa ra chiếu chỉ
Cấm đạo trời trực chỉ thừa sai
Cha Hiền cực khổ trần ai
Khi đó chủng viện do ngài đảm đang
Ðược mấy năm chuyển sang Cha Chính
Phải đương đầu nhận lãnh đau thương
Bề Trên phụ trách đảm đương
Trong lúc đang bệnh kiên cường lẹ nhanh
Quan Tổng đốc Quang Khanh Nam Ðịnh
Rất hăng say ra lịnh gắt gao
Mục tiêu lùng bắt nhắm vào
Thừa sai truyền giáo nơi nào tình nghi
Cha Hiền biết giờ đi đâu ở
Mà ở đây khi lở xảy ra
Quan quân đốt hết cửa nhà
Tịch thu tài sản bấy giờ làm sao
Thu xếp lẹ rồi trao chìa khoá
Rời Minh Cường, Cha đã ra đi
Quần Liêu, Lạc Viên, Quan Chi
Kim Sơn, Phát Diệm ở thì không ưng
Về sau Cha vào bưng tạm trốn
Ở nơi đây càng khốn khổ thân
Ban ngày nắng rát tay chân
Ban đêm muỗi đốt tấm thân bùn lầy
Ở đây được mấy ngày đói khổ
Về sau này có chỗ nương thân
Nhà ông Bắt Biên cũng gần
Là nơi qua lại tương thân bấy giờ
Thật tình ai có ngờ đâu được
Ông Bắt Biên lúc trước nâng niu
Về sau ông mới lập mưu
Nạp Cha lãnh thưởng buồn thiu cảnh đời
Ðêm hôm ấy Cha thời bị bắt
Ðoàn quân quan dẫn dắt Cha về
Nình Bình giam củi hẹp ghê
Ngồi thì chẳng được nằm thì không xong
Ngày hôm sau giải vòng Nam Ðịnh
Chúng hò reo ngộ nghỉnh khắp nơi
Cha Hiền trong củi ngộp hơi
Trong bụng thì đói, miệng thời khô rang
May sao có anh Ðường nhìn thấy
Anh đem tiền cho mấy lính canh
Cha Hiền được tiếp tế nhanh
Nếu không Cha đã biến thành cố nhân
Cuộc hỏi cung trăm phần khó chịu
Hết răn đe đến điệu dỗ dành
Cha Hiền vẫn nói như đanh
Tôi sang giảng đạo tốt lành trời cao
Phục vụ vua tôi nào làm được
Giảng đạo trời đâu thuộc thế gian
Quan nói ông muốn bình an
Bỏ đạo quá khoá vô can tha về
Cha Hiền nói: tôi thề trước Chúa
Không khi nào lỗi hứa được đâu
Thế gian dù phải chém đầu
Ngày sau Chúa thưởng nhiệm mầu trời cao
Quan thấy chắc không sao dụ nổi
Bản án làm luận tội cho Cha
Án phê phải chém đó mà
Pháp trường Bảy Mẫu nơi Cha an bình
Năm Mậu Tuất (1838) lý hình chặt cổ
Cha chính Hiền người đổ máu ra
Giáo đô Toà Thánh Rôma
Suy tôn Canh Tý (1900) nay ta tôn thờ
Lời bất hủ: Cha Hiền đáp lại lời hỏi cung của các quan như sau: "Xin các quan biết cho, không bao giờ tôi chà đạp Thánh Giá, còn việc về nước Tây Ban Nha thì tôi không muốn, vì tôi đến đây với ước nguyện là giảng đạo Chúa Giêsu, đạo chân chính duy nhất giúp con người sống tốt đẹp ở đời này và đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Tôi sẵn sàng lấy máu mình để làm chứng cho người dân Việt biết đạo Thiên Chúa là đạo thật. Ðó là mục đích và niềm vui của tôi". Tổng đốc mời Lê Văn Ðức điều tra và hỏi cung ngài, ngài đáp: "Từ ngày vua cấm đạo, chúng tôi mạnh ai nấy trốn chẳng biết ai ở đâu cả". Quan hứa sẽ tâu vua đặt cha làm thông dịch viên nếu cha bỏ đạo, Cha đáp: "Tôi đến đây không để phục vụ vua chúa trần gian này, mà chỉ để rao giảng đạo Ðức Chúa Trời thôi". . Quan dụ dỗ đạp lên Thánh Giá, cha liền đáp: "Tôi không chịu đạp lên Thánh Giá, các ông muốn chém thì cứ chém".
Đamien
04-09-2006, 03:59 PM
Ngày 26 tháng 07:
Chân Phước Anrê PHÚ YÊN
Sinh: 1625
Quê quán: Tại thị xã Ram An (Raran), phủ Phú Yên, Quảng Nam.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 26-07-1644
Ngày phong Chân phước:05-03-2000 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy Anrê quê ở Phú Yên
Kiên cường tử đạo đầu tiên anh hùng
Tìm tòi tra cứu khắp vùng
Không cùng hộ tịch không cùng tiếng tăm
Một sáu bốn bốn hai lăm
Tháng bảy bị bắt tối tăm ngục tù
Tuổi đời mười chín ưu tư
Cha Ðắc Lộ dịch lấy từ Ðào Nha
Tuổi mười sáu phúc giao hòa
Ðược thanh tẩy nhận Chúa Cha trên trời
Hai năm sau khấn trọn đời
Là Thầy Kẻ giảng dạy lời Chúa ban
Ðược truyền chức tại Hội An
Thầy được Chúa gọi hoàn toàn vâng theo
Hai lăm gặp cảnh ngặt nghèo
Lính hùng hổ tới, gươm đeo vào nhà
Lính do Nghè Bộ ban ra
Bắt một Nha sống với Cha ngoại kiều
Tháp tùng theo sát Nha Xiêu
Với Cha Ðắc Lộ làm điều nghĩa ân
Một Thầy đau ốm đương cần
Thầy lo săn sóc trọn phần người thân
Ý nhà tư ý chọn phần
Lính vào Thầy tiến đến gần hỏi han
Tượng hình Chúa chúng phá tan
Thầy nhìn xúc phạm muôn vàn khổ đau
Ân cần Thầy nói một câu
Một Nha Xiêu vắng ông hầu nói chi
Thầy vừa rời bước ra đi
Nếu bắt không được hãy thì bắt ta
Tôi đây theo đạo Chúa Cha
Còn là Thầy giảng Ngài đà ban cho
Tội tôi chẳng khác Nha Xio
Tội Thầy chẳng lẽ tôi vô tội tình
Các ông lấy tượng đóng đinh
Ðể tôi gói giữ theo mình dễ mang
Bệnh nhân chúng chẳng nể nang
Nắm đầu đứng dậy oang oang chửi thề
Thầy năn nỉ chúng u mê
Xin cho người bệnh yên bề thấy cai
Vì Cha Ðắc Lộ nước ngoài
Chúng không dám bắt cấm ngài giảng rao
Thầy Anrê bị điệu vào
Nghe tin Thầy trẻ lính sao bắt Thầy
Người chân thiện mỹ tràn đầy
Quan trên bảo chúng mày bắt oan
Quân binh khúm núm thưa quan
Tự mình nhận thuộc cộng đoàn Giatô
Dọc đường chúng vẫn bi bô
Hiên ngang giảng đạo Kitô mọi người
Một Nha Xiêu vắng mặt rồi
Bắt giao nộp nó sau rồi răn đe
Nghe dùng lời ngọt vỗ về
Quan rằng sẽ giúp Anrê huy hoàng
Dựng xây đời sống giàu sang
Nghe qua Thầy chẳng hề màng lợi danh
Quan liền tức tối nên đành
Tống giam vào ngục hôi tanh gông cùm
Ngày hai lăm lúc chiều hôm
Ðến tù ngục, vẫn luôn mồm đọc kinh
Khấn xin cùng Chúa Thiên Ðình
Cho con sớm hưởng phúc vinh bên Ngài
Quả vào sáng sớm ngày mai
Bị đem xử tử chẳng nài, chẳng van
Giết xong họ vẫn không yên
Cha rằng ảnh hưởng căn nguyên sai lầm
Hủy thiêu cho trọn phần trăm
Ði theo Chúa chẳng sai lầm đâu quan
Lời Thầy giảng ở trần gian
Trước quân vương với hàng ngàn thần dân
Bao người cảm phục đến gần
Thầy Anrê vẫn ân cần cầu xin
Lòng tôi tội lỗi muôn nghìn
Chẳng mong sánh với trái tim nhân hiền
Van Ngài tha thứ tội khiên
Xin Thầy anh chị nhủ khuyên nghĩa tình
Yêu nhau trong Chúa Thánh Linh
Chúa Giêsu chết nhục hình vì ta
Yêu nhau phải biết thứ tha
Hãy dùng mạng sống để mà đền ơn
Với người ngoại giáo van lơn
Ði theo Chúa ắt chẳng sờn chi đâu
Ðừng thù ai chớ mưu cầu
Ðừng tìm chức tước sang giàu trần ai
Tội tôi thờ Chúa muôn loài
Chết vì Cha Cả vẫn hài lòng ưng
Anh em cũng hãy coi chừng
Phúc lành anh chị em đừng chối ân
Chối ơn Ngài bị trầm luân
Bị hình phạt chẳng được phần phúc vinh
Thấy lâu Thầy hỏi lý hình
Bao giờ tôi hưởng uy linh Nước Trời
Mọi điều tôi đã sẵn rồi
Chờ gì nữa hãy cho tôi lìa trần
Tưởng như chính Chúa hiện thân
Cửa thiên đàng mở thưởng phần nghỉ ngơi
Thánh Thần hoan hỷ đón mời
Chờ hoài chưa thấy mặt trời lặn mau
Mặt trời lặn mới chém đầu
Ðóa hoa mười chín rực màu ngát hương
Thêm đôi phút giữa pháp trường
Uống thêm ly nước nửa đường cười tươi
Uống ăn chừng ấy đủ rồi
Ðể còn dự tiệc trên trời thiêng liêng
Tới giờ vang tiếng cồng chiêng
Gươm đao lấp lánh gồng xiềng trổi vang
Lời kinh Thầy vẫn chứa chan
Lòng can đảm tạo bàng hoàng thế nhân
Chiếu còn mới trải dưới chân
Khiêm nhường Thầy đã ép thân chối mà
Trước khi chết vẫn thiết tha
Hãy luôn trung tín với Cha trên Trời
Mọi người nghe tiếng kêu mời
Trung thành kính Chúa đến hơi cuối cùng
Gông cùm được lính tháo tung
Dứt chiêng, dứt trống sau cùng giáo đâm
Lý hình theo lệnh thì thầm
Giết người lành, miệng lâm râm nguyện cầu
Nỗi lòng rõ nét âu sầu
Xin Thầy tha thứ cúi đầu van xin
Mũi gươm đâm phía trái tim
Miệng luôn vang tiếng đức tin cực lành
Giêsu cứu chữa chúng sanh
Maria Ðức Mẹ đồng hành tươi xanh
Giuse công chính nhiệt thành
Xin cho con được an lành nghỉ ngơi
Anrê kiên dũng rạng ngời
Phú Yên nước Việt đời đời khắc ghi
Lời bất hủ: Khi bắt được thầy Anrê Phú Yên, ngày hôm sau quan trấn tuyên bố ngay án tử hình: "Thanh niên này cứng đầu cứng cổ đã dám thưa với quan rằng: dù có chết cũng nhất định không bỏ tên người có đạo, vì thế phải y án, để cho dân chúng biết phép chúa mà tôn trọng". Khi ra pháp trường chịu xử: khi quân lính đâm phát thứ nhất thì thầy nhìn như chào biệt cha Ðắc Lộ, lính đâm phát thứ hai, mắt thầy Anrê ngước lên trời miệng kêu tên Cực Trọng Giêsu, lính vung gươm chém đầu, thầy còn kịp kêu tên Cực Trọng Giêsu lần sau cùng, rồi ngã gục xuống đất.
Hôm ấy là ngày 26-07-1644. xác thầy được đưa đến Faifo (Hội An) nơi cha Ðắc Lộ cư trú, Ngài ướp muối trong quan tài rồi đưa về Macao, cuối năm 1645 cha Ðắc Lộ đưa thủ cấp của thầy Anrê về Roma, còn thân giữ lại ở Macao.
Chân Phước Anrê Phú Yên được phong Chân Phước Tử đạo ngày 05-03-2000 tại Rôma do Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Đamien
04-09-2006, 04:05 PM
Ngày 28 tháng 07:
Thánh Giuse Melchior Garcia SAMPEDRO XUYÊN
Sinh: 29-04-1821
Quê quán: Tại San Pedro de Arrojo, tỉnh Oviedo, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Giám mục dòng Ðaminh.
Tử đạo: 28-07-1858 Xử lăng trì tại Nam Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giuse Xuyên dòng Ðaminh Giám mục
Sinh Tân Tỵ (1821) quê thực (Tây) Ban Nha
Thủa nhỏ cậu đã tỏ ra
Sống đời đạo đức như là nguyện kinh
Mười hai tuổi thuận tình cha mẹ
Cầu vào dòng mau lẹ triển khai
Nhà nghèo làm ruộng sinh nhai
Dành dụm nuôi cậu tương lai giúp đời
Vào đại học tuyệt vời xuất sắc
Khi rảnh còn dẫn dắt đàn em
Vài giờ âm nhạc dạy thêm
Triết thần thầy cũng được khen học tài
Mỗi niên học có vài lần nghỉ
Thầy trở về hủ hỷ gia đình
Giúp cha làm ruộng thực tình
Học trò nhìn thấy làm thinh thầy cười
Giúp xứ đạo thầy thời dạy trẻ
Từ thiếu nhi đến kẻ trung niên
Cầu nguyện thầy quỳ liên miên
Cái ông cầu nguyện là tên chỉ thầy
Ðiều mong ước xưa rày xin Chúa
Ban cho thầy chan chứa tình thương
Giúp cho những kẻ đi lương
Mau mau trở lại con đường giáo dân
Thầy tình nguyện dấn thân truyền giáo
Tại Viễn Ðông giảng đạo Kitô
Danh tánh thầy được tung hô
Chịu chức linh mục điểm tô Ðinh Mùi (1847)
Tân linh mục cuộc đời truyền giáo
Dọn hành trang chu đáo tới Phi
Macao trên bước đường đi
Kỷ Dậu (1849) cha đến Bắc Kỳ Việt Nam
Cha được gọi bằng tên tiếng Việt
Mang tên Xuyên đặc biệt từ đây
Tiếng Việt cha học rất hay
Giám đốc chủng viện từ rày quản cai
Cha Xuyên vốn có tài thuyết giáo
Ngài giỏi giang việc đạo việc đời
Bề Trên phụ tỉnh cử người
Là tấm gương sáng tuyệt vời chủng sinh
Cha Xuyên vốn hãm mình mẫu mực
Ăn chay trường theo luật nhà dòng
Thấy dân còn kém chưa thông
Xuất bản nhiều sách cho không tín đồ
Ngài nổi tiếng tung hô danh Chúa
Cả một làng vùng đó đi lương
Nhờ cha hướng dẫn con đường
Trở về với Chúa tình thương đặm đà
Tính gia đình kể là hăm bốn (24)
Số giáo dân tính gọn năm trăm (500)
Ðức Cha An ghé lại thăm
Khen cha tài giỏi tiếng tăm loan truyền
Ðức Cha An mất liền Nhâm Tý (1852)
Cha Xuyên được đề nghị thế vô
Ất Mão (1855) đại phận tung hô
Ngài lên Giám mục Bùi Chu lẫy lừng
Lễ tấn phong vô cùng trọng thể
Tại Bùi Chu môn đệ thật đông
Ðức Cha Xuyên rất có công
Ban phép rửa tội số đông tân tòng
Lệnh cấm đạo trong vùng nghiêm ngặt
Ðặt chương trình sắp đặt đi thăm
Mặc dầu đêm vắng tối tăm
Với bao lệnh bắt chỉ nhằm vào (Ðức) Cha
Nguyễn Ðình Tân đang là Tổng đốc
Rất hăng say ác độc bấy giờ
San bằng cô nhi (viện), nhà thờ
Bùi Chu, Lục Thuỷ bất ngờ Phú Nhai
Ðức Cha Xuyên đầu ngài giá đắt
Cho những ai rình bắt Ðức Cha
Ðịa phận rộng, chiên bao la
Nếu không có chủ ắt là nát tan
Ngài cầu nguyện kêu van cùng Chúa
Con giờ đây đứng giữa phong ba
Cho con tìm một Ðức Cha
Ðể ngài thế vị khi qua thế trần
Cha chính Vinh lãnh phần tuyển chọn
Lễ tấn phong gỏn gọn quá chừng
Cha Vinh vui vẻ đón mừng
Gậy tre, mũ giấy chưa từng xưa nay
Lễ tấn phong vài ngày sau đó
Công việc ngài Ðức Phó trông coi
Ði thăm giáo họ vài nơi
Kiên Lao, Quần Cống nghỉ ngơi ông trùm
Nào ai ngờ miệng hùm chực sẵn
Bọn quan quân vây bắt được ngài
Chú bé giúp lễ cả hai
Giải về Nam Ðịnh cổ ngài mang gông
Ba tuần lễ giam không tra hỏi
Bản án phê tử tội lăng trì
Pháp trường trên bước đường đi
Miệng ngài cầu nguyện tay thì giơ cao
Bọn lý hình gươm đạo tuốt sẵn
Sau hồi chiêng chặt hẳn tứ chi
Cổ ngài sửa soạn tức thì
Chặt luôn theo án lăng trì xưa nay
Phúc tử đạo đẹp thay Mậu Ngọ (1858)
Ngài chầu trời tuổi thọ chưa cao (37)
Rôma Toà Thánh ban trao
Suy tôn Tân Mão (1951) trời cao hộ phù
Lời bất hủ: Ðức cha Xuyên thường tự xưng là: "Kẻ tội lỗi khốn kho妣34;. Ngài thường xuyên khuyên người khác: "Hãy nhìn khuyết điểm của tha nhân để sửa mình và sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mọi người".
Đamien
04-09-2006, 04:08 PM
Ngày 31 tháng 07:
Thánh Phêrô ÐOÀN CÔNG QUÝ
Sinh: 1826
Quê quán: Ngài quê ở Bắc Việt đến năm 1820 ngài theo gia đình di cư vào Nam ở họ Búng, làng Hưng Thịnh, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một (nay thuộc tỉnh Bình Dương)
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 31-07-1859 Xử trảm tại Châu Ðốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Giuse Ðoàn Công Quý
Sinh Bính Tuất (1826) tỉnh lỵ Bình Dương
Lớn lên được cha Tám thương
Tới lui gặp gỡ tìm đường đi tu
Cha Tám đang quản khu giáo xứ
Ngài thương con con cứ ở đây
Con về xin phép Mẹ Thầy
Thời gian học hỏi tràn đầy ơn riêng
Sau Cha Tám gởi liền chủng viện
Thánh Giuse dâng hiến đời tu
Ơn gọi Thiên Chúa hộ phù
Thầy được theo học viễn du nước ngoài
Ở Pénang Thừa sai của hội
Học triết thần sau rồi văn chương
Bảy năm Thầy Quý hồi hương
Ðức Cha trao phó lên đường giảng rao
Ðộng viên giáo hữu bao họ đạo
Thầy tỏ ra chu đáo khả năng
Thời gian phục vụ siêng chăm
Thụ phong Linh mục thưa rằng Ðức Cha
Tân Linh mục đó là Cha Quý
Một thời gian giáo lý Lái Thiêu
Bài sai Giám Mục chuyển điều
Cái Mơn phó xứ sớm chiều chăm lo
Sau tuyển chọn chuyên cho truyền giáo
Khắp đó đây loan báo Tin mừng
Cửa Hàn Pháp đã bất ưng
Xua quân bắn phá khắp vùng xung quanh
Vua Tự Ðức đã dành oán ghét
Các Linh mục gán ghép theo Tây
Việt Nam giáo hữu bị lây
Tội theo tà giáo phương Tây đưa vào
Ra chiếu chỉ truyền giao bắt đạo
Cứ mỗi ngày tàn bạo tấn tra
Truy lùng đạo trưởng quý Cha
Nhưng không bắt được chúng đà nổi xung
Sau lính bắt truy lùng tu sĩ
Chúng dã man bắt bí nữ tu
Cha Quý ngài muốn thế tù
Giáo dân can gián, áo tu để nhà
Giả dân thường để mà đi lại
Ngài viếng thăm con cái giáo dân
Trao ban Bí tích rất cần
Ðức Cha bổ nhiệm lãnh phần Cù Lao
Quan về làng vây bao trăm lính
Ðến nhà ông Phụng tính bắt Tây
Ông liền nói nhà tôi đây
Không có đạo trưởng người Tây trong nhà
Quan quát lớn tấn tra đòn đánh
Cha Quý ngài cứu tránh chủ nhà
Tôi đây đạo trưởng quê ta
Không tin quan hỏi sao mà trẻ trung
Ðứa nhỏ chỉ trong vùng đạo trưởng
Lính bắt ngay vẫn tưởng là sai
Rồi xiềng xích trói tay ngài
Giải về Châu Ðốc cung khai truy tìm
Quan dụ dỗ nghe tin đức hạnh
Hãy nghe ta mà tránh đạo tà
Thưởng tiền đạo trưởng được tha
Thanh liêm nổi tiếng gần xa người đồn
Dạ thưa quan sớm hôm giảng đạo
Ðiều tốt lành sáng tạo niềm tin
Giêsu cứu độ kiếm tìm
Tôi là đạo trưởng giữ gìn đoàn chiên
Xin quan lớn cảm phiền hiểu thấu
Chớ có lầm, nói xấu đạo trời
Tôi xin khẳng định nói lời
Sẵn sàng tử đạo nước trời Chúa ban
Quan tức giận thảo bàn trảm quyết
Tại pháp trường ở miệt Năng Cù
Nghe chiêng ba tiếng vang du
Chém đầu Cha Quý, viễn du Nước Trời
Thi hài an táng đời đau khổ
Mộ chôn ngay tại chỗ nhà thờ
Ngày cải táng mãi ước mơ
Cù Lao chủng viện, kính thờ Long Xuyên
Năm Kỷ Mùi (1859) trung kiên tử đạo
Là chứng nhân tố cáo gian tà
Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh Roma
Suy tôn Chân Phước giờ ta đón mừng
Cha Quý vẫn nhớ đến Mẫu Thân của mình (Thân Phụ đã qua đời) Cha gởi bài thơ báo tin cho Thân Mẫu biết mình sắp được phúc Tử đạo
Dầu trăng trói, gông cùm tù rạc
Chén ngục hình, xiềng tỏa chi nề
Miễn vui lòng cam chịu một bề
Cho trọn đạo trung thần hiếu tử
Chí con dốc đền công ơn Chúa
Dạ con làm, báo nghĩa Mẹ Cha
Xin Mẫu từ chớ chút phiền hà
Một cam chịu cho danh Cha cả sáng
Lời bất hủ: Quân lính hỏi có Tây dương đạo trưởng trong nhà này. Cha Quý khẳng định trả lời: "Không có Tây dương đạo trưởng nào ở đây, chỉ có tôi là đạo trưởng. Ai muốn theo đạo, tôi sẵn sàng chỉ dạy". Quan tra hỏi và bắt bỏ đạo, cha trả lời: "Dạ, thưa quan, tôi là người giảng đạo này, sao lại có thể bỏ đạo cho được! Và nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy những điều tốt lành, chứ không phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu".
Đamien
04-09-2006, 04:10 PM
Ngày 31 tháng 07:
Thánh Emmanuel LÊ VĂN PHỤNG
Sinh: 1796
Quê quán: Tại họ Ðầu Nước, Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang, thuộc trấn Châu Ðốc.
Chức vị: Trùm họ
Tử đạo: 31-07-1859 Xử trảm tại Châu Ðốc đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lê Văn Phụng là ông trùm họ
Năm Bính Thìn (1796) sinh trọ An Giang
Tính người cương trực đàng hoàng
Ông hay nói thẳng không màng thân quen
Trong họ đạo lo toan kiến thiết
Ngôi thánh đường cho thiệt khang trang
Tiếng thơm trong họ ngoài làng
Ông còn chơi rộng đến hàng huyện quan
Thời cấm đạo lo toan cất giấu
Các Cố Tây nương nấu trong nhà
Ngoài ra còn các cha ta
Khi đi khi ở vào ra bình thường
Ai ngờ bỗng tai ương mang đến
Mấy người lương thân quyến tham tiền
Chia nhau theo dõi liên miên
Có lần bắt gặp chủ chiên nước ngoài
Trong đêm vắng các ngài dâng lễ
Tại nhà ông chúng kể rõ ràng
Báo cáo cặn kẻ đàng hoàng
Xưa nay quan huyện dễ dàng với ông
Muốn ăn chắc báo ông quan trấn
Cho bao vây cẩn thận đêm khuya
Trong ngoài kín mít êm ru
Sáng ra ập đến giấu thu cách nào
Ông trùm Phụng làm sao ngờ được
Ðem cha Ðịnh ngoại quốc trốn ngay
Còn cha Quý trong vòng vây
Tự mình ra nộp Ðức Thầy tuyên xưng
Tôi tên Quý chính danh đạo trưởng
Giảng đạo trời ảnh hưởng đến ai
Lệnh vua sai bắt thưa ngài
Còn ông trùm Phụng chẳng nài tuyên xưng
Người Công giáo tôi tin có Chúa
Sống thương người chan chứa hồng ân
Một đời sống đạo chuyên cần
Ðời này tích đức để dành đời sau
Còn cái lệnh bắt nhau bỏ đạo
Thì tôi đây tuyên cáo rằng không
Cho dù roi sắt vạc đồng
Bảo tôi quá khoá cũng không được nào
Quan thấy rõ không sao thuyết phục
Sáu tháng giam rút cục không thành
Bèn làm bản án về kinh
Ông này xử giảo điển hình biết tay
Ông trùm Phụng khi hay tội ấy
Thật vui mừng như thấy thiên nhan
Có cô con gái tên Nhiên
Trao ảnh chuộc tội như khuyên vài lời
Ảnh thánh giá trên đời quý nhất
Theo ý Cha quý thật hơn vàng
Nói xong bình tĩnh đàng hoàng
Pháp trường xử giảo dễ dàng quy thiên
Kỷ Mùi (1859) tử đạo trên niên giám
Là chứng nhân bảo đảm đức tin
Rôma Toà Thánh hướng nhìn
Kỷ Dậu (1909) phong thánh trăm nghìn hồng ân
Lời bất hủ: Tại pháp trường cha và ông Trùm Phụng gặp các con mình. Ông đeo vào cổ con gái Anna Nhiên ảnh Thánh giá và nói: "Con ơi, hãy nhận lấy kỷ vật của ba, đây là ảnh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Ảnh này quý hơn vàng bạc bội phần, con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé".
Đamien
04-09-2006, 04:13 PM
Ngày 01 tháng 08:
Thánh Bênađô VŨ VĂN DUỆ
Sinh: 1755
Quê quán: Tại làng Quần Anh Hạ (Quần Phước), tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 01-08-1838 Xử trảm tại Ba Toà đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Bênađô Vũ Văn Duệ linh mục
Năm Ất Mùi (1755) quê thực Quỳnh Anh
Thời cấm đạo bọn lưu manh
Truy lùng đạo trưởng chỉ canh kiếm tiền
Cha đâu trốn, chẳng phiền, chẳng sợ
Nghe tiếng chân đi ở bên ngoài
Ta đây đạo trưởng sợ ai
Cứ vào mà bắt, quan cai đón chờ
Lính bữa nọ bất ngờ nghe thấy
Chúng vào ngay, bữa ấy có Thầy
Nhận là ông nội tôi dây
Già nua lẩm cẩm, nói vầy đó thôi
Lính thấy vậy nghe rồi cũng bỏ
Cha còn la kêu nó lại đây
Uổng thay cơ hội quý này
Trách Thầy lẩm bẩm, tại Thầy hại ta
Các tín hữu thấy là khó cản
Ðưa ra lều làm tạm cánh đồng
Người cùi bà lão coi trông
Ðưa Cha ra đó mới không sợ phiền
Ðược ít lâu có liền đám lính
Chúng đi qua nghe thính tiếng la
Liền ghé vào nhìn thấy mà
Tôi đây đạo trưởng, quan đà bắt đi
Chúng trói giải cấp kỳ Tổng Ðốc
Tại thành Nam cấp tốc tống giam
Lính canh tra tấn dã man
Ra tòa quan dụ sẵn sàng nghe đây
Hãy bước qua cây này được thả
Cha trả lời tôi chả nghe quan
Tông đồ mục vụ tôi làm
Việc gì phản Chúa, rõ ràng tôi không
Quan thấy vậy đeo gông khỏi đánh
Vì tình thương nên tránh tuổi già
Pháp trường đâu có đi ra
Lính khiêng trên võng, tiếng la vang trời
Người già yếu ai ơi khỏi xử
Cha nguyện cầu, xin cứ thương ban
Hồng ân Chúa đổ tuôn tràn
Cho con lãnh nhận, hồn an xác lìa
Tại Bảy Mẫu, mộ bia các Ðấng
Ðã hy sinh nuôi nấng đức tin
Dắt dìu con, một hướng nhìn
Về nơi Thiên Quốc, Trái Tim nhân lành
Pháp trường đã trổi nhanh chiêng trống
Cha Duệ quỳ, như giống cầu xin
Lý hình đao phủ hướng nhìn
Múa gươm vung chém, ngừng tim bay đầu
Phúc tử đạo nguyện cầu Mậu Tuất (1838)
Tuổi già nua ngài đợi hiến dâng
Roma Canh Tý (1900) vinh thăng
Suy tôn Á thánh vĩnh hằng Nước Cha
Các giáo hữu thấm nhoà máu thánh
Thi hài cha xác thánh chôn ngay
Pháp trường Bảy Mẫu nơi đây
Lục Thuỷ cải táng sau này tôn vinh
Lời bất hủ: Toán linh đi ngang qua nhà cha, cha nói: "Các chú tìm đạo trưởng hả, tôi là đạo trưởng đây". Cha bị bắt đem nộp cho tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Quan đòi cha bước qua Thánh Giá, cha Duệ đáp: "Xin quan lớn đừng bảo tôi làm thế, dù thế nào tôi chẳng thể vâng lời quan". Nhà tù mưa giột, lính dời cha đến chỗ
khác, cha nói: "Cứ để tôi ở chỗ ướt này cũng được, không can chi. Tôi chỉ lo những sự đời sau và ước ao đổ máu vì đạo Chúa Kitô thôi".
Đamien
04-09-2006, 04:16 PM
Ngày 01 tháng 08:
Thánh Ðaminh NGUYỄN VĂN HẠNH
Sinh: 1772
Quê quán: Tại làng Năng A, tỉnh Nghệ An.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh.
Tử đạo: 01-08-1838 Xử trảm tại Ba Toà đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðôminicô Nguyễn Hạnh
Sinh Nhâm Thìn (1772) quê cạnh Nghệ An
Hồng ân Chúa xuống tuôn tràn
Mẹ cha đạo hạnh lo toan xóm làng
Cậu Hạnh đến hỏi han Giám mục
Chấp thuận ngay diễm phúc tu dòng
Ðức Cha nghe cậu nói xong
Ngài muốn gặp gỡ vui lòng mẹ cha
Từ ngày đó xuất gia dâng hiến
Trao Cha Liêm trực diện trông anh
Thánh Kinh lời Chúa học hành
Nhập vô chủng viện thông rành Phúc âm
Thần Triết học quan tâm đặc biệt
Sau bao năm hiểu biết tinh thông
Thầy Hạnh Chúa thưởng ấn hồng
Thụ phong Linh mục coi trông cộng đoàn
Ðaminh chọn xin sang dòng khấn
Cha rao truyền tiếp cận hăng say
Việc làm bao quản tháng ngày
Ði thăm kẻ liệt cứu ngay xức dầu
Thời cấm đạo đêm thâu lẩn trốn
Làng Ðình Hạ là chốn ở lâu
Giáo dân góp ý ngõ hầu
Kiên Trung đổi chỗ lần đầu tới đây
Nếu bị lộ quân vây lính bắt
Tên Hội Hậu xếp đặt bày mưu
Ðưa Cha đồng vắng điều hiu
Ðổi thay chỗ ở đặt mưu lãnh vàng
Hai ông ấy đi ngang đã báo
Quân với quan xông xáo bắt Cha
Trói ngay đánh đập quá mà
Cửa thành Thánh Giá phải là bước qua
Cha nhất định chẳng thà chịu chết
Tôi nằm đây bò lết trở ra
Cây Thánh Giá cất vào nhà
Trong dinh quan trấn hỏi tra vặn ngài
Ðiều lầm lỗi quản cai đạo rối
Ði khắp miền sớm tối lừa dân
Cha Ðạt nói, dạy điều cần
Làm lành lánh dữ tỏ phân rõ ràng
Quan lại dụ khuyên can xuất giáo
Tha cho ông gông tháo về ngay
Cha hiên ngang đứng trình bày
Ước ao được chết vì Thầy Giêsu
Quan Phủ nói ông ngu ông xuẩn
Ðạo Giatô vớ vẩn Thiên Ðàng
Quan đi bắt đạo, Chúa giam
Nhốt vào hỏa ngục khóc than muôn đời
Quan nghe nói tức thời nổi giận
Lấy cán dao đập tận mặt Cha
Nặng lời chửi rủa rầy la
Mười lăm roi đánh bắt đà đeo gông
Quan bảo lính cấm không ăn uống
Lính giải đi dẫn xuống ngục giam
Mặc dầu thịt nát xương tan
Cha không nao núng hay than thở gì
Một bữa nọ lính thì đem ảnh
Mẹ Maria cha tránh đạp lên
Cúi đầu tôn kính nâng lên
Ðọc kinh cầu nguyện kêu tên Mẹ hiền
Quan tức tối bồi liền roi vọt
Ðủ một trăm dụ ngọt hứa tha
Không sao khuất phục nổi cha
Lập ngay bản án đệ đà vô kinh
Vua chấp thuận triều đình xử trảm
Những kẻ nào dám phản lệnh vua
Quan quân dụ dỗ chuộc mua
Treo giải xuất giáo thi đua thưởng tiền
Cha Hạnh nói thêm xiềng thêm xích
Cám ơn quan tôi thích chém đầu
Lý hình đứng đó từ lâu
Vung gươm một phát cái đầu bay xa
Lính tới nhặt tung ba lần bổng
Cho giáo dân ngoài cổng tuốn vào
Xác ngài võng cáng lên cao
Ðưa về nghĩa địa liệm vào ván chôn
Phúc tử đạo no tròn Mậu Tuất (1838)
Ðược Nước Trời chịu mất thế gian
Canh Tý (1900) Toà Thánh chu toàn
Suy tôn Chân phước chứa chan ân tình
(Cha Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh Tử đạo 1/8/1838
an táng nghĩa trang làng Lạc Thuỷ)
Lời bất hủ:Quan tra hỏi: "Vậy ông dậy dân chúng những gì?". Cha Minh đáp: "Tôi chỉ người ta làm điều lành, tránh điều dữ thôi". Quan hỏi: "Tại sao không bước qua Thập tự?".
Cha đáp: "Thưa quan, Thập tự đối với chúng tôi là hình Thánh Giá, tượng trưng cho ơn cứu chuộc, nên không ai được chà đạp, vì đó là một trọng tội". Cha cắt nghĩa các lẽ đạo cho quan rồi kết luận: "Kẻ trung thành với Chúa Giêsu, khi chết sẽ được lên Thiên Ðàng".
Cha thánh Hạnh cùng với cha Duyệt (người bước qua Thánh Giá), Khi cha Hạnh chứng kiến việc cha Duyệt bước qua Thánh Giá mấy lượt, cha Hạnh nổi nóng chỉ thẳng vào mặt nói: "Bớ ông kia, hãy xem đầu mình đã bạc, còn sống được bao năm nữa mà cả lòng bỏ Chúa mình vì năm ba ngày tháng chóng qua ru? Ông làm ố danh đấng bậc mình để được lòng vua dữ ? Ông thêm cực lòng cho Giáo Hội đã nuôi nấng dạy dỗ bấy lâu, đi làm bạn với ma quỷ, chực làm hại đời mình." Một lần có lính nói: "Ông không thoát chết được đâu". Cha đáp: "Phải, sự chết thì đã hẳn rồi. Trước tôi cứ ngỡ là được chết với cha chính Hiền, mà tôi chẳng được sự ấy thì lấy làm buồn lắm". Quan có lời hứa rằng: "Nếu cha bỏ đạo sẽ cho làm quan!". Cha đáp: "Dù tôi được làm quan ngay hôm nay mặc lòng, tôi cũng không xuất giáo đâu. Tôi chỉ muốn được làm con Ðức Chúa Trời thôi".
Đamien
04-09-2006, 04:19 PM
Ngày 12 tháng 08:
Thánh Giacôbê ÐỖ MAI NĂM
(Mai Ngũ)
Sinh: 1781
Quê quán: Tại làng Ðông Biên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 12-08-1838 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giacôbê (Ðỗ) Mai Năm linh mục
Sinh Kỷ Sửu (1781) quê thực Ðông Biên (Thanh Hoá)
Học hành thi đỗ liên miên
Ba năm Thần học linh truyền thụ phong
Cha rao giảng giúp trong nhiều xứ
Lại còn kiêm đệ tử chủng sinh
Hăng say Cha rất nhiệt tình
Hoàn thành sứ mệnh của mình được trao
Cha đi lại ra vào Vĩnh Trị
Giả danh giúp ông Mỹ người nhà
Có người phát hiện tố Cha
Ông này đạo trưởng đúng là Mai Năm
Cha khẳng khái nói năng điềm tĩnh
Giacôbê Ðỗ, chính là ta
Quan khuyên, Cha bỏ đạo tà
Trả lời Cha nói sao mà lộng ngôn
Ông quan tỉnh vô hồn nặng xác
Kẻ u mê phản bác đạo trời
Truy lùng bắt bớ khắp nơi
Tôi là đạo trưởng rao lời giảng khuyên
Tôi khẳng định lời nguyện thà chết
Thân xác này dâng hết trọn tình
Sẵn sàng vì đạo hy sinh
Các quan xử trảm tử hình Cha Năm
Là nhân chứng thưa rằng lãnh nhận
Giữ đạo trời tiếp cận Tin mừng
Hát ca chúc tụng không ngưng
Vinh danh Thiên Chúa cửu trùng suy tôn
Rồi quỳ xuống cúi hôn mặt đất
Cùng nguyện cầu Chúa cất con về
Giã từ trần thế đam mê
Linh hồn Chúa thưởng thỏa thuê Nước Trời
Phúc tử đạo sáng ngời Mậu Tuất (1838)
Bỏ thế gian không mất linh hồn
Roma Toà Thánh suy tôn
Mùa hè Canh Tý (1900) xác hồn thăng thiên
Lời bất hủ: Trước mặt quan, khi được khuyên nhủ bỏ đạo, cha Năm khẳng khái thưa: "Tôi là đạo trưởng làm sao dám bỏ đạo, hay đạp ảnh tượng tôi tôn kính được. Tôi vốn khuyên người ta phải giữ đạo vững vàng, thà chết không bỏ đạo, thì tôi phải giữ lời tôi đã khuyên dạy kẻ khác chứ, nếu đạo trưởng mà không dám chịu chết vì đạo thì còn ai chịu chết vì đạo nữa".
Đamien
04-09-2006, 04:21 PM
Ngày 12 tháng 08:
Thánh Antôn NGUYỄN ÐÍCH
(còn có tên là Khiêm, và Hiếu nữa)
Sinh: 1769
Quê quán: Làng Chi Long, huyện Nam Sang, tỉnh Nam Ðịnh, này thuộc tỉnh Hà Nam.
Chức vị: Trum họ
Tử đạo:12-08-1838 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ông Trùm Ðích sinh năm Kỷ Sửu (1769)
Tại Chi Lăng thuộc tỉnh Thành Nam (Ðịnh)
Sau về Kẻ Vĩnh đạo ngoan
Nhà thờ gần gũi dễ dàng sinh nhai
Ông Trùm Ðích lâu dài lập nghiệp
Lập gia đình ở miệt này luôn
Canh nông căn bản bán buôn
Trời cho sinh hạ được luôn mười người
Gia đình sống vui tươi hạnh phúc
Chịu khó làm sung túc ấm no
Việc lành đạo đức chăm lo
Ðọc kinh cầu nguyện Chúa cho an bình
Với làng xóm trọng tình huynh đệ
Ông hiền lành tử tế hài hòa
Vợ con chẳng có chửi la
Nhưng luôn khuyên nhủ thực thà tín trung
Người túng thiếu trong vùng đến trọ
Ông sẵn sàng cho họ ở ngay
Phải tuân điều kiện sau này
Kinh chung sớm tối chẳng thay đổi gì
Tôi chấp nhận thực thi lời hứa
Ðây hồng ân do Chúa thương ban
Gương lành ông Ðích đã làm
Dắt dìu huynh đệ cùng tham gia vào
Với con cái đề cao giáo dục
Chẳng nuông chiều, hối thúc hiếu trung
Ông người uy tín trong vùng
Phong là Trùm họ tôn sùng quý ông
Với các Ðấng ông không quản ngại
Cả gia đình con cái đảm lo
Ðón đưa các Ðấng giúp cho
Thừa sai tu sĩ chỉ lo rao truyền
Một năm ấy bỗng thì dịch tả
Trong nhà dòng như đã bị lây
Ông Trùm Ðích đón các Thầy
Về nhà săn sóc lo đầy thuốc thang
Lúc hết dịch dân làng mạnh khỏe
Ðưa các Thầy vui vẻ nhà chung
Ðức Giám mục ở trong vùng
Muốn bù phí tổn góp cùng giáo dân
Ông Trùm Ðích nhận phần đài thọ
Ít lâu sau tình thế đổi thay
Vua ra sắc lệnh ác này
Thừa sai chứa chấp thẳng tay chém đầu
Ông Trùm Ðích từ lâu vẫn đón
Ðức Cha Dụ thường trốn ở nhà
Cha Năm liên tục vào ra
Như tình huynh đệ rất là thân thương
Ông còn giúp lỡ đường sớm tối
Người bệnh cùi tìm lối thuốc thang
Ông đâu có phải trùm làng
Ðược người quý mến phong mang tên Trùm
Ông tìm kẻ làm dùm giúp việc
Tên Tỷ, Xuân quanh miệt tới làm
Ai ngờ đâu kẻ mưu gian
Vào nhà do thám để làm nội công
Chúng về tỉnh lập công tố cáo
Bắt Cha Năm trói ráo cả Trùm
Cha Năm ông Ðích bị cùm
Củi tre chật hẹp cúi khum khổ hình
Chúng dẫn giải lý hình xử trảm
Cả ba người thê thảm pháp trường
Lý Thi lãnh xác đảm đương
Quan tài tẩm liệm trên đường tiễn đưa
Về Kẻ Vĩnh không thua đám rước
Ðông giáo dân đốt đuốc sáng trưng
Thật là náo nhiệt tưng bừng
Ba vị tử đạo đón mừng hồng ân
Mộ Trùm Ðích vua cần khai quật
Tưởng giấu vàng mở lật tấm thiên
Gia đình đau xót buồn phiền
Trở về tro bụi không yên dưới mồ
Phúc tử đạo tung hô Mậu Tuất (1838)
Ðẹp danh Cha chẳng khuất phục vua
Roma lừng lẫy tung hô
Suy tôn Canh Tý (1900) tín đồ trung kiên
Lời bất hủ: Quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh dùng mọi phương thế để bắt ông Trùm Ðích bỏ đạo. Ông Ðích trả lời với giọng vững vàng: "Thưa quan, con cháu chi cũng mặc, tôi đã lo liệu cho chúng. Tôi có bổn phận tôn thờ Thiên Chúa, quan tha hoặc kết tội thì tuỳ, chứ đừng ép tôi bỏ đạo".
Đamien
04-09-2006, 04:27 PM
Ngày 12 tháng 08:
Thánh Micae NGUYỄN HUY MỸ
( Nguyễn Duy Diệu )
Sinh: 1804
Quê quán: Tại Ðại Ðăng, tỉnh Ninh Bình đến lập nghiệp và lập gia đình tại xứ đạo Kẻ Vĩnh, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Lý trưởng làng Kẻ Vĩnh
Tử đạo: 12-08-1838 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ông Lý Mỹ sinh năm Giáp Tuất (1804)
Trại Ðại Ðăng tỉnh lỵ Ninh Bình
Mẹ cha về sớm Thiên Ðình
Nhờ Dì nuôi nấng chân tình chăm lo
Mới mười tuổi chữ Nho khó học
Rất siêng chăm cậu học thuộc ngay
Tinh thông khéo dạ khéo tay
Cụ Ðồ khen tặng cậu này thủ khoa
Ðến lập nghiệp quê nhà Kẻ Vĩnh
Ở nơi đây đã đính kết hôn
Với cô Niệm gái nông thôn
Con cụ Trùm Ðích tiếng đồn nết na
Rồi anh Mỹ học qua nghề thuốc
Chữa mát tay thân thuộc tin yêu
Nhà thờ kinh sớm kinh chiều
Siêng năng lần hạt là điều chẳng quên
Có Cha tới ta nên xưng tội
Phải xét mình sai lỗi với ai
Thật lòng sám hối xưng khai
Tại tôi đấm ngực xin ngài thứ tha
Ông Lý Mỹ xùng la tát vợ
Cũng chỉ vì kiếm cớ bỏ kinh
Sau này ông biết lỗi mình
Vợ chồng hòa thuận nghĩa tình sắt son
Ông Lý Mỹ hết còn tái phạm
Không rượu chè kết bạn bê tha
Tu thân rồi mới tề gia
Việc nhà ổn định thiết tha cộng đoàn
Một lần nọ họp bàn đám hiếu
Của Thầy Ðồ phúng điếu lễ nghi
Anh em Phật giáo thầm thì
Thầy Ðồ an táng lễ nghi nhà Chùa
Nhưng Lý Mỹ đâu thua, phản đối
Ðược Thầy Ðồ chỉ lối lại cho
Nhà thờ phép đạo tôi lo
Nhờ Thầy Kẻ Giảng giúp cho tốt lành
Ông Lý Mỹ lẹ nhanh bố thí
Giúp người nghèo thiện chí hăng say
Giỏi giang lý sự trình bày
Khuyết chân Chánh Tổng làng này cử ông
Ông không chịu nên ông từ chối
Lý trưởng làng dân hối ông làm
Nhưng ông không thích chẳng ham
Ðức Cha Dụ bảo giúp làng giúp dân
Ðề che chở khi cần lúc khó
Ðức Cha khuyên khi đó mới ra
Xin vâng giúp đỡ quê nhà
Dân làng thấy vậy thật là an tâm
Xử kiện cáo không lầm Lý Mỹ
Ông đứng ra xử lý công bằng
Không quen thuộc, khéo nói năng
Chẳng qua lẽ phải thưa rằng công minh
Một bữa nọ ông rình bắt bạc
Có đông người đĩa bát quả tang
Ðầy tớ riêng có trong hàng
Bốn mươi roi phạt cả làng tới coi
Tên đầy tớ thêm roi sáu chục
Ðủ trăm roi nằm gục chổng mông
Ðàn bà cũng giống đàn ông
La lối chửi rủa thì ông phạt đòn
Bà nào lỡ có con đi kiếm
Lấy cái nia cắt khiến chui đầu
Cái nồi đất cũ từ lâu
Bôi vôi bắt đội lên đầu dẫn đi
Làng nhìn mặt bà thì xấu hổ
Cả dân làng khu phố khen hay
Lý Mỹ có tính tốt này
Ông không nóng giận khoan thai hiền từ
Là Lý Trưởng cũng như việc đạo
Vẫn đọc kinh loan báo làm gương
Phiên tuần canh gác ngoài đường
Ông đi đôn đốc đảm đương tháng ngày
Các trẻ nhỏ tính hay trốn học
Ông kiểm tra săn sóc tới nơi
Giục người xưng tội kịp thời
Ai mà lười biếng ông thời ghi danh
Ðối với bậc tu hành kính nể
Ðón các ngài đến để giảng rao
Làng Kẻ Vĩnh rất tự hào
Ðạo đời tốt đẹp Chúa trao phúc lành
Ðược như vậy nhờ danh Lý Mỹ
Rất hiên ngang suy nghĩ đảm đang
Lính quan đến ông dẫn đàng
Từng nhà lục soát dân làng vững tin
Ông ngầm báo đi tìm lối thoát
Nếu chưa thông lối khác dẫn đi
Quan quân chẳng bắt được gì
Nhờ ông Lý Mỹ rất thì tinh nhanh
Tại Nam Ðịnh Quang Khanh bắt lính
Bỏ đạo trời quan tính kiểm tra
Ông Lý Mỹ lại ở xa
Cho người về báo phải là kiên trung
Mấy ngày nữa, sẽ cùng các đệ
Ra gặp quan nói để tuyên xưng
Quang Khanh thấy thế thì ngừng
Hồng ân tử đạo đón mừng cầu xin
Ngay sau đó báo tin cho vợ
Tôi chiêm bao sẽ ở xa bà
Phúc lành tử đạo không xa
Ông được phúc trọng thì ta vui lòng
Lời ước nguyện cầu mong sắp đặt
Ba ngày sau quan bắt ông đi
Hai tên do thám Xuân, Ty
Nằm vùng giúp việc nó thì báo quan
Trịnh Quang Khanh chia làm hai cánh
Ðường thủy bộ điểm chánh đình làng
Quân quan gươm giáo nghênh ngang
Cho đòi lý trưởng với hàng quan viên
Ông Lý Mỹ báo liền Trùm Ðích
Cha con ta bị địch bắt rồi
Quang Khanh tới chắc lôi thôi
Cho đòi trai tráng bắt ngồi điểm danh
Bao đạo trưởng các anh phải nộp
Lý trưởng làng lính ốp trả lời
Quan cho lục soát khắp nơi
Nếu mà bắt được tội rơi bay đầu
Phải làm giấy ngõ hầu phải ký
Cầm bút ngay ông ký hiên ngang
Hai tên do thám dẫn đàng
Cụ Năm có mặt sẵn sàng nhận ngay
Lính xô lại trói tay Trùm Ðích
Giấy tờ đây giải thích cho quan
Lý Mỹ nói khỏi luận bàn
Phép vua quan xử chẳng van kêu nài
Liền sau đó quan sai lính trói
Cả ba người chẳng nói năng gì
Giải về Lục Bộ hướng đi
Một huynh thứ đến, bàn thì chuộc ông
Nhưng Lý Mỹ nói không cảm tạ
Ðây hồng ân Chúa đã quan phòng
Làm cơm khoản đãi cầu mong
Ðón mừng chôn xác liệm trong quan tài
Lý hình tức, chém sai không trúng
Trượt vô cằm nảy búng thịt ra
Chém năm nhát mới đứt mà
Thật là đau đớn xót xa dân làng
Dân xin xác cả ba mai táng
Ðến nửa đêm mới cáng tới làng
Giáo dân đốt đuốc sáng choang
Thổi kèn đánh trống cả làng mừng vui
Phúc tử đạo bùi ngùi Mậu Tuất (1838)
Của lễ dâng đẹp nhất đời con
Một lòng trung nghĩa sắt son
Suy tôn Canh Tý (1900) xác hồn Thiên cung
Cha Năm, cụ Trùm Ðích, ông Lý Mỹ tử đạo
12/8/1838 an táng tại nghĩa trang làng Kẻ Vĩnh
Đamien
04-09-2006, 04:27 PM
Lời bất hủ: Trước quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh, ông Lý Mỹ trả lời với lý luận sắc bén đối chất với quan: "Thưa quan lớn, tôi đã suy xét và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không thể chối bỏ. Giá như có ai nói quan lớn đạp đầu Ðức Vua đã ban chức trọng cho quan, ắt hẳn quan chẳng dám làm, thì tôi đây lẽ nào cả gan đạp ảnh Chúa tôi thờ kính". Ông Lý Mỹ chịu đánh đòn nhiều lần cả những lần chịu thay cho nhạc phụ tổng cộng đến 500 roi.
Trong tù ông Lý Mỹ làm bài thơ đường luật
"Thất ngôn bát cú" sau:
Gông đóng xiềng mang, dạ nguyện kinh
Những say vì đạo, hả vì tình
Vai mang bốn điệp, tai thêm ấm
Xống xếnh ba vòng, cổ lại thanh
Phép nước đành lòng, không oán thán
Nghĩa thầy để dạ, vẫn đinh ninh
Khiến sao nên vậy, nào lo nghĩ
Phó mặc Hoàng Thiên, sự tử sinh
Hai đoạn này trích trong tài liệu ra
=========================
Tôi trung Chúa thưởng nước Thiên Ðình
Bền vững kiên gan chốn tử sinh
Quyết chí bền tâm đi tới đích
Thuyền nan vượt sóng dám hy sinh
--------
1- điệp: thanh gỗ, gông
2- vòng: vòng xích sắt
Đamien
04-09-2006, 04:30 PM
Ngày 21 tháng 08:
Thánh Giuse ÐẶNG ÐÌNH VIÊN
Sinh: 1787
Quê quán: Tại làng Tiên Chu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 21-08-1838 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Giuse Ðặng Ðình Viên linh mục
Sinh Ðinh Mùi (1787) quê thực Hưng Yên (Tiên Chu)
Mẹ cha từ nhỏ quy tiên
Thừa sai theo giúp, khắp miền đó đây
Rồi được nhận vào thầy chủng viện
Khoảng mười năm hiện diện nhà tràng
Triết thần thầy học giỏi giang
Thụ phong Linh mục, lên hàng chăn chiên
Làm Cha phó xứ, miền Lục Thủy
Sau hai năm hoan hỷ Ðồng Nai
Nhiều nơi thay đổi triển khai
Thiết Nham, Như Thiết lâu dài Mỹ An
Suốt mười bảy năm, tràn ơn thánh
Mục tử siêng nặng gánh chu toàn
Sáu bức thư gởi Bắc Nam
Tuần Phủ bắt được, lệnh ban truy tìm
Hai ông biết có tin tỉnh Bắc
Cho quân lên vây bắt Cha Viên
Cầu Chay, Như Thiết hai miền
Nhưng Cha thoát được, sang liền vườn kia
Vườn rậm rạp, lính lia đâu thấy
Chúng dùng mưu bắt lấy trẻ con
Bé la vì bị ăn đòn
Kêu tên cực trọng, cứu con Chúa Trời
Cha đau đớn nghe nơi cháu khóc
Ngài bước ra tự động nộp mình
Tôi đây đạo trưởng thật tình
Các anh tìm bắt, Triều Ðình lệnh ban
Chúng trói lại, lên đàng dẫn giải
Cổ bị gông về mãi Hưng Yên
Các quan bắt buộc Cha Viên
Phải là phiên dịch, ra liền tiếng ta
Cha đã chuyển hết ra tiếng Việt
Không âm mưu rất thiệt thẳng ngay
Các quan lại dụ đổi thay
Chỉ cần chối đạo, tha ngay cho về
Cha trả lời không hề phản bội
Tôi Linh mục Giáo hội rao truyền
Tân tòng giáo hữu nhủ khuyên
Chứng nhân của Chúa, khắp miền tuyên xưng
Quan cứ xử, xin đừng dụ dỗ
Tôi vững tin bền đỗ tới cùng
Hai người trong họ đi chung
Xin Cha tha lỗi, tội khùng tố Cha
Cha Viên nói, thứ tha tất cả
Dùng chút cơm, thư thả nguyện cầu
Lý hình đao phủ từ đâu
Vung gươm tới chém, rụng đầu chứng nhân
Các tín hữu người thân thấm máu
Cả gia đình con cháu giáo dân
Thi hài Cha, cổ lìa thân
Ba trăm bổn đạo, dự phần rước đưa
Về Tiên Chu xế trưa an táng
Cha Ðình Viên xứng đáng chứng nhân
Chu toàn mục vụ trọn phần
Anh hùng tử đạo, hồng ân nước trời
Phúc tử đạo tuyệt vời Mậu Tuất (1838)
Bỏ trần gian không mất Nước Trời
Canh Tý (1900) Toà Thánh Roma
Suy tôn Chân Phước hoan ca chúc mừng
Thẻ Bài của Cha ghi như sau
Ðạo Trưởng Ðặng Ðình Viên
Từng giảng tà đạo
Liên lạc với Ðạo Trưởng Tây man
Tụ tập Ðạo Ðồ, Ðạo Chúng, Ðạo Thủ
Bất khẳng quá khóa
Vi phạm Quốc Pháp
Luật hình trảm quyết
Lời bất hu: Khi quân lính lùng bắt cha, cha thấy lính hành hạ người nhà quá, cha từ chỗ ẩn nấp ra và nói: "Tôi là đạo trưởng Viên các anh đang tìm bắt đây, xin đừng làm khổ đứa trẻ này nữa". Ðến trước quan, quan khuyên cha chối đạo để được tha, cha Viên cương quyết trả lời: "Dù có chết tôi cũng không quá khoá. Tôi là đạo trưởng mà quá khoá thì ai theo đạo nữa".
Đamien
04-09-2006, 04:32 PM
Ngày 05 tháng 09:
Thánh Phêrô NGUYỄN VĂN TỰ
Sinh: 1796
Quê quán: Tại làng Ninh Cường, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 05-09-1838 Xử trảm tại Bắc Ninh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tự
Năm Bính Thìn (1796) vinh dự minh cường
Vào dòng Ðaminh thân thương
Hằng ngày giảng đạo huyện đường bắt giam
Cha Nguyễn Tự gian nan không ngại
Tại Bắc Ninh bách hại gắt gao
Có ông Quang một thân hào
Ðưa Cha trú ẩn, trốn vào vườn ông
Sáng Cha dâng lễ, không kịp nghỉ
Lính tới vây, dân chỉ Cha đi
Làng bên lánh nạn tức thì
Bọn chúng lục soát, chúng nghi nơi này
Lính kiếm được đúng ngay áo lễ
Chén Thánh kia, đang để trong nhà
Tập trung dân chúng khảo tra
Nhiều người từ chối, nói là không hay
Ðến người chót, ông này bị dọa
Là Lang Ninh, thưa đã nộp Cha
Bắt luôn Thầy Úy nữa mà
Cha khai làm bếp, coi nhà giúp tôi
Lính áp giải vào ngồi thị trấn
Tại nơi đây phỏng vấn cung khai
Truy tìm các vị Thừa sai
Song Cha chẳng nói, dông dài mà chi
Một bội giáo, hắn thì xấc láo
Ông phải khai, ta bảo ăn đòn
Cha mắng lại, mày chó con
Gặp quan tao nói, hết còn tuy toe
Tôn tức giận vỉa hè ngồi nắng
Trả thù Cha, đã mắng chửi anh
Khi quan đến đã mời nhanh
Vào nhà tham luận, chân thành đổi trao
Quan lại hỏi, có bao giáo sĩ
Cha Tự ngồi, ngẫm nghĩ đã khai
Có hai Giám mục thưa ngài
Bảy nhà truyền giáo, giỏi tài tuổi tên
Quan mừng lắm không quên cảm tạ
Bé cái lầm toàn đã bắt rồi
Biết ra quan đã hỡi ôi
Ra tòa lần khác, sẽ thời biết ta
Quan lại hỏi chuyển qua chuyện khác
Các đồ thờ, cho các quan nghe
Áo lễ chén Thánh đây nè
Cha liền rao giảng, chẳng che giấu gì
Quan liền báo ta thì cho biết
Hai ngày sau đặc biệt ra ròa
Giáo dân bị bắt khảo tra
Bước qua Thập Giá, để mà được tha
Ðược tin ấy thì Cha buồn thảm
Về ngục giam can đảm nhủ khuyên
Hai ngày cầu nguyện triền miên
Không đem kết quả, buồn phiền xảy ra
Bốn Trùm xứ mất ba còn một
Cụ bảy lăm rất tốt lương y
Lệnh vua thay đổi tức thì
Tập trung phòng lớn, bảng ghi rõ ràng
Một bên Thánh Giá ngang mặt đất
Còn bên kia đủ tất khổ hình
Khi thì mềm dẻo nghĩa tình
Khi thì đe doạ, thình lình nổi lên
Cha Nguyễn Tự gọi tên để bước
Ngài trả lời, sao được phản Thầy
Giêsu là Chúa tôi đây
Ông quan lại nói, việc này tùy ông
Ðến pháp trường rất đông binh lính
Cha con một cũi dính chung nhau
Ðọc kinh sốt sắng nguyện cầu
Ðường dài dẫn giải, khá lâu pháp trường
Tới nơi xử khẩn trương trải chiếu
Cha con quỳ theo kiểu nguyện kinh
Quan hiệu lệnh hai lý hình
Chém đều một lúc, thân mình đầu rơi
Dân xô lại tận nơi thấm máu
Cùng họ hàng con cháu lo chôn
Lương dân gây khó làm ồn
Xác Cha phải chuộc, nghe đồn khá to
Sáu mươi lạng bạc, lo để chuộc
Gặp cái eo, bắt buộc phải tuân
Nghĩa vụ chôn táng mộ phần
Chứng nhân tử đạo, hồng ân Nước Trời
Phúc tử đạo sáng ngời Mậu Tuất (1838)
Chết tuyên xưng chẳng khuất phục quan
Roma Toà Thánh lệnh ban
Suy tôn Canh Tý (1900) hân hoan đón mừng
Lời bất hủ: Quan huyện ngỏ ý đòi tiền chuộc, nhưng cha Tự bình tĩnh trả lời: "Ðối với tôi bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, còn phiền giáo hữu thì tôi không muốn chút nào"..cha nói tiếp: "Người tướng cầm quân đánh giặc, dù binh lính mình chạy hết, tướng cũng không được phép hàng giặc. Tôi la linh mục, dù giáo dân bị tan tác, vẫn phải một niềm trung thành với Thiên Chúa".
Đamien
04-09-2006, 04:34 PM
Ngày 05 tháng 09:
Thánh Giuse HOÀNG LƯƠNG CẢNH
Sinh: 1763
Quê quán: Tại làng Ván (Ngàn Ván), tỉnh Bắc Giang , sống ở làng Thổ Hà, huyện Yên Việt,
Chức vị: Trùm họ Thổ Hà.
Tử đạo: 05-09-1838 Xử trảm tại Bắc Ninh đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Trùm họ Giuse Hoàng Lương Cảnh
Sinh Quý Mùi (1763) quê tỉnh Bắc Giang
Lương y chữa bệnh đảm đang
Bệnh nhân tận tụy thuốc thang dân nghèo
Là tín hữu luôn theo truyền giáo
Luôn hăng say, loan báo Tin mừng
Những người hấp hối bất ưng
Cụ xin rửa tội, cho từng bệnh nhân
Giáo dân Thổ Hạ cần Trùm họ
Tín nhiệm cụ Cảnh, họ đã bầu
Ngày đêm chẳng ngại nơi đâu
Thuốc thang rửa tội, ngõ hầu mời đi
Dù cụ biết hiểm nguy tìm cách
Ðến bến đò, lính ách lại ngay
Tra gông vào cổ trói tay
Giải về thị xã vùng này Bắc Ninh
Quan Tổng Ðốc khi tình khi lý
Bắt chứng nhân, theo ý của quan
Lệnh buộc xuất giáo phải làm
Nếu không sẽ phải, theo đàng khổ đau
Ðến cụ Cảnh tới sau thúc bước
Cụ quỳ ngay để được nguyện cầu
Quan tưởng cụ nói gì đâu
Liền la nói lớn, ngõ hầu ta nghe
Cụ Trùm Cảnh tăng bè lớn tiếng
Lời kinh cầu, chết điếng tai quan
Cho lính vào kéo lão can
Cụ Trùm thừa thắng, kéo tràn cung mây
Quan chọc cụ, ngất ngây cười nhạo
Sao lại cầu kẻ tạo khổ đau
Giêsu Thiên Chúa nhiệm mầu
Thứ tha, tha thứ phải cầu cho nhau
Truyện Giuđa trước sau phản bội
Nhưng phải cần thống hối ăn năn
Mười điều Chúa đã khuyên răn
Nếu ai giữ trọn, khó khăn xá gì
Tin vào Chúa, Ngài thì chúc phúc
Yêu thương nhau trong lúc thế trần
Ðệ huynh như thể tay chân
Sống đời đạo đức, trọn phần thiết tha
Cụ Trùm Cảnh dẫn ra để xử
Ðến pháp trường cụ cứ nguyện cầu
Lý hình gươm giáo đi đầu
Quỳ trên chiếu nhỏ, ngõ hầu chém ngay
Thi hài chôn nơi này ngọn núi
Một thời gian rời núi rước về
Nơi làng Thổ Hạ thôn quê
Xác chôn dưới đất, hồn về Thiên cung
Phúc tử đạo anh hùng Mậu Tuất (1838)
Tuổi già nua trên thất thập tuần
Canh Tý (1900) Nước Chúa lãnh phần
Suy tôn Á thánh từ nhân cứu người
Lời bất hủ: Quan hỏi về những kẻ bỏ đạo hoặc tố cáo các linh mục, cụ liền chậm rãi kể tích truyện Giuđa phản bội Thầy mình vì 30 đồng bạc rồi cụ thêm: "Thực ra lính cũng chẳng bắt được Chúa Giêsu, vì khi Chúa nói chính Ta đây, toán lính Do thái bị té ngã xuống đất hết, chính Chúa đưa tay cho họ trói, để hoàn tất việc chuộc tội thiên hạ, trong đó có cả các quan nữa đấy". Có lần cụ Trùm đọc kinh cho quan nghe như sau: "Cầu Chúa Giêsu cho các vua trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh", các quan cười phá lên và hỏi sao lại cầu cho kẻ hành hạ mình, cụ bình tĩnh trả lời: "cầu cho các quan vì giới luật yêu thương của đạo Chúa dạy..". Quan khuyên cụ bỏ đạo, cụ trả lời: "Xin quan cứ làm án cho tôi được chết với cha Tự của tôi, thì tôi mừng rỡ bội phần". Khi nhận được bản án bị xử tử cụ Cảnh đáp: "Xin cảm ơn, tôi chẳng thiết gì ăn uống chi hết, chỉ mong theo cha tôi ra pháp trường thôi".
Đamien
04-09-2006, 04:37 PM
Ngày 17 tháng 09:
Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU
Sinh: 1756
Quê quán: Tại làng Kim Long , Phú Xuân (nay là Huế)
Chức vị: Linh mục (Ngài bị bắt thời vua Cảnh Thịnh thuộc Tây Sơn 1792-1802 tại xứ Thợ Ðúc - Huế)
Tử đạo: 17-09-1798 Xử trảm tại Bãi Dâu đời Cảnh Thịnh
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cha TRIỆU - Cha ÐẠT
Nguyễn Văn Triệu sinh năm Bính Tý (1756)
Tại Kim Long tỉnh lỵ Thừa Thiên
Gia đình Công giáo tài hiền
Cha làm quan võ quy thiên Nguyễn Triều
Mười lăm tuổi chú Triệu vô lính
Ngự lâm quân triều chính cùng quê
Tây Sơn đánh phá tứ bề
Triều Ðình phải trốn bỏ về miền Nam
Quan miền Bắc đứng làm thủ trưởng
Triệu tháp tùng dưới trướng điều binh
Ði theo như bóng với hình
Quan chuyển về Bắc đem mình đi theo
Cuộc sống mới gieo neo vất vả
Triệu nghĩ suy nên đã đổi thay
Ði tu ý muốn trình bày
Dòng Tên đón nhận đưa ngay đăng trình
Rồi sau đó chuyển Ðaminh Tu Viện
Vị Thừa sai đại diện Rôma
Ðưa thầy Triệu gặp Ðức Cha
Sáu năm thần học sau đà thụ phong
Ơn Thiên Triệu quan phòng Linh mục
Ðược sai đi tiếp tục giảng rao
Giáo lương tình nghĩa dạt dào
Người nghèo giúp đỡ đổi trao nghĩa tình
Cha phục vụ hy sinh năm tháng
Ðược về thăm bóng dáng mẹ hiền
Tuổi già đau ốm triền miên
Nhờ bà đạo đức trong miền giúp cho
Ngài về Huế để lo công việc
Trao lá thư đặc biệt Ðức Cha
Hai ngày trở lại mẹ già
Làm căn nhà nhỏ cho bà an cư
Mấy bà cháu rất ư vui vẻ
Trong căn nhà mát mẻ sống chung
Nhà vua cấm đạo truy lùng
Bắt tìm đạo trưởng khốn cùng khắp nơi
Cha ngoại quốc kịp thời trốn trước
Riêng Cha Triệu phép được thăm quê
Quân quan vây bọc tứ bề
Giáo dân đâu biết để về báo Cha
Ngài bị bắt tại nhà Thợ Ðúc
Ông Trùm Quyên đúng lúc đi xa
Lính bắt ngài chúng hỏi tra
Nhận ngay đạo trưởng chính ta đó mình
Chúng đánh đập thất kinh hai trận
Dòng nữ tu kế cận tiến vào
Tịch thu đồ đạc bỏ bao
Ba mươi chị bắt giải vào kinh đô
Người hiểu biết tiến vô can thiệp
Trả tự do đặc biệt quý Soeurs
Nhà dòng phá hủy chỏng chơ
Cả nhà Cha Triệu nửa giờ phá tan
Bắt Cha Triệu liên can Thầy giảng
Cha với Thầy không nản vẫn vui
Quan Thượng hỏi người trốn chui
Vào Nam giảng đạo ngọt bùi dối đâu
Cha Triệu nói Phú Xuân quê cũ
Bố của tôi Quan Phủ Nguyễn Triều
Hai mươi năm đói tiêu điều
Bỏ nhà ra Bắc từ nhiều năm qua
Tôi may mắn gặp Cha Cố đạo
Ngài giảng rao loan báo niềm tin
Tôi đi theo học sưu tìm
Thấm nhuần đạo Chúa khắc in trong lòng
Rồi sau đó thụ phong Linh mục
Người Tông đồ tiếp tục giảng rao
Lâu năm thăm mẹ trở vào
Tôi là đạo Truởng Chúa trao loan truyền
Quan Thượng hỏi cảm phiền có vợ
Ở đàng ngoài hay ở đàng trong
Cha Triệu nói tôi tu dòng
Ðộc thân phải giữ thật lòng chân tu
Quan ra lệnh nhốt tù nghiêm ngặt
Cổ đeo gông chân chặt xích xiềng
Bốn mươi ngày biệt giam riêng
Ðánh đòn ba trận nát liền trên lưng
Cơm chỉ có muối vừng qua bữa
Ðựng mo cau khe cửa đút vô
Lính canh ăn nói côn đồ
Nản lòng sợ hãi khát khô nước thèm
Quan tra hỏi nhiều phen dọa nạt
Cha trả lời chẳng khác giảng rao
Hùng hồn can đảm tự hào
Thánh Linh phù trợ ban trao cho ngài
Cha Lộc tới bá vai giải tội
Vào thăm tù lính hối đuổi ra
Hôm sau Cha bị hầu toà
Các quan xúi giục hãy đà nghe ta
Bỏ đạo Chúa vua đà trọng thưởng
Về thế gian thụ hưởng thiếu chi
Cha cương quyết chết tức thì
Vẫn theo chân Chúa tử quy Nước Trời
Lính giải ngài đến nơi để chém
Cha quỳ thẳng lính vén tóc lên
Ðầu rơi xuống đất ngay bên
Giáo dân ào đến kêu tên khóc ngài
Chôn cất dấu mấy ai hay biết
Tại một nơi giữa miệt lương dân
Thời gian thuận tiện tới gần
An táng trọng thể mộ phần của Cha
Năm tử đạo chính là Mậu Ngọ (1798)
Thánh năm này tuổi thọ bốn hai
Roma phong thánh cho Ngài
Suy tôn Canh Tý (1900) trần ai mấy người
Lời bất hủ: Trước khi xử tử quan hỏi cha Triệu: "Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng trở về quê quán sinh sống không? Nếu Thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho". Cha Triệu khẳng khái trả lời: "Thưa không, tôi là đạo trưởng tôi thà chết chứ không bỏ việc giảng đạo".
Đamien
04-09-2006, 04:38 PM
Ngày 18 tháng 09:
Thánh Ðaminh TRẠCH
Sinh: 1793
Quê quán: Tại họ Ngoại Vối, tỉnh Nam Ðinh (xứ Ngoại Bồi) cha coi sóc xứ Quần Cống, rồi về Lục Thuỷ dưỡng bệnh. Năm 1839 cha bị bắt ở xứ Ngọc Cục.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 18-09-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðaminh Trạch sinh năm Quý Sửu (1793)
Thuộc Thành Nam giáo hữu Ngoại Bồi
Sách đèn kinh sử luyện truôi
Chương trình chủng viện thông xuôi rõ ràng
Rồi sau đó chuyển sang thần học
Ðại chủng sinh cắt tóc tu trì
Thụ phong Linh mục hướng đi
Tông đồ phục vụ thực thi khấn dòng
Sống nhiệm nhặt nằm trong kỷ luật
Mang trong mình bệnh tật nan y
Ăn chay giữ luật khắc ghi
Chu toàn trách nhiệm rất thì hăng say
Coi Quần Cống sau này Lạc Thủy
Cha về đây để nghỉ dưỡng hưu
Chủng sinh linh hướng dắt dìu
Ngài kiêm cố vấn tham mưu cộng đoàn
Cha bị bắt khi sang Ngọc Cục
Nhưng giáo dân thủ tục chuộc ra
Hai trăm quan một món quà
Quân quan bỏ túi dân đà khổ đau
Cha ở trọ nhà sau ông Thiện
Và ông Trùm Bảo tiện ngay bên
Làng Trà Lũ chẳng thể quên
Ngài đi thăm viếng làng trên đường ngoài
Ðể gặp gỡ hai ngài Linh mục
Cha Thản, Vinh cầu chúc cho nhau
Tới Ngưỡng Nhân, chúng theo sau
Vây nhà chúng bắt hùa nhau đuổi ngài
Cha Thản, Vinh không ai bị bắt
Riêng Cha Trạch trục trặc yếu chân
Lính vây phút chốc lại gần
Bắt Cha dẫn giải quan quân Xuân Trường
Bị tra tấn công đường của huyện
Sau giải đi trình diện Quang Khanh
Nơi đây ngục thất đã dành
Tống giam đạo trưởng lính canh đêm ngày
Cha Trạch bị đưa ngay vào ngục
Ngài mừng vui tiếp tục ủi an
Cho tín hữu cả quân gian
Nhủ khuyên thống hối theo đàng Kitô
Quang Khanh biết nhốt vô riêng biệt
Trong cầu tiêu cho kiệt sức đi
Trăm roi cho đánh mỗi kỳ
Bước qua Thánh Giá ta thì tha ngay
Cha không nói chắp tay quỳ gối
Hôn Thánh Giá thống hối nguyện rằng
Ðây là giường Chúa toàn năng
Hy sinh chuộc tội vĩnh hằng vinh quang
Bẩm quan tôi sẵn sàng chịu chết
Trịnh Quang Khanh mất hết lương tri
Chửi thề thóa mạ tức thì
Giao cho quân lính dẫn đi hành hình
Lãnh bản án Triều Ðình Minh Mạng
Ngài bước đi biệt tạm ba Cha
Ðể tôi đi trước đó mà
Pháp Trường Bảy Mẫu bước ra nguyện cầu
Cha Trạch ngài cúi đầu nhận lãnh
Nhát gươm thiêng máu Thánh tuôn trào
Hồng ân Thiên Chúa ban trao
Chứng nhân trung tín máu đào hiến dâng
Và thi thể Thánh Nhân an táng
Ngay tại nơi máu láng pháp trường
Năm sau giáo hữu mến thương
Rước về Lạc Thủy nghĩa đường nhà chung
Phúc tử đạo ung dung Canh Tý (1840)
Sáu mươi năm sắc chỉ Giáo Hoàng (Lêô XIII)
Từ Roma được gởi sang
Suy tôn Canh Tý (1900) Thiên đàng dành cho
Lời bất hủ: Quan hứa sẽ trả tự do nếu cha bước qua Thanh giá. Cha Ðaminh Trạch không trả lời ngay, tự động quỳ xuống hôn kính Thánh giá rồi quay về phía quan và nói: "Thưa quan, Thánh giá là giường Chúa Kitô nằm chết thay cho nhân loại, nếu quan muốn sự sống đời đời, xin quan kính lạy Thánh giá này. Tôi thà bị chết chứ không bước qua Thánh giá".
Đamien
04-09-2006, 04:40 PM
Ngày 20 tháng 09:
Thánh Gioan CHARLES CORNAY TÂN
Sinh: 28-02-1809
Quê quán: Tại Loudun, nước Pháp
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 20-09-1837 Xử lăng trì tại Sơn Tây đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Tân sinh năm Kỷ Tỵ (1809)
Tại Loudun tỉnh lỵ Paris
Gia đình giàu có thiếu chi
Còn nhỏ đi học cậu thì ham chơi
Hết trung học Chúa thời kêu gọi
Như rồng kia gặp hội phong vân
Xin vào Chủng viện Saumut
Ở đây thầy học chuyên cần đáng khen
Rồi sau đó thầy lên Chủng viện
Cũng thừa sai thuận tiện Paris
Lãnh chức phó tế thầy đi
Viễn Ðông giảng đạo điểm thì Macao
Và sau đó lệnh vào Trung Quốc
Tỉnh Tứ Xuyên Thầy được cử đi
Lệnh cấm ban bố cấp kỳ
Thầy phải đi đến Bắc Kỳ Việt Nam
Khi mới đến thầy ham học chữ
Sau thời gian thầy giữ tên Tân
Xứ Antôn lúc dừng chân
Thầy học tiếng Việt ân cần giỏi giang
Trung Hoa gởi người sang đón rước
Ðã không thành trên bước đường đi
Việt Nam thầy đổi tức thì
Rồi sau vào tới Nam Kỳ đàng trong
Ðức Cha Du thụ phong linh mục
Cho thầy Tân rất mực tài ba
Sau đó Cha lại đi ra
Về giúp địa phận Tây qua đàng ngoài
Ðức Cha muốn điều ngài giúp xứ
Xứ Bầu Nọ là căn cứ của cha
Yêu thương đất Việt quá mà
Thường cha vẫn nói đây là quê hương
Khi bệnh nặng đến khuyên về Pháp
Thì cha Tân ngài đáp lại ngay
Chúa sai tôi đến xứ này
Dù sống hay chết rủi may cũng đành
Trong vùng đó có anh tên Ðức
Cướp của người mặc sức tung hoành
Người Công giáo bắt được anh
Thế là tên Ðức xưng danh báo thù
Cha Tân trong nhà tu bị hại
Ðức bày mưu vợ lại đọc kinh
Mục tiêu là để đến rình
Xem cha ẩn trú lánh mình nơi nao
Ðức thu gom gươm đao một số
Rồi đem vào đào lỗ chôn ngay
Vườn cha rộng quá chẳng hay
Về sau mới biết thằng này lưu manh
Ðức lặng lẽ làm nhanh báo cáo
Rằng cha Tân đào tạo phiến quân
Vũ khí cha giấu gần sân
Cạnh hầm trú ẩn khi cần đem ra
Quan nghe vậy đứng la một tiếng
Rồi đem quân vây kín nhà cha
Phen này ông hết kêu la
Hầm chôn vũ khí đây là của ai?
Cha Tân biết kêu nài gì được
Ngài run lên đứng trước mặt quan
Rằng đây có kẻ mưu gian
Tôi thật không biết việc làm ấy đâu
Cha nói vậy ai đâu nghe được
Vũ khí chôn vườn tược của cha
Thôi đi đừng có kêu ca
Xích chân gông cổ lôi ra bỏ tù
Quan huyện hỏi ông tu sao vậy
Mà sẵn sàng vùng dậy chống vua
Cha Tân đứng dậy xin thưa
Tôi chỉ giảng đạo không ưa hại người
Quan cho đánh cha thời nhừ tử
Thay đổi nhau chúng thử sức chơi
Cha Tân bị đánh tơi bời
Nhưng cha không nhận những lời cáo gian
Cha Tân được chứa chan ơn phước
Thánh giá đây ngài bước qua đi
Bước xong được thả tức thì
Cha Tân không bước lại quỳ ôm hôn
Miệng cha vẫn luôn luôn ca hát
Quan tức mình liền quát lớn lên
Lăng trì án được ghi thêm
Nhà vua chấp nhận án đem xử cần
Ngày hôm ấy cha Tân vẫn hát
Ðến pháp trường độc ác Sơn Tây
Tử đạo cha nhận hôm nay
Ðinh Dậu (1837) ghi nhớ những ngày gian nan
Bọn độc ác mọc gan ăn sống
Uống máu ngài để chống bệnh run
Bà con giáo hữu xin chôn
Về sau cải táng về luôn nhà thờ ( họ)
Một nhân chứng tuyệt vời của Chúa
Một đức tin đoan hứa với cha
Canh Tý (1900) Toà Thánh Rôma
Suy tôn Chân phước lên toà Trời cao
Lời bất hủ: Quan ép cha nhận tội phiến loạn, cha trả lời: "Thưa quan, chúng tôi chỉ chuyên giảng đạo, dạy người ta làm lành lánh dữ, dạy con cái phải thảo kính cha mẹ, dạy dân vâng phục vua quan. Tôi đâu thể ngược lại giáo huấn của mình mà chống đối nhà vua được". Lần khác quan lại ép tội làm loạn, cha khẳng khái trả lời: "Không, tôi thà chịu đủ mọi cực hình, hơn là nhận tội tôi không phạm đó. Ðược sống đấy, nhưng phải mang tiếng xấu suốt đời".
Đamien
04-09-2006, 04:42 PM
Ngày 21 tháng 09:
Thánh Phanxicô JACCARD PHAN (Ninh)
Sinh: 06-09-1799
Quê quán: Tại Ômon miền Savoie, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 21-09-1838 Xử giảo tại Nhan Biểu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phanxicô Jaccard linh mục
Năm Kỷ Mùi (1799) quê thực Paris
Quen nơi đồng cỏ xanh rì
Khi vào trường học ấy thì ham chơi
Ðược cha mẹ gởi nơi chủng viện
Cậu Phan luôn vào diện bét tràng
Ðâm ra chán nản bỏ ngang
Liều mình bỏ trốn, thở than gia đình
Nhờ bạn tốt nhiệt tình khích lệ
Tự riêng muốn để làm Cha
Chức Linh mục mãi thiết tha
Nhập vô chủng viện, hứa là siêng chăm
Cậu nỗ lực một năm thấy rõ
Một thời gian sau đó được thăng
Ðại chủng viện học rất hăng
Thụ phong Linh mục, tiếng tăm lẫy lừng
Hội Thừa sai đón mừng gia nhập
Ði rao truyền thành lập khắp nơi
Tông đồ phục vụ tuyệt vời
Ðược bầu Giám đốc, coi thời chủng sinh
Cha Phan muốn hy sinh truyền giáo
Sang phương Ðông giảng đạo Thừa sai
Xuống tàu vượt biển đường dài
Lâu ngày cập bến, phía ngoài miền Trung
An Ninh chủng viện dùng tiếng Việt
Cha mãi mê học miết hiểu thông
Nha Cam, Nhu Lý hợp đồng
Ngài lên Giám đốc, coi trông điều hành
Nhận trách nhiệm trở thành thông dịch
Tại Triều Ðình rất thích đón Cha
Mười năm thành đạt tài ba
Sau ngài đào tạo, công Cha khá nhiều
Cuộc bách hại sớm chiều ác liệt
Ở Quảng Trị và miệt Quảng Bình
Lệnh tra tấn thật thất kinh
Các khanh phải biết, điều binh truy lùng
Trẫm cho phép được dùng vũ lực
Miễn làm sao truy bứt Giatô
Roi đòn lính đánh tha hồ
Xích xiềng gông cổ, tống vô nhà tù
Vua Minh Mạng dẹp khu thông dịch
Ðã trở nên kình địch Cha Phan
Mời lên tòa trấn hỏi han
Giáo dân trong tỉnh, rõ ràng bao nhiêu
Các đạo trưởng còn nhiều hay hết
Cha trả lời, sống chết mình tôi
Tới đây Cha mệt sức rồi
Các quan xấu hổ, khi ngồi hỏi han
Càng tra tấn, ngài càng can đảm
Dám chắp tay xin cảm ơn Trời
Giúp con chiến thắng tới nơi
Quan quân tức giận, chỉ thời đòn roi
Vẫn thản nhiên, cha coi ơn phúc
Tại pháp trường thủ tục xử cha
Ngài quỳ cầu nguyện thiết tha
Lý hình gươm chém, mạnh đà đầu rơi
Thi hài ngài chôn nơi bãi xử
Sau đưa về bên xứ Paris
Hồng ân tử đạo vinh quy
Nước trời vinh hiển, Chúa thì thưởng công
Phúc tử đạo mùa đông Mậu Tuất (1838)
Vững đức tin chẳng khuất phục vua
Vinh thăng Toà Thánh đúng mùa
Suy tôn Canh Tý (1900) đón đưa Nước Trời
Một lòng son sắt không nao núng
Giữ vững niềm tin trước cực hình
Mạng sống an toàn đâu xá kể
Tiền tài danh vọng dám hy sinh
Ðoạn thơ tứ tuyệt này có sẵn trong tài liệu (21/09/1838 )
Lời bất hủ:Quan dụ dỗ nói dối đã chối đạo, cha trả lời: "Thưa quan, quan biết là đạo cấm nói dối, còn việc ngừng giảng đạo, tôi không thể vâng được". Quan tiếp: "Vậy thì ông sẽ bị án xử tử". Cha trả lời: "Tôi đã bị lên án một lần, có lên án lần nữa cũng chẳng sao". Cha đã giúp vua tìm hiểu Âu châu và nước Nhật.. Cha nói: "Tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều dữ".
Đamien
04-09-2006, 04:44 PM
Ngày 21 tháng 09:
Thánh Tôma TRẦN VĂN THIỆN
Sinh: 1820
Quê quán: Tại làng Trung Quán, tỉnh Quảng Bình.
Chức vị: Chủng sinh
Tử đạo: 21-09-1838 Xử giảo tại Nhan Biểu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Chủng sinh Tôma Trần Văn Thiện
Năm Canh Thìn (1820) hiện diện Quảng Bình
Một hôm đi lễ thình lình
Vào cha thăm hỏi nghĩa tình thân quen
Cha xứ bảo cậu em ở lại
Ði nhà thờ khỏi ngại đường xa
Thường xuyên qua lại thăm cha
Mẹ cha thuận, cậu đà ở luôn
Cha Chỉnh dạy vào khuôn vào phép
Học Latinh cậu ghép được ngay
Tôma Thiện tính tốt thay
Cha Kim cho gọi, cậu này chủng sinh
Tôma Thiện thông minh ơn gọi
Dọc đường đi nghe nói vắng cha
Lính vây tìm bắt người mà
Cậu Thiện quả quyết, phải là tới nơi
Gặp Cha Tự ngài thời cho biết
Ðang khó khăn tạm biệt vắng nhà
Cậu Thiện nói có giấy cha
Xin thì thông cảm, xảy ra bất ngờ
Cậu hãy về để chờ lệnh mới
Lúc bấy giờ cậu tới chẳng sao
Dĩ Loan lính tới tràn vào
Từng nhà lục soát, ai nào thoát thân
Trong số đó có phần cậu Thiện
Giải Quảng Trị trình diện với quan
Vấn tra cậu Thiện rõ ràng
Chủng sinh hiểu biết, khai man ăn đòn
Thiện chững chạc tôi còn đi học
Quê thực Trung Quán, gốc Quảng Bình
Tôn thờ một Chúa uy linh
Sẵn sàng chịu chết, trọn tình Giêsu
Quan khoan nhượng khuyên dụ chú Thiện
Tuổi xuân xanh thể hiện tài năng
Thăng quan tiến chức ta thăng
Chỉ cần xuất giáo, quan nâng đỡ liền
Nhưng chú Thiện đã liền từ chối
Tôi chẳng màng u tối trần gian
Chỉ mong hạnh phúc Thiên Ðàng
Giầu sang phú quý, bạc vàng chẳng mê
Quan bỡ ngỡ nóng ghê tức giận
Cho lính đánh một trận nhừ đòn
Chú Thiện gầy ốm héo hon
Máu tuôn thấm áo, như son đỏ lòm
Quan thấy Thiện nhỏ con can đảm
Truyền đóng gông tống khám ngồi tù
Tôma Thiện Chúa hộ phù
Họ hàng thân thích, sợ thù chẳng thăm
Giáo hữu Di Loan nằm chung khám
Cũng sẻ chia phân tán cho thầy
Lâu ngày tiếp tế nơi đây
Dần dà cũng cạn, bụng thầy đói meo
Quan thẩm vấn, đòn theo lần nữa
Bắt xuất giáo đoan hứa tuân hành
Thầy Thiện Thiên Chúa vinh danh
Xin Cha thêm sức, trung thành chứng nhân
Cho phơi nắng nặng phần kìm kẹp
Thầy nguyện xin cho đẹp ý Cha
Quan trấn tức giận quá mà
Lệnh truyền xử giảo, đưa ra pháp trường
Cuộc hành quyết người lương tham đự
Không giáo dân như xử trước đây
Lương dân chôn cất cho thầy
Pháp trường an táng, tràn đầy hồng ân
Phúc tử đạo Thanh Xuân Mậu Tuất (1838)
Chúa quan phòng chẳng mất đi đâu
Roma Toà Thánh không lâu
Suy tôn Canh Tý (1900) lên chầu Thiên nhan
Lời bất hủ: Quan khuyên thầy Thiện hãy bỏ đạo, nếu không sẽ bị chết, thầy trả lời: "Tôi quê ở Trung Quán, Quảng Bình đến tìm thầy học đạo. Ðạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chết chứ không bỏ đạo".
Đamien
04-09-2006, 04:46 PM
Ngày 06 tháng 10:
Thánh Phanxicô TRẦN VĂN TRUNG
Sinh: Khoảng 1825
Quê quán: Tại Phan Xá, tỉnh Quảng Trị
Chức vị: Cai đội (Quân nhân)
Tử đạo: 06-10-1858 Xử trảm tại An Hoà đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cửa Hàn bị quân Pháp chiếm đóng
Vua Tự Ðức mau chóng đổi thay
Tù nhân tình nguyện đánh Tây
Kèm theo điều kiện sau đây đăng trình
Ðể Thánh Giá tự mình quá bước
Trần Văn Trung mực thước đó mà
Ngang nhiên tự ý nói ra
Trần Trung không bước nói là bất tuân
Các quan hỏi mày cần nói rõ
Trả lời ngay đạo có hay không
Trần Trung Công giáo thưa ông
Xâm lăng đi đánh, nhưng không chối trời
Liền bị dẫn vào nơi tù ngục
Năm mươi roi liên tục ba lần
Nhiều trận đòn nát cả thân
Trần Trung chịu đựng chẳng cần thở than
Các quan thấy khó làm đổi ý
Trần Văn Trung quyết chí kiên gan
Các quan hội ý họp bàn
Tâu Vua Tự Ðức xin ban lệnh truyền
Ngài phê chuẩn ban liền trảm quyết
Ra pháp trường mãi miệt An Hòa
Năm nhân viên cưỡi ngựa ra
Sáu mươi lính võ thật là trang nghiêm
Nhưng diễn tiến đột nhiên đổi khác
Các quan đình, nhốn nhác xin vua
Tha cho ông, thần xin thưa
Sợ là khiêu khích vào hùa địch quân
Trung bị trói lại gần quán nghỉ
Tám giờ tối chỉ thị của vua
Hãy trừng phạt kẻ a dua
Xử ngay tức khắc thắng thua đâu cần
Ðấng tử đạo quỳ gần tới đất
Xin đao phủ hoàn tất giúp tôi
Vẽ cây Thánh Giá bằng vôi
In hình trên cổ xong rồi chém luôn
Phan sinh dòng máu tuôn ra chảy
Ðầu phải bêu hết thảy ba ngày
Dương Sơn chôn cất đông thay
Thừa Thiên xứ Huế hiện nay kính thờ
Nơi sinh trưởng ấu thơ Phan Xá
Khi trưởng thành ông đã kết hôn
Con sinh được bốn lớn khôn
Vô tù lần trước nghe đồn tiền chia
Về thi cử mũ hia trót lọt
Phải biết lo đút lót quan trên
Bất đồng cãi vã đôi bên
Ông Trung lãnh đủ, cho nên vô tù
Gặp vợ con trong khu ngục thất
Ông nhủ khuyên rất thật ước mong
Vững tin vào Chúa bền lòng
Gia đình thu xếp vui trong đẹp ngoài
Tôi có chết tương lai con cái
Mình hãy lo rộng rãi yêu thương
Tái hôn lỗi đạo sai đường
Ðứa con tám tuổi ngục đường giúp ông
Cháu còn nhỏ tên Thông con út
Một tháng trời giây phút cuối đời
Khuyên con ngoan ngoãn vâng lời
Học hành giáo lý, nhờ thời quý cha
Ông ngồi nhớ mình đà còn nợ
Liền nhờ người nhắn vợ vào ngay
Bán đồ đạc trả nợ thay
Tôi được thanh thản, đợi ngày xử thôi
Trần Văn Trung sinh thời Ất Dậu (1825)
Tại Phan Xá, Phú Hậu miền Trung
Là quân nhân thích vẫy vùng
Ðánh Tây tình nguyện xin đừng bỏ cha
Phúc tử đạo ban ra Mậu Ngọ (1858)
Bỏ thế gian để tậu Nước Trời
Vinh danh Thiên Chúa sáng ngời
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) tuyệt vời thánh nhân
Lời bất hủ: Các quan hỏi: "Tại sao không bước lên Thánh giá. Có phải mi theo đạo không?". Cai đôi Trung trả lời: "Thưa phải, tôi là người Công giáo. Tôi sẵn sàng đi đánh giặc để bảo vệ tổ quốc, nhưng không bao giờ tôi bỏ đạo". Ông căn dặn vợ: "Tôi có bị chết, mình lo săn sóc các con nhé! Hãy hết lòng yêu thương các con, đừng tái hôn với ai nữa nhé".
Đamien
06-09-2006, 03:14 PM
Ngày 11 tháng 10:
Thánh Phêrô LÊ TUỲ
Sinh: 1773
Quê quán: Tại làng Bằng Sở, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Ðông, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 11-10-1833 Xử trảm tại Quan Ban đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Phêrô Lê Tuỳ linh mục
Năm Quý Tỵ (1773) sinh thực Bắc Ninh
Thanh trai có bệnh điêu linh
Trong làng bé nhỏ nghĩa tình giáo lương
Ði kẻ liệt cha đương giải tội
Hè nhau vào chúng vội trói tay
Giải về huyện lỵ trong ngày
Kể công lấy thưởng bọn này sá chi
Linh mục Phêrô Tùy bị bắt
Ðang lúc ban phép nhặt xức dầu
Thanh Trai người bệnh từ lâu
Trong làng bé nhỏ nghèo giàu giáo lương
Cha bị nộp Thanh Phương quan huyện
Quan muốn tha, tự nguyện giáo dân
Cùng nhau tiền bạc góp phần
Ðiều đình để chuộc xin cần quan tha
Ðặt điều kiện khai là thầy thuốc
Cha Phêrô bị buộc khai man
Ngài liền khẳng khái đôi hàng
Tôi là Linh mục sẵn sàng đơn khai
Bị gông cổ giải ngài lên tỉnh
Quan án hỏi cha tính lại coi
Giatô Ðạo Trưởng học đòi
Lệnh vua án tử phạt roi phủ đầu
Quan Tỉnh dụ nghe đâu Ðạo Trưởng
Tuổi sáu mươi được hưởng đặc ân
Linh mục dù chết ngàn lần
Tôi là Ðạo trưởng đâu cần man khai
Quan kính nể truyền sai giam ngục
Dâng trình vua phong tục nước nhà
Cao niên lớn tuổi được tha
Phạt tiền bắt chuộc đó là ý dân
Vua Minh Mạng bất cần luật lệ
Xử trảm Tùy cốt để răn đe
Chiêng cồng vọng tiếng vang nghe
Lý hình vung kiếm sáng lòe lưỡi gươm
Vị tự đạo hành hương nước Chúa
Là tôi trung nước hứa Thiên Ðàng
Xác Cha khâm liệm áo quan
Ðưa về Trang Nứa dân làng tiễn đưa
Nơi chôn cất thấy chưa ổn định
Ðược đem về giáo tỉnh Yên Duyên
Nơi đây cũng vẫn chưa yên
Bằng Sở nguyên quán gắn liền ngàn thu
Là Linh mục khiêm nhu đạo đức
Thuộc gia đình vào mực phong lưu
Ơn Thiên triệu Chúa dắt dìu
Tông đồ phục vụ gặp nhiều gian nan
Sau Linh mục đảm đang phó xứ
Trước Ðông Thành sau cử Lộc Chân
Sau lên Chánh sở lãnh phần
Nam Ðường xứ lớn giáo dân đông người
Ðức Cha Hậu ngỏ lời khen ngợi
Linh mục Tùy vui với anh em
Tông đồ sứ vụ ngày đêm
Công khai đắc lực gieo men Tin mừng
Cha kiên nhẫn tưng bừng hoạt động
Ba mươi năm cuộc sống giản đơn
Hiền hòa vui tính ai hơn
Yêu thương bác ái chẳng hờn ghét ai
Phúc tử đạo công khai Quý Tỵ (1833)
Lòng trung kiên chẳng bị chuộc mua
Roma phong thánh tới mùa
Suy tôn Chân Phước con vua Nước Trời
Lời bất hủ: Quan tra hỏi tại công đường: "Ông là đạo trưởng Giatô phải không?". Cha đáp: "Phải tôi là đạo trưởng". Quan nói ngay: "Ông nghe ta đi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn, không ai muốn ông phải bị án tử hình cả, ta đây cũng vậy, Bây giờ ông nghe ta, làm một tờ khai nói mình là lang y chữa bệnh có thế ta mới cứu được ông". Cha Tuỳ trả lời: "Tôi không sợ chết, và chết cách nào tôi cũng không ngại. Ai cũng phải chết, dù chết trên chăn êm nệm ấm, dầu bị cọp tha cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi, cho nên tôi không sợ chết".
Đamien
06-09-2006, 03:16 PM
Ngày 17 tháng 10:
Thánh Isidorô GAGELIN KÍNH
Sinh: 10-05-1799
Quê quán: Tại Montperreux, Giáo phận Besancon, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 17-10-1833 Xử giảo tại Bãi Dâu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Gagelin Kính thừa sai linh mục
Sinh Kỷ Dậu (1799) quê thực Paris
Từ nhỏ bày tỏ hướng đi
Tu làm linh mục quản gì khó khăn
Mười hai năm phổ thông trung học
Và bốn năm đại học chủng sinh
Thầy về xin phép cha mình
Cho thầy gia nhập gia đình thừa sai
Thầy vốn có cái tài thuyết nói
Năm Kỷ Mão (1819) hội gọi thầy ngay
Việt Nam truyền đạo xứ này
Ðặt tên là Kính từ ngày mới sang
Giúp các cha mở mang xứ đạo
Cùng hội dòng kiến tạo tân trang
Giáo dân trong họ ngoài làng
Mỗi khi cần đến thầy càng chăm lo
Ðức Cha Bình ban cho thầy Kính
Trong dịp này con lãnh chức cao
Linh mục con được ban trao
Từ xưa thầy vẫn ước ao có rày
Vừa nhận chức trao ngay mấy xứ
Cũng xung quanh Thị tứ Ðông Hà
Bên ngoài công việc của cha
Giáo sư Chủng viện thật là giỏi giang
Cuộc bách đạo ngày càng mãnh liệt
Tình thế này Chủng viện bất an
Ðức Cha linh mục họp bàn
Di dời Chủng viện bình an Sài Gòn
Ðến đặc khu cha con tướng Duyệt
Là tả quân ông thiệt từ tâm
Không bắt bớ chẳng giam cầm
Ðể người Công giáo tuỳ tâm kính thờ
Ở Quảng Trị bầy giờ cha Kính
Phải theo vào cha Chính khuyên ngài
Giáo sư vào hạng thiên tài
Lo cho Chủng viện trong ngoài cũng cha
Năm Ðinh Hợi (1827) vua ra lệnh triệu
Cha về kinh danh hiệu chức quan
Công việc dịch sách thông ngôn
Ðây là một cách giam luôn nhân tài
Cha Kính quyết một hai không chịu
Rằng tôi đây chính hiệu thầy tu
Giảng đạo Chúa rỗi thiên thu
Tôi đâu có phải người ngu ham tiền
Sau về được nhờ hiền quân Duyệt
Ông về triều can thiệp cho ra
Sài Gòn hoạt động bao la
Hà Tiên, Lục Tĩnh vào ra Vũng Tàu
Ðức Cha Từ về sau bổ nhiệm
Ðiều cha ra thực hiện miền Trung
Phú Yên, Bình Ðịnh hai vùng
Sau ra Quảng Ngãi cha cùng giảng rao
Ðường xa mấy không sao đi bộ
Cha hết lòng dạy dỗ giáo dân
Rửa tội, thêm sức chuyên cần
Thường cha đi bộ đôi chân không giày
Lệnh cấm đạo mỗi ngày một gắt
Suốt đêm ngày lùng bắt các cha
Ban ngày chẳng dám đi ra
Ðọc kinh, dâng lễ chỉ là ban đêm
Nhiều giáo hữu có tên lùng bắt
Về tội danh dẫn dắt các cha
Ngài viết thư về Tổng Toà
Xin cho được phép ngài ra nộp mình
Ðức Cha Từ thuận tình chấp nhận
Ðến nộp mình địa phận Bồng Sơn
Cha Kính khai rõ họ tên
Quan huyện mừng quá giải liền về kinh
Cha đến Huế vô tình mà gặp
Bốn bạn xưa thân mật đổi trao
Năm vị ai cũng ước ao
Ðến ngày tử đạo trời cao rước về
Ngày xử án cận kề di chuyển
Ðến Bãi Dâu thực hiện lệnh vua
Mấy câu khẩu hiệu tung hô
Dương quân hoài hoáGia-tô tử hình
Năm Quý Tỵ (1833) chứng mình của Chúa
Chịu tử hình tuyên hứa Nước Cha
Canh Tý (1900) Toà Thánh Rôma
Suy tôn Chân phước danh Cha lưu truyền
Lời bất hu: Những người thân khuyên cha hồi hương tạm lánh một thời gian cha thẳng thắn trả lời: "Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân dịch, huống chi tôi được trao trách nhiệm lãnh đạo, sao có thể thoái thác trách nhiệm của mình được. Chỗ khác Ngài khẳng định: "Tất cả ước vọng của tôi là sớm thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hiệp cùng Chúa Giêsu trong nơi vĩnh phúc
Đamien
06-09-2006, 03:19 PM
Ngày 23 tháng 10:
Thánh Phaolô TỐNG VIẾT BƯỜNG
Sinh: Khoảng 1773
Quê quán: Tại Phú Cam, Phú Xuân, Huế.
Chức vị: Quan thị vệ nhà vua
Tử đạo: 23-10-1833 Xử trảm tại Thợ Ðúc đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Phaolô Tống Viết Bường
Sinh năm Quý Tỵ (1773) quê Phường Phú Cam
Võ quan triều Nguyễn đảm đang
Cấm binh đội trưởng giỏi giang chẳng vừa
Nhiều năm có kẻ cáo vua
Ông người theo đạo đơn thưa đệ trình
Ðức vua đã triệu vào kinh
Võ Quan phải nói phân minh rõ ràng
Giặc về vách đá Quảng Nam
Quân ta toàn thắng, giặc hàng rất đông
Khanh viếng Chùa Non Nước không
Võ Quan chẳng ngại Thần không viếng Chùa
Thần xin khẳng định với vua
Tôi theo Công giáo thắng thua ý trời
Minh Mạng truyền lệnh khắp nơi
Ai người Công giáo hãy thời khai ra
Viết Bường bị nhốt không sai
Vui lòng chấp nhận không nài, chẳng xin
Phượng thờ Thiên Chúa tôi tin
Dựng nên vạn vật khắc in thế trần
Trận đòn đau đớn mỗi lần
Mười hai hèo đánh dập thân Viết Bường
Một quan đồng ngũ thấy thương
Gông xiềng tôi giúp cho Bường nhẹ hơn
Người chiến sĩ đã cảm ơn
Xin quan giúp đỡ nặng hơn cho mình
Ðầy thương tích đòn lý hình
Kiên cường ông nói, giúp mình nặng thêm
Bốn lần lính khiêng ông lên
Ðưa qua Thánh Gía ở trên ảnh Người
Ông liền mạnh dạn nói lời
Quan quân làm vậy chẳng thời phải tôi
Võ Xuân Cẩn tô bồi bỏ đạo
Theo ý vua thấu đáo nghĩa tình
Rồi sau tùy ý đệ huynh
Cảm ơn, ông nói, giúp mình chữ trung
Sống trọn vẹn Tin mừng bền vững
Xin Mẹ thương con đứng hiên ngang
Tuyên xưng đạo Chúa sẵn sàng
Vác cây Thập Giá theo đàng khổ đau
Lòng sắt đá trước sau như một
Chẳng chuyển lay bị nhốt xà lim
Hy sinh vì Chúa hướng tìm
Cho con ơn phúc trái tim nhân lành
Lệnh trảm quyết ban hành đã tới
Ông câu giờ, ranh giới nhà thờ
Pháp trường Thợ Ðúc hằng mơ
Ðến đây trời tối phải nhờ đuốc soi
Lệnh ngừng lại tiếng còi báo hiệu
Tống Viết Bường lính điệu giữa sân
Nguyện cầu xin Chúa Thánh Thần
Lính vung gươm chém xác thân lìa đầu
Tại Thợ Ðúc treo đầu cho khiếp
Theo lệnh vua trảm quyết Viết Bường
Ba ngày thảm thiết đau thương
Viết Bường chiến sĩ hành hương Nước Trời
Rồi sau đó di dời an táng
Ðưa thi hài về mạn Phú Cam
Nơi đây chôn cất đoàng hoàng
Anh hùng tử đạo Thiên Ðàng vinh quang
Ông phục vụ vào hàng cần mẫn
Về gia đình lận đận hai bà
Mười hai con giỏi tài ba
Hồng ân Chúa xuống toàn gia phúc lành
Thuộc dòng tộc nhiệt thành Công giáo
Thật mẫu gương tốt đạo đẹp đời
Viết Bường tử đạo rạng ngời
Vững tin cậy mến ngàn đời lưu danh
Phúc tử đạo hùng anh Quý Tỵ (1833)
Một võ quan cũng bị bay đầu
Chứng nhân Thiên Chúa nhiệm mầu
Suy tôn Canh Tý (1900) lên chầu Thiên cung
Lời bất hủ: Vua hỏi ông Bường: "Lệ thường dẹp giặc xong rồi thì phải vô Chùa lễ bái, tại sao khanh không đi?".
Ông Bường thẳng thắn trả lời: "Vì hạ thần theo đạo Công giáo". Vua Minh Mạng thịnh nộ trách mắng thậm tệ, doạ đem chém đầu. Ông bị thường xuyên tra hỏi, mỗi lần ông đều trả lời: "Lâu nay tôi chỉ thờ một Thiên Chúa dựng nên vạn vât, lẽ nào bây giờ tôi lại bỏ Chúa tôi!". Có lần ông trả lời: "Quan lớn có lòng thương thì tôi cũng xin quan lớn một điều là cho tôi được vẹn chữ Trung với Chúa Trời".
Đamien
06-09-2006, 03:21 PM
Ngày 24 tháng 10:
Thánh Giuse LÊ ÐĂNG THỊ
Sinh: 1825
Quê quán: Tại xứ Kẻ Văn, làng Văn Quy, tỉnh Quảng Trị
Chức vị: Cai đội (Chưởng vệ)
Tử đạo: 24-10-1860 Xử giảo tại An Hoà đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lê Ðăng Thị sinh năm Ất Dậu (1825)
Tại Kẻ Văn Phú Hậu miền Trung
Gia đình binh nghiệp ung dung
Võ quan tài giỏi tin cùng giáo dân
Khi chiếu chỉ có phần gay gắt
Lê Ðăng Thị sắp đặt phục viên
Ðơn xin bệnh hoạn đưa lên
Cấp trên chấp nhận về liền Nghệ An
Thêm chiếu chỉ liên can toàn quốc
Ai trốn chui bắt được tố ra
Ðăng Thị có kẻ ghét mà
Lên quan tố giác trước tòa quân nhân
Thị bị bắt về phần lẩn trốn
Trong số này có bốn bạn thân
Giải về Quảng Trị Trung Phần
Ðể quan xét xử tội nhân ra tòa
Ông Ðăng Thị nhận là Chưởng vệ
Rõ đầu đuôi sự thể xin ra
Kitô hữu đúng thật mà
Giải ông về Huế rồi là tống giam
Cùng đồng bạn lệnh ban xử giảo
Ngồi trong tù anh thảo bức thư
Nghĩ rằng còn gặp nữa ư
Thương em anh nhớ giã từ các con
Ở trong ngục cấp còn cao nhất
Ông Ðăng Thị, chân thật sẻ chia
Trung thành can đảm nọ kia
Cấp cao gông nặng, mũ hia dữ đòn
Tuy tuổi trẻ không còn sung sức
Lắm cực hình đau tức lâm nguy
Tâm tình với bạn thầm thì
Chúa cho tôi sống để đi pháp trường
Sợ bệnh hoạn dở dương chết sớm
Chắc vì tôi mắc vướng tội nhiều
Nguyện cầu xin Chúa thương yêu
Cho con ơn trọng là điều ước mong
Một Linh mục vào trong giải tội
Sau có thầy tìm lối đến trao
Máu Mình Thánh đã đem vào
Ngày mai Chưởng vệ giải giao pháp trường
Giờ phút cuối quan thường khuyên giải
Xuất giáo đi án cải xin vua
Ông Thị quan chớ giỡn đùa
Tôi trung của Chúa là Vua Nước Trời
Lính dẫn giải ra nơi để xử
Giuse Thị vẫn cứ nguyện cầu
Một Linh mục đến từ lâu
Giải tội lần chót phép mầu trao ban
Ông hô lớn Thiên Ðàng vạn phúc
Bọn lý hình tới lúc xiết dây
Chứng nhân tắt thở rồi đây
Phú Cam tổ chức tràn đầy giáo dân
Phúc tử đạo Canh Thân (1860) sử sách
Một võ quan tư cách tuyên xưng
Pháp trường cầu nguyện không ngừng
Suy tôn Kỷ Dậu (1909) vui mừng Nước Cha
Ngay giáo xứ mở ra an táng
Là chứng nhân xứng đáng Giuse
Hồng ân Thiên Chúa lắng nghe
Về sau hài cốt chở che nhà dòng
(Hài cốt Giuse Lê Ðăng Thị Chưởng vệ được đặt trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế)
Lời bất hủ: Bản án của ông Cai đội như sau: "Lê Ðăng Thị, Chưởng vệ, theo tà đạo, không chịu bỏ đạo thì y không thể tha thứ được". Y bị kết an xử giảo cuối mùa thu. Khi nghe bản án xong ông kêu lớn tiếng: "Vạn phúc, vạn phúc! Tôi sắp được Tử đạo".
Đamien
06-09-2006, 03:23 PM
Ngày 28 tháng 10:
Thánh Gioan ÐẠT
Sinh: 1765
Quê quán: Tại làng Khê Cầu, huyện Bình Lục, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Linh mục coi sóc xứ Hảo Nho, Thân Phú (nay thuộc Giáo phận Phát Diệm)
Tử đạo: 28-10-1798 Xử trảm tại Chợ Rạ đời Cảnh Thịnh
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Gioan Ðạt sinh năm Ất Dậu (1765)
Tại Ðồng Chuối Khê Cầu tỉnh Thanh
Cha mất lúc tuổi còn xanh
Mẹ già vất vả độc hành nuôi con
Khi còn nhỏ nỉ non với mẹ
Con muốn tu thỏ thẻ xin đi
Thương con mẹ nói hãy thì
Cha Loan đã nhận gởi đi nhà tràng
Mười tám tuổi lên đàng tu học
Rất thông minh hiểu đọc Latinh
Thầy lên kẻ giảng đăng trình
Thừa sai theo giúp nhiệt tình khắp nơi
Ðược ơn gọi rạng ngời Linh mục
Lễ thụ phong diễm phúc biết bao
Ðược Cha Chính chọn hồi nào
Làm Cha phụ tá giảng rao khắp miền
Cha Ðạt thích có duyên đọc sách
Hay vâng lời đặc trách siêng chăm
Tình thương nhân đức khó khăn
Dù khi đau ốm chẳng nhăn nhó gì
Các Cha Cố rất thì quý mến
Việc lớn lao tìm đến nhờ Cha
Giảng rao sốt sắng nhất mà
Bao người tội lỗi nghe là hồi tâm
Cha dẫn dắt kẻ lầm lạc lối
Lời Thánh Kinh Tám mối nhủ khuyên
Siêng năng đạo đức tài hiền
Giáo dân quý mến khắp miền tin yêu
Vác Thập Gia Thiên Triều trao phó
Chức chủ chăn gặp gió phong ba
Thụ phong bốn tháng bắt cha
Lễ dâng hoàn tất lính đà đến vây
Vào làng truy tìm thầy Ðạo Trưởng
Các giáo dân chỉ hướng trốn đi
Cha Ðạt ngài nói tức thì
Ðể mình tôi chịu chạy đi khổ làng
Ngài nộp mình hiên ngang cho bắt
Lính trói ngay vả mặt đánh đòn
Giáo dân buồn thảm héo hon
Nhưng mà bọn chúng lại còn rủa cha
Lại bắt buộc bước qua Thập Giá
Nhưng ngài ôm Cha Cả kính tôn
Quan Trấn tra hỏi đổ dồn
Tây phương đọc sách sớm hôm thì thầm
Cha hãy đọc nội tâm trong đó
Cả giáo dân nghe có điều gì
Sách này lời Chúa khắc ghi
Nếu ta có đọc quan thì hiểu đâu
Sách tiếng Việt ngõ hầu thấy rõ
Mười điều răn trong đó nhủ khuyên
Cha Ðạt lớn tiếng rao truyền
Quan nghe phật ý nên liền bắt ngưng
Hai tên lính cầm thừng để đánh
Chúng đòi tiền nói mánh dầu đèn
Thầy Tâm xin giúp một phen
Cha Ðạt ngài cởi áo đen thay tiền
Thay gông nặng đeo liền vào cổ
Moi thêm tiền làm khổ cha hơn
Huyền Trang y sĩ van lơn
Chuyển tù nơi khác dễ hơn chốn này
Ðô Uý Thiềng lên thay đảm trách
Dọn riêng phòng đặc trách cho cha
Giáo dân thăm viếng vào ra
Ðược hơn hai tháng tạm là tự do
Ngài đã giúp lo cho bổn đạo
Phần linh hồn loan báo niềm tin
Quan đội chỉ đứng ngó nhìn
Tháo gông cụ hứa, không tìm trốn đi
Ý quan muốn hãy thì thực hiện
Không bao giờ làm chuyện hại ai
Nhưng quan chẳng dám tin ngài
Sau lại thay đổi đeo hoài cổ gông
Ðược tin án xử ông Cha Ðạt
Ngài mừng vui ca hát tạ ơn
Nguyện cầu can đảm thêm hơn
Theo gương Cha Triệu chẳng hờn quan cai
Rồi sau đó là ngài tâm sự
Mồ côi cha từ thuở ấu thơ
Ở với mẹ anh nương nhờ
Một vinh dự lớn tôn thờ Chúa trên
Tin loan báo giờ lên án lệnh
Ngày hai mươi số mệnh chém đầu
Cha Ðạt mong đợi từ lâu
Hân hoan đón nhận phép mầu hồng ân
Khắp lương giáo xa gần kéo đến
Tuổi thanh xuân mộ mến tài danh
Hiền hòa can đảm chân thành
Giáo dân thủ lãnh lừng danh đạo đời
Lính dẫn giải tới nơi xử trảm
Cha đứng yên bình thản nguyện cầu
Giáo dân khóc lóc hồi lâu
Ðộng lòng ngài đã ngẩng đầu xua tay
Lý hình bước tới ngay để chém
Ðầu cha rơi tung ném lên Trời
Hồn về Thiên quốc nghỉ ngơi
Giáo dân đem xác về thời băng ca
Tại Phúc Nhạc nhà cha an táng
Còn hồ nghi ngao ngán kẻ gian
Giáo dân góp ý họp bàn
Nhà tư lãnh nhận khói nhang kính thờ
Năm tử đạo bấy giờ Mậu Ngọ (1798)
Chết hiên ngang tuổi thọ ba ba
Canh Tý(1900) Toà Thánh Roma
Suy tôn Á thánh hồn cha Nước Trời
Lời bất hủ: Cha nói khích lệ mọi người: "Tử đạo là phúc cao trọng, Ânnam ta chưa được mấy người. Nếu được Tử Ðạo tôi mừng lắm". Gặp tín hữu cha khuyên: "Là Kitô hữu, chúng ta phải vâng lệnh vua quan trong những điều hợp lý, nhưng trước hết phải tôn trọng lề luật Chúa".
Đamien
06-09-2006, 03:32 PM
Ngày 01 tháng 11:
Thánh Giêrônimô HERMOSILLA LIÊM
(Vọng - Tuấn)
Sinh: 30-09-1800
Quê quán: Tại Santo Domingo de la Calzađa, Tây Ban Nha
Chức vị : Giám mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 01-11-1861 Xử trảm tại Hải Dương đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Giêrônimô Vọng giám mục
Sinh Canh Thân (1800) quốc tịch (Tây) Ban Nha
Tuy không tiền của rườm rà
Gia đình đạo đức một nhà yên vui
Chí cậu quyết trao dồi văn hoá
Ðể sau này vào khoá dòng tu
Mười lăm tuổi được tiếp thu
Vào dòng thuyết giáo trong khu tuyệt vời
Mười chín tuổi thầy thời mặc áo
Cũng tại dòng thuyết giáo trao ban
Năm sau giặc giã lan tràn
Dòng tu giải tán luận bàn trước sau
Lệnh trai tráng đâu đâu nhập ngũ
Cùng bạn bè thầy rũ đi luôn
Ba năm quân ngũ vuông tròn
Xin ra thầy cũng vẫn còn chí tu
Năm Quý Mùi (1823) tiếp thu nhà tập
Thầy cũng đều ít gặp khó khăn
Hy sinh gương mẫu chuyên cần
Thầy đều có sẵn tòng quân thấm vào
Ý thầy muốn may sao lại gặp
Lúc nghỉ ngơi thầy đọc thư mời
Dòng Mến Thánh giá Mân côi
Cần người truyền giáo điểm thời Việt Nam
Thầy rũ bạn về làm đơn gấp
Và đơn thầy được chấp nhận mau
Trong vòng chỉ một tháng sau
Các thầy đã đáp được tàu tới Phi
Tại giám tỉnh trong khi trình diện
Ðã tỏ lòng tự nguyện rất cao
Này con khao khát ước ao
Xin cha hãy đặt con vào ý Cha
Chức linh mục ban cho thầy Vọng
Và trao cha giám đốc Mân côi
Hăng say hoạt động không ngơi
Hội dòng lúc ấy tuyệt vời tiến mau
Cha ở đó năm sau tình nguyện
Sang Việt Nam thực hiện ý Cha
Khởi hành từ Manila (Phi)
Sang Macao đợi người qua dẫn đường
Kỷ Mão (1829) đến quê hương đất Việt
Lại cho mau trình diện Ðức Cha (Y)
Cha con mừng nói chẳng ra
Có người trẻ đến giúp ta tuổi già
Cũng từ đó gọi cha tên Vọng
Tiếng Việt Nam cha học mau thông
Tập quán bản xứ ngoài trong
Cha đều hiểu rõ làm lòng như ai
Cha Vọng vốn có tài thuyết phục
Bổn đạo theo mỗi lúc một đông
Linh hồn truyền giáo của dòng
Phụ tá Cha Chính từ trong đến ngoài
Ðức Cha trao cho ngài lãnh đạo
Làm Bề Trên kiến tạo nhà dòng
Linh mục ngày một thêm đông
Ðược hơn bốn chục nhờ công của ngài
Cơn bão tố trần ai đổ đến
Bị lộ thư gởi bốn thừa sai
Minh Mạng nổi giận công khai
Giết luôn Cha Chính và hai Ðức Thầy (Giám mục)
Cũng từ đó bủa vây trùm Vọng
Ai bắt dâng được trọng thưởng to
Cửa chợ cho chí bến đò
Bủa quân kiểm soát tìm cho ra ngài
Phải nhát sợ như ai không dám
Cha vẫn thường theo bán giáo dân
Rửa tội, hoà giải ân cần
Hằng năm vẫn có những lần đi thăm
Quang Khanh nghe hờn căm lùng bắt
Các vòng vây được thắt chặt thêm
Lính canh ngày cũng như đêm
Xét người qua lại trong miền gắt gao
Cũng có lần vây bao trúng chỗ
Làm cho cha khốn khổ trốn ra
Có lần gặp ở trong nhà
Nhờ Chúa che chở cho qua mới còn
Toà Thánh thấy đàn con không mẹ
Quyết chọn ngài muôn đệ thế vô
Tân Sửu (1841) Giáo hội tung hô
Có Ðức Cha Vọng điểm tô hai Toà
Đamien
06-09-2006, 03:33 PM
Lễ truyền chức ban ra Vĩnh Tự
Một chòi tranh chuẩn bị lễ đài
Ðức Cha Liêm thiếu cân đai
Chủ phong Giám mục cho ngài từ đây
Cũng từ đó danh thầy được đổi
Ðức Cha Liêm đừng gọi tên xưa
Thánh Thần dẫn dắt tiễn đưa
Ngài về nhiệm sở như mưa phúc trời
Quan Tổng trấn cũng thời lâm bệnh
Và qua đời bớt bận tâm lo
Phúc đức Thiên Chúa ban cho
Các cha cộng tác giờ lo phục hồi
Những cơ sở vừa rồi giải tán
Nay gọi về cốt cán dựng xây
Tương đối Giáo hội hôm nay
Bát phần càng thẳng như ngày Quang Khanh
Ðức Cha Liêm tiến nhanh kiến tạo
Cùng các cha thông thạo Việt Nam
Việc to ngài cũng vẫn làm
Ðại lễ tổ phụ dẫn đàng Ðaminh
Ðúng tám ngày linh đình lễ hội
Từ xa xôi lặn lội kéo về
Gặp nhau tay bắt mặt kề
Các cha tu sĩ hả hê chuyện trò
Thời Thiệu Trị ít lo Canh Tý (1840)
Nếu gặp nguy chi tí là xong
Giáo dân ngày một thêm đông
Ngài xin Toà Thánh chia đồng làm hai
Ðịa phận trong chia đôi Giáo phận
Là Bùi Chu kề cận Thái Bình
Bảy Năm Giáo hội đẹp xinh
Qua thời Tự Ðức (1847) tình hình đổi thay
Vua Tự Ðức ông này gay gắt
Ra lệnh thêm lùng bắt các cha
Lệnh phân sáp được ban ra
Ðức Cha Cố đạo như là khó khăn
Trước tình thế chủ chăn giải quyết
Ðổi tên ngài bức thiết làm ngay
Tất cả kể từ hôm nay
Ðổi tên là Tuấn để thầy thoát nguy
Các thừa sai mời đi một nữa
Lúc ban đầu tạm ở Macao
Ðến khi thuận tiện lại vào
Giờ đây thu xếp thế nào cho mau
Cơn bách đạo khổ đau ập đến
Suốt ngày đêm diễn tiến xảy ra
Chủng viện Kẻ Mốt của ta
Ngày mai giải tán ruột rà nát tan
Cùng đêm ấy rời làng Kẻ Mốt
Ði theo ngài chỉ một thầy Khang
Giờ đây không ở trong hang
Bơ vơ giữa cánh đồng hoang sững sờ
Ðến Hải Dương ai ngờ gặp được
Thuyền ông Bình cũng thuộc giáo dân
Vài ngày tạm được yên thân
Bất ngờ gặp Ðức (Cha) Vinh - Bình cùng đi
Cuộc gặp gỡ này tuy ngắn ngủi
Nhưng cũng là một buổi chia tay
Rời nhau lại phải đi ngay
Kẻ xuôi người ngược tránh tay bạo quyền
Ðức Cha Tuấn ngày tàn tới số
Bổng nửa đêm con bố chủ ghe
Cải nhau việc nhỏ ai dè
Người con mật báo Tổng về bắt ngay
Ðức Cha Tuấn xưa nay bình thản
Ðưa Tổng Bằng một khoản tiền lo
Chỉ cần không bắt tại đò
Khỏi gây tội vạ đến cho dân chài
Giải về tỉnh nhốt ngài trong củi
Tuy bị giam mặt mũi vẫn tươi
Ðến chiều lại gặp hai người
Cũng là Giám mục cùng ngồi củi tre
(Ðức Giám mục Vinh và Bình)
Tại pháp trường tai nghe tuyên án
Ba hồi chuông một nhát gươm đưa
Giáo dân nước mắt như mưa
Phách về chín suối hồn đưa về Trời
Hồ sơ ngài gởi nơi Toà Thánh
Ít có ai so sánh bằng ngài
Rôma giáo chủ bài sai
Suy tôn Bính Ngọ (1906) an bài Nước Cha
Lời bất hủ: Chiếu chỉ của vua Minh Mạng nói về Ðức cha Vọng như sau: "Hãy còn danh Trùm Vọng chưa bắt được, dù quan quyền, dù thứ dân, chẳng kỳ ai, hễ bắt được sẽ lãnh thưởng mười ngàn quan tiền". Tuy khó khăn nguy hại như vậy, Ðức cha vẫn cứ đi thăm và an ủi bổn đạo và trao ban các Bí tích, coi thường sự giận dữ của "Hoả Ngục". Khi bị bắt, Ðức cha đưa cho đội Bằng một số tiền và nói: "Xin bắt và giam giữ một mình tôi thôi, hãy để những người đánh cá nghèo nàn này ra đi".
Đamien
06-09-2006, 03:35 PM
Ngày 01 tháng 11:
Thánh Valentinô BERRIO- OCHOA VINH
Sinh: 14-02-1827
Quê quán: Làng Elorricô, Giáo phận Vich, Tây Ban Nha.
Chức vị: Giám mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 01-11-1861 Xử trảm tại Hải Dương đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Valentinô Vinh sinh năm Ðinh Hợi (1827)
Tại Elorricô tên gọi (Tây) Ban Nha
Ðịa phận Vich là quê cha
Con ông thợ mộc như là (Chúa) Giêsu
Từ thủa nhỏ thích tu, ham học
Nhà lại nghèo làm mộc sinh nhai
Cậu Vinh nài nỉ một hai
Xin vào Chủng viện tương lai huy hoàng
Cậu tình nguyện vừa làm vừa học
Sau năm năm hết bậc phổ thông
Cậu được cha mẹ bằng lòng
Cho vào Chủng viện thuộc dòng Logromo
Học hành giỏi điểm tô đức hạnh
Với mọi người bên cạnh thân thương
Ðức Cha Giáo phận địa phương
Ðến thăm quê cậu đoán đường về sau
Tương lai cậu (Vinh) tiến mau Giám mục
Vì tinh thông vượt bực Chủng sinh
Mẹ nghe lòng cũng đinh ninh
Nhà quê nào biết con mình giỏi giang
Sau ba năm bậc thang Triết học
Về trông thấy mệt nhọc của cha
Tuổi cao vất vả thân già
Cậu xin ngoại trú việc nhà đảm đương
Ba mươi tháng hồi hương tạm trú
Cậu học hành chăm chú hơn ai
Ðức Cha nhận rõ biệt tài
Ban phép cắt tóc một vài tháng sau
Làm linh hướng tiến mau dự khuyết
Chức vụ này đặc biệt các cha
Thầy Vinh phúc lộc chan hoà
Chịu chức linh mục hoan ca tưng bừng
Hơn hai năm lẫy lừng linh hướng
Xin Ðức Cha đổi xuống (dòng) Ðaminh
Thực hiện ý định của mình
Muốn sang giảng đạo cảm tình Việt Nam
Ðường đi lại gian nan cách trở
Chặng đi đầu tạm ở nước Phi
Vài tuần sau có chuyến đi
Con tàu Phi Việt gặp khi tốt trời
Ðến Việt Nam ôi thôi mừng quá
Ðiều ước mơ nay đã tới liền
Ðến trình diện với Ðức Cha Xuyên
Cha con gặp gỡ ở miền Kiên Lao
Lệnh cấm đạo gắt gao hơn trước
Ở bên nhau chỉ được mấy ngày
Cha con lại phải chia tay
Mỗi người một ngã tránh bầy sói lang
Tuy phải trốn ngài càng nổ lực
Thăm giáo dân khổ cực ban đêm
Thánh Thần phù hộ ngài thêm
Ðức Cha Xuyên muốn cha lên thay ngài
Ðoán trước được tương lai giáo phận
Khuyên cha Vinh nên nhận lời mời
Mừng lo khó nói nên lời
Chén đó con sợ không rời ý cha
Lễ tấn phong ban ra Mậu Ngọ (1858)
Tại nhà ông trùm họ Minh Cường
Kể ra thì rất thảm thương
Gậy tre mũ giấy thánh đường nhà dân
Sau chịu chức trú chân Quần Cống
Ðược vài ngày chiêng trống bao vây
Bây giờ biết tính sao đây
Mỗi người một ngã đường dây đi về
Ðức Cha Xuyên bốn bề vây bắt
Ðức Cha Vinh sắp đặt trong ngoài
Bây giờ biết cậy vào ai
Trên mình gánh nặng một hai sẵn sàng
Cuộc bách hại ngày càng gay gắt
Ở quanh đây bị bắt như chơi
Buộc lòng ngài phải xa rời
Hưng Yên, Cao Xá là nơi an toàn
Một giáo hữu khôn ngoan anh Thắng
Có thửa vườn thanh vắng của nhà
Ðào hầm trú ẩn nuôi (Ðức) Cha
Ở đây hoạt động được ba năm trường
Việc Giáo phận đảm đương phụ trách
Còn dạy cho đặc trách Chủng sinh
Khi dâng lễ, lúc nguyện kinh
Nơi Toà Giám Mục thu mình hầm sâu
Lệnh phân sáp khổ đau ập đến
Ngài rời đây tới bến Hưng Yên
Ðến đây ngài bị bắt liền
Ðem nộp quan huyện lãnh tiền thưởng chơi
Ðức Cha Vinh được mời vào củi
Tuy bị giam mặt mũi vẫn tươi
Tử hình án đã phê rồi
Pháp trường Năm Mẫu là nơi hành hình
Phúc tử đạo hiển vinh Ðinh Hợi (1861)
Một chứng nhân quen gọi cái tên
Ðức Cha hầm trú ngày đêm
Gậy tre mũ giấy là tên của ngài
Năm Bính Ngọ (1906) bài sai Toà Thánh
Ðược suy tôn danh tánh của ngài
Lên bậc Chân phước không sai
Ðời đời bên Chúa trần ai phụng thờ
Lời bất hủ: Các hung tin được loan báo tới tấp, một.hai rồi 18 linh mục tử đạo, các thầy giảng và biết bao tín hữu bị ngã gục vì đức tin chân chính, trong bức thư gửi Thánh bộ Truyền giáo Ðức Cha viết: "Rất có thể ít tháng nữa, địa phận của tôi chẳng còn thừa sai, chẳng còn linh mục, không chủng sinh, không thầy giảng và không biết còn nói thêm chăng.Không còn bổn đạo". (trích thư chung 93)
Đamien
06-09-2006, 03:38 PM
Ngày 01 tháng 11:
Thánh Phêrô ALMATÔ BÌNH
Sinh: 01-11-1831
Quê quán: Tại làng Santa Felice Saserra, xứ Vich, miền Cataluna, nước Tây Ban Nha.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 01-11-1861 Xử trảm tại Hải Dương đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phêrô Almatô Bình linh mục
Sinh Tân Mão (1831) quê thực (Tây) Ban Nha
Thủa nhỏ đã tỏ ý ra
Lớn lên cố học làm cha giúp đời
Mười lăm tuổi học thời Chủng viện
Học tập hay phương tiện cũng nhiều
Hằng ngày có biết bao nhiêu
Sách báo cậu đọc đến điều say mê
Bữa nọ đọc bản tin truyền giáo
Của hội dòng giảng đạo Ðaminh
Ðọc xong cậu thấy lòng mình
Tự nhiên thích thú thuận tình xin đi
Ðược Giám mục chỉ huy khuyến khích
Con nên đi chủ đích (cứu) tha nhân
Việt Nam đang lúc rất cần
Thừa sai giảng đạo để nhân tín đồ
Thầy mừng rỡ hoan hô từ giã
Với gia đình và cả bạn bè
Ðến Ðaminh tiện đường xe
Thời gian thực tập lắng nghe lời thầy
Năm Mậu Thân (1848) trong ngày tuyên khấn
Thầy cầu xin thanh vắng với cha
Năm năm thần triết đã qua
Thụ phong linh mục thật là Chúa ban
Cha được đến Việt Nam phục vụ
Năm Ất Mão (1855) bám trụ Ðàng Ðông
Tiếng Việt cha học mau thông
Có tên tiếng Việt phổ thông cha Bình
Về (xứ) Nam An thuận tình (xứ) Kẻ Mốt
Hơn một năm thêm một (xứ) Thiết Nhan
Công việc ngài rất là ham
Sức khoẻ quá kém hễ làm lại đau
Cuộc bách hại về sau ác liệt
Các vòng vây tiêu diệt bủa ra
Càng thêm khổ cực cho cha
Nay đây mai đó quả là khổ thân
Việc giảng đạo trăm phần khó nhọc
Ngày trong hầm đêm gặp giáo dân
Dâng lễ giải tội ân cần
Hễ thấy lính đến nhanh chân chạy liền
Cứ như vậy liên miên ngày tháng
Bệnh hoành hành cha ráng vẫn đi
Bằng thuyền ngài chẳng ngại chi
Có lần tới bến lính thì bao vây
Thấy bụi tre gai đầy xuống nấp
Nước bùn lầy ẩm thấp biết sao
Nhiều năm cha sống tự hào
Người thì gầy yếu bệnh nào bớt cho
Trong người cha là kho lẫm Chúa
Ðầy mến yêu chan chứa tình thương
Mục tiêu là nước thiên đường
Thế trần khổ cực nêu gương sáng ngời
Lệnh cấm đạo đến thời phân sáp
Các thừa sai bố ráp đêm ngày
Lệnh về cha phải đi ngay
Ngài xin bám trụ đến ngày quy thiên
Cuộc bố ráp ngày thêm gạn lọc
Không còn nơi đùm bọc giấu che
Ðức Cha Vinh (và) ngài xuống ghe
Trong đêm tăm tối hướng ra Thái Bình
Hai cha con Bình - Vinh đêm ấy
Thật may sao gặp thấy Ðức Liêm
Ba người tri kỷ một đêm
Ngày mai kẻ ngược người êm tay chèo
Ngay hôm ấy gieo neo rồi đấy
Chính cha Bình nhìn thấy Ðức (Cha) Liêm
Soát thuyền chúng bắt được liền
Cha con sợ quá bỏ thuyền đi lên
Ngay lúc đó gặp tên Cựu Trọng
Là giáo dân cổ đọng tại đây
Vui mừng anh giới thiệu ngay
Ðến ông thửa ở ông này thầy lang
Ông lang thửa sẵn sàng cho ở
Cùng hai ngài niềm nở thân thương
Ngờ đâu thằng cháu chủ trương
Bắt ngài đem nộp chẳng thương ham tiền
Quan Tổng trấn người hiền hiếm có
Thấy các ngài gặp khó thì thương
Hỏi cung lấy lệ thông thường
Tuy nhốt trong củi chủ trương nhân từ
Quan Tổng đốc khó ư Nam Ðịnh
Nghe tin đồn nổi thịnh nộ lên
Ỷ mình cao cả cấp trên
Ép quan Tổng trấn Hải Dương có tình
Phải lập án tử hình trảm quyết
Thôi thế là từ biệt trần gian
Tân Dậu (1861) tử đạo trao ban
Suy tôn Bính Ngọ (1906) hỷ hoan Nước Trời
Lời bất hủ: Quan tổng đốc Hải Dương hỏi cung cha. Cha đáp: "Tôi là linh mục, tên tôi là Bình, người Y Pha Nho, sang Annam giảng đạo được 7 năm tại nhiều nơi".
Cha được phúc Tử đạo đúng ngày sinh nhật tròn 30 tuổi của ngài.
Đamien
06-09-2006, 03:39 PM
Ngày 03 tháng 11:
Thánh Phêrô Phanxicô NÉRON BẮC
Sinh: 21-09-1818
Quê quán: Tại Bordeaux, Giáo phận Saint Claude, Pháp
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 03-11-1860 Xử trảm tại Sơn Tây đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Cha Phanxicô Neron Bắc linh mục
Năm Mậu Dần (1818) sinh đất Paris
Thủa nhỏ học chẳng ra chi
Sáng cho học chiều đi chăn bò
Bởi vì thế chẳng lo đạo đức
Cùng mục đồng mặc sức chơi hoang
Mười bảy tuổi Chúa soi đàng
Ðọc được quyển sách mở mang tinh thần
Kể từ đó chuyển dần cuộc sống
Trước hoang đàng nay giống trượng phu
Một hai xin được đi tu
Năm hăm mốt tiếp thu vào dòng
Chín năm học một lòng son sắt
Chúa quan phòng sắp đặt cho thầy
Linh mục chịu chức phúc thay
Từ xưa nào biết có ngày vinh quang
Cha quyết định xin sang truyền giáo
Hội thừa sai thông báo Paris
Ðơn xin chẳng trở ngại chi
Cho xứ truyền giáo ấy thì Việt Nam
Ðường đi đến gian nan cách trở
Ðến khi nào được ở Việt Nam
Khó khăn mọi sự Chúa ban
Kỷ Dậu (1849) qua bến bình an tới bờ
Cha sửa soạn đến giờ trình diện
Ðức Cha Liêm thực tiện phân công
Kẻ Vĩnh nhà xứ đang mong
Cử cha về đó coi trông xứ nhà
Cũng từ đó đặt cha tên Bắc
Tên Việt Nam cha rất vui mừng
Kim Sơn xứ đạo tưng bừng
Ðón ngài về đó lẫy lừng tiếng tăm
Ở Kẻ Vĩnh một năm lại chuyển
Ðiều ngài về Chủng viện trông coi
Triết thần giảng giải rạch ròi
Dịch sang tiếng Việt tuyệt vời công cha
Lệnh cấm đạo ban ra gay gắt
Ðã một lần bị bắt chuộc ra
Vâng lời phân bổ Ðức Cha
Ngài lên phụ trách điểm là Sơn Tây
Bốn xứ đạo vùng này đông lắm
Mười sáu ngàn say đắm giảng rao
Chính quyền vùng đó tiến vào
Bắt cha đòi chuộc ngọt ngào ba trăm (300 lạng bạc)
Ở đây được vài năm vô sự
Bổng một ngày tự sự không qua
Chiếu chỉ Tự Ðức ban ra
Quan nào chểnh mảng thì ta bỏ tù
Các Cố đạo thầy tu bắt hết
Cả những người liên kết xưa nay
Ai làm nên nổi nước này
Các cha, các cố, các thầy trốn đi
Lòng mến Chúa xá chi gian khổ
Nay chốn này mai ở chổ kia
Dâng lễ trong những đêm khuya
Sống trong rừng rậm xa lìa giáo dân
Cũng có lúc tấm thân đói lả
Không cháo cơm, nước lã cũng không
Dân làng tạ xá thương lòng
Cho ăn để sống, nhưng không chứa ngài
Nay yên tập ngày mai tạ xá
Có một lần bí quá lên đồi
Ông già cha Bắc hai người
Ăn thì cơm nguội một vài muỗm tương
Ngài trốn tránh trăm đường vất vả
Vẫn một lòng hỷ xả chăn chiên
An Tập xứ đạo trong miền
Về thăm bị bắt thưởng tiền trăm quan
Ông thần sống có gan nhịn đói
Hăm mốt ngày vẫn nói vẫn cười
Sắc mặt cha vẫn vui tươi
Dân trong vùng nói cha người thần tiên
Khi xử chém họ liền kéo đến
Thắm máu ngài chứng kiến thần linh
Phúc tử đạo năm Mậu Thân (1860)
Kỷ Dậu (1909) phong thánh lãnh phần thưởng Cha
Lời bất hu: Quan tra hỏi cha rất kỹ, cha thẳng thắn trả lời: "Xin quan đừng hỏi làm chi, tôi sẽ không khai ai hay vùng nào đâu, tôi không muốn người ấy hay vùng đó bị các quan làm khó đâu". Quan truyền đánh cha 40 roi.
Đamien
06-09-2006, 03:41 PM
Ngày 05 tháng 11:
Thánh Ðaminh HÀ TRỌNG MẬU
Sinh: 1794
Quê quán: Làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh. Sau này cha trông coi xứ Kẻ Ðiền.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 05-11-1858 Xử trảm tại Hưng Yên đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 29-04-1951 đời ÐGH Piô XII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Ðaminh Hà Trọng Mậu
Sinh Giáp Dần (1794) quê cận Phú Nhai
Học xong Chủng viện như ai
Thụ phong Linh mục công khai khấn dòng
Là thợ gặt khéo trong đồng lúa
Dắt đoàn chiên được Chúa trao ban
Ðức tin dẫn lối đưa đàng
Linh hồn mưu ích đảm đang tiến hành
Cha lãnh nhận tân canh nhiều xứ
Dù hiểm nguy bất cứ nơi nào
Lên đường lời Chúa giảng rao
Luôn đem tâm trí bước vào khó khăn
Vây Kẻ Ðiền chúng săn lùng bắt
Thấy Cha Mậu chăn dắt đoàn chiên
Quân quan xông tới trói liền
Giải về tra tấn xích xiềng cổ gông
Cha cương quyết sẽ không khuất phục
Một niềm tin hun đúc tuyên xưng
Rao truyền lời Chúa Tin mừng
Nhà giam ngài vẫn không ngừng giảng rao
Các giáo hữu Chúa trao đau khổ
Cùng bị giam một chỗ với Cha
Giúp người hoán cải thật thà
Vững tin vào Chúa lo mà canh tân
Người đạo đức xa gần giáo hữu
Vào thăm ngài cầu cứu giải hòa
Bề ngoài tiếp tế thăm cha
Chủ tâm xưng tội ngài đà giúp dân
Cha bị nhốt vẫn lần tràng hạt
Chia giờ ra khao khát nguyện kinh
Cuộc khổ nạn Chúa tử hình
Trên cây Thập Giá hy sinh cứu đời
Cha cư xử nói lời thân ái
Với giáo dân trai gái thăm ngài
Bà Ngoan khẳng định không sai
Cả toán lính gác quản cai coi tù
Cũng kính nể nhà tu gương mẫu
Không ghét yêu đổi xấu thành hay
Ðức tin không thể lung lay
Quân quan Nam Ðịnh ra tay xử liền
Vua ra lệnh ban truyền trảm quyết
Cha nghiêm trang mắt liếc nhìn trời
Ðôi tay chắp lại thảnh thơi
Lý hình chém cổ đầu rơi lìa mình
Lễ mai táng linh đình trọng thể
Tại nhà thờ nghi lễ tiễn đưa
Giáo dân nước mắt như mưa
Xác thân đau khổ hồn đưa về Trời
Phúc tử đạo lãnh thời Mậu Ngọ (1858)
Chết tuyên xưng tuổi thọ bốn hai
Suy tôn Tân Mão (1951) chẳng sai
Lên hàng Á thánh danh ngài Thiên cung
Lời bất hủ: Khi quan tổng đốc Nam Ðịnh không bắt cha bỏ đạo được thì làm án trảm quyết cha và 21 bổn đạo khác nữa. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan và giúp đỡ các tín hữu trong tù xưng tội và chuẩn bị đón hồng ân Tử Ðạo. Khi ra pháp trường, mọi người có cảm tưởng như cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ vậy.
Đamien
06-09-2006, 03:43 PM
Ngày 07 tháng 11:
Thánh Vinhsơn PHẠM HIẾU LIÊM
Sinh: 1732
Quê quán: Tại Thôn Ðông, làng Trà Lũ, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Hạ (nay là tỉnh Nam Ðịnh).
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh.
Tử đạo: 07-11-1773 Xử trảm tại Ðồng Mơ đời Trịnh Sâm
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Tại họ đạo Thôn Ðông, Trà Lũ
Tại Thành Nam, thuộc phủ Phú Nhai
Cậu Liêm còn nhỏ ốm hoài
Quan thầy Bổn mạng của ngài Vinh sơn
Năm mười hai tuổi ơn Chúa xuống
Học Latinh lôi cuốn Hán Văn
Thông minh Cậu rất chuyên chăm
Cha Huy gởi Cậu xa xăm nước ngoài
Mười sáu tuổi Cậu trai du học
Manila Cậu khóc nhớ nhà
Năm năm học tập hoan ca
Cậu Liêm xin nhập dòng nhà Ða-minh
Ðược mặc áo đăng trình tuyên khấn
Vào thần học gây cấn bốn năm
Thánh Kinh lời Chúa sưu tầm
Thụ phong Linh mục Thánh Tâm soi đường
Qua mười năm hồi hương về nước
Người Tông đồ rất được mến yêu
Giáo dân phục vụ sớm chiều
Ngồi tòa giải tội nói điều nhủ khuyên
Ði kẻ liệt khắp miền đêm tối
Gặp thấy ai hấp hối xức dầu
Cha xin tiền của nhà giàu
Người nghèo đem giúp ngõ hầu sẻ chia
Giữa kẻ nọ người kia bất thuận
Ngài tới ngay hướng dẫn bất hòa
Giáo lương ai cũng mến Cha
Ân cần chỉ bảo thật là nhiệt tâm
Tại Lương Ðống truy tầm phát giác
Tên Diên Can cho gác khắp nơi
Nhà ông Nhiêu Nhuệ cấp thời
Gia nhân bọn chúng vào mời bắt Cha
Chúng dẫn giải đi qua phiên chợ
Xúi lương dân cản trở ném bùn
Trên đầu gậy đập máu phun
Hôm sau nhốt cũi ngồi khum đụng đầu
Bọn chúng giải nghe đâu Nam Ðịnh
Cuộc điều tra Chúa Trịnh hỏi riêng
Nhà ngươi sinh tại trong miền
Sao mà phạm luật Chúa truyền cho dân
Tâu Chúa Thượng về phần luật pháp
Tôi hiểu thông gốc gác thưa ngài
Chúa Trời là Ðấng Thiên sai
Vâng lời tuyệt đối không ai sánh bằng
Chúa Trịnh nói phải chăng hải ngoại
Xử tử hình khỏi phải van xin
Còn người Việt, lạc lối tìm
Chung thân giam giữ, xà lim suốt đời
Cha Liêm nói quan thời cứ xử
Như bạn tôi viễn xứ chém đầu
Chúng tôi đạo trưởng giống nhau
Kính xin chúa Thượng truyền câu tử hình
Tôi sẵn sàng dọn mình chấp nhận
Ðám hoạn quan kính cẩn nói theo
Phiên tòa gây cấn ngặt nghèo
Hai Cha tử đạo Người gieo lúa vàng
Xác hai Ngài được mang bằng võng
Về Trung Linh mau chóng cất chôn
Nước Trời Chúa thưởng linh hồn
Tôn vinh trần thế sớm hôm nguyện cầu
Phúc tử đạo nguyện cầu Quý Tỵ (1773)
Chúa Trịnh Sâm đấu lý phải thua
Roma phong thánh tới mùa
Suy tôn Bính Ngọ (1906) con vua Nước Trời
Lời bất hủ: Năm 1773, cha Liêm đi giảng ở họ Lương Ðống chuẩn bị mừng lễ Ðức Mẹ Mân Côi, các quan nghe tin và đến vây bắt. Cha bị kết án trảm quyết cùng cha Gia. Khi đi xử, có quan lớn tiếng nói: "Hoa Lang đạo đã bị nghiêm cấm, nhưng cho đến nay chưa người dân Việt nào bị xử tử vì đạo này, nên vua đại xá cho tên Liêm". Nghe nói thế, cha Liêm vội vàng lên tiếng thưa rằng: "Cha Gia bị án trảm quyết vì lẽ gì thì cũng phải lên án trảm quyết cho tôi vì lẽ đó. Cha Gia là đạo trưởng, tôi cũng là đạo trưởng. Nếu luật nước không kết án tôi thì cũng không được kết án cha Gia. Vì tôi là công dân nước Việt lẽ ra tôi phải giữ luật nước hơn ngài. Nhưng nếu giết cha Gia, còn tôi lại tha, án của nhà vua không công bằng. Yêu cầu tha thì tha cả hai, giết thì giết cả hai. Thế mới công bằng".
Những nhát gươm định mệnh đã giúp các ngài hoàn tất sứ mạng chứng tá tuyệt hảo cho Ðức Kitô, thi hài các ngài được rước về an táng tại Trung Linh (Bùi Chu).
Đamien
06-09-2006, 03:46 PM
Ngày 07 tháng 11:
Thánh Giacintô CASTANEDA GIA
Sinh: 13-10-1743
Quê quán: Tại Jativa, thuộc Giáo phận Valencia, Tây Ban Nha.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh Tây Ban Nha
Tử đạo: 07-11-1773 Xử trảm tại Ðồng Mơ đời Trịnh Sâm
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Hai Linh mục: GIA, LIÊM Tử Ðạo
Giacintô Gia thừa sai linh mục
Năm Quý Hợi (1743) quê thực (Tây) Ban Nha
Bạn thơm trong lúc xa nhà
Cũng chức linh mục tên là Phạm Liêm
Linh mục Liêm quê hương Trà Lũ
Sinh Nhâm Tý (1732) quê phủ Thiên Hương
Giảng rao lời Chúa đảm đương
Trong thời cấm đạo lệnh thường cấm nghiêm
Hai linh mục Gia, Liêm tử đạo
Là Thừa sai loan báo đức tin
Người Tông đồ Chúa dõi tìm
Từ khi tuổi nhỏ đã xin nhập dòng
Hết trung học vào trong tu viện
Mười bảy tuổi trực diện khấn xong
Trao dồi tu đức cầu mong
Thừa sai giảng đạo thuộc dòng Ðaminh
Ðược tuyển mộ nhiệt tình hăng hái
Cậu lắng lo ái ngại mẹ già
Báo tin anh, em đã đi xa
Nhờ huynh coi sóc mẹ già chốn quê
Hai năm chuẩn tràn trề ơn gọi
Ðược thụ phong Chúa rọi ơn thiêng
Cha Gia sứ mạng rao truyền
Á Ðông tiên khởi là miền Trung Hoa
Rồi sau đó học đà tiếng Việt
Lén lút vào tới miệt Bắc Kỳ
Giúp cho kẻ liệt Cha đi
Giữa đường chúng bắt tức thì trục ngay
Về Macao đất này Trung Quốc
Bề trên sai Cha thuộc Việt Nam
Vâng lời ý Chúa đã ban
Trung Linh phục vụ cộng đoàn giáo dân
Số tín hữu xa gần đông đúc
Trên chục ngàn diễm phúc ba Cha
Hai Cha Việt, với Cha Gia
Sáu mươi họ đạo thật là quá đông
Dù vất vả Ngài không quản ngại
Giúp đỡ người trở lại đức tin
Ba Cha cộng tác hướng tìm
Thoát tay kẻ cướp tránh nhìn lính quan
Giúp kẻ liệt gian nan khó tránh
Ðến làng Non, gặp cánh Lê Ðô
Tên tướng cướp chúng ập vô
Cha con bỏ chạy trốn vô làng này
Làng Kẻ Gia mới hay Phật Giáo
Một bà già chu đáo nhận ngay
Giấu cha mới được một ngày
Giúp Cha ẩn trốn, chẳng may chồng về
Sợ liên lụy ông Bê tố giác
Với Lê Ðô giáo mác bắt Cha
Chúng đấm đá đè xuống nhà
Trói tay dẫn giải đi qua nhà mình
Hắn xỉ nhục coi khinh nhân nghĩa
Không cho ăn, tứ phía đòn roi
Hai ngày bỏ đói chẳng coi
Thí cho chút cháo có mòi tỉnh hơn
Cha nhắn gởi cám ơn đừng chuộc
Cướp Lê Ðô bắt buộc giải quan
Nhốt cũi tre thật dã man
Ðem ra phơi nắng chói chan trưa hè
Có một nhóm tin nghe tìm đến
Học tinh thông cập bến luận tranh
Cha Gia đạo lý rất rành
Rất hay triết lý lẹ nhanh kịp thời
Con quý tử tới nơi chửi rủa
Ngã vật ngay nằm ngửa van xin
Chính quan thấy vậy đứng nhìn
Muốn đòi tiền chuộc nói tìm giáo dân
Năm trăm quan một lần trao đủ
Sẽ trả ông thân chủ tự do
Thả không thì thả thì cho
Về kinh chẳng sợ, chẳng lo, chẳng phiền
Sau hai tháng giam miền Kẻ Bích
Thân xác Cha vết tích roi đòn
Tinh thần sa sút héo hon
Khô khan cầu nguyện xói mòn niềm tin
Trong cũi chật mới nhìn tưởng khỉ
Giải về kinh chước quỷ mưu ma
Xin ơn phù trợ Cha Gia
Qua cơn bão táp mưa sa giãi dầu
Linh hồn cảm thấy sầu thống khổ
Sợ ngã lòng Chúa đổ Thánh Linh
Cho con gánh chịu cực hình
Khẩn cầu Ðức Mẹ Ðồng Trinh hộ phù
Ðang khi đó lù lù cũi khác
Cha Sơn Liêm hốc hác ngồi trong
Người bạn cùng học tu dòng
Là niềm khích lệ ở trong nhà tù
Sau lính giải Thầy Tu về phủ
Áp tải Cha đông đủ quân binh
Trước tòa quan lớn tâu trình
Huyện quan lầm tưởng là mình có công
Quan lớn nói giao ông giam giữ
Phải thả ra và cử người canh
Lệnh trên nghiêm túc tuân hành
Cùm gông xiềng xích chỉ dành vật thôi
Tại Phủ Chúa liên hồi thăm viếng
Khắp giáo dân nghe tiếng các Ngài
Thời cơ giảng đạo Chúa sai
Huyện quan tức bực la hoài đuổi đi
Ít sau đó Sư đi tranh luận
Cụ Ðồ Nho mãi tận nơi xa
Gay go đối chất với Cha
Ðây là ý muốn của bà Thượng Trâm
Mong Hoàng Tử sưu tầm đạo thật
Là đề tài đệ nhất đưa ra
Con người nguồn gốc đó mà
Trần gian cuộc sống chúng ta làm gì
Sau khi chết còn chi hay hết
Cuộc luận tranh đúc kết vô tư
Hội đồng tứ giáo danh sư
Xin coi cuốn sách rất ư rõ ràng
Hai đạo trưởng hiên ngang trảm quyết
Tại pháp trường thắm thiết chúc nhau
Phép lành trao đổi đời sau
Lý hình đầu chém phép mầu Chúa ban
Vác Thánh giá thế gian đã trọn
Chúa thưởng công đã chọn hai Cha
Ðón về Nhan Thánh Thiên Tòa
Tử đạo Quý Tỵ (1773) chan hòa đức tin
Lời bất hủ: Chánh tổng làng Gia Ðạo là Xích Bích quan đòi 3 ngàn tiền chuộc. Cha đáp: "Quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chuộc. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian khổ kể cả cái chết". Chánh tổng nộp lên quan trấn, quan trấn truyền đóng gông với dòng chữ "Hoa Lang Ðạo Sư" (thời đó, 1773 còn gọi đạo Công giáo là Hoa Lang và gọi các Linh mục là Ðạo Sư).
Đamien
06-09-2006, 03:50 PM
Ngày 08 tháng 11:
Thánh Giuse NGUYỄN ÐÌNH NGHI
Sinh: 1793
Quê quán: Tại xứ Kẻ Vồi, huyện Thượng Phúc, nay thuộc Hà Nội. Ðang làm cha sở xứ Kẻ Báng thì bị bắt.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 08-11-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Trong những năm vua Minh Mạng cấm đạo, cha biểu lộ niềm ước mong tử đạo, nhưng ngài nói: "Tôi mong sẽ bị bắt ở đồng vắng, để không hại đến anh chị em tín hữu". Khi đi làm mục vụ cha cẩn thận mang theo ít tiền để chuộc chủ nhà, nếu không may bị bắt. Lần bị quan tra hỏi, cha Nghi trả lời: "Thưa quan thương, chúng tôi nhờ, nếu không thương chúng tôi cũng xanh rì nấm mồ, còn bước qua Thập giá chúng tôi không dám".
Ngày 08 tháng 11:
Thánh Phaolô NGUYỄN NGÂN
Sinh: 1790
Quê quán: Tại họ Cự Khanh, tỉnh Thanh Hoá.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 08-11-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Trong thời bách hại, cha thường than thở với mọi người rằng: "Chủ chăn khó đi tìm chiên lạc, khó biết tên từng con một quá.". Cha thường tỏ ra tiếc vì hoàn cảnh không săn sóc kỹ lưỡng từng tín hữu của mình được.
Ngày 08 tháng 11:
Thánh Martinô TẠ ÐỨC THỊNH
Sinh: 1760
Quê quán: Tại làng Kẻ Sặt, huyện Thanh Trì, nay thuộc Giáo phận Hà Nội.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 08-11-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hủ: Quan gọi cha ra công đường bắt bước qua Thập giá, cha đều can đảm từ chối, cha nói: "Tôi đã bằng này tuổi đầu, mà còn sợ chết nữa sao! Tôi không thể làm theo lời quan được".
Ngày 08 tháng 11:
Thánh Martinô THỌ
Sinh: 1787
Quê quán: Tại làng Kẻ Bàng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Viên thuế
Tử đạo: 08-11-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Lời bất hu: Ông Thọ khuyên con cái đến tù thăm ông: "Nhớ đọc kinh tối sớm và lần chuỗi Mân côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một cây Thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo". Ông thường xuyên khuyên con: Sống công bằng thôi chưa đủ, phải có bác ái nữa, và muốn thực thi bác ái phải có điều kiện. Lời dặn dò con cái: "Các con yêu dấu, nếu Chúa cho cha theo chân hai đấng ấy, các con hãy vui lòng. Phần các con, nếu bị bắt, hãy can đảm giữ vững đức tin".
Ngày 08 tháng 11:
Thánh Gioan Baotixita CỎN
Sinh: 1805
Quê quán: Làng Kẻ Bàng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Lý trưởng
Tử đạo: 08-11-1840 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Đamien
06-09-2006, 03:51 PM
Năm thánh Tử đạo
Ba Linh mục: Giuse Nguyễn Ðình Nghi - Phaolô Nguyễn Ngân - Mactinô Tạ Ðức Thinh
Hai Giáo dân: Mactinô Thọ - Gioan Baotixita Cỏn
Trương Minh Giảng lên đường qua Pháp
Ðể điều đình hợp tác hai bên
Vua Minh Mạng lại giết thêm
Gồm ba Linh mục, dân tên hai người
Là Cỏn, Thọ cũng thời bị bắt
Cha Thịnh, Ngân, Nghi dắt giáo dân
Quang Khanh chuộc tội thấy cần
Truy lùng đạo trưởng xa gần thẳng tay
Cho đập phá tháng ngày cơ sở
Nhiều nhà thờ chỗ ở nhà chung
Tội nhân khét tiếng trong vùng
Ông cho phóng thích để dùng mưu sâu
Với điều kiện khởi đầu chuộc tội
Ði đó đây sớm tối săn tin
Khắp nơi đạo trưởng kiếm tìm
Lên quan báo cáo cho nghìn lính vây
Làng Kẻ Báng quân đầy loa phát
Tới Ðình Làng đề bạt điểm danh
Mười lăm tuổi phải tuân hành
Toàn là nam giới lão thành quý ông
Quang Khanh nói khỏi gông trói lại
Và tập trung ngồi tại sân đình
Xung quang canh gác quân binh
Phơi sương phơi nắng dân tình xót thương
Các phụ nữ lo đường tiếp tế
Nấu nước cơm, tập thể cùng ăn
Quang Khanh cho lính đi săn
Hang cùng ngõ hẻm từng căn từng nhà
Nản lòng kiếm chẳng ra đạo trưởng
Cả quan quân như tưởng rút quân
Nhưng người tố quyết không lầm
Lấy đầu ra để thế cầm cam đoan
Xin lục soát qua sang ngày nữa
Tôi cam đoan xin hứa thành công
Phá nhà phá vách tây đông
Quả nhiên bắt được mấy ông Cha liền
Hai lớp vách Ba Duyên trú ẩn
Quan gọi ra lại lẫn tên Ðoan
Bước qua Thánh Giá lệnh quan
Bà này ngoại giáo dám làm được tha
Bà Duyên thoát rõ là ý Chúa
Ðến gần trưa nơi nữa bắt thêm
Cha Ngân đang ẩn tuổi tên
Ở nhà ông Thọ bắt lên trói liền
Cha Thịnh điếc nằm yên trên võng
Nhà ông Chiến lính bỗng ngang qua
Thấy Cha sức yếu tuổi già
Không nghi chẳng hỏi thế là bỏ đi
Nếu có hỏi ắt thì chẳng lộ
Có nữ tu thuộc họ Kẻ Trình
Ði theo giúp đỡ hy sinh
Nhận ngay là Bố của mình ốm đau
Biết Cha Ngân, Nghi cùng nhau bị bắt
Cha Thịnh không lánh mặt làm ngơ
Một cai đội đã nghi ngờ
Ông này đạo trưởng trước giờ ở đây
Cha Thịnh đáp, ốm gầy đạo trưởng
Chúng bắt ngay một hướng dẫn theo
Hai đồng bạn đã gông đeo
Bọn quan quân lính hò reo vào làng
Có cơ hội sẵn sàng cướp bóc
Lấy bạc tiền lúa thóc trâu bò
Dân Làng Kẻ Báng âu lo
Mất người mất của đầy no ơn lành
Chúng dẫn giải về thành Nam Ðịnh
Ðể Quang Khanh toan tính tấn tra
Lần này đạo trưởng bắt ba
Còn hai người nữa toàn là giáo dân
Tạ Ðức Thịnh chuyên cần Kẻ Sặt
Sanh Canh Thìn (1760) quê thật Hà Ðông
Mẹ cha sắp xếp coi trông
Muốn anh duyên kết vợ chồng tề gia
Anh xin hoãn để mà suy nghĩ
Nhưng cuối cùng quyết chí đi tu
Hồng ân Thiên Chúa hộ phù
Thụ phong Linh mục đời tu nhiệt thành
Bí thư giỏi nổi danh Giáo phận
Cùng Ðức Cha vào tận Bắc Thành
Gặp Gia Long để họp hành
Tự do tôn giáo rõ rành tỏ thông
Ðức Cha bổ nhiệm trông giáo xứ
Là Cửa Bạng coi giữ đầu tiên
Nam Xang, Ðồng Chuối khắp miền
Kẻ Tình Nam Ðịnh sau liền về hưu
Các giáo hữu dắt dìu cảm mến
Cha bị đau cháu đến đón về
Gia đình Kẻ Báng nhà quê
Sau Cha bị bắt giải về Quang Khanh
Nguyễn Ðình Nghi quê anh Hà Nội
Năm Quý Sửu (1793) rửa tội (do) cha Liêm
Học xong Thầy giảng trong miền
Trở về giúp xứ chân chuyên Tông đồ
Rồi sau đó được về thần học
Phong Linh mục coi sóc Sơn Miêng
Cha Nghi phục vụ khắp miền
Tính tình hòa nhã giảng khuyên biệt tài
Cha không muốn để ai liên lụy
Ðem theo tiền chuẩn bị chuộc dân
Cha Nghi Kẻ Báng lãnh phần
Cũng đều bị bắt một lần Cha Ngân
Ðây tiểu sử mấy vần nhỏ bé
Cậu Nguyễn Ngân họ lẻ Cựu Khanh
Canh Tuất (1790) sinh tại tỉnh Thanh
Vào tu chủng viện học hành thông minh
Thầy chịu khó chân tình phục vụ
Sau thụ phong Linh mục Tông đồ
Phụ trách Duyên Mậu tiền hô
Cha Nhân lâm bệnh nhập vô cấp thời
Cha được về nghỉ ngơi chủng viện
Khoảng bảy năm tăng viện nhà tràng
Trình Xuyên phụ trách đảm đang
Thêm ba năm nữa Kẻ Bàng tiến mau
Ông Trùm Cỏn sinh đầu Ất Sửu (1805)
Tại Kẻ Bàng tiêu biểu Thành Nam
Ðinh Mùi (1787) ông Thọ cùng làng
Nhiệt tâm sắp xếp nhẹ nhàng Thừa sai
Luôn bố trí các ngài ẩn trốn
Khi quan quân vây khốn làng này
Hai ông lanh lẹ tiếp tay
Các Cha chạy trốn cả ngày lẫn đêm
Vùng Nam Ðịnh có tên hùm xám
Bủa lưới vây phân tán vào lùng
Cha con bị bắt gom chung
Bắt quỳ phơi nắng lại dùng đòn roi
Ðể Thập Giá chúng đòi quá khóa
Năm chứng nhân đều đã chịu đòn
Một lòng vì Chúa sắt son
Quang Khanh tức giận chỉ còn xử thôi
Năm trăm lính đứng ngồi Bảy Mẫu
Năm chứng nhân làm dấu nguyện cầu
Lý hình được lệnh chém đầu
Anh hùng tử đạo hát câu khải hoàn
Năm Canh Tý (1840) chu toàn ơn phước
Năm chứng nhân đều được tuyên phong
Gian nan cực khổ chịu chung
Suy tôn Canh Tý (1900) họ cùng sáng danh
Lời bất hủ: Tổng đốc Trịnh Quang Khanh truyền cho lính khiêng các ông qua Thánh giá, các ông co chân lên và khẳng khái tuyên bố: "Ðạo tại tâm, quan lớn cưỡng bách và lòng chúng tôi không thuận thì chẳng mắc tội gì". Quan tra tấn các cha máu me loang lổ khắp mình, quan truyền hai ông (Thọ và Cỏn) liếm máu nơi các vết thương đó hoặc bỏ đạo, các ông đã quỳ xuống liếm máu như quan đã yêu cầu một cách cung kính,khiến quan rùng mình, khiếp sợ và kinh ngạc.
Đamien
06-09-2006, 03:53 PM
Ngày 14 tháng 11:
Thánh Têphanô THÉODORE CUÉNOT THỂ
Sinh: 08-02-1802
Quê quán: Tại Sous Réamont thuộc Belieu, nước Pháp.
Chức vị: Giám mục thừa sai Paris.
Tử đạo: 14-11-1861 Chết rũ tù tại Bình Ðịnh đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 02-05-1909 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thánh Cuénot Thể sinh năm Nhâm Tuất (1802)
Tại Réamont đẹp nhất Paris
Nhà tu là hướng cậu đi
Xin vào Chủng viện danh ghi hàng đầu
Cha Récévent đỡ đầu thầy Thể
Học giỏi giang phải kể tên thầy
Tám năm Chủng viện đẹp thay
Lãnh chức linh mục năm thầy hăm ba (23 tuổi)
Linh mục mới xin qua truyền giáo
Hội thừa sai giảng đạo Paris
Việt Nam tình nguyện xin đi
Kỷ Sửu (1829) cha đến Bắc Kỳ êm xuôi
Ở đây tạm nghỉ ngơi học tiếng
Thỉnh thoảng ngài thăm viếng giáo dân
Làm quen tập quán dần dần
Miền Nam lúc đó đang cần cha đi
Ðến Lái Thiêu đang khi Chủng viện
Cần giáo sư thực hiện triết thần
Ðây là một điểm dừng chân
Ðể cha hiểu rõ nguyên căn xứ người
Ðược bốn năm tạm thời yên ổn
Bổng một ngày thương tổn tới mau
Vua Minh Mạng gieo thương đau
Cấm đạo toàn quốc đâu đâu thi hành
Các thừa sai nay đành tạm lánh
Sang Thái Lan ở tránh ít lâu
Vua Thái Trọng đãi ban đầu
Lợi dụng chẳng được về sau phủ phàng
Nhờ tài năng giỏi giang cha Thể
Về sau này họ để tạm yên
Cho về Chủng viện trong miền
Về sau lại chuyển láng giềng Gapo (Singapo)
Chức Giám mục ban cho cha Thể
Về Việt Nam cốt để tăng cường
Chỉ huy Giáo hội địa phương
Yên ủi giáo hữu đảm đương Chánh toà
Quả thật vậy khi cha nhận chức
Viết thư chung lập tức gởi đi
Các cha giáo hữu các dì
Thầy tu ngài dạy thực thi lúc này
Việc truyền giáo thế thay linh mục
Các giáo dân phải thực hiện ngay
Một người con Chúa hôm nay
Làm sao lôi cuốn trong tay hai người
Cũng năm ấy ngài thời truyền chức
Cho mười thầy linh mục tài ba
Chủ trương ngài rất sâu xa
Dòng tu giải tán nay là tập trung
Cả Giáo phận như bừng tỉnh lại
Bổ sung vào thiệt hại vừa qua
Cha Kim Chủng viện Huế mà
Cha Nghĩa coi sóc ruột rà miền Nam
Bao công việc đang làm dang dở
Ðức Cha Từ ngài nỡ chết đi
Ðức Cha Thể thế cấp kỳ
Năm sau Ðức (Cha) Phó cũng thì đăng quang
Cộng đồng ngài lo toan tổ chức
Tại Gò Thị mặc sức thi tài
Bổn phận của các thừa sai
Mỗi vị bảy cháu tương lại dạy kèm
Rồi sau đó ngài đem qua gởi
Tại Pénang học hỏi bảy năm
Về xứ linh mục tấn phong
Có đủ linh hướng trong vòng mười năm
Việc truyền giáo chú tâm dân tộc
Người thượng du đơn độc Cờ-me
Giúp đỡ giáo dục chở che
Mở mang nước Chúa khuyên nghe điều lành
Ðức Cha Thể nổi danh tài giỏi
Tại Rôma cũng gởi thư khen
Giáo hội ngày một đi lên
Dòng tu nam nữ ở bên giúp ngài
Vẫn cứ tưởng tương lai Giáo hội
Nào ai ngờ vận hội đau thương
Vua Tự Ðức chọn con đường
Tiêu diệt Công giáo thảm thương quá chừng
Lệnh phân sáp bỗng dưng ban xuống
Các thừa sai chạy hướng Sài Gòn
Miền Trung khi ấy chỉ còn
Mình Ðức Cha Thể sắt son đến cùng
Hễ thấy chúng đi lùng lại trốn
Thoát vòng vây cũng bốn năm lần
Không nơi nào ở yên thân
Ngày kia cha định cuối tuần nghỉ ngơi
Nhà bà Lựu là nơi kín đáo
Trong nhà còn cửa tháo hầm sâu
Ai ngờ một cảnh thương đau
Bủa quân vây kín đường đâu ra ngoài
Khám xét mãi tìm ngài không thấy
Bà chủ nhà chịu mấy chục roi
Ðức Cha cầu nguyện than ôi
Thà rằng ta chết họ thôi đánh bà
Trong hầm kín chui ra tự nạp
Chúng hò reo đàn áp trói ngay
Viên đội trưởng lại nương tay
Bắt quân cởi trói ngồi đây uống trà
Giải về tỉnh nhốt (Ðức) Cha trong củi
Lúc tuổi già gặp buổi gian nan
Ðau bệnh không có thuốc thang
Cho nên sức khoẻ ngày càng giảm suy
Ðức Cha Thể trong khi quan hỏi
Tại làm sao ông ở nước tôi
Tôi đi giảng đạo Chúa Trời
Là Ðấng tạo dựng mọi loài thế gian
Ông gan hỏi việc quan không biết
Sức khoẻ ngài cạn kiệt tắt hơi
Ðức Cha Thể chết than ôi
Vào năm Tân Dậu (1861) muôn đời tiếc cha
Lệnh chết chém ban ra đã muộn
Thấy chết rồi quan muốn cho chôn
Về sau ban tiếp lệnh luôn
Ðào lên đem xác quẳng liền giữa sông
Ðức Cha Thể ghi công hạng nhất
Lãnh đạo ngài thật rất tài ba
Kỷ Dậu (1909) Toà Thánh ban ra
Suy tôn Chân phước Ðức Cha tuyệt vời
Lời bất hu: Ðối với Giáo phận Ðức Cha chủ trương: "Phương pháp tốt nhất để đức tin của giáo hữu vững vàng là đào tạo họ thành những tông đồ".. Chỗ khác Ngài lại nói: "Bằng mọi giá phải lo cho họ. Như tôi (một thừa sai) chết, người ta có thể gửi người khác thay thế chậm lắm là một năm. Một linh mục, chủng sinh Việt Nam nằm xuống, phải mất hai ba chục năm mới có người thay thế được". Vì sức khoẻ ngài yếu nên chỉ phải ra toà một lần để quan tra hỏi:
Quan: Tại sao ông sang nước tôi?
Ð.Cha: Ðể giảng đạo Thiên Chúa.
Hỏi: Ông ở đây bao lâu rồi?
Ðáp: Ba mươi tư năm
Hỏi: Ổng đã ở những đâu?
Ðáp: Trước hết là Bình Ðịnh rồi Phú Yên, Bình Thuận và lại trở về Bình Ðịnh.
Hỏi: Ông biết gì về chiến tranh không?
Ðáp: Không biết gì cả, tôi đến đây chỉ để giảng đạo, khi nơi này khi nơi khác thế thôi. Quan hành hạ tôi thế nào tôi cũng đành chịu, chứ tin tức chiến tranh tôi hoàn toàn không biết gì cả .
Trở về cũi, mọi sự khắc nghiệt, ngài kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngày 14-11-1861.
Đamien
06-09-2006, 03:55 PM
Ngày 20 tháng 11:
Thánh Phanxicô NGUYỄN CẦN
Sinh: 1803
Quê quán: Tại Sơn Miêng, huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Ðông. Ngài còn có tên là Nguyễn Tiên Truật.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 20-11-1837 Xử giảo tại Cầu Giấy đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Cần sinh năm Quý Hợi (1803)
Làng Sơn Miêng tỉnh gọi Hà Ðông
Mẹ con có điểm bất đồng
Con tu mẹ chẳng vui lòng xuất gia
Cậu phải nói sẽ là con trốn
Thế là mẹ từ tốn chiều Cần
Cha Nghi chính xứ ở gần
Sơm Miêng cậu ở chuyên cần với Cha
Rồi sau đó đưa qua chủng viện
Rất siêng năng thực hiện đời tu
Ðược sai giúp Ðức Cha Du
Phong lên Thầy giảng giáo khu nhiệt thành
Cha Nhân thấy thầy lanh và giỏi
Ðã giúp Cha học hỏi tiếng ta
Sẻ chia trao đổi thật thà
Gian nan nguy hiểm vẫn đà không ngơi
Cha Liêu cử đi mời Cha Tuấn
Ðến Kẻ Chuông giảng huấn Phục sinh
Nơi đây quân lính đang rình
Thầy tới Kẻ Vạc quân binh bắt liền
Bọn lính cố làm tiền kiếm cớ
Túi của thầy bỏ mớ ảnh vào
Thầy Cần chối cãi làm sao
Thanh Oai giải huyện tống vào nhà giam
Quan Huyện nói cáo gian Ðạo Trưởng
Hãy nghe ta đạp tượng Giêsu
Về nuôi mẹ sống êm ru
Quan đây nói thật chẳng hù thầy đâu
Thầy Cần nói ai đâu nói dối
Các ông này đường lối tốt lành
Tôn thờ Thiên Chúa vinh danh
Dạy người đạo đức học hành điều hay
Giới răn Chúa trình bày giải thích
Sống thứ tha xích mích giải hòa
Quan Huyện kết thúc phiên tòa
Ðưa Thầy trở lại nhốt nhà trại giam
Theo Thân Mẫu lên quan để chuộc
Mới khởi đầu bắt buộc ba trăm
Quan tham mặc cả gia tăng
Thầy Cần nói vậy phải chăng ý Trời
An ủi mẹ nghỉ ngơi cầu nguyện
Con ước ao dâng hiến từ lâu
Lãnh ơn tử đạo phép mầu
Quan Huyện khuyến dụ ngõ hầu sẽ tha
Thầy cương quyết chẳng thà chịu chết
Lính khiêng lên kéo lết ảnh Cha
Ôm chân chặt miệng thì la
Tôi không đạp ảnh Chúa Cha trên Trời
Cha Liêu nhắn đôi lời cứ bước
Rồi Thầy về sẽ được liệu sau
Thầy Cần phản ứng lẹ mau
Thiên Thần có xuống trước sau không sờn
Thầy cầu khẩn lãnh ơn tử đạo
Dù khổ đau tàn bạo nhục hình
Nguyện xin ơn Chúa cho mình
Giữ cho đủ nghĩa trọn tình với Cha
Thầy Cần bị điệu ra cầu giấy
Tại pháp trường ngày ấy rất đông
Cổ Thầy vẫn nặng đeo gông
Quan quân voi ngựa võ công kiếm cầm
Dây thừng quấn tím bầm quanh cổ
Thầy Cần đứng tuyên bố đức tin
Pháp trường bao mắt trố nhìn
Quân lính kéo mạnh giây gim hai đầu
Môn đệ Chúa gục đầu tắt thở
Lãnh cành vạn tuế nở ước mơ
Chân Sơn chôn cất đón chờ
Sau này cải táng nhà thờ Sơn Miêng
Phúc tử đạo ơn riêng Ðinh Dậu (1837)
Ðẹp đẽ thay cho cậu chủng sinh
Canh Tý (1900) Toà Thánh tôn vinh
Lên hàng Á thánh hiển linh Nước Trời
Lời bất hủ: Trước công đường, quan tra hỏi, Thầy trả lời: "Thưa quan, tôi chưa thấy các đạo trưởng lừa dối ai bao giờ, còn mẹ già tôi không lo, tôi xa nhà đã lâu, chẳng giúp gì cho bà". Rồi quan hỏi về lý lẽ đạo, thầy có dịp cắt nghĩa 10 điều răn Ðức Chúa Trời và 6 Ðiều Răn Hội Thánh, rồi thầy kết thúc bằng lời nguyện tự phát hết sức cảm động. Nghe xong, quan phải thốt lên rằng: "Anh này nói cũng có lý, những giới răn và kinh nguyện của anh ta chứa đựng nhiều điều tốt lành, có lẽ còn dễ hơn bản "thập điều" của nhà vua nữa".
Quan dùng nhiều hình thức để tra tấn và dụ dỗ, nhưng cứ một mực thầy quả quyết: "Dù Thiên thần xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng chẳng tin. Dù kính trọng cha Liêu, tôi không thể làm điều sai lạc đó được. Hơn nữa, tôi biết chắc ngài không ra lệnh cho tôi như vậy. Còn với dân chúng, tôi thương mến thật, nhưng cũng không vì họ mà xúc phạm đến Chúa".
Đamien
06-09-2006, 03:56 PM
Ngày 24 tháng 11:
Thánh Phêrô BORIE CAO
Sinh: 20-02-1808
Quê quán: Tại Beynat Correze, nước Pháp.
Chức vị: Giám mục thừa sai Paris
Tử đạo: 24-11-1838 Xử trảm tại Ðồng Hới đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phêrô Borrie Cao giám mục
Năm Mậu Thìn (1808) quê thực Paris
Trốn hầm nghe lính hết đi
Bò lên khỏi miệng lính thì tưởng ma
Vì lúc đó đang là nhem tối
Cha bước lên hỏi hối tìm ai
Chúng tôi tới bắt trói Ngài
Giải về Ðồng Hới, quan sai nhốt tù
Cha bị nhốt trong khu ngục tối
Thì sắc phong tiếp nối đã ban
Cha Cao Giám Mục huy hoàng
Quan phòng của Chúa, lên hàng Chủ Chăn
Lãnh nhận chức khó khăn trong ngục
Suốt ngày đêm tiếp tục cầu xin
Cho con lối Chúa dõi tìm
Gông xiềng phó thác, Trái Tim nhân lành
Giải pháp trường ngoại thành Ðồng Hới
Ngài nguyện cầu cho tới lìa đời
Lý hình đã tiến tới nơi
Vung gươm bảy nhát, mới rơi nổi đầu
Tại pháp trường đào sâu chôn cất
Cả giáo dân hiệp nhất đưa về
Hướng Phương giáo xứ nhà quê
Nơi đây an táng, trọn bề chứng nhân
Một đôi nét về phần tiểu sử
Nơi nước sanh ở xứ Paris
Học hành cũng chẳng muốn đi
Ép vào chủng viện, cậu thì chẳng ham
Kỷ luật phạm đã làm Giám đốc
Bị nhiều lần cấp tốc sửa sai
Quan phòng có Chúa quản cai
Thụ phong Linh mục, Thừa sai lên đàng
Phúc tử đạo tiếng vang Mậu Tuất (1838)
Tuổi thanh xuân đẹp nhất bên Cha
Canh Tý (1900) Toà Thánh Roma
Suy tôn Chân Phước hoan ca Nước Trời
Lời bất hủ: Ra trước công đường, quan đối chất với Ðức Cha:
Hỏi: Tại sao ông cứng đầu thế?
Ðáp: Thưa, câu hỏi của ngài tôi không trả lời khác hơn được.
Hỏi: Ðã vậy ngày mai ông sẽ chịu 100 roi
Ðáp: Thưa dù đánh 300 roi tôi cũng chịu, chỉ xin một điều là đừng hỏi tôi về dân chúng.
Hỏi: Thế ông phải ra mắt vua, đứng bên lò lửa cháy bừng, với những chiếc kìm nung đỏ sắp lóc thịt ông ra, liệu ông còn im lặng được không?
Ðáp: Thưa chừng đó sẽ biết, tôi không dám quá tự phụ về mình. Khi Ðức Cha nghe án của vua không quỳ, rồi nói với quan rằng: "Thưa quan, từ bé đến nay tôi chưa lạy ai, vì bên Âu Châu chúng tôi, đó là hành vi kính trọng chỉ dành cho Ðấng Tối Cao. Nhưng điều tôi vừa nghe, làm tôi vui mừng quá, xin được bầy tỏ lòng tri ân của tôi theo kiểu Ðông Phương. Lúc dẫn Ðức Cha đi xử, có một viên quan lại gần hỏi Ðức Cha rằng: "Ông có sợ chết không?". Ðức Cha đáp: "Tôi đâu phải là quân phiến loạn, hay quân trộm cướp mà sợ chết. Tôi chỉ sợ một mình Chúa. Hôm nay tôi chết, mai sẽ đến lượt ông".
Đamien
06-09-2006, 03:59 PM
Ngày 24 tháng 11:
Thánh Phêrô VŨ ÐĂNG KHOA
Sinh: 1790
Quê quán: Làng Thuận Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 24-11-1838 Xử giảo tại Ðồng Hới đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Phêrô Võ Ðăng Khoa linh mục
Năm Canh Tuất (1790) quê thực Nghệ An
Ðược ơn kêu gọi tuôn tràn
Học hành sáng dạ cam đoan nhà dòng
Cậu ngoan ngoãn vào trong nhà Chúa
Ðược Cha Hoa ngài hứa dẫn đàng
Mẹ cha mừng rỡ hân hoan
Cậu Khoa được gởi học tràng Latinh
Vào thần học đăng trình lý đoán
Giỏi hiền ngoan xứng đáng chân tu
Hồng ân Thiên Chúa hộ phù
Thụ phong Linh mục giáo khu rao truyền
Ðược cử đến các miền lân cận
Thanh Lương, Thạch Cát tận Kẻ Ðông
Lu Ðăng, Bình Chính, Kẻ Sông
Sau về Vĩnh Phước, coi trông Cồn Dừa
Làm Cha sở sớm trưa khổ cực
Người Tông đồ thiên chức Chúa trao
Cha Khoa tướng mạo hồng hào
Tưởng ngài khó tính, ra vào dễ thương
Vua cấm đạo ngăn đường cản lối
Cha trốn đi đêm tối trong làng
Lỗ Sơn làm lễ Cha sang
Chính tên Tú Khiết mang hàng gia nhân
Ðến để bắt hưởng phần vua thưởng
Dẫn Cha Khoa về hướng nhà giam
Một tuần tra tấn dã man
Giải về Ðồng Hới gởi sang bộ hình
Tại nơi đây cực hình tra hỏi
Cha Khoa gan chẳng nói khai gì
Chú Khang chúng đánh dẫn đi
Ðã khai ra hết đường đi lối về
Chúng cho lính tứ bề vây bắt
Ðược Cố Cao chúng dắt về ngay
Một số Cha ở vùng này
Cùng đều bị bắt trói tay tống tù
Các Ngài nhốt một khu đợi xử
Lòng kiên trung vẫn cứ nguyện cầu
Mong sao chịu đựng bền lâu
Mân côi lần chuỗi phép mầu đọc kinh
Nhận bản án triều đình xử trảm
Nhưng quan quân bàn tán đổi thay
Pháp trường dời lại mấy ngày
Cột giây xử giảo, khỏi bay cái đầu
Ngày hôm ấy kiếm đâu mâm cỗ
Cho tử tù tại chỗ xử ăn
Các Cha nhắn nhủ trối trăn
Nâng ly rượu uống còn ăn chối từ
Trong ngục thất tình hình chẳng ổn
Chúng vấn tra làm khốn đủ điều
Cha Khoa vững mạnh tin yêu
Hy sinh vì Chúa sớm chiều cầu mong
Các Cha Cố một lòng hiệp nhất
Khổ cùng nhau hoàn tất đức tin
Tôn vinh danh Chúa hướng tìm
Vua quan dụ dỗ chẳng tin khước từ
Viết bản án nghe như thẻ gỗ
Ðược treo ngay ở chỗ xử Cha
Giatô đạo (trưởng) Võ Ðăng Khoa
Ở làng Thuận Hải tỉnh là Nghệ An
Xác chôn cất nghĩa trang tại chỗ
Các giáo dân đào lỗ khá sâu
Hồng ân Thiên Chúa nhiệm mầu
Về sau cải táng về đâu nhà thờ
Công việc đó phải nhờ Cha Chính
Ngài liệu lo và tính đưa về
Thầy Thiềng làm việc say mê
Thật là vất vả chẳng nề hà chi
Ðêm lấy xác cực kỳ nguy hiểm
Trộm giấu Vua bất biến ra sao
Ðường về phương tiện thế nào
Thầy Thiềng thực hiện biết bao nhiệt tình
Phúc tử đạo linh đình Mậu Tuất (1838)
Tuổi sáu mươi có chí thì nên
Roma phong thánh có tên
Suy tôn Canh Tý (1900) vững bền Nước Cha
Lời bất hủ: Cha bị đánh đập và tra tấn rất nhiều, quan đòi cha phải khai chỗ ở của cha Candal Kim thừa sai, quan ra lệnh đánh 76 roi để áp đảo tinh thần. Cha phó thác mình cho Ðức Mẹ và hàng ngày cha hát bài: "Ave Maria Stella, kính chào Mẹ là ngôi sao mai rực rỡ, xin chuyển cầu cho chúng con..". Tấm thẻ ghi án của cha Khoa viết: "Ðạo Trưởng Vũ Ðăng Khoa bất khẳng quá khoá, phải xử giảo".
Đamien
06-09-2006, 04:01 PM
Ngày 24 tháng 11:
Thánh Vinhsơn NGUYỄN THẾ ÐIỂM
Sinh: 1761
Quê quán: Tại Án Ðô, gần Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.
Chức vị: Linh mục
Tử đạo: 24-11-1838 Xử giảo tại Ðan Sa - Ðồng Hới đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Vinh sơn Nguyễn Thế Ðiểm linh mục
Sinh Canh Thìn (1761) quê thực An Do (Quảng Trị)
Ðường tu cũng rất cam go
Từ Trung ra Bắc mặc cho khó nghèo
Tới Vĩnh Trị xin theo nhập học
Tiếng Latinh tập đọc êm ru
Hồng ân Chúa xuống hộ phù
Sau học lý đoán cho dù khó khăn
Nhưng Thầy Ðiểm siêng chăm cố gắng
Chẳng sờn lòng dãi nắng dầm sương
Nguyện cầu xin Chúa dủ thương
Xin vâng theo Mẹ dẫn đường lối đi
Thầy Ðiểm quyết kiên trì ơn gọi
Dù tuổi cao học hỏi thành tâm
Bề trên tuyển chọn không lầm
Tông Ðồ phục vụ Thánh Tâm nhân lành
Chức Linh Mục vinh danh Thiên Chúa
Thầy thụ phong đoan hứa trung thành
Cha Ðiểm cảm tạ trời xanh
Con là thợ gặt gom nhanh lúa vàng
Ðược bổ nhiệm lên đàng rao giảng
Xứ Cồn Nâm, Bố Chánh, Quảng Bình
Rao truyền lời Chúa tôn vinh
Giáo dân mộ mến nguyện kinh sớm chiều
Cha rửa tội được nhiều kẻ ngoại
Ngài ngồi tòa chẳng ngại sớm trưa
Bình dân khỏi phải bẩm thưa
Nhủ khuyên rao giảng nói vừa đủ nghe
Cha nuôi dưỡng chở che ơn gọi
Ba Linh mục học hỏi chân chuyên
Cha Chinh, Cha Tự, Cha Triêm
Xin vâng theo Mẹ ơn thiêng tôn thờ
Cha Khoa bị bắt, nhờ dân giúp
Kiếm tìm nơi, ẩn núp cho qua
Nhà nào tốt bụng thật thà
Hai ông tình nguyện đứng ra giúp Ngài
Ngày sau đó quan sai lính bắt
Sau hiểu ra sắp đặt hai ông
Lên quan báo để lập công
Giuda bán Chúa lửa hồng sẽ thiêu
Quan đe dọa đủ điều tra khảo
Cha lỡ khai kể ráo gia đình
Khổ lây những kẻ hy sinh
Giàu lòng bác ái mà mình tù oan
Cha hối hận xin quan tha họ
Vì tuổi già lúc đó đã khai
Còn tôi đạo trưởng tùy Ngài
Giảng rao đạo Chúa công khai nhà thờ
Ông đạo trưởng hãy chờ quan hỏi
Có lệnh vua cấm nói đạo trời
Sao ông rao giảng khắp nơi
Bước qua Thập Giá quan thời sẽ tha
Cha Ðiểm nói ta thà chịu chết
Phải tôn thờ trên hết Chúa Cha
Tùy quan muốn xử muốn tha
Tôi đây cương quyết thật thà cảm ơn
Quan nghe vậy giận hờn xử trảm
Ðạo trưởng Ðiểm tên phản lệnh vua
Lý hình hành quyết là vừa
Pháp trường đem xử buổi trưa chém đầu
Xác chôn cất ngõ hầu tại chỗ
Ðược giáo dân đào lỗ khá sâu
Hiến dâng Thiên Chúa nhiệm mầu
Về sau cải táng nghe đâu tiếng đồn
Một cậu nhỏ tử tôn lấy trộm
Ðốt ngón tay, đau cộm bụng ngay
Cha Tự ngài hỏi việc này
Cậu đem trả lại khỏi ngay tức thì
Một gia đình nọ gặp khi cấm đạo
Mộ Cha Ðiểm ngổ ngáo san bằng
Ông ta bị chết nhăn răng
Biết bao nhân chứng nói năng điển hình
Chủ điền nọ bò mình ăn cỏ
Nơi mộ Cha sau đó liệt chân
Ông cầu xin nơi mộ phần
Con bò liền khỏi hai chân bình thường
Phúc tử đạo quê hương Mậu Tuất (1838)
Một chứng nhân đẹp nhất tuổi cao
Canh Tý (1900) Toà Thánh ban trao
Suy tôn Á thánh tuôn trào hồng ân
Lời bất hủ: Cha Ðiểm có khai tên một số tín hữu, cha lại thưa với quan để sửa lỗi: "Tôi già nua lẩm cẩm, trong lúc sợ hãi quá, đã khai dông dài, có khi gây oan ức cho một số người. Xin quan bỏ qua lời khai của tôi, đừng bận tâm tới những người ấy kẻo lầm". Lần khác, quan dụ dỗ cha quá khóa. Cha đáp: "Tôi thà chết trăm lần, chẳng thà quá khoá".
Đamien
06-09-2006, 04:04 PM
Ngày 26 tháng 11:
Thánh Tôma ÐINH VIẾT DỤ
Sinh: 1783
Quê quán: Tại làng Phú Nhai, tỉnh Nam Ðịnh.
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 26-11-1839 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Linh mục Tôma Ðinh Viết Dụ
Sinh Quý Mão (1783) đoàn tụ Phú Nhai
Quang Khanh lùng bắt bên ngoài
Ðến nơi trú ẩn của ngài còn xa
Cha bèn cải ông già nhổ cỏ
Lính đi qua chúng ngó không hay
Nhưng người chỉ điểm biết ngay
Ông này đạo trưởng lâu ngày nơi đây
Cha bị bắt giao ngay Tổng Ðốc
Quan đang ngồi ly cốc đình làng
Phải thành thật, cấm khai gian
Tôi là đạo trưởng dân làng nơi đây
Quan gạn hỏi bắt Thầy Trùm Vọng
Cha không nói gậy tọng một phen
Quan cho lục soát người xem
Thấy cỗ tràng hạt Cha đem theo người
Từ cậu bé yêu đời tu sĩ
Rất thông minh có chí học hành
Thụ phong Linh mục nổi danh
Ðaminh dòng khấn Chúa dành hồng ân
Một tu sĩ tinh thần gương mẫu
Suốt đêm ngày nung nấu gẫm suy
Dù bao gian khó hiểm nguy
Cha liền lãnh nhận xin đi kịp thời
Làng Liễu Ðề là nơi tạm giữ
Bị gông xiềng như thứ phạm nhân
Dẫn lên Nam Ðịnh đâu gần
Các quan tra tấn nhiều lần dã man
Hết dọa nạt lại sang dụ dỗ
Vẫn cương quyết không đổ cho ai
Roi đòn luôn quất lên Ngài
Bao lời chế diễu chẳng khai điều gì
Sau tra tấn lại thì tống ngục
Cổ xiềng gông tiếp tục cùm chân
Thêm vào đói khát lãnh phần
Hôi tanh nóng nực như gần chuồng heo
Một bà mẹ giả nghèo hành khất
Vào thăm Cha thấy thật thảm thương
Dáng người tiều tụy bất thường
Nhưng Cha vẫn nói Thiên Ðường Chúa ban
Cực hình khổ nhục càng thêm phúc
Xin giáo dân tiếp tục cầu xin
Cho tôi bền vững đức tin
Xin Cha cả sáng đoái nhìn giúp con
Ngày đi xử, Cha còn khẩn nguyện
Giữa hàng rào hùng biện ngựa voi
Quân binh gươm giáo vọt roi
Thản nhiên cầu nguyện chẳng coi ra gì
Tại Bảy Mẫu ấy thì chịu trói
Vào cây cọc quan hỏi một lời
Nếu mà xuất giáo tức thời
Ðược tha tiền thưởng thảnh thơi về nhà
Cha khẳng khái tôi thà chịu chết
Lãnh Triều Thiên trên hết Nước Trời
Nhát gươm chém Cha lìa đời
Xác chôn tại chỗ sau thời chuyển di
Phúc tử đạo sử ghi Kỷ Hợi (1839)
Truyền đạo thôi chẳng tội tình gì
Roma Toà Thánh danh ghi
Suy tôn Canh Tý (1900) thẳng đi Nước Trời
Lời bất hu: Có bà giả làm ăn xin vào thăm cha Dụ, cha nói với bà: "Sức tôi suy giảm, nhưng tôi còn có thể chịu đựng được nữa. Chúa chúng ta đã chịu bao cực khổ để cứu độ nhân loại, tôi cũng sẵn lòng chịu những sự khổ này để nên giống Chúa Kitô phần nào". Lần thứ hai, bà vào thăm. khi bà chào từ biệt, cha nói: "Tôi không biết ngày nào sẽ được hiến dâng mạng sống vì Chúa, có thể anh chị em không còn gặp tôi nữa. Bà hãy cầu nguyện nhiều, xin Chúa ban cho tôi ơn nhẫn nại chịu đựng tất cả những điều người ta gây cho tôi để danh Chúa được cả sáng".
Đamien
06-09-2006, 04:07 PM
Ngày 26 tháng 11:
Thánh Ðaminh NGUYỄN VĂN XUYÊN
(có tên là Doãn)
Sinh: 1786
Quê quán: Làng Hương Hiệp, tỉnh Thái Bình
Chức vị: Linh mục dòng Ðaminh
Tử đạo: 26-11-1839 Xử trảm tại Bảy Mẫu đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên linh mục
Sinh Bính Ngọ (1786) quê thực Thành Nam
Ði tu Xuyên lại rất ham
Xin vào chủng viện việc làm thoát ly
Ðỡ đầu Ðức Cha Y Giáo Phận
Ngài chăm lo hướng dẫn cậu Xuyên
Học hành chăm chỉ gắn liền
Nhất là giáo lý liên miên đứng đầu
Cậu Xuyên lớn được thâu chủng viện
Mười năm sau Trạch tuyển thụ phong
Ðược Cha Chính nhận vô dòng
Ðaminh trọng khấn quan phòng Chúa ban
Rồi từ đó chu toàn phục vụ
Giảng tĩnh tâm khuyên nhủ giáo dân
Hăng say sốt sắng chuyên cần
Ðầu tiên Cha sở lãnh phần quản cai
Xứ tiên khởi châm ngòi Phạm pháo
Tại Hà Nam lương giáo sống chung
Bài sai thay đổi chuyển vùng
Kẻ Mèn xứ mới tôi trung nhiệt thành
Thanh Minh lập nhân danh họ đạo
Thánh Vinh Sơn loan báo Quan Thầy
Ba năm tạm biệt nơi này
Ðông Xuyên phụ trách tràn đầy gian nan
Kiến An bị khô khan hạn hán
Giặc Bá Vành chà cán dân lành
Chia cơm sẻ áo lẹ nhanh
Cha Xuyên bác ái nhiệt thành giản đơn
Một ngân khoản hồng ơn từ thiện
Sau Cha được bổ nhiệm Ninh Cường
Làm Cha phụ tá đảm đương
Cha Hiền Giám đốc nhà trường chủng sinh
Năm sau đó điển hình đề bạt
Ðức Cha Y bàn bạc đổi về
Cha làm quản lý chuẩn phê
Ðức Cha lưu lạc trốn về Kiên Lao
Rồi chẳng biết vì sao bị bắt
Nên Cha Xuyên cũng gặp khó khăn
Hạ Linh lánh nạn cả năm
Nay đây mai đó chẳng nằm đâu yên
Ðến mừng lễ trong miền Bổn mạng
Một giáo viên nhận dạng báo quan
Kiếm tiền tưởng thưởng phẩm hàm
Tiếng loa lính gọi kêu vang xóm làng
Mình Máu Thánh chứa chan Cha rước
Cởi áo lễ Cha bước trốn đi
Quân lính đã tới tức thì
Bắt Cha dẫn giải đưa đi quan liền
Quan cười nói đòi tiền để chuộc
Cha nói tôi có buộc đồng nào
Quan tha quan bắt chẳng sao
Hạ Linh giáo hữu xôn xao góp tiền
Huyện đây lại sợ phiền với tỉnh
Cha ủi an việc chính nguyện cầu
Cho tôi chịu khổ dài lâu
Hồng ân tử đạo phép mầu Chúa ban
Chúng xiềng xích gông mang quá nặng
Giải Cha đi từng chặng đánh đòn
Về Nam Ðịnh ruột héo hon
Bọn chúng tra khảo, hết, còn, phải khai
Tài sản Giáo Phận ngài quản lý
Nhưng người nhân chứng chỉ kêu Trời
Giêsu Maria Mẹ ơi
Xin Chúa thương xót nhận lời tôi trung
Các hình khổ lạnh lùng hành hạ
Cha ngất đi tưởng đã chết rồi
Thấy Cha hơi thở phục hồi
Lính đưa về ngục cho bồi thuốc men
Nhốt trong ngục thân quen lại gặp
Hai Cha luôn xếp đặt với nhau
Vững tâm bền trí trước sau
Hành trang tràng chuỗi khổ đau không sờn
Pháp trường Bảy Mẫu nơi để xử
Cổ mang gông Cha cứ thản nhiên
Nguyện cầu suy gẫm trang nghiêm
Nhát gươm vung chém Triều Thiên rạng ngời
Hai xác thánh chôn nơi Bảy Mẫu
Sau mấy năm dòng máu thấm sâu
Rước về Lục Thủy ngõ hầu
Xây lăng xây mộ mai sau kính thờ
Năm tử đạo bấy giờ Kỷ Hợi (1839)
Xác thánh cha chôn vội pháp trường
Roma Toà Thánh đảm đương
Suy tôn Canh Tý (1900) Thiên đường thẳng lên
Lời bất hủ: Ðây là vần thơ lục bát mà cha sáng tác trong tù:
"Ai ơi, giữ lấy túi khôn
Ðầy tràn tin cậy, đầy lòng mến yêu
Gươm đao đe doạ dẫu nhiều
Quỷ ma cám dỗ sớm chiều đe loi
Ai mà thắng được trên đời
Mai sau hưởng phúc cõi trời cao sang"
Cha bị bắt khi đang dâng lễ ở họ Hạ Linh, quân lính nộp cho quan. Quan cười nói: "Ðưa đây một số bạc, ta tha cho về". Cha trả lời: "Tôi chẳng có đồng nào trong người, nếu quan tha tôi cám ơn, nếu quan bắt tôi xin chịu". Khi nghe thuật lại chuyện dân làng góp tiền chuộc cha về, cha an ủi: "Anh em hãy để tiền lo cho giáo xứ thì hơn, đừng tốn tiền chuộc tôi làm chi vô ích. Ý Chúa đã muốn, chẳng ai làm khác được. Anh em cứ bình an về nhà,nhớ cầu nguyện cho tôi chịu sự khó cho nên". Thế rồi cha mang gông nặng theo lính về Nam Ðịnh. Cha bị tra tấn kìm nung đỏ cặp đứt từng miếng thịt, Ngài can đảm gắng sức nói thẳng với quan: "Dù sống, dù chết, tôi cũng không bỏ đạo. Tôi chọn cái chết để sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu mà muôn đời bị tiêu diệt".
Đamien
06-09-2006, 04:09 PM
Ngày 28 tháng 11:
Thánh Anrê TRẦN VĂN TRÔNG
Sinh: 1814
Quê quán: Tại Kim Long , Phú Xuân, Huế.
Chức vị: Quân nhân
Tử đạo: 28-11-1835 Xử trảm tại An Hoà đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Anrê Trần Văn Trông binh sĩ
Sinh Giáp Tuất (1814) địa chỉ Kim Long
Gia đình nghèo khó trắng trong
Người cha mất sớm phải vòng gian nan
Cậu bỏ học lo toan giúp mẹ
Theo bà con mau lẹ học nghề
Dệt tơ thợ đúc say mê
Gia công cơ sở thuộc về nhà vua
Cậu chăm chỉ chẳng ưa lêu lổng
Chiều đi câu bãi trống Sông Hương
Làm nghề dệt ít đồng lương
Trông từ giã mẹ lên đường tòng quân
Sau tám tháng phong trần quân ngũ
Bị Triều Ðình chụp mũ trái sai
Ai người Công giáo phải khai
Trông không sợ hãi ngày mai nhận liền
Bạn đồng đội trong miền kéo tới
Quan loan truyền lệnh mới vua ban
Quân nhân đều phải sẵn sàng
Bước qua Thánh giá khỏi sang lý hình
Mười ba người chiến binh Công giáo
Ðều tuyên xưng mạnh bạo đức tin
Quan tra tấn cho đứng nhìn
Mười hai bỏ cuộc sợ kìm kẹp gông
Còn trụ lại Trần Trông anh dũng
Qua Thánh giá Trông cũng co chân
Tấn tra anh rất nhiều lần
Nhốt anh vô trại lãnh phần khổ đau
Cho thời hạn năm sau mới xử
Anh cho là Chúa thử lòng mình
Luôn luôn sốt sắng nguyện kinh
Tâm hồn vững mạnh Thánh Linh hộ phù
Anh chia sẻ bạn tù lính gác
Ðược tiếp quà chia chác đệ huynh
Lính canh trong chốn ngục hình
Cũng đều quý mến nghĩa tình giúp anh
Viên cai ngục đã dành ưu đãi
Cho về nhà có phái lính theo
Cha Ngôn ngồi ở thuyền chèo
Anh Trông quỳ xuống ngước theo nhìn trời
Lãnh phép lành nói lời tha tội
Anh xin rước lễ vội về nhà
Niềm vui hội ngộ thiết tha
Mẹ con mừng rỡ như là tái sinh
Một năm nhốt tính tình không đổi
Anh Trần Trông thúc hối lý hình
Tháo gươm đón nhận hy sinh
Anh nhờ đưa hộ mẹ mình chiếc gông
Làm kỷ niệm khi trông thấy nó
Là mẹ hiền sẽ ngó thấy con
Chiêng cồng vang tiếng kêu giòn
Cùng hai trộm cướp đầu con lìa mình
Lòng dũng cảm hy sinh tử đạo
Năm Kỷ Mùi (1835) loan báo hồng ân
Trao thủ cấp con, mẹ cầm
Vừa hôn vừa khóc thì thầm tạ ơn
Bà đã bọc giản đơn vạt áo
Trên đường về mếu máo khóc thương
Chôn con chính giữa từ đường
Trong nhà ngôi mộ xác xương con mình
Ai hiểu thấu được tình mẫu tử
Khi con mình bị xử chém đầu
Hồng ân Thiên Chúa nhiệm mầu
Suy tôn Canh Tý (1900) lên chầu Thiên nhan
Lời bất hủ: 13 quân nhân nhận mình có đạo, nhưng không chịu được cực hình, 12 lính đã đầu hàng, còn lại một mình Anrê Trông vẫn một lòng trung kiên không quá khoá. Khi sắp bị xử án, anh Trông gặp người anh họ, anh nói: "Em muốn ăn chay để dọn mình tử đạo, rồi nói tiếp: Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: đừng lo gì cho em cả, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện, và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa cho đến chết".
Bà mẹ chờ đón con trên đường đi xử, gặp con bà chỉ hỏi một câu vắn: "Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng, nếu có thì cho mẹ hay, mẹ sẽ trả thay cho". Bà theo con đến pháp trường. Khi lính chém đầu Anrê Trông, bà kêu lớn trước mặt quan: "Ðây là con tôi, đứa con mà tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các ông trả lại tôi cái đầu của con tôi". Nói xong bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người con yêu quý, rồi đem về mai táng trong nhà.
Đamien
06-09-2006, 04:11 PM
Ngày 30 tháng 11:
Thánh Giuse MARCHAND DU
Sinh: 17-8-1803
Quê quán: Tại làng Passavant, nước Pháp.
Chức vị: Linh mục thừa sai Paris
Tử đạo: 30-11-1835 Xử bá đao tại Thợ Ðúc đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Marchand Du thừa sai linh mục
Sinh Quý Hợi (1803) quê thực Paris
Từ nhỏ đã tỏ hướng đi
Thích làm linh mục cậu thì tỏ ra
Cùng các bạn bày ra dâng lễ
Giống như cha chủ tế hàng ngày
Thấy người lớn cậu dẹp ngay
Trò chơi của cậu những ngày còn thơ
Ðến khi lớn giấc mơ của cậu
Xin vào dòng học đậu làm cha
Kẹt vì lúc đó trong nhà
Bạc tiền túng thiếu cùng là nhân công
Cha mẹ cậu trước không đồng ý
Tưởng một hai thối chí cậu chăng
Ai ngờ ngày một gia tăng
Cuối cùng cha mẹ phải bằng lòng thôi
Vào Chủng viện tuổi đời mười tám
Mười năm trời theo bám chủng sinh
Phó tế lãnh chức quang vinh
Thầy xin sang nhập gia đình thừa sai
Nửa năm sau chức ngài linh mục
Xin Bề Trên tiếp tục hiến thân
Việt Nam truyền giáo đang cần
Cha xin tình nguyện lãnh phần ưu tiên
Ðường đi lại tàu thuyền cách trở
Chặng đi đầu tạm ở Macao
Việt Nam đợi dịp đi vào
Mùa xuân con cọp (1830) đẹp sao tới bờ
Việc cần nhất bây giờ học tiếng
Tại Lái Thiêu vốn liếng bổ sung
Ðọc thông nói thạo đủ dùng
Ðặt tên tiếng Việt kêu bằng cha Du
Ðến Campuchia mùa thu năm ấy
Ðể thăm quan và thấy giáo dân
Lái Thiêu Chủng viện đang cần
Xin cha về nhận cái phần giảng sư
Coi xứ đạo cũng từ ngày đó
Trong cả vùng cũng có hai lăm (25 xứ)
Hàng tuần cha phải đi thăm
Ban phép hoà giải hằng trăm tín đồ
Vua Minh Mạng lệnh vô lùng bắt
Giáo sĩ Âu cấm ngặt răn đe
Rủ nhau đi bộ đi ghe
Chạy sang nước Thái (Lan) chở che tạm thời
Chỉ cha Du ngài đòi ở lại
Coi giáo dân chẳng ngại hiểm nguy
Miền Nam trong lúc ấy thì
(Lê) Văn Khôi phản loạn muốn đi cầu ngài (cha Du)
Ý ông (Khôi) muốn góp tài chung sức
Phần giảng rao hết mực tự do
Ðạo đời hoà hợp khỏi lo
Nay đây mai đó trốn cho tội tình
Cha Du vẫn làm thinh không chịu
Ngài biết rằng chính hiệu của tôi
Ðến đây giảng đạo Chúa Trời
Ngoài ra không biết việc đời là chi
Lê Văn Khôi gặp khi túng thế
Ðem voi ra bồng bế cha vào
Tâm thư ngài được ban trao
Ðọc xong xin hãy ký vào giùm tôi
Cha Du đứng nghỉ ngơi một lúc
Rồi đem thư tiếp tục xé luôn
Ông Khôi lúc đó tuy buồn
Nhưng không phản ứng về luôn sảnh đường
Hơn hai năm bức tường vây hãm
Quân nhà vua can đảm phá thành
Nguỵ quân mấy bữa tan tành
Văn Khôi bị bắt đồng hành cha Du
Ðem về kinh căm thù kết tội
Buộc cho ngài kết nối nguỵ quân
Gởi thư cầu viện xa gần
Cùng Khôi cấu kết mật thân chống triều
Cha Du nói một điều giảng đạo
Kẹp kìm tra cố tạo tội thêm
Cuối cùng bản án như nêm
Tây dương tả đạo có kèm tên Du
Phò Khôi nguỵ hận thù đáng chết
Xử bá đao chưa hết tội mi
Cha Du chẳng nói năng gì
Ất Mùi (1835) tử đạo hồn đi lên Trời
Trong sử sách ấy thời ghi chép
Mình cha Du chịu chết bá đao
Canh Tý (1900) Toà Thánh ban trao
Suy tôn Chân phước bước vào Thiên cung
Lời bất hủ: Tướng Lê Văn Khôi (nghịch với Triều Nguyễn) đã ép cha Du phải vào thành. Tướng Khôi có ý mua chuộc cha để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: "Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giã binh lính, tôi không rành". Cha Du bị bắt và dẫn giải về triều đình Huế, các quan hỏi cung: "Có phải người gửi thư vô Xiêm, cùng gửi thư cho quân Giatô ở Ðồng Nai, biểu nó đến giúp nguỵ không?". Cha Du đáp: "Ông Khôi có biểu tôi viết thư song tôi không chịu viết, một nói cho ông ấy hay: đạo tôi cấm làm như vậy, và tôi thà chết chẳng thà làm theo lời ông ấy. Dầu thế ông Khôi còn đem mấy bức thư ra, biểu tôi ký tên vào, thì tôi lấy mấy cái thư ấy, mà đốt đi trước mặt ông ấy". Bản án thừa lệnh vua Minh Mạng viết như sau: "Tây Dương Ma Sang kêu là danh Du, Giatô đạo trưởng, phò nguỵ Khôi, nhận tội có viết thư sang Hồng Mao (tức nước Anh) và Xiêm La (Thái Lan) sang giúp nguỵ thần, lệnh xử bá đao". Cha Du còn tra hỏi lần chót rồi mới xử. Hỏi: "Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự quái gở lắm phải không?". Ðáp: "Không, chẳng hề có những điều quái gở". "Vậy sao có thứ bánh làm bùa mê thuốc lú, để phát cho những đứa đã xưng tội mà làm nó mê đạo đến thế?". Cha Du kiệt sức không trả lời được nữa.
Đamien
07-09-2006, 09:43 AM
Ngày 06 tháng 12:
Thánh Giuse NGUYỄN DUY KHANG
Sinh: 1832
Quê quán: Tại Cao Mại, xã Trà Vi, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 06-12-1861 Xử trảm tại Hải Dương đời Tự Ðức
Ngày phong Chân phước: 20-05-1906 đời ÐGH Piô X
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Duy Khang quê hương Cao Mại
Năm Nhâm Thìn (1832) sinh tại Thái Bình
Mẹ cha đạo đức nhiệt tình
Người cha mất sớm, một mình mẹ lo
Bà hướng dẫn gởi cho nhà Chúa
Cha Dòng Năng, nhận đứa trẻ ngoan
Mười năm dạy dỗ bảo ban
Gởi đi chủng viện nhà tràng Latinh
Nơi Kẻ Mốt chủng sinh đông đúc
Hết học kỳ kết thúc khấn dòng
Trưởng tràng tín nhiệm bầu xong
Thầy Khang kỷ luật hết lòng nêu gương
Mọi công việc đảm đương chu đáo
Việc học hành hoàn hảo đáng khen
Thầy đạo đức chẳng bon chen
Và luôn hòa nhã anh em đồng hành
Ðức Cha Liêm ghi danh chọn tuyển
Ðã nhận thầy, đại diện tháp tùng (Phòng bộ)
Thầy Khang vui vẻ hiếu trung
Theo ngài đi khắp các vùng quản cai
Lo sắp xếp cho ngài mọi việc
Từ văn phòng tới tiệc liên hoan
Ðào hầm trú ẩn vững vàng
Nói chung mọi việc sẵn sàng hy sinh
Sau chiếu chỉ Triều Ðình phân sáp
Ðóng cửa trường tản mác chia ly
Bốn phương mạnh ai cứ đi
Thầy Khang nhất quyết phù trì Ðức Cha
Bạn từ giã nói là đùa thật
Bắt Ðức Cha sẽ tất có thầy
Như lời tiên đoán sao đây
Cha con lưu lạc đó đây đêm ngày
Rồi bữa đó chẳng may bị bắt
Hai Cha con quan cắt chia ra
Ðức Cha án xử ngay mà
Thầy Khang tống ngục bị tra tấn nhiều
Thật khủng khiếp sớm chiều mông nát
Chí kiêu hùng sống thác không khai
Các nơi trú ẩn Ðức Ngài (Ðức Cha Hermosilla Liêm )
Giuse nghe án quan cai tử hình
Lệnh y án triều đình trảm quyết
Tại pháp trường thắm thiết Ðức Cha
Cách đây hơn tháng đó mà
Lý hình đã chém thế là đầu rơi
Quan chỉ chỗ đến nơi chôn cất
Ngoài pháp trường khoảng đất cánh đồng
Nơi đây rộng rãi mênh mông
Kêu là Năm Mẫu, máu hồng tuôn rơi
Mộ bia thầy ghi thời không rõ
Cai Hinh anh ruột cố tìm ra
Cải lên an táng quê nhà
Nguyện đường Kẻ Mốt để mà kính tôn
Phúc tử đạo tiếng đồn Tân Dậu (1861)
Mất thế gian trọng hậu Nước Cha
Bính Ngọ (1906) Toà Thánh Roma
Suy tôn Á thánh hoan ca thế trần
Lời bất hủ: Thầy Khang nói với bạn bè: "Tôi nhất định theo Ðức cha (Liêm), các quan có bắt ngài , ắt sẽ chẳng tha tôi, Ðức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân sợ gì". Khi lính đến bắt Ðức cha, thầy Khang toan dùng sào tre để chống cự cứu Ðức cha, ngài bảo: "Ðừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa". Thầy Khang chỉ nói được một lời "Thưa vâng".
Đamien
07-09-2006, 09:45 AM
Ngày 10 tháng 12:
Thánh Simon PHAN ÐẮC HOÀ
Sinh: 1774
Quê quán: Làng Mai Vĩnh, xã Mông Thôn, tỉnh Thừa Thiên (Giáo phận Huế).
Chức vị: Y sĩ (Thầy lang) - Trùm họ
Tử đạo: 12-12-1840 Xử trảm tại An Hoà - Huế đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Simon Phan Ðắc Hoà y sĩ
Sinh Giáp Ngọ (1774) địa chỉ Thừa Thiên
Lương y nổi tiếng trong miền
Mang danh chữa bệnh dùng thuyền chở cha
Quan bắt được hỏi tra giam huyện
Tại nơi đây thực hiện tấn tra
Cha con cùng nhốt một nhà
Tay chân bị trói thật là thảm thương
Rồi sau giải tỉnh đường Quảng Trị
Tại nơi đây lại bị cổ gông
Nhà giam tăm tối hôi nồng
Khoảng chừng hai tháng rất đông người tù
Ở Quảng Trị toàn khu giải Huế
Vua Minh Mạng thuận để xử ông
Các quan dụ để lập công
Bắt ông quá khóa, tha không, thưởng tiền
Nhưng ông vẫn trung kiên bền đỗ
Luôn tuyên xưng thách đố tới cùng
Quan quân thất bại nổi xung
Pháp trường trảm quyết phải dùng tới gươm
Ơn tử đạo, Thiên Ðường lên thẳng
Cuối cùng ai kẻ thắng người thua
Nước Trời chẳng thể bán mua
Chứng nhân kiên vững Chúa đưa về trời
Thi hài an táng nơi hành xử
Sau cải lên đưa gửi Paris
Trong phòng sổ sách có ghi
Tấm khăn thấm máu đem đi đền thờ
Một vài nét đơn sơ tiểu sử
Simon Hòa nghĩa cử chân thành
Lương y cứu chữa lẹ nhanh
Ông bà sinh hạ trưởng thành đông con
Ông Trùm đạo vuông tròn bác ái
Giúp đỡ người chẳng ngại quản công
Dân làng quý mến nhất ông
Thánh Ðường kiến thiết, của, công, nhiệt tình
Kẻ biếng nhác đệ huynh giải thích
Bọn rượu chè xích mích khuyên can
Người nằm liệt dưới vệ đàng
Ðiếm canh mang đến sẵn sàng thuốc men
Năm Canh Tý (1840) thân quen tử đạo
Thắng thế gian tàn bạo quan quân
Thiên đàng Chúa đã dành phần
Suy tôn Canh Tý (1900) ở gần Chúa Cha
Lời bất hủ: Ông khuyên nhủ các con đến thăm ông trong tù: "Cha yêu thương các con, và hằng chăm sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa, đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, thương yêu nhau, và chăm sóc việc nhà. Từ đây cha không thể lo cho các con được nữa. Chúa muốn cha phải chịu khổ, cha xin vâng trọn".
Đamien
07-09-2006, 09:46 AM
Ngày 18 tháng 12:
Thánh Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ
( Nguyễn Văn Hữu )
Sinh: 1798
Quê quán: Làng Kẻ Non, gọi là Sơn Nga (hay Cẩm Sơn), huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Chức vị: Thầy giảng.
Tử đạo: 18-12-1838Xử giảo tại Sơn Tây đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Phaolô Nguyễn Văn Mỹ
Sinh Mậu Ngọ (1798) tỉnh lỵ Hà Nam
Giúp cha chu đáo thầy làm
Giảng rao lời Chúa toạ đàm tuyên xưng
Phaolô Mỹ Tin mừng rao giảng
Dám cả gan bội phản lệnh vua
Thừa sai Tây đến vào hùa
Trên đường lẩn trốn lính lùa bắt giam
Thầy được chọn lên làm Linh mục
Chúa quan phòng lãnh phúc hy sinh
Lệnh vua kết án tử hình
Thầy là Kẻ giảng gia đình trưởng nam
Khi quân lính vây làng Bầu Nọ
Báo cho nhà Cố trọ trốn đi
Mang đồ đạo giấu cấp kỳ
Các Thầy Kẻ giảng cùng đi đình làng
Xét lý lịch nghi can lục soát
Ðã tưởng chừng như thoát lưới thưa
Có bà tên Yến đứng thưa
Chỉ mặt Thầy Mỹ, dây dưa Truật, Ðường
Ba Thầy bị đả thương dở chết
Dù đòn roi bê bết không khai
Ðến chiều lính bắt Cố Ngài
Thầy trao đồ đạo một vài món thôi
Các Thầy phải liên hồi phơi nắng
Suốt ba ngày mang nặng gông xiềng
Sơn Tây đi bộ triền miên
Trên đường đói khát tối liền cùm chân
Nhốt ngục tối nhiều lần tra hỏi
Cả ba Thầy chẳng nói điều chi
Giảng rao lời Chúa thực thi
Chúng tôi cương quyết không gì đổi thay
Quan tức giận lột ngay quần áo
Trói giang tay nằm ráo dưới nhà
Ðánh đòn dọa nạt khảo tra
Bằng roi có móc thật là dã man
Sau trận đánh thịt tan xương nát
Nát như tương chẳng khác tổ ong
Ngón tay co rút cong cong
Lính khiêng bỏ lại nhốt trong nhà tù
Không tiếng nói êm ru ngục thất
Mở miệng ra chẳng nấc nên lời
Khò khè thở chẳng ra hơi
Quan quân ép buộc nhận lời trái sai
Chúng dụ dỗ nói hoài không đạt
Ðã đổi chiều bài bác Thánh Kinh
Hỏi han thế giới vô hình
Mai sau hỏa ngục luyện hình thấy chưa
Ðang khốn khổ sớm trưa liên tục
Có phải đây hỏa ngục trần gian
Chốn nào là nước Thiên Ðàng
Vua quan đang ngự huy hoàng phải không
Ðâu có thưởng kẻ gông đeo cổ
Chết nát thây chôn chỗ pháp trường
Theo tả đạo chốn viễn phương
Cải tà quy chánh pháp trường quan tha
Ba Thầy nói quan đà vô phúc
Phá đạo trời hỏa ngục trầm luân
Vua quan xuống đấy lãnh phần
Lý hình cứ xử chẳng cần thứ tha
Giữa pháp trường ta là lính Chúa
Người Tông đồ chan chứa ơn lành
Sẵn sàng vì Chúa vinh danh
Lệnh vua xử giảo nguyên lành xác thân
Lễ an táng thuộc phần giáo xứ
Tại Cao Mại nghĩa cử hương trầm
Các Cha tham dự âm thầm
Chôn gian nhà cuối thành tâm gia đình
Một bà góa nghĩa tình tên Tín
Bảy tháng sau thầm kín về Non
Như lời trăn trối lúc còn
Hồng ân tử đạo là con dân làng
Năm Mậu Tuất (1838) vẻ vang tử đạo
Ba chứng nhân giữ đạo đến cùng
Linh hồn về chốn thiên cung
Suy tôn Canh Tý (1900) vui chung Nước Trời
Lời bất hủ: Thầy Mỹ luôn hoàn thành công tác mục vụ một cách chu đáo, từ dạy giáo lý cho các tân tòng và trẻ em, đến khuyên bảo các tội nhân ăn năn hối cải.Nói về Thầy Mỹ, thầy Ðường viết: "Từ khi được diễm phúc chịu khó vì Ðức Tin, thầy Mỹ vẫn thay chúng con viết thư cho Cha (thừa sai Marette). Vì chúng con coi thầy Mỹ như thay mặt Cha ở giữa chúng con". Lần khác, quan tra hỏi và vu khống cho đạo, thầy Mỹ trả lời: "Không lẽ quan tin những lời đồn đại vô lý đó sao? Bởi vì chúng tôi làm như thế, cha mẹ, vợ con họ đâu để chúng tôi yên. Vậy mà chúng tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui vẻ".
Đamien
07-09-2006, 09:48 AM
Ngày 18 tháng 12:
Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN ÐƯỜNG
Sinh: 1808
Quê quán: Tại làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 18-12-1838Xử giảo tại Sơn Tây đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Nguyễn Văn Ðường quê làng kẻ Sở
Sinh Mậu Thìn (1808) nơi ở Hà Nam
Gia đình đạo đức nghèo nàn
Có hai chú ruột lên hàng chức Cha
Mới chín tuổi cậu đà xin Chú
Nguyễn Văn Thi khuyên nhủ tu trì
Ngài liền dẫn cháu đường đi
Cha Phượng An Tập ngài thì quản cai
Sau sáu năm khá dài liên tiếp
Cậu Nguyễn Ðường ở miệt nơi xa
Cha Trạch Bầu Nọ xứ nhà
Năm hai sáu tuổi đúng là trên ban
Làm Thầy giảng lên đàng chăm chỉ
Giáo dân ai cũng quý mến Thầy
Tông đồ thăm viếng đó đây
Người già bệnh tật tỏ bày tình thương
Quan bắt đạo Cha thường phải trốn
Nhưng Thầy Ðường tính vốn vâng lời
Làm tràng hạt lúc nghỉ ngơi
Tặng cho bổn đạo khắp nơi nguyện cầu
Lính vây kín đêm thâu Bầu Nọ
Bắt Cố Cornoy họ truy tìm
Vắng ngài, chúng chẳng có tin
Một người tố giác đứng nhìn chỉ tay
Thầy Mỹ, Truật hằng ngày theo Cố
Phải dẫn đi chỉ chỗ tới lui
Thầy Ðường đứng nói có tui
Ba Thầy chúng bắt buồn thiu cộng đoàn
Chúng tra rấn dã man khủng khiếp
Tới buổi chiều bắt tiếp Cố ngay
Ngồi trong cũi nhìn cảnh này
Ngài hô lên phải ngừng tay đánh người
Quan nghe vậy ngồi cười đánh tiếp
Ðể ba Thầy phát khiếp ngã lòng
Bước qua Thập Giá là xong
Cho về quê quán thong dong tung hoành
Thầy Ðường nói chấp hành được xử
Quan chớ hòng mà thử chúng tôi
Dù cho chín núi mười đồi
Chẳng hề phản bội Ba Ngôi Chúa Trời
Thầy Ðường viết đôi lời cho Cố
Trong nhà tù vô số mẫu gương
Cầu xin Chúa ơn can trường
Hồn an xác mạnh hành hương Nước Trời
Rước ơn trọng cuối đời Mình Thánh
Tạ ơn Người Cha Chánh thăm tù
Phước này con nhớ thiên thu
Vua quan cấm đạo chẳng thù, thứ tha
Kẻ quyền thế chóng qua mau hết
Vì lỗi lầm lúc chết đi đâu
Nguyện cầu ơn Chúa nhiệm mầu
Cho kẻ lạc lối ngõ hầu ăn năn
Cho đất nước khó khăn vượt khỏi
Cho Việt Nam học hỏi Tin mừng
Trước khi dừng bút tạm ngưng
Con xin Cố nhắn tin mừng Chú con
Cha Thi chú ruột còn dâng lễ
Nhờ Ngài giúp cụ thể như sau
Làm ba lễ khẩn nguyện cầu
Cho người đi trước kẻ sau góp phần
Cha Triệu đến xin cần xưng tội
Ba tử tù hối lỗi sau cùng
Bữa cơm thiết đãi dùng chung
Quân quan lính gác với cùng tù nhân
Rồi sau đó tới phần hành quyết
Bốn lý hình cần thiết xung quanh
Trước cầm thẻ gỗ đã dành
Ðể ghi bản án ban hành ghi tên
Hai người nữa giữ bên xiềng xích
Người đi sau mục đích cầm gươm
Ba Thầy dẫn tới pháp trường
Ðồng bị xử giảo bốn phương kéo thừng
Trong phút chốc đã ngừng hơi thở
Ðược cất chôn ngay ở trong nhà
Là bà Tín đảm nhận mà
Sau rồi cải táng xứ nhà Kẻ Mây
Phúc tử đạo của thầy Mậu Tuất (1838)
Tuổi thanh xuân chẳng khuất phục ai
Canh Tý (1900) Toà Thánh bài sai
Suy tôn Chân phước ít ai sánh bì
Lời bất hủ: Thánh Phaolô Ðường tuyên bố thẳng với quan tra xét hỏi cung ngài: "Nhất định chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như vậy là chọn cái chết đời đời, cả linh hồn lẫn thể xác".
Đamien
07-09-2006, 09:50 AM
Ngày 18 tháng 12:
Thánh Phêrô VŨ TRUẬT
Sinh: 1817
Quê quán: Tại làng Hà Thạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây, Hà Nam.
Chức vị: Thầy giảng
Tử đạo: 18-12-1838 Xử giảo tại Sơn Tây đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Phêrô Vũ Truật
Sinh Bính Tý (1817) quê thật Hà Nam
Bị bắt tra tấn dã man
Vẫn trung thành chịu chẳng than chẳng buồn
Trước đau khổ thầy luôn tin tưởng
Vững một lòng theo hướng Chúa đi
Mồ côi cha muốn tu trì
Mẹ chiều chấp thuận đưa đi nhà thờ
Vào Cha Tốn xin nhờ giúp đỡ
Ðược ngài thương cho ở học hành
Thân hình ốm yếu xanh xanh
Không làm việc nặng hiền lành khôn ngoan
Hay đau yếu bỏ ngang việc học
Mẹ đón về săn sóc dưỡng nuôi
Buồn lòng đây đó ngược xuôi
Cha Tốn thương hại nhận nuôi giúp ngài
Học giáo lý và sai việc nhẹ
Dạy bổn kinh lanh lẹ theo Cha
Cha Tốn ngài đổi đi xa
Cố Phan trao lại ngài đà nhận ngay
Ngài nuôi dưỡng tiếp tay giúp việc
Lính quân quan khắp miệt bổ vây
Chú Truật bị bắt nơi này
Hiên ngang xưng đạo trình bày với quan
Ðức Cha Tabud phong làm Thầy giảng
Tuổi nhỏ thôi nói phản lại quan
Xác thân ốm yếu làng nhàng
Ðòn roi sao chịu khỏi mang gông cùm
Thấy gầy ốm thấp lùn quan dọa
Quá khóa mau ta thả cho về
Lời quan nói thật u mê
Mẹ cha quan dám dễ bề bước qua
Cây Thập giá giường Cha trời đất
Ngài là Ðấng chân thật tôn thờ
Bước qua tôi chẳng bao giờ
Thà rằng chịu chết sẵn chờ đầu bay
Quan tức giận hẹn ngày đem xử
Ở trong tù Thầy cứ truyền rao
Hồng ân tử đạo tự hào
Cha Triệu thăm viếng ban trao Máu Mình
Mẹ của Thầy một mình thăm viếng
Nhủ khuyên con hai tiếng kiên trì
Mặc dù bão táp hiểm nguy
Mẹ mong con mẹ hãy thì giảng rao
Hãy vững chí chớ đừng khuất phục
Mẹ yên tâm, tiếp tục tuyên xưng
Hiên ngang rao giảng Tin mừng
Con không ân hận, không ngừng nguyện xin
Sau bão táp ong tìm về tổ
Vững lòng tin Chúa đổ ơn lành
Ngày mai Giáo hội tươi xanh
Quê hương Nước Việt vinh danh Chúa Trời
Sao lại bảo dở hơi dại dột
Chết vì Ngài ngu dốt hay sao
Hy sinh tuôn đổ máu đào
Chứng nhân cho Chúa Trời cao hộ phù
Hưởng nhan Chúa thiên thu vĩnh cửu
Ngài giáng trần để cứu chuộc ta
Con xin dõi bước theo Cha
Vác cây Thập Giá để mà hy sinh
Rồi sau đó lý hình dẫn giải
Cả ba Thầy đều phải nằm xoài
Sợi giây thắt cổ khá dài
Chôn hai cột lớn quan sai lính cầm
Vị quan xử trung tâm ngồi giữa
Lệnh truyền ra sắp sửa thi hành
Hai đầu giây xiết thật nhanh
Cả ba tử tội trở thành cố nhân
Các giáo dân lo phần mai táng
Công việc nhiều gần sáng mới chôn
Giữa nhà bà Tín trong thôn
Kẻ May giáo xứ sớm hôm nguyện cầu
Năm Mậu Tuất (1838) ngõ hầu tử đạo
Thật dã man tàn bạo quân quan
Canh Tý (1900) Toà Thánh lệnh ban
Suy tôn Chân phước liên hoan Thiên đàng
Lời bất hủ: Quan tra hỏi và chê bai thầy là dại dột lãng phí tuổi thanh xuân, thầy trả lời: "Chưa chắc là tôi dại. Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời".
Đamien
07-09-2006, 09:53 AM
Ngày 19 tháng 12:
Thánh Phaxicô Xaviê HÀ TRỌNG MẬU
Sinh: 1790
Quê quán: Tại làng Kẻ Diền, tỉnh Thái Bình.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 19-12-1839 Xử giảo tại Cổ Mễ đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy giảng Phanxicô Hà Trọng Mậu
Năm Canh Tuất (1790) sinh cậu Thái Bình
Thuộc lầu giáo lý, Thánh Kinh
Ðức Cha địa phận thuận tình giảng rao
Thầy Trọng Mậu tiến vào Kẻ Mốt
Người hiền lành rất tốt mẫu gương
Giáo dân quý mến thân thương
Chu toàn mọi việc đảm đương hằng ngày
Tin Thầy Tự chẳng may bị bắt
Thầy lẩn vào dẫn dắt giáo dân
Quan tra hỏi những thành phần
Thầy giảng giúp việc xa gần trốn đâu
Trong hoàn cảnh bắt đầu căng thẳng
Có bà Tuân lo lắng giúp Thầy
Quan sai quân lính bao vây
Các Thầy bị bắt việc này tính sao
Bà đề nghị trốn vào nhà ngoại
Vì tin rằng quan lại chẳng qua
Thầy Mậu ưng thuận nghe bà
Bà Tuân đem gởi Thầy đà nơi đây
Ai biết trước vũng lầy tiền thưởng
Chủ tham tiền, tìm hướng báo quan
Lính vây bắt đánh dã man
Phiên tòa quan hỏi: mày làm việc chi?
Vậy có phải mày đi theo Tự
Nhưng Thầy Mậu lại cự nói ngay
Tôi là Thầy giảng nơi này
Quan đưa Thập giá bắt Thầy bước qua
Tôi Thầy giảng sao mà dám đạp
Lên ảnh Người phúc đáp lại quan
Chúa Trời cao cả Thiên đàng
Muôn loài kính sợ thế gian tôn thờ
Quan dẫn giải bất ngờ Cha Tự
Ðể hai người xử sự ra sao
Nhưng Cha đã quay mặt vào
Thầy Mậu chạy lại kính chào nhận Cha
Tại nhà tù quả là đau khổ
Nhưng Thầy Mậu vẫn cố gắng khuyên
Tân tòng giáo lý dạy liền
Số người bốn bốn trong miền tuyên xưng
Người thông thái đã từng học đạo
Khi quan truyền loan báo xử ông
Xin gặp Thầy Mậu thông công
Lãnh xin rửa tội cho ông thọ hình
Thầy còn trẻ thông minh mạnh mẽ
Quan dụ ngay ra vẻ thử xem
Tâu vua chức tước ban khen
Cần mày phải nhận điều kèm sau đây
Bước qua Thập Giá này lập tức
Nhưng Thầy Mậu nhất mực nói ngay
Làm vua cai trị nước này
Ta đây chẳng bỏ chức Thầy làm quan
Tôi không thể bỏ đàng của Chúa
Kính tôn vinh đoan hứa kiên trung
Một lòng vì Chúa tới cùng
Quan liền nổi giận, nổi khùng tống giam
Ðọc chiếu chỉ vua ban xử giảo
Song hôm nay tao bảo chúng bay
Bước qua Thập giá tha ngay
Pháp trường xử trảm tụi mày đầu rơi
Thầy Mậu nói quan thời cứ xử
Thật uổng công dọa thử chúng tôi
Ngày xử đã sắp kề rồi
Nếu không, xử giảo kéo lôi dây thừng
Các Thầy nghe, vui mừng hớn hở
Sắp về trời lên ở Nước Cha
Hân hoan tạm biệt gần xa
Linh hồn lìa xác Thiên Tòa Chúa ban
Xác Thầy Mậu dân mang Ðồng Tiến
Ðã kiên trung dâng hiến đời mình
Khắp nơi giáo hữu tôn vinh
Nêu cao gương mẫu Thiên đình chứa chan
Phúc tử đạo Chúa ban Kỷ Hợi (1839)
Ðiều chiên lành mong đợi bấy nay
Canh Tý (1900) Toà Thánh phong ngay
Lên hàng Á thánh ngày nay tôn thờ
Lời bất hủ: Khi bị tra hỏi , không một chút lưỡng lự, thầy trả lời vị Tổng đốc: "Tôi không ham quyền, tôi chỉ muốn chết vì đạo". Có mặt cha Tự, quan hỏi thầy Mậu đó là ai?. Thầy đáp: "Thưa quan tôi là môn đệ thân tín của cha đây". Rồi thầy nói nhỏ với cha Tự: "Xin cha thương nhận con làm môn sinh, để con cũng được tử đạo với cha". Thầy Mậu vẫn dạy giáo lý trong tù cho tù nhân, và đã Rửa tội cho 44 người. Trong đó có một tử tù tên là Hưng, đến ngày xử tư, anh xin hoãn một ít giờ để chịu phép Rửa tội, sau đó vui vẻ tiến ra pháp trường. Thầy nghe bản án xong thầy nói: "Thưa quan, chúng tôi mong ước về với Chúa, như nai mong tìm thấy suối vậy, Xin quan thi hành án lệnh của Ðức vua".
Đamien
07-09-2006, 09:58 AM
Ngày 19 tháng 12:
Thánh Ðaminh BÙI VĂN UÝ
Sinh: 1812
Quê quán: Tại họ Thiên Môn, làng Kẻ Riền, tỉnh Thái Bình.
Chức vị: Thầy giảng dòng ba Ðaminh
Tử đạo: 19-12-1839 Xử giảo tại Cổ Mễ đời Minh Mạng
Ngày phong Chân phước: 27-05-1900 đời ÐGH Lêô XIII
Ngày phong Hiển thánh: 19-06-1988 đời ÐGH Gioan Phaolô II
Thầy Ðôminicô Bùi Văn Uý
Sinh NhâmThân (1812) địa chỉ Kẻ Riền
Cha xứ Tự thấy Uý hiền
Liền xin cha mẹ gởi lên theo ngài
Khi Cha Tự bài sai Kẻ Mốt
Ðã đem đi Cậu tốt theo Ngài
Tín trung Cha Tự không sai
Thời gian cấm đạo chạy hoài trốn chui
Cha với Cậu ngọt bùi chia sẻ
Cậu đào hầm dấu kẻ báo quan
Hai tầng kín đáo vững vàng
Tầng trên Cậu ở, kỹ càng dưới Cha
Cậu Úy sợ chiên mà mất chủ
Bảo vệ Cha phòng thủ đêm ngày
Quan phòng ý Chúa đổi thay
Cha con bị bắt một ngày với nhau
Quan cho đánh quá đau Cha Tự
Thầy xin ngay quan cứ đánh con
Tan thây nát thịt vì đòn
Ngài đâu có trốn, lại còn tuổi cao
Quan bắt lính đem vào ảnh tượng
Bắt bước qua Thầy cưỡng chống ngay
Bắc Ninh dẫn giải trong ngày
Cha thử Thầy Úy cậu này nấu cơm
Thầy Úy một mực, hơn không kém
Cùng với Cha được chém bay đầu
Cha Tự nhìn Úy nói câu
Con là Thầy giảng nguyện cầu xin vâng
Thầy quỳ xuống Cha dâng giải tội
Quan bắt đeo sớm tối xiềng gông
Tuổi mày còn trẻ phải không
Cái đầu cứng rắn hơn ông thầy mày
Một lần khác đổi thay dụ dỗ
Quan nói rằng Ảnh đó bước qua
Tha về làm thuốc tại nhà
Kiếm tiền sinh sống để mà vinh thân
Thầy Úy nói xa gần dẫn giải
Quan quá khen nhưng phải nghĩ suy
Chúa mày xa tít thấy gì