View Full Version : 70 bài giáo lý của ĐGH Gioan Phaolô II về Đức Maria
admin
16-06-2006, 02:49 PM
1. Đức Maria mẫu gương thánh thiện cho Giáo Hội
Thứ Tư, 6/9/1995
Qua mọi thời đại, Đức Maria vẫn luôn là Mẹ khả ái của Giáo Hội. Người cầu xin tuôn đổ tràn đầy ân sủng Chúa Thánh Thần và hướng dẫn các môn đệ tới gần Chúa Giêsu hơn.
1. Sau khi dừng lại trong những bài giáo lý trước để suy nghĩ sâu xa hơn về căn tính và sứ mạng của Giáo Hội, bây giờ tôi thấy cần nhìn về Đức Trinh Nữ rất thánh, Người thể hiện hoàn mỹ sự thánh thiện của Giáo Hội và là gương mẫu sự thánh thiện ấy.
Đó chính là điều các Nghị phụ Công đồng Vaticanô II đã làm, sau khi trình bày giáo lý về sự hiện diện thật sự của Dân Chúa trong lịch sử cứu rỗi, các nghị phụ muốn hoàn thành lịch sử ấy như minh hoạ vai trò của Đức Maria trong công cuộc cứu độ. Thật vậy, mục đích chương 8 Hiến chế Lumen Gentium là nhấn mạnh ý nghĩa Giáo Hội học của giáo lý về Đức Maria, nhưng hơn thế nữa, còn cho thấy hình ảnh Đức Trinh Nữ rất thánh giúp chúng ta hiểu rõ Mầu nhiệm của Giáo Hội.
2. Trước khi giải thích đường hướng Maria học của Công đồng, tôi muốn chiêm ngắm sâu xa Đức Maria theo như sách Công Vụ ghi lại, trong những ngày đầu Giáo Hội. Khởi đầu bản văn Tân Ước này miêu tả đời sống của cộng đồng kitô hữu đầu tiên, và sau khi nhắc đến tên các tông đồ từng người một, Thánh Luca viết: "Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu và với anh em của Đức Giêsu” (1, 14).
Con người Đức Maria hiện rõ nét trong bức tranh đó; Người là người phụ nữ duy nhất cùng với các tông đồ được nêu danh tánh. Người thể hiện một diện mạo của Giáo Hội, khác biệt và bổ khuyết cho phương diện thừa tác và phẩm trật.
3. Thật sự thì Thánh Luca nhắc tới sự hiện diện của một vài phụ nữ trên căn lầu, có ý chứng tỏ tầm quan trọng sự đóng góp của phụ nữ cho đời sống Giáo Hội ngay từ những ngày đầu. Sự hiện diện này liên kết chặt chẽ với sự kiên trì của cộng đồng trong cầu nguyện và hoà đồng. Những nét đó diễn tả đầy đủ hai khía cạnh cơ bản của sự đóng góp đặc biệt của phụ nữ cho đời sống Giáo Hội. Tuy có khả năng hơn đối với hoạt động bên ngoài, người nam vẫn cần sự trợ giúp của người nữ đưa về những quan hệ cá nhân, ngõ hầu tiến triển trong sự hợp nhất tâm hồn.
Vai trò của Đức Maria rất quan trọng
"Bà có phước lạ hơn mọi người nữ" (Lc 1, 42), Đức Maria làm trọn sứ mệnh nữ giới này một cách trổi vượt hơn hết. Ai có thể hơn Đức Maria trong việc thúc đẩy người tín hữu bền bỉ cầu nguyện? Ai có thể hơn Đức Maria trong việc thăng tiến sự hợp nhất và tình yêu?
Tuy vẫn nhìn nhận sứ mệnh mục vụ Chúa Giêsu đã giao phó cho nhóm 11, những người phụ nữ trên căn lầu, cùng với Đức Maria ở giữa họ, hợp với các tông đồ trong kinh nguyện và đồng thời chứng minh sự hiện diện trong Giáo Hội của những người tuy đã không nhận lãnh sứ mệnh đó, nhưng cũng là những thành phần đủ lông cánh của một cộng đoàn tụ họp trong đức tin vào Chúa Kitô.
4. Sự hiện diện của Đức Maria trong cộng đoàn đang cầu nguyện xin tuôn đổ ơn Chúa Thánh Thần (x. Cv 1, 14) nhắc tới vai trò của Người trong mầu nhiệm Nhập Thể của Người Con Thiên Chúa bởi phép Chúa Thánh Thần (x. Lc 1, 35). Vai trò của Đức Trinh Nữ trong giai đoạn đầu đó và vai trò của Người bây giờ trong việc khai sinh Hội Thánh vào ngày Lễ Hiện Xuống có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Sự hiện diện của Đức Maria trong những ngày đầu đời sống Giáo Hội nổi bật cách lạ lùng, so với sự tham gia rất kín đáo trước kia của Người trong đời sống hoạt động công khai của Chúa Giêsu. Khi Người Con khởi sự sứ vụ của Người, thì Đức Maria ở lại Nadaret, tuy nhiên sự cách biệt nầy đã không loại trừ những sự tiếp xúc đầy ý nghĩa như cuộc gặp gỡ tại Cana. Hơn nữa sự cách biệt đó không ngăn cản Đức Maria thông phần hiến tế Canvê.
Dầu sao trong cộng đoàn đầu tiên, vai trò của Đức Maria có một tầm quan trọng rất lớn. Sau ngày Chúa lên trời và trong lúc chờ đợi ngày Hiện Xuống, Mẹ Chúa Giêsu đích thân hiện diện trong những bước đầu của công trình mà Con Bà đã khởi sự.
5. Sách Công Vụ nhấn mạnh rằng, Đức Maria ở trên căn lầu với "các anh em của Người" (Cv 1, 14), có nghĩa là với các người bà con của Chúa Giêsu, như Giáo Hội hằng giải thích. Đây không phải đơn thuần là một cuộc gặp mặt gia đình, mà là, dưới sự hướng dẫn của Đức Maria, gia đình tự nhiên của Đức Giêsu trở nên thành phần gia đình thiêng liêng của Chúa Kitô: Chúa Giêsu đã nói: "Bất cứ ai thực thi ý muốn của Thiên Chúa đều là anh em, chị em và là mẹ tôi" (Mt 3, 35).
Cũng dịp nầy, Luca ghi rõ ràng Đức Maria là "Mẹ Chúa Giêsu" (Cv 1, 14), hầu như muốn nói Người Con đã lên trời, nhưng còn hiện diện cách nào đó qua sự hiện diện của người mẹ. Bà nhắc các môn đệ nhớ lại gương mặt của Chúa Giêsu, và với sự hiện diện của bà trong cộng đoàn, Bà là dấu chỉ sự trung thành của Giáo Hội đối với Chúa Kitô.
Tước hiệu "Người Mẹ" trong ngữ cảnh này khẳng định thái độ gần gũi mật thiết của Đức Maria trong suốt đời sống Giáo Hội. Đức Maria phải mở rộng lòng mình cho Giáo Hội để cho thấy những sự lạ lùng mà Thiên Chúa toàn năng và giàu tình thương đã thực hiện nơi Bà.
Đức Maria là Thầy dạy các kitô hữu cầu nguyện
Ngay từ những ngày đầu, Đức Maria đã đảm nhận vai trò "Mẹ Giáo Hội". Hành động của Người thúc giục sự hiểu biết giữa các tông đồ, mà Luca diễn tả là có sự đồng tâm nhất trí, khác với những sự đôi co đôi khi đã xảy ra giữa các ông trước đây.
Sau cùng Đức Maria biểu thị tình mẫu tử của Người đối với cộng đồng các tín hữu, không những bằng sự cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội những ơn cần thiết cho sự hình thành và tương lai của mình, mà còn dạy các môn đệ Chúa sống hiệp thông bền vững với Thiên Chúa.
Như thế, Đức Maria trở thành thầy dạy người kitô hữu biết cầu nguyện, biết gặp gỡ Thiên Chúa, một yếu tố trọng điểm và cần thiết, ngõ hầu việc làm của các mục tử và của người tín hữu luôn luôn bắt đầu bởi Thiên Chúa và có Thiên Chúa là động lực thúc đẩy nội tại.
6. Từ những ghi nhận vắn vỏi nầy, người ta có thể hiểu được cách so sánh biểu cảm mối tương quan giữa Đức Maria và Giáo Hội như là tương quan giữa hai bà mẹ. Nó biểu lộ rõ nét sứ mạng mẫu tử của Đức Maria và sự cam kết của Giáo Hội muốn đi tìm căn tính thực sự của mình bằng cách chiêm ngắm khuôn mặt của Mẹ Thiên Chúa (Theothókos).
admin
16-06-2006, 02:54 PM
ĐỨC MARIA LÀ MẸ ĐỒNG TRINH CỦA THIÊN CHÚA
Thứ Tư, 13/09/95
Ngay từ lúc mới bắt đầu, Giáo Hội đã nhận biết Đức Maria là người mẹ đồng trinh, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.
1. Trong Hiến chế Lumen Gentium, Công đồng xác quyết rằng: "Liên kết với Chúa Kitô Thủ lãnh và hiệp thông với toàn thể các Thánh, các tín hữu trước hết phải kính nhớ Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (số 52b). Hiến chế Công đồng trích ra những câu văn từ Kinh nguyện Thánh Thể Roma, để nhấn mạnh rằng đức tin vào thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria đã hình thành trong tư tưởng người kitô hữu từ những thế kỷ đầu rồi.
Giữa lòng Giáo Hội mới sinh, Đức Maria được nhắc tới với tước hiệu là "Mẹ Chúa Giêsu". Chính Thánh Luca xưng tụng Người với tước hiệu nầy trong sách Công Vụ Tông Đồ, một tước hiệu phù hợp hơn nữa với điều đã nói trong Tin Mừng: "Ông này không phải là … con bà Maria sao ?", dân thành Nadaret đã tự hỏi theo tường thuật của Thánh Maccô (6, 3). "Không phải bà Maria được biết là mẹ của ông ấy sao? " đó là thắc mắc mà Thánh Matthêô đã ghi lại. (x. 13, 55).
Chức làm mẹ của Đức Maria cũng liên quan tới Giáo Hội.
2. Dưới mắt các môn đệ, khi họ tụ họp sau ngày Chúa lên trời, thì tước hiệu Mẹ Chúa Giêsu đạt được đầy đủ ý nghĩa. Đối với các môn đệ, Đức Maria là một nhân vật có một không hai: Người đã lãnh nhận một đặc ân là sinh Đấng Cứu Thế cho nhân loại; Người đã có không ít thời gian sống bên cạnh Người Con; và trên Núi Sọ, Người đã được Đấng chịu đóng đinh trao phó một "chức danh mẹ mới" đối với người môn đệ yêu dấu và qua môn đệ đó, đối với toàn thể Giáo Hội.
Với những người tin vào Chúa Giêsu và đi theo Người, "Mẹ Chúa Giêsu" là một tước hiệu danh dự và tôn kính, sẽ luôn tồn tại như vậy trong niềm tin và đời sống của Giáo Hội. Cách riêng, bằng tước hiệu nầy, người kitô hữu muốn nói rằng, không thể tìm về nguồn gốc của Chúa Giêsu mà không biết vai trò người phụ nữ đã sinh hạ Người theo bản tính loài người, bởi phép Chúa Thánh Thần. Vai trò làm mẹ của Người cũng bao hàm việc ra đời và lớn lên của Giáo Hội. Khi nhắc tới vị trí Đức Maria trong đời sống của Chúa Giêsu, người tín hữu mỗi ngày khám phá ra sự hiện diện hữu hiệu của Bà trong cuộc hành trình thiêng liêng của mình.
3. Từ đầu Giáo Hội đã nhận biết chức mẹ đồng trinh của Đức Maria. Như các Tin Mừng thời thơ ấu cho phép chúng ta nắm chắc những người kitô hữu đầu tiên cùng nhau thu góp những ký ức của Đức Maria về những hoàn cảnh mầu nhiệm của việc thụ thai và sinh ra Chúa Giêsu. Cách riêng, trình thuật Truyền Tin đáp ứng nguyện vọng của các môn đệ muốn hiểu biết tường tận nhất những biến cố liên hệ đến những bước đầu trong đời sống trần thế của Chúa Kitô Phục Sinh. Sau khi xem xét kỹ lưỡng thì Đức Maria chính là nguồn gốc mặc khải về mầu nhiệm thụ thai đồng trinh bởi phép Chúa Thánh Thần.
Chân lý nầy minh chứng nguồn gốc thiên tính của Chúa Giêsu, được các tín hữu đầu tiên nắm bắt ngay vì ý nghĩa quan trọng của nó và được liệt kê vào những định tín nòng cốt của họ. Là con ông Giuse theo pháp lý, nhưng thật ra Chúa Giêsu do sự can thiệp lạ thường của Chúa Thánh Thần, lại chỉ là con của Đức Maria thôi theo nhân tính, bởi vì Chúa Giêsu được sinh ra mà không có sự can dự của người nam.
Như vậy sự đồng trinh của Đức Maria có một giá trị vô song và rọi ánh sáng mới trên sự sinh ra Chúa Giêsu và trên mầu nhiệm làm con của Người, vì sự sinh hạ đồng trinh là dấu chỉ Thiên Chúa là Cha Chúa Giêsu.
Được nhìn nhận và tuyên xưng do lòng tin của các Giáo phụ, chức làm mẹ đồng trinh không bao giờ bị tách rời khỏi căn tính của Chúa Giêsu, Chúa thật và người thật, "vì sinh bởi Bà Maria đồng trinh " như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính Nicênô. Đức Maria là người duy nhất vừa đồng trinh vừa làm mẹ. Sự hiện diện lạ kỳ của hai đặc ân nầy trong con người của cô thiếu nữ thành Nadaret là lý do khiến các kitô hữu gọi Đức Maria là "Đấng Đồng Trinh" đang khi họ vẫn tôn vinh chức làm mẹ của Người.
Như vậy sự đồng trinh của Đức Maria khai mào trong cộng đồng kitô hữu sự quảng bá nếp sống đồng trinh, một nếp sống được ôm ấp bởi tất cả những ai theo tiếng Chúa gọi. Ơn kêu gọi đặc biệt nầy đạt tới cao điểm của nó theo gương Chúa Kitô, biểu lộ sự phong phú thiêng liêng vô lường cho Giáo Hội qua các thời đại, Giáo Hội tìm được nơi Đức Maria nguồn cảm hứng và gương mẫu.
Mẹ Thiên Chúa là biểu hiệu của lòng sùng kính bình dân.
4. Xác nhận "Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria đồng trinh" là đã nhìn nhận một mầu nhiệm siêu nghiệm, mà biểu thức trọn vẹn của nó chỉ có thể gặp được trong chân lý Chúa Giêsu là người con có thần tính. Chân lý về chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria nối kết chặt chẽ với phát biểu trung tâm đức tin kitô hữu: Người thật là Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Đấng là"Thiên Chúa bởi Thiên Chúa... Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật".
Tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa" mà Thánh Matthêô chứng nhận trong biểu thức tương tự "Mẹ của Emmanuel", Thiên Chúa ở cùng chúng ta (x. Mt 1, 23), chỉ được minh nhiên gán cho Đức Maria sau gần hai thế kỷ gẫm suy. Chính những người kitô hữu ở vào thế kỷ thứ ba bên Ai cập mới bắt đầu gọi Đức Maria là "Theotókos", Mẹ Thiên Chúa.
Với tước hiệu nầy, một tước hiệu được tôn kính rộng rãi trong dân kitô hữu, Đức Mẹ được nhìn ngắm trong chiều kích thực sự của chức làm Mẹ: Người làm Mẹ của Thiên Chúa, Đấng mà Người đã sinh ra trong sự đồng trinh theo bản tính nhân loại và đã nuôi dưỡng với tình yêu mẫu tử của Người, như thế Người góp phần làm lớn mạnh bản tính nhân loại của Ngôi Thiên Chúa, Đấng đến để biến đổi vận mạng của nhân loại.
5. Bằng một cách thế thâm sâu giàu ý nghĩa, kinh xưa nhất kính Đức Maria "Sub tuum praesidium", Chúng con trông cậy rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời... hàm chứa lời kêu cầu "Theotókos" Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu không phải bắt nguồn từ các nhà thần học, nhưng từ cái nhìn đức tin của dân kitô hữu. Những người nhìn nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa thì khẩn cầu với Đức Maria như là Mẹ Thiên Chúa và hy vọng được sự trợ giúp quyền phép của Người trong các cơn gian nan cuộc đời.
Công đồng Ephêsô năm 431 định tín chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, công khai tặng cho Đức Mẹ tước hiệu Theotókos, qui chiếu về ngôi vị của Chúa Kitô, Đấng là Thiên Chúa và là người thật.
Ba biểu thức mà Giáo Hội dùng qua các thời đại để diễn tả đức tin của mình vào chức làm Mẹ của Đức Maria: 'Mẹ Chúa Giêsu', 'Mẹ đồng trinh' và 'Mẹ Thiên Chúa', chứng tỏ rằng chức làm Mẹ của Đức Maria liên kết mật thiết với mầu nhiệm Nhập thể. Những biểu thức ấy là những khẳng định về giáo lý, nối kết hài hoà với lòng sùng kính bình dân giúp định rõ căn tính của Đức Kitô.
admin
16-06-2006, 02:59 PM
ĐỨC MARIA HỢP NHẤT VỚI CHÚA GIÊSU TRÊN THÁNH GIÁ
Thứ Tư, 25/10/1995
Qua các thế kỷ, truyền thống Giáo Hội đã đánh giá sâu xa hơn nữa, việc Đức Maria hợp tác rất khắng khít trong sứ mạng cứu chuộc của Con Mình.
1. Khi nói "Đức Maria đồng trinh được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa, và của Đấng Cứu Thế" (LG 51), Công Đồng lưu ý tới mối giây liên kết giữa chức làm Mẹ của Đức Maria và sự cứu chuộc.
Sau khi hiểu biết vai trò làm Mẹ của Đức Maria, Đấng được tôn kính trong huấn giáo và phụng tự các thế kỷ đầu, như là Mẹ đồng trinh của Chúa Giêsu và do đó là Mẹ Thiên Chúa, thì tới thời Trung Cổ lòng đạo đức và suy niệm thần học mới đưa ra ánh sáng sự hợp tác của Người trong công trình Đấng Cứu Thế.
Sự trì hoãn này được giải thích là do những nỗ lực của các Giáo Phụ Giáo Hội, và của các Công đồng chung lúc đầu chỉ tập trung vào căn tính của Chúa Kitô, nên bắt buộc bỏ qua những phương diện khác của khoa tín lý. Dần dần chỉ có chân lý mặc khải mới được tỏ bày được hết vẻ phong phú của nó. Qua các thế kỷ, Maria học vẫn luôn luôn bắt nguồn từ Kitô học. Chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được tuyên bố tại Công Đồng Êphêsô, trước hết để khẳng định tính chất duy nhất của thân thể Chúa Kitô, đồng thời để hiểu sâu sắc hơn sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi.
2. Cuối thế kỷ thứ 2, Thánh Irênê, môn đệ thánh Polycarpô, đã nói rõ về sự dự phần của Đức Maria vào chương trình cứu thế. Thánh nhân hiểu rõ giá trị sự ưng thuận của Đức Maria lúc Truyền Tin, biểu lộ trong sự vâng phục và đức tin của Trinh Nữ thành Nadaret đối với sứ điệp của Thiên Thần. Do sự bất tuân và cứng tin của bà Eva là lý do đưa đến sự chết, thì đối lại, Đức Maria với tiếng "xin vâng" đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho chính Bà và toàn thể nhân loại (x. Adv. Haer. III, 22, 4; SC 211, 441). Nhưng xác quyết đó không phát triển một cách kiên định và hệ thống đối với các Giáo Phụ khác của Giáo Hội.
Đức Maria trở thành Mẹ thiêng liêng của toàn thể nhân loại.
Ngược lại Giáo lý này lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ 10, được một đan sĩ Bysantine là John Geometer nghiên cứu trong sách Life of Mary (đời sống Đức Maria). Ở đây Đức Maria được hợp nhất với Chúa Kitô trong toàn công trình cứu chuộc, thông phần theo chương trình Thiên Chúa vào Thánh Giá và đau khổ vì phần rỗi chúng ta, Đức Maria hợp nhất Con Mình "trong mọi việc, thái độ và ý muốn" (x. Life of Mary Bol. 196, f. 122 v.). Sự dự phần của Đức Maria với công trình cứu độ của Chúa Giêsu xuất phát từ tình yêu của Đức Maria một tình yêu được linh hứng do ân sủng mang lại cho nó một quyền lực cao hơn, tình yêu thoát ly khỏi tình cảm được chứng tỏ là nhân hậu nhất (x. Sđd Bol. 196, f. 123 v.).
3. Ở phương Tây, Thánh Bênađô (+1153) hướng về Đức Maria và giải thích việc dâng Chúa trong đền thờ: "Lạy Đức Trinh Nữ, xin hãy dâng Con của Mẹ và hoa trái lòng Mẹ lên Thiên Chúa để giao hoà chúng con với mọi người, xin Mẹ hãy dâng lễ vật hy sinh bởi trời đẹp lòng Thiên Chúa" (Serm. 3 In Purif. 2, PL 183, 370).
Một môn đệ cũng là bạn Thánh Bênađô, ông Arnold de Chartres, đã cho thấy rõ cách đặc biệt sự dâng hiến của Đức Maria trong hy lễ Núi Sọ. Ông phân biệt trên Thánh Giá "có hai bàn thờ: một trong lòng Đức Maria, bàn thờ kia trong xác Chúa Kitô. Chúa Kitô hy sinh Thịt mình, Đức Maria lòng mình". Đức Maria tế lễ mình cách thiêng liêng hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô và xin ơn cứu độ cho thế giới: "điều gì Người Mẹ xin, Người Con phê chuẩn và Chúa Cha ban cho" (x. De septem verbis Domini in cruce 3: PL 189, 1694).
Từ lúc đó về sau nhiều tác giả khác giải thích giáo lý về sự hợp tác cách riêng của Đức Maria vào hy lễ cứu chuộc.
4. Đồng thời trong phụng tự và lòng đạo đức kitô hữu phát triển sự suy tư chiêm niệm về "sự thương xót" của Đức Maria được mô tả cách chua xót trong những hình ảnh thương xót (Pieta). Sự chia sẻ của Đức Maria trong thảm cảnh Thập Giá làm cho biến cố này nên nhân bản sâu sắc hơn và giúp người tín hữu đi vào trong mầu nhiệm: Lòng thương xót của Bà Mẹ mặc khải rõ hơn sự thương khó của Người Con.
Nhờ chia sẻ công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, chức làm Mẹ thiêng liêng và phổ quát của Đức Maria cũng được công nhận. Bên phương Đông John Geometer thưa với Đức Maria: "Bà là Mẹ chúng con". Khi cảm tạ Đức Maria "vì sự buồn rầu và đau khổ Bà chịu vì chúng ta", ông cho thấy tình thương mẫu tử của Bà và sự để ý của người mẹ đối với những ai lãnh nhận ơn cứu độ (x. Farewell Discourse on the Dormition of Our Most Glorious Lady, Mother of God, in A. Wenger, L' Assomption de la très Sainte Vierge dans la tradition byzantine p. 407).
Bên phương Tây cũng vậy, giáo lý về chức làm Mẹ thiêng liêng phát triển với Thánh Anselmô, người nói: "Bà là người Mẹ của sự hoà giải và những kẻ được hoà giải, là Mẹ của sự cứu chuộc và là kẻ được cứu chuộc" (x. Oratio 52, 8: PL 158, 957 A.).
Đức Maria không ngừng được tôn kính như là Mẹ Thiên Chúa, nhưng sự kiện Bà là Mẹ của chúng ta thêm cho chức là Mẹ Thiên Chúa của Bà một khía cạnh mới mở đường cho chúng ta sống hiệp thông mật thiết hơn với Bà.
5. Chức làm Mẹ của Đức Maria đối với chúng ta không phải hệ tại một sự ràng buộc tình cảm mà thôi: Nhờ công nghiệp và sự cầu bàu của Bà, Bà dự phần hiệu nghiệm vào sự sinh ra thiêng liêng của chúng ta và sự phát triển đời sống ân sủng trong chúng ta, do đó Đức Maria được gọi là "Mẹ Ân Sủng" và "Mẹ Sự Sống".
Mẹ của Sự Sống mà từ đó mọi người được sống.
Tước hiệu "Mẹ Sự Sống" đã được Thánh Gregory thành Nyssa dùng, thì được thánh Guerric of Igny (+1157) giải thích như sau: "Bà là Mẹ Sự Sống mà từ sự sống ấy mọi người múc lấy sự sống: khi Bà sinh ra sự sống này, thì bằng cách nào đó Bà đã tái sinh tất cả những ai đã thông phần đời sống đó. Chỉ nhờ một Đấng được sinh ra mà tất cả chúng ta được tái sinh. (In Assumpt 1,2; PL 185, 188).
Một văn bản thế kỷ 13, Mariale, đã dùng một hình ảnh sống động khi quy sự tái sinh này cho sự sinh nở đau đớn "của núi Sọ" qua đó "Bà trở thành người Mẹ thiêng liêng của toàn thể nhân loại". Thật vậy "trong lòng dạ thanh sạch của Bà, Bà đã thụ thai, do lòng thương xót, các con cái của Giáo Hội" (Q 29, par 3).
Công Đồng Vatican II, sau khi nói Đức Maria "đã hợp tác một cách hoàn toàn đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, đã kết luận: "Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta" (LG 61). Như thế Công Đồng khẳng định cho Giáo Hội hiểu rằng Đức Maria ở bên cạnh Con Mình như là người Mẹ thiêng liêng của toàn nhân loại.
Đức Maria là Mẹ chúng ta: chân lý đầy an ủi này, mà tình yêu và đức tin Giáo Hội trao ban cho chúng ta một cách rõ ràng và sâu sắc hơn mãi, đã và đang nâng đỡ đời sống thiêng liêng của mọi người chúng ta, khích lệ chúng ta tin tưởng và cậy trông ngay cả trong đau khổ.
admin
16-06-2006, 03:05 PM
GIÁO HỘI NGÀY CÀNG THÊM HIỂU BIẾT VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA
Qua các thế kỷ, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội đã tìm hiểu rõ ràng hơn chân lý mặc khải về Mẹ Thiên Chúa.
1. Trong các bài giáo lý trước, chúng ta đã thấy rằng học thuyết về chức làm Mẹ của Đức Maria, đi từ biểu thức đầu tiên "Mẹ Chúa Giêsu" đến biểu thức đầy đủ và rõ rệt hơn "Mẹ Thiên Chúa" còn khẳng định sự dấn thân của Người với tư cách là Mẹ vào công cuộc cứu chuộc loài người.
Còn đối với các khía cạnh khác của học thuyết Maria, thì cần nhiều thế kỷ mới tới được sự định nghĩa công khai những sự thật được mặc khải liên hệ đến Đức Maria. Những ví dụ điển hình diễn tả cuộc hành trình của đức tin đó, một đức tin đưa tới chỗ khám phá sâu xa hơn vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi, đó là những tín điều "Đầu thai vô nhiễm nguyên tội " và " Hồn xác lên trời" được tuyên bố như chúng ta biết bởi các Vị tiền nhiệm đáng kính của Tôi, là Đầy tớ Chúa Đức Piô IX năm 1854, và Đầy Tớ Chúa Đức Piô XII dịp năm Thánh 1950.
Maria học là một lãnh vực đặc biệt của khoa nghiên cứu thần học; trong đó lòng yêu mến của dân kitô hữu đối với Đức Maria, qua trực cảm thường thấy trước nhiều khía cạnh của mầu nhiệm Đức Trinh Nữ rất thánh, đã kêu gọi các nhà thần học và mục tử lưu ý tới các vấn đề ấy.
Mẹ Chúa Giêsu đã đảm nhận vai trò trong lịch sử cứu rỗi.
2. Chúng ta phải công nhận rằng, ngó thoáng qua thì các sách Tin Mừng thông tin rất ít về con người và cuộc sống của Đức Maria. Chắc chúng ta ai cũng mong muốn có được thông tin nầy đủ hơn về Người, vì nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Mẹ Thiên Chúa.
Sự trông đợi nầy không được thoả mãn, cả đến trong các sách Tân Ước khác cũng thiếu sự phát triển rõ rệt về học thuyết liên quan tới Đức Maria. Thơ Thánh Phaolô, tuy cung cấp cho chúng ta một suy nghĩ phong phú về Chúa Kitô và công trình của Người, nhưng chỉ hạn chế trong câu phát biểu, tuy rất ý nghĩa rằng "Thiên Chúa đã sai Con của Người đến sinh bởi người nữ" (Gl 4, 4)
Tin Mừng nhất lãm rất ít nói về gia đình Đức Maria, trừ ra những trình thuật thời thơ ấu, thì trong chúng ta chỉ gặp hai câu nói, rọi chút ánh sáng về Đức Maria; một câu liên quan đến chủ mưu của "anh em Người" hay bà con Người, muốn bắt Chúa Giêsu về lại Nadaret (x. Mc 3, 21 ; Mt 12, 48) câu khác, để trả lời cho người đàn bà cao rao cái phúc của Mẹ Chúa Giêsu (Lc 11, 27)
Mặc dầu vậy, Thánh Luca trong Tin Mừng thời thơ ấu, trong những tình tiết về Truyền tin, Thăm viếng, Giáng sinh của Chúa Giêsu, Dâng con trẻ trong Đền Thánh và Gặp lại Người giữa các bậc thầy lúc Người được 12 tuổi, không những cung cấp cho chúng ta vài sự kiện quan trọng, nhưng cũng nêu lên học thuyết "tiền Maria" cơ bản đầy thích thú. Thông tin của Thánh Luca được Thánh Matthêô bổ sung cách gián tiếp khi tường thuật về việc báo tin cho Thánh Giuse (Mt 1, 18-25), nhưng chỉ quan tâm về sự mang thai đồng trinh Chúa Giêsu.
Vả lại, Tin Mừng Thánh Gioan cho chúng ta hiểu biết sâu xa giá trị về mặt lịch sử cứu rỗi của vai trò mà Mẹ Chúa Giêsu nắm giữ khi Tin Mừng ấy thuật lại sự hiện diện của Đức Maria ngay thời kỳ đầu cũng như thời kỳ cuối đời sống công khai của Người. Sự hiện diện của Đức Maria dưới chân Thánh giá có ý nghĩa đặc biệt, khi Đức Maria nhận lãnh từ Người Con đang hấp hối của mình trách nhiệm làm Mẹ người môn đệ yêu quý, và qua người môn đệ đó, làm Mẹ tất cả mọi kitô hữu (x. Ga 2, 1-12; 19, 25-27).
Sau cùng sách Công Vụ Tông đồ nhắc tới tên Mẹ Chúa Giêsu giữa các người phụ nữ của cộng đồng đầu tiên đang chờ ngày lễ Hiện xuống (x. Cv 1, 14).
Dầu vậy, vì thiếu bằng chứng hiển nhiên của Tân Ước và thiếu những nguồn tin đáng tin cậy, nên chúng ta không biết gì về đời sống của Đức Maria sau biến cố Ngũ Tuần, cũng không biết thời gian và hoàn cảnh sự qua đời của Người. Chúng ta chỉ có thể giả thuyết rằng Đức Maria tiếp tục sống với tông đồ Gioan và Người dấn thân rất khắn khít trong việc làm phát triển cộng đồng kitô hữu đầu tiên.
3. Thông tin thưa thớt về đời sống trần gian của Đức Maria, được bù đắp lại bởi phẩm chất và sự phong phú có tính thần học của nó, điều này khoa chú giải ngày nay đang tìm đưa ra ánh sáng.
Hơn nữa, chúng ta phải nhớ rằng quan điểm các nhà chép Tin Mừng thì hoàn toàn có tính Kitô học và liên quan đến Mẹ chỉ khi nào ca tụng Người Con. Như Thánh Ambrosio nhận xét, tác giả Tin Mừng khi trình bày mầu nhiệm Nhập Thể, "tin rằng tốt hơn là không tìm kiếm những chứng từ về đức đồng trinh của Mẹ Maria, để khỏi bị coi như là người bênh vực Đức Trinh Nữ hơn là rao giảng về mầu nhiệm"(Exp. in Lucam 2, 6 ; PL 15, 15).
Chúng ta có thể nhìn thấy trong sự kiện nầy ý định đặc biệt của Chúa Thánh Thần, Người muốn thức tỉnh nơi Giáo Hội một cố gắng nghiên cứu giữ được trung tâm tính của mầu nhiệm Chúa Kitô, mà không bị vướng vào những chi tiết thuộc về cuộc sống Đức Maria, nhưng nhắm trước hết vai trò của Bà trong công trình cứu chuộc, sự thánh thiện cá nhân của Bà và sứ mạng làm Mẹ của Bà trong đời sống kitô hữu.
Đức tin của thường dân đã nhìn nhận sự thánh thiện của Đức Maria
4. Chúa Thánh Thần hướng dẫn nỗ lực của Giáo Hội, giao cho Giáo Hội học hỏi chính những thái độ của Đức Maria. Trong tường thuật về sự sinh ra Chúa Giêsu, Thánh Luca ghi chép rằng" Đức Maria ghi nhớ mọi sự đó, suy niệm chúng trong lòng"(Lc 2, 19), có nghĩa là cố gắng thu gọn trong một cái nhìn sâu hơn, tất cả những sự việc mà Người là chứng nhân ưu tiên.
Cũng vậy, dân Chúa cũng được Chúa Thánh Thần thúc giục khám phá thâm sâu tất cả những gì đã được nói về Đức Maria, ngỏ hầu tiến triển trong sự hiểu biết sứ mạng của Người, một sứ mạng liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Khoa Maria học mà phát triển, thì vai trò riêng của dân kitô hữu xuất hiện. Qua sự khẳng định và chứng từ đức tin của họ, họ hợp tác phát triển học thuyết Maria, học thuyết nầy thường không chỉ là công trình của các nhà thần học, cho dầu công tác của họ là cần thiết để đào sâu và giải thích rõ ràng dữ kiện của đức tin và kinh nghiệm kitô hữu.
Chúa Giêsu thán phục và khen ngợi đức tin của người bình dân, vì nhận thấy ở đó lòng nhân từ của Chúa Cha được biểu lộ lạ lùng (x. Mt 11, 25 ; Lc 10, 21 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 11:25; Lk 10:21)) Trải qua bao thế kỷ, đức tin ấy tiếp tục cao rao những việc lạ lùng trong lịch sử cứu rỗi ẩn giấu đối với những kẻ khôn ngoan. Đức tin đó, ăn khớp với sự đơn sơ của Đức Trinh Nữ đã giúp phát triển mặt hiểu biết thánh thiện cá biệt của Đức Maria và giá trị siêu việt của chức làm Mẹ của Người.
Mầu nhiệm Đức Maria giao cho mọi người kitô hữu trong niềm hiệp thông với Giáo Hội biết "suy nghĩ trong lòng" những gì mặc khải Tin Mừng khẳng định về Mẹ Chúa Kitô. Theo logic kinh Magnifficat, đi sau gương Đức Maria, mỗi người kitô hữu sẽ đích thân nếm mùi tình yêu của Thiên Chúa và sẽ khám phá một dấu chỉ lòng nhân lành Thiên Chúa đối với con người, qua những sự lạ Thiên Chúa Ba Ngôi đã thực hiện nơi người nữ "ĐẦY ƠN PHƯỚC".
admin
16-06-2006, 03:25 PM
TÔN KÍNH ĐỨC MARIA LÀ ĐI TỚI CHÚA GIÊSU
Thứ Tư, 15/11/1995
1. Trong các bài giáo lý trên, chúng ta đã theo dõi sự suy nghĩ của Cộng đồng kitô hữu về gương mặt và vai trò của Đức Trinh Nữ Rất Thánh trong lịch sử cứu rỗi, đã hình thành cách nào từ những thời gian sớm nhất, hôm nay chúng ta nên dừng lại suy nghĩ về kinh nghiệm của Giáo Hội đối với Đức Maria.
Sự phát triển tư tưởng Maria học và lòng sùng kính Đức Trinh Nữ rất thánh qua bao thế kỷ, đã góp phần khám phá rõ hơn phương diện Maria trong Giáo Hội. Dĩ nhiên, Đức Trinh Nữ rất thánh hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa Kitô, nền tảng đức tin và kinh nghiệm của Giáo Hội, và Mẹ dẫn đưa tới Chúa. Đó là lý do mà, vì vâng lời Chúa Giêsu, Đấng đã dành một vai trò rất đặc biệt cho Mẹ Người trong nhiệm cục cứu rỗi, người kitô hữu đã tôn kính, yêu mến và cầu xin với Đức Maria một cách đặc biệt và sốt sắng nhất. Người kitô hữu đã dành cho Mẹ một chỗ đứng quan trọng trong đức tin và lòng mộ mến, công nhận Mẹ là con đường ưu tiên dẫn đưa tới Chúa Kitô, Đấng Trung Gian tối cao.
Như vậy chiều kích Maria của Giáo Hội là một yếu tố không thể chối cãi trong kinh nghiệm của dân kitô hữu. Chiều kích đó được diễn tả bằng nhiều cách trong đời sống người tín hữu, làm chứng cho chỗ đứng vững vàng của Đức Mẹ trong con tim của họ. Đó không phải là một cảm giác nông cạn, nhưng là một mối ràng buộc đầy cảm xúc sâu xa và có ý thức đâm rễ trong đức tin, thúc giục người kitô hữu, quá khứ cũng như hiện tại luôn luôn quay trở về với Đức Maria, đi vào trong sự hiệp thông mật thiết hơn với Chúa Kitô.
2. Sau kinh xưa nhất mà các cộng đồng kitô hữu ở thế kỷ thứ ba, tại Ai Cập xử dụng để kêu cầu "Mẹ Thiên Chúa" phù hộ trong cơn gian nan, còn nhiều kinh cầu khác dâng lên Đức Maria, Đấng mà những kẻ đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhìn nhận như người quyền phép, nhất là khi Mẹ can thiệp với Chúa.
Người kitô hữu đã diễn tả lòng sốt sắng thâm sâu với Đức Maria
Ngày nay, kinh đọc thường nhất là kinh Kính Mừng, mà phần đầu gồm toàn những lời rút ra từ Tin Mừng (x. Lc 1, 28. 42). Người kitô hữu học đọc nó tại nhà từ lúc niên thiếu, và lãnh nhận nó như là một ơn quí báu phải bảo tồn suốt đời. Cũng kinh đó, lặp đi lặp lại hàng chục lần trong kinh Mân Côi, giúp nhiều người tín hữu nguyện ngắm những mầu nhiệm Tin Mừng và đôi khi tiếp xúc lâu giờ với Mẹ Chúa Giêsu. Từ thời Trung Cổ, kinh Kính Mừng là kinh những người tín hữu thường dùng nhất để cầu xin Mẹ Rất Thánh của Chúa hướng dẫn và bênh vực họ trong cuộc hành trình hằng ngày của cuộc đời (x. Apostolic Exhortation Marialis Cultus, nn. 42-55).
Dân kitô hữu cũng đã diễn tả tình yêu của mình đối với Đức Maria bằng nhiều hình thức sùng kính, thánh ca, lời kinh và những sản phẩm thi ca đơn sơ hay nhiều khi có giá trị cao, thấm nhuần cũng một tình yêu đối với người mà Đấng chịu đóng đinh đã trao ban để làm Mẹ loài người. Một vài bài như Thánh ca Akathist, và kinh "Salve Regina "đã ghi đậm đức tin của các người tín hữu.
Thay cho sự sùng kính Đức Maria, là những tác phẩm mỹ thuật rất súc tích bên Đông cũng như bên Tây, nhờ đó mà mọi thế hệ có thể hiểu rõ về nét đẹp thiêng liêng của Đức Maria. Những nhà điêu khắc, những nhạc sĩ và những thi nhân đã lưu lại cho chúng ta nhiều kiệt tác, phản ánh trên nhiều khía cạnh sự cao cả của Đức Trinh Nữ rất thánh, giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa và giá trị của sự hợp tác cao đẹp của Người cho công trình cứu rỗi.
Trong Đức Maria, người kitô hữu nhận ra sự hoàn thành một nhân loại mới đúng theo chương trình của Thiên Chúa, nên đó là một dấu chỉ siêu việt của niềm hy vọng cho tất cả nhân loại.
3. Sứ điệp này không thể nắm bắt được về phía những kitô hữu được kêu gọi sống tận hiến riêng biệt. Thật vậy, Đức Maria được đặc biệt tôn kính trong những Dòng Tu và Tu Hội, trong những hội dòng và hiệp hội sống đời sống tận hiến. Nhiều hội dòng, nhất là hội dòng nữ nhưng không hẳn chỉ có hội dòng nữ, lấy tên Đức Maria mà đặt cho hội dòng mình. Mặc dầu vậy, bên trên những diễn tả ngoại tại, linh đạo các dòng tu, cũng như nhiều phong trào thuộc Giáo Hội, mà một số có tính Maria, giương cao mối dây thắt chặt họ với Đức Maria như người bảo đảm ơn đoàn sủng mà họ sống cách đầy đủ và chính quy.
Sự quy chiếu về Đức Maria trong đời sống của những ai được Chúa Thánh Thần chiếu cố cách riêng, cũng đã phát triển chiều kích huyền bí, nó chứng tỏ người kitô hữu kinh nghiệm ra sao về sự can thiệp của Đức Maria trong bề thâm sâu nhất của mình.
Sự qui chiếu nầy về Đức Maria trói buộc không những những người kitô hữu đã dấn thân, mà còn những người tín hữu bình thường và có khi những người "ở xa", đối với những người này thường đó chỉ là một sự liên kết duy nhất giữa họ với Giáo Hội. Các cuộc hành hương đến các đền kính Đức Maria, với số đông người tín hữu quanh năm, là một dấu chỉ cảm tình chung của dân kitô hữu đối với Mẹ Chúa. Một vài công trình dâng kính Đức Maria nổi tiếng như Lộ Đức, Fatima, Loretto, Pompei, Guadalupe và Czetochowa! Nhiều nơi khác chỉ trên bình diện quốc gia hay địa phương. Trong tất cả những nơi ấy, sự kính nhớ các biến cố liên kết với niềm cậy trông vào Đức Maria, mang đến tín hiệu nói lên lòng nhân hậu của người Mẹ mở lòng chúng ta đón nhận ơn Chúa.
Những nơi để cầu nguyện với Đức Maria là một chứng cứ lạ lùng về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người qua lời cầu bàu của Đức Maria. Những phép lạ chữa bệnh thể xác, cứu rỗi thiêng liêng, và ơn trở lại là dấu chỉ tỏ tưởng rằng: với Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần, Đức Maria vẫn tiếp tục công trình của Mẹ như người trợ giúp và người mẹ.
Chiều kích Maria thâm nhập toàn bộ đời sống Giáo Hội.
4. Những Đền Đức Maria thường biến thành những trung tâm rao giảng Tin Mừng. Thật vậy, ngay cả trong Giáo Hội ngày nay cũng như trong cộng đoàn đang chờ ngày Hiện xuống, sự cầu nguyện với Đức Maria thúc giục nhiều người kitô hữu làm việc tông đồ và phục vụ anh chị em mình. Ở đây tôi muốn trước tiên nhắc lại ảnh hưởng to lớn của lòng sùng kính Đức Maria đối với việc thực thi đức bác ái và những công tác từ thiện. Do sự hiện diện của Đức Maria khuyến khích, các người tín hữu thường cảm thấy nhu cầu hiến mình phục vụ cho người nghèo, người xấu số và bệnh tật, ngõ hầu người thấp bé nhất trên mặt đất nầy cũng thấy được dấu chỉ sự bảo trợ từ mẫu của Đức Trinh Nữ rất thánh, biểu tượng sống động diễn tả lòng thương xót của Chúa Cha.
Do sự kiện này người ta thấy rõ chiều kích Maria thâm nhập toàn bộ đời sống Giáo Hội. Việc công bố Lời Chúa, phụng vụ, những diễn tả có tính bác ái và văn hoá gặp được trong Đức Maria một dịp đưa tới tiến trình làm phong phú và đổi mới.
Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của các mục tử mình, được kêu mời nhận thức rõ trong sự kiện này, hành động của Chúa Thánh Thần thúc đẩy đức tin kitô hữu tiến lên trong khi khám phá ra gương mặt của Đức Maria. Chính Người thực hiện những việc lạ lùng trong các trung tâm sùng kính Đức Maria. Chính Người, bằng cách động viên sự hiểu biết và lòng yêu đối với Đức Maria, hướng dẫn người tín hữu học hỏi nơi Đức Trinh Nữ của kinh Magnificat, cách thức đọc ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử và tiếp thu sự khôn ngoan biến mỗi người nam nữ thành những nhà xây dựng nên một nhân loại mới.
admin
16-06-2006, 03:27 PM
ĐỨC MARIA MẪU GƯƠNG CỦA SỰ THINH LẶNG TRƯỜNG KỲ
Thứ Tư, 22/11/1995
Đức Trinh Nữ rất thánh kêu mời Giáo Hội năng suy gẫm về mầu nhiệm Chúa Kitô và làm chứng cho ý nghĩa của sự khiêm tốn bình thản và sự vâng phục trong tình yêu.
1. Sau khi suy nghĩ về chiều kích Maria trong đời sống Giáo Hội, bây giờ chúng ta đi tìm hiểu về sự phong phú thiêng liêng lớn lao mà Đức Maria chuyển thông cho Giáo Hội bằng gương sáng và sự chuyển cầu của Người.
Trước hết chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ vắn gọn về một vài nét quan trọng trong nhân cách của Đức Maria. Nhờ đó các người tín hữu có được sự hướng dẫn đáng kể để nhận lãnh và làm trọn ơn gọi riêng của mình.
Đức Maria đã đi trước chúng ta trong con đường Đức tin: tin vào sứ điệp của Thiên Thần, Đức Maria là người đầu tiên tiếp nhận mầu nhiệm nhập thể và tiếp nhận cách hoàn hảo, (x. Redemptoris Mater, n. 13). Cuộc hành trình của Người với tư cách người tín hữu đã bắt đầu sớm hơn là tư cách làm Mẹ Thiên Chúa và phát triển sâu xa hơn xuyên suốt kinh nghiệm trần thế của Người. Đức tin của Người là một đức tin táo bạo. Trong ngày Truyền tin Đức Maria đã tin điều không thể thực hiện theo quan điểm nhân loại, và tại thành Cana Người nài xin Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên, thúc ép Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng cứu thế của Ngài (x. Ga 2, 1-5).
Đức Maria dạy người kitô hữu sống đức tin của mình, như là một hành trình đòi hỏi và bắt buộc, cần đến sự can đảm và bền bỉ liên tục trong mọi lứa tuổi và hoàn cảnh cuộc sống.
Đức Maria sống một đời sống khiêm tốn và ẩn giấu
2. Tính ngoan ngoãn của Đức Maria đối với ý muốn của Thiên Chúa được nối kết với đức tin của Người. Tin vào Lời Chúa, Đức Maria có thể nhận lãnh Lời Chúa cách đầy đủ trong đời sống mình và để chứng tỏ mình dễ tiếp thu chương trình tối thượng của Thiên Chúa, Đức Maria đón nhận tất cả những gì từ trời đòi hỏi nơi Người.
Sự hiện diện của Đức Mẹ trong Giáo Hội thúc giục người kitô hữu nghe Lời Chúa hằng ngày, tìm hiểu chương trình tình yêu của Chúa trong mọi biến cố hằng ngày, và trung thực cộng tác thực hiện chương trình ấy.
3. Đây là cách thức Đức Maria dạy cộng đồng tín hữu nhìn vào tương lai với sự hoàn toàn phó thác vào Chúa. Trong kinh nghiệm cá nhân của Đức Maria, đức cậy được làm giàu thêm với những lý do luôn mới mẽ. Đức Maria tập trung những chờ đợi của dân Ít-ra-en xưa cũ vào Người Con Thiên Chúa, nhập thể trong lòng trinh khiết của Mẹ. Đức cậy của Mẹ được tăng cường trong những giai đoạn liên tiếp thuộc đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nadaret và trong chức vụ công khai của Người. Niềm tin lớn lao vào Lời Chúa Kitô đã tiên báo Người sẽ trở lại ngày thứ ba, không để Đức Maria chao đảo, cho dầu phải đương đầu với thảm cảnh Thập giá. Đức Maria giữ vững hy vọng được thấy công trình cứu thế thực hiện trọn vẹn và sau bóng tối ngày thứ Sáu tuần thánh. Mẹ đã kiên định đón chờ sáng ngày Phục Sinh.
Trên con đường gay go qua dòng lịch sử, giữa "cái đã rồi" của công trình cứu chuộc và "cái chưa hoàn thành "của sự thực thi, cộng đồng tín hữu biết phải dựa vào sự giúp đỡ của Mẹ hy vọng. Sau khi đã kinh nghiệm chiến thắng của Chúa Kitô trên các quyền lực sự chết, Đức Maria chuyển sang cho họ một năng lực luôn mới mẽ để chờ đợi ngày mai của Thiên Chúa và phó thác mình cho những lời hứa của Chúa Giêsu.
4. Gương sáng của Đức Maria cho phép Giáo Hội hiểu rõ giá trị của sự "thinh lặng". Sự thinh lặng của Đức Maria không phải là ít nói, nhưng đặc biệt nó là một khả năng khôn ngoan ghi nhớ và ôm ấp trong duy một cái nhìn đức tin, mầu nhiệm Ngôi Lời làm người và những biến cố của đời sống trần gian.
Đức Maria truyền sang người tín hữu sự thinh lặng đó như là một sự đón nhận Ngôi Lời, truyền sang cái khả năng suy gẫm mầu nhiệm Chúa Kitô. Trong một thế giới ồn ào đầy dẫy những thông tin đủ loại, chứng từ của Đức Maria cho phép chúng ta đánh giá cao sự thinh lặng phong phú về mặt thiêng liêng và nuôi dưỡng một tinh thần nguyện ngắm.
Đức Maria là chứng nhân của một đời sống khiêm tốn và ẩn giấu. Thường thường thì ai cũng muốn và có khi đòi hỏi phải thực thi đầy đủ nhân vị và các đức tính của mình. Bất cứ ai cũng nhạy cảm đối với sự tôn kính và danh vọng. Các sách Tin Mừng thường nhắc đến việc các tông đồ ham muốn những vị trí quan trọng trong Nước Trời và họ tranh cãi nhau ai là người lớn nhất trong bọn họ. Trong vấn đề nầy, Chúa Giêsu dạy các ông sự cần thiết sống khiêm tốn và phục vụ (x. Mt 18, 1-5 ; 20, 20-28 ; Mc 9, 33-37 ; 10, 35-45 ; Lc 9, 46-48 ; 22, 24-27). Đức Maria, ngược lại không bao giờ tìm kiếm danh vọng hay những đặc lợi của một địa vị ưu đãi : Mẹ luôn luôn cố gắng thực thi ý Chúa, sống một cuộc đời thuận theo chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa Cha.
Đối với tất cả những ai cảm thấy gánh nặng của một cuộc đời xem ra vô nghĩa, thì Đức Maria cho thấy sự sống có ý nghĩa nếu nó được sống vì tình yêu Chúa Kitô và yêu anh chị em mình.
5. Hơn nữa Đức Maria còn là chứng nhân cho giá trị của một cuộc sống thanh sạch và đầy nhân hậu đối với mọi người. Sự tốt đẹp của tâm hồn Mẹ, hoàn toàn dâng hiến Chúa, là một đối tượng được dân kitô hữu cảm phục. Nơi Đức Maria, cộng đồng kitô hữu luôn thấy ra một người đàn bà lý tưởng, đầy tình thương và nhân ái, vì Mẹ sống thanh sạch cả hồn lẫn xác.
Trước thuyết hoài nghi của một nền văn hoá hiện đại kia, thuyết đó thường là không thừa nhận giá trị đức trinh khiết và làm giảm giá bản năng giới tính vì tách biệt nó ra ngoài phẩm giá con người và chương trình của Thiên Chúa, thì Đức Maria đồng trinh giương cao chứng từ đức thanh khiết, một nhân đức soi sáng lương tâm và dẫn tới một tình yêu mạnh hơn đối với các thụ tạo và Thiên Chúa.
6. Hơn nữa, các kitô hữu của mọi thời đại coi Đức Maria là người có lòng trắc ẩn sâu xa đối với đau khổ của nhân loại. Lòng trắc ẩn nầy không chỉ là một sự thương cảm xúc động, nhưng nó được diễn tả qua sự giúp đỡ hữu hiệu và cụ thể khi giáp mặt với nỗi khốn khổ vật chất và tinh thần của nhân loại.
Theo chân Đức Maria, Giáo Hội được mời gọi có cùng một thái độ đối với tất cả những người nghèo khổ và những nỗi khổ đau trên mặt đất nầy. Sự quan tâm từ mẫu của Mẹ Thiên Chúa đối với nước mắt, đau khổ và vất vả của những người nam nữ qua các thời đại, phải thúc đẩy người kitô hữu, cách riêng khi ngàn năm mới bắt đầu, gia tăng những dấu chỉ cụ thể và thấy được của một tình yêu qua đó dân nghèo hèn và đau khổ ngày nay có khả năng chia sẻ những lời hứa và hy vọng một thế giới mới phát sinh từ Lễ Phục Sinh.
7. Lòng yêu mến và sùng kính Mẹ Chúa Giêsu vượt qua ranh giới bề ngoài của Giáo Hội và nuôi dưỡng những tâm tình hoà giải. Với tư cách người mẹ, Đức Maria ao ước con cái mình đoàn kết với nhau. Sự hiện diện của Mẹ trong Giáo Hội là một lời mời gọi bảo toàn sự đồng tâm nhất trí ngự trị trong cộng đồng đầu tiên (x. Cv 1, 14) và từ đó tìm kiếm những cách thế hợp nhất và hoà bình giữa những người nam nữ có thiện ý.
Khi can thiệp với Con mình, Đức Maria xin ơn hiệp nhất cho cả nhân loại, ngõ hầu xây dựng một nền văn minh tình yêu, khắc phục những khuynh hướng chia rẽ, những cám dỗ báo oán hận thù và sự quyến rũ tai hại của bạo lực.
admin
16-06-2006, 03:28 PM
Đức Maria là nguyên nhân nỗi vui mừng chúng ta
Nụ cười hiền mẫu của Đức Mẹ, hoạ lại trong nhiều bức ảnh kính Đức Mẹ, diễn tả sự tràn đầy duyên dáng và hoà bình muốn được chia sẻ. Sự diễn tả tinh thần bình thản của Đức Mẹ thật sự góp phần làm cho Giáo Hội có một gương mặt vui tươi.
Trong ngày Truyền tin, đón nhận lời chào của thiên thần hãy "vui mừng" (Lc 1, 28), Đức Maria là người thứ nhất chia sẻ niềm vui cứu thế mà các ngôn sứ đã loan báo trước cho "thiếu nữ Sion" (x. 12, 6; Xp 3, 14-15; Dcr 9, 9), và Mẹ truyền sang nó cho nhân loại trong mọi thời đại.
Kêu cầu Mẹ như: "nguyên nhân vui mừng của chúng ta", dân kitô hữu gặp nơi Đức Mẹ cái khả năng truyền thông niềm vui xuất phát từ niềm hy vọng, dầu ở giữa những thử thách cuộc đời, và dẫn đưa những ai phó thác mình cho Đức Mẹ tới niềm vui đời đời.
admin
16-06-2006, 03:30 PM
ĐỨC MARIA CHỨNG TỎ THIÊN CHÚA NỂ TRỌNG NGƯỜI NỮ
Thứ Tư, 29/11/1995
Giáo Hội chủ trương rằng có nhìn kỹ gương mặt của Đức Maria trong Tin Mừng, thì người ta mới thấy đó là một gương đích thực giải phóng người nữ theo chương trình của Thiên Chúa.
1. Những khía cạnh thần học và thiêng liêng của giáo huấn Giáo Hội về Đức Maria phát triển rộng rãi trong thế kỷ của chúng ta, mới đây lại thu được một tầm quan trọng nữa từ quan điểm xã hội và mục vụ, cũng nhờ người ta hiểu rõ hơn vai trò người nữ trong công đồng kitô hữu và xã hội, như chúng ta thấy qua những lần can thiệp đáng chú ý của Huấn Quyền.
Chúng ta biết rõ sứ điệp các nghị phụ gởi cho giới nữ, lúc bế mạc công đồng Vatican II ngày 8/12/1965: "nhưng thời giờ đang đến, thực sự đã đến, khi ơn gọi của người nữ được hoàn thành trong sự đầy đủ của nó, thời giờ mà người nữ trên thế giới gặt hái được một ảnh hưởng, một hiệu năng và một quyền lực chưa bao giờ được thành toàn cho đến nay" (Enchirion Vat. 1, 307)
Một vài năm sau tôi đã xác quyết những khẳng định này trong Thông Điệp Mulieris Dignitatem: " phẩm giá và ơn gọi của người nữ, một chủ đề thường xuyên dược suy nghĩ về mặt nhân bản và kitô hữu, được chú ý đặc biệt trong những năm gần đây" (số 1)
Vai trò và phẩm giá người phụ nữ được bảo vệ đặc biệt trong thế kỷ này nhờ phong trào bênh vực nữ quyền. Một phong trào tìm cách phản ứng, đôi khi bằng những đường lối bạo động, chống lại tất cả những gì trong quá khứ hay hiện tại ngăn cản nhân cách phụ nữ được đánh giá và phát triển đúng cũng như quyền họ được tham gia vào các biểu hiện của đời sống xã hội và chính trị.
Những đòi hỏi này phần lớn là hợp lý và góp phần tạo nên một cái nhìn cân đối hơn về vấn đề phụ nữ trong thế giới ngày nay. Giáo Hội, đặc biệt trong thời gian gần đây, lưu ý nhiều đến các đòi hỏi này, vì Giáo Hội được thúc đẩy bởi sự kiện này là hình ảnh của Đức Maria, nếu được nhìn trong ánh sáng đời sống Tin Mừng của Người, thì đó là câu trả lời vững chắc cho người nữ mong muốn được giải phóng: Đức Maria là một nhân vật duy nhất thực thi xuất sắc chương trình tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Mỗi người nữ đều chia sẻ phẩm giá cao cả của Đức Maria
2. Chương trình này đã được bày tỏ trong Cựu Ước, qua bài tường thuật việc sáng tạo giới thiệu cặp đầu tiên được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa: "Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, Người đã dựng nên nó là nam, là nữ, Người đã dựng nên chúng" (St 1, 27). Như vậy người nữ, không thua kém người nam, mang hình ảnh Thiên Chúa trong mình. Điều đó có nghĩa là người nữ cũng được đánh giá cao, vì người nữ xuất hiện trên mặt đất như là kết quả hành động của Thiên Chúa: " Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã dựng nên, và này tốt lành quá đỗi" (St 1, 31). Theo cái nhìn này, sự khác biệt giữa người nam và người nữ không ngụ ý sự thấp kém hay bình đẳng của người nữ, nhưng sự khác biệt đó là một yếu tố mới, làm giàu thêm chương trình của Thiên Chúa và "tốt quá đỗi".
Dầu vậy, ý Thiên Chúa đi xa hơn cái gì đã được mặc khải trong Sách Sáng Thế. Thực vậy, nơi Đức Maria Thiên Chúa đã tạo dựng nên một nhân cách phụ nữ vượt xa hoàn cảnh thông thường của người phụ nữ như thấy qua sự sáng tạo bà Eva. Sự trổi vượt độc nhất của Đức Maria trong thế giới ân sủng và sự trọn lành của Người là hậu quả của lòng nhân từ đặc biệt của Thiên Chúa. Người muốn nâng cao mọi người tới sự trọn lành luân lý và sự thánh thiện xứng hợp với những nghĩa tử của Thiên Chúa. Đức Maria "được chúc phúc giữa các người phụ nữ" cho nên mỗi người phụ nữ cũng chia sẻ cách nào đó với phẩm giá cao cả của Đức Maria trong chương trình của Thiên Chúa.
3. Ơn cao trọng ban cho Mẹ Thiên Chúa, không những minh chứng điều mà chúng ta có thể gọi là Thiên Chúa nể trọng phụ nữ, mà còn làm nổi bật cái nhìn thâm sâu trong chương trình của Thiên Chúa vào vai trò không thể thay thế của phụ nữ trong lịch sử nhân loại.
Người phụ nữ cần khám phá ra sự quý trọng này của Thiên Chúa, để ý thức hơn về phẩm giá cao trọng của mình. Những hoàn cảnh lịch sử và xã hội phát sinh sự phản ứng của phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ, lại thiếu sự coi trọng giá trị người nữ; thường người nữ bị hạ xuống hàng thứ yếu hay gạt ra bên lề. Điều đó không cho phép người nữ phát huy đầy đủ kho tàng lý trí và khôn ngoan chất chứa trong nữ tính của họ. Thật vậy, suốt dòng lịch sử người phụ nữ thường đau khổ vì người ta ít tôn trọng những tài năng của họ, mà đôi khi còn khinh thường và xử bất công. Đó là một khẳng định cho những việc, mặc dầu có những thay đổi lớn lao, mà ngày nay thật đáng tiếc vẫn còn tiếp tục xảy ra tại nhiều quốc gia và nhiều phần trong thế giới.
4. Hình ảnh Đức Maria là bằng chứng Thiên Chúa nể trọng phụ nữ, nên bất cứ hình thức nghi kỵ nào đều thiếu nền tảng trên lý thuyết. Công trình kỳ diệu của Đấng Sáng Tạo hoàn thành nơi Đức Maria cho phép những người nam nữ khám phá những chiều kích thân phận mình mà trước kia họ chưa nhận thấy đủ. Khi nhìn lên Mẹ Thiên Chúa các người phụ nữ có thể hiểu rõ hơn phẩm giá mình và sự cao cả của sứ mệnh mình. Người đàn ông cũng vậy, trong ánh sáng của Đức Maria, họ có thể có được một cái nhìn đầy đủ hơn và cân đối hơn về căn tính của mình, về gia đình và xã hội.
Cái nhìn chăm chú vào chân dung Đức Maria, như được giới thiệu cho chúng ta trong Kinh Thánh cũng như được Giáo Hội hiểu qua đức tin, còn cần thiết hơn vì Đức Mẹ đôi khi bị xuyên tạc do những phong trào nam nữ bình quyền. Đức Nữ Trinh thành Nadaret, trong vài trường hợp, bị coi như dấu chỉ của một nhân cách đàn bà bị giam hãm trong khung cảnh gia đình chật chội thu hẹp.
Ngược lại, Đức Maria là kiểu mẫu của sự phát triển đầy đủ ơn gọi phụ nữ, vì mặc dầu có những hạn chế khách quan do địa vị xã hội, Đức Maria đã gây một ảnh hưởng to lớn trên vận mạng nhân loại, và trên sự biến đổi xã hội.
Trong Đức Maria mọi người được kêu gọi tin tưởng vào Thiên Chúa
5. Hơn nữa học thuyết Maria có thể giải ánh sáng trên nhiều cách thức mà nhờ đó đời sống ân sủng thăng tiến vẻ đẹp thiêng liêng của người phụ nữ.
Trước sự khai thác đầy xấu hổ coi người phụ nữ như một vật vô nhân phẩm, chỉ để thoả mãn tình dục thấp hèn, thì Đức Maria khẳng định cái ý nghĩa cao cả của vẻ đẹp người phụ nữ là một hồng ân và là sự phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa.
Thật vậy sự hoàn hảo của người phụ nữ, như được thực hiện đầy đủ nơi Đức Maria, vừa nhìn đã thấy đó là một trường hợp ngoại lệ và khó mà bắt chước, một kiểu mẫu quá cao để bắt chước. Thực vậy, sự thánh thiện độc đáo của Đức Maria, Người mà từ lúc đầu đã được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội. đôi khi được xem như là quá xa cách.
Dầu vậy thay vì là một hạn chế trên đường theo chân Chúa, sự thánh thiện cao quý của Đức Maria, ngược lại, được Thiên Chúa sử dụng để thúc giục mọi người kitô hữu mở lòng mình đón nhận quyền lực thánh hoá của ân sủng Thiên Chúa ban, vì không gì Thiên Chúa không làm được. Do đó, trong Đức Mẹ Maria, tất cả được kêu gọi tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa toàn năng biến đổi lòng người, hướng dẫn họ đón nhận chương trình tình yêu quan phòng của Người.
admin
16-06-2006, 03:31 PM
ĐỨC MARIA RỌI SÁNG TRÊN VAI TRÒ NGƯỜI NỮ
Thứ Tư, 06/12/1995
Chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa được mặc khải trong cuộc sáng tạo, dành cho người nữ phẩm cách và giá trị bình đẳng, nhưng đồng thời cũng khẳng định tính duy nhất của ân ban nữ tính.
1. Như tôi đã giải thích trong các bài giáo lý trước, vai trò mà chương trình cứu rỗi Thiên Chúa giao phó cho Đức Maria, rọi ánh sáng trên ơn gọi của người nữ trong đời sống Giáo Hội và xã hội, bằng cách định rõ sự khác biệt của ơn gọi ấy so với người nam. Kiểu mẫu tiêu biểu qua Đức Maria cho thấy rõ cái gì là riêng biệt cho nữ tính.
Trong thời gian gần đây một vài khuynh hướng bênh vực nữ quyền muốn đề xuất giải phóng người nữ, đã tìm cách đồng hoá nữ giới với nam giới về mọi mặt. Cho dầu thánh ý Thiên Chúa được bày tỏ trong việc sáng tạo, muốn người nữ bình đẳng với người nam trên phẩm giá, nhưng đồng thời cũng khẳng định rõ ràng sự khác biệt và những nét riêng của phụ nữ. Căn tính của người nữ không ở tại sao chép lại đàn ông, bởi vì người nữ được ban cho những đức tính và đặc quyền, qua đó họ có một phẩm tính rất riêng biệt cần phải nuôi dưỡng và cổ xúy.
Những đặc quyền và những nét riêng của nữ tính được phát triển trong Đức Maria. Sự tràn đầy ân sủng nuôi dưỡng nơi Người tất cả tài năng thiên nhiên đặc biệt của người nữ.
Xin vâng như lời Sứ Thần truyền cho tôi.
Vai trò của Đức Maria trong công trình cứu chuộc hoàn toàn tùy thuộc vai trò Chúa Giêsu. Đó là một chức năng độc nhất, đòi hỏi do mầu nhiệm Nhập Thể: Chức làm Mẹ của Đức Maria cần thiết để ban cho thế gian Đấng Cứu Độ, Con thật của Thiên Chúa nhưng cũng là người thật.
Sự cộng tác của người nữ vào việc Chúa Kitô đến trần gian đã trở nên quan trọng do sáng kiến của Thiên Chúa, vì qua lời sứ thần Người đã thông truyền chương trình cứu rỗi của Người cho Đức Trinh Nữ thành Nadaret, để Trinh Nữ cộng tác cách ý thức và tự do, khi nói lên lời xin vâng quảng đại của mình.
Ở đây hoàn thành kiểu mẫu cao nhất cho sự cộng tác mà người nữ thực hiện trong việc cứu độ người nam, tất cả người nam (con người-tất cả con người); kiểu mẫu này là một điểm son để tham khảo mỗi khi xác định vai trò và nhiệm vụ của người nữ.
Khi thực hiện sự hợp tác cao cả này, Đức Maria cũng cho thấy cách thức người nữ phải diễn tả cụ thể chức năng của mình.
Đối với lời truyền tin của sứ thần, Đức Nữ Trinh không đòi hỏi cao kỳ, cũng không tìm thoả mãn những tham vọng cá nhân. Thánh Luca cho chúng ta thấy Đức Maria chỉ muốn bày tỏ sự phục vụ khiêm tốn của Người qua lời xin vâng đầy tin tưởng chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Đó chính là ý nghĩa của câu trả lời: "Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời; tôi xin vâng lời Thiên Thần truyền cho tôi" (Lc 1, 38).
Đây không phải là một sự chấp thuận thụ động, bởi vì Đức Maria xin vâng sau khi đã nói lên sự khó khăn do mình muốn sống đồng trinh vì ước ao hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.
Sau khi được Thiên Thần trả lời, Đức Maria liền tỏ ý sẵn sàng, nhưng vẫn giữ một thái độ khiêm tốn phục vụ.
Đó là sự phục vụ khiêm tốn, đáng giá mà nhiều người nữ theo gương Đức Maria, đã hiến dâng và tiếp tục hiến dâng trong Hội Thánh để Nước Chúa Kitô lớn mạnh.
3. Hình ảnh Đức Maria nhắc nhở người phụ nữ ngày nay nhớ đến giá trị chức làm mẹ. Trong thế giới ngày nay, người ta không luôn luôn cho cái giá trị này một tầm quan trọng thích hợp và tương xứng. Trong nhiều trường hợp, nhu cầu để người nữ lao động vì mưu sinh cho gia đình, và một quan niệm sai lầm về quyền tự do, coi việc chăm lo con cái là một cản trở sự tự trị và thời cơ của người nữ, đã làm lu mờ ý nghĩa chức làm mẹ cần có để phát triển cá tính người nữ. Ngược lại trong những trường hợp khác, phương diện sinh học của việc sinh con trở nên rất quan trọng đến đỗi làm lu mờ những thời cơ đầy ý nghĩa khác cho người nữ để diễn tả ơn gọi bẩm sinh làm mẹ.
Trong Đức Maria chúng ta được hiểu biết ý nghĩa thực sự của chức làm mẹ, chức này đạt tới chiếu kích cao nhất của nó trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Đối với Đức Maria, làm mẹ không những mang lại cho Người nhân cách phụ nữ, hướng tới ân ban sự sống, với sự phát triển đầy đủ, mà cũng một câu trả lời của đức tin đối với ơn gọi người nữ, ơn gọi này mang lấy giá trị đầy đủ nhất trong ánh sáng Giao ước Thiên Chúa mà thôi (x. Mulieri Dignitatem số19).
4. Nhìn về Đức Maria chúng ta cũng khám phá nơi Người mẫu gương đức đồng trinh vì Nước Trời.
Là người nữ đồng trinh xuất sắt nhất, trong nội tâm Người càng ao ước sống trong tình trạng này để kết hiệp thân mật thâm sâu hơn với Thiên Chúa.
Với những người nữ được kêu gọi sống đồng trinh khiết tịnh, Đức Maria mặc khải ý nghĩa cao siêu của ơn gọi đặc biệt đó và như vậy lưu ý về tính dồi dào hoa trái thiêng liêng nó mang lại trong chương trình của Thiên Chúa: Một cấp bậc làm mẹ cao hơn, làm mẹ theo thần khí (x. Mulierem Dignitatis số 21).
Người nữ gieo hạt giống văn minh tình yêu
Con tim từ mẫu của Đức Maria mở rộng trước nỗi cùng khổ nhân loại cũng nhắc người nữ nhớ rằng sự phát triển nữ tính kêu gọi dấn thân sống bác ái, nhạy cảm hơn đối với những giá trị thuộc con tim, người nữ tỏ ra có khả năng cao trong sự bỏ mình.
Đối với tất cả những ai sống vào thời buổi chúng ta đây, mà sống kiểu ích kỷ để khẳng định nữ tính, thì gương mặt trong sáng và thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa chứng tỏ rằng chỉ bằng cách tự hiến và quên mình vì kẻ khác mới có thể đạt được sự hoàn thành đích thực chương trình của Thiên Chúa đối với sự sống của chính mình.
Bởi vậy sự hiện diện của Đức Maria khích lệ những tâm tình thương xót và liên đới nơi người nữ trước những cảnh đau khổ nhân loại và thức tỉnh ý muốn làm nhẹ đau khổ của những người chịu đau khổ: Kẻ nghèo, người bịnh, và tất cả những ai cần giúp đỡ.
Vì liên hệ đặc biệt với Đức Maria, người nữ trong dòng lịch sử thường tiêu biểu cho sự gần gủi của Thiên Chúa đối với một nhân loại đang chờ đợi lòng lành và nhân hậu, một nhân loại bị thương tích vì ghen ghét và tội lỗi, bằng cách gieo vào lòng thế giới những hạt giống của nền văn minh lấy tình yêu đáp trả hận thù.
admin
16-06-2006, 03:34 PM
GIÁO HUẤN CÔNG ĐỒNG VỀ ĐỨC MARIA THẬT PHONG PHÚ VÀ TÍCH CỰC
Thứ Tư, 13/12/1995
Quan tâm nhiều đến nền tảng Thánh Kinh của giáo huấn Maria, các Nghị phụ diễn tả Đức Maria như một người nữ mạnh tin và như một kiểu mẫu và gương sáng cho Giáo Hội.
1. Hôm nay Tôi suy nghĩ về sự hiện diện đặc biệt của Mẹ Giáo Hội trong một biến cố quan trọng nhất của Giáo Hội ở thế kỷ chúng ta: Công đồng chung Vaticanô II mà Đức Giáo Hoàng Gioan 23 đã khai mở sáng ngày 11/10/1902 và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bế mạc ngày 8/12/1965.
Một lời nói có tính Maria khác thường đánh dấu Công Đồng ngay từ lúc triệu tập. Trong bức tâm thư Celebrandi Concilii Oecumenici, Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi, người Tôi Tớ Chúa Đức Gioan 23 đã khuyên nhủ chạy tới sự can thiệp đầy quyền phép của Đức Maria, "Mẹ ân sủng và là Đấng Bảo Trợ từ trời cho Công Đồng: (11/4/1961, AAS 53 [1961] 242).
Luận bàn về Đức Maria đặc biệt trong Hiến chế về Giáo Hội
Sau đó, năm 1962 trong ngày lễ Thanh Tẩy Đức Maria, Đức Thánh Cha Gioan 23 ấn định khai mạc Công Đồng vào ngày 11/10, giải thích rằng Ngài chọn niên hiệu này là để kính nhớ đại Công Đồng Ephêsô, vì chính trong thời điểm này Công Đồng Ephêsô đã tuyên bố Đức Maria là "THEOTOKOS", Mẹ Thiên Chúa (Motu proprio Concilium; AAS 54 [1962] 67-68). Sau này trong diễn văn khai mạc, Đức Thánh Cha phó thác Công Đồng cho "Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu, phù hộ các Giám Mục", cầu xin sự giúp đỡ của người mẹ cho công việc Công Đồng thành công mỹ mãn (AAS 54 (1962) 795).
Các Nghị phụ cũng công khai hướng về Đức Maria trong bức thư gởi cho thế giới khi khai mạc những khoá Công Đồng, "Chúng tôi, những kẻ kế vị các tông đồ, liên kết nhau trong lời cầu nguyện với Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu, làm thành một thân thể tông đồ" (Acta Synodalia, 1. 1, 254), Như vậy, hiệp thông với Đức Maria, các ngài tự liên kết với Giáo Hội xưa đang chờ đợi Chúa Thánh Thần. (x. Cv 1,14)
2. Tại khoá II Công Đồng, có đề nghị phải đặt luận bàn về Đức Trinh Nữ Rất Thánh trong Hiến chế về Giáo Hội. Sáng kiến này, tuy do Uỷ ban Thần học đề nghị chính thức, đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau.
Một số Nghị phụ xem đề nghị đó chưa đủ để đề cao sứ mạng rất riêng biệt của Mẹ Chúa Giêsu trong Giáo Hội, nên chủ trương rằng chỉ có tài liệu riêng biệt mới có thể diễn tả phẩm giá, sự trỗi vượt, sự thánh thiện đặc sắc và vai trò độc nhất của Đức Maria trong công cuộc cứu chuộc do người Con hoàn thành. Hơn nữa, vì nhìn nhận Đức Maria trỗi vượt hơn Giáo Hội cách nào đó, các Nghị phụ ấy sợ rằng quyết định đặt giáo thuyết Đức Maria trong phần luận bàn về Giáo Hội, e không đề cao đủ các đặc ân của Đức Maria và có thể làm giảm đi vai trò của Người vì đã cho ngang hàng với vị trí của các thành phần khác trong Giáo Hội. (Acta Synodalia 11, 111. 338-342).
Nhiều vị khác đồng ý đề nghị của Ủy ban Thần học muốn đặt luận bàn giáo thuyết về Đức Maria và Giáo Hội chung trong một bản văn thôi. Theo các Ngài, những thực tại này không thể tách rời do một Công Đồng nhằm khám phá lại căn tính và sứ mạng của dân Chúa, mà phải cho thấy rõ dân Chúa liên kết chặt chẽ với Đấng là kiểu mẫu và là gương sáng của Giáo Hội về phương diện đức trinh khiết và chức làm mẹ. Thật vậy, là một thành phần siêu việt của cộng đồng Giáo Hội, Đức Trinh Nữ Rất Thánh có một chỗ đứng riêng biệt trong giáo thuyết của Giáo Hội. Hơn nữa, khi đề cao mối dây liên kết Đức Maria và Giáo Hội, người kitô hữu thuộc phong trào Cải Cách có thể hiểu rõ hơn giáo thuyết Maria được Công Đồng trình bày (Acta Synodalia 11, 111, 343-345).
Các Nghị phụ Công Đồng, vì lòng yêu mến Đức Maria nên trong những phát biểu có tính giáo thuyết các ngài đã có khuynh hướng nhắm đến những khía cạnh ưu đãi khác nhau thuộc bản thân Người. Có những vị ưu tiên suy gẫm về mối tương quan của Người với Chúa Kitô, các vị khác ưu tiên coi Người như là một thành phần của Giáo Hội.
3. Sau một cuộc bàn cãi gay go về phương diện giáo thuyết chú ý tới phẩm giá của Mẹ Thiên Chúa và sự hiện diện đặc biệt của Người trong Giáo Hội, Công Đồng đã quyết định rằng luận bàn về Đức Maria phải đặt trong văn bản Công Đồng nói về Giáo Hội (x. Acta Synodalia 11, 111, 627)
Lược đồ mới về Đức Trinh Nữ Rất Thánh, được thảo ra để đặt trong bản Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, cho thấy có sự tiến bộ rõ rệt về phương diện giáo thuyết. Việc nhấn mạnh đến đức tin của Đức Maria và sự quan tâm có hệ thống đặt cơ sở học thuyết Đức Maria dựa trên Kinh Thánh, là những yếu tố có ý nghĩa và hữu ích để gia tăng lòng đạo đức và yêu mến của dân Chúa đối với Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa.
Hơn nữa, trước đây chủ nghĩa giản lược mà các Nghị phụ lo ngại, đã được chứng minh là không có cơ sở: Sứ mạng và đặc ân của Đức Maria được khẳng định lại sâu rộng hơn; sự cộng tác của Người với chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa được nêu bật; sự cộng tác này xem ra hài hoà rõ nét hơn với trung gian duy nhất của Chúa Kitô.
Đây là lần đầu tiên, Huấn quyền Công Đồng tặng cho Giáo Hội, một trần bày giáo lý về vai trò của Đức Maria trong công trình cứu rỗi của Chúa Kitô và trong đời sống của Giáo Hội.
Như vậy, chúng ta phải nhìn nhận sự chọn lựa của các Nghị phụ Công Đồng là một quyết định thật sự do ý Chúa, một sự lựa chọn rất hữu ích cho công trình học thuyết sau này.
4. Trong các khoá Công Đồng nhiều Nghị phụ muốn làm giàu thêm học thuyết Đức Maria với nhiều phát biểu về vai trò của Đức Maria trong công trình cứu rỗi. Ngữ cảnh đặc biệt, xen vào để Công Đồng Vatican II bàn cãi về Đức Maria không cho phép thực hiện những ý muốn đó, cho dầu chúng có tính căn bản và được trải rộng, nhưng sự tranh cãi toàn diện của Công Đồng về Đức Maria vẫn mãnh liệt và tương xứng về các đề tài, tuy không được định nghĩa đầy đủ vẫn được sự chú ý quan trọng trong toàn bộ bản luận bàn.
Một trình bày tương xứng về học thuyết Đức Maria
Như vậy, sự do dự của một số Nghị phụ về tước hiệu Trung Gian không ngăn trở Công Đồng dùng tước hiệu này một lần, và không ngăn cản các ngài phát biểu bằng những từ ngữ khác vai trò trung gian của Đức Maria, vì Người đã ưng thuận theo sứ điệp của Thiên Thần, lãnh chức làm Mẹ trong sứ mạng ân sủng (x. LG 62). Hơn nữa, Công Đồng xác nhận sự hợp tác của Đức Maria "trong một phương thức hoàn toàn đặc biệt" để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn (Sđd. Số 61). Sau cùng, cho dù Công Đồng tránh dùng tước hiệu "Mẹ Giáo Hội", bản văn Lumen Gentium rõ ràng nêu bật sự sùng kính của Giáo Hội đối với Đức Maria như là một người mẹ đáng yêu nhất.
Tất cả những trình bày trong chương thứ 8 của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, cho thấy rõ những cẩn trọng trong từ ngữ không cản trở sự diễn tả rất phong phú và tích cực về học thuyết cơ bản, một phát biểu về đức tin và tình yêu đối với Đấng mà Giáo Hội nhìn nhận là Người Mẹ gương mẫu.
Đàng khác, những quan điểm khác nhau của các Nghị phụ nảy ra trong lúc Công Đồng bàn cải, trở nên thánh ý Chúa vì trên cơ sở hài hoà với nhau, những quan điểm đó mang đến cho đức tin và lòng sốt sắng của dân kitô hữu, một trình bày đầy đủ và tương xứng hơn về căn tính lạ lùng của Mẹ Chúa Giêsu và về vai trò hiếm có của Người trong công trình cứu chuộc.
admin
16-06-2006, 03:40 PM
CHỖ ĐỨNG ĐỨC MẸ CAO NHẤT SAU CHÚA KITÔ
Thứ Tư, 03/01/1996
1. Sau khi theo dõi Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, trong chương 8 đã cẩn thận nêu lên vai trò của Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Thân Thể Mầu Nhiệm, cũng như nêu lên những bổn phận của những kẻ được cứu độ đối với Mẹ Thiên Chúa "thì trong kỳ học hỏi giáo lý này, Tôi có ý đưa ra bản tóm tắt cơ bản về đức tin của Giáo Hội về Đức Maria, nhưng đối với Công Đồng Tôi khẳng định rằng Tôi không định nói những vấn đề mà công việc các nhà thần học chưa tìm sáng tỏ" (LG 54)
Ý Tôi trước hết là diễn tả "vai trò Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Thân Thể Mầu Nhiệm" (Sđd.), bằng cách tham khảo những dữ kiện từ Kinh Thánh và truyền thống các tông đồ, và lưu ý tới sự phát triển học thuyết đã xuất hiện trong Hội Thánh cho tới ngày nay.
Hơn nữa, bởi vì vai trò Đức Maria trong lịch sử cứu độ, được gắn liền với mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh, Tôi không để lạc mất những điểm quy chiếu cơ bản mà nếu đặt học thuyết Maria vào trong ngữ cảnh xứng hợp, sẽ cho phép chúng ta khám phá những kho tàng sâu rộng và vô tận của nó.
Khảo cứu mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa là một việc làm thực mênh mông và làm bận rộn nhiều nhà mục tử và nhà thần học qua nhiều thế kỷ. Một số vị ấy muốn cố gắng làm nổi lên những trọng điểm của học thuyết Maria, nên đôi khi nghiên cứu nó đồng thời với Kitô học hay Giáo Hội học. Dầu sao đi nữa, khi lưu ý Đức Maria có liên hệ với tất cả mầu nhiệm về đức tin, Người đáng được nghiên cứu riêng biệt để nêu bật cá nhân và vai trò của Người trong lịch sử cứu rỗi, dưới ánh sáng Kinh Thánh và Thánh Truyền.
2. Theo những chỉ thị Công Đồng, xem ra cũng hữu ích nếu giải thích cặn kẽ "bổn phận của những người được cứu độ đối với Mẹ Thiên Chúa, cũng là Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ loài người, nhất là Mẹ của những kẻ tin" (Sđd).
Thật vậy, vai trò mà chương trình cứu độ dành riêng cho Đức Maria đòi hỏi người kitô hữu không những phải chấp nhận và lưu tâm, mà còn phải lựa chọn cụ thể, diễn tả trong đời sống, những thái độ Tin Mừng của Đấng đi trước Hội Thánh trong đức tin và sự thánh thiện. Như vậy, Mẹ Thiên Chúa được tiên liệu để gây ảnh hưởng riêng biệt trên cung cách cầu nguyện của người tín hữu. Chính phụng vụ Hội Thánh nhìn nhận chỗ đứng riêng biệt của Người trong việc sùng kính và trong đời sống của mỗi người tín hữu.
Cần nhấn mạnh rằng giáo thuyết và lòng sùng kính của Đức Maria không phải là hậu quả của tính đa cảm. Mầu nhiệm Đức Maria là một chân lý mặc khải, bắt lý trí những ai tin phải kính trọng và đòi hỏi những ai trong Hội Thánh có trách nhiệm nghiên cứu và giảng dạy theo một phương pháp suy nghĩ có tính học thuyết, không kém nhiệm nhặt như phương pháp đã dùng trong toàn bộ thần học.
Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã kêu mời những người đồng thời với Người đừng nhìn Đức Maria theo nhiệt tình, nhưng nhìn nhận nơi Đức Maria một kẻ được chúc phúc vì biết lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ. (x. Lc 11, 28)
3. Về mức độ và văn bằng phải giữ trong cả hai khía cạnh học thuyết và sùng kính Đức Maria, Công Đồng đã mạnh mẽ thối thúc các nhà thần học và giảng dạy Lời Chúa "phải ý tứ hạn chế tất cả những thổi phồng, giả tạo" (LG 67).
Sự thổi phồng này đem đến những người chủ trương một thái độ đòi hỏi mức tối đa, chủ trương này có ý mở rộng có hệ thống tới Đức Maria, những đặc quyền của Chúa Kitô và tất cả những đoàn sủng của Hội Thánh.
Đáng lẽ trong học thuyết Maria luôn cần giữ sự vô cùng khác biệt hiện hữu giữa con người có nhân tính của Đức Maria và con người có thiên tính của Chúa Giêsu. Việc gán "mức tối đa" cho Đức Maria không thể trở thành mực thước của Maria học, vì học thuyết này phải luôn luôn đối chiếu với chứng từ của mặc khải liên quan tới những ân huệ Thiên Chúa ban cho Đức Maria vì sứ mạng cao cả của Người.
Cũng vậy, Công Đồng khuyên bảo các nhà thần học và giảng thuyết kềm hãm bớt thái độ quá thô thiển" (Sđd.), nghĩa là, tránh nguy hiểm của thuyết tối thiểu hoá rõ ràng trong những lập trường có tính học thuyết, trong những chú giải và trong những hành động sùng kính có khuynh hướng giảm thiểu và gần như từ chối tầm quan trọng của Đức Maria trong lịch sử cứu độ, sự trọn đời đồng trinh và sự thánh thiện của Người. Đúng hơn phải xa lánh những lập trường quá khích như vậy, bằng một đức tin kiên định và chân thành đối với chân lý được mặc khải, như Kinh Thánh và truyền thống tông đồ truyền dạy.
4. Công Đồng hiến cho chúng ta có một tiêu chuẩn để nhận thức rõ học thuyết đích thực về Đức Maria: Đức Maria "chiếm một địa vị trong Hội Thánh, cao nhất sau Chúa Kitô và cũng gần nhất đối với chúng ta". (LG 54)
Địa vị cao nhất: Chúng ta phải khám phá ra địa vị cao cả được ban tặng cho Đức Maria trong mầu nhiệm cứu rỗi. Dầu vậy, đó là vấn đề ơn gọi hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa Kitô.
Địa vị gần gủi nhất đối với chúng ta: Đời sống chúng ta được ảnh hưởng sâu rộng bởi gương lành và lời cầu khẩn của Đức Maria. Tuy nhiên chúng ta phải tự hỏi mình về sự cố gắng của chúng ta để ở gần Đức Mẹ. Toàn bộ giáo huấn của lịch sử cứu rỗi kêu mời chúng ta nhìn về Đức Mẹ như là khoa tu đức Kitô giáo qua mọi thời đại, kêu mời chúng ta nghĩ về Đức Mẹ như là một kiểu mẫu gắn chặt hoàn toàn với ý muốn của Thiên Chúa. Là kiểu mẫu được chọn lọc về mặt thánh thiện, Đức Maria hướng dẫn những bước đi của kẻ tin trong cuộc hành trình về trời của họ.
Nhờ Đức Maria gần gủi với các biến cố lịch sử hằng ngày của chúng ta, Người nâng đỡ chúng ta trong những cơn thử thách: Người an ủi chúng ta trong cơn khốn khó. Luôn luôn chỉ cho chúng ta thấy cái đích của sự cứu rỗi đời đời. Như vậy vai trò làm Mẹ của Người được thấy rõ hơn mãi mãi là Mẹ Người Con Giêsu, là Mẹ dịu hiền và âu yếm đối với mỗi người chúng ta, mà từ Thánh Giá Đấng Cứu Chuộc đã trao gởi Người lại cho chúng ta, để chúng ta có thể đón rước Người như những đứa con trong đức tin.
admin
16-06-2006, 03:43 PM
TƯƠNG QUAN CỦA ĐỨC MARIA VỚI BA NGÔI THIÊN CHÚA
Thứ Tư, 10/01/1996
Đức Maria được ban tặng chức làm Mẹ Thiên Chúa, cũng là ái nữ của Thiên Chúa Cha và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
1. Chương thứ 8 Hiến Chế Lumen Gentium cho thấy trong mầu nhiệm Chúa Kitô, tuyệt đối cần quy chiếu về giáo thuyết Đức Maria trên phương diện này, những lời nói đầu phần nhập đề có ý nghĩa: "Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu và khôn ngoan đã muốn hoàn tất việc cứu chuộc thế giới, nên khi đến thời viên mãn, Ngài đã sai Con Mình đến sinh bởi người nữ… để chúng ta được nhận làm nghĩa tử" (Gl 4, 4-5; LG 52). Người Con đó là Đấng Messia dân Cựu Ước mong đợi, Chúa Cha đã sai đến vào một thời gian nhất định của lịch sử, "thời viên mãn" (Gl 4, 4), lại được sinh ra trong thế giới chúng ta bởi một người nữ. Người Nữ ấy đem đến cho nhân loại Người Con vĩnh hằng của Thiên Chúa, không bao giờ có thể cách ly khỏi Người Con, Đấng giữ vị trí trung tâm của chương trình Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử.
Tính ưu việt của Chúa Kitô được tỏ bày rõ nét trong Giáo Hội Thân Thể Mầu Nhiệm của Người: trong Giáo Hội ấy "các tín hữu liên kết với Chúa Kitô thủ lãnh, và hiệp thông với toàn thể các thánh Người" (LG 52) Chính Chúa Kitô lôi kéo mọi người đến với Mình. Vì trong vai trò làm Mẹ, được kết hợp khắng khít với Con mình, nên Đức Maria giúp các tín hữu hướng cái nhìn và con tim về phía Con mình.
Bà là con đường dẫn đưa tới Chúa Kitô: Thực vậy, "khi sứ thần truyền tin, Đức Trinh Nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác Người" (LG 53), nên Người chỉ cho chúng ta biết cách đón vào trong đời sống chúng ta, Người Con xuống từ trời, và dạy chúng ta biến Chúa Giêsu thành trung tâm và luật tối cao của cuộc sống chúng ta.
Một sự liên kết đặc thù giữa Đức Maria và Chúa Thánh Thần
2. Đức Maria cũng giúp chúng ta khám phá ra, ngay từ đầu toàn bộ công trình cứu chuộc, hành động tối cao của Chúa Cha, Đấng kêu gọi mọi người trở nên những người con trong một Người Con. Nhắc lại những lời rất tốt đẹp trong thư gởi cho tín hữu Ephêsô: "nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô" (Ep 2, 4), Công Đồng kính tặng Thiên Chúa danh hiệu "rất mực thương xót": Người Con sinh "bởi một người phụ nữ" được coi như là kết quả của lòng yêu thương của Chúa Cha và cho phép chúng ta hiểu rõ hơn người phụ nữ này là "người mẹ của lòng thương xót".
Trong cùng ngữ cảnh đó, Công Đồng cũng gọi Thiên Chúa là "khôn ngoan rất mực", gợi lên một sự chú ý đặc biệt tới sự liên kết mật thiết giữa Đức Maria và sự khôn ngoan Thiên Chúa, mà theo chương trình mầu nhiệm của Người chức làm mẹ của Đức Trinh Nữ đòi buộc phải có.
3. Bản văn Công Đồng cũng nhắc chúng ta nhớ đến mối dây có một không hai nối kết Đức Maria với Chúa Thánh Thần bằng cách dùng những từ ngữ của Kinh Tin Kính Công Đồng Nicé-Constantinô, mà chúng ta đọc trong Phụng Vụ Thánh Thể: "vì loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi Người đã từ trời xuống thế bởi phép Đức Chúa Thánh Thần Người đã sinh ra bởi Đức Nữ Đồng Trinh Maria và đã làm người".
Khi phát biểu đức tin không hề thay đổi của Giáo Hội, Công Đồng lưu ý chúng ta rằng sự nhập thể lạ lùng của Người Con xảy ra trong lòng Đức Trinh Nữ Maria không cần sự cộng tác của người đàn ông, mà do quyền phép Chúa Thánh Thần.
Như thế, lời mở đầu chương 8 Hiến Chế Lumen Gentium cho chúng ta thấy chiều kích căn bản của học thuyết Maria trong phối cảnh Ba Ngôi Thiên Chúa. Thật vậy, mọi sự đến từ ý muốn Cha, Đấng đã sai Con Người vào thế gian, mặc khải Người cho nhân loại và đặt Người làm đầu Hội Thánh và trung tâm lịch sử. Đó là chương trình thực hiện đầy đủ qua mầu nhiệm nhập thể, công trình của Chúa Thánh Thần. Nhưng với sự hợp tác cần thiết của người nữ là Đức Trinh Nữ Maria, như vậy Trinh Nữ ấy trở nên một phần thuộc toàn bộ nhiệm cục thông truyền Ba Ngôi Thiên Chúa cho nhân loại.
4. Mối tương quan tay ba của Đức Maria với Ba Ngôi Thiên Chúa được củng cố qua những lời lẽ chính xác và bằng sự diễn tả mối tương quan đặc thù nối kết Mẹ Chúa với Giáo Hội: "Đức Maria đã lãnh nhận sứ mệnh và danh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó cũng làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần" (LG 53).
Vinh dự cơ bản của Đức Maria là "làm Mẹ Ngôi Con" vinh dự đó được phát biểu trong học thuyết Kitô và sự sùng kính với tước hiệu là "Mẹ Thiên Chúa".
Đó là một từ ngữ gây kinh ngạc vì nó nói lên sự khiêm hạ của Người Con Một Thiên Chúa trong mầu nhiệm Nhập Thể của Người và đồng thời nói lên một ân huệ cao cả nhất được ban cho một thụ tạo, là được mời gọi sinh ra Người trong xác thịt.
Là Mẹ của Ngôi Con, Đức Maria là "ái nữ của Chúa Cha" một cách hết sức đặc biệt. Người được ban tặng một sự tương tự hoàn toàn đặc biệt giữa chức làm Mẹ của Người và chức làm Cha của Thiên Chúa.
Và còn nữa: mỗi người kitô hữu là "một đền thờ của Chúa Thánh Thần", theo như lời Thánh Phaolô đã nói (1 Cr 6,19), nhưng điều xác nhận này có một ý nghĩa đặc biệt nơi Đức Maria: Vì nơi Người tương quan với Chúa Thánh Thần được làm cho phong phú thêm bằng một chiều kích hôn nhân. Tôi đã nhắc tới điều này trong thông điệp Redemptoris Mater: "Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Bà, và Bà đã trở thành hiền thê trung tín trong ngày Truyền tin, đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa thật". (số 26)
5. Vinh dự của Đức Maria vượt quá vinh dự của mọi thọ tạo khác, Công Đồng minh nhiên nhắc tới vinh dự này: nhờ "lãnh nhận ân sủng vô cùng cao quý đó, Ngài đã trỗi vượt mọi tạo vật trên trời dưới đất" (LG 53). Dầu vậy, vinh dự cao quý này không ngăn cản Đức Maria liên đới với mỗi người chúng ta. Hiến Chế Lumen Gentium tiếp tục nói: "Nhưng đồng thời, vì thuộc dòng dõi Ađam, Bà cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi" và Bà đã được "cứu chuộc cách kỳ diệu hơn nhờ công nghiệp Con Bà" (sđd).
Ở đây, chúng ta thấy ý nghĩa đích thực của những đặc ân Đức Maria nhận được và của tương quan đặc biệt của Người với Thiên Chúa Ba Ngôi: Mục đích những đặc ân đó là để Người cộng tác vào công trình cứu rỗi nhân loại. Sự vô cùng cao cả của Mẹ Chúa là một ân huệ do tình yêu Chúa ban cho loài người. Khi cao rao Mẹ là "Đấng có phúc" (Lc 1,48), các thế hệ ngợi khen "những điều cao trọng" (Lc 1, 49) mà Đấng Tối Cao đã thực hiện nơi Mẹ vì nhân loại, "bởi nhớ lại lòng thương xót của Người" (Lc 1, 54).
admin
16-06-2006, 03:45 PM
CHIẾN THẮNG TỘI LỖI ĐẾN TỪ MỘT NGƯỜI NỮ
Thứ Tư, 24/01/1996
Nhờ cộng tác với Chúa Kitô trong công cuộc cứu chuộc, Đức Trinh Nữ Rất Thánh góp phần cách đặc biệt chiến thắng Satan.
1. "Các sách Cựu Ước thuật lại lịch sử cứu rỗi, trong đó ngày Chúa Kitô xuất hiện trên thế giới được chuẩn bị cách tiệm tiến. Các tài liệu tiên khởi này như Giáo Hội vẫn đọc và hiểu theo ánh sáng mặc khải trọn vẹn và sâu xa hơn, ngày càng cho thấy rõ ràng hơn hình ảnh của người nữ, Mẹ Đấng Cứu Thế" (LG 55).
Với những lời tuyên bố này, Công Đồng Vatican II nhắc chúng ta nhớ lại hình ảnh của Đức Maria dần dần được hình thành ngay từ đầu lịch sử cứu rỗi như thế nào. Người đã được nhìn thoáng qua trong những bản văn Cựu Ước, nhưng chỉ hiểu trọn vẹn khi những bản văn Kinh Thánh đó, được đọc trong Hội Thánh và hiểu theo ánh sáng Tân Ước.
Chúa Thánh Thần khi linh hứng các tác giả nhân loại, đã hướng Mặc khải Cựu Ước về Chúa Kitô, Đấng phải đến trong thế gian từ lòng dạ của Đức Trinh Nữ Maria.
2. Trong số những tường thuật Kinh Thánh báo trước Mẹ Đấng Cứu Thế, Công Đồng trưng dẫn cách riêng những tường thuật Thiên Chúa mặc khải chương trình cứu độ của Người sau khi ông Adam và bà Evà sa ngã. Chúa phán với con Rắn, hiện thân Thần Dữ: "Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người nữ, và giữa con cháu ngươi và con cháu người nữ; con cháu người ấy sẽ đạp nát đầu ngươi, và ngươi sẽ cắn gót chân người con cháu ấy" (St 3,15).
Từ thế kỷ 16, truyền thống Kitô giáo gọi những tuyên bố đó là những Tiền Tin Mừng, có nghĩa là những Tin Mừng đầu tiên, những tuyên bố đó cho chúng ta thấy ý muốn cứu rỗi của Thiên Chúa ngay từ khởi thuỷ loài người. Thật vậy, theo tường thuật tác giả Kinh Thánh, phản ứng đầu tiên của Thiên Chúa đối với tội lỗi không phải là trừng phạt kẻ mắc tội, song cho họ hy vọng cứu rỗi và cho họ dấn thân tích cực vào công trình cứu rỗi, chứng tỏ lòng quảng đại lớn lao của Người ngay cả đối với những ai đã xúc phạm tới Người.
Những Tiền Tin Mừng cũng mặc khải số phận độc nhất của người nữ, mặc dù sa chước cám dỗ của con Rắn trước người đàn ông, nhưng về sau người nữ theo chương trình Thiên Chúa, trở nên người đồng minh đầu tiên của Thiên Chúa. Bà Eva là người đồng loã với con Rắn khi lôi cuốn người nam vào vòng tội. Đảo ngược tình thế, Thiên Chúa tuyên bố sẽ làm cho người nữ trở thành kẻ thù con Rắn.
3. Ngày nay những nhà chú giải đồng thuận nhìn nhận rằng bản văn sách Sáng Thế, theo bản văn Do Thái, không nói người nữ trực tiếp chống lại con Rắn, nhưng là con cháu bà. Dầu vậy, bản năng làm nổi bật vai trò người nữ trong trận chiến với Tên Cám Dỗ: thực tế, người đánh bại con Rắn sẽ là con cháu bà.
Người nữ đó là ai? Kinh Thánh không nhắc tới tên, nhưng cho phép chúng ta thoáng nhìn một người phụ nữ mới, mà Thiên Chúa đã định để chuộc tội sa ngã của bà Eva, thực tế người nữ đó được kêu gọi phục hồi vai trò và phẩm giá người nữ, góp phần thay đổi vận mệnh loài người, hợp tác với Thiên Chúa để chiến thắng Satan qua sứ mệnh làm Mẹ của mình.
4. Dưới ánh sáng Tân Ước và truyền thống Giáo Hội, chúng ta biết rằng người nữ mới được loan báo trong Tiền Tin Mừng chính là Đức Maria và "con cháu bà" như chúng ta biết đó là Đức Giêsu, Con bà, Đấng đã chiến thắng quyền lực Satan qua mầu nhiệm Phục Sinh.
Chúng ta cũng nhận thấy rằng trong Đức Maria, mối thù Thiên Chúa đặt giữa con Rắn và người nữ được hoàn thành bằng hai cách. Là đồng minh Thiên Chúa và là địch thủ ma quỷ. Người nữ đó hoàn toàn thoát khỏi quyền thống trị Satan qua đặc ân Vô Nhiễm nguyên tội nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần và được bảo toàn khỏi mọi vết nhơ tội lỗi. Hơn nữa, kết hợp với công việc cứu rỗi của Con Mình, Đức Maria hoàn toàn lao mình vào trận chiến chống Thần Dữ.
Như thế, những tước hiệu "Vô Nhiễm Nguyên Tội" và "Hiệp Công Cứu Chuộc" mà đức tin Giáo Hội gán cho Đức Maria để cao rao vẻ đẹp thiêng liêng và sự hợp tác thân mật của Người vào công trình cứu rỗi diệu kỳ, những tước hiệu đó chứng tỏ sự thù nghịch muôn đời giữa con Rắn và bà Eva mới.
5. Các nhà chú giải và thần học xác nhận rằng ánh sáng của bà Eva mới, Đức Maria, đã rọi chiếu từ trang sách Sáng Thế lên toàn bộ nhiệm cục cứu rỗi. Trong bản văn đó các vị đã nhìn thấy sự nối kết giữa Đức Maria và Giáo Hội. Ở đây chúng ta vui mừng khám phá ra từ ngữ "người nữ" dùng cách chung trong sách Sáng Thế, đặc biệt là thúc đẩy người nữ liên kết với Đức Trinh Nữ thành Nadaret và với công trạng của bà trong công việc cứu rỗi bởi vì họ được mời gọi thông phần chiến đấu với thần dữ. Nhưng người nữ như bà Eva, có thể thua sự quyến rủ do quỷ Satan, nhưng nhờ liên kết với Đức Maria sẽ nhận lấy sức mạnh trội hơn để chiến thắng kẻ thù, trở thành những đồng minh đầu tiên của Chúa trên đường cứu rỗi.
Giao ước nhiệm mầu của Thiên Chúa với người nữ cũng có thể thấy được bằng nhiều cách khác nhau trong thời đại ngày nay: trong việc siêng năng cầu nguyện và sốt sắng tham dự phụng vụ của người nữ, trong khi họ phục vụ dạy giáo lý và làm chứng tá bác ái, nơi nhiều phụ nữ theo ơn gọi sống đời thánh hiến, khi họ thực hành việc giáo dục đạo đức trong gia đình…
Tất cả những dấu chỉ này làm thành toàn cách cụ thể lời báo trước của Tiền Phúc Âm. Thật vậy khi khơi rộng tính cách đại đồng từ "người nữ" ở trong và ngoài biên giới hữu hình của Hội Thánh, Tiền Tin Mừng cho thấy ơn gọi đặc biệt của Đức Maria không thể tách rời khỏi ơn gọi của nhân loại và cách riêng khỏi ơn gọi của người nữ, được làm sáng tỏ nhờ sứ mạng của Đức Maria, được tuyên dương là người bạn đồng minh đầu tiên của Thiên Chúa chống lại Satan và Sự Dữ.
admin
16-06-2006, 03:48 PM
LỜI TIÊN TRI NGÔN SỨ ISAIA ĐƯỢC HOÀN THÀNH TRONG NHẬP THỂ
Thứ Tư, 31/01/1996
Kinh Thánh Cựu Ước chỉ nhắm tới mầu nhiệm chức làm Mẹ của Đức Maria, nhưng Kinh Thánh Tân Ước tuyên bố sự sinh ra Chúa Giêsu mới hoàn thành những lời nói của tiên tri.
1. Khi thảo luận về hình ảnh của Đức Maria trong Cựu Ước, Công Đồng (LG 55) tham khảo văn bản nổi tiếng của ngôn sứ Isaia, thu hút sự chú ý cách riêng các kitô hữu thời kỳ đầu: "Này đây người Trinh Nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuen" (Is 7,14). Trong lời báo tin, Thiên Thần bảo ông Giuse đón vợ mình về, "vì người Con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần", thánh Matthêô nêu lên ý nghĩa Kitô và Maria học ẩn chứa trong lời tiên tri này. Thực vậy, ông nói thêm: "tất cả sự việc này đã xảy ra là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: ‘Nầy đây Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta’" (Mt 1, 22-23).
2. Trong bản văn Do Thái, lời tiên tri này không minh nhiên tiên báo Đấng Emmanuen được sinh ra trong sự đồng trinh: Từ ngữ được dùng (almah) thật sự chỉ có nghĩa là: "một thiếu nữ", chớ không hẳn là đồng trinh. Hơn nữa, chúng ta biết rằng truyền thống Do thái không chấp nhận ý tưởng về sự đồng trinh vĩnh viễn, cũng không bao giờ nói lên cái ý nghĩ về người mẹ đồng trinh.
Chúa sẽ ban cho vua một dấu chỉ
Trong truyền thống Hy lạp, dầu sao nữa từ ngữ Do thái được chuyển ngữ là Parthenos "đồng trinh". Xem ra đây chỉ là chuyện chuyên biệt dịch thuật, nhưng chúng ta phải nhìn nhận Chúa Thánh Thần bí nhiệm hướng dẫn những lời nói của ngôn sứ Isaia ngõ hầu chuẩn bị cho sự hiểu biết Đấng Messia được sinh ra cách lạ lùng. Có sự chuyển ngữ là "đồng trinh" vì bản văn ngôn sứ Isaia long trọng chuẩn bị rao báo sự đầu thai và coi đó là một dấu chỉ Chúa gởi tới (Is 7, 10-14), đánh thức lòng trông đợi một cuộc đầu thai lạ lùng. Thật không có gì lạ lùng đối với một người nữ trẻ mang thai một đứa con sau khi đã phối hợp với người chồng. Dầu sao, lời tiên tri không nhắc tới người chồng. nói như vậy tức là gợi ý cho sự giải thích trong bản dịch Hy lạp sau này.
3. Trong văn cảnh gốc, lời tiên tri của ngôn sứ Is 7, 14 là câu Chúa trả lời cho việc kém đức tin của vua Acab, vua này sợ cuộc xâm lăng từ những đạo binh các vua lân cận, nên tìm sự bảo trợ Assyria cho bản thân mình và cho vương quốc của mình. Tiên tri, bảo cho vua biết phải đặt tin tưởng vào Chúa mà thôi và phải loại trừ sự can thiệp đáng sợ Assyri, nên thay mặt Chúa Giêsu kêu gọi vua phải tin vào quyền năng Thiên Chúa: "Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu". Khi vua từ chối vì muốn tìm kiếm sự giải cứu qua sự giúp đỡ loài người hơn, thì ngôn sứ nói lời tiên báo danh tiếng này: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vit! các ngươi làm phiền lòng thiên hạ chưa đủ sao mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa? Vì vậy chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu. Này đây người trinh nữ mang thai sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuen" (Is 7,13-14).
Việc loan báo dấu chỉ của Đấng Emmanuen, "Chúa ở cùng chúng ta" bao hàm lời Chúa hứa sẽ hiện diện trong lịch sử, lời hứa đó sẽ đầy đủ ý nghĩa trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.
4. Trong lời loan báo việc sinh hạ lạ thường Đấng Emmanuen, nêu lên người nữ mang thai và sinh hạ là có ý lên kết người mẹ với vận mạng đứa con - một hoàng tử sẽ thiết lập một vương quốc lý tưởng. Vương quốc "cứu thế", và đưa ra một cái nhìn về chương trình đặc biệt của Thiên Chúa nâng cao vai trò người nữ.
Dấu chỉ thực sự, không những là một đứa bé nhưng là sự mang thai kỳ lạ được mặc khải sau này trong chính sự sinh hạ, một biến cố đầy hy vọng, nhấn mạnh vai trò trung tâm của người mẹ.
Lời tiên tri về Đấng Emmanuen cũng phải được hiểu trong cái tầm nhìn được mở rộng qua lời hứa với Đavít, một lời hứa chúng ta đọc trong sách Samuen quyển thứ 2. Ở đây ngôn sứ Nathan hứa với vua Thiên Chúa sẽ phù hộ dòng giống nhà vua: "chính nó sẽ xây nhà cho Danh Ta, và Ta sẽ cho ngai vương quyền nó kiên vững muôn đời. Ta sẽ là Cha nó, và nó sẽ là Con Ta" (2 Sm 7, 13-14).
Thiên Chúa muốn thi hành vai trò người Cha đối với dòng dõi Đa-vít, vai trò sẽ mặc khải ý nghĩa đầy đủ và đích thực của nó trong Tân Ước qua sự nhập thể Người Con Thiên Chúa trong gia đình Đavít (x. Rm 1, 13).
5. Cũng chính ngôn sứ Isaia, trong một bản văn khác rất quen thuộc xác quyết đặc tính khác thường của sự sinh hạ Đấng Emmanuen: Đây là những lời ngôn sứ: "vì một trẻ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn Kỳ Diệu, Thần Linh Dũng Mãnh, Người Cha Muôn Thuở, Thủ Lãnh Hoà Bình" (Is 9, 5). Như thế là trong một loạt những tên ban tặng cho con trẻ, ngôn sứ diễn tả những đức tính thuộc sứ vụ nhà vua: Khôn ngoan, quyền thế, lòng nhân từ người Cha, kẻ mang lại hoà bình.
Người mẹ không còn được nhắc tới ở đây nữa, nhưng sự suy tôn Người Con, Đấng mang đến cho dân chúng tất cả những gì họ hy vọng có được trong Nước Cứu Thế, thì cũng được phản chiếu lại trong người nữ mang thai và hạ sinh Người con.
6. Một lời tiên tri danh tiếng Ngôn sứ Mikêa cũng ám chỉ tới sự sinh hạ Đấng Emmanuen. Ngôn sứ nói: "Phần ngươi, hỡi Bêlem Ephratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thủ lĩnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa. Vì thế Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con" (Mk 5, 1-2). Những lời này dội lại lòng mong ước một cuộc sinh hạ đầy hy vọng cứu thế nhờ đó vai trò người mẹ được chú trọng một lần nữa, người mẹ được minh nhiên nhắc tới và đề cao do biến cố kỳ diệu mang lại niềm vui và ơn cứu rỗi.
Lời tiên tri chuẩn bị mặc khải chức là mẹ đồng trinh
7. Chức làm Mẹ đồng trinh của Đức Maria được chuẩn bị cách chung hơn bởi Chúa săn đón những người khiêm hạ và khó nghèo (x. LG 55).
Qua thái độ đặt hết tin tưởng vào Chúa, họ tiên báo ý nghĩa sâu xa đức đồng trinh của Đức Maria qua sự khước từ vẻ phong phú của chức làm mẹ thế gian. Đức Maria chờ đợi Chúa ban mọi sung mãn cho chính đời sống mình.
Như vậy Kinh Thánh Cựu Ước không chứa đựng một lời loan báo chính thức nào về chức làm mẹ đồng trinh, sự kiện này chỉ được mặc khải trong Tân Ước. Mặc dầu vậy lời ngôn sứ Isaia (Is 7, 14) chuẩn bị cho mặc khải này và được hiểu như vậy trong bản dịch Hy lạp thời Cựu Ước. qua trích dẫn lời tiên tri chuyển dịch như vậy, Tin Mừng Thánh Matthêô loan báo mầu nhiệm ấy được hoàn thành trọn vẹn, do sự thụ thai Chúa Giêsu trong lòng trinh khiết của Đức Maria.
admin
16-06-2006, 03:51 PM
CHỨC LÀM MẸ LÀ MỘT ÂN HUỆ ĐẶC BIỆT CỦA THIÊN CHÚA
Thứ Tư, 6/03/1996
Kinh Thánh Cựu Ước không những nói chức làm mẹ là một ân huệ Thiên Chúa ban, mà còn khêu lên một mối liên kết đặc biệt giữa vận mạng các bà mẹ và con cái mình.
1. Chức làm mẹ là một ân huệ Chúa ban. "Nhờ Thiên Chúa tôi đã có được một người (con)" (St 4,1), bà Eva la lên sau khi sinh hạ Cain, đứa con đầu lòng của bà. Với những lời nói đó, sách Sáng Thế giới thiệu chức làm mẹ đầu tiên trong lịch sử loài người như là một ân sủng và là một niềm vui xuất phát từ lòng nhân hậu của Đấng Tạo Hoá.
2. Sự sinh hạ Isaac cũng được diễn tả tương tự trong bước đầu của dân ưu tuyển.
Thiên Chúa hứa với Abraham, người không con và giờ đây đã cao niên, rằng con cháu ông sẽ đông như sao trên trời (x. 15, 5). Lời hứa được vị tổ phụ đón nhận với niềm tin chương trình của Chúa được mặc khải cho ông: "Và Abraham đã tin vào Chúa, và Người đã kể cho ông như sự công chính: (St 15, 6).
Lời hứa này đã được củng cố qua những lời Chúa đã nói khi Người kết ước với Abraham: "Phần Ta, này giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ là Cha của hằng hà sa số dân tộc" (St 17, 4).
Những biến cố bất thường và kỳ diệu chứng tỏ cách hùng hồn rằng chức làm mẹ của bà Sara trước nhất là hoa trái của lòng thương xót Chúa, Đấng ban sự sống qua sự chờ đợi của loài người: "Ta sẽ chúc lành cho nó, do bởi nó Ta sẽ ban cho ngươi một con trai, Ta sẽ chúc lành cho Sara và nó sẽ thành mẹ những dân tộc, sẽ phát xuất từ nó những vị vua các nước" (St 17, 15-16).
Chức làm mẹ được giới thiệu như ân huệ quyết định của Thiên Chúa. Vị tổ phụ và vợ ông sẽ mang tên mới để chỉ sự biến đổi khôn lường và kỳ diệu Chúa thực hành trong đời sống của các Ngài.
Chúa làm cho vui mừng với ân huệ làm mẹ
3. Sự thăm viếng của ba nhận vật nhiệm mầu mà các Giáo phụ giải thích là hình ảnh Ba Ngôi Thiên Chúa, đã loan báo Lời Chúa hứa với Abraham được hoàn thành cách rõ ràng hơn: "Chúa đã hiện ra cho ông nơi cây sồi Mamre. Abraham ngồi nơi cửa lều vào lúc nóng nhất trong ngày. Ông ngước mắt lên, thì này có ba người dừng bên ông" (St 18, 1-2). Ông Abraham thắc mắc: "Há người 100 tuổi lại có con? Há Sara 90 tuổi đầu lại còn sinh nở?" (St 17,17; x.18,11-13). Người khách thần linh vặn lại: "thì nào có gì quá ư huyền diệu đối với Thiên Chúa? Đến kỳ hẹn Ta sẽ lại đây với ngươi, giờ này năm sau, và Sara sẽ có con trai" (St 18,14; x. Lc 1,37).
Tường thuật nhấn mạnh tới kết quả của lần Chúa viếng thăm, là làm cho một sự phối hợp vợ chồng hiện đang son sẻ, được kết quả. Vì tin vào Thiên Chúa, Abraham trở nên một người cha trái ngược với mọi hy vọng, và "một người cha trong đức tin" vì từ đức tin của ông phát sinh đức tin của dân ưu tuyển.
4. Kinh Thánh còn thuật lại nhiều câu chuyện khác của những người nữ được chữa khỏi hoạ son sẻ và được Chúa ban cho niềm vui làm mẹ. Thường đó là những thân phận đau khổ, mà Chúa can thiệp biến thành những kinh nghiệm vui, khi Chúa nghe lời cầu xin tha thiết của những người tuyệt vọng trên bình diện con người. ví dụ "khi Raken thấy mình không sinh được con cho Giacóp", thì đâm ghen với chị. Bà nói với Giacóp: "cho tôi có con bằng không thì tôi chết mất". Giacóp mới nổi nóng lên với Raken và nói: "Nào tôi có thay chỗ Thiên Chúa đâu, Đấng đã từ chối không cho mình hoa quả lòng dạ: (St 30, 1-2).
Nhưng bản văn Kinh Thánh liền nói thêm: "Thiên Chúa đã nhớ đến Raken; Thiên Chúa đã nhận lời bà, và cho bà được khai hoa nở nhụy. Bà đã có thai và sinh một con trai" (St 30, 22-23). Người con này tức là Giuse sẽ đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Ít-ra-en khi dân tộc di cư qua Ai cập.
Trong tường thuật này cũng như trong nhiều tường thuật khác, Kinh Thánh có ý làm nổi lên tính chất lạ lùng của việc Chúa can thiệp trong những trường hợp đặc biệt này khi nhấn mạnh đến trạng huống ban đầu là sự son sẻ người nữ; dầu sao, Kinh Thánh cũng đồng thời cho phép chúng ta thấy rõ được làm mẹ là một ân ban nhưng không.
5. Chúng ta gặp một quá trình như vậy trong tường thuật sinh hạ ông Samson. Bà vợ ông Manoah, đã không bao giờ có thể thụ thai một đứa con, nghe lời Thiên Thần Chúa mách bảo: "Đã rõ bà son sẻ và không có con, nhưng bà sẽ có thai và sinh con trai" (Tl 13,3). Sự có thai bất ngờ và kỳ diệu, báo trước những việc vĩ đại Thiên Chúa sẽ thực hiện qua Samson.
Trong trường hợp bà Anna, mẹ ông Samuel chúng ta thấy rõ vai trò đặc biệt của lời cầu nguyện. Bà Anna cam chịu sỉ nhục vì son sẻ nhưng bà đặt hết tin tưởng vào Chúa, bà chạy tới Chúa liên lỉ, may ra Chúa giúp bà thắng vượt thử thách này. Ngày kia tại đền thờ bà đã khấn: "Lạy Thiên Chúa các cơ binh, nếu Người đoái nhìn đến nỗi khổ của tớ nữ Người và nhớ đến tôi, nếu Người không bỏ quên tớ nữ của Người mà ban cho tớ nữ Người một mống nam nhi, thì tôi xin dâng cho Người suốt mọi ngày đời nó" (1 Sm 1, 27-28). Được Chúa ban cho Anna, rồi sau đó được Anna ký thác cho Chúa, cậu bé Samuen trở thành một sợi dây sống động liên kết Anna với Chúa.
Như vậy sự sinh hạ Samuen là một kinh nghiệm vui mừng và là một dịp để tạ ơn. Sách Samuen quyển thứ nhất chứa đựng một thánh ca, được gọi là bài Magnificat của bà Anna, xem như báo trước thánh ca của Đức Maria: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở trong Chúa" (1 Sm 2, 1).
Ân sủng được làm mẹ mà Chúa ban cho bà Anna vì bà cầu xin liên lỉ đã làm cho lòng bà tràn đầy quảng đại. Việc thánh hiến Samuen là sự đền đáp biết ơn của một người mẹ vì bà nhìn nhận nơi đứa con mình hoa quả của tình Chúa thương, nên bà đền đáp ân huệ đó bằng cách ký thác cho Chúa đứa con mình ao ước từ lâu.
Chúa can thiệp trong những thời điểm quan trọng
6. Trong các tường thuật về chức làm mẹ kỳ diệu mà chúng ta vừa nhắc tới, để khám phá vị trí quan trọng Kinh Thánh ấn định cho các bà mẹ trong sứ mạng của những đứa con. Trong trường hợp ông Samuen bà Anna đã quyết định dâng con mình cho Chúa. Cũng một vai trò quyết định như vậy được thực thi nơi một bà mẹ khác, bà Rebecca, bà đã tranh phần gia tài cho Giacóp (St 27). Sự can thiệp của người mẹ được diễn tả trong Kinh Thánh, có thể giải thích như là dấu chỉ được lựa chọn như dụng cụ trong chương trình tối cao của Chúa. Chính Chúa chọn người con nhỏ hơn là Giacóp, cho lãnh phép lành và gia sản của người cha, và như vậy ông được chọn làm kẻ chăn dắt và lãnh đạo dân mình. Chính Chúa bằng một quyết định tự do và khôn ngoan, ấn định và điều khiển vận mạng của mỗi người (Kng 10,10-12).
Sứ điệp Kinh Thánh liên quan đến chức làm mẹ mặc khải những phương diện quan trọng và thời sự nữa: "thực vậy sứ điệp đó rọi ánh sáng trên chiều kích ân ban nhưng không, như thấy rõ trong trường hợp những bà mẹ son sẻ, trong giao ước riêng Chúa ký kết với người nữ và trong mối giây đặc biệt liên kết vận mạng người mẹ với đứa con bà.
Đồng thời, vào những lúc quan trọng trong lịch sử dân Người, sự can thiệp của Chúa cho nhiều người nữ hiếm muộn mang thai, đã chuẩn bị cho niềm tin vào sự can thiệp của Chúa, vào thời viên mãn cho Đức Trinh Nữ thụ thai thực hiện Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Người.
admin
16-06-2006, 03:53 PM
VAI TRÒ KHÔNG THỂ THIẾU CỦA NGƯỜI NỮ TRONG LỊCH SỬ CỨU RỖI
Thứ Tư, 27/03/1996
Cựu Ước giới thiệu những gương mặt người nữ khác lạ. Họ là những kẻ được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đã góp phần tích cực vào lịch sử Ít-ra-en.
1. Cựu Ước làm chúng ta kinh ngạc khi nói về một số người nữ được thần khí Thiên Chúa thúc giục, đã góp phần mình vào những trận chiến và những chiến thắng của dân Ít-ra-en hay là đóng góp vào sự cứu thoát dân này. Sự hiện diện của họ trong lịch sử dân này không phải ở ngoài lề cũng không phải là tiêu cực. Họ xuất hiện như những vai chính trong lịch sử giải phóng. Sau đây là những tấm gương ý nghĩa nhất.
Sau khi qua Biển Đỏ Kinh Thánh đề cao sáng kiến một người nữ có cảm hứng thay đổi biến cố quyết định này thành một ngày lễ hội: "Bấy giờ Miriam, nữ tiên tri, em gái của Aaron, cầm trống nơi tay và các phụ nữ hết thảy đi theo bà, với trống kèn mà nhảy múa. Và Miriam đã xướng: 'Hãy hát mừng Yavê, vì uy Người cao cả, chiến mã với kỵ binh, Người quăng tùm xuống biển!' " (Xh 15, 20-21).
Nhắc tới thành công phụ nữ này trong khung cảnh một lễ hội làm nổi bật không những vai trò quan trọng của người nữ mà còn đề cao sự khéo léo đặc biệt của người nữ trong việc ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa.
Sự góp phần tích cực của người nữ vào lịch sử cứu rỗi
2. Hành động của nữ tiên tri Đêbôra, thời kỳ các Thẩm phán còn quan trọng hơn. Sau khi khiến vị tướng chỉ huy đạo binh ra đi chiêu mộ người mình, bà đảm bảo rằng sự hiện diện của bà đem chiến thắng lại cho quân binh Ít-ra-en, còn báo trước một người nữ khác tên là Giaen, sẽ giết tướng quân thù.
Để ăn mừng chiến thắng lớn này, bà Đêbôra cũng ca hát một bài trường ca cao rao hành động của Giaen: "Trội hàng phụ nữ Giaen hãy được chúc phúc (…) trội hàng phụ nữ ở lều nàng hãy được chúc phúc" (Tl 5, 24). Trong Tân Ước bài ca này được vang dội lại trong những lời bà Elisabeth nói với Đức Maria trong ngày Thăm viếng của Người: "Em được chúc phúc trong hàng phụ nữ" (Lc 1, 42).
Vai trò đầy ý nghĩa của người nữ trong công cuộc giải cứu dân mình, được những gương mặt của Đêbôra và Giaen giương cao, vai trò đó lại được trình bày trong tường thuật một người nữ tiên tri khác tên là Huldah sống thời kỳ vua Giôsia.
3. Các sách Giuđitha và Esther, cách riêng, với mục đích lý tưởng hoá sự đóng góp tích cực của người nữ cho lịch sử dân ưu tuyển - trong một bối cảnh văn hoá bạo lực – đã giới thiệu hai người nữ giành chiến thắng và giải phóng cho dân Ít-ra-en.
Đặc biệt sách Giuđitha tường thuật vua Nabucodonosor gởi một đạo binh ghê sợ đến chiếm đóng nước Ít-ra-en. Tướng Hôlôphécnô kéo binh đến chiếm thành Bethulia, dân thành tuyệt vọng, xem việc phòng thủ tự vệ là vô ích nên xin các vị chỉ huy cho đầu hàng. Các vị bô lão Thành đô, khi chưa có sự tiếp cứu kịp thời, tuyên bố sẵn sàng giao Bethulia vào tay quân địch, nhưng họ bị bà Giuđitha khiển trách là thiếu lòng tin, phần bà thì tuyên xưng niềm tin tuyệt đối vào sự giải thoát của Thiên Chúa.
Sau khi cầu xin Chúa dài ngày bà Giuđitha, biểu trưng cho lòng trung tín với Chúa, cho sự cầu nguyện khiêm tốn và cho ý muốn giữ lòng trinh khiết, đã đi đến chỗ tướng Hôlôphécnô, một vị tướng thù địch kiêu căng, thờ ngẫu thần và sống phóng đãng.
Lúc chỉ còn một mình và trước khi giết tướng ấy bà Giuđitha cầu nguyện với Thiên Chúa: "Lạy Chúa Ít-ra-en, xin ban cho con sức mạnh ngày hôm nay" (Gđt 13, 7). Rồi lấy gươm của Hôlôphécnô, bà cắt đầu tướng ấy.
Ở đây cũng như trường hợp Đavít và Goliat, Chúa dùng sự yếu hèn để thắng sức mạnh. Dầu sao trong trường hợp này chính người nữ đã mang lại chiến thắng: Giuđitha không lùi bước do sự nhát hèn và kém tin của các bậc lãnh đạo dân, đã đi tới chỗ Hôlôphécnô và giết ông, bà được thầy thượng phẩm và các bô lão Giêrusalem biết ơn và ngợi khen. Những vị đó hoan hô người nữ đã đánh bại quân thù rằng "bà là mối hiển dương cho Giêrusalem! Bà là niềm tự hào vĩ đại của Ít-ra-en! Bà là niềm vinh quang sáng chói của nòi giống chúng tôi: Chính tay bà đã làm mọi sự hết thảy. Bà đã đem đại an lành cho Ít-ra-en và Thiên Chúa đã được thoả lòng vì các điều ấy. Phú cho bà nơi Chúa toàn năng, cho đến muôn đời vạn kiếp" (Gđt 15, 9-10).
4. Những biến cố thuật lại trong sách Esther đã xảy ra trong một hoàn cảnh khác rất khó khăn cho dân Do Thái. Trong vương quốc Persia. ông Haman người quản lý nhà vua định tiêu diệt người Do Thái. Muốn phá vỡ nguy hiểm này ông Mardocai, một người Do Thái đang sống trong thành Susa, mới hướng về đứa cháu gái tên là Esther đang sống trong đền vua với tước hiệu là hoàng hậu. Không kể gì luật hiện hành, bà ra trình diện nhà vua mà không được triệu tập trước như vậy là liều bị án tử, rồi bà đã rút lại được án tiêu diệt đó. Ông Haman bị xử tử, Mardocai được nắm quyền hành và người Do Thái được cứu thoát khỏi mối đe doạ, như thế đã thắng được địch thù mình.
Bà Giuđitha và Esther cả hai liều mạng sống để mang lại sự giải phóng dân mình. Dầu vậy, hai sự can thiệp đó hoàn toàn khác nhau: Esther không giết người thù, bà chỉ đóng vai trò trung gian, cầu khẩn cho những kẻ bị đe doạ tiêu diệt.
Chúa Thánh Thần phát thảo vai trò của Đức Maria trong việc cứu rỗi nhân loại
5. Vai trò cầu xin này, cũng được gán cho một gương mặt đàn bà khác, bà Abigai vợ ông Naban nói trong sách 1 Samuen. Ở đây cũng vậy, nhờ sự can thiệp của bà mà có được một giải thoát khác nữa.
Bà đến gặp Đavít quyết định phá tan gia đình Naban, bà xin tha thứ cho tội lỗi chồng bà. Như vậy bà cứu nhà ông khỏi bị tiêu diệt trước mắt (1 Sm 25).
Như có thể ghi nhận dễ dàng, truyền thống Cựu Ước thường nhấn mạnh đến hành động quyết định của người nữ trong sự giải phóng Ít-ra-en, nhất là trong bản văn viết ra cận thời kỳ Chúa Kitô xuất hiện. Như thế đó, Chúa Thánh Thần qua những biến cố liên quan tới những người nữ Cựu Ước, đã chính xác phát hoạ những đặc tính của sứ mạng Đức Maria trong công trình cứu chuộc toàn thể nhân loại.
admin
16-06-2006, 03:55 PM
NGƯỜI NỮ LÝ TƯỞNG LÀ MỘT KHO TÀNG QUÝ BÁU
Thứ Tư, 01/4/1996
Mặc dầu Kinh Thánh nêu lên nhiều gương đàn bà lôi kéo kẻ khác đi lạc, nhưng nổi bật vẫn là hình ảnh những cá nhân vững mạnh làm việc với Chúa và cho Chúa.
1. Cựu Ước và truyền thống Do Thái tràn đầy những sự thừa nhận tính cao quý phụ nữ về mặt luân lý được phát biểu rõ hơn hết trong thái độ tin tưởng vào Chúa, trong kinh nghiệm để được ơn làm mẹ và khi cầu nguyện xin Chúa giải cứu dân Ít-ra-en khỏi những cuộc tấn công kẻ thù. Thỉnh thoảng như trong trường hợp bà Giuđitha, đức tính này được toàn thể cộng đồng hiển dương, vì nó biến thành đối tượng cảm phục của mọi người.
Bên cạnh những gương sáng của các nữ anh hùng trong Kinh Thánh, chứng từ tiêu cực của một số phụ nữ không phải là thiếu: như bà Đêlila phá hủy tài năng ngôn sứ Samson (Tl 16, 4-21), các đàn bà ngoại bang đã quay lòng vua Salomon xa Chúa khi ông đến tuổi già và lôi cuốn vua theo các thần khác (1 V 11, 1-8), Giêzaben giết "tất cả ngôn sứ của Chúa" (1 V 18, 13) và đã giết Nabot để cướp vườn nho của ông mà trao cho vua Acáp (1 V 21), và bà vợ ông Gióp mắng chửi ông trong lúc gặp hạn và thúc đẩy ông nổi loạn (G 2, 9).
Trong những trường hợp này, cách cư xử của người nữ gợi lại cách cư xử của bà Eva. nhưng cái nhìn lan rộng trong Kinh Thánh là cái nhìn được cảm hứng do Tiền Tin Mừng, thấy nơi đàn bà một nơi kết thân với Chúa
Gương mặt người nữ là một ân ban quý báu của Chúa.
2. Thật vậy nếu những người đàn bà ngoại bang bị cáo buộc đã quay lòng vua Salomon xa việc sùng kính Thiên Chúa thật, thì sách Rút lại giới thiệu chúng ta một gương mặt cao đẹp nhất lại là gương mặt người nữ ngoại bang: Rút người Môáp, một gương đạo đức cho những người thân quen bà và cũng là một gương khiêm nhượng chân tình và quảng đại, vì chia sẻ sự sống và đức tin của dân Ít-ra-en bà đã trở nên bà nội của vua Đavít và là tổ mẫu của Đấng Messia. Thánh Matthêô đưa bà vào gia phả Chúa Giêsu (Mt 1, 5), làm cho bà nên dấu chỉ tính phổ biến và nên kẻ cao rao lòng nhân từ của Chúa mở rộng tới toàn thể nhân loại.
Trong hàng tổ tiên Chúa Giêsu, thánh sử thứ nhất cũng nhắc tới bà Tama, Rahab, bà vợ ông Uria, ba bà tội lỗi nhưng không phải là đàn bà ác độc, được kể vào số nữ tổ tiên của Chúa Cứu Thế để chứng tỏ rằng lòng Chúa nhân lành còn lớn hơn tội lỗi. Nhờ ân sủng Người, Thiên Chúa dùng những hoàn cảnh hôn nhân bất hợp lệ của họ để thực hiện chương trình cứu rỗi của Người, như vậy là dọn đàng cho tương lai.
Một gương khác thuộc dạng hiến mình khiêm tốn, khác với sự cống hiến của bà Rút, là gương người con gái ông Giéptê, cô bằng lòng trả giá sự chiến thắng quân Ammon của cha cô bằng cái chết của mình (Tl 11, 34-40). Dầu khóc than số phận tàn nhẫn của mình, cô không nổi loạn, nhưng sẵn sàng chịu chết để cho trọn lời khấn vô ý thức của cha cô theo tập tục cổ xưa còn đang lưu hành (x. Gr 7, 31; Mk 6, 6-8).
3. Mặc dầu văn chương khôn ngoan thường ám chỉ những khuyết điểm của phụ nữ, nhưng vẫn nhận thấy nơi họ một kho báu ẩn giấu: "tìm được người vợ là tìm thấy hạnh phúc, và lãnh nhận một nhân đức từ Thiên Chúa" (Cn 18, 22) diễn tả một sự đánh giá có xác tín về gương mặt phụ nữ, sách Cách Ngôn nói đó là một ân huệ quý báu Chúa ban.
Ở cuối quyển sách đó, có phát thảo hình ảnh một người nữ lý tưởng. Thay vì là một mẫu người không thể đạt tới, người ấy lại là một hình ảnh cụ thể phát sinh từ kinh nghiệm của những người nữ giá trị cao: "Một người nội trợ giỏi ai sẽ tìm ra? Nàng có giá hơn châu ngọc" (Cn 31, 10).
Văn chương khôn ngoan nhận thấy người nữ nào sống trung thực với Giao ước Chúa, thì đầy tràn những tài năng và được mọi người thán phục. Thật vậy, cho dầu thỉnh thoảng những người nữ làm thất vọng kẻ khác, nhưng họ vượt hẳn mọi ước vọng khi tâm hồn họ trung thành với Chúa: "Duyên dáng là trả giá, sắc đẹp là hư vô, người đàn bà kính sợ Thiên Chúa đó là người phải ca ngợi" (Cn 31, 30).
Người mẹ đáng được tôn kính ghi nhớ
4. Trong văn cảnh này sách Ma-ca-bê, qua câu chuyện người mẹ với 7 anh em tử đạo thời kỳ bắt đạo do vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nô, nêu cao cho chúng ta thấy tấm gương lạ kỳ nhất về tính cao thượng trong cơn thử thách.
Sau khi diễn tả cái chết của 7 anh em, tác giả Kinh Thánh nói thêm: "Còn người mẹ, bà thật là người đáng thán phục mọi đàng, xứng đáng được kính cẩn ghi nhớ, một lòng trông cậy vào Chúa, bà đã can đảm chịu đựng và chứng kiến 7 con cùng chết trong một ngày. Bà đã ủy lạo mỗi người con bà bằng tiếng tổ tiên, lòng đầy chí khí anh hùng, nữ tính được khí phách nam nhi làm cho phấn khởi, và bà nói với các con: "Ta không được biết làm sao chúng con đã xuất hiện trong lòng dạ ta, không phải ta đã tặng cho chúng con sinh khí và sự sống; cũng không phải ta đã hoà nhịp cho các yếu tố xây đắp mỗi đứa chúng con. Ấy vậy, Đấng tạo thành vũ trụ, Đấng đã nắn ra con người khi sinh ra, và đã sáng kiến làm ra mọi sự khi chúng được sinh thành, Người sẽ trả lại cho chúng con trong lòng lân mẫn của Người, sinh khí với sự sống, một khi chúng con không màng đến chính mình để bênh vực các luật của Người" (2 Mcb 7, 20-23).
Thúc giục đứa con thứ 7 thà chịu chết chẳng thà bất tuân lề luật Chúa, người mẹ nói lên niềm tin của mình vào công trình Chúa sáng tạo mọi sự từ hư vô: "Hỡi con, mẹ xin con hãy ngước nhìn trời đất mà xem tất cả mọi vật trong đó và hãy biết rằng Thiên Chúa đã làm ra chúng, không phải do vật gì đã có trước và về loài người thì cũng thế. Đừng sợ tên lý hình ấy, nhưng hãy ở sao cho xứng với các anh con đã chết, ngõ hầu nhờ Chúa thương mẹ được gặp lại con làm một với các anh con" (2 Mcb 7, 28-29). Rồi bà chịu một cái chết đẫm máu sau khi đã chịu cực hình tinh thần gấp 7 lần, làm chứng một đức tin kiên vững, một hy vọng vô bờ bến, một can đảm anh hùng.
Trong những gương mặt đàn bà ấy, biểu lộ sự lạ lùng của ân sủng Chúa, chúng ta thoáng thấy một gương mặt cao cả nhất: Đức Maria Mẹ Thiên Chúa.
admin
16-06-2006, 03:58 PM
THIÊN CHÚA LUÔN TRUNG TÍN VỚI GIAO ƯỚC CỦA NGƯỜI
Thứ Tư, 24/04/1996
Các ngôn sứ thường sử dụng hình ảnh vợ chồng để diễn tả mối quan hệ giữa Chúa và dân Ít-ra-en.
1. Kinh Thánh thường sử dụng kiểu nói "con gái Sion" để chỉ dân thành Giêrusalem, có núi Sion danh tiếng nhất về mặt lịch sử và tôn giáo. (x. Mk 4, 10-13; Xp 3, 14-18; Dcr 2, 4; 9, 9-10).
Nhờ việc nhân cách hoá có nữ tính, mà dễ dàng giải thích theo dạng vợ chồng, quan hệ tình yêu giữa Chúa và dân Ít-ra-en, thường được mô tả với những từ ngữ hôn thê hoặc người vợ.
Lịch sử cứu rỗi là lịch sử tình yêu của Chúa, nhưng rất thường cũng là lịch sử phản bội của nhân loại. Lời Chúa thường quở trách dân-hôn-thê bẻ gãy giao ước hôn nhân đã thiết lập với Chúa: "Thế nhưng người đàn bà thất trung với bạn mình làm sao, thì hỡi nhà Ít-ra-en, các ngươi cũng thất trung với Ta như vậy" (Gr 3, 20) và kêu gọi con cái Ít-ra-en bàu chữa mẹ chúng: "Hãy đưa mẹ các ngươi ra toà, đưa nó ra toà đi, vì nó không phải là vợ của Ta, và Ta không phải là chồng của nó" (Hs 2, 2).
Tội thất tín làm ô uế dân Ít-ra-en, người vợ của Tavê, là tội gì"? Đó là tội thờ ngẫu tượng: Theo bản văn thánh, trong con mắt Chúa, chạy theo các tà thần đối với dân ưu tuyển, ví như tội ngoại tình.
2. Bằng những hình ảnh mạnh và bi đát, ngô sứ Hôsê quảng diễn đề tài giao ước hôn nhân giữa Chúa và dân Người, và sự phản bội của họ: Kinh nghiệm các nhân của ông biến thành một dấu chỉ hùng hồn của sự kiện đó. Thực vậy, khi sinh con ông được lệnh: "hãy đặt tên nó là không được thương" vì Ta không còn chạnh lòng thương nhà Ít-ra-en, không xử khoan hồng với chúng nữa", và nữa "Đặt tên cho nó là "không phải dân Ta" vì các ngươi không phải là dân Ta và Ta không phải là Chúa các ngươi" (Hs 1, 6-9).
Thiên Chúa loan báo một giao ước hoàn hảo hơn trong tương lai
Lời quở trách của Chúa và kinh nghiệm chán ngán chạy theo các tà thần, làm cho người vợ phản bội hoàn hồn, bà hối hận nói: "tôi phải trở về với người chồng đầu tiên của tôi, vì hồi ấy tôi sướng hơn bây giờ" (Hs 2, 9). Nhưng Chúa muốn thiết lập Giao Ước lại và bấy giờ Lời Chúa nói trở nên khuyên bảo, nhân hậu và dịu hiền: "Bởi thế, này Ta sẽ quyến rủ nó, đưa nó vào sa mạc để cùng nó thổ lộ tâm tình" (Hs 2, 16). Sa mạc thực tế là nơi Chúa lập Giao Ước dứt khoát với dân Người sau khi cứu thoát khỏi cảnh nô lệ.
Qua những hình ảnh tình yêu, diễn tả tương quan khó khăn giữa Chúa và Ít-ra-en, ngôn sứ minh hoạ thảm cảnh to lớn tội lỗi, sự bất hạnh của con đường phản bội và những cố gắng do lòng thương yêu của Chúa muốn nói với con tim loài người và đem họ trở về với Giao Ước.
3. Mặc dầu có những vấn đề của thời buổi đó, qua miệng ngôn sứ, Chúa loan báo một giao ước hoàn hảo hơn trong tương lai: "Vào trong ngày đó sấm ngôn của Đức Chúa ngươi sẽ gọi Ta: "Mình ơi", chứ không còn gọi là "ông chủ ơi" nữa. Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cữu, Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương. Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành và ngươi sẽ được biết Đức Chúa" (Hs 2, 18, 21-22).
Chúa không mất tinh thần do sự yếu kém loài người, nhưng để đáp lại những thất tín của loài người, Chúa đề nghị một sự liên kết bền vững và thân thiết hơn: "Ta sẽ gieo trồng nó làm của riêng Ta trong xứ sở, sẽ chạnh thương con bé không-được-thương (Lô Ru-kha-ma), sẽ nói với thằng không-phải-dân-Ta (Lô Ammi) "Ngươi là dân Ta" còn nó sẽ thưa: "Thiên Chúa của con" (Hs 2, 25).
Cũng viễn ảnh tương tự về một giao ước mới được ngôn sứ Giêrêmia trình bày với dân đang bị lưu đày: "Thời bấy giờ sấm ngôn của Đức Chúa. Ta là Thiên Chúa của tất cả các thị tộc Ít-ra-en, và chúng sẽ là dân Ta. Đức Chúa phán thế này: Đám dân thoát cảnh gươm đao đã được ân nghĩa trong sa mạc; khi Ít-ra-en tìm chốn nghỉ ngơi, từ xa Đức Chúa sẽ hiện ra với nó. Ta sẽ yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở; nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương. Ta sẽ lại xây ngươi lên và ngươi sẽ được xây lại, hỡi Trinh Nữ Ít-ra-en" (Gr 31, 1-4).
Mặc dầu lòng dân bất trung, tình yêu muôn đời của Chúa luôn sẵn sàng tái thiết hiệp ước tình yêu và ban tặng sự cứu rỗi vượt quá mọi trông đợi.
4. Ngôn sứ Êdêkien Chúa nói với dân của Người: "Còn Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với ngươi thời ngươi còn thanh xuân. Ta sẽ thiết lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu" (Ed 16, 60).
Sách Isaia trưng dẫn một sấm ngôn đầy yêu thương: "Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắc, chính là Đấng đã tác thành ngươi… Trong một thời gian ngắn Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp. Lúc lửa giận bừng bừng, Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót, Đức Chúa Đấng cứu độ ngươi phán như vậy" (Is 54, 5, 7-8).
Lời hứa này đối với thiếu nữ Sion là một tình yêu mới và trung tín, một niềm hy vọng vĩ đại vượt thắng sự từ bỏ đi của người vợ thất trung: "Hãy nói với thiếu nữ Sion: kìa ơn cứu độ ngươi đang tới. Kìa phần thưởng của người theo sát một bên, và sự đền bù của Người đi nga trước mặt. Chúng sẽ được gọi là "dân thánh" là "những người được Chúa cứu chuộc", Còn ngươi sẽ được gọi là cô gái đắt chồng, là "thành không bị bỏ rơi" (Is 62, 11-12).
Mối tương quan giữa Chúa Giêsu được diễn tả bằng những lý tưởng
Ngôn sứ la lên: "Chẳng còn ai réo tên ngươi: "Đồ bị ruồng bỏ", xứ sở ngươi hết bị tiếng là "phận bạc duyên đơn". Nhưng ngươi được gọi "ái khanh lòng Ta hỡi", xứ sở ngươi nữ tiếng là "duyên thắm chỉ hồng" vì ngươi sẽ được Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi cưới ngươi về; như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ" (Is 62, 4-5).
Những hình ảnh và thái độ của tình yêu được sách Diễm Ca tóm tắt trong câu: "Tôi thuộc về người yêu của tôi, và người yêu của tôi thuộc về tôi" (Dc 6,3). Như vậy tương quan giữa Đức Yavê và dân Người được trình bày lại trong những từ ngữ lý tưởng.
5. Khi nghe đọc những lời sấm ngôn, Đức Maria phải có ý nghĩ đến viễn cảnh này, viễn cảnh nuôi niềm hy vọng cứu thế trong lòng Bà.
Những lời chỉ trích hướng về dân bất tín đã khơi dậy trong Bà một cam kết nồng hậu hơn sống trung thành với giao ước, mở lòng trí Bà đón nhận đề nghị một cuộc hiệp thông vợ chồng dứt khoát với Chúa trong ân sủng tình yêu. Từ Giao Ước mới này phát sinh ơn cứu rỗi cho toàn thế giới.
admin
16-06-2006, 04:01 PM
ĐỨC MARIA ĐÁP ỨNG LẠI CHÚA VỚI TÌNH YÊU VỢ CHỒNG
Thứ Tư, 01/05/1996
Với tư cách là "thiếu nữ Sion mới" Đức Maria đại diện toàn thể nhân loại, được kêu mời dự tiệc cưới mừng giao ước Chúa ký kết với dân Người.
1. Lúc Truyền tin, Đức Maria "người thiếu nữ cao sang của Sion" (LG 55), được Thiên Thần chào mừng như là người đại biểu nhân loại, được kêu mời ưng thuận với Mầu Nhiệm Nhập Thể Con Chúa. Lời nói trước nhất Thiên Thần nói với Bà, là một lời mời "vui mừng" Chaire, có nghĩa là "vui mừng". Từ ngữ Hy lạp được dịch qua tiếng La tinh là "Ave", một kiểu chào đơn sơ xem ra không đáp ứng đầy đủ với những ý hướng của vị sứ thần Thiên Chúa và đúng với văn cảnh của lời chào đó.
Dĩ nhiên, Chaire cũng là một hình thức chào hỏi người Hy lạp thường sử dụng, nhưng những hoàn cảnh bất thường khiến sử dụng lời chào này không có gì liên quan tới không khí một cuộc gặp mặt thông thường. Thật vậy, chúng ta không nên quên rằng Thiên Thần biết mình đang mang đến một loan báo độc nhất trong lịch sử loài người: Như vậy thì một lời chào đơn sơ bình thường không đặt đúng chỗ. Vì lẽ đó, quy chiếu tới cái ý nghĩa gốc của tiếng Chaire, "vui mừng", xem ra xứng hợp hơn cho hoàn cảnh đặc biệt này.
Như các Giáo Phụ Hy Lạp thường nhấn mạnh cách đặc biệt khi trưng dẫn nhiều sấm ngôn, lời mời gọi vui mừng là xứng hợp cách riêng cho việc loan báo Đấng Messia xuất hiện.
Hãy vui mừng, vì Chúa đã làm những việc lạ lùng
2. Trước hết chúng ta nên quay về ngôn sứ Xôphônia. Bản văn Truyền tin có ý nghĩa đi song song với sấm ngôn này: "Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi nào nhà Ít-ra-en hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy nức lòng phấn khởi" (Xp 3,14). Đây là một lời vui mừng: "reo vui lên và hãy nức lòng phấn khởi" (c. 14). Vì nhắc tới sự hiện diện của Chúa: "Đức vua của Ít-ra-en đang ngự giữa các ngươi, chính là Đức Chúa" (c.15). Có lời khuyên đừng sợ: "Này Sion đừng sợ chớ kinh hãi rụng rời" (c.16). Sau cùng có lời Chúa hứa sẽ can thiệp cứu rỗi: "Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là vị cứu tinh, là Đấng anh hùng: (c.17). Những kiểu so sánh như thế rất nhiều và rất hợp lý, nên người ta mới nhìn nhận Đức Maria là một "thiếu nữ Sion mới", người có đầy đủ lý để vui mừng vì Chúa đã quyết định hoàn thành chương trình cứu rỗi của Người.
Một lời mời gọi vui mừng tương tự, cho dầu nó nằm trong một ngữ cảnh khác, đến từ sấm ngôn Gio-en: "Hỡi đất đai đừng sợ, hãy hoan hỉ vui mừng vì Đức Chúa đã làm những việc lớn lao… Các ngươi sẽ biết rằng giữa Ít-ra-en có Ta hiện diện" (Ge 2, 21-27).
3. Sấm ngôn Dacaria cũng thật ý nghĩa khi được trích dẫn liên kết với việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem (Mt 21, 5; Ga 12,15). Trong lời sấm này, nguyên nhân vui mừng là do Vua Cứu Thế xuất hiện: "Nào thiếu nữ Sion hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: "Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng, khiêm tốn…Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân" (Dcr 9, 9-10).
Sau hết việc loan báo niềm vui cho Sion mới, theo như sách Isaia, phát sinh từ dòng dõi đông đúc của nó, một dấu chỉ Chúa chúc lành: "Reo mừng lên, người phụ nữ son sẻ, không sinh con, hãy bật tiếng reo hò mừng vui, hỡi ai chưa một lần chuyển dạ, vì con của người phụ nữ bị bỏ rơi thì đông hơn con của phụ nữ có chồng, Đức Chúa phán" (Is 54, 1).
Ba lý do đưa ra để mời mọc vui mừng: sự hiện diện cứu độ của Chúa giữa dân Người, sự xuất hiện của Vua Cứu Thế và sự sai hoa trái ban cho cách nhưng không và dồi dào, được hoàn thành trong Đức Maria, những lý do đó biện hộ cho cái ý nghĩa hàm súc mà truyền thống gán cho lời chào của Thiên Thần. Khi mời Đức Maria thuận tình hoàn thành lời hứa cứu thế và khi loan báo cho Người rõ chức làm Mẹ Chúa, Thiên Thần không thể không mời Người vui mừng. Thực vậy, Công Đồng nhắc chúng ta: "Sau đêm dài mong đợi thời gian đã nên trọn nơi Người, người thiếu nữ cao sang của Sion, và nhiệm cục mới được thiết lập khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi Người để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Chúa" (LG 55)
4. Trình thuật Truyền Tin cho phép chúng ta nhận ra Đức Maria là thiếu nữ mới của Sion, được Chúa mời gọi vui mừng thâm sâu, Sự vui mừng đó biểu thị vai trò đặc biệt của Người được là Mẹ Đấng Messia, quả thực là Mẹ Con Thiên Chúa. Đức Trinh Nữ nhận lãnh sứ điệp đó đại diện cho thần dân của vua Đavít, nhưng chúng ta có thể nói Người nhận lãnh sứ điệp đó đại diện cho toàn thể nhân loại, bởi vì Cựu Ước trải dài vai trò Đấng Cứu Thế thuộc dòng vua Đavít ra tới các dân tộc (x. Tv 2, 8; 71[72] ,8). Theo ý Chúa muốn, điều loan báo cho Đức Maria nhắm tới sự cứu rỗi phổ quát.
Đức Maria đón nhận niềm vui do các ngôn sứ báo trước.
Muốn xác quyết viễn cảnh phổ quát trong chương trình của Chúa, chúng ta có thể nhắc lại nhiều văn bản Cựu và Tân Ước, so sánh ơn cứu rỗi với một bữa tiệc lớn trên núi Sion cho tất cả các dân tộc (x. Is 25, 6f) và báo trước bữa tiệc cuối cùng trong nước Chúa (x. Mt 22, 1-10).
Với tư thế "con gái Sion" Đức Maria là nữ Đồng Trinh của Giao Ước Chúa ký kết với toàn thể nhân loại. Ai cũng rõ vai trò đại biểu của Đức Maria trong biến cố này. Và một điều có ý nghĩa là chính một người nữ thực hiện nhiệm vụ đó.
5. Với tư cách là "thiếu nữ Sion mới" trên thực tế, Đức Maria đặc biệt xứng đáng với giao ước vợ chồng với Chúa hơn và xứng hơn mọi thành phần nào khác của dân ưu tuyển, Người có thể dâng lên Chúa một quả tim thật của người vợ.
Với Đức Maria, "người con gái Sion" không chỉ là một đối tượng tập thể, nhưng còn là một con người đại diện toàn thể nhân loại và lúc Truyền Tin Người chấp nhận đề nghị của tình yêu Chúa bằng chính tình yêu vợ chồng của Người. Như vậy Người đón rước cách hết sức đặc biệt niềm vui các ngôn sứ đã nói trước, niềm vui lên tới tột đỉnh khi chương trình Chúa được hoàn thành.
admin
16-06-2006, 04:05 PM
ĐỨC TRINH NỮ RẤT THÁNH ĐƯỢC ĐẦY TRÀN ÂN SỦNG CHÚA
Thứ Tư, 08/05/1996
Thánh sử Luca nêu rõ ràng Đức Maria được "đầy ân sủng" không phải do công nghiệp loài người nhưng hoàn toàn là thành quả việc làm kỳ diệu của Thiên Chúa.
1. Trong tường thuật Truyền Tin, tiếng đầu tiên trong lời chào của Thiên Thần: "vui mừng lên", là một lời mời mừng vui nhắc lại những Sấm Ngôn Cựu Ước nói với "con gái Sion". Chúng tôi đã nói rõ điểm này trong bài giảng giáo lý trước và cũng đã giải thích những lý do cho sự mời gọi này: Chúa hiện diện giữa dân Người, sự xuất hiện Vị Vua Cứu Thế và sự ‘kết trái’ nơi người mẹ. Những nguyên nhân này hoàn thành nơi Đức Maria.
Sau khi chào Đức Trinh Nữ thành Nadaret: "chaire", "mừng vui lên", sứ Thần Gabrien gọi người là kecharitomêne, ‘đầy ân sủng’. Những từ này trong bản văn Hy lạp, chaire và kecharitomêne, đan dệt vào nhau cách chặt chẽ: Đức Maria được mời gọi mừng vui trước hết là vì Chúa đã thương yêu Người và đã ban cho Người tràn đầy ân sủng xứng chức làm Mẹ Thiên Chúa.
Đức tin của Giáo Hội và kinh nghiệm của các thánh dạy chúng ta rằng ân sủng là nguồn vui, và niềm vui thật thì bởi Chúa. nơi Đức Maria, cũng như nơi các kitô hữu, ơn Chúa phát sinh niềm vui sâu xa.
2. Kecharitomêne: Từ ngữ này đối với Đức Maria xem ra là phương cách xứng hợp để diễn tả người nữ được gọi làm Mẹ Chúa Giêsu. Hiến Chế Lumen Gentium nhắc lại cách thích hợp sự kiện này khi khẳng định: "Đức Trinh Nữ thành Nadaret được Thiên Thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và kính chào là "Đấng đầy ân phúc" (LG 56).
Vị sứ giả thiên quốc kính chào Đức Maria như thế làm tăng giá trị lời chào thần sứ: đây là sự tỏ bày chương trình cứu rỗi nhiệm mầu của Thiên Chúa bằng sự kính trọng Đức Maria. Như tôi đã viết trong thông điệp Redemptoris Mater: "Sự đầy ân sủng biểu lộ tính hào phóng siêu nhiên Đức Maria hưởng nhờ vì được chọn và trí định làm Mẹ Thiên Chúa" (số 9).
Chúa ban cho Đức Maria đầy ân sủng
"Đầy ân sủng" là cái tên Đức Maria có được trong mắt Chúa. Thật vậy, theo tường thuật thánh sử Luca, Thiên Thần sử dụng kiểu nói đó trước khi gọi tên Người là "Maria", và như vậy là nhấn mạnh đến phương diện trội hơn hẳn mà Chúa nhận thấy trong nhân cách của người trinh nữ thành Nadaret.
Kiểu nói "đầy ân sủng", là dịch từ tiếng Hy Lạp kecharitomêne, một động tính từ thụ động. Do đó muốn diễn tả chính xác hơn sắc thái của tiếng Hy Lạp, không chỉ nói đầy ân sủng mà nói "làm cho đầy ân sủng" hay là "được tràn đầy ân sủng" nói như vậy là chỉ rõ một ân huệ Chúa ban cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh. Từ này ở dạng động tính từ hoàn thành (perfect participle) nêu cao hình ảnh một ân sủng trọn vẹn và bền vững, ngụ ý sự đầy tràn. Cũng từ này, theo nghĩa "ban ân sủng" được sử dụng trong thơ gởi tín hữu Ephêsô để chỉ sự dồi dào ân sủng ban cho chúng ta bởi Chúa Cha trong Người Con yêu dấu của Người (Ep 1, 6) và được Đức Maria lãnh nhận như của đầu mùa ơn cứu rỗi (x. Redemptoris Mater số10).
3. Trong trường hợp Đức Trinh Nữ, hành động của Chúa xem ra đáng kinh ngạc. Đức Maria không có yêu sách nào về mặt nhân loại đòi buộc là phải loan báo Đấng Messia đến. Người không phải là Thầy thượng tế, không phải là đại biểu chính thức Do Thái giáo, cũng chẳng là một người nam, nhưng chỉ là một thiếu nữ chẳng có chút ảnh hưởng gì trong xã hội thời đó. Hơn nữa, Người là một kẻ sinh sống tại Nadaret, một ngôi làng không bao giờ được nhắc tới trong Cựu Ước. Nó cũng chẳng có tiếng tăm chi, như câu hỏi của ông Nathanaen, ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gioan, chứng tỏ: "Từ Nadaret, làm sao có cái gì hay được?" (Ga 1, 46).
Bản chất lạ thường và nhưng không của sự Chúa can thiệp còn trở thành rõ rệt hơn khi so sánh với bản văn Thánh Luca thuật lại những gì đã xảy ra cho ông Dacaria được nêu bật cùng với đời sống gương mẫu của ông, điều đó làm cho ông và vợ ông là bà Elizabeth nên gương mẫu sự công chính Cựu Ước: "không ai chê trách được vì cả hai sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa" (Lc 1, 46).
Nhưng chúng ta cũng chẳng được thông tin về nguồn gốc Đức Maria: câu nói "bởi nhà Đavít" (Lc 1, 27) thực sự chỉ nói về ông Giuse thôi. Cũng không nhắc tới cách sống của Đức Maria. Chọn kiểu nói này, Thánh Luca nhấn mạnh rằng tất cả trong Đức Maria xuất phát từ ân sủng tối cao. Tất cả những gì được trao tặng cho Người, không do công nghiệp nào đòi hỏi, nhưng chỉ do sự chọn lựa tự do và nhưng không của Chúa.
Tình thương của Chúa đạt cao điểm nhất nơi Đức Maria
4. Làm như vậy, Thánh sử dĩ nhiên không hạ thấp vai trò cá nhân vượt trỗi của Đức Trinh Nữ Rất Thánh. Đúng hơn, ông muốn trình bày Đức Maria như một hoa trái tinh ròng do thiên ý Chúa: Chúa đã chiếm hữu Người tới độ biến Người "đầy ân sủng" như lời, Thiên Thần truyền tin. Sự sung mãn ân sủng Chúa chính là nền tảng sự giàu có thiêng liêng ẩn giấu của Đức Maria.
Trong Cựu Ước, Giavê diễn tả sự sung mãn tình yêu của Ngài bằng nhiều cách và trong nhiều dịp. Trong buổi đầu Tân Ước, tình thương nhưng không của Chúa đạt cao điểm nhất nơi Đức Maria. Nơi Người, lòng yêu riêng của Chúa đối với dân ưu tuyển và cách riêng đối với những kẻ nghèo khó và khiêm tốn đạt tới cao điểm.
Được nuôi dưỡng bằng lời Chúa và kinh nghiệm các thánh, Giáo Hội thúc giục người tín hữu nhìn ngắm Mẹ Đấng Cứu Thế và xem mình như Người, được Chúa yêu thương. Giáo Hội kêu mời họ chia sẻ sự khiêm tốn và khó nghèo của Đức Mẹ, ngõ hầu theo gương và nhờ lời cầu của Người họ có thể bền đỗ trong ân sủng của Chúa, Đấng thánh hoá và hoán cải tâm lòng.
admin
16-06-2006, 04:09 PM
ĐỨC MARIA KHI MỚi TƯỢNG THAI KHÔNG MẮC TỘI TỔ TÔNG
Thứ Tư, 15/05/1996
Suy tư của Giáo Hội đã làm rõ nét cái ý nghĩa sâu xa của những từ "đầy ân sủng" mà Thiên Thần Gabriel đã nói với Trinh Nữ Nadaret.
1. Đức Maria đầy ân sủng được Giáo Hội công nhận là: "toàn thánh và khỏi mọi vết nhơ tội lỗi", "tràn đầy thánh thiện có một không hai ngay từ lúc mới thụ thai" (LG 56).
Sự nhìn nhận này cần một quá trình lâu dài để suy nghĩ về mặt đạo lý, cuối cùng mới đưa tới sự công bố long trọng tín điều "Vô Nhiễm Nguyên Tội".
Danh hiệu "được làm đầy ân sủng" mà Thiên Thần nói với Đức Maria trong ngày Truyền Tin, nhắm tới ân huệ đặc biệt mà Chúa ban cho người nữ trẻ Nadaret vì chức làm Mẹ được loan báo, nhưng danh hiệu ấy trực tiếp chỉ kết quả do ân sủng của Chúa nơi Đức Maria: tận bên trong và vĩnh viễn Đức Maria thấm nhuần ân sủng và được thánh hoá nhờ đó. Tước hiệu kecharitomêne có một ý nghĩa rất súc tích và Chúa Thánh Thần không ngừng giúp Giáo Hội hiểu biết sâu xa hơn về điều ấy.
Ơn thánh sủng biến Đức Maria nên một tạo vật mới
2. Trong bài giảng giáo lý trước, Tôi đã chỉ rõ trong lời chào của Thiên Thần, kiểu nói "đầy ân sủng" được sử dụng như một cái tên: Đó là cái tên của Đức Maria trước mắt Chúa. Trong cách nói Semit, tên chỉ thực tại của con người và những gì mà tên đó ám chỉ. Như vậy, danh hiệu "đầy ân sủng" chỉ chiều kích sâu xa nhất của cá tánh người nữ trẻ Nadaret: Người được tác thành bởi ân sủng và là đối tượng của đặc ân Chúa ban, đến độ Người có thể được xác định rõ bởi sự thương yêu lạ lùng này.
Công Đồng nhắc lại rằng các Giáo Phụ ám chỉ thực tại này khi các Ngài gọi Đức Maria là: "Đấng Toàn Thánh", đồng thời khẳng định Người là "một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành" (LG 56).
Ân sủng, hiểu theo nghĩa "thánh sủng", vì sinh ra sự thánh thiện cá nhân, đã biến Đức Maria thành tạo vật mới, làm cho Đức Maria hoàn toàn phù hợp với chương trình của Chúa.
3. Suy nghĩ về đạo lý như vậy là đã nhìn nhận sự toàn thánh nơi Đức Maria, sự thánh thiện đó, muốn được trọn vẹn phải khởi sự ngay lúc khởi đầu sự sống của Người.
Giám mục Theoteknos thành Livias xứ Palestine, sống giữa những năm 550 và 650, dường như đã theo định hướng của sự trong sạch nguyên khởi. Khi trình bày Đức Maria là "thánh và hoàn toàn tốt", "thanh sạch và vô tì tích", Giám mục đã nói về sự sinh ra của Đức Maria như sau: "Bà được sinh ra như Thiên Thần Cherubim, Người là kẻ được nắn bằng đất sét tinh ròng và vô nhiễm" (Panegyric for the feast of the Assumption, 5-6).
Kiểu nói sau cùng nhắc lại sự sáng tạo người nam đầu tiên, được thành hình bởi một cục đất sét không bị ô uế vì tội, kiểu nói đó cũng nói lên sự ra đời của Đức Maria mang những đặc tính đó: Nguồn gốc Đức Trinh Nữ cũng đã "tinh sạch và vô nhiễm", nghĩa là vô tội. Việc so sánh với thiên thần Cherubim cũng đề cao sự thánh thiện cao siêu bao trùm đời sống Đức Maria từ lúc bắt đầu hiện hữu.
Xác nhận của Giám mục Theoteknos đánh dấu một chặng đường đầy ý nghĩa trong suy tư thần học về mầu nhiệm của Mẹ Chúa, các Giáo Phụ Hy Lạp và Đông Phương đã cho rằng trải qua một cuộc thanh luyện bằng ân sủng, hoặc trước mầu nhiệm Nhập Thể (thánh Gregoire Nazian, Oratio 38.16) hay là chính lúc Nhập Thể (thánh Ephrem, Severian de Gabala, James Sarug). Theoteknos dường như đòi hỏi Đức Maria phải hoàn toàn thánh thiện, hoàn toàn vô nhiễm.
4. Thế kỷ 18, Anrê đảo Crêta là nhà thần học đầu tiên thấy một sự tạo thành mới trong sự sinh ra Đức Maria. Người bình luận thế này: Qua ánh sáng rực rỡ đặc ân Vô Nhiễm của Đức Maria, ngày nay nhân loại lấy lại sự tốt đẹp xưa kia của mình. sự sỉ hổ vì tội đã làm mờ tối vẻ huy hoàng và sự hấp dẫn của bản tính nhân loại; nhưng khi Mẹ của Đấng tốt đẹp vô cùng được sinh ra, thì bản tính này trong cá nhân của Đức Maria, lấy lại những đặc ân xưa kia của nó và được tác thành theo một kiểu hoàn toàn thật sự xứng hợp với Thiên Chúa. Sự canh cải bản tính chúng ta bắt đầu hôm nay và thế giới xưa cũ, qua một biến đổi hoàn toàn thần thiêng lãnh nhận những hoa trái đầu tiên của sự sáng tạo lần thứ hai" (Sermon I on the Birth of Mary).
Nhắc lại hình ảnh đất sét đầu tiên, Người nói: "thân xác Đức Maria là mảnh đất Chúa canh tác, là những hoa trái đầu tiên của Đất Adam được Chúa Kitô thần thánh hoá, là hình ảnh thật y như dáng tốt đẹp trước kia, là đất sét nhào nặng do tay nghệ nhân thần linh" (Sermon I on the Dormition of Mary).
Sự thánh thiện từ đầu của Đức Maria là khởi điểm sự cứu chuộc
Như vậy sự đầu thai thanh sạch và vô nhiễm của Đức Maria được xem như là khởi điểm cuộc sáng tạo mới. Đó là một vấn đề đặc ân cá nhân ban tặng người nữ được tuyển chọn làm Mẹ Chúa Kitô, Đấng báo hiệu (Usher) thời gian tràn đầy ân sủng Chúa muốn ban cho toàn nhân loại.
Giáo thuyết này, Thánh Germain thành Constantinople và Thánh Gioan Damasceno đã lặp lại thế kỷ 8, đã rọi ánh sáng trên giá trị sự thánh thiện độc đáo của Đức Maria, được trình bày như là khởi điểm công cuộc cứu chuộc thế giới.
Bằng cách này truyền thống Giáo Hội đón nhận và công khai ý nghĩa đích thực của tước hiệu "đầy ân sủng" Thiên Thần truyền tin cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh. Đức Maria đầy ân sủng và được như vậy ngay từ lúc mới hiện hữu. Ân sủng này theo thơ gởi tín hữu Ephêsô (1, 6) được ban cho các kẻ tin trong Chúa Kitô. Sự thánh thiện từ đầu của Đức Maria tiêu biểu cho hồng ân cao xa Chúa ban và báo hiệu sự phân phát ơn Chúa Kitô trong thế giới.
admin
16-06-2006, 04:17 PM
SỰ THÙ NGHỊCH CỦA ĐỨC MẸ ĐỐI VỚI SATAN ĐÃ LÀ TUYỆT ĐỐI
Thứ Tư, 29/05/1996
Sự hợp tác thành tín của Đức Maria trong công cuộc cứu rỗi của Người Con, tạo nên điều xứng hợp này là Đức Maria hoàn toàn thoát khỏi tội và chia sẻ đầy đủ trong ân sủng Chúa Kitô.
1. Trong suy tư học thuyết Giáo Hội Đông Phương từ ngữ "đầy ân sủng", như chúng ta thấy trong các bài giảng giáo lý trước, từ thế kỷ thứ 6 được giải thích như là một sự thánh thiện vô song mà Đức Maria được hưởng trong suốt cả cuộc đời của Người. Như vậy Người bắt đầu một cuộc sáng tạo mới.
Cùng với tường thuật thánh Luca về Truyền Tin, truyền thống và huấn quyền đã thấy trong cái gọi là Tiền Tin Mừng (St 3, 15), một nguồn gốc Kinh Thánh chứng thật sự đầu thai vô nhiễm của Đức Maria. Căn cứ trên bản dịch cổ tiếng Latinh: "Bà sẽ đạp đầu ngươi", bản văn này cảm hứng cho nhiều hình vẽ Đức Vô Nhiễm Thai đạp đầu con Rắn dưới chân mình.
Lần trước chúng ta có lưu ý rằng bản dịch này không đúng với bản văn Do Thái, theo bản văn này thì không phải người nữ nhưng là miêu duệ của bà, dòng dõi bà đạp đầu con Rắn. Bản văn này không cho chiến thắng trên Satan là do Đức Maria nhưng do Con Bà. Dầu vậy, vì khái niệm Kinh Thánh thiết lập sự liên đới sâu rộng giữa cha mẹ và con cái, hình vẽ Đức Maria Vô Nhiễm đạp đầu con rắn, không phải do quyền phép của mình, nhưng là do ân sủng của Người Con của mình, vẫn thích hợp với ý nghĩa nguyên thuỷ của đoạn văn ấy.
Đức Maria được ban quyền phép chống phá quỉ dữ.
2. Bản văn Kinh Thánh đó cũng công bố sự thù nghịch giữa người nữ và miêu duệ của nó. Đó là một mối thù Thiên Chúa có ý lập ra, mối thù này có tầm quan trọng đặc biệt, nếu chúng ta quan tâm đến sự thánh thiện cá nhân của Đức Trinh Nữ. Để trở thành một kẻ thù không thể hoà giải với con Rắn và miêu duệ của nó, thì Đức Maria phải được thoát khỏi mọi quyền lực tội lỗi, là như vậy là từ giây phút đầu tiên cuộc sống của bà.
Về phương diện này thông điệp Fulgens Corona mà Đức Giáo Hoàng Piô XII đã công bố để kỷ niệm 100 năm định tín tín điều về sự đầu thai vô nhiễm, lý luận thế này: "Nếu một lúc nào đó mà Đức Trinh Nữ rất thánh Maria bị bỏ rơi không có ân sủng Chúa, vì Người bị ô uế lúc đầu thai bởi vết nhơ tội gia truyền, thì giữa Người và con Rắn, dầu trong thời gian vắn thôi không có sự thù địch truyền kiếp đã nói tới từ truyền thuyết sớm nhất cho tới khi tuyên tín việc thụ thai vô nhiễm, nhưng đúng hơn bà đã bị một sự nô lệ nào đó". (ASS 45 [1953], 579).
Sự thù nghịch tuyệt đối giữa người nữ và quỉ dữ, đòi hỏi Đức Maria phải được đầu thai vô nhiễm, có nghĩa là hoàn toàn không vướng mắc tội, từ lúc bắt đầu cuộc sống. Người Con của Đức Maria đã thắng trận quyết chiến trên Satan và cho Mẹ mình khả năng lãnh nhận trước những phúc lợi của chiến thắng đó, bằng cách giữ Người khỏi tội. Kết quả là Con đã ban cho Mẹ quyền chống cự sự dữ, như vậy là trong mầu nhiệm Vô Nhiễm nguyên tội Chúa đã hoàn thành kết quả cao đẹp nhất của công trình cứu rỗi của Người.
3. Khi lưu ý chúng ta về sự thánh thiện đặc biệt của Đức Maria và sự kiện Người hoàn toàn xa cách ảnh hưởng Satan, thì tước hiệu "đầy ân sủng" và Tiền Tin Mừng cho phép chúng ta thấy qua đặc ân độc nhất của Chúa ban cho Đức Maria, khởi điểm một trật tự mới, kết quả do tình bạn với Chúa và kết quả là kéo theo sự thù địch sâu rộng giữa con Rắn và loài người.
Sách Khải Huyền chương thứ 12, chỗ nói tới "người nữ mặc áo mặt trời" thường được trưng dẫn như một bằng chứng Kinh Thánh bảo vệ sự Vô Nhiễm Thai. Khoa chú giải hiện nay đồng ý người nữ nầy chỉ cộng đồng dân Chúa, đang đau đớn sinh Đấng Messia Phục Sinh. Dầu sao cùng với sự giải thích có tính tập thể, bản văn gợi ý một cá nhân trong câu nói "đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân" (Kh 12, 5). Với sự giới thiệu về việc sinh con như thế, thì phải công nhận người đàn bà mặc áo mặt trời được đồng hoá cách nào đó với Đức Maria người đàn bà sinh ra Đấng Messia. Cộng đồng bà (Woman community) trong thực tế được diễn tả với những nét người đàn bà Mẹ (Woman Mother) Chúa Giêsu.
Vì phải làm mẹ người đàn bà "có thai đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con" (Kh 12, 2). Ghi chú này chỉ mẹ Chúa Giêsu dưới Thánh Giá (x. Ga 19, 25), nơi đây trong âu lo người dự phần sinh ra cộng đồng môn đệ với tấm lòng bị gươm đâm thâu qua (x. Lc 2, 35). Mặc dầu bị đau khổ. Người "mặc áo mặt trời" nghĩa là Người phản chiếu vinh quang Thiên Chúa và xuất hiện như một dấu chỉ lớn "của sự liên hệ vợ chồng giữa Chúa và dân Người.
Những hình ảnh này tuy không trực tiếp chỉ mầu nhiệm Vô Nhiễm Thai có thể giải thích như một dấu chỉ sự lo lắng yêu thương của Đức Maria với ân sủng của Chúa Kitô và vinh quang của Chúa Thánh Thần.
Sau cùng mặc khải mời gọi chúng ta cách riêng hơn nhìn nhận chiều kích Giáo Hội của con người Đức Maria: Người đàn bà mặc áo mặt trời tiêu biểu cho sự thánh thiện của Giáo Hội, được thực hiện đầy đủ nơi Đức Trinh Nữ Rất Thánh do một ân sủng đặc biệt.
4. Những xác nhận Kinh Thánh này, mà Thánh truyền và huấn quyền tham khảo để đặt nền tảng cho học thuyết Vô Nhiễm Thai, có lẽ xem ra đối kháng với những văn bản Kinh Thánh khẳng định tính phổ quát của tội.
Cựu Ước nói tội lỗi lây lan tới mọi kẻ "sinh ra bởi người nữ" (Tv 50[51], 7; G 14, 2). Trong Tân Ước Thánh Phaolô khẳng định rằng, do tội Ađam "mọi người đều mắc tội" và vì "một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án" (Rm 5, 12. 18). Do đó, như sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo nhắc tới tội nguyên tổ "ảnh hưởng tới bản tính nhân loại" được coi là "ở trong tình trạng sa ngã". Bởi vậy tội "đã truyền lại cho hết nhân loại qua sinh sản, nghĩa là truyền lại một bản tính loài người đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy" (số 404) nhưng Thánh Phaolô có luật trừ đối với tính phổ quát này của sự tội : Chúa Kitô không hề biết tội gì" (2 Cr 5, 21) và như vậy Người có thể làm cho ân sủng chứa chan hơn nữa "nơi nào tội lỗi còn lan tràn" (Rm 5, 20).
Thánh Iréné trình bày Đức Maria là bà Evà mới
Những xác nhận nói trên nhất thiết không đưa tới kết luận Đức Maria bị vương vấn trong một nhân loại tội lỗi. Sự so sánh của Thánh Phaolô giữa Ađam và Chúa Kitô, nên trọn vẹn bằng sự so sánh giữa bà Eva và Đức Maria: Vai trò người đàn bà, quan trọng trong thảm cảnh sự tội, cũng trọng yếu như vậy trong việc cứu chuộc loài người.
Thánh Irênê giới thiệu Đức Maria như một Eva mới, bằng đức tin và vâng phục Ngài đã đền bù sự không tin và bất phục của bà Eva. Một vai trò như vậy trong nhiệm cục cứu rỗi đòi hỏi sự vắng bóng tội lỗi. Điều hợp lý là: như Chúa Kitô, Ađam mới, thì Đức Maria, Eva mới, không biết tội và như vậy mới có thể hợp tác trong sự cứu chuộc.
Tội lỗi đổ tràn xuống nhân loại như thác nước, dừng lại trước Đấng Cứu Thế và người cộng tác trung thành với Người. Nhưng với một khác biệt cơ bản: Chúa Kitô toàn thánh do ân sủng chảy xuống trên nhân tính của Người từ Ngôi vị Thiên Chúa; Đức Maria toàn thánh là bởi ân sủng lãnh nhận do công nghiệp của Đấng Cứu Thế.
(Osservatore Romano số 23 ngày 05/06/1996)
admin
16-06-2006, 04:21 PM
ÂN SỦNG CHÚA KITÔ ĐÃ GÌN GIỮ ĐỨC MARIA KHỎI TỘI
Thứ Tư, 05/06/1996
Khi tuyên bố sự Vô nhiễm Thai của Đức Maria, Giáo Hội chứng tỏ rằng Chúa Kitô không những giải thoát chúng ta khỏi tội, mà cũng gìn giữ chúng ta khỏi quyền lực của nó.
1. Học thuyết về sự thánh thiêng trọn vẹn của Đức Maria từ lúc Người được thụ thai, gặp chống đối bên Tây, vì lời nói của Thánh Phaolô về tội nguyên tổ và vì tính phổ quát của tội, được Thánh Augustinô lặp lại và giải thích đặc biệt mãnh liệt hơn.
Vị Thánh tiến sĩ lớn nầy của Giáo hội, chắc chắn nhận thức rằng địa vị của Đức Maria là Mẹ một người Con hoàn toàn thánh thiện, đòi hỏi một sự tinh sạch trọn vẹn và một sự thánh thiện khác thường. Cho nên khi tranh luận với Pelagiô, Ngài đã nhấn mạnh rằng sự thánh thiêng của Đức Maria là một ân sủng đặc biệt, và Ngài phát biểu: "chúng ta miễn trừ cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, Đấng vì danh dự của Chúa, tôi không muốn được nhắc tới trong liên hệ với tội. Há chúng ta không biết Người được ban một ân sủng lớn lao để chiến thắng tội lỗi, vì Người đã xứng đáng chịu thai và sinh Đấng hiển nhiên không mắc tội nào". (De natura et gratia số 42).
Thánh Augustino nhấn mạnh rằng sự thánh thiện trọn vẹn của Đức Maria và sự vắng bóng bất cứ tội cá nhân nào nơi Người, là do phẩm cách cao quý của Người là Mẹ Chúa. Mặc dầu vậy, thánh nhân không hiểu nổi bằng cách nào, sự khẳng định vắng bóng tội hoàn toàn lúc thụ thai, có thể dung hoà được với học thuyết về tính phổ quát của tội tổ tông và sự cần thiết của ơn cứu rỗi đối với hết thảy con cháu Ađam. Kết luận nầy về sau đạt được do sự hiểu biết sâu sắc hơn của đức tin của Giáo Hội, giải thích cách thức nào Đức Maria đã hưởng nhờ ân sủng cứu độ của Chúa Kitô từ khi đầu thai.
Ông Duns Scottus (http://www.binhcang.com/johndunsscotus.html) đã thắng những chống đối sự Vô Nhiễm Thai.
2. Thế kỷ thứ 9, lễ Đức Maria đầu thai được nhập vào phương Tây, đầu tiên ở miền nam nước Ý, tại thành Naples, rồi sau sang nước Anh.
Lối năm 1128, Eadmer, một đan sĩ Canterbury, viết luận thuyết đầu tiên về sự Đầu Thai Vô Nhiễm, ông phàn nàn rằng sự mừng lễ có tính phụng vụ đó, đặc biệt làm vui lòng những người "có lòng thuần túy đơn sơ và có lòng yêu mến Chúa cách khiêm tốn nhất" (Tract, de conc. B. M. V. 1-2) lại bị gạt ra một bên, hay là bỏ hẳn. Vì muốn vận động tái lập lễ nầy, ông đan sĩ sốt sắng ấy không chấp nhận những phản đối của thánh Augustino chống đặc ân vô nhiễm thai, căn cứ trên học thuyết tội tổ tông được truyền sang qua sự sinh sản con người. Ông đã xử dụng hợp lý hình ảnh một trái dẻ "được kết trái, nuôi dưỡng và hình thành dưới cái vỏ đầy gai của nó (bur), mà không bị chăm chích" (Tract. 10). Ông Eadmer lý luận: mặc dầu dưới cái vỏ gai của sự sinh sản đáng lý phải lưu truyền tội nguyên tổ, Đức Maria lại được bảo vệ khỏi mọi vết nhơ do ý muốn của Thiên Chúa, Đấng "có thể làm việc nầy và muốn làm như vậy. Như vậy, nếu Chúa muốn điều đó, thì Chúa làm" (Sđd).
Bất chấp ông Eadmer, những nhà thần học lớn của thế kỷ 13 lấy những vấn nạn của Thánh Augustino làm của mình, đưa ra lý luận sau đây: Sự cứu chuộc do Chúa Kitô thực hiện không có tính phổ quát nếu số phận tội lỗi không chung cho mọi người. Và nếu Đức Maria không mắc tội nguyên tổ, thì Người cũng không được cứu rỗi. Vì thực tế sự cứu chuộc hệ tại giải thoát những người ở trong tình trạng tội.
3. Ông Duns Scotus (http://www.binhcang.com/johndunsscotus.html) đi theo nhiều Thần học gia thế kỷ 12, tìm ra chìa khoá thắng những phản đối học thuyết Vô Nhiễm Thai của Đức Maria, ông chủ trương rằng Chúa Kitô, trung gian hoàn hảo, thực hành sứ vụ trung gian cao nhất nơi Đức Maria, bằng cách giữ Người khỏi tội nguyên tổ.
Như thế ông đem vào thần học quan điểm cứu chuộc bằng cách gìn giữ, theo đó Đức Maria được cứu chuộc một cách lạ lùng hơn: không phải do được giải thoát khỏi tội, nhưng do được gìn giữ khỏi tội.
Cái nhìn sâu sắc của Thánh Duns Scotus, vị mà sau nầy người ta gọi là "Tiến sĩ Đấng Vô Nhiễm", được các nhà thần học hoan hỉ đón nhận, nhất là các Thần học gia Phan sinh, từ khởi đầu thế kỷ 14. Sau khi Đức Sixtus IV phê chuẩn năm 1477 ngày lễ Đầu Thai, giáo thuyết nầy không ngừng được các trường phái thần học chấp nhận.
Sự phát triển có tính quan phòng nầy về phụng vụ và học thuyết, dọn đường cho Huấn quyền định tín đặc ân Đức Maria. Huấn quyền chỉ can thiệp nhiều thế kỷ sau, và được thúc đẩy do cái nhìn cơ bản sâu sắc của đức tin: Mẹ Chúa Kitô phải được nên thánh hoàn toàn từ lúc bắt đầu cuộc sống của Người.
4. Không ai mà không thấy, sự khẳng định đặc ân ban cho Đức Maria, nói lên hành động cứu rỗi của Chúa Kitô không những giải thoát khỏi tội, mà còn gìn giữ chúng ta khỏi tội nữa. Chiều kích sự gìn giữ nầy, thành toàn nơi Đức Maria, hiện diện trong sự can thiệp cứu rỗi, qua đó Chúa Kitô khi giải thoát người ta khỏi tội, thì cũng ban cho họ ân sủng và sức mạnh để chiến thắng ảnh hưởng sự tội trong đời sống mình.
Tín điều rọi ánh sáng trên những thành quả của ân sủng
Trong chiều hướng nầy, tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Thai không làm mờ đi, nhưng đúng hơn là giúp rọi ánh sáng cách kỳ diệu trên những thành quả mà ân sủng cứu rỗi của Chúa Kitô mang lại cho bản tính nhân loại.
Đức Maria, Người đầu tiên được Chúa Kitô cứu chuộc và là người có đặc ân không bị khuất phục, dầu trong giây lát, bởi quyền phép của sự dữ và sự tội, được các kitô hữu noi gương như là một mẫu mực trọn vẹn và như thần tượng của sự thánh thiện (x. LG 65) mà họ phải đạt tới trong đời sống mình, với ơn Chúa giúp.
admin
16-06-2006, 04:29 PM
VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI ĐƯỢC ĐỨC PIÔ IX ĐỊNH TÍN
Thứ Tư, 2/06/1996
Theo định tín nầy, Thiên Chúa mặc khải cho biết Đức Maria được gìn giữ khỏi tội tổ tông từ lúc Người đầu thai.
1. Qua bao thế kỷ, niềm tin Đức Maria được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội từ lúc được thụ thai, đến nỗi Người được gọi là toàn thánh, lần lần chiếm chỗ đứng trong phụng vụ và thần học. Đầu thế kỷ 19, sự phát triển đó đưa tới chỗ nài xin việc định tín đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Giữa thế kỷ đó, với ý định đáp ứng thỉnh nguyện nầy, Đức Piô IX sau khi tham khảo các nhà thần học, đã dò hỏi các Giám mục về sự thích hợp và sự có thể đưa ra một định tín như vậy, nói được Ngài họp "một công đồng viết". Kết quả có ý nghĩa: đa số 604 Giám mục trả lời thuận cho câu hỏi.
Sau khi dò hỏi sâu rộng như vậy, một sự dò hỏi nhấn mạnh sự lưu ý của Đấng tiền nhiệm đáng kính của tôi, muốn phát biểu đức tin của Giáo Hội trong sự quyết định tín điều, Ngài cho chuẩn bị tài liệu cách rất cẩn thận.
Đức Trinh Nữ rất Thánh khỏi mọi vết nhơ tội.
Uỷ ban đặc biệt gồm các nhà Thần học Đức Piô IX thiết lập để nghiên cứu học thuyết mặc khải, nói phần chính yếu là do thực hành trong Giáo Hội. Và tiêu chuẩn nầy ảnh hưởng sự hình thành tín điều, dành ưu tiên cho những phát biểu lấy từ kinh nghiệm sống của Giáo Hội, từ đức tin và sự thờ phượng của dân kitô hữu, hơn là do những định nghĩa kinh viện.
Sau hết, năm 1854, Đức Piô ra sắc chỉ Ineffabilis, long trọng tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội. "... Chúng tôi trình bày công bố và quyết định rằng: Giáo lý xác nhận Đức Maria Trinh Nữ Rất Thánh, từ giây phút đầu thai, do ân sủng đặc biệt và đặc ân của Thiên Chúa tối cao, và do công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu chuộc nhân loại, được giữ khỏi mọi vết nhơ tội tổ tông, là một tín điều Thiên Chúa mặc khải và do đó, mọi người tín hữu phải tin vững chắc và kiên định." (DS 2803)
2. Sự tuyên bố tín điều Vô nhiễm Thai diễn tả nội dung cơ bản của đức tin. Giáo Hoàng Alexander VII trong Sắc chỉ Sollicitudo năm 1661, nói về sự gìn giữ linh hồn Đức Maria" trong lúc nó được tạo dựng và nhập vào thân xác" (DS 2017). Nhưng lời định nghĩa của Đức Piô IX tách rời khỏi mọi giải thích cách thức linh hồn được truyền vào trong thân xác, và cho là bản thân Đức Maria ngay lúc đầu thụ thai được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội tổ tông.
"Sự khỏi mọi vết nhơ tội tổ tông" lôi kéo theo một hệ quả tích cực là Đức Maria hoàn toàn khỏi mọi thứ tội, cũng như được tuyên xưng hoàn toàn thánh, một giáo thuyết mà định nghĩa tín điều đó làm nền tảng cho. Thực tế, công thức tiêu cực về đặc ân của Đức Maria, phát sinh do những tranh cãi trước kia bên Tây về tội tổ tông, phải được bổ sung luôn bằng sự phát biểu tích cực sự thánh thiện của Đức Maria được nhấn mạnh hiển nhiên hơn trong truyền thống Đông phương.
Lời định nghĩa của Đức Piô IX chỉ nhằm tới sự giải thoát khỏi tội nguyên tổ và không có nói rõ sự giải thoát khỏi tính dục. Mặc dầu vậy sự kiện Đức Maria hoàn toàn được giữ khỏi mọi vết nhơ tội cũng mang theo hiệu quả là được khỏi tính dục, một xu hướng rối loạn phát xuất từ tội và nghiêng chiều tội, theo huấn giáo của Công đồng Trentô (DS 1515).
3. Được ban cho "do một ân sủng đặc biệt và do đặc quyền của Thiên Chúa Tối Cao", sự gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là một sự quý mến hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, mà Đức Maria đã lãnh nhận từ lúc khởi đầu cuộc sống.
Lời định nghĩa tín điều không nói đặc ân nầy là độc đáo, nhưng để cho phần trực giác. Sự khẳng định tính độc đáo nầy, dầu sao đi nữa được nêu rõ trong Thông điệp Fulgens corona năm 1953, khi Giáo Hoàng Piô XII nói: "về đặc ân riêng biệt chưa bao giờ ban tặng ai" (AAS 45 [1953], 580), như vậy là loại trừ khả năng cho Thánh Giuse đặc ân nầy, như mọi người chủ trương mà không có cơ sở.
Người Mẹ Đồng Trinh đã nhận lãnh ân sủng đặc biệt Vô Nhiễm Nguyên Tội "do công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc nhân loại" nghĩa là do hành động cứu chuộc phổ quát của Người.
Bản văn quyết định điều không tuyên bố rõ là Đức Maria đã được cứu chuộc, nhưng chính Sắc Chỉ Ineffabilis tuyên bố nơi khác rằng: "Bà được cứu chuộc cách cao cả nhất". Đây là một sự thật lạ lùng. Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc Mẹ mình và thực hành việc cứu chuộc nầy nơi Mẹ một cách hoàn hảo nhất. (Fulgens corona, AAS 45 [1953], 581), từ lúc Bà mới bắt đầu hiện hữu. Công đồng Vatican II công bố rằng Giáo Hội "khâm phục và tán dương nơi Đức Mẹ hoa trái tuyệt hảo nhất của Ơn Cứu Chuộc" (Sacrosanctum Concilium, số 103).
Quyết định long trọng yểm trợ đức tin dân Chúa
4. Giáo lý được long trọng công bố nầy được nói rõ là "một giáo lý do Chúa mặc khải", Đức Giáo Hoàng Piô IX còn thêm rằng nó phải được người tín hữu tin vững vàng và kiên định". Do đó, bất cứ ai không nhìn nhận giáo thuyết nầy, hay là bảo vệ một ý kiến trái nghịch, thì "chối bỏ đức tin" và tự ly khai khỏi sự hiệp nhất trong Giáo Hội.
Khi công bố sự thật về tín điều Vô nhiễm Nguyên Tội, vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi ý thức mình đang thi hành quyền giáo huấn bất khả ngộ với tư cách chủ chăn phổ quát của Giáo Hội, nhiều năm sau quyền nầy được Công đồng Vatican I long trọng thừa nhận. Như vậy, Người thực hành quyền huấn giáo bất khả ngộ như là một sự phục vụ đức tin dân Chúa và đây là một điều có ý nghĩa khi Người thực hành như vậy lúc quyết định đặc ân của Đức Maria.
admin
16-06-2006, 04:32 PM
ĐỨC MARIA ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI MỌI TỘI CÁ NHÂN
Thứ Tư, 19/06/96
Đặc ân riêng biệt giúp Đức Maria bền đỗ trong sự thánh thiện suốt cuộc sống trần thế của Người, kêu mời chúng ta nhìn ngắm sự tăng trưởng cao đẹp của Người trong đức tin và tình yêu.
1. Sự quyết định tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ trực tiếp liên can tới lúc đầu sự hiện hữu của Đức Maria, từ lúc Người "được bảo vệ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ". Như vậy Huấn quyền Giáo Hoàng chỉ muốn định nghĩa sự thật là đề tài tranh cãi qua các thế kỷ: "Người được bảo vệ khỏi tội nguyên tổ", chớ không có ý quyết định sự thánh thiện bền vững của Mẹ Đồng Trinh Thiên Chúa.
Sự thật này đã được dân Chúa nhận thức chung rồi. Dân Chúa chứng thực rằng, Đức Maria khỏi tội nguyên tổ thì cũng khỏi mọi thứ tội mình làm và sự thánh thiện tiên khởi Chúa ban cho Bà thì tràn đầy suốt đời sống của Bà.
Không tội lỗi hoặc bất toàn nào có thể gán cho Đức Maria
2. Giáo hội đã kiên trì nhìn nhận Đức Maria là Đấng Thánh và khỏi mọi tội hay bất toàn luân lý. Công Đồng Trentô phát biểu niềm xác tín này khi quả quyết rằng "không ai có thể tránh mọi thứ tội, dầu là tội nhẹ dọc suốt đời mình, nếu họ không được Chúa ban cho đặc ân, như Giáo Hội chủ trì đối với Đức Trinh Nữ rất Thánh" (Ds 1573). Cho dầu người kitô hữu được biến đổi và nên mới nhờ ân sủng cũng không được miễn khả năng phạm tội. Ân sủng không bảo vệ họ khỏi mọi thứ tội suốt đời họ, ngoại trừ, như Công Trentô xác nhận, một đặc ân bảo đảm cho sự miễn khỏi tội, và điều đó xảy ra với Đức Maria.
Công Đồng Trentô không muốn xác định đặc ân này nhưng khẳng định rằng Giáo Hội mạnh mẽ quả quyết nó: "Giữ (Tenet) " nghĩa là nắm vững lấy. Thay vì giao cho niềm tin đạo đức hay ý kiến sốt sắng nắm giữ sự thật đó, xác định đó quả quyết bản tính sự thật này như là một giáo lý vững chắc hoàn toàn nằm trong niềm tin của dân Chúa. Hơn nữa, xác nhận này căn cứ trên ân sủng ban cho Đức Maria mà Thiên Thần phát biểu lúc Truyền Tin. Gọi: Bà "đầy ân sủng" kecharitomêne, Thiên Thần thừa nhận Người là người nữ được ban cho sự hoàn hảo bền vững và sự tràn đầy thánh thiện, không có bóng sự tội hay là bất toàn cả về luân lý lẫn thiêng liêng.
3. Nhiều Giáo Phụ thời trước trong Giáo Hội, không xác tín về sự thánh thiện trọn vẹn của Đức Maria những bất toàn những hay khuyết điểm luân lý. Nhiều tác giả thời nay đã cùng một lập trường. Dầu sao những bản văn Tin Mừng được trưng dẫn để bàu chữa những ý kiến này, không đưa ra một cơ sở nào để quy cho Mẹ Đấng Cứu Chuộc một tội hay một bất toàn luân lý nào.
Câu trả lời cho Mẹ, khi Chúa Giêsu được 12 tuổi: "Sao cha mẹ lại tìm Con? Cha mẹ không biết Con có bổn phận ở nhà Cha của Con sao?" (Lc 2, 49), thỉnh thoảng xem ra như một sự quở trách Mẹ Người và Thánh Giuse vì các Ngài đi tìm Người, do các Ngài có trách nhiệm coi sóc Người.
Gặp được Chúa Giêsu sau cuộc tìm kiếm đầy âu lo, Đức Maria chỉ hỏi Chúa Giêsu "Cái tại sao" trong cách Chúa cư xử: "Con ơi, sao Con lại xử với cha mẹ như vậy?" (Lc 2, 48). Và Chúa Giêsu đã trả lời với "cái tại sao khác" không có sự quở trách nhưng quy chiếu về mầu nhiệm làm Con Thiên Chúa của Người.
Những lời Chúa nói tại Cana "Thưa Bà chuyện đó can gì đến Bà? Giờ của Con chưa đến" (Ga 2, 4), không thể hiểu như một lời quở trách. Thấy sự thiếu rượu gây phiền phức thật sự cho cô dâu chú rể, nên Đức Maria nói với Chúa Giêsu cách đơn sơ, giao phó vấn đề cho Chúa. Dầu ý thức rằng mình là Messia phải vâng theo ý Chúa Cha mà thôi, Chúa Giêsu trả lời sự nài xin mặc nhiên của Mẹ. Người đáp trả hơn hết niềm tin của Đức Trinh Nữ và làm phép lạ đầu tiên chứng tỏ vinh quang của Người.
4. Về sau có ít người giải thích tiêu cực câu nói của Chúa Giêsu khi Đức Maria và thân tộc Người xin được gặp Người, lúc Người bắt đầu đời sống công khai. Khi thuật lại câu trả lời của Chúa Giêsu cho một kẻ nói với Người: "Có Mẹ Thầy và anh Thầy đang đứng ngoài kia muốn gặp Thầy" Thánh Luca hiến chúng ta chìa khoá giải thích tường thuật đó phải được hiểu trên cơ sở những chiều hướng nội tâm của Đức Maria, rất khác với những xu hướng của "anh em Người" (x. Ga 7, 5). "Mẹ Tôi và anh em Tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8, 21). Trong tường thuật Truyền Tin thật sự thánh Luca tỏ cho thấy Đức Maria là gương mẫu biết nghe lời Chúa và có tính dễ bảo quảng đại. Nếu giải thích theo viễn tượng này, thì tình tiết nói trên đưa ra lời ca ngợi lớn về Đức Maria, vì Người đã thực hiện đầy đủ chương trình của Thiên Chúa trong đời sống của mình. Dầu những lời Chúa Giêsu nghịch lại mưu đồ của anh em nhưng lại biểu dương lòng trung tín của Đức Maria đối với ý muốn của Thiên Chúa và biểu dương sự cao cả chức làm Mẹ của Người không về mặt thể lý mà còn về mặt thiêng liêng nữa.
Khi phát biểu lời ngợi khen gián tiếp này, Chúa Giêsu xử dụng phương cách đặc biệt: Người nhấn mạnh tính cao quý trong cách cư xử của Đức Maria bằng những câu nói chung chung hơn, và cho thất rõ tình liên đới và sự khắng khít của Đức Trinh Nữ với nhân loại trên con đường vất vả để nên thánh.
Sau cùng câu nói: "Đúng hơn phải nói rằng, phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Luca 11, 28), mà Chúa Giêsu đã nói để trả lời người đàn bà khen Mẹ Người là có phúc, câu nói đó thay vì làm nghi ngờ sự trọn lành cá nhân của Đức Maria thì cho thấy rõ Người đã trung thành làm trọn Lời Chúa: Giáo Hội đã hiểu như vậy nên đặt câu nói đó trong những nghi lễ phụng vụ để tôn vinh Đức Maria. Bản văn Tin Mừng thực ra gợi ý rằng Chúa nói vậy để cho thấy những lý do cao cả nhất đưa tới cái phúc của Mẹ nằm ngay trong việc Người liên kết thân mật với Thiên Chúa và tuân phục hoàn toàn Lời Chúa.
Đức Maria tuỳ thuộc hoàn toàn vào Chúa
5. Đặc ân Chúa ban cho Đức Maria "Đấng toàn thánh" làm cho chúng ta khâm phục những kỳ công ân sủng đã thực hiện nơi Người. Nó cũng nhắc lại chúng ta nhớ là Đức Maria luôn tùy thuộc cách trọn vẹn vào Chúa và không một sự bất toàn nào hại đến sự hoà hợp trọn hảo của Người đối với Thiên Chúa. Do đó cuộc sống trần gian của Người được đánh dấu bằng sự tiến triển liên lỉ, cao đẹp trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đối với người tín hữu, Đức Maria là dấu chỉ sáng ngời lòng thương xót Chúa và là người dẫn đường chắc chắn tới đỉnh cao nhất sự thánh thiện và trọn lành Phúc Âm.
(Osservatore Romano số 26 ngày 26/06/96)
admin
16-06-2006, 04:33 PM
ĐỨC MARIA ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI MỌI TỘI CÁ NHÂN
Thứ Tư, 19/06/96
Đặc ân riêng biệt giúp Đức Maria bền đỗ trong sự thánh thiện suốt cuộc sống trần thế của Người, kêu mời chúng ta nhìn ngắm sự tăng trưởng cao đẹp của Người trong đức tin và tình yêu.
1. Sự quyết định tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ trực tiếp liên can tới lúc đầu sự hiện hữu của Đức Maria, từ lúc Người "được bảo vệ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ". Như vậy Huấn quyền Giáo Hoàng chỉ muốn định nghĩa sự thật là đề tài tranh cãi qua các thế kỷ: "Người được bảo vệ khỏi tội nguyên tổ", chớ không có ý quyết định sự thánh thiện bền vững của Mẹ Đồng Trinh Thiên Chúa.
Sự thật này đã được dân Chúa nhận thức chung rồi. Dân Chúa chứng thực rằng, Đức Maria khỏi tội nguyên tổ thì cũng khỏi mọi thứ tội mình làm và sự thánh thiện tiên khởi Chúa ban cho Bà thì tràn đầy suốt đời sống của Bà.
Không tội lỗi hoặc bất toàn nào có thể gán cho Đức Maria
2. Giáo hội đã kiên trì nhìn nhận Đức Maria là Đấng Thánh và khỏi mọi tội hay bất toàn luân lý. Công Đồng Trentô phát biểu niềm xác tín này khi quả quyết rằng "không ai có thể tránh mọi thứ tội, dầu là tội nhẹ dọc suốt đời mình, nếu họ không được Chúa ban cho đặc ân, như Giáo Hội chủ trì đối với Đức Trinh Nữ rất Thánh" (Ds 1573). Cho dầu người kitô hữu được biến đổi và nên mới nhờ ân sủng cũng không được miễn khả năng phạm tội. Ân sủng không bảo vệ họ khỏi mọi thứ tội suốt đời họ, ngoại trừ, như Công Trentô xác nhận, một đặc ân bảo đảm cho sự miễn khỏi tội, và điều đó xảy ra với Đức Maria.
Công Đồng Trentô không muốn xác định đặc ân này nhưng khẳng định rằng Giáo Hội mạnh mẽ quả quyết nó: "Giữ (Tenet)" nghĩa là nắm vững lấy. Thay vì giao cho niềm tin đạo đức hay ý kiến sốt sắng nắm giữ sự thật đó, xác định đó quả quyết bản tính sự thật này như là một giáo lý vững chắc hoàn toàn nằm trong niềm tin của dân Chúa. Hơn nữa, xác nhận này căn cứ trên ân sủng ban cho Đức Maria mà Thiên Thần phát biểu lúc Truyền Tin. Gọi: Bà "đầy ân sủng" kecharitomêne, Thiên Thần thừa nhận Người là người nữ được ban cho sự hoàn hảo bền vững và sự tràn đầy thánh thiện, không có bóng sự tội hay là bất toàn cả về luân lý lẫn thiêng liêng.
3. Nhiều Giáo Phụ thời trước trong Giáo Hội, không xác tín về sự thánh thiện trọn vẹn của Đức Maria những bất toàn những hay khuyết điểm luân lý. Nhiều tác giả thời nay đã cùng một lập trường. Dầu sao những bản văn Tin Mừng được trưng dẫn để bàu chữa những ý kiến này, không đưa ra một cơ sở nào để quy cho Mẹ Đấng Cứu Chuộc một tội hay một bất toàn luân lý nào.
Câu trả lời cho Mẹ, khi Chúa Giêsu được 12 tuổi: "Sao cha mẹ lại tìm Con? Cha mẹ không biết Con có bổn phận ở nhà Cha của Con sao?" (Lc 2, 49), thỉnh thoảng xem ra như một sự quở trách Mẹ Người và Thánh Giuse vì các Ngài đi tìm Người, do các Ngài có trách nhiệm coi sóc Người.
Gặp được Chúa Giêsu sau cuộc tìm kiếm đầy âu lo, Đức Maria chỉ hỏi Chúa Giêsu "Cái tại sao" trong cách Chúa cư xử: "Con ơi, sao Con lại xử với cha mẹ như vậy?" (Lc 2, 48). Và Chúa Giêsu đã trả lời với "cái tại sao khác" không có sự quở trách nhưng quy chiếu về mầu nhiệm làm Con Thiên Chúa của Người.
Những lời Chúa nói tại Cana "Thưa Bà chuyện đó can gì đến Bà? Giờ của Con chưa đến" (Ga 2, 4), không thể hiểu như một lời quở trách. Thấy sự thiếu rượu gây phiền phức thật sự cho cô dâu chú rể, nên Đức Maria nói với Chúa Giêsu cách đơn sơ, giao phó vấn đề cho Chúa. Dầu ý thức rằng mình là Messia phải vâng theo ý Chúa Cha mà thôi, Chúa Giêsu trả lời sự nài xin mặc nhiên của Mẹ. Người đáp trả hơn hết niềm tin của Đức Trinh Nữ và làm phép lạ đầu tiên chứng tỏ vinh quang của Người.
4. Về sau có ít người giải thích tiêu cực câu nói của Chúa Giêsu khi Đức Maria và thân tộc Người xin được gặp Người, lúc Người bắt đầu đời sống công khai. Khi thuật lại câu trả lời của Chúa Giêsu cho một kẻ nói với Người: "Có Mẹ Thầy và anh Thầy đang đứng ngoài kia muốn gặp Thầy" Thánh Luca hiến chúng ta chìa khoá giải thích tường thuật đó phải được hiểu trên cơ sở những chiều hướng nội tâm của Đức Maria, rất khác với những xu hướng của "anh em Người" (x. Ga 7, 5). "Mẹ Tôi và anh em Tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8, 21). Trong tường thuật Truyền Tin thật sự thánh Luca tỏ cho thấy Đức Maria là gương mẫu biết nghe lời Chúa và có tính dễ bảo quảng đại. Nếu giải thích theo viễn tượng này, thì tình tiết nói trên đưa ra lời ca ngợi lớn về Đức Maria, vì Người đã thực hiện đầy đủ chương trình của Thiên Chúa trong đời sống của mình. Dầu những lời Chúa Giêsu nghịch lại mưu đồ của anh em nhưng lại biểu dương lòng trung tín của Đức Maria đối với ý muốn của Thiên Chúa và biểu dương sự cao cả chức làm Mẹ của Người không về mặt thể lý mà còn về mặt thiêng liêng nữa.
Khi phát biểu lời ngợi khen gián tiếp này, Chúa Giêsu xử dụng phương cách đặc biệt: Người nhấn mạnh tính cao quý trong cách cư xử của Đức Maria bằng những câu nói chung chung hơn, và cho thất rõ tình liên đới và sự khắng khít của Đức Trinh Nữ với nhân loại trên con đường vất vả để nên thánh.
Sau cùng câu nói: "Đúng hơn phải nói rằng, phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Luca 11, 28), mà Chúa Giêsu đã nói để trả lời người đàn bà khen Mẹ Người là có phúc, câu nói đó thay vì làm nghi ngờ sự trọn lành cá nhân của Đức Maria thì cho thấy rõ Người đã trung thành làm trọn Lời Chúa: Giáo Hội đã hiểu như vậy nên đặt câu nói đó trong những nghi lễ phụng vụ để tôn vinh Đức Maria. Bản văn Tin Mừng thực ra gợi ý rằng Chúa nói vậy để cho thấy những lý do cao cả nhất đưa tới cái phúc của Mẹ nằm ngay trong việc Người liên kết thân mật với Thiên Chúa và tuân phục hoàn toàn Lời Chúa.
Đức Maria tuỳ thuộc hoàn toàn vào Chúa
5. Đặc ân Chúa ban cho Đức Maria "Đấng toàn thánh" làm cho chúng ta khâm phục những kỳ công ân sủng đã thực hiện nơi Người. Nó cũng nhắc lại chúng ta nhớ là Đức Maria luôn tùy thuộc cách trọn vẹn vào Chúa và không một sự bất toàn nào hại đến sự hoà hợp trọn hảo của Người đối với Thiên Chúa. Do đó cuộc sống trần gian của Người được đánh dấu bằng sự tiến triển liên lỉ, cao đẹp trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đối với người tín hữu, Đức Maria là dấu chỉ sáng ngời lòng thương xót Chúa và là người dẫn đường chắc chắn tới đỉnh cao nhất sự thánh thiện và trọn lành Phúc Âm.
(Osservatore Romano số 26 ngày 26/06/96)
admin
16-06-2006, 04:39 PM
ĐỨC MARIA TỰ DO CỘNG TÁC VỚI CHƯƠNG TRÌNH THIÊN CHÚA
Thứ Tư, 03/07/1996
Trong Tin Mừng Thánh Luca, lời bà Elizabeth chào Đức Maria cho biết Người là một nhân vật mà đức tin trở nên mẫu mực cho tất cả những ai sống theo các mối phúc.
1. Trong tường thuật Tin Mừng về cuộc Thăm Viếng, Bà Elizabeth đầy ơn Chúa Thánh Thần, đón Đức Maria vào nhà mình và la lên:"Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em"(Lc 1. 45). Mối phúc nầy, mối thứ nhất được thuật lại trong Phúc Âm, giới thiệu Đức Maria như một nhân vật, nhờ đức tin, đi trước Giáo hội khi làm trọn tinh thần các mối phúc.
Lời bà Elizabeth khen ngợi đức tin Đức Maria được tăng cường nếu đem so sánh với lời thiên thần loan báo cho ông Dacaria. Đọc lướt qua hai lời loan báo nầy có thể coi như Dacaria và Đức Maria đều trả lời giống nhau đối với lời loan báo của Thiên Thần. Ông Dacaria nói: "Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già và nhà tôi cũng đã lớn tuổi rồi"; còn Đức Maria thì nói: "Điều ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?" (Lc 1, 18.34). Nhưng sự khác biệt sâu xa giữa những ứng xử nội tâm của hai vai chính trong hai tình tiết đó, có thể nhận rõ qua lời Thiên Thần trách Dacaria cứng tin, đang khi đó lại giải đáp ngay thắc mắc của Đức Maria. Không như chồng bà Elizabeth, Đức Maria hoàn toàn vâng phục chương trình của Thiên Chúa và không đặt điều kiện ưng thuận bằng một dấu gì bên ngoài.
Khi Thiên Thần đưa ra vấn đề Người sẽ làm Mẹ, thì Đức Maria cho Thiên Thần biết mình có ý ở đồng trinh. Vì tin lời loan báo có thể thực hiện, Người chỉ hỏi Thiên Thần Chúa cách thực hiện đó thôi, để thực hiện ý Chúa tốt hơn, vì Người sẵn sàng phục tùng ý muốn đó. Thánh Augustino lưu ý: "Người hỏi cách thức, chứ không nghi ngờ quyền năng của Chúa", (Sermo 291).
Đức Maria được kêu mời nghe nhiệt tình và tin thuần túy
2. Ngữ cảnh trong đó hai loan báo thực hiện, cũng giúp biểu dương đức tin ưu tú của Đức Maria. Trong trình thuật Thánh Luca, chúng ta nhận thấy hoàn cảnh thuận lợi hơn của ông Dacaria và sự không thích đáng của câu ông trả lời. Ông nhận lời loan báo của Thiên Thần trong đền thờ Giêrusalem, tại bàn thờ trước nơi "Cực Thánh" (Xh 30. 6-8), Thiên Thần nói với ông khi ông đứng dâng hương, như thế là đang khi ông thi hành những nhiệm vụ tư tế, vào thời điểm ý nghĩa trong đời ông, quyết định của Thiên Chúa được chuyển sang cho ông qua một thị kiến. Những chi tiết đặc biệt đó tạo điều kiện cho ông hiểu biết dễ dàng hơn tính xác thực của loan báo và cũng là động cơ thúc đẩy ông mau mắn chấp nhận loan báo đó.
Lời loan báo của Đức Maria xảy ra trong một ngữ cảnh đời thường đơn sơ hơn, không có những yếu tố bên ngoài thánh thiêng như trong trường hợp ông Dacaria. Thánh Luca không nói rõ nơi diễn ra cuộc truyền tin Chúa Giáng Sinh: Ngài chỉ kể lại rằng Đức Maria ở tại Nadareth, một làng nhỏ bé, xem ra không được tiền định cho biến cố nầy. Hơn nữa, Thánh Sử không gán tầm quan trọng bất thường cho giây phút Thiên Thần xuất hiện và cũng chẳng miêu tả những hoàn cảnh lịch sử. Trong cuộc gặp gỡ sứ giả từ trời, người ta chú ý tới ý nghĩa những lời Thiên Thần đòi hỏi Đức Maria phải chăm chú nghe và thật lòng tin.
Suy tư đó cho phép chúng ta nhận thức rõ đức tin mạnh mẽ của Đức Maria, nhất là khi so sánh với khuynh hướng, lúc đó cũng như bây giờ, cương quyết đòi hỏi những dấu chỉ khả giác mới tin. Ngược lại, sự ưng thuận của Đức Trinh Nữ theo ý Chúa chỉ vì Người yêu Chúa.
3. Đức Maria được yêu cầu chấp nhận một sự thực cao hơn sánh với ông Dacaria. Ông nầy được mời tin sự sinh ra lạ lùng sẽ xảy ra trong sự phối hợp của vợ chồng son sẻ mà Chúa muốn làm cho có kết quả: Chúa can thiệp như vậy đối với nhiều người nữ trong Cựu Ước: Bà Sara (St 17, 15-21; 18, 10-14), Raken (St 30, 22), mẹ ông Samson (Tl 13, 1-7), bà Anna mẹ Samuen (1 Sm 1. 11-20). Trong những câu chuyện đó, thường nhấn mạnh cách đặc biệt tới ơn Chúa ban nhưng không.
Đức Maria được mời gọi tin việc làm mẹ vẫn còn trinh khiết, mà trước đây Kinh Thánh chưa bao giớ nói tới. Thực sự, lời tiên tri danh tiếng của Isaia: "Nầy đây người trinh nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emanuen"(Is 7, 14), cho dầu không loại trừ cái nhìn như thế, chỉ được giải thích rõ rệt theo nghĩa nầy sau khi Chúa Kitô xuất hiện mà thôi và trong ánh sáng mặc khải của Phúc Âm.
Đức Maria được yêu cầu chấp nhận một sự thật trước kia chưa hề nói. Người đón nhận nó với một tâm hồn đơn sơ nhưng táo bạo. Với câu hỏi:" làm sao sự ấy có thể được?", Người nói lên niềm tin quyền phép Chúa có thể dung hoà sự đồng trinh với chức làm mẹ khác thường và độc đáo của mình.
"Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên Bà, quyền lực Đấng tối cao sẽ bao trùm Bà" (Lc 1, 35), câu trả lời của Thiên Thần, đưa ra giải pháp lạ lùng của Thiên Chúa giải đáp thắc mắc của Đức Maria xem sự đồng trinh như là một cản trở, lại trở nên khung cảnh cụ thể để Chúa Thánh Thần hoàn tất nơi Đức Maria việc thụ thai Con Chúa nhập thể. Câu trả lời của Thiên Thần mở đường cho Đức Trinh Nữ hợp tác với Chúa Thánh Thần trong việc sinh ra Chúa Giêsu.
4. Sự cộng tác tự do của con người được thực hiện bằng cách thi hành chương trình Thiên Chúa. Vì tin vào Lời Chúa, Đức Maria cộng tác hoàn thành chức làm Mẹ đã được báo tin cho Người.
Đức tin của Đức Maria nhắc lại đức tin của Abraham
Các Giáo Phụ thường nhấn mạnh phương diện trinh thai của Chúa Giêsu. Khi chú giải đoạn Tin Mừng về Truyền Tin, Thánh Augustinô phát biểu: Thiên Thần loan báo, Đức Nữ Trinh lắng nghe, tin tưởng rồi mang thai (Sermo 13 in Nat. Dom). Và ngược lại: "Đức Kitô được tin và được thụ thai nhờ đức tin. Trước tiên đức tin đến trong lòng Trinh Nữ rồi sau đó sự thụ thai mới xảy ra nơi cung lòng Người Mẹ.(Sermo 293).
Đức tin của Đức Maria nhắc lại đức tin của Abraham, người từ bình minh Cựu ước đã tin vào Chúa và do đó trở nên người cha của đàn con cháu đông đảo. (x. St 15. 6; Redemptoris Mater, số 14). Bắt đầu Tân Ước Đức Maria cũng gây một ảnh hưởng quyết định, qua lòng tin, trên sự hoàn thành mầu nhiệm Nhập Thể, khởi điểm và gồm tóm tất cả sứ mạng Cứu Thế của Chúa Giêsu.
Mối liên hệ chặt chẽ giữa đức tin với ơn cứu rỗi được Chúa Giêsu nhấn mạnh trong đời sống công khai của Người (x. Mt 5, 34; 10, 52, v.v…) giúp chúng ta hiểu vai trò cơ bản mà Đức Maria thi hành và tiếp tục thi hành trong sự cứu rỗi nhân loại.
admin
16-06-2006, 04:46 PM
SỰ THỤ THAI CÒN ĐỒNG TRINH LÀ MỘT SỰ KIỆN THUỘC SINH HỌC
Thứ Tư, 10/07/1996
Các tường thuật Tin Mừng dạy rõ rằng sự thụ thai Chúa Giêsu là việc làm của Chúa Thánh Thần, chớ không phải chỉ là cách diễn tả có tính thần học về chức làm Con Thiên Chúa của Người.
1. Giáo Hội luôn luôn chủ trương rằng đức đồng trinh của Đức Maria là một chân lý đức tin, như đã lãnh nhận và đã suy nghĩ theo chứng từ các Tin Mừng thánh Luca, Matthêô và cũng có lẽ của Thánh Gioan nữa.
Trong câu chuyện Truyền Tin, Thánh sử Luca gọi Đức Maria là "Người Trinh Nữ’, nhắm tới ý muốn của Người được giữ mãi đức đồng trinh, cũng như tới kế hoạch Thiên Chúa hoà trộn ý muốn nầy với chức là Mẹ kỳ diệu của Người. Sự khẳng định việc thụ thai còn đồng trinh do tác động của Chúa Thánh Thần, đã loại trừ mọi giả thuyết sinh sản đơn tính (parthenogenesis) và loại bỏ những cố gắng giải thích trình thuật Thánh Luca như là sự triển khai một chủ đề Do Thái hay là như bắt nguồn từ chuyện thần thoại ngoại giáo.
Cấu trúc bản văn Thánh Luca (x. Luca 1, 26-38; chống lại bất cứ lối giải thích giản lược nào. Mạch văn không ủng hộ sự cắt giảm nào trong từ ngữ hay kiểu nói quả quyết sự thụ thai trinh khiết do Chúa Thánh Thần thực hiện.
2. Thánh Sử Matthêô, thuật lại lời Thiên Thần loan báo cho Thánh Giuse, quả quyết như Thánh Luca rằng việc thụ thai là "công trình của Chúa Thánh Thần" (Mt 1, 20) và loại trừ những quan hệ vợ chồng.
Hơn nữa, việc thụ thai Chúa Giêsu mà vẫn còn trinh tiết, được thông báo cho Thánh Giuse một thời gian sau: đối với Thánh Giuse, vấn đề không phải là được mời tỏ dấu đồng thuận trước lúc thụ thai Con Đức Maria, vì đây là kết quả giữa sự can thiệp siêu nhiên do Chúa Thánh Thần và sự hợp tác về phía Người Mẹ mà thôi. Thánh Giuse chỉ được yêu cầu tự do lãnh nhận vai trò người chồng của Đức Maria và sứ vụ làm cha Con Trẻ.
Thánh Matthêô trình bày nguồn gốc đồng trinh của Chúa Giêsu như là sự hoàn thành lời ngôn sứ Isaia: "Nầy đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và tên Người sẽ được gọi là Emanuen", (có nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta) (Mt 1, 23, x. Is 7, 14). Như vậy Thánh Matthêô cho phép chúng ta kết luận rằng sự trinh thai là đối tượng suy nghĩ trong cộng đoàn kitô hữu đầu tiên, và họ đã hiểu sự trinh thai đó là đúng với chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa và liên hệ chặt chẽ với căn tính Đức Giêsu, "Chúa ở cùng chúng ta".
Từ sớm, Giáo hội đã tin vững vàng việc trinh thai
3. Không phải như Luca và Matthêô, Tin Mừng Marcô không nhắc tới sự thụ thai và sinh ra Chúa Giêsu, dầu vậy nên để ý rằng, Marcô chẳng bao giờ nhắc tới ông Giuse, người chồng Đức Maria. Chúa Giêsu được gọi nhiều lần là "con bà Maria" từ miệng dân chúng thành Nadaret, hay là trong ngữ cảnh khác "Con Thiên Chúa" (3, 11; 5: 7; x. 1,11; 9,7; 14, 61-62; 15, 39). Những sự kiện nầy phù hợp với niềm tin vào mầu nhiệm trinh thai của Chúa Giêsu. Sự thật nầy, theo khám phá chú giải mới đây, được chứa đựng minh nhiên trong câu 13 đoạn mở đầu Tin Mừng Thánh Gioan, vì một vài tác giả có uy tín ngày xưa (như Thánh Irênê và ông Tertullianô) trình bày sự thật nầy, không với hình thức số nhiều, nhưng số ít : "Họ được sinh ra, không phải do bởi khí huyết, cũng không do ước muốn của nhục thể, hoặc ý muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa". Bản dịch ở số ít là dấu chỉ bài mở đầu Tin Mừng Thánh Gioan là một bằng chứng cho sự Trinh Thai Chúa Giêsu, đặt vào trong toàn cảnh Mầu Nhiệm Nhập Thể.
Sự khẳng định nghịch lý của Thánh Phaolô: "Nhưng khi thời gian tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà… hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử" (Gl 4, 4-5), dọn đường cho nhân cách của Người Con, và như vậy là dọn đường cho sự sinh ra do người Mẹ đồng trinh.
Chứng từ của Tin Mừng nhất lãm minh chứng rằng niềm tin vào sự Trinh Thai của Chúa Giêsu được đâm rễ sâu trong nhiều nơi thuộc Giáo Hội tiên khởi. Sự kiện nầy làm nhiều giải thích mới đây thiếu cơ sở, vì chúng hiểu sự trinh thai không theo nghĩa thể lý hay sinh vật học, nhưng chỉ theo nghĩa tượng trưng hay bóng bẩy: Chỉ Chúa Giêsu như là ân huệ Chúa ban cho nhân loại. Cũng có thể phê phán như trên đối với ý kiến của những kẻ nói rằng, trình thuật về sự trinh thai chỉ có thể là"theologoumenon" nghĩa là, một kiểu cách phát biểu một học thuyết thần học, học thuyết về tư cách làm Con Chúa của Chúa Giêsu, hoặc Chúa Giêsu chỉ là một hình ảnh thần thoại.
Như chúng ta đã thấy, các Tin Mừng chứa đựng lời quả quyết rõ rệt về sự trinh thai theo trật tự sinh vật học, do Chúa Thánh Thần thực hiện. Giáo Hội coi sự thật nầy là của mình, bắt đầu với những công thức đầu tiên về đức tin. (x.GLCG số 496).
admin
16-06-2006, 04:46 PM
4. Niềm tin diễn tả trong các sách Tin Mừng được củng cố liên tục trong truyền thống sau nầy. Những công thức đức tin do các văn sĩ kitô hữu đầu tiên, giả định sự xác nhận biến cố sinh con mà vẫn đồng trinh: Aristides, Giustinô, Irênê và Tertullianô đều đồng ý với Inhaxiô thành Antiokia, những vị nầy tuyên xưng Chúa Giêsu "thực sự sinh ra bởi Nữ đồng trinh" (Smyrn. 1.2). Những tác giả nầy quả quyết một sự thụ thai đồng trinh có tính lịch sử của Chúa Giêsu và không chủ trương một đức đồng trinh chỉ có tính luân lý hay là một ân sủng mơ hồ tỏ hiện trong sự sinh con.
Những định nghĩa long trọng về đức tin do các Công Đồng chung và Huấn quyền Giáo Hoàng, chấp nhận những công thức đầu tiên vắn tắt về đức tin, là hài hoà trọn vẹn với sự thật nầy. Công Đồng Chalceđônia (451), trong lời xưng đức tin, được diễn đạt thận trọng và với nội dung được phán quyết không sai lầm, quả quyết rằng Chúa Kitô "được sinh ra" với nhân tính của Người trong những ngày sau hết nầy, là cho chúng ta và vì phần rỗi chúng ta, bởi Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa" (DS 301). Cũng vậy, Công Đồng Constantinople (681) công bố Chúa Giêsu Kitô đã được "sinh ra... về mặt nhân tính, bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Maria, Người là Mẹ Thiên Chúa đúng nghĩa và đúng sự thật" (DS 555). Nhiều Công Đồng chung khác (Constantinople II, Lateranô IV và Lyon II) tuyên bố Đức Maria "trọn đời đồng trinh", nhấn mạnh đến sự đồng trinh trọn đời của Người (DS 423, 801, 852). Những khẳng định nầy được Công Đồng Vatican nhắc lại, đề cao sự kiện Đức Maria "bởi lòng tin và vâng phục, đã sinh ra chính Con Chúa Cha nơi trần gian, mà không hề biết đến người nam, nhưng được Chúa Thánh Thần bao phủ" (LG 63).
Thêm vào phán quyết Công Đồng, còn có những phán quyết do Huấn Quyền Giáo Hoàng liên hệ đến sự Thụ Thai vô nhiễm của "Đức Trinh Nữ Maria rất thánh" (DS 2803) và sự Hồn xác lên trời "của Mẹ Thiên Chúa vô nhiễm và trọn đời đồng trinh" (DS 3903).
Sự thánh thiện và đồng trinh của Đức Maria liên kết chặt chẽ với nhau
5. Mặc dầu những phán quyết của Giáo quyền, trừ những phán quyết do Công Đồng Latêranô (649), theo sự ao ước của Giáo Hoàng Martinô I, không giải thích ý nghĩa từ ngữ "đồng trinh", nhưng rõ ràng là từ ngữ này được dùng theo nghĩa thông thường: tự ý kiêng cử những hành vi tính dục và gìn giữ cho thân xác được nguyên vẹn. Nhưng, sự nguyên vẹn thể lý được coi là bản chất của đức tin vào sự trinh thai của Chúa Giêsu (x. GLCG số 496).
Diễn tả Đức Maria "như là Đấng Thánh trọn đời đồng trinh, vô nhiễm" lưu ý tới sự liên kết giữa sự thánh thiện và sự đồng trinh. Đức Maria muốn sống đời sống đồng trinh, vì được thúc đẩy bởi ý muốn dâng trọn con tim mình cho Chúa.
Kiểu nói dùng trong việc phán quyết tín điều Hồn Xác lên trời: "Mẹ Thiên Chúa Vô nhiễm, trọn đời đồng trinh", cũng bao hàm sự liên hệ giữa đức đồng trinh và chức làm mẹ của Đức Maria: cả hai đặc ân được phối hợp lạ lùng trong sự thụ thai Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật và người thật. Như vậy đức đồng trinh của Đức Maria được gắn liền mật thiết với chức làm mẹ Chúa và sự toàn thánh của Người.
admin
23-06-2006, 02:55 PM
27. ĐỨC MẸ CHỦ Ý Ở ĐỒNG TRINH
Thứ Tư, 24/07/1996
Quyết định của Đức Maria ở đồng trinh có thể là một điều bất thường trong thời đại của Người, nhưng chúng ta không nên quên sự hiện diện đặc biệt của ân sủng dọc suốt đời Người.
1. Đức Maria đặt câu hỏi với Thiên Thần loan báo về việc thụ thai và sinh Chúa Giêsu: "Việc ấy xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng". (Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=Lc 1:34)). Thắc mắc đó xem ra đáng kinh ngạc, nói cho cùng, nếu chúng ta nhớ tới những trình thuật Kinh Thánh kể lại sự loan báo một lần sinh nở lạ thường đối với một người phụ nữ không con. Những trường hợp như vậy liên hệ tới những phụ nữ có chồng rồi, nhưng lại son sẻ tự nhiên, mà Chúa lại cho sinh con qua đời sống vợ chồng bình thường của họ. (1 Sm 19-20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=1 Sm 19-20)), để đáp lại lời kêu xin khẩn thiết của họ (x. St 15,2; 30,22-23; 1 Sm 1,10; Lc 1,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=St 15:2 ; St 30:22-23 ; 1 Sm 1:10 ; Lc 1:13)).
Còn Đức Maria đón nhận lời loan báo của Thiên Thần trong một hoàn cảnh khác biệt. Người không phải là một phụ nữ có chồng và son sẻ; với một lựa chọn tự do, Người có ý định ở đồng trinh. Cho nên ý định ở đồng trinh của Người, hoa quả của tình yêu Chúa nơi Người, xuất hiện như một ngăn trở chức làm mẹ được loan báo cho Người.
Mới nhìn qua, những lời nói của Đức Maria xem ra chỉ để diễn tả tình trạng hiện đang đồng trinh của Người: Đức Maria muốn quả quyết rằng Người "không biết" người nam, có nghĩa Người là một trinh nữ. Nhưng ngữ cảnh trong đó thắc mắc được hỏi: "Việc đó xảy ra thế nào được?" và câu quả quyết tiếp theo: "vì tôi không biết đến người nam" nhấn mạnh vừa tình trạng đồng trinh của Người lúc đó, vừa ý muốn ở đồng trinh của Người. Kiểu nói Người dùng, với động từ thì hiện tại, mặc khải sự thường xuyên và tiếp diễn tình trạng của Người.
Đức Maria hợp tác đầy đủ với ý muốn của Thiên Chúa
2. Nhắc tới khó khăn nầy, Đức Maria không chống lại chương trình Thiên Chúa chút nào, nhưng chứng tỏ ý muốn của Người hoàn toàn phù hợp với chương trình đó. Hơn nữa, người nữ thành Nadareth luôn luôn sống hoà hợp với thánh ý Thiên Chúa và đã chọn đời sống đồng trinh với ước mong làm đẹp lòng Thiên Chúa. Thực tế, ước muốn sống đồng trinh chuẩn bị Người chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa với cái "tôi" hoàn toàn nhân bản và nữ tính, và câu trả lời đầy đức tin nầy bao gồm vừa sự hợp tác chặt chẽ với ân sủng Chúa đi trước trợ giúp, vừa sự cởi mở hoàn toàn đón lấy tác động của Chúa Thánh Thần (Redemptoris Mater, số 13).
Một số người cho rằng những lời nói và ý muốn của Đức Maria xem ra không xảy ra được, vì trong não trạng người DoThái, sự đồng trinh không được coi như là một giá trị hay là một lý tưởng đáng theo. Những trang sách Cựu Ước tương tự quả quyết thực tại đó trong nhiều tình tiết và kiểu nói được nhiều người biết đến. Trong sách các Thủ Lãnh, con gái ông Giéptê chẳng hạn, đương đầu với cái chết lúc còn trẻ mà chưa có chồng, than khóc sự đồng trinh của mình, nghĩa là cô than khóc cô không thể lấy chồng (Tl 11,38 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=Tl 11:38)). Hơn nữa, hôn nhân do mệnh lệnh của Thiên Chúa, "Hãy sinh sôi nảy nở" (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=St 1:28)) được xem như là ơn gọi tự nhiên của người phụ nữ, bao hàm những vui mừng và đau khổ đi đôi với chức làm mẹ.
3. Để hiểu rõ hơn ngữ cảnh trong đó quyết định của Đức Maria đã tới độ chín mùi, thì cần nhớ lại rằng thời kỳ đi liền trước thời đại kitô hữu, một thái độ tích cực sống đồng trinh đã khởi sự xuất hiện trong nhiều giới Do Thái. Ví dụ, người Essênô, mà người ta tìm được nhiều chứng tích lịch sử tại Qumram, đã sống độc thân hay là hạn chế sự hưởng thụ hôn nhân nhờ đời sống cộng đoàn và tìm kiếm sự sống thân mật hơn với Thiên Chúa.
Hơn nữa, tại Ai Cập, có một cộng đoàn nữ giới theo linh đạo Essênô, sống tiết dục. Những người nữ nầy, gọi là Therapeutae, thuộc về một giáo phái, được ông Philô thành Alexandria mô tả (De Vita Contemplativa, 21-90), chuyên việc chiêm niệm và tìm kiếm sự khôn ngoan.
Dường như Đức Maria không hề hay biết về những nhóm tôn giáo Do Thái sống lý tưởng độc thân và đồng trinh, nhưng việc ông Gioan Tẩy giả có lẽ đã sống đời độc thân, và cộng đoàn môn đệ của ông quý trọng đời sống ấy, cho phép giả thuyết rằng việc Đức Maria chọn lựa sống đồng trinh cũng thuộc vào bối cảnh văn hoá, tôn giáo mới mẽ nầy.
4. Dầu sao trường hợp đặc biệt của Trinh nữ thành Nadaret không cho phép chúng ta rơi vào sai lầm là kết nối những khuynh hướng nội tâm của Người tùy thuộc hoàn toàn vào não trạng những người xung quanh, như vậy là loại trừ tính duy nhất của mầu nhiệm đang diễn tiến nơi Người. Đặc biệt, chúng ta không nên quên rằng, ngay từ đầu cuộc sống của Người, Đức Maria đã lãnh nhận một ân sủng lạ thường mà Thiên Thần nhìn nhận lúc truyền tin "đầy ân sủng" (Lc 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh.php?FontSize=Txt10&SuchText=Lc 1:28)). Đức Maria được dồi dào thánh thiện trọn hảo, sự thánh thiện theo như giải thích của Giáo Hội, được phản hồi tới giây phút đầu tiên hiện hữu của Người: đặc ân độc đáo Vô Nhiễm Thai, đã ảnh hưởng tới sự phát triển trọn vẹn đời sống thiêng liêng của cô thiếu nữ thành Nadaret.
Đức Chúa biến đổi sự nghèo khó Đức Maria thành giàu có
Như vậy phải chủ trì rằng Đức Maria được hướng dẫn sống lý tưởng đồng trinh do sự linh hứng ngoại thường của Chúa Thánh Thần, Đấng trong dòng lịch sử Giáo Hội, sẽ thúc đẩy nhiều người nữ khác theo con đường tận hiến đồng trinh.
Sự hiện diện đặc biệt của ân sủng trong đời sống Đức Maria đưa tới kết luận rằng, người thiếu nữ ấy dấn thân sống đồng trinh. Được tràn đầy những ân huệ đặc biệt của Đức Chúa ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống, Đức Maria hướng tới việc dâng mình hoàn toàn cả xác lẫn hồn cho Thiên Chúa, khi dâng chính mình như một trinh nữ.
Đàng khác, lòng khao khát sống đồng trinh của Người thật hoà hợp với sự "khó nghèo" trước mặt Thiên Chúa, một nhân đức mà Cựu Ước luôn coi trọng. Hoàn toàn dấn thân theo con đường nầy, Đức Maria đã từ chối chức làm mẹ, kho tàng dành riêng cho người nữ, rất được quý trọng trong dân Ít-ra-en. Do đó Người nổi bật giữa những người nghèo và khiêm hạ của Đức Chúa, là những kẻ cậy trông và nhận lãnh ơn cứu rỗi do Người (LG 55). Dầu sao vì đặt mình trước mặt Chúa như người nghèo và chỉ ước mong được sinh hoa trái thiêng liêng, tức là hoa trái tình yêu Thiên Chúa, lúc Truyền Tin Đức Maria đã khám phá ra Đức Chúa đã biến đổi sự nghèo nàn của mình thành giàu sang: Người sẽ là Mẹ đồng trinh Con Đấng Tối Cao. Về sau, Người cũng khám phá ra chức làm Mẹ của Người mở rộng ra tới mọi người mà Người Con đến cứu chuộc. (GLCG số 501).
admin
31-08-2006, 03:29 PM
28. NGƯỜI CON ĐỜI ĐỜI CỦA THIÊN CHÚA CŨNG ĐƯỢC SINH BỞI ĐỨC MARIA
(Osservatore Romano số 32-33 ngày 07-14/08/1998-
Thứ Tư, 31/07/1996)
Sự trinh thai Chúa Giêsu Kitô chứng tỏ Người thật là Con Thiên Chúa, từ đời đời được sinh ra bởi Chúa Cha, nhưng được sinh bởi Đức Nữ Trinh Maria trong thời gian.
1. Trong chương trình cứu rỗi của Người, Thiên Chúa đã muốn Con Một của Người, được sinh bởi một nữ trinh. Quyết định này của Thiên Chúa đòi hỏi một liên hệ sâu xa giữa đức đồng trinh của Đức Maria và mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Khi nhìn toàn bộ mặc khải, "đôi mắt đức tin, có thể khám phá những lý do nhiệm mầu khiến Thiên Chúa trong ý định cứu độ của Người đã muốn rằng Con của Người sinh ra bởi một trinh nữ. Những lý do này liên hệ đến con người và sứ mạng cứu chuộc của Đức Kitô cũng như đến việc Đức Maria đón nhận sứ mạng này cho tất cả loài người" (GLCG số 502).
Sự trinh thai, vì loại trừ người cha nhân loại, xác quyết rằng Chúa Giêsu chỉ có một Cha trên trời và sự sinh ra trong thời gian của Người Con phản ảnh sự sinh ra từ đời đời của Người: Chúa Cha đã sinh Chúa Con trong đời đời, thì cũng sinh ra Người trong thời gian để làm người.
2. Trình thuật Truyền Tin nhấn mạnh địa vị Người là "Con Thiên Chúa", kết quả của sự Chúa can thiệp khi thụ thai ra Người. "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc 1, 35).
Sự trinh thai là kết quả hợp tác của Đức Maria
Đấng sinh ra bởi Đức Maria đã là Con Thiên Chúa vì Người sinh ra từ đời đời; sự sinh đồng trinh của Người, thực hiện bởi Đấng Tối Cao, chứng tỏ Người là Con Thiên Chúa, ngay cả trong bản tính nhân loại của Người.
Việc Người sinh ra từ đời đời được mặc khải trong việc Người sinh ra bởi mẹ đồng trinh, mặc khải đó đã được gợi ý trong những câu mở đầu Tin Mừng Gioan, vì nói lên rằng Thiên Chúa vô hình được tỏ hiện do công trình của "Người Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Chúa Cha" (Ga 1, 18), khi Người đến trong nhục thể: "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một" (Ga 1, 14).
Khi thuật lại sự sinh hạ Chúa Giêsu, Luca và Matthêô cũng nói tới vai trò của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần không phải là cha Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là người Con của Chúa Cha Đấng đời đời mà thôi. (x. Lc 1, 32-35), Đấng, nhờ Thánh Thần, hành động trong thế gian và sinh Ngôi Lời trong bản tính nhân loại của Người. Thật vậy, khi Truyền Tin, Thiên Thần gọi Thánh Thần là "quyền năng Đấng Tối Cao" (Lc 1, 35), hợp với Cựu Ước giới thiệu Người như là năng lực thần linh hành động trong đời sống nhân loại, cho đời sống này có khả năng làm những việc lạ lùng. Khi tỏ mình tới tuyệt đỉnh trong mầu nhiệm Nhập Thể, quyền năng này là tình yêu trong cuộc sống Ba Ngôi Thiên Chúa, có nhiệm vụ ban Ngôi Lời Nhập Thể cho nhân loại.
3. Chúa Thánh Thần, cách riêng, là Đấng truyền thông những tài sản thần linh cho mọi người và biến họ thành những kẻ chia sẻ cuộc sống Thiên Chúa. Trong mầu nhiệm Ba Ngôi, Thánh Thần là sự kết hợp Chúa Cha với Chúa Con, cũng kết hợp loài người với Thiên Chúa khi thực hiện sinh hạ đồng trinh của Chúa Giêsu.
Mầu nhiệm Nhập Thể cũng làm nổi bật sự cao cả vô song của chức làm Mẹ đồng trinh của Đức Maria: Việc thụ thai Đức Giêsu là kết quả sự hợp tác quảng đại của Người với tác động Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi sự kết trái.
Trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, sự trinh thai vì thế loan báo một sáng tạo mới: Do tác động Chúa Thánh Thần, Đấng muốn làm Adam mới được sinh ra nơi Đức Maria. Sách Giáo lý Hội Thánh công giáo nói: "Đức Giêsu nhập thể trong lòng trinh nữ Maria, bởi phép Chúa Thánh Thần vì Người là Ađam mới khởi đầu cho sáng tạo mới" (GLCG số 504).
Những người tin được ban cho quyền trở thành con Thiên Chúa.
Vai trò làm Mẹ đồng trinh của Đức Maria sáng chói trong mầu nhiệm cuộc sáng tạo mới này. Gọi Đức Kitô là "con đầu lòng của Đức Trinh Nữ" (Ad Hear 3,16,4), Thánh Irênê nhắc lại rằng sau Đức Giêsu còn nhiều kẻ khác được sinh ra bởi người nữ đồng trinh, theo nghĩa họ lãnh nhận đời sống mới của Chúa Kitô. "Đức Giêsu là Con Một Đức Maria, nhưng Đức Maria lại còn là người Mẹ thiêng liêng của tất cả mọi người được Đức Giêsu cứu độ: Người Con mà Mẹ sinh ra, Thiên Chúa đã đặt làm Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8, 29), nghĩa là các tín hữu mà Mẹ đã cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục bằng một tình thương của một người Mẹ" (LG 637; GLCG số 501).
4. Thông truyền đời sống mới là chuyển giao phận làm con Thiên Chúa. Ở đây chúng ta có thể nhắc lại viễn cảnh Thánh Gioan đã mở ra trong đoạn đầu Tin Mừng của Ngài: Đấng được sinh ra bởi Thiên Chúa ban cho những kẻ tin quyền năng làm con Thiên Chúa (x. Ga 1, 12-13). Sự sinh hạ đồng trinh cho phép mở rộng chức làm Cha của Thiên Chúa: con người được nên nghĩa tử của Thiên Chúa trong Đấng là Con của Trinh nữ và của Chúa Cha.
Suy tư về mầu nhiệm sinh hạ đồng trinh, cho chúng ta có thể nhận thức rằng Thiên Chúa đã chọn một bà mẹ đồng trinh cho Con mình để ban tặng cách quảng đại hơn tình yêu phụ tử của Ngài cho nhân loại.
admin
31-08-2006, 03:35 PM
29. SỰ CHỌN LỰA CỦA ĐỨC MARIA LINH HỨNG CHO SỰ ĐỒNG TRINH TẬN HIẾN
(Osservatore Romano số 34 ngày 21/08/96-
Thứ Tư, 07/08/96)
Quyết định của Người Mẹ Được Chúc Phúc dâng hiến trọn đời mình cho Chúa trong bậc đồng trinh, là khởi điểm và linh hứng cho sự đồng trinh tận hiến trong Giáo Hội.
1. Ý muốn ở đồng trinh, mà Đức Maria tỏ bày khi được truyền tin theo truyền thống được xem như là khởi điểm và linh hứng cho bậc đồng trinh Kitô giáo trong Giáo Hội.
Thánh Augustinô không thấy có luật Chúa buộc phải hoàn thành quyết định này, nhưng đó là một lời khấn tự nguyện. Như vậy có thể trình bày Đức Maria như là mẫu gương cho "những trinh nữ thánh" trong lịch sử Giáo Hội. Đức Maria "tận hiến sự đồng trinh của mình cho Chúa khi chưa biết người mình sẽ thụ thai, cho nên sự bắt chước đời sống trên trời trong thể xác phải chết dưới đất được thực hiện qua một lời khấn, chớ không phải do một luật buộc, qua một sự lựa chọn do tình yêu, chớ không phải do nhu cầu phục vụ" (De Sancta Virg. IV Pl 40: 398).
Thiên Thần không xin Đức Maria ở đồng trinh: Chính Đức Maria tự do tiết lộ ý muốn ở đồng trinh. Sự lựa chọn do tình yêu đưa Người tới chỗ tận hiến mình hoàn toàn cho Chúa, bằng một đời sống đồng trinh thể hiện trong sự cam kết này.
Khi nhấn mạnh sự tự nguyện quyết định của Đức Maria, chúng ta không nên quên rằng mọi ơn gọi khởi đầu là do sáng kiến của Chúa. Khi chọn đời sống đồng trinh người thiếu nữ thành Nadaret đáp trả lại tiếng gọi từ bên trong, nghĩa là, sự linh hứng của Thánh Thần soi sáng cho Người rõ ý nghĩa và giá trị ân ban sống dâng mình đồng trinh. Không ai có thể đón nhận ân ban này mà không cảm thấy được kêu gọi hay không lãnh nhận ánh sáng và sức mạnh cần thiết do Thánh Thần.
Đức Maria quyết chí sống đồng trinh
2. Mặc dầu Thánh Augustinô dùng từ "lời khấn", để chỉ cho những kẻ người gọi là "những trinh nữ thánh" thấy gương đầu tiên về tình trạng sống của họ. Tin Mừng không minh chứng rằng Đức Maria đã công khai bày tỏ một lời khấn hứa nào, một hình thức thánh hiến và dâng cuộc đời mình cho Chúa như thường được thực hành ở các thế kỷ đầu của Giáo Hội. Đọc Tin Mừng chúng ta được biết Đức Maria chỉ quyết định riêng tư ở đồng trinh dâng lòng mình cho Chúa. Người muốn làm cô dâu trung tín của Chúa, hoàn thành ơn gọi mình với tư cách "thiếu nữ Sion". Tuy thế, do quyết định này, Đức Maria đã trở thành nguyên mẫu của tất cả những ai trong Giáo Hội đã chọn phục vụ Chúa với tấm lòng gắn bó trong bậc đồng trinh.
Không có sách Tin Mừng nào, cũng không có bản văn Tân Ước nào, nói cho chúng ta biết Đức Maria quyết định ở đồng trinh từ lúc nào. Tuy vậy, do câu hỏi của Người với Thiên Thần lúc Truyền Tin, người ta thấy rõ rằng Người đã có quyết định chắc chắn. Đức Maria không ngần ngại phát biểu ý muốn sống đồng trinh mặc dầu Người được đề nghị làm mẹ, điều đó chứng tỏ quyết định của Người đã chín mùi từ lâu.
Thực tế, sự quyết chọn sống đồng trinh của Đức Maria không thực hiện trong viễn ảnh chưa thấy trước được sẽ trở nên Mẹ Thiên Chúa, nhưng nó phát triển trong sự nhận thức của Người trước ngày Truyền Tin. Chúng ta có thể giả thiết rằng khuynh hướng này luôn hiện diện trong tim Người: Ân sủng dọn lòng Người chấp nhận làm Mẹ đồng trinh chắc đã ảnh hưởng sự phát triển toàn diện cá tính của Người, đang khi Chúa Thánh Thần không ngừng gieo vào lòng Người, từ những năm đầu đời, ý muốn kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa.
3. Những điều kỳ diệu Thiên Chúa vẫn đang thực hiện ngày nay trong những con tim và đời sống của bao nhiêu người trẻ, thì trước kia đã được thực hiện trong lòng Đức Maria. Cho dù trong thế giới chúng ta, bị xao lãng nhiều do những quyến rũ của nền văn hoá hưởng thụ và thường nông cạn, nhiều thanh thiếu niên vẫn chấp nhận lời mời theo gương Đức Maria, và tận hiến tuổi trẻ mình cho Chúa để phục vụ anh chị em mình.
Quyết định này là sự lựa chọn những giá trị cao hơn, chớ không phải khước từ những giá trị nhân bản. Về phương diện này, trong tông thư Marialis Cultus, Vị tiền nhiệm đáng kính của Tôi là Đức Phaolô VI nhấn mạnh rằng bất cứ ai nhìn vào chứng từ Tin Mừng với một tâm hồn cởi mở "sẽ đánh giá sự chọn lựa đồng trinh của Đức Maria (.) không phải là sự loại trừ bất cứ một giá trị nào trong đời hôn nhân, nhưng đó là một lựa chọn can đảm để tận hiến mình sống tình yêu Thiên Chúa" (số 37).
Tóm lại, sự chọn lựa bậc đồng trinh được thúc đẩy sống khắn khít gắn bó với Chúa Kitô. Điều này rõ nét nơi Đức Maria. Mặc dù trước lúc Truyền Tin, Đức Maria không nhận thức về điều ấy, Thánh Thần đã soi sáng Người tận hiến sự đồng trinh của Người vì Chúa Kitô: Người ở đồng trinh để đón tiếp Đấng Cứu Thế với tất cả con người mình. Như vậy, sự đồng trinh, khởi đầu mặc khải chiều kích Kitô nơi Đức Maria, cũng cần thiết đối với đời sống đồng trinh trong Giáo Hội mà Mẹ Đức Kitô là gương mẫu cao đẹp tuyệt vời. Nếu sự đồng trinh cá biệt của Người, liên kết với chức làm Mẹ Thiên Chúa, là một sự kiện ngoại thường, thì nó thông ban ánh sáng và ý nghĩa cho mọi ơn đồng trinh.
Sự đồng trinh tận hiến là nguồn gốc sinh hoa quả thiêng liêng
4. Biết bao thiếu nữ trong lịch sử Giáo Hội, khi ngắm nhìn sự cao quý và vẻ đẹp của trái tim trinh khiết Mẹ Chúa, đã cảm thấy được khích lệ đáp trả cách quảng đại tiếng Chúa gọi, bằng cách ôm ấp lý tưởng đồng trinh! Như Tôi đã nhắc lại trong thông điệp Redemptoris Mater: "Chính sự đồng trinh như thế, theo gương người trinh nữ thành Nadaret, là nguồn gốc hoa trái thiêng liêng: đó là nguồn gốc chức làm mẹ trong Chúa Thánh Thần" (số 43).
Đời sống đồng trinh của Đức Maria gợi hứng cho toàn dân Kitô giáo biết mến chuộng ơn đồng trinh và ước muốn nó gia tăng trong Giáo Hội như dấu chỉ Thiên Chúa vượt trỗi hơn mọi thực tại và như sự đoán trước có tính tiên tri về cuộc đời hậu lai. Cùng nhau chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì ngày nay còn nhiều kẻ quảng đại tận hiến đời mình trong bậc đồng trinh để thực hiện Nước Chúa.
Đồng thời đang khi nhiều nơi đã được Tin Mừng hoá lâu đời, chủ nghĩa khoái lạc và hưởng thụ dường như ngăn cản giới trẻ ôm ấp đời sống tận hiến, chúng ta phải không ngừng xin Chúa qua lời cầu bàu của Đức Maria cho nở hoa trái nhiều ơn gọi tu sĩ. Như thế gương mặt Mẹ Chúa Kitô, phản chiếu trên nhiều trinh nữ đang cố gắng theo Thầy chí thánh, sẽ tiếp tục nên dấu chỉ lòng từ bi nhân hậu của Chúa cho nhân loại.
admin
31-08-2006, 03:39 PM
30. ĐỨC MARIA VÀ THÁNH GIUSE ĐÃ SỐNG ƠN ĐỒNG TRINH
(Osservatore Romano số 35 ngày 28/08/96-
Thứ Tư, 21/08/96)
Mầu nhiệm Nhập Thể đòi hỏi sự sinh hạ đồng trinh để đề cao địa vị làm Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu, còn sự sinh ra trong một gia đình thật sự thì giúp phát triển bình thường Con Trẻ.
1. Khi giới thiệu Đức Maria là "trinh nữ", Tin Mừng Thánh Luca nói thêm: Người "đã đính hôn với một người tên là Giuse thuộc nhà Đavít" (Lc 1, 27). Hai mẩu thông tin này mới đầu xem ra mâu thuẫn nhau.
Cần lưu ý rằng từ ngữ Hy Lạp được dùng trong chỗ này không có ý nói một người nữ đã kết ước hôn nhân và sống trong tình trạng vợ chồng, nhưng đang trong tình trạng hứa hôn. Không như những gì xảy ra trong các nền văn hoá hiện đại, tập quán hứa hôn theo người Do Thái quy định một khế ước và thường có một giá trị quyết định: thực tế, người được hứa hôn xem như ở trong tình trạng hôn nhân, mặc dầu hôn nhân chỉ hoàn thành khi người thanh niên rước cô gái về nhà mình.
Khi Truyền Tin, Đức Maria đang ở trong tình trạng hứa hôn Chúng ta có thể ngạc nhiên tại sao Người chấp nhận hứa hôn, bởi vì Người đã có ý định ở đồng trinh suốt đời. Luca cảm thấy khó khăn này, nhưng ông chỉ ghi nhận hoàn cảnh này mà không giải thích. Thánh Sử khi nhấn mạnh quyết định ở đồng trinh của Đức Maria, và còn đồng thời giới thiệu Người là vợ ông Giuse, đó là một dấu chỉ đáng tin cậy có tính lịch sử của hai mẩu thông tin nầy.
Thánh Giuse được kêu mời cộng tác trong chương trình cứu rỗi
2. Có thể giả thiết rằng lúc hứa hôn đã có sự thoả thuận giữa Thánh Giuse và Đức Maria về chương trình sống đồng trinh. Hơn nữa, Thánh Thần, Đấng đã soi sáng Đức Maria chọn sự đồng trinh vì mầu nhiệm Nhập Thể và đã muốn mầu nhiệm đó xảy ra trong khung cảnh gia đình hợp với sự phát triển Con Trẻ, cũng đã gieo vào lòng Thánh Giuse lý tưởng đồng trinh này.
Thiên Thần Chúa đã hiện ra trong giấc mơ và nói với Giuse: "Này ông Giuse là con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần" (Mt 1, 20). Thế là ông được khẳng định sống đời hôn nhân của mình một cách hoàn toàn đặc biệt. Qua sự hiệp thông đồng trinh với người nữ được chọn sinh ra Chúa Giêsu, Thiên Chúa kêu gọi ông hợp tác thực hiện chương trình cứu rỗi của Chúa.
Kiểu mẫu hôn nhân mà Đức Maria và Thánh Giuse được Chúa Thánh Thần hướng tới chỉ có thể hiểu trong toàn bộ chương trình cứu rỗi và nền linh đạo cao cả. Thực hiện cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể thì phải có sự sinh hạ đồng trinh để đề cao địa vị Con Chúa và đồng thời phải có một gia đình để có thể trợ giúp sự phát triển bình thường nhân cách Con Trẻ.
Chính vì sự hợp tác vào mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời mà Đức Maria và Thánh Giuse đã lãnh nhận ơn vừa sống đặc sủng đồng trinh, vừa sống đời hôn nhân. Sự hiệp thông tình yêu đồng trinh giữa Đức Maria và Thánh Giuse, mặc dầu là một trường hợp đặc biệt kết hợp với sự thực hiện cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể, sự thông hiệp đó vẫn là một hôn nhân thực sự (x. Apostolis Exhortation Redemptoris custos, số 7).
Chấp nhận mầu nhiệm thâm sâu của sự hợp thông vợ chồng giữa hai ông bà là điều thật khó khăn khiến nhiều người, từ thế kỷ 2, nghĩ rằng Thánh Giuse đã lớn tuổi nên được xem như là người bảo vệ hơn là người chồng của Đức Maria. Đúng hơn nên giả thiết lúc đó Thánh Giuse không phải là một ông già, nhưng sự trọn lành nội tại của Người, hoa trái của ân sủng, đã đưa Người tới chỗ sống vợ chồng với tình yêu đồng trinh đối với Đức Maria.
Đức Lêô XIII dâng toàn thể Giáo Hội cho sự bảo trợ của Thánh Giuse
3. Sự hợp tác của Thánh Giuse vào mầu nhiệm Nhập Thể, cũng bao gồm việc thực hiện vai trò làm "cha" Chúa Giêsu. Thiên Thần xác nhận nhiệm vụ này khi hiện ra trong giấc mơ và bảo Người đặt tên cho Con Trẻ: "Bà sẽ sinh con trai và phải ông đặt tên cho Con Trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" (Mt 1, 21).
Cho dầu loại trừ sự truyền sinh thể lý, địa vị làm cha của Thánh Giuse là một cái gì có thật, chớ không giả tạo. Khi phân biệt giữa người cha và người sinh ra, một bản chuyên khảo ngày xưa về sự đồng trinh của Đức Maria - De Margarita (thế kỷ 4) - phát biểu rằng "những cam kết giữa Đức Maria và Thánh Giuse như vợ chồng, đã làm cho người ta có thể gọi Thánh Giuse bằng danh xưng người cha, mặc dầu là một người cha không truyền sinh". Như vậy, Thánh Giuse thực hiện vai trò làm cha Chúa Giêsu, thi hành quyền được Đấng Cứu Thế saün sàng "vâng phục" (Lc 2, 51), góp phần vào việc nuôi dưỡng và truyền dạy Người nghề thợ mộc.
Các kitô hữu luôn luôn công nhận Thánh Giuse là một nhân vật sống trong sự hiệp thông thân tình với Đức Maria và Chúa Giêsu, kết luận rằng trong giờ chết người cũng được hưởng sự hiện diện thương yêu và an ủi của các Ngài. Do truyền thống kitô giáo vững bền nầy, nhiều nơi người ta đặc biệt sùng kính Thánh Gia Thất và nơi đó, kính Thánh Giuse, người Bảo Trợ Đấng Cứu Thế. Như mọi người đều biết, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phó dâng toàn thể Giáo Hội cho Thánh Giuse bảo trợ.
admin
31-08-2006, 05:12 PM
31. GIÁO HỘI GIỚI THIỆU ĐỨC MARIA LÀ "NGƯỜI NỮ TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH"
(Osservatore Romano số 36 ngày 04/09/96-
Thứ Tư, 28/08/96)
Thật không có cơ sở khi nghĩ rằng ước muốn ở đồng trinh mà Đức Maria đã bày tỏ lúc Truyền Tin, về sau đã thay đổi.
1. Giáo hội luôn luôn tuyên xưng niềm tin vào sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria. Những văn bản xưa nhất, khi nói về sự thụ thai Chúa Giêsu, gọi cách đơn giản Đức Maria "đồng trinh" cho hiểu rằng phẩm tính này là một sự thật bền vững được kính trọng dọc suốt cuộc đời Người.
Những người kitô hữu ngày trước phát biểu niềm tin này bằng từ aeiparthenos - "đồng trinh trọn đời" - từ đó được tạo ra để diễn tả con người Đức Maria một cách độc đáo và có hiệu lực đồng thời để nói lên, gọn trong một từ, niềm tin của Giáo Hội vào sự đồng trinh vĩnh viễn của Người. Chúng ta gặp lại từ này trong Kinh Tin Kính thứ 2, do Thánh Epiphanô sáng tác năm 374, khi nói về mầu nhiệm Nhập Thể: Con Thiên Chúa "được nhập thể, nghĩa là Người được sinh hạ cách trọn vẹn bởi Đức Maria, người nữ trọn đời đồng trinh, nhờ Thánh Thần" (Ancoratus 119,5; DS 44).
Kiểu nói "trọn đời đồng trinh" được Công Đồng Constantinople thứ 2 lặp lại khi quả quyết: Ngôi Lời Thiên Chúa, "hoá thành nhục thể bởi Mẹ vinh hiển, thánh thiện của Thiên Chúa và Bà Maria trọn đời đồng trinh, và được sinh ra bởi Người" (DS 422). Giáo lý này được củng cố qua hai Công Đồng khác, Công Đồng Lateranô IV (1215) (DS 801) và Công Đồng Lyon II (1274) (DS 852) và do bản văn định tín tín điều Hồn Xác Lên Trời (1950) (DS 3903), theo đó sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria là một trong những lý do Người được đưa cả xác lẫn hồn về hưởng vinh quang trên trời.
Đức Maria đồng trinh trước, đang và sau khi sinh
2. Trong một công thức vắn tắt, Giáo Hội theo truyền thống, trình bày Đức Maria "đồng trinh trước, đang và sau khi sinh", quả quyết rằng qua ba giai đoạn ấy, Người không bao giờ mất đồng trinh.
Trong cả ba giai đoạn đó, xác nhận sự đồng trinh của Người "trước khi sinh" là điều quan trọng hơn cả, không nghi ngờ gì, bởi vì nó liên quan đến sự thụ thai Đức Giêsu và trực tiếp động chạm tới mầu nhiệm Nhập Thể. Ngay từ đầu Giáo Hội luôn tin như vậy.
Sự đồng trinh của Người "đang và sau khi sinh", cho dầu gồm trong tước hiệu đồng trinh đã quy cho Đức Maria từ những ngày đầu Giáo Hội, lại là đối tượng nghiên cứu sâu rộng về mặt học thuyết, vì nhiều vị đã công khai hồ nghi điểm này. Thánh Giáo Hoàng Hormisdas giải thích rằng "Con Thiên Chúa đã trở nên con người, sinh ra trong thời gian theo cách loài người, khai mở lòng dạ Mẹ Người để ra đời (x. Lc 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:23&FontSize=Txt10)) và nhờ quyền năng Thiên Chúa, không phá vỡ sự đồng trinh của Mẹ Người" (DS 368). Giáo 1ý này được Công Đồng Vatican II củng cố khi quả quyết rằng Người Con đầu lòng của Đức Maria "không làm giảm mà còn thánh hiến sự trinh khiết toàn vẹn của Người" (LG 57). Còn về sự đồng trinh của Người sau khi sinh, trước hết nên nói rõ rằng không có lý do nào để nghĩ rằng, ước muốn sống đồng trinh mà Đức Maria tỏ bày ngày Truyền Tin (x. Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1:34&FontSize=Txt10)) sau này đã được thay đổi. Hơn nữa, các từ ngữ "hỡi Bà, nầy là con Bà", "nầy là Mẹ con" (Ga 19,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 19:26&FontSize=Txt10)) mà Đức Giêsu đã nói với Mẹ và với người môn đệ yêu quý của mình từ Thánh Giá, bao gồm những ý nghĩa trực tiếp chỉ Đức Maria không có con nào khác.
Những kẻ chối bỏ sự đồng trinh của Người sau khi sinh, tưởng là họ có bằng chứng đáng tin cậy trong từ ngữ "con đầu lòng", quy cho Đức Giêsu trong Tin Mừng (Lc 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 2:7&FontSize=Txt10)), gần như từ ngữ này nói lên rằng Đức Maria có những người con khác sau Đức Giêsu. Nhưng từ ngữ "con đầu lòng", theo nghĩa đen có nghĩa là "một đứa con không có đứa nào trước nó" và tự nó không có ý nói tới sự hiện hữu của những đứa con khác. Hơn nữa Thánh Sử nhấn mạnh tới đặc điểm này của Con Trẻ, vì luật Do Thái có những ràng buộc liên quan đến sự sinh hạ của đứa con đầu lòng, bất chấp người mẹ có thể sinh ra những đứa khác nữa hay không. Như vậy, chỉ có tất cả con trai là lệ thuộc vào những luật lệ này vì nó "là con đầu lòng" (x. Lc 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 2:23&FontSize=Txt10)).
Nhiều cấp độ thân thuộc qua cách nói "anh em"
3. Theo nhiều người, Tin Mừng phủ nhận sự đồng trinh của Đức Maria sau khi sinh, vì Tin Mừng nhắc tới 4 người anh em của Chúa Giêsu: Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa (Mt 13,55-56; Mc 6,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 13:55-56 ; Mc 6:3&FontSize=Txt10)), và nhiều người chị em khác.
Nên nhớ rằng trong tiếng Do Thái và tiếng Aram không có từ riêng biệt để chỉ người "bà con họ hàng" và do đó, từ "anh em" và "chị em" có một nghĩa rộng hơn, chỉ nhiều cấp độ bà con. Thực tế, câu "anh em Đức Giêsu" chỉ những đứa con của một bà Maria môn đệ Chúa Kitô (x. Mt 27,56 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 27:56&FontSize=Txt10)), và được mô tả cách có ý nghĩa là "bà Maria khác" (Mt 28,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 28:1&FontSize=Txt10)). "Những người này là bà con gần với Chúa Giêsu, theo một kiểu nói trong Cựu Ước" (GLCG số 500).
Như vậy, Đức Maria Rất Thánh là "Đấng đồng trinh trọn đời". Đặc ân này là hệ quả của chức làm Mẹ Thiên Chúa của Người, một chức thánh hiến Người hoàn toàn cho sứ mạng cứu rỗi của Chúa Kitô.
admin
31-08-2006, 05:30 PM
32. ĐỨC MARIA LÀ GƯƠNG MẪU TUYỆT VỜI TRONG VIỆC PHỤC VỤ
(Osservatore Romano số 37 ngày 11/09/96-
Thứ Tư, 04/09/96)
Khi xưng mình là "tôi tớ Chúa", Đức Trinh Nữ Rất Thánh bày tỏ sự vâng phục hoàn toàn theo ý Chúa và thực hiện điều đó với tất cả nguồn lực cá nhân mình.
1. Những lời của Đức Maria trong ngày Truyền Tin: "Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền cho tôi" (Lc 1,30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:30&FontSize=Txt10)), chỉ rõ thái độ đặc trưng của lòng đạo Do Thái. Khởi đầu Kinh Thánh Cựu Ước, ông Môisen đáp lời gọi của Chúa, xưng mình là tôi tớ Người (x. Xh 4,10; 14,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Xh%204:10 ; 14:31&FontSize=Txt10)). Tới thời kỳ Tân Ước, Đức Maria cũng đáp lời Thiên Chúa với một hành vi phục tùng cách tự do và ý thức từ bỏ mình theo ý Chúa, tỏ ra mình hoàn toàn sẵn sàng làm "tôi tớ Chúa".
Trong Cựu Ước tước hiệu "tôi tớ" Chúa chỉ tất cả những ai được Chúa gọi thi hành một sứ mạng vì lợi ích cho dân tuyển chọn: Ông Abraham (St 26,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:24&FontSize=Txt10)), Isaac (St 24,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:14&FontSize=Txt10)), Giacóp (Xh 32,13; Ed 37,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Xh%2032:13 ; ;Ed 37:25&FontSize=Txt10)), Giôsuê (Gs 24,29 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gs%2024:29&FontSize=Txt10)) Đavít (2 Sm 7,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2 Sm%207:8&FontSize=Txt10), v.v...). Những ngôn sứ và thầy tư tế, được trao phó trách nhiệm huấn luyện dân chúng biết phục vụ trung thành Thiên Chúa, cũng được gọi là tôi tớ. Sách ngôn sứ Isaia, qua sự dễ bảo của "người tôi tớ đau khổ", biểu dương một gương mẫu sự trung thành với Chúa trong niềm hy vọng cứu chuộc cho tội lỗi nhiều người (x. Is 4,21-53 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2021:53&FontSize=Txt10)). Nhiều người nữ cũng nêu gương trung thành, như hoàng hậu Esther, trước khi can thiệp cứu thoát dân Do Thái, bà cầu nguyện với Chúa, nhiều lần tự xưng là "tôi tớ Ngài" (Et 4,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Et%204:17&FontSize=Txt10)).
Tiếng "Fiat" của Đức Maria biểu lộ sự vâng phục hoàn toàn
2. Đức Maria "đầy ơn phước", khi xưng mình là "tôi tớ Chúa", có ý dấn thân hoàn thành, cách cá tính và trọn hảo, nghĩa vụ mà Chúa chờ đợi nơi tất cả dân Người. Lời nói: "Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời", báo trước Đấng sẽ nói về mình: "Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống là giá chuộc muôn người" (Mc 10,45; x. Mt 20,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%2014:15 ; Mt 20:28&FontSize=Txt10)). Như vậy Chúa Thánh Thần mang đến một sự hài hoà những tâm tình mật thiết giữa Mẹ và Con, nhờ đó Đức Maria có khả năng gánh vác đầy đủ vai trò làm Mẹ đối với Đức Giêsu, khi đi theo Người trong sứ mạng của Người như một Tôi Tớ. Trong cuộc đời Đức Giêsu, ý muốn phục vụ là thường xuyên và đáng khâm phục: Với tư cách Con Chúa, Người có quyền đòi được phục vụ. Gán cho mình tước hiệu "Con Người", mà theo sách ngôn sứ Đanien, "mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ phải phục vụ" (Đn 7,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dn%207:14&FontSize=Txt10)), Người có thể đòi ưu thế trên kẻ khác. Ngược lại, khi đả phá não trạng đương đại, biểu lộ qua tham vọng của các môn đệ muốn ngồi vào chỗ nhất (x. Mc 9,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%209:34&FontSize=Txt10)) và qua lời phản đối của Phêrô khi rửa chân (x. Ga 13, 6), Đức Giêsu không muốn được phục vụ nhưng muốn phục vụ tới độ thí mạng sống mình hoàn toàn trong công trình cứu rỗi.
3. Hơn nữa, Đức Maria, tuy biết mình được ban cho chức quyền cao cả khi Thiên Thần truyền tin, vẫn tự nhiên xưng mình là "tôi tá Chúa". Với lời cam kết phục vụ này, Người cũng hàm ý phục vụ người chung quanh mình, theo như sự liên kết giữa hai tình tiết Truyền Tin và Thăm Viếng chứng tỏ:" Được Thiên Thần báo tin bà Elisabeth đang mang thai, Đức Matia "vội vã" ra đi (Lc 1,39 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:39&FontSize=Txt10)) đến xứ Giuđa saün sàng giúp đỡ người bà con chuẩn bị sinh nở. Như vậy, Đức Maria hiến cho người kitô hữu mọi thời đại tấm gương phục vụ tuyệt vời.
Lời nói: "Tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền cho tôi" (Lc 1,38 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:38&FontSize=Txt10)), chứng tỏ nơi người tự xưng là tôi tá Chúa, một sự tuân phục hoàn toàn theo ý Chúa. Lối mong mỏi genoito "xin cứ làm cho tôi" như Thánh Luca sử dụng, diễn tả không những sự chấp nhận, mà còn một sự kiên quyết đảm nhận chương trình của Chúa, như của mình để đặt vào đó tất cả tài lực mình.
Khi sống thuận theo ý Chúa, Đức Maria thực hiện trước thái độ của Chúa Kitô
4. Khi tuân theo ý Chúa, Đức Maria đã làm trước và làm như của mình thái độ của Chúa Kitô, Đấng tuyên bố khi đến thế gian này, theo thơ Thánh Phaolô gởi tín hữu Do thái: "Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Bây giờ con mới thưa. "Lạy Thiên Chúa này con đây" (Dt 10, 5-7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%2010:5-7&FontSize=Txt10); Tv 40[39], 7-9).
Sự vâng phục của Đức Maria cũng loan tin và báo trước sự vâng phục của Đức Giêsu trong cuộc đời công khai của Người cho đến núi Sọ. Chúa Kitô như muốn nói: "lương thực của Tôi là thi hành ý muốn Đấng đã sai Tôi, và hoàn tất công trình của Người" (Ga 4,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:34&FontSize=Txt10)). Theo cùng những đường hướng ấy, Đức Maria coi ý muốn của Chúa Cha là nguyên lý gây cảm hứng cho cuộc đời mình, tìm ở đó sức mạnh cần thiết để chu toàn sứ mạng giao phó cho mình.
Nếu khi nghe lời truyền tin, Đức Maria chưa hề biết sự hy sinh đánh dấu sứ mạng Đức Giêsu, thì lời tiên tri của ông Simêon sẽ cho Người cái nhìn thoáng qua về vận mạng đau thương Con của Người (x. Lc 3,34-35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%203:34-35&FontSize=Txt10)). Đức Trinh Nữ sẽ phối hợp với Con Mình qua sự chia sẻ sâu sắc. Vâng lời trọn vẹn theo ý Chúa, Đức Maria sẵn sàng sống tất cả những gì tình yêu Chúa có thể hoạch định cho đời sống của Người, ngay cả "lưỡi gươm" sẽ đâm thấu lòng Người.
admin
31-08-2006, 05:36 PM
33. ĐỨC MARIA, BÀ EVA MỚI, ĐÃ VÂNG LỜI CHÚA CÁCH TỰ DO
(Osservatore Romano số 39 ngày 25/09/96-
Thứ Tư, 18/09/96)
1. Bình luận về tình tiết biến cố Truyền Tin, Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh cách riêng đến giá trị sự ưng thuận của Đức Maria, đối với những lời vị sứ giả do Thiên Chúa sai đến. Không giống như điều đã xảy ra trong các trình thuật Kinh Thánh tương tự, Thiên Thần có ý chờ đợi sự ưng thuận đó: "Nhưng Chúa Cha rất nhân từ đã muốn sự ưng thuận của người Mẹ được tiền định trước khi Chúa Con nhập thể, để chỉ vì một người nữ đã dự phần đem đến sự chết, thì cũng phải một người nữ hợp tác mang lại sự sống" (LG 56).
Hiến chế Lumen Gentium nhắc tới điều tương phản giữa cách cư xử của bà Eva và của Đức Maria, được thánh Irênê diễn tả như sau: "Nếu kẻ trước kia - tức là bà Eva - bị những lời của một thiên thần dụ dỗ đến nỗi đã quay lưng lìa xa Chúa, vì không vâng lời Chúa, thì người sau này - tức Đức Maria - đã nhận lãnh Tin Mừng từ sự loan báo của một Thiên Thần, để rồi có thể sinh hạ Thiên Chúa bằng cách vâng nghe lời Người; và nếu như bà trước kia bị cám dỗ đến nỗi không tuân phục Chúa, thì bà sau này lại saün sàng chịu thuyết phục để vâng lời Chúa, như thế Đức Nữ Trinh Maria trở thành người bàu chữa trinh nữ Eva. Và vì nhân loại bị khuất phục sự chết do một nữ trinh, thì phải được giải phóng bởi một Trinh Nữ; sự bất phục tùng của một nữ trinh phải được bù lại bằng sự phục tùng của một Trinh Nữ." (Adv. Haer. V,19,1).
Đức Maria hợp tác qua đức tin và vâng lời cách tự do
2. Khi nói lời "xin vâng" trọn vẹn của mình đối với chương trình của Thiên Chúa, Đức Maria hoàn toàn tự do trước mặt Chúa. Đồng thời người cảm thấy mình có trách nhiệm cá nhân đối với nhân loại mà tương lai nối liền với câu đáp trả của mình.
Thiên Chúa đặt vận mạng toàn thể nhân loại trong tay một người thiếu nữ. Tiếng "xin vâng" của Đức Maria là tiền đề để hoàn thành chương trình mà Chúa vì yêu thương đã chuẩn bị cho phần rỗi thế giới.
Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo tóm lược cách vắn tắt và hiệu nghiệm, cái giá trị quyết định cho toàn nhân loại của sự ưng thuận tự do, mà Đức Maria bày tỏ theo chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. "Đức Trinh Nữ đã cộng tác vào việc cứu độ nhân loại, nhờ lòng tự do tin, và tự do vâng phục. Mẹ đã nói lên lời xin vâng nhân danh toàn nhân loại. Nhờ vâng phục, Mẹ đã trở thành Eva Mới, Mẹ chúng sinh" (GLCG số 511).
3. Qua cách cư xử của mình, Đức Maria nhắc mỗi người chúng ta có trách nhiệm nghiêm chỉnh đón nhận chương trình Thiên Chúa vì sự sống chúng ta. Do hoàn toàn vâng phục ý muốn cứu rỗi của Chúa biểu lộ trong lời Thiên Thần, Đức Maria trở nên gương mẫu cho những kẻ mà Chúa gọi là có phúc vì họ "nghe lời Chúa và giữ lấy" (Lc 11,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:28&FontSize=Txt10)). Khi trả lời người đàn bà trong đám đông cao rao Mẹ Người là có phúc, Đức Giêsu hé mở cho thấy lý do thật để Đức Maria được chúc phúc: sự gắn bó với ý muốn của Chúa đã hướng Người đến việc chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa.
Trong thông điệp Redemptoris Mater, Tôi đã chỉ rõ ràng chức làm Mẹ thiêng liêng mới mà Đức Giêsu đề cập tới trước hết liên can tới Đức Maria. Thật vậy, "không phải Đức Maria là người đầu tiên 'giữa những người nghe và thực hành Lời Chúa sao'? Do đó chẳng phải sự chúc lành mà Chúa Giêsu nhắc đến khi trả lời người đàn bà trong đám đông, trước hết hướng tới Đức Maria sao?" (số 20). Như vậy, cách nào đó Đức Maria đã được tuyên bố là người môn đệ thứ nhất của Con Mình (x. Sđd) và qua gương lành Người, Người kêu mời tất cả những kẻ tin đáp ứng quảng đại với ân sủng Chúa.
4. Công Đồng Vatican II giải thích sự tận hiến trọn vẹn của Đức Maria cho thân thế và cho sự nghiệp của Chúa Kitô: "Đức Maria đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp Con của Người và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con của Người" (LG 56).
Đối với Đức Maria tận hiến cho thân thế và sự nghiệp của Chúa Kitô có nghĩa là kết hợp mật thiết với Con mình, dấn thân làm Mẹ nuôi dưỡng Con lớn mạnh về mặt nhân loại và hợp tác với sự nghiệp cứu chuộc của Người.
Đức Maria trở thành nguyên nhân cứu rỗi cho toàn thể nhân loại.
Đức Maria thực hiện khía cạnh sau cùng về sự tận hiến mình cho Chúa Giêsu "dưới quyền Người" có nghĩa là, trong điều kiện vâng phục, là hoa trái của ân sủng. Dầu vậy đó là sự hợp tác chân thật vì nó được thực hiện "với Người" và, khởi đầu trong ngày Truyền Tin, nó bao gồm sự tham gia tích cực trong công trình cứu rỗi. Công Đồng Vatican II nhận xét: "Do đó, rất đúng khi các thánh Giáo phụ thấy không phải Thiên Chúa thu dụng Đức Maria cách thụ động, nhưng đã để người tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Người. Thực vậy, Thánh Irênê nói: ?Chính nhờ vâng phục, Người đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại" (Adv Haer 111,22,4 Sđd).
Liên kết với chiến thắng của Chúa Kitô trên tội lỗi tổ tiên chúng ta, Đức Maria xuất hiện như người "mẹ thật của chúng sinh" thiên chức làm mẹ của Người được tự do chấp nhận vì vâng phục chương trình của Thiên Chúa, trở nên nguồn sống cho toàn nhân loại.
admin
02-09-2006, 07:51 PM
34. SỰ THĂM VIẾNG MỞ ĐẦU CHO SỨ MẠNG CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 41 ngày 09/10/1996-
Thứ Tư, 02/10/96)
Cũng như bà Elisabeth, Giáo Hội vui mừng vì Đức Maria là Mẹ Chúa đã đưa sinh Con mình vào thế gian và kiên trì cộng tác trong sứ mạng cứu rỗi của Người.
1. Trong tình tiết Viếng Thăm, Thánh Luca chỉ cho thấy ân sủng Nhập Thể, sau khi tràn đầy lòng Đức Maria, mang ơn cứu rỗi và niềm vui tới nhà bà Elisabeth. Đấng cứu chuộc loài người, được cưu mang trong lòng mẹ mình, đổ tràn Chúa Thánh Thần, mặc khải chính mình ngay từ lúc khởi đầu đến trong thế gian.
Khi miêu tả cuộc ra đi của Đức Maria đến Xứ Giuđêa Thánh Sử dùng từ "anistemi", nghĩa là "chỗi dậy", "khởi sự di động". Khi xem xét từ này được dùng trong Tin Mừng để chỉ sự Chúa Giêsu Phục Sinh (Mt 8,31; 9,9.31; Lc 24,7.46 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 8:31 ; 9:9.31 ; Lc%2024:7,46&FontSize=Txt10)), hay là chỉ những hành động thể lý ngụ ý một cố gắng thiêng liêng (Lc 5, 27-28; 15,18.20), chúng ta có thể giả định rằng thánh Luca muốn dùng kiểu nói này để nhấn mạnh lòng sốt sắng mãnh liệt thúc đẩy Đức Maria, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, đem Đấng Cứu Độ đến cho thế giới.
Cuộc gặp gỡ với bà Elisabeth là một biến cố cứu độ vui mừng
2. Bản văn Tin Mừng cũng thuật lại rằng Đức Maria làm cuộc hành trình "hối hả" (Lc 1,39). Hơn nữa, lời ghi chú "đến miền núi" trong bản văn Luca xem ra nói lên cái gì hơn là một sự miêu tả địa hình đơn giản, bởi vì nó nhắc tới người sứ giả Tin Mừng được diễn tả trong sách Ngôn sứ Isaia: "đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: "Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị" (Is 52,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2052:7&FontSize=Txt10)).
Cũng như Thánh Phaolô, nhìn nhận lời ngôn sứ này được hoàn thành trong việc rao giảng Tin Mừng (Rm 10, 15), Thánh Luca xem ra cũng mời gọi chúng ta nhận Đức Maria là người "chép Tin Mừng đầu tiên", quảng bá "Tin Mừng", khai mở những cuộc hành trình tuyền giáo của Người Con Thiên Chúa của Bà.
Sau cùng, phương hướng cuộc hành trình của Đức Trinh Nữ Rất Thánh đặc biệt rất có ý nghĩa: vì bắt đầu từ Galilê xuống Giuđêa, giống như cuộc hành trình truyền giáo của Chúa Giêsu (x. 9, 51).
Cuộc thăm viếng bà Elisabeth của Đức Maria hẳn thật là màn mở đầu cho sứ mạng Chúa Giêsu, và ngay từ lúc khởi sự làm Mẹ, Người đã hợp tác với công trình cứu chuộc của Con, nên Người trở thành kiểu mẫu cho thành phần Giáo Hội nào trên đường mang ánh sáng Chúa Kitô và niềm vui cho mọi thời đại và mọi nơi chốn.
3. Cuộc gặp gỡ với bà Elisabeth mang tính cách một biến cố cứu rỗi đầy vui mừng, vượt xa cảm giác tự nhiên thuộc tình cảm gia đình. Nơi mà sự lúng túng của lòng kém tin, xem ra hiển hiện trong sự câm nín của ông Dacaria, thì Đức Maria bừng lên với niềm vui của một đức tin mau mắn và saün sàng: "Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Elisabeth" (Lc 1, 40).
Thánh Luca kể lại rằng: "Bà Elisabeth vừa nghe tiếng bà Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên" (Lc 1, 41). Lời chào của Đức Maria làm cho đứa con bà Elisabeth nhảy mừng: Chúa Giêsu vào nhà bà Elisabeth, ngay khi Đức Maria bước vào, đã mang lại cho vị ngôn sứ chưa ra đời niềm vui mà Cựu Ước nói trước như là một dấu chỉ sự hiện diện của Đấng Messia.
Khi Đức Maria chào mừng, niềm vui cứu thế đến với bà Elisabeth và "bà được tràn đầy Chúa Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và Người Con em đang cưu mang cũng được chúc phúc" (Lc 1, 41-42).
Nhờ soi sáng bởi trên, bà hiểu rõ sự cao trọng của Đức Maria: còn hơn bà Giaen và Giuđích, hình ảnh của Người trong Cựu Ước, Đức Maria được chúc phúc giữa mọi người nữ là nhờ hoa quả của lòng Người, Đức Giêsu Đấng Cứu Thế.
4. Bà Elisabeth kêu lên "với tiếng to", cho thấy một sự nhiệt tình thật sự còn tiếp tục dội lại trên môi các tín hữu trong kinh "Kính Mừng" như bài ca ngợi khen của Giáo Hội, cao rao những việc làm trọng đại Đấng Tối Cao đã thực hiện nơi Người Mẹ của Con Mình.
Khi tuyên bố Đức Maria "được chúc phúc giữa các người phụ nữ", bà Elisabeth chỉ cho thấy đức tin của Đức Maria là lý do của sự chúc phúc đó: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người nói với em" (Lc 1, 45). Sự cao cả và niềm vui của Đức Maria nẩy ra từ sự kiện người là một kẻ tin.
Vì nhận rõ sự cao trọng của Đức Maria, bà Elisabeth cũng hiểu sự viếng thăm của Người là một vinh dự cho mình: "bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này" (Lc 1, 43). Với kiểu nói "Chúa tôi", bà Elisabeth nhìn nhận giá trị hoàng tộc, đúng hơn, giá trị cứu thế của Người Con của Đức Maria. Trong Cựu Ước kiểu nói này thật sự dùng để xưng hô với nhà vua (x. 1 V 1, 13 ,20, 21 vv.) và để nói về Vị Vua Cứu Thế (Tv 110, 1). Thiên Thần đã nói về Chúa Giêsu: "Đức Chúa là Thiên Chúa, sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít tổ tiên Người" (Lc 1, 32). Bà Elisabeth đầy tràn "Chúa Thánh Thần", cũng có một cái nhìn như vậy. Về sau, sự vinh quang Phục Sinh của Chúa Giêsu sẽ mặc khải ý nghĩa của tước hiệu này, tức là ý nghĩa siêu việt (x. Ga 20, 28; Cv 2, 34-36).
Đức Maria hiện diện trong toàn bộ công trình cứu chuộc của Thiên Chúa
Nói lên lời đầy kinh ngạc, bà Elisabeth kêu mời chúng ta đánh giá cao tất cả những gì mà sự hiện diện của Đức Trinh Nữ mang đến, như một ân huệ cho đời sống của mỗi tín hữu.
Trong ngày Thăm Viếng, Đức Trinh Nữ mang Chúa Kitô đến với mẹ ông Gioan tẩy giả, Chúa Kitô Đấng đổ tràn Chúa Thánh Thần. Vai trò trung gian này được diễn tả qua chính những lời nói của bà Elisabeth: "Vì này đây tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng" (Lc 1, 44). Nhờ ân huệ Chúa Thánh Thần sự hiện diện của Đức Maria coi như mở màn cho lễ Hiện Xuống, khẳng định một sự hợp tác, khởi đầu với mầu nhiệm Nhập Thể, được dự trù biểu hiện rõ trong toàn công trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
admin
03-09-2006, 04:26 PM
35. ĐỨC MARIA HÁT CA NGỢI LÒNG NHÂN TỪ CỦA CHÚA
(Osservatore Romano số 46 ngày 13/11/1996-
Thứ Tư, 06/11/96)
Trong bài ca "Magnificat", Đức Trinh Nữ Rất Thánh cao rao sự cao trọng của Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi Người, một tớ nữ khiêm tốn, làm Mẹ Người Con Nhập Thể của Chúa.
1. Cảm hứng từ truyền thống Cựu Ước, Đức Maria hát bài Magnificat ca ngợi những kỳ công Chúa thực hiện nơi Người. Bài ca này là đáp từ của Đức Trinh Nữ trước mầu nhiệm Truyền Tin: Thiên Thần đã mời Người vui mừng và lúc đó Maria nói lên nỗi hoan hỷ của lòng trí trong Đấng cứu độ Người. Niềm vui của Người phát sinh từ kinh nghiệm cá nhân được Chúa đoái nhìn cách thân ái đến mình, một tạo vật nghèo nàn không có ảnh hưởng lịch sử.
"Magnificat" là từ Latinh dịch từ một từ Hy Lạp, cũng đồng nghĩa, hát mừng sự cao trọng của Thiên Chúa, Đấng mặc khải quyền năng vô cùng của Người qua sứ điệp Thiên Thần, quyền phép ấy vượt quá những chờ đợi và mơ ước của dân Giao Ước và cũng vượt quá những nguyện vọng của dân Cựu Ước cho tới những khát vọng cao đẹp nhất của linh hồn con người.
Đấng quyền năng đã làm cho tôi những sự trọng đại
Đứng trước Đức Chúa đầy quyền năng và nhân ái, Đức Maria thú nhận cảm giác thấp hèn của mình: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi, phận nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới" (Lc 1,47-48). Từ Hy Lạp "Tapeinosis" có lẽ mượn từ bài ca của bà Anna mẹ ông Samuen, từ ấy kêu gọi chú ý tới sự "hèn mọn" và "khốn cực" của người đàn bà son sẻ (x. 1 Sm 1,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Sm%201:11&FontSize=Txt10)) giải bày đau khổ của mình với Thiên Chúa. Bằng một cách nói tương tự, Đức Maria giải bày hoàn cảnh nghèo nàn của mình và ý thức sự bé nhỏ mình trước Thiên Chúa, Đấng do quyết định tự do đã nhìn đến Người, một cô gái hèn mọn từ Nadaret và kêu gọi Người trở nên Mẹ Đấng Messia.
2. Câu nói: "từ nay mọi thế hệ sẽ khen tôi có phước" (Lc 1,48) xuất phát từ việc bà Elisabeth là người đầu tiên gọi Đức Maria là "diễm phúc" (Lc 1,45). Không phải là không táo bạo, bài ca báo trước rằng chính sự cao rao này sẽ được trải rộng và không ngừng gia tăng. Cùng lúc, bài ca chứng thực rằng Mẹ Đức Giêsu được tôn kính đặc biệt trong cộng đồng kitô hữu ngay từ thế kỷ đầu. Kinh Magnificat là hoa quả thứ nhất của mọi hình thức sùng kính, chuyển từ thế hệ này qua thế hệ khác, để Giáo Hội diễn tả lòng yêu mến mình đối với Đức Trinh Nữ Nadaret.
3. "Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn! Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người" (Lc 1,49-50).
"Những điều cao cả" Đấng Toàn Năng đã làm nơi Đức Maria là những điều gì? Cách nói rút từ Cựu Ước để chỉ sự giải phóng của dân Ít-ra-en khỏi nô lệ Ai Cập hay Babilon. Trong kinh Magnificat kiểu nói đó chỉ biến cố mầu nhiệm trinh thai của Đức Giêsu, xảy ra tại Nadaret sau khi Thiên Thần báo tin.
Trong kinh Magnificat, một bài kinh thực sự có tính thần học vì nó mặc khải kinh nghiệm Đức Maria về sự kiện Chúa đoái nhìn đến mình. Chúa không những là Đấng quyền năng có thể làm mọi sự như Thiên Thần Gabrien đã tuyên bố (Lc 1, 37), nhưng Chúa còn là Đấng từ bi, có lòng từ ái và tín trung với nhân loại.
4. "Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng". (Lc 1,51-53).
Nhờ đọc biết lịch sử, Đức Maria hướng dẫn chúng ta khám phá những tiêu chuẩn hành động nhiệm mầu của Chúa. Lật ngược những phán đoán của thế gian, Người đến giúp những người nghèo và thấp bé, bỏ rơi những người giàu có và quyền thế và bằng cách lạ lùng Người ban tràn trề của cải cho những người khiêm nhượng phó thác mạng sống mình cho Người (x. Redemptoris Mater số 37).
Những lời trong bài ca này chỉ cho chúng ta thấy Đức Maria là một mẫu gương cụ thể và cao vời, cũng cho chúng ta hiểu chính sự khiêm nhượng trong lòng mới lôi kéo được lòng nhân ái của Chúa.
Thiên Chúa thực hiện những lời hứa của Người nơi Đức Maria với sự quảng đại dồi dào
5. Sau cùng, bài Kinh này tán tụng việc hoàn thành lời hứa và sự trung tín của Chúa đối với dân ưu tuyển: "Chúa độ trì Ít-ra-en tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Apraham và cho con cháu đến muôn đời" (Lc 1,54-55).
Dầu được tràn đầy hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria không hạn chế cái nhìn vào bản thân mình mà thôi, nhưng Người còn thấy những hồng ân đó chứng tỏ lòng từ bi Chúa đối với toàn dân mình. Nơi Đức Maria, Thiên Chúa hoàn thành những lời hứa của Người với sự trung tín và quảng đại tràn trề.
Được linh hứng bởi Cựu Ước và linh đạo của nữ tử Sion, kinh Magnificat, vượt trỗi hơn những bản văn tiên tri nền tảng của nó, đã mặc khải khởi điểm sự can thiệp của Chúa nơi Người: "kẻ đầy ân sủng", một sự can thiệp vượt qua những hy vọng cứu thế của dân Ít-ra-en: Đó là mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời.
admin
04-09-2006, 02:43 PM
36. GIÁNG SINH CHO THẤY ĐỨC MARIA Ở GẦN CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 48 ngày 27/11/1996-
Thứ Tư, 20/11/96)
Miêu tả của Thánh Luca về việc Đức Kitô giáng sinh, mời gọi chúng ta lưu ý rằng trong mọi thời đại những ai muốn gặp Chúa Giêsu phải tìm gặp Người cùng với Mẹ Người.
1. Trong trình thuật Chúa Giêsu giáng sinh, Thánh Luca kể lại những sự kiện giúp chúng ta hiểu nhiều hơn ý nghĩa của biến cố này.
Trước hết Thánh Nhân nhắc lại sự kiểm tra dân số do hoàng đế César Augustô, bắt buộc ông Giuse "là người thuộc về nhà và gia tộc vua Đavít" và bà Maria vợ ông "đến thành vua Đavit gọi là Bêlem" (Lc 2,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:4&FontSize=Txt10)).
Khi thông tin cho chúng ta về bối cảnh cuộc hành trình và giáng sinh, Thánh Sử giới thiệu cho chúng ta một hoàn cảnh khó khăn và nghèo nàn, để chúng ta có được cái nhìn về những điểm nền tảng của vương quốc cứu thế: một vương quốc không có những vinh dự hay quyền lực trần gian, của Đấng trong đời sống công khai đã nói về mình: "Con Người không có chỗ gối đầu" (Lc 9,58 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%209:58&FontSize=Txt10)).
2. Tường thuật thánh Luca chứa đựng một vài điểm xem ra không quan trọng, nhưng khơi dậy trong độc giả một sự hiểu biết hơn về mầu nhiệm giáng sinh và về những tâm tình của người Mẹ sinh ra Con Chúa.
Tường thuật giáng sinh cách đơn sơ cho thấy Đức Maria nhiệt tình tham gia vào cái gì đang xảy ra nơi Người: "Bà sinh con trai đầu lòng lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ" (Lc 2,7). Hành động của Đức Trinh Nữ là kết quả do lòng Người ước muốn trọn vẹn hợp tác trong chương trình của Chúa, đã được thấy rõ nơi Người lúc Truyền Tin: "Xin vâng như lời Thiên Thần truyền cho tôi" (Lc 1,38).
Đức Maria thông phần sứ mạng của Con
Đức Maria trải qua việc sinh con trong một hoàn cảnh nghèo nàn tột độ: Người không thể cho Con Chúa cả những thứ các bà mẹ thường dành cho đứa con mới sinh; mà Người đành phải đặt Con nằm trong "máng cỏ", một cái nôi "dã chiến" ngược với địa vị Người "Con Đấng Tối Cao".
3. Tin Mừng ghi nhận "không có chỗ cho ông bà trong quán trọ" (Lc 2,7). Câu này nhắc lại đoạn văn mở đầu Tin Mừng Thánh Gioan: "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà không chịu đón nhận" (Ga 1,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%201:11&FontSize=Txt10)) dường như báo trước nhiều sự từ khước mà Chúa Giêsu sẽ gặp phải trong đời sống trần thế Người. Cụm từ "cho ông bà" nối kết người Con vào người Mẹ trong sự tẩy chay này, và cho thấy Đức Maria đã được liên kết với thân phận đau khổ của Con mình và chia sẻ sứ mạng đau khổ của Người.
Bị "người nhà" tẩy chay, nhưng Chúa Giêsu lại được đón chào bởi các mục tử những con người quê mùa không có tiếng tăm nhưng lại được Chúa chọn làm những người đầu tiên nhận lãnh Tin Mừng Chúa Cứu Thế giáng sinh. Sứ điệp Thiên Thần gởi đến cho các mục tử là một lời mời gọi phải vui mừng: "Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân" (Lc 2,10), kèm theo một sự dặn dò phải lướt thắng mọi sự sợ hãi "anh em đừng sợ".
Thật vậy, cũng như đối với Đức Maria lúc Truyền Tin, thì đối với họ Tin Mừng Chúa giáng sinh là một dấu chỉ lớn về thiện ý của Chúa với nhân loại. Nơi Chúa Cứu Thế, được chiêm ngắm trong cảnh nghèo nàn của hang đá Bêlem, chúng ta có thể thấy một lời mời tin tưởng đến gần Đấng là niềm hy vọng của nhân loại.
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" cũng có thể dịch là "người thiện tâm" (Lc 2,14). Lời hát của Thiên Thần này dạy các mục tử biết những gì Đức Maria phát biểu trong kinh Magnificat. Việc Chúa Giêsu giáng sinh là dấu chỉ lòng thương yêu của Chúa đặc biệt với những kẻ nghèo khó và khiêm tốn.
4. Các mục tử phấn khởi và mau chóng đáp lại lời mời của Thiên Thần: "Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc xảy ra như Chúa đã cho ta biết" (Lc 2,15).
Họ không uổng công tìm kiếm: "và họ . gặp Đức Maria, ông Giuse và Con Trẻ" (Lc 2,16). Như Công Đồng nhắc lại "Mẹ Thiên Chúa vui vẻ giới thiệu Con đầu lòng của mình" cho họ (LG 57). Đó là lúc quyết định đời sống của họ.
Đức Maria ngẫm suy những biến cố ấy trong lòng mình
Các mục tử tự nguyện ước muốn cho mọi người biết "những gì đã nói cho mình về Con Trẻ" (Lc 2,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:17&FontSize=Txt10)), sau khi đã gặp được Người Mẹ và Con Bà. Sự ước muốn đó gợi ý cho những nhà rao giảng Tin Mừng trong các thời đại rõ tầm quan trọng và, còn hơn thế nữa, sự cần thiết có được sự liên hệ sâu xa thiêng liêng với Đức Maria, để biết Chúa Giêsu rõ hơn và để trở thành những kẻ hân hoan rao giảng Tin Mừng cứu rỗi.
Đối với những biến cố lạ lùng này, Thánh Luca nói cho chúng ta rằng Đức Maria: "ghi nhớ những sự việc ấy và suy niệm trong lòng" (Lc 2,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:19&FontSize=Txt10)). Đang khi những mục tử đi từ sợ hãi đến ngạc nhiên và ca ngợi, thì Đức Trinh Nữ, nhờ lòng tin, đã ghi nhớ những biến cố liên quan đến Con Mình, và đào sâu sự hiểu biết của mình bằng cách suy niệm chúng trong lòng nghĩa là tận cõi thâm sâu của mình. Như vậy, Đức Trinh Nữ gợi ý rằng một bà mẹ khác là Giáo Hội, cũng phải nuôi dưỡng hồng ân và nhiệm vụ chiêm niệm cùng với suy tư thần học để đón nhận tốt hơn mầu nhiệm cứu độ, để hiểu mầu nhiệm đó sâu sắc hơn và để công bố mầu nhiệm đó với một nỗ lực luôn mới mẽ cho dân chúng mọi thời đại.
admin
04-09-2006, 02:48 PM
37. GIÁO HỘI TUYÊN XƯNG ĐỨC MARIA LÀ "MẸ THIÊN CHÚA"
(Osservatore Romano số 49 ngày 04/12/1996-
Thứ Tư, 27/11/96)
Công Đồng Ephêsô dạy rằng Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa, vì Người sinh ra Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi, làm người vì chúng ta.
1. Chiêm niệm mầu nhiệm giáng sinh của Đấng Cứu Thế đưa người kitô hữu không những tới chỗ kêu cầu Đức Trinh Nữ Rất thánh là Mẹ Chúa Giêsu, mà còn nhìn nhận Người là Mẹ của Con Thiên Chúa. Chân lý này được xác lập và thấu hiểu như là thuộc về gia tài đức tin của Giáo Hội từ những thế kỷ đầu kỷ nguyên Kitô giáo, cho tới khi nó được Công Đồng Ephêsô long trọng tuyên bố năm 431.
Nơi cộng đoàn kitô hữu đầu tiên, vì các môn đệ ý thức hơn Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, thì rõ ràng hơn bao giờ hết Đức Maria là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa. Đây là một tước hiệu tuy không xuất hiện rõ trong các bản văn Tin Mừng, nhưng trong các văn bản ấy có nhắc tới "Mẹ Đức Giêsu" và quả quyết rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa (Ga 20,28; x. 5,18; 10,30.33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2020:28 ; 5:18 ; 10:30,33&FontSize=Txt10)). Cách nào đó Đức Maria cũng được trình bày như là Mẹ của Đấng Emmanuen, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (x. Mt 1,22-23).
Vào thế kỷ thứ ba, như có thể suy diễn từ chứng từ viết xưa người kitô hữu đất Aicập đã dâng lên Đức Maria lời cầu nguyện này: "Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê, chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ đồng trinh hiển vinh sáng láng" (trích từ Phụng Vụ Giờ Kinh). Kiểu nói Theotókos xuất hiện rõ nét lần đầu tiên trong chứng từ xưa nay.
Trong thần thoại dân ngoại, thường thấy một bà chúa nào đó được trình bày như mẹ một vị thần. Ví dụ: vị thần tối cao, thần Zeus, có bà mẹ tên là nữ chúa Rheda, có thể ngữ cảnh này đã giúp người kitô hữu biết dùng tước hiệu "Theotókos", "Mẹ Thiên Chúa" để gọi Mẹ Đức Giêsu. Nhưng phải lưu ý rằng tước hiệu này, trước đó không có xuất hiện, nhưng do những người kitô hữu đặt ra để diễn tả niềm tin, niềm tin vào Đức Maria đã đồng trinh cưu mang Đấng đã luôn luôn là Ngôi Lời Vĩnh Cửu của Thiên Chúa.
Công Đồng Ephêsô đã tuyên bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa
2. Qua thế kỷ thứ 4, từ Theotókos thường xuyên được sử dụng ở phương Đông lẫn phương Tây. Sự sùng kính và khoa thần học ngày càng quy chiếu về từ này, một từ đã trở nên phần gia sản đức tin của Giáo Hội.
Nên người ta có thể hiểu phong trào phản đối mạnh nổi lên vào thế kỷ thứ 5 khi Nestorio hồ nghi về sự chính xác của tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa" này. Thực ra, vì ông ta chủ trương Đức Maria chỉ là mẹ của con người Giêsu, nên ông ta bảo vệ ý kiến cho rằng "Mẹ Đức Kitô" mới là kiểu diễn tả đúng theo đạo lý. Nestorio bị lôi cuốn vào lầm lạc đó vì ông khó chấp nhận duy nhất tính của thân thế Chúa Kitô và bởi ông giải thích sai lạc về sự phân biệt giữa hai bản tính - thần tính và nhân tính - hiện hữu nơi Người.
Năm 431, Công Đồng Ephêsô lên án luận điểm này của ông và quả quyết sự tồn tại của thần tính và nhân tính trong một ngôi vị Chúa Con. Công Đồng đã tuyên bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.
3. Ngày nay, những thắc mắc và phản đối do Nestoriô nêu lên cho chúng ta cơ hội có nhiều suy nghĩ hữu ích để hiểu đúng và giải thích đúng tước hiệu này. Kiểu nói Theotókos, theo nghĩa đen có nghĩa là "một bà đã sinh ra Thiên Chúa", thoạt nhìn xem ra kỳ lạ; vì nó đưa ra vấn nạn vì sao một tạo vật nhân loại lại có thể sinh ra Thiên Chúa. Lời giải đáp theo đức tin Giáo Hội thật rõ: Chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria chỉ quy hướng về việc sinh ra bản tính loài người cho Con Thiên Chúa, chớ không phải sinh ra thần tính. Con Thiên Chúa tự đời đời đã được Thiên Chúa Cha sinh ra và đồng bản tính với Chúa Cha. Dĩ nhiên Đức Maria không có phần trong việc sinh ra tự đời đời này. Dù vậy, Con Thiên Chúa đã mặc lấy tính loài người cách đây 2000 năm và đã được thụ thai và sinh bởi Đức Maria.
Khi tuyên xưng Đức Maria là "Mẹ Thiên Chúa", Giáo Hội có ý khẳng định rằng Người là "Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng là Thiên Chúa". Như vậy chức làm Mẹ của Người không vươn tới toàn thể Ba Ngôi, nhưng chỉ tới Ngôi Hai mà thôi, là chúa Con khi nhập thể đã mà mặc lấy bản tính loài người nhờ Người.
Chức làm mẹ là mối tương quan người với người: Một bà mẹ không những làm mẹ của thân xác hay của một tạo vật thể lý sinh bởi lòng bà, nhưng làm mẹ con người bà sinh ra. Như thế, vì sinh ra, theo bản tính loài người, con người Giêsu, Đấng có ngôi vị Chúa, nên Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Sự ưng thuận của Đức Trinh Nữ Rất Thánh đi trước mầu nhiệm nhập thể
4. Khi công bố Đức Maria là "Mẹ Thiên Chúa", bằng một câu vắn tắt Giáo Hội tuyên xưng niềm tin của mình đối với Người Con và cả Người Mẹ. Người ta đã thấy sự thống nhất này tại Công Đồng Ephêsô; khi định nghĩa chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, các Nghị Phụ có ý nhấn mạnh niềm tin của mình vào bản tính Thiên Chúa của Đức Kitô. Dù có những phản đối xưa nay về tính thích đáng khi nhìn nhận Đức Maria bằng tước hiệu này, các kitô hữu mọi thời đại, nhờ giải thích đúng ý nghĩa chức làm Mẹ này, đã lấy chức làm Mẹ đó diễn tả đặc biệt về niềm tin của mình vào thiên tính của Đức Kitô và diễn tả lòng yêu mến của mình đối với Đức Trinh Nữ Rất Thánh.
Một đàng, Giáo Hội nhìn nhận Theotókos là một bảo đảm cho thực tại mầu nhiệm Nhập Thể vì, - như thánh Augustino nói - "nếu như Bà Mẹ là giả tưởng, xác thịt cũng là giả tưởng. và những vết sẹo của sự Phục Sinh" (Tract. In Ev. Joannis 8, 6-7). Đàng khác, Giáo Hội cũng khâm phục ngắm nhìn và sùng kính sự cao cả vĩ đại Đức Mẹ có được do Đấng muốn làm Con Bà. Kiểu nói "Mẹ Thiên Chúa" quy hướng về Ngôi Lời, Đấng trong mầu nhiệm Nhập Thể đã mặc lấy sự thấp hèn của bản tính con người ngõ hầu nâng con người lên hàng con cái Thiên Chúa. Nhưng trong ánh sáng của địa vị cao sang ban cho Đức Nữ Thánh Nadaret, tước hiệu này cũng cao rao tính cao quý của người phụ nữ và ơn gọi rất cao trọng của họ. Thật sự, Thiên Chúa đối xử với Đức Maria như một nhân vật tự do, có trách nhiệm và không thực hiện sự Nhập Thể của Con Mình cho tới lúc nhận được sự đồng thuận của Người.
Noi theo gương của các kitô hữu Aicập xưa, người kitô hữu hãy phó thác mình cho Đức Maria, vì Người là Mẹ Thiên Chúa, có thể cầu xin Người Con Thiên Chúa của mình ban ơn cứu thoát khỏi sự dữ và ơn cứu rỗi đời đời.
admin
04-09-2006, 02:54 PM
38. ĐỨC TRINH NỮ RẤT THÁNH LÀ MẪU GƯƠNG TÌNH YÊU TRỌN HẢO
(Osservatore Romano số 50 ngày 11/12/1996-
Thứ Tư, 04/12/96)
Đức Maria và Thánh Giuse nuôi dưỡng con mình và giúp người con ấy lớn lên tới tuổi trưởng thành, khai tâm học đạo Do Thái và chuẩn bị Người thi hành sứ mạng.
1. Mặc dầu xảy ra bởi phép Chúa Thánh Thần và bởi một người mẹ đồng trinh, sự sinh ra của Chúa Giêsu cũng như của mọi người phải qua những giai đoạn thụ thai, mang thai và sinh nở. Hơn nữa, chức làm mẹ của Đức Maria không hạn chế trong quá trình sinh con theo thể lý, nhưng cũng như các bà mẹ khác, Đức Maria đã góp phần căn bản trong việc nuôi lớn và phát triển Con Mình.
Người mẹ không chỉ là một người đàn bà sinh con mà thôi, nhưng còn nuôi dưỡng con và giáo dục con. Thật vậy, chúng ta có thể nói chính xác rằng, theo chương trình của Thiên Chúa, nhiệm vụ giáo dục là sự nối dài tự nhiên của sự sinh sản.
Đức Maria là Theotókos không những vì đã thụ thai và sinh con Thiên Chúa, mà còn vì đã cùng đi kèm với Con Mình trong sự phát triển của Người về mặt nhân bản.
Đức Maria đặc biệt thích hợp làm thầy dạy
2. Chúng ta có thể nghĩ rằng, Chúa Giêsu tự mình có trọn vẹn thần tính nên không cần đến thầy dạy. Nhưng mầu nhiệm Nhập Thể mặc khải cho chúng ta rằng Con Thiên Chúa đã đến trong thế gian với thân phận con người, giống chúng ta trong mọi sự chỉ trừ tội lỗi (x. Dt 4,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%204:15&FontSize=Txt10)). Cũng như tất cả những người khác, từ bé tới tuổi trưởng thành, sự lớn lên của Đức Giêsu cần hoạt động giáo dục của cha mẹ (x. Lc 2,40 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:40&FontSize=Txt10)).
Tin Mừng Thánh Luca đặc biệt để ý tới thời thơ ấu, nói rằng tại Nadaret Đức Giêsu vâng lời Thánh Giuse và Đức Maria (x. 2,51 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:51&FontSize=Txt10)). Sự tùy thuộc này cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu tiếp thu cởi mở theo sự dạy dỗ của Mẹ Người và Thánh Giuse. Hai người đã hoàn thành nhiệm vụ của mình nhờ sự dễ bảo của Người.
3. Những đặc ân Thiên Chúa đổ tràn xuống trên Đức Maria, làm Bà xứng đáng đặc biệt với nhiệm vụ làm Mẹ và làm Thầy. Trong những hoàn cảnh cụ thể đời sống hàng ngày. Đức Giêsu có thể tìm thấy nơi Mẹ một gương mẫu để bắt chước, và một mẫu mực tình yêu trọn hảo đối với Thiên Chúa và với anh em mình.
Đồng thời với sự hiện diện của Mẹ Maria, Đức Giêsu có thể trông cậy vào gương mặt người cha của Thánh Giuse, một người công chính (x. Mt 1,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%201:19&FontSize=Txt10)), người giữ cán cân thăng bằng trong hoạt động giáo dục. Bằng cách thực hiện vai trò người cha, Thánh Giuse đã hợp tác với vợ mình biến nhà Nadaret thành một môi trường thuận lợi cho sự phát triển và chín mùi nhân cách của Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Sau này khi tập con làm nghề thợ mộc, một nghề cực nhọc, Thánh Giuse cho Chúa Giêsu khả năng dấn thân vào thế giới lao động và đời sống xã hội.
4. Một ít yếu tố Tin Mừng nêu ra không cho phép chúng ta biết và đánh giá đầy đủ những cách thế mà Đức Maria dạy Người Con Thần Thánh của mình. Chắc chắn Đức Maria cùng với Thánh Giuse dạy Đức Giêsu học biết những nghi lễ và những luật lệ Môisen, biết cầu nguyện với Thiên Chúa Giao ước bằng cách dùng những bài Thánh vịnh, học biết lịch sử dân Ít-ra-en tập trung vào cuộc xuất hành khỏi Aicập. Qua Đức Maria và Thánh Giuse Chúa Giêsu đã học đến tham dự tại hội đường và đi hành hương mỗi năm về Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua.
Nhìn vào các kết quả, chúng ta có thể kết luận rằng sự dạy dỗ của Đức Maria là sâu sắc và hữu hiệu, và gặp được đất tốt trong tâm lý nhân bản của Chúa Giêsu.
Đức Maria và Thánh Giuse là gương mẫu cho mọi cha mẹ
5. Nhiệm vụ giáo dục của Đức Maria đối với một người con có một không hai như thế đó, có nhiều nét đặc biệt so sánh với nhiệm vụ của các cha mẹ khác. Người chỉ cung cấp những điều kiện thuận lợi để phát triển các giá trị tiềm tàng và chủ yếu cho sự lớn mạnh hiện diện saün trong Người Con. Ví dụ, sự vắng bóng mọi hình thức tội lỗi trong Chúa Giêsu đòi hỏi một định hướng luôn tích cực về phía Đức Maria, loại trừ mọi hình thức sửa phạt. Hơn nữa, mặc dầu được người Mẹ khai tâm vào nền văn hoá và truyền thống dân Ít-ra-en, chính Chúa Giêsu, từ lúc tìm thấy trong Đền Thánh, đã vén mở sự mình ý thức đầy đủ tình trạng làm Con Thiên Chúa, được sai đi để gieo rắc sự thật trong thế gian và chỉ thực thi ý Chúa Cha. Từ việc "làm thầy" Con mình, Đức Maria trở nên người môn đệ khiêm tốn của Thầy Thần Thánh mà mình sinh ra.
Tầm quan trọng của nhiệm vụ người Mẹ đồng trinh không suy giảm: Bà đã giúp Con mình là Đức Giêsu, từ lúc còn bé tới lúc trưởng thành, lớn lên "trong sự khôn ngoan và tầm vóc, và trong sự quý mến của Thiên Chúa và của người ta" (Lc 2,52 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:52&FontSize=Txt10)) và giúp Con chuẩn bị sứ mạng của Mình.
Đức Maria và Thánh Giuse có thể được coi như là gương mẫu của mọi nhà giáo dục, các Ngài giúp họ trong những khó khăn lớn mà các gia đình gặp phải ngày nay, và chỉ cho họ con đường huấn luyện con cái rõ rệt và hiệu năng.
Kinh nghiệm giáo dục của các Ngài là một điểm quy chiếu chắc chắn cho mọi cha mẹ kitô hữu, được kêu gọi trong những hoàn cảnh ngày càng phức tạp và khó khăn, hiến thân phục vụ phát triển toàn vẹn cá tánh con cái mình, nhờ vậy chúng nó sẽ sống đời sống xứng đáng với con người và hợp với chương trình của Thiên Chúa.
admin
04-09-2006, 03:25 PM
39. ÔNG SIMÊON ĐƯỢC KHAI MỞ THEO HÀNH ĐỘNG CỦA THIÊN CHÚA
(Osservatore Romano số 51-52 ngày 18-25/12/1996-
Thứ Tư, 11/12/96)
Ông mời chúng ta nhìn xem hành động từ bi của Thiên Chúa, Đấng đổ tràn Thánh Thần trên người tín hữu để hoàn thành chương trình tình yêu mầu nhiệm của Người.
1. Trong tình tiết ngày lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, Thánh Luca nhấn mạnh vận mệnh cứu thế của Chúa Giêsu. Mục đích đầu tiên cuộc của hành trình Thánh Gia Thất từ Bêlem tới Giêrusalem theo bản văn Thánh Luca là chu toàn lề luật: "Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các Ngài theo luật Môisê, Bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa như đã chép trong luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa, và cũng để dâng của lễ theo luật Chúa truyền là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con?". (Lc 2,22-24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:22-24&FontSize=Txt10)).
Với hành động nói trên, Đức Maria và ông Giuse tỏ ý vâng phục ý Chúa cách trung thành, gạt bỏ mọi thứ đặc ân. Việc hai ông bà đi tới đền thờ có ý nghĩa của một sự tận hiến dâng lên Thiên Chúa tại chính nơi Người hiện diện.
Tuy bị cảnh nghèo nàn bắt buộc dâng chim gáy hay bồ câu, thực sự Đức Maria đã dâng Chiên Con thật để cứu chuộc nhân loại, như vậy ông bà thực hành trước cái gì được hình dung trong những của dâng theo luật cũ.
Ông Simêon được thần hứng bởi Chúa Thánh Thần.
2. Luật chỉ đòi buộc nghi lễ thanh tẩy bà mẹ sau khi sinh con thôi, nhưng Luca lại nói: "tới thời thanh tẩy của các Ngài" (Lc 2,22) có lẽ muốn chỉ chung những luật lệ liên can tới cả hai: mẹ và con đầu lòng.
Từ ngữ "thanh tẩy" có thể làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì quy hướng về một người Mẹ được ân sủng riêng khỏi tội Tổ Tông ngay từ lúc hiện hữu, và cũng quy hướng tới một Người Con là Đấng hoàn toàn Thánh. Dầu sao, phải nhớ rằng ở đây không phải là vấn đề làm sạch lương tâm khỏi mọi vết nhơ tội, nhưng chỉ để lấy lại sự tinh sạch nghi thức, vì theo quan niệm của thời ấy, sự tinh sạch ấy có thể bị ô nhiễm duy bởi sự kiện sinh con mà không có một hình thức tội lỗi nào.
Thánh chép Tin Mừng sử dụng dịp này để nhấn mạnh mối dây đặc biệt hiện hữu giữa Chúa Giêsu như Người Con "đầu lòng" (Lc 2,7-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:7-23&FontSize=Txt10)) và sự thánh thiện của Thiên Chúa, cũng như để chỉ tinh thần dâng lễ vật khiêm tốn thúc đẩy Đức Maria và ông Giuse (x. Lc 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:24&FontSize=Txt10)). Thực tế " hai chim gáy hay hai bồ câu con" (Lc 12,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2012:8&FontSize=Txt10)) là lễ vật dâng của người nghèo.
3. Trong đền thờ ông Giuse và bà Maria gặp ông Simêon "người công chính và ngoan đạo đang mong chờ niềm an ủi của dân Ít-ra-en (Lc 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:25&FontSize=Txt10)).
Tường thuật Thánh Luca không nói gì về quá khứ hay về dịch vụ ông thi hành trong đền thờ, mà chỉ nói tới một con người đạo đức thâm sâu nuôi dưỡng những ý lớn trong lòng và mong đợi Đấng Messia, niềm an ủi của dân Ít-ra-en. Thực tế, "Thánh Thần ngự trên ông" và "ông được linh báo cho biết ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đức Kitô của Đức Chúa" (Lc 2,25-26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:25-26&FontSize=Txt10)). Ông Simêon mời chúng ta nhìn xem hành động từ bi của Thiên Chúa, Đấng đổ tràn đầy Thánh Thần trên người tín hữu của Người để hoàn thành chương trình tình yêu mầu nhiệm của Người.
Ông Simêon một người được khai mở theo hành động của Thiên Chúa, "được thần khí dun dủi" (Lc 2, 27), lên đền thờ gặp Chúa Giêsu, Giuse và bà Maria. Ẵm lấy Hài Nhi trên tay, ông chúc tụng Thiên Chúa rằng "Muôn lạy Chúa giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ Ngài được an bình ra đi" (Lc 2, 29).
Ông Simêon sử dụng một câu xa xưa thuộc Cựu Ước để diễn tả niềm vui khi ông gặp thấy Đấng Messia và ông có cảm giác cùng đích đời ông đã hoàn thành, do đó ông có thể xin Đấng Tối Cao để ông ra đi trong bằng an vào thế giới bên kia.
Ông Giuse và bà Maria giới thiệu Đấng Cứu Thế làm người
Trong tình tiết Dâng Chúa Giêsu, chúng ta có thể thoáng thấy niềm hy vọng dân Ít-ra-en gặp được Chúa Cứu Thế. Chúng ta cũng có thể thấy ở đó một dấu chỉ tiên tri về cuộc gặp gỡ của con người với Chúa Kitô. Để điều đó trở thành hiện thực, Chúa Thánh Thần thức tỉnh tâm lòng con người khao khát cuộc gặp gỡ cứu rỗi này, và thực hiện cuộc gặp gỡ ấy, chúng ta cũng không thể giới thiệu vai trò của Đức Maria. Trao Con Trẽ cho ông già thánh thiên Simêon, do ý Chúa muốn chính người mẹ trao Chúa Giêsu cho nhân loại.
4. Khi vạch ra tương lai của Đấng Cứu Thế, ông Simêon quy chiếu tới lời tiên tri về "Người Tôi Tớ" được sai đến với dân ưu tuyển và mọi dân tộc. Đức Chúa nói với người Tôi Tớ ấy: "Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước" (Is 42,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2042:6&FontSize=Txt10)). Và "nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Giacóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn chưa đủ. Vì vậy, nay ta đặt ngươi làm sánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất" (Is 49,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2049:6&FontSize=Txt10)).
Trong bài ca của ông, ông Simêon đảo ngược viễn cảnh và nhấn mạnh tính phổ quát của sứ mạng Chúa Giêsu: "Vì chính mắt con thấy được ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en dân Người" (Is 2,30-32).
Làm sao chúng ta có thể bỏ qua mà không ngạc nhiên với những lời này? "Cha và Mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêon vừa nói về Người." (Lc 2,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:33&FontSize=Txt10)). Nhưng kinh nghiệm này làm cho ông Giuse và Bà Maria có khả năng hiểu biết rõ hơn tầm quan trọng của hành động dâng lễ vật của mình: Trong đền thờ Giêrusalem các Ngài dâng Đấng là ánh sáng dân mình, cũng là ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
admin
08-09-2006, 07:25 PM
40. VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA TRONG SỨ MẠNG CỨU RỖI CỦA CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 1 ngày 01/01/1997-
Thứ Tư, 18/12/96)
Lời tiên báo của ông Simêon, rằng gươm sắt sẽ đâm thâu lòng Đức Maria, đã được thực hiện dưới chân Thánh Giá, khi Bà liên kết chặt chẽ với hy lễ Con Mình.
1. Sau khi nhìn nhận Chúa Giêsu là: "ánh sáng soi đường cho dân ngoại" (Lc 2,32), ông Simêon loan báo cho Đức Maria biết thử thách lớn lao mà Đấng Messia phải gánh chịu và ông cho biết Đức Maria dự phần vào số phận đau khổ đó.
Sự việc ông Simêon nhắc tới hy lễ cứu chuộc, không được nói tới trong lúc Truyền Tin, cho thấy trong lời tiên tri ông Simêon hầu như là một "cuộc Truyền Tin thứ hai", (Redemptoris Mater, số 16), sẽ giúp Trinh Nữ hiểu sâu sắc hơn về Mầu Nhiệm của Con Mình.
Cho tới lúc này ông Simêon chỉ ngỏ lời với tất cả những người có mặt, đặc biệt chúc phúc ông Giuse và Đức Maria, giờ đây ông mới nói tiên tri cho riêng một mình Đức Trinh Nữ mà thôi, đó là Bà sẽ chia sẻ vận mạng của Con Mình. Được Chúa Thánh Thần linh hứng, ông nói với Trinh Nữ: "Thiên Chúa đã đặt Cháu Bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính Bà thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra" (Lc 2,34-35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:34-35&FontSize=Txt10)).
Sự đau khổ của Người Mẹ - Đức Maria - phải tới tột đỉnh trong kỳ Thương Khó
2. Những lời này báo trước một tương lai đau khổ cho Đấng Messia. Thực tế, là "dấu hiệu bị chống đối", Người được dự định gặp chống đối dữ dội về phía những người đồng hương với Người. Nhưng song song với đau khổ của Chúa Kitô, ông Simêon đã nêu lên thị kiến trái tim Đức Maria bị lưỡi gươm đâm thâu, như vậy là ông đã liên kết Người Mẹ với vận mạng đau khổ của Con Mình.
Như vậy, đang khi cụ già đáng kính này thấy trước sự thù địch đang lớn mạnh mà Đấng Messia phải chạm trán, ông nhấn mạnh nó dội lại trên con tim Người Mẹ. Sự đau khổ của Người Mẹ này sẽ lên đến cực điểm trong cuộc Thương Khó, khi Bà kết hợp với Con Mình trong hy lễ cứu chuộc.
Theo sự ám chỉ đến những bài ca đầu tiên về Người Tôi Tớ Chúa (x. Is 42,6; 49,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2042:6 ; 49:6&FontSize=Txt10)), được trưng dẫn trong Luca 2,32, những lời nói của ông Simêon nhắc chúng ta nhớ lời tiên tri về Người Tôi Tớ đau khổ (Is 52,13; 53,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2052:13 ; 53:12&FontSize=Txt10)), Người "bị thương tích vì tội lỗi chúng ta" (53,5), "hiến mình thành của lễ đền tội" (Is 53,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2053:10&FontSize=Txt10)) qua một hy sinh cá nhân và thiêng liêng vượt xa những hy lễ theo nghi thức xưa.
Ở đây, chúng ta có thể ghi nhận rằng lời tiên tri của ông Simêon cho phép chúng ta nhìn thấy trong đau khổ sau này của Đức Maria, có một sự giống in hệt với tương lai đau khổ của "Người Tôi Tớ".
3. Đức Maria và ông Giuse kinh ngạc khi ông Simêon tuyên bố Đức Giêsu là: "ánh sáng soi đường cho dân ngoại" (Lc 2,32). Ngược lại, Đức Maria, dù có lời tiên tri báo trước "gươm sắc sẽ đâm thâu lòng Bà", cũng chẳng nói lời gì. Cùng với ông Giuse, Bà thinh lặng chấp nhận những lời huyền bí này báo trước một thử thách cực kỳ đau buồn và đặt lễ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh trong ý nghĩa thiết thực nhất của nó. Thật vậy, theo chương trình của Thiên Chúa, hy lễ dâng lúc đó "theo những gì có nói trong luật Chúa, "một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con" (Lc 2,24), là hình bóng báo trước hy lễ của Chúa Giêsu "vì tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mt 11,29), trong hy lễ này "thật sự là lễ dâng mình" (x. Lc 2,22) cho thấy Người Mẹ kết hợp với Con Mình trong công trình cứu rỗi.
Đức Maria thông phần với sứ mạng cứu độ của Con Mình
4. Lời tiên tri của ông Simêon được nối tiếp bằng sự gặp gỡ với bà Anna: "Bà cảm tạ Thiên Chúa và nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem" (Lc 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:23&FontSize=Txt10)). Đức tin và sự khôn ngoan tiên tri của bà già ấp ủ lòng trông đợi Đấng Messia bằng cách "hằng ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa" (Lc 2,37), đã giúp Thánh Gia càng được thôi thúc đặt hy vọng vào Thiên Chúa Ít-ra-en. Vào lúc đặc biệt này, thái độ của Bà Anna xuất hiện đối với Bà Maria và ông Giuse như một dấu chỉ từ Thiên Chúa, như một sứ điệp của niềm tin được soi sáng và của việc phục vụ kiên vững.
Bắt đầu với lời tiên tri của ông Simêon, Đức Maria kết hợp, cách mãnh liệt và huyền bí, đời sống của mình với sứ mạng đau khổ của Chúa Kitô: Bà trở thành người cộng tác trung thành của Con Mình vào phần rỗi nhân loại.
admin
08-09-2006, 07:29 PM
41. CHÚA GIÊSU KÊU GỌI CÁC NGƯỜI NỮ CHIA SẺ SỨ MẠNG CỦA MÌNH
(Osservatore Romano số 3 ngày 15/01/1997-
Thứ Tư, 08/01/1997)
Những lời ông Simêon và gương bà Anna vào ngày Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, rọi ánh sáng trên vai trò các người phụ nữ trong công trình cứu rỗi của Người.
1. Những lời của ông già Simêon, loan báo cho Đức Maria biết Bà sẽ chia sẻ sứ mạng cứu rỗi của Đấng Messia, rọi ánh sáng trên vai trò người nữ trong mầu nhiệm cứu độ.
Thật vậy, Đức Maria không những là một nhân vật cá nhân, nhưng Bà còn là "con gái Sion", một người nữ mới đứng bên cạnh Chúa Cứu Thế để chia sẻ sự Thương Khó của Người và sinh ra trong Thánh Thần những con cái Thiên Chúa. Thực tại này diễn tả bằng một hình vẽ dân gian "bảy lưỡi gươm" đâm thấu qua con tim Đức Maria. Hình ảnh này đề cao mối giây ràng buộc thâm sâu giữa Người Mẹ, được đồng hoá với người con gái Sion và với Giáo Hội, và thân phận đau khổ của Ngôi Lời Nhập Thể.
Trao dâng lại Người Con, mà Bà đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, để thánh hiến Người cho sứ mạng cứu chuộc của Người, Đức Maria cũng dâng chính mình cho sứ mạng này. Đây là một hành động chia sẻ nội tâm, không những do lòng yêu mến tự nhiên của người mẹ, nhưng nhất là hành động này diễn tả sự ưng thuận của người nữ với công trình cứu chuộc của Chúa Kitô.
Đức Maria mới sẽ được lôi cuốn vào sự đau khổ của Chúa Giêsu
2. Trong những lời nói của ông, ông Simêon chỉ rõ mục đích hy lễ của Chúa Giêsu và đau khổ của Mẹ Người: Những sự kiện sẽ xảy ra "ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra" (Lc 2,35).
Chúa Giêsu "một dấu hiệu bị người đời chống báng" (Lc 2,34), Đấng lôi kéo Mẹ Mình vào trong đau khổ của Mình, sẽ chỉ đường cho những người đàn ông, đàn bà sống có lập trường đối với Người, kêu mời họ thực thi một quyết định căn bản. Thực tế Người "được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en phải vấp ngã hay được chỗi dậy" (Lc 2,34).
Như thế Đức Maria được kết hợp với Người Con Thiên Chúa của mình trong "mâu thuẫn này", vì nhắm tới công trình cứu độ. Chắc chắn có một sự liều lĩnh tai hại với những ai khước từ Chúa Kitô, nhưng sự chỗi dậy của nhiều người là một thành quả kỳ diệu của ơn cứu rỗi. Chỉ lời tuyên bố đó thôi kích thích niềm hy vọng lớn lao trong con tim những kẻ được chứng kiến hoa trái hy lễ này.
3. Hành động của Đức Maria, theo thời gian tuy có trước, không làm lu mờ quyền ưu tiên của Chúa Giêsu. Khi diễn tả vai trò của Đức Maria trong nhiệm cục cứu rỗi, Công Đồng Vatican II đã nhắc lại rằng Đức Maria đã "tận hiến hoàn toàn", phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con Bà, dưới quyền và cùng với Con Bà, phục vụ mầu nhiệm Cứu Chuộc (LG 56).
Lúc dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, Đức Maria phục vụ mầu nhiệm Cứu Chuộc dưới quyền Chúa Kitô và cùng với Chúa Kitô: thật vậy Chúa Kitô đóng vai chính trong sự cứu chuộc và phải được chuộc lại bằng của dâng theo nghi thức. Đức Maria được liên kết với hy lễ Con Bà bằng lưỡi gươm đâm thâu lòng Bà.
4. Quyền ưu tiên của Chúa Kitô không loại trừ nhưng nâng đỡ và đòi hỏi vai trò riêng biệt, không thể thay thế, của người nữ. Khi lôi cuốn Mẹ Mình vào trong hy lễ của chính Mình, Chúa Kitô muốn mạc khải nguồn gốc nhân bản sâu xa của hy lễ đó và muốn chúng ta thấy đó là một sự thi hành trước sự dâng lễ có tính tư tế trên Thánh Giá.
Ý muốn Thiên Chúa kêu gọi những người nữ dấn thân đặc biệt trong công trình Cứu Chuộc, có thể thấy qua sự kiện này là lời tiên tri của ông Simêon chỉ hướng về Đức Maria mà thôi, mặc dầu ông Giuse cũng thông phần trong nghi thức dâng lễ.
Phần kết thúc tình tiết lễ Dâng của Chúa Giêsu trong Đền Thờ, xem ra xác nhận ý nghĩa và giá trị của sự hiện diện người nữ trong nhiệm cục Cứu Rỗi. Cuộc gặp gỡ với một người nữ, bà Anna, kết thúc những thời điểm đặc biệt này, khi Cựu Ước nói được là được sang qua cho Tân Ước.
Cũng như ông Simêon, người đàn bà này không có địa vị đặc biệt trong dân ưu tuyển, nhưng đời sống của bà xem ra có một giá trị cao trước mắt Thiên Chúa. Thánh Luca gọi bà là một: "nữ tiên tri" có lẽ vì được nhiều người bàn hỏi do bà có ơn sáng suốt và vì đời sống thánh thiện của bà được đặt dưới sự linh hứng của Thần Khí Chúa.
Bà Anna đã cao niên, 84 tuổi thọ và ở goá lâu năm. Hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa, "Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Chúa" (Lc 2,37). Bà tiêu biểu cho những kẻ sống trông đợi Đấng Messia nên có khả năng đón nhận, với lòng hớn hở vui mừng, sự hoàn thành lời hứa. Thánh chép Tin Mừng nhắc tới sự kiện "cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa" (Lc 2,38).
Vì thường xuyên ở trong Đền Thờ, bà có thể gặp được Chúa Giêsu, dễ dàng hơn là ông Simêon, vào chặng cuối cuộc đời tận hiến cho Chúa, một cuộc đời phong phú bởi nghe Lời Chúa và cầu nguyện.
Trong buổi bình minh ơn cứu chuộc, chúng ta có thể thấy nơi bà tiên tri Anna tất cả những người đàn bà, sống một đời sống thánh thiện và đang chờ đợi trong kinh nguyện, saün sàng đón nhận sự hiện diện của Chúa Kitô và ngợi khen Thiên Chúa mỗi ngày vì các điều kỳ lạ Chúa đã thực hiện do lòng thương xót đời đời của Người.
Bà Anna là biểu tượng của các người nữ rao giảng Phúc Âm
5. Được tuyển chọn để gặp Con Trẻ, ông Simêon và bà Anna có kinh nghiệm sâu sắc được chia sẻ niềm vui do sự hiện diện của Chúa Giêsu, với Đức Maria và Thánh Giuse, và tung vãi niềm vui ấy đến nơi nào các vị ấy sống. Nhất là bà Anna bày tỏ lòng sốt sắng kỳ lạ khi nói về Chúa Giêsu, như thế bà làm chứng cho niềm tin đơn sơ và quảng đại của bà. Niềm tin này chuẩn bị những kẻ khác tiếp nhận Đấng Messia vào trong đời sống mình. Kiểu nói của Thánh Luca: "Bà nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem" (Lc 2,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:28&FontSize=Txt10)) xem ra công nhận bà là biểu tượng của những người nữ, được hiến thánh để rao giảng Tin Mừng, sẽ thức tỉnh và nuôi dưỡng niềm hy vọng được cứu độ.
admin
08-09-2006, 07:34 PM
42. ĐỨC MARIA HỢP TÁC BẰNG SỰ ĐÍCH THÂN VÂNG LỜI
(Osservatore Romano số 4 ngày 22/01/1997-
Thứ Tư, 15/01/1997)
Tình tiết cuộc tìm lại được cậu bé Giêsu trong Đền Thờ rọi sáng trên sự thông hiệp đang lớn mạnh của Đức Maria trong đời sống và công trình của Người Con Thiên Chúa của Bà.
1.Thánh chép Tin Mừng diễn tả cuộc hành hương của cậu bé Giêsu lên đền thờ Giêrusalem như là một tình tiết cuối cùng thuộc trình thuật thời thơ ấu trước lúc ông Gioan Tẩy Giả bắt đầu rao giảng. Đây là một dịp thường lệ chiếu ánh sáng trên những năm dài cuộc đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nadaret.
Trong dịp này, với cá tính vững mạnh, Chúa Giêsu cho thấy Người hiểu biết sứ mạng của mình, vì Người đem lại cho lần đi "vào Nhà Cha" mình lần thứ hai này, cái ý nghĩa tận hiến chính mình cho Thiên Chúa, một sự tận hiến đã được đánh dấu khi Người được dâng trong Đền Thờ.
Đoạn Tin Mừng này xem ra trái nghịch với ghi chú của Thánh Luca rằng Chúa Giêsu vâng phục ông Giuse và Đức Maria (x. 2,51 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:51&FontSize=Txt10)). Nhưng nếu quan sát kỹ, ở đây Chúa Giêsu xem ra có ý thức và gần như có chủ tâm đặt mình trong tình trạng đối nghịch với vị thế là Người Con bình thường của mình, đã bất ngờ gây ra một xa cách hẳn với Đức Maria, và ông Giuse. Theo nguyên tắc đối xử của Người, Chúa Giêsu tuyên bố mình chỉ thuộc về Thiên Chúa Cha thôi và không nhắc tới những mối giây liên hệ với gia đình trần gian của Người.
Cách cư xử của Chúa Giêsu xem ra bất bình thường
2. Qua tình tiết này, Chúa Giêsu chuẩn bị Mẹ Người cho mầu nhiệm Cứu Chuộc. Trong những ngày đau buồn đó, khi Chúa Giêsu lìa xa các Ngài để ở lại trong đền thờ, Đức Maria và ông Giuse kinh nghiệm trước ba ngày Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa.
Để Mẹ và ông Giuse đi về Galilê mà không nói cho các Ngài biết ý định mình ở lại phía sau trong thành Giêrusalem, Chúa Giêsu đưa các Ngài vào trong mầu nhiệm đau khổ rồi dẫn tới niềm vui, thực hiện trước điều Người sẽ hoàn thành sau này với các môn đệ qua sự loan báo cuộc Phục Sinh của Người.
Theo tường thuật Thánh Luca, khi đi về Nadaret, Đức Maria và ông Giuse, sau một ngày đường, đã mệt nhọc và âu lo về số phận của cậu bé Giêsu. Các Ngài đã tìm kiếm giữa đám bà con và quen biết với mình mà chẳng thấy gì. Khi trở lại Giêrusalem và gặp Chúa Giêsu trong Đền Thờ, các Ngài kinh ngạc thấy Người "đang ngồi giữa các thầy dạy vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi" (Lc 2, 46). Cách cư xử đó của Chúa Giêsu xem ra hết sức bất thường. Chắc chắn đối với cha mẹ Người, việc gặp Người trong ngày thứ ba có nghĩa là khám phá ra một khía cạnh khác về thân thế và sứ mạng của Người.
Người đóng vai thầy dạy, như sau này sẽ làm trong đời sống công khai của Người, Người nói những lời gây nên kinh ngạc "ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu" (Lc 2,47). Để lộ sự khôn ngoan làm sửng sốt những người nghe Người, Người bắt đầu thực hành thuật đối thoại, một đặc điểm trong sứ mạng cứu độ của Người.
Mẹ Chúa Giêsu hỏi Người: "Con ơi! sao Con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha và mẹ Con phải cực lòng tìm Con?" (Lc 2,48). Tại đây chúng ta có thể phân biệt tiếng vang dội của những cái "tại sao" được đặt ra bởi rất nhiều bà mẹ đứng trước sự đau khổ con cái gây ra cho mình, cũng như những câu hỏi phun ra trong lòng của mọi người nam và nữ trong thời gian thử thách.
3. Câu trả lời của Chúa Giêsu, dưới hình thức một câu hỏi rất có ý nghĩa: "Sao cha mẹ lại tìm Con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở Nhà của Cha Con sao?" (Lc 2,49).
Với câu trả lời này, Người tháo mở mầu nhiệm thân thế Người cho Đức Maria và ông Giuse thấy một cách bất ngờ, không đoán trước được, mời gọi các Ngài đi xa hơn những vẻ đẹp bên ngoài và để lộ ra trước mặt các Ngài những chân trời mới thuộc tương lai của Người.
Trong câu trả lời với bà mẹ đang bồn chồn lo lắng, Người Con lập tức mặc khải lý do cách cư xử của mình. Đức Maria nói: "cha Con", chỉ ông Giuse; Chúa Giêsu trả lời: "Cha Con" có nghĩa là Cha trên trời.
Nhắc tới nguồn gốc Thiên Chúa của mình, Chúa Giêsu không có ý muốn nói rằng đền thờ Nhà Cha Người là cái "nơi" tự nhiên để Người hiện diện, cho bằng nói rằng Người phải chú tâm tới tất cả những gì liên hệ với Chúa của Mình và chương trình của Người. Người có ý nhấn mạnh ý muốn của Cha mình là tiêu chuẩn duy nhất đòi hỏi sự vâng phục của Người.
Sự nhắc tới việc Người tận hiến mình hoàn toàn để thực hiện chương trình của Thiên Chúa, đã được đề cao trong bản văn Tin Mừng qua những lời nói "Tôi phải ở" những lời đó sau này sẽ xuất hiện khi Người báo trước cuộc thương khó (x. Mc 8,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%208:31&FontSize=Txt10)).
Lúc đó cha mẹ Người được yêu cầu hãy để cho Người ra đi và thực hiện sứ mạng của Người bất cứ nơi nào Cha trên trời sẽ đưa tới.
4. Thánh chép Tin Mừng giải thích: "Nhưng ông bà không hiểu lời Người nói" (Lc 2,50).
Đức Maria và ông Giuse không thấy rõ ý nghĩa câu trả lời của Người, cũng như không thấy cách phản ứng của Người (bề ngoài là một sự từ chối) trước nỗi âu lo của cha mẹ. Với thái độ đó, Chúa Giêsu có ý bày tỏ những khía cạnh mầu nhiệm trong tình thân mật của Người với Chúa Cha, những khía cạnh mà Đức Maria trực giác được nhưng không biết làm cách nào phối hợp nó với thử thách bà đang chịu đựng.
Đức Maria đạt tới chiều kích mới trong công trình cứu rỗi
Những lời của Thánh Luca đã dạy chúng ta về phương cách Đức Maria sống cái tình tiết bất thường này trong đáy lòng mình. Bà "ghi nhớ tất cả điều ấy trong lòng" (Lc 2,51). Mẹ Đức Giêsu liên kết những biến cố này với mầu nhiệm của Con mình, được tỏ cho Bà khi Truyền Tin, và suy gẫm những biến cố đó trong sự thinh lặng chiêm niệm, đồng thời dâng lên sự hợp tác của Bà trong tinh thần một lời "Fiat" (xin vâng) mới mẽ.
Theo đường hướng này cái mắt xích đầu tiên được rèn trong một giây xích các biến cố, lần lần đưa Đức Maria vượt quá vai trò tự nhiên xuất phát từ chức làm mẹ của Bà, để đặt Bà phục vụ sứ mạng của Người Con Thiên Chúa của Bà.
Tại Đền Thờ Giêrusalem, trong đoạn mở đầu sứ mạng cứu chuộc của Người, Chúa Giêsu liên kết Mẹ mình với mình; Bà không chỉ là kẻ sinh ra Chúa nữa, nhưng là một Người Phụ Nữ có thể hợp tác vào mầu nhiệm Cứu Chuộc vì vâng theo chương trình của Chúa Cha.
Như thế, vì cất giữ trong lòng một biến cố đầy ý nghĩa, Đức Maria đạt được một chiều kích mới của sự hợp tác của Bà trong cuộc cứu độ.
admin
08-09-2006, 07:39 PM
43. ĐỜI SỐNG ẨN DẬT CỦA ĐỨC MARIA LÀ GƯƠNG MẪU CHO CÁC BÀ MẸ.
(Osservatore Romano số 6 ngày 05/02/1997-
Thứ Tư, 29/01/1997)
Khi Chúa Giêsu lớn lên trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, thì Đức Maria hiểu rõ hơn ý nghĩa chức làm Mẹ và ý nghĩa đời sống của mình ?ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa?.
1. Các Thánh Tin Mừng thông tin rất thưa thớt về những năm Thánh Gia Thất trải qua tại Nadareth. Thánh Matthêô nói tới quyết định của ông Giuse, sau khi từ Ai cập trở về, lấy Nadareth làm nơi vĩnh viễn cho Thánh Gia (x. Mt 2,22-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%202:22-23&FontSize=Txt10)), rồi không cho một thông tin nào khác ngoài việc nói rằng ông Giuse là một người thợ mộc (Mt 13,55 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2013:55&FontSize=Txt10)). Về phần Thánh Luca, hai lần nhắc tới cuộc hồi hương của Thánh Gia về Nadareth (x. Lc 2,39.51 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:39,51&FontSize=Txt10)) và đưa ra hai qui chiếu về những năm còn bé của Chúa Giêsu, trước và sau giai đoạn hành hương tại Giêrusalem: "Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa" (Lc 2,40) và "còn Chúa Giêsu thì càng ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến"(Lc 2,52).
Đức Maria suy niệm những biến cố đó trong lòng
Khi ghi lại những nhận xét vắn tắt về cuộc đời Chúa Giêsu, có lẽ Thánh Luca nhắc tới những kỷ niệm của Đức Maria về thời gian sống thân tình sâu đậm với Con mình. Tình liên kết giữa Chúa Giêsu và người "đầy ân sủng" vượt qua điều thường xảy ra giữa bà mẹ và đứa con, vì tình liên kết đó đâm rễ trong một hoàn cảnh đặc biệt siêu nhiên và được tăng cường bởi cả hai sống phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.
Như thế, chúng ta có thể kết luận rằng bầu khí yên tĩnh và bằng an trong nhà Nadaret và sự kiện các Ngài luôn tìm cách hoàn thành chương trình Thiên Chúa, mang lại một chiều sâu đặc biệt và duy nhất cho sự liên kết giữa Mẹ Con.
2. Sự kiện Đức Maria hiểu biết mình đang thi hành một nhiệm vụ do Thiên Chúa giao phó cho, làm cho đời sống hàng ngày của Người có ý nghĩa cao hơn. Những công việc lặt vặt đơn sơ, khiêm tốn hằng ngày có giá trị đặc biệt trong mắt Người, bởi vì Người thực hiện nó như một sự phục vụ sứ mạng của Chúa Kitô.
Đức Maria là mẫu gương soi sáng và khích lệ kinh nghiệm của nhiều người phụ nữ chỉ làm những công việc hằng ngày của mình tại nhà. Đây là một cố gắng khiêm tốn, ẩn giấu, liên tục và không được đánh giá đúng mức. Mặc dầu vậy, những năm dài Đức Maria sống trong nhà Nadaret, mặc khải tiềm năng to lớn của tình yêu chân thật và tiềm năng của sự cứu rỗi. Trên thực tế, đời sống đơn sơ của nhiều bà vợ gia đình, được coi như sứ mạng phục vụ và tình yêu, có giá trị khác thường trong mắt Thiên Chúa.
Người ta có thể nói chắc rằng, đối với Đức Maria, đời sống tại Nadaret không có gì buồn tẻ. Tiếp xúc với Chúa Giêsu đang lớn khôn, Người cố gắng đào sâu mầu nhiệm của Con mình qua chiêm niệm và thờ phượng. Thánh Luca nói: "Còn Bà Maria hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2,19; x. 2,51).
"Mọi kỷ niệm ấy": đó là những biến cố Đức Maria vừa là người tham dự vừa là khán giả, bắt đầu với biến cố Truyền Tin; nhưng trên hết là cuộc sống của Con Trẻ của Bà. Mỗi ngày sống thân mật với Con Trẻ là một lời mời hiểu biết Người hơn, khám phá sâu hơn ý nghĩa về sự hiện diện của Người và khám phá mầu nhiệm thân thể Người.
3. Có kẻ nghĩ rằng đối với Đức Maria tin thì dễ dàng thôi, vì hằng ngày sống tiếp xúc với Chúa Giêsu. Trên phương diện này, dù sao, chúng ta phải nhớ rằng những chiều kích duy nhất thuộc ngôi vị Người Con thường bị ẩn giấu: cho dù cách hành động của Chúa Giêsu là gương mẫu, nhưng Người vẫn sống một đời sống giống như những người cùng lứa tuổi.
Ba mươi năm sống tại Nadaret, Chúa Giêsu không để lộ ra những phẩm tính siêu nhiên và chẳng làm phép lạ nào. Khi cá tính Người biểu lộ cách khác thường lần đầu tiên, kèm theo sự bắt đầu rao giảng của Người, thì những bà con của Người (gọi là 'anh em' trong sách Tin Mừng), nhận lãnh trách nhiệm, theo một cách giải thích, bắt Người về nhà, là vì họ thấy cách cư xử của Người không được bình thường (x. Mc 3,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%203:21&FontSize=Txt10)).
Trong bầu khí tôn nghiêm và vất vả của thành Nadaret, Đức Maria cố gắng hiểu những việc làm của Chúa quan phòng trong sứ mạng Con mình. Một chủ đề đáng suy nghĩ riêng đối với Mẹ Người, về phương diện này, chắc là câu nói của Chúa Giêsu trong Đền thờ Giêrusalem khi Người được 12 tuổi: "Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 2,49). Suy nghĩ về vấn đề này, Đức Maria có thể hiểu hơn ý nghĩa làm Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu và ý nghĩa làm Mẹ của Bà, khi Bà cố gắng nhận ra nơi Con Bà, những nét chứng tỏ Người giống như Đấng Người kêu là "Cha của Con".
Đời sống chúng ta được ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa
4. Cuộc sống chung với Chúa Giêsu tại nhà Nadaret không những đưa Đức Maria tiến tới "trong cuộc hành trình đức tin" (LG 58), mà còn trong đức cậy. Nhân đức này, được đào luyện và nâng đỡ nhờ Bà nhớ đến lúc Truyền Tin và những lời nói của ông Simêon, bao gồm hết khoảng đời sống của Bà trên mặt đất, nhưng được thực hành đặc biệt trong 30 năm thinh lặng và ẩn tich tại Nadaret.
Tại nhà, Đức Trinh Nữ Rất Thánh kinh nghiệm đức cậy trong hình thức cao nhất của nó, Bà biết mình sẽ không bị thất vọng cho dù Bà không biết những thời điểm hay những cách thế Thiên Chúa sẽ hoàn thành lời hứa của Ngài. Trong bóng tối đức tin và trong sự thiếu vắng những dấu lạ báo trước khởi điểm công trình cứu thế của Con Bà, Bà hy vọng, vượt quá mọi bằng chứng, đang khi chờ đợi Thiên Chúa hoàn thành lời hứa.
Là một khung cảnh giúp phát triển đức tin và đức cậy, nhà Nadaret trở nên một minh chứng hùng hồn cho đức mến. Tình yêu, mà Chúa Kitô ước muốn đổ xuống trên thế gian, được đốt và cháy lên trước tiên trong trái tim Mẹ Người: chính tại nhà mà sự loan báo Tin Mừng về tình yêu Thiên Chúa được chuẩn bị.
Nhìn về Nadaret, chiêm ngắm mầu nhiệm đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Rất Thánh, chúng ta được mời gọi suy tư về mầu nhiệm đời sống chúng ta mà Thánh Phaolô nhắc tới "được ẩn tàng với Chúa Kitô trong Thiên Chúa" (Cl 3,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%203:3&FontSize=Txt10)).
Thường đó là cuộc sống khiêm tốn và mờ tối trong con mắt thế gian, nhưng cuộc sống đó, theo gương Đức Maria, có thể để lộ ra những khả năng bất ngờ về mặt cứu rỗi vì nó toả ra tình yêu và bình an của Chúa Kitô.
admin
10-09-2006, 08:08 AM
44. CHÚA GIÊSU LÀM PHÉP LẠ VÌ ĐỨC MARIA XIN
(Osservatore Romano số 10 ngày 05/03/1997-
Thứ Tư, 26/02/1997)
Đức tin mạnh, quyền lực lời cầu nguyện và sự hợp tác của Đức Maria trong sứ mạng cứu rỗi của Con Bà, kêu mời tín hữu các thời đại tin tưởng Chúa hết mình.
1. Trong tình tiết đám cưới thành Cana, Thánh Gioan giới thiệu sự can thiệp đầu tiên của Đức Maria vào đời sống công khai của Chúa Giêsu và đề cao sự hợp tác của Người với sứ mạng Con mình.
Khởi đầu trình thuật, Tác giả Tin Mừng nói với chúng ta rằng "Thân Mẫu Chúa Giêsu có ở đó" (Ga 2,1) và dường như muốn gợi ý rằng sự hiện diện của Bà là lý do đôi vợ chồng mời Chúa Giêsu và môn đệ Người (x. Redemptoris Mater, n. 21), ông còn nói thêm: "Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự tiệc cưới" (Ga 2,2). Với những nhận xét ấy, Thánh Gioan xem ra nói rõ rằng tại Cana, cũng như trong biến cố cơ bản Nhập Thể, chính Đức Maria đã giới thiệu Đấng Cứu Thế.
Ý nghĩa và vai trò sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Rất Thánh trở nên rõ rệt khi hết rượu. Là một người nội trợ khéo léo và khôn ngoan, lập tức bà nhận ra ngay và can thiệp nên không một ai mất niềm vui và, nhất là , giúp được cặp vợ chồng mới cưới trong lúc khó khăn.
Quay về phía Chúa Giêsu với câu nói: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3). Đức Maria bày tỏ nỗi lo của mình trước hoàn cảnh ấy cho Người, chờ đợi Người giải quyết. Nói đúng hơn, theo một vài nhà chú giải. Mẹ Người đang chờ một dấu lạ, bởi vì Chúa Giêsu không có rượu saün trong tầm tay.
Đức Maria tăng cường đức tin các môn đệ khi xin được phép lạ
2. Đức Maria có thể kiếm được rượu nơi khác, nhưng sự chọn lựa của Bà chứng tỏ Bà có đức tin dũng cảm, bởi vì tới lúc đó Chúa Giêsu chưa làm phép lạ nào, dù ở Nadaret hay trong đời sống công khai của Người.
Tại Cana, Đức Trinh Nữ Rất Thánh, một lần nữa, chứng tỏ Bà saün sàng theo ý Chúa. Vào lúc Truyền Tin, Bà đã góp phần vào phép lạ mang thai đồng trinh vì tin vào Chúa Giêsu trước khi thấy Người. Ở đây, lòng tin của Bà vào quyền phép đến nay chưa được tỏ bày của Chúa Giêsu là nguyên nhân để Người thực hiện phép lạ đầu tiên" biến nước thành rượu".
Như vậy, Bà đi trước trong đức tin các môn đệ, vì theo Thánh Gioan nói, các ông tin sau khi phép lạ xảy ra: "Đức Kitô đã bày tỏ vinh quang của Người, các môn đệ đã tin vào Người" (Ga 2,11). Như thế đó, Đức Maria tăng cường đức tin của các môn đệ nhờ xin được dấu lạ nầy.
3. Câu trả lời của Chúa Giêsu với Bà Maria: "Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Con, giờ của Con chưa đến" (Ga 2,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%202:4&FontSize=Txt10)), câu trả lời đó xem ra là một sự khước từ, dường như thử đức tin của Mẹ Người.
Theo một lối chú giải, từ lúc bắt đầu sứ mạng mình, Chúa Giêsu xem ra đặt vấn đề tương quan tự nhiên với người con, mà Mẹ Người tưởng như vậy. Câu nói, theo kiểu nói địa phương, có ý nhấn mạnh một sự cách biệt giữa những con người, loại trừ sự chung sống. Sự cách biệt nầy không loại trừ sự kính phục và quý trọng; tiếng "Bà" Người nói với Mẹ Mình, được dùng với một sắc thái khác khi nói chuyện với người đàn bà Canaan (x. Mt 15,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2015:28&FontSize=Txt10)), người đàn bà Samari (x. Ga 4,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:21&FontSize=Txt10)), người đàn bà ngoại tình (x. Ga 8,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%208:10&FontSize=Txt10)) và bà Madalena (x. Ga 20,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2020:13&FontSize=Txt10)), trong những ngữ cảnh nói về tương quan tích cực của Chúa Giêsu với những người đàn bà nói chuyện với Người.
Với kiểu nói:"Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và đến Con?". Chúa Giêsu có ý đặt sự hợp tác của Đức Maria trên bình diện cứu rỗi, đòi hỏi Bà, qua đức tin và đức cậy, đi xa hơn vai trò làm Mẹ tự nhiên.
4. Lý do Chúa Giêsu đưa ra, có nội dung quan trọng hơn: "Giờ của Con chưa đến" (Lc 2,4).
Một vài học giả nghiên cứu bản văn nầy, theo lối chú giải của Thánh Augustino, đồng hoá "giờ" đó với biến cố thương khó. Còn đối với nhiều kẻ khác, "giờ" đó chỉ phép lạ đầu tiên mặc khải quyền năng cứu thế của nhà tiên tri thành Nadaret. Tuy thế, những kẻ khác cho rằng câu nói đó ở hình thức hỏi và nối dài câu hỏi đi trước đó: "Chuyện đó can gì đến Bà và đến Con? Giờ của Con chưa tới phải không?". Chúa Giêsu cho Đức Maria hiểu rằng, từ nay Người không còn tùy thuộc vào Bà nữa, nhưng phải bắt đầu làm công việc của Cha. Lúc đó, Đức Maria thay vì kèo nài với Người, Bà đã quay về phía các người giúp việc bảo họ vâng nghe Người.
Phép lạ chứng tỏ lời cầu của Đức Maria có quyền lực.
Dù sao thì lòng tin tưởng của Bà vào Con Mình đã được đền thưởng. Bà đã để Chúa Giêsu hoàn toàn tự do hành động. Cuối cùng, Người đã làm phép lạ, vì nhận ra lòng can đảm và dễ bảo của Mẹ mình: "Chúa Giêsu bảo: 'Các anh đổ nước đầy chum đi' và họ đã đổ đầy tới miệng" (Ga 2,7). Như vậy sự vâng lời của họ cũng giúp cho có rượu dồi dào.
Lời Đức Maria thỉnh cầu: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo", vẫn có giá trị luôn hợp thời đối với các kitô hữu mọi thời đại và có tác dụng tái diễn kết quả diệu kỳ của nó trong đời sống của mọi người. Đó là một sự khuyên bảo đem lòng cậy trông không hồ nghi, nhất là khi người ta không hiểu ý nghĩa hay là lợi ích điều Chúa Kitô đòi hỏi.
Cũng như trong trình thuật người đàn bà xứ Canaan (Mt 15,24-26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2014:24-26&FontSize=Txt10)), sự từ chối thẳng thừng của Chúa Giêsu đã nâng cao đức tin người đàn bà ấy, thì lời Con Bà "Giờ Con chưa tới" đi kèm theo phép lạ đầu tiên, chứng tỏ đức tin mãnh liệt của Đức Maria và thế lực lời cầu nguyện của Bà.
Tình tiết đám cưới tại Cana thúc giục chúng ta can đảm trong niềm tin và kinh nghiệm trong đời sống chúng ta sự thật của những lời Tin Mừng: "Hãy xin thì sẽ được" (Mt 7,7; Lc 11,9).
admin
10-09-2006, 08:14 AM
45. ĐỨC MARIA ĐÃ XIN CHÚA GIÊSU THỰC HIỆN PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN TẠI CANA XỨ GALILÊ
(Osservatore Romano số 11 ngày 12/03/1997-
Thứ Tư, 05/03/1997)
1. Công Đồng Vatican II khi kể lại sự hiện diện của Đức Maria trong đời sống công khai của Chúa Giêsu, nhắc tới sự dự phần của Bà tại Cana, dịp phép lạ đầu tiên: "Trong tiệc cưới thành Cana xứ Galilê, vì động lòng thương xót, Bà đã cầu bàu, khiến Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai làm phép lạ đầu tiên của Người." (x. Ga 2,1-11) (LG 58).
Công Đồng nhấn mạnh vai trò kín đáo và đồng thời hiệu nghiệm của người Mẹ, Đấng nhờ lời nói khiến Con Mình thực hiện "phép lạ đầu tiên", mặc dù chỉ ảnh hưởng cách kín đáo và với tu cách người mẹ, nhưng vì Bà hiện diện nên cuối cùng xem như Bà là kẻ quyết định.
Sáng kiến của Đức Trinh Nữ xem ra còn lạ lùng hơn nếu ta nhìn kỹ địa vị thấp kém của người đàn bà trong xã hội Do Thái. Thật vậy, tại Cana, Chúa Giêsu không những nhìn nhận phẩm giá và vai trò của tài trí đàn bà, mà còn cho Mẹ mình khả năng dự phần vào công trình cứu thế, khi chấp nhận sự can thiệp của Đức Maria. Cách xưng hô của Chúa Giêsu với Đức Maria: "Thưa Bà" (x. Ga 2, 4), không nghịch lại ý định đó. Thực vậy, nó không chứa đựng một nghĩa rộng nào tự nó là tiêu cực và còn được Chúa Giêsu sử dụng lại sau này đối với Mẹ Người dưới chân Thánh Giá (x. 19,26). Theo nhiều nhà chú giải, tước hiệu "Bà" giới thiệu Đức Maria như là Eva mới, người Mẹ trong đức tin của tất cả những kẻ tin.
Trong đoạn văn trích dẫn trên, Công Đồng dùng kiểu nói "động lòng thương xót" muốn nói rằng Đức Maria được thần cảm do con tim hay thương xót của Bà. Vì thoáng thấy có thể xảy ra mối thất vọng cho đôi vợ chồng và cho thực khách vì thiếu rượu, nên Đức Trinh Nữ đầy từ bi, gợi ý cho Con Mình can thiệp qua quyền năng cứu thế của Người.
Đối với nhiều người khác, lời cầu xin của Đức Maria xem ra không phù hợp, vì Bà bắt việc khởi đầu những phép lạ của Đấng Cứu Thế phụ thuộc vào một việc từ bi. Chính Chúa Giêsu trả lời khó khăn đó và chấp nhận lời xin của Mẹ để cho thấy sự dồi dào Chúa ban cho dùng để đáp trả những mong mỏi của con người, cũng cho thấy những gì tình yêu của một bà mẹ có thể làm được.
2. Kiểu nói "làm phép lạ đầu tiên" mà Công Đồng đã rút ra từ bản văn của Thánh Gioan làm cho chúng ta phải lưu ý. Từ ngữ Hy Lạp "archè", dịch là nguyên thủy, bước đầu, được Gioan dùng trong lời tựa Tin Mừng của ông "từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời" (1,1). Sự trùng hợp có ý nghĩa này cho phép đối chiếu nguồn gốc đầu tiên của vinh quang của Chúa Kitô trong cõi đời đời, với sự biểu lộ đầu tiên của chính vinh quang đó trong sứ vụ trần thế của Người.
Khi nhấn mạnh đến sáng kiến của Đức Maria trong phép lạ đầu tiên và sau đó nhắc tới sự hiện diện của Bà nơi núi Sọ, dưới chân Thánh Giá, Thánh chép Tin Mừng giúp ta hiểu được cách thức hợp tác của Đức Maria trải dài suốt công trình của Chúa Kitô. Lời cầu xin của Đức Maria nằm trong ý định cứu rỗi của Thiên Chúa.
Trong dấu lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã thực hiện, các Giáo Phụ đã nhìn thấy một chiều kích tượng trưng: việc biến nước thành rượu là báo hiệu chuyển sang từ Cựu Ước đến Tân Ước. Tại Cana, nước trong các chum dùng vào việc thanh tẩy người Do Thái, và để làm trọn những điều quy định của luật (x. Mc 7,1-15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%207:1-15&FontSize=Txt10)) đích xác trở thành rượu mới của bữa tiệc cưới, tượng trưng sự hợp nhất vĩnh viễn giữa Thiên Chúa và nhân loại.
3. Khung cảnh một bữa tiệc cưới mà Chúa Giêsu chọn để làm phép lạ đầu tiên, nhắc tới sự tượng trưng của hôn nhân mà Cựu Ước thường dùng để chỉ Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Người (x. Hs 2,21; Ga 2,1-8; Tv 44 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Hs%202:21 ; Ga 2:1-8 ; Tv 44:&FontSize=Txt10), v.v...) và Tân Ước dùng để chỉ sự hợp nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (x. 3,28-30; Ep 5,25-32; Kh 21,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%203:28-30 ; Ep 5:25-32 ; Kh 21:1-2&FontSize=Txt10) v.v...).
Sự hiện diện của Chúa Giêsu tại Cana còn tỏ lộ dự án cứu rỗi của Thiên Chúa trong vấn đề hôn nhân, trong viễn ảnh này, sự thiếu rượu có thể giải thích như ám chỉ sự thiếu tình yêu, thường đe doạ sự hợp nhất vợ chồng. Đức Maria van nài Chúa Giêsu can thiệp cho tất cả các vợ chồng được nhờ, vì chỉ có tình yêu cậy dựa vào Chúa mới có thể cứu thoát họ khỏi những nguy hiểm thất trung, hiểu lầm và chia rẽ. Ân sủng bí tích hiến cho các vợ chồng sức mạnh cao siêu của tình yêu nhờ đó có thể tăng cường sự cam kết sống trung thành, dù trong những hoàn cảnh khó khăn.
Theo sự giải thích của tác giả kitô hữu, phép lạ thành Cana còn chứa đựng một ý nghĩa thâm sâu về Thánh Thể. Khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể gần ngày Đại Lễ Vượt Qua Do Thái (x. 2,13) Chúa Giêsu biểu lộ, cũng như trong câu chuyện phép lạ hoá bánh ra nhiều (x. Ga 6,4), ý muốn chuẩn bị một bữa tiệc thực sự vượt qua, tức là Bí Tích Thánh Thể. Trong tiệc cưới thành Cana, ý muốn đó xem ra được nhấn mạnh vì có chất rượu, ám chỉ máu Tân Ước cũng như khung cảnh bữa tiệc.
Như thế đó, sau khi làm đầu mối cho sự hiện diện của Chúa tại ngày lễ, Đức Maria xin được phép lạ rượu mới, hình ảnh Bí Tích Thánh Thể, dấu ấn tuyệt vời chỉ Người Con phục sinh của mình đang hiện diện giữa các môn đệ.
4. Cuối câu chuyện phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu, thực hiện nhờ đức tin vững mạnh của Người Mẹ đối với Người Con Thiên Chúa của mình, Thánh tác giả Tin Mừng kết thúc: "các môn đệ Người đã tin vào Người" (2,11). Tại Cana, Đức Maria mở đường đức tin cho Giáo Hội bằng cách đi trước các môn đệ và hướng các tôi tớ chân lý đến với Chúa Kitô.
Ước gì sự cầu bàu liên lĩ của Bà cũng an ủi những kẻ đôi khi gặp phải sự "thinh lặng của Thiên Chúa". Họ được kêu gọi trông cậy vượt trên hết mọi trông cậy, bằng cách phó thác vào lòng lành của Thiên Chúa.
admin
13-09-2006, 07:35 AM
46. VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA TRONG SỨ VỤ CÔNG KHAI CỦA CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 12 ngày 19/03/1997-
Thứ Tư, 12/03/1997)
Bởi nghe và giữ lời Chúa, Đức Trinh Nữ Rất Thánh đã chia sẻ sự từ bỏ và đau khổ của Chúa Kitô, và đã cộng tác vào công trình cứu rỗi của Người.
1. Sau khi nhắc lại sự can thiệp của Đức Maria tại đám cưới thành Cana, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh tới sự Bà can thiệp vào đời sống công khai Chúa Giêsu: "Trong thời gian Chúa truyền đạo, Đức Maria đã đón nhận lời của Con, những lời đã nâng cao Nước Trời lên khỏi những tương quan và liên hệ huyết nhục, tuyên bố là có phúc cho những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa (x. Mc 3,35; Lc 11,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%203:35 ; Lc 11:27-28&FontSize=Txt10)), vì chính Bà hằng thực hành những điều đó cách trung tín (Lc 2, 19.51 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:19,51&FontSize=Txt10)) (LG 58). Việc bắt đầu sứ mạng của Chúa Giêsu cũng có nghĩa là xa cách Mẹ, là người đã không luôn đi theo Con trong những cuộc hành trình trên những nẻo đường Palestine. Chúa Giêsu tự ý lựa chọn sự xa cách Mẹ mình và tình cảm gia đình, như có thể suy ra từ những điều kiện Người đòi buộc nơi các môn đệ để đi theo Người và hiến mình rao giảng Nước Trời.
Đức Maria trung tín thi hành lời Chúa Giêsu
Tuy nhiên, đôi khi Đức Maria đã nghe Con Mình giảng dạy. Chúng ta có thể cho rằng Bà có mặt trong Hội đường thành Nadaret khi Chúa Giêsu, sau khi đọc lời tiên tri Isaia đã giải thích bản văn và áp dụng cho chính mình (x. Lc 4,18-30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%204:18-30&FontSize=Txt10)). Bà đã đau khổ dường nào trong dịp đó, vì sau khi chia sẻ sự thán phục của mọi người trước"những lời hay ý đẹp thoát ra từ miệng Người" (Lc 4,22), Bà quan sát thấy sự thù địch gay go của người đồng quê xua đuổi Người ra khỏi Hội đường và còn tìm cách giết Người! Thảm kịch lúc đó được bộc lộ trong những lời nói Thánh Luca: "Họ đứng dậy lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi, họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực, nhưng Người băng qua giữa họ mà đi" (Lc 4,29-30).
Vì biết sau những biến cố này còn nhiều thử thách khác, nên Đức Maria nhất quyết và đào sâu việc phục tùng hoàn toàn theo ý Chúa Cha dâng lên Ngài sự đau khổ của mình với tư cách Người Mẹ và dâng cảnh cô độc của mình nữa.
2. Căn cứ các sách Tin Mừng, Đức Maria có cơ hội nghe Con Mình trong nhiều dịp khác nữa. Trước hết tại Caphanaum, nơi Chúa Giêsu đến sau khi ăn đám cưới thành Cana "Với thân mẫu, anh em và các môn đệ Người" (Ga 2,12). Hơn nữa, vì lễ Vượt Qua sắp tới, có lẽ Đức Maria có thể đi theo Chúa tới Đền Thờ Giêrusalem mà Chúa Giêsu gọi là Nhà Cha mình, và nhiệt tâm lo đến (x. Ga 2,16-17). Lần sau, đứng giữa đám đông và không thể tới gần Chúa Giêsu, Đức Maria nghe Người trả lời những kẻ nói cho Người biết Mẹ và bà con của Người đã đến: "Mẹ Tôi và anh em Tôi chính là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8, 21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%208:21&FontSize=Txt10)).
Với những lời đó, Chúa Kitô mặc dầu tương đối hoá những liên hệ gia đình, cất tiếng ngợi khen Mẹ mình, bằng cách khẳng định một sự liên hệ cao thượng hơn nhiều với Bà. Thực tế, khi nghe Con Mình, Đức Maria chấp nhận tất cả lời nói của Người để thực hành cách trung thực.
Chúng ta có thể tưởng tượng rằng, mặc dù Đức Maria không theo Chúa Giêsu trong cuộc hành trình truyền giáo của Người. Bà vẫn được thông tin về các hoạt động tông đồ của Con Mình, đã âu yếm và âu lo đón nhận những tin tức về việc giảng đạo của Người từ môi miệng những kẻ đã gặp Người.
Xa cách không có nghĩa là xa lòng, cũng không ngăn trở Người Mẹ theo dõi Con mình cách thiêng liêng, ngăn trở Bà giữ và suy niệm về lời giảng dạy của Người, cũng như Bà đã làm trong đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nadaret. Thật sự đức tin của Bà cho phép Bà nắm bắt ý nghĩa những lời nói của Chúa Giêsu, trước và còn hơn các môn đệ của Người, vì thường họ không hiểu lời Người dạy, nhất là khi Người nói về sự Thương Khó mai ngày của Người (x. Mt 16,21-23; Mc 9,32; Lc 9,45 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2016:21-23 ; Mc 9:32 ; Lc 9:45&FontSize=Txt10))
3. Theo những biến cố trong cuộc sống Chúa Giêsu Con mình, Đức Maria đã chia sẻ thảm cảnh Con mình bị loại trừ do một số người trong dân ưu tuyển. Sự loại trừ trước hết nảy sinh lúc Người thăm viếng thành Nadaret, và càng ngày càng thấy rõ qua những lời nói và thái độ của hàng lãnh đạo dân chúng.
Như thế Đức Trinh Nữ Rất Thánh thường biết được nạn phê bình, những xỉ nhục và những đe doạ hướng về Chúa Giêsu. Cũng tại Nadaret có thể Bà thường bị quấy nhiễu do lòng cứng tin của những bà con và kẻ quen thuộc, vì họ muốn lợi dụng Chúa Giêsu (x. Gioan 7,2-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%207:2-5&FontSize=Txt10)) hay là ngưng sứ mạng của Người (Mc 3,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%203:21&FontSize=Txt10)).
Qua sự đau khổ này chịu đựng cách cao thượng và kín đáo, Đức Maria chia sẻ hành trình của Con Mình 'tới Giêrusalem' (Lc 9,51) và ngày càng kết hợp với Người trong đức tin, đức cậy, đức mến, Bà hợp tác trong sự cứu thế.
Đức Maria là gương mẫu đối với những ai đón nhận lời Chúa Kitô.
4. Như thế Đức Maria trở thành gương mẫu cho những ai đón nhận lời Chúa Kitô. Vì tin vào sứ điệp thần linh từ ngày Truyền Tin và vì nâng đỡ đầy đủ thân thế của Con, Đức Maria dạy chúng ta lắng nghe Đấng Cứu Thế với lòng tin tưởng, khám phá nơi Người Lời Chúa, Lời biến đổi và cải thiện đời sống chúng ta. Kinh nghiệm của Bà cũng thúc đẩy chúng ta nhận lãnh những thử thách và đau khổ phát sinh từ lòng trung thành với Chúa Kitô, khi chúng ta hướng mắt nhìn tới hạnh phúc Chúa Giêsu đã hứa cho những ai nghe và giữ Lời Người.
admin
13-09-2006, 07:40 AM
47. ĐỨC MARIA KẾT HỢP CHÍNH MÌNH VỚI LỄ DÂNG CỦA CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 15 ngày 09/04/1997-
Thứ Tư, 02/04/1997)
Đồng thuận với hy lễ Con Mình, Đức Trinh Nữ Rất Thánh đã dự phần vào việc tự hiến dâng mình cho Chúa Cha như lễ vật xoá bỏ tội lỗi thế gian.
1. Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng. Alleluia!
Giáo Hội hát như thế trong mùa Phục Sinh, mời gọi người tín hữu kết hợp trong niềm vui thiêng liêng của Đức Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế. Niềm vui của Đức Trinh Nữ Rất Thánh khi Chúa Kitô sống lại càng to lớn hơn nữa, nếu ta xem xét sự thông phần mật thiết của Bà vào trọn đời sống Chúa Giêsu.
Khi hoàn toàn sẵn sàng chấp nhận lời sứ thần Gabrien báo cho Bà biết sẽ được làm Mẹ Đấng Messia, thì Đức Maria đã bắt đầu tham gia vào thảm kịch Cứu Chuộc. Sự dấn thân của Bà vào hy lễ Con Bà, mà ông Simêon đã hé mở lúc dâng Con trong Đền Thờ, không những tiếp tục trong giai thoại lạc mất và tìm lại được Chúa Giêsu lúc 12 tuổi, mà còn tiếp tục suốt cả đời của Người.
Dù sao, sự liên kết của Đức Trinh Nữ Rất Thánh với sứ mạng Chúa Kitô, lên tới đỉnh cao tại Giêrusalem, lúc Đấng Cứu Thế chịu thương khó và chịu chết. Như Tin Mừng thứ tư minh chứng, lúc đó Bà có mặt tại Thành Thánh, có lẽ để mừng lễ Vượt Qua Do Thái.
2. Công Đồng nhấn mạnh đến chiều kích sâu xa của sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Rất Thánh trên núi Sọ khi nhắc lại rằng: "Bà đã trung thành hợp nhất với Con cho đến bên Thập Giá" (LG 58), và Công Đồng chỉ rõ rằng sự hợp nhất đó "trong công việc cứu rỗi được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết" (LG 57).
Đức Maria nối kết đau khổ của mình với hy lễ tư tế của Chúa Giêsu
Với tầm nhìn được chiếu sáng do ánh sáng Phục Sinh, chúng ta dừng lại để suy nghĩ về sự dấn thân của Người Mẹ trong sự Thương Khó cứu chuộc của Con Bà, sự Thương Khó được trọn vẹn do Bà chia sẻ đau khổ của Con. Bây giờ trong viễn ảnh Phục Sinh, chúng ta hãy trở lại dưới chân Thánh Giá, nơi Người Mẹ "đã đau đớn chịu khổ với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con với tấm lòng của một người mẹ, hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra" (LG 58).
Với những lời đó, Công Đồng nhắc chúng ta nhớ lại "lòng trắc ẩn của Đức Maria"; trong tim Bà dội lại tất cả những gì Chúa Giêsu chịu đựng trong thân xác và linh hồn, đề cao lòng mong muốn của Bà được chia sẻ với hy lễ cứu chuộc của Con Bà, và được nối kết sự đau đớn tình mẹ của Bà với lễ dâng tư tế của Con Bà.
Bản văn Công Đồng cũng nhấn mạnh rằng sự ưng thuận của Bà hiến tế Chúa Giêsu không phải là một sự chấp nhận thụ động, nhưng đó là một hành động tình yêu đích thực, qua đó Bà dâng Con Mình như của lễ hy sinh đền tội toàn thể nhân loại.
Sau hết, Hiến chế Lumen Gentium liên kết Đức Trinh Nữ Rất Thánh với Chúa Kitô. Đấng giữ vai trò dẫn đầu trong công trình Cứu Chuộc. Công Đồng đã thấy rõ rằng khi "dự phần vào hy lễ Con Mình" Bà vẫn phục tùng Con Thiên Chúa của Bà.
3. Trong Tin Mừng thứ tư, Thánh Gioan nói rằng "đứng gần Thập Giá Chúa Kitô, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu là bà Maria vợ ông Cơlôpat, cùng với bà Maria Mađalêna" (Ga 19, 25). Dùng từ ngữ "đứng" có nghĩa đen là "đứng trên chân mình", "đứng thẳng", có lẽ Thánh viết Tin Mừng có ý giới thiệu phẩm cách và năng lực của Đức Maria mà các người đàn bà kia chứng tỏ dù trong lúc đau buồn.
Đức Trinh Nữ Rất Thánh "đứng thẳng" dưới chân Thánh Giá, nói lên sự kiên nhẫn không dao động và sự can đảm lạ thường khi đương đầu với đau khổ. Trong thảm cảnh Núi Sọ Đức Maria được nâng đỡ nhờ đức tin, một đức tin được tăng cường qua những biến cố đời sống của Bà và cách riêng qua đời sống công khai của Chúa Giêsu. Công Đồng nhắc lại rằng "Đức Trinh Nữ đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hợp nhất với Con cho đến bên Thập Giá" (LG 58).
Chia sẻ những cảm giác sâu xa nhất của Con Bà, đối đầu với những xỉ nhục xấc láo nhằm vào Đấng Messia chịu đóng đinh, Đức Maria nhẫn nhục và tha thứ, thông phần với lời cầu nguyện Người dâng lên Chúa Cha: "xin Cha tha tội cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34). Bằng cách chia sẻ tâm tình phó mình theo ý muốn của Chúa Cha, như được phát biểu qua những lời cuối của Chúa Giêsu trên Thánh Giá: "Lạy Cha, Con phó dâng linh hồn Con trong tay Cha!" (Lc 23,46), Đức Maria, như Công Đồng ghi lại, hết tình ưng thuận "hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra" (LG 58).
Lòng cậy trông của Đức Maria chứa đựng ánh sáng mạnh hơn sự tối tăm.
4. Tiếng "vâng" cao trọng của Đức Maria sáng chói với lòng cậy trông tin tưởng về tương lai mầu nhiệm, đã bắt đầu với cái chết của Người Con Chịu đóng đinh. Những lời nói mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ trên đường lên Giêrusalem rằng "con người phải chịu nhiều đau khổ và bị các kỳ lão, các thượng tế và các luật sĩ loại bỏ, và bị giết, sau ba ngày sống lại", những lời đó dội lại trong tim Bà trong giờ phút thê lương trên núi Sọ, thức tỉnh sự chờ đợi và lòng ao ước ngày Phục Sinh.
Đức cậy của Đức Maria dưới chân Thánh Giá chứa đựng một ánh sáng mạnh hơn sự tối tăm đang ngự trị trong nhiều con tim: nhờ Hy Lễ chuộc tội, lòng cậy trông của Giáo Hội và nhân loại được sinh ra trong Đức Maria.
admin
13-09-2006, 07:43 AM
48. SỰ HỢP TÁC CỦA ĐỨC MARIA LÀ HOÀN TOÀN CÓ MỘT KHÔNG HAI
(Osservatore Romano số 16 ngày 16/04/1997-
Thư Tư, 09/04/1997)
Nền tảng sự hợp tác kỳ diệu này là chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria và sự dự phần của Bà trong đời sống Chúa Giêsu, một dự phần lên tới cao điểm dưới chân Thánh Giá.
1. Dọc qua các thế kỷ, Giáo Hội đã suy nghĩ về sự hợp tác của Đức Maria trong công trình cứu rỗi, bằng cách phân tách sâu rộng sự dự phần của bà với hy lễ cứu chuộc của Chúa Kitô. Thánh Augustinô đã tặng Đức Trinh Nữ Rất Thánh tước hiệu "cộng sự viên" trong sự Cứu Chuộc (x. De Sancta Virginitate 6, Pl 40, 399). Một tước hiệu nâng cao hành động hợp tác nhưng tùy thuộc của Đức Maria với Đức Kitô Cứu Thế.
Suy tư đã phát triển theo những đường hướng này, cách riêng từ thế kỷ 15. Một số người có ý sợ người ta đặt Đức Maria trên một vị trí ngang hàng với Chúa Kitô. Trong hiện tại giáo huấn của Giáo Hội phân định rõ rệt giữa Mẹ và Con trong công trình cứu rỗi, giải thích sự tùy thuộc của Đức Trinh Nữ Rất Thánh như là người hợp tác của Đấng Cứu Chuộc duy nhất.
Vả lại, khi Thánh Phaolô nói: "Thật vậy chúng ta là cộng sự viên của Thiên Chúa" (1 Cr 3,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr%203:9&FontSize=Txt10)), ngài chủ trương rằng con người có thể hợp tác được với Thiên Chúa. Sự hợp tác của người tín hữu, hiển nhiên loại trừ mọi bình đẳng với Người, được diễn tả qua lời rao giảng Tin Mừng và sự cộng tác của chính họ làm cho Tin Mừng đâm rễ sâu vào con tim nhân loại.
Sự hợp tác của Đức Maria là vô song và không tái diễn.
2. Tuy nhiên, khi áp dụng cho Đức Maria thì từ ngữ "cộng sự viên" mang một ý nghĩa đặc biệt. Sự hợp tác của người kitô hữu trong công trình cứu rỗi, có sau biến cố Thánh Giá, vì họ chỉ ra sức phổ biến hoa quả biến cố đó nhờ lời cầu nguyện và hy sinh. Còn Đức Maria thì hợp tác chính lúc biến cố đó xảy ra và trong tư cách là Người Mẹ, như vậy sự hợp tác của Bà bao gồm toàn bộ công trình cứu chuộc của Chúa Kitô. Chỉ một mình Bà thôi dự phần cách đó với hy lễ cứu chuộc đem lại ơn cứu rỗi cho loài người. Hợp nhất với Chúa Kitô và trong sự phục tùng Người, sự hợp tác của Đức Maria mang lại ơn cứu rỗi cho toàn nhân loại.
Vai trò của Đức Trinh Nữ Rất Thánh như người hợp tác, bắt nguồn trong chức làm Mẹ Thiên Chúa của Bà. Nhờ sinh ra Đấng được chỉ định thực hiện việc cứu rỗi loài người, nhờ nuôi nấng người, dâng Người trong đền thánh và đau khổ với Người khi Người chết trên Thập Giá, "Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế" (LG 61). Dù Thiên Chúa gọi hết mọi người hợp tác trong công trình cứu chuộc, thì sự dự phần của Mẹ Đấng Cứu Thế vào sự cứu rỗi nhân loại là một sự kiện vô song và không tái diễn.
Mặc dù địa vị Bà thật vô song, Đức Maria cũng vẫn là người thụ hưởng ơn cứu rỗi. Bà là người đầu tiên được cứu rỗi, được Chúa Kitô cứu chuộc "trong một đường lối cao cả nhất" qua sự đầu thai vô nhiễm của bà (x. Bull Ineffalilis Deus In Pius IX Acta 1, 605), được tràn đầy ân sủng Chúa Thánh Thần.
3. Xác nhận trên đưa tới câu hỏi: Sự hợp tác vô song của Đức Maria trong chương trình cứu rỗi, có ý nghĩa gì? Phải tìm ý nghĩa đó trong ý định của Thiên Chúa đối với Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, Người Mẹ mà trong hai dịp long trọng - tại Cana và dưới chân Thánh Giá - được Chúa Giêsu gọi là "Bà" (x. Ga 2,4; 19,26). Đức Maria dự phần vào công trình cứu rỗi với tư cách là người phụ nữ. Vì đã dựng nên con người "có nam có nữ" (x. St 1,27), Thiên Chúa cũng muốn đặt Bà Eva Mới bên cạnh Ađam Mới trong việc Cứu Chuộc. Nguyên Tổ chúng ta đã chọn con đường tội lỗi với tư cách là đôi nam nữ; thì một đôi mới, Con Thiên Chúa với sự hợp tác của Mẹ Người, sẽ tái lập loài người trong phẩm giá nguyên thuỷ của họ.
Như vậy, Đức Maria, Bà Eva Mới, trở thành biểu tượng hoàn hảo của Giáo Hội. Trong chương trình của Thiên Chúa, dưới chân Thánh Giá, Bà đại diện nhân loại được cứu chuộc, một nhân loại vì nhu cầu cứu rỗi, có khả năng cộng tác triển khai công trình cứu chuộc.
Đức Maria là Mẹ chúng ta trong bình diện ân sủng.
4. Công Đồng giữ giáo lý ấy trong trí và coi đó là của riêng mình, khi khẳng định rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh cộng tác không những vào sự sinh ra Đấng Cứu Thế, mà còn vào cuộc sống của thân thể mầu nhiệm Người qua các thời đại cho đến "thế mạt": trong Giáo Hội Đức Maria "đã hợp tác" (x. LG 63) và "đang hợp tác" (x. Sđd. số 53) trong công trình cứu rỗi. Khi trình bày mầu nhiệm Truyền Tin, Công Đồng phát biểu rằng Đức Trinh Nữ thành Nadaret "hết lòng đón lấy ý định cứu rỗi của Thiên Chúa, vì không một tội nào ngăn trở Ngài, Đức Maria đã tận hiến làm tôi tá Chúa, phục vụ cho con người và sự nghiệp của Con Ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền năng và cùng với Con Ngài" (Sđd số 56).
Công Đồng Vatican II, hơn nữa, trình bày Đức Maria không những là "Mẹ của Chúa Cứu Thế", nhưng "cách đặc biệt như là người bạn đồng liêu quảng đại", "đã hợp tác qua đức vâng lời, đức tin, đức cậy và lòng mến nồng cháy, trong công trình của Đấng Cứu Chuộc". Công Đồng cũng đã lưu ý rằng hoa trái cao cả của sự hợp tác này là chức làm Mẹ phổ quát của Bà: "Bởi đó trên bình diện ân sủng, Bà thật là Mẹ chúng ta" (Sđd. số 61).
Do đó chúng ta có thể quay về Đức Trinh Nữ Rất Thánh, tin tưởng nài xin Bà giúp đỡ vì biết vai trò đặc biệt Chúa đã trao cho Bà, đó là vai trò hợp tác trong sự cứu thế, vai trò Bà đã thực thi suốt đời Bà và cách đặc biệt dưới chân Thánh Giá.
admin
13-09-2006, 07:54 AM
49. CHÚA GIÊSU NÓI VỚI NGƯỜI MÔN ĐỆ: "NẦY LÀ MẸ CON"
(Osservatore Romano số 18 ngày 30/04/1997-
Thứ Tư, 23/04/1997)
Với những lời nói đó, Chúa Giêsu trao cho Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh một sứ mạng mới, và thiết lập một tương quan đặc biệt về tình yêu giữa Bà và tất cả các môn đệ.
1. Sau khi nhắc lại sự có mặt của Đức Maria và các người đàn bà khác dưới chân Thánh Giá Chúa, Thánh Gioan thuật lại: "Khi thấy Thân Mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với Thân Mẫu rằng: " Đây là mẹ của anh" (Ga 19,26-27).
Những lời nói đặc biệt gây xúc động nầy mang "một cảnh quan mặc khải": nó mặc khải những tâm tình sâu đậm của Chúa Kitô đang hấp hối, và chứa đựng một sự đầy đủ ý nghĩa phong phú đối với đức tin và linh đạo Kitô hữu. Cuối đời sống trần thế, khi nói với Mẹ Người và người môn đệ Người thương mến, Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh thiết lập một tương quan mới về tình yêu giữa Đức Maria và người kitô hữu.
Thỉnh thoảng được giải thích như một kiểu nói tỏ lòng hiếu thảo của Chúa Giêsu đối với Mẹ Mình, vì Người trao phó bà trong tương lai cho người môn đệ Người thương mến, những lời nói nầy vượt quá sự cần thiết bất ngờ để giải quyết một vấn đề gia đình. Thật thế, suy nghĩ kỹ về văn bản, được xác nhận qua nhiều Giáo Phụ và qua ý kiến chung của Giáo Hội, (suy nghĩ đó) trong hai lần uỷ thác của Chúa Giêsu, cung cấp cho chúng ta một trong những biến cố quan trọng nhất để hiểu được vai trò của Đức Trinh Nữ trong nhiệm cục cứu độ.
Chúa Giêsu hoàn tất hy lễ của Người qua sự trao phó Đức Maria cho Thánh Gioan
Những lời nói của Chúa Giêsu đang hấp hối, trên thực tế biểu lộ rằng; ý muốn đầu tiên của Người không phải là trao phó Mẹ mình cho Gioan, nhưng là trao phó người môn đệ cho Đức Maria, và giao cho Người một sứ mạng mới có tính mẫu tử. Hơn nữa, từ "Bà" cũng được Chúa Giêsu dùng tại tiệc cưới Cana để đưa Đức Maria tới một chiều kích mới của tư cách người Mẹ, từ "Bà" cho thấy lời nói của Đấng Cứu Thế không phải là hoa quả của một tình cảm đơn thuần hiếu thảo, nhưng phải được hiểu trên một bình diện cao hơn.
2. Cho dù sự chết của Chúa Giêsu gây buồn rầu sâu sắc cho Đức Maria, tự nó không thay đổi nếp sống bình thường của Bà: Thật vậy, khi từ bỏ thành Nadaret để khởi đầu cuộc sống công khai, Chúa Giêsu đã để Mẹ mình sống đơn độc. Hơn nữa, sự có mặt dưới chân Thánh giá của Bà Maria Cơlơpat, cho phép chúng ta giả thiết rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh sống giao hảo với gia đình và thân nhân mình, nên Bà có thể được đón tiếp sau cái chết của Con mình.
Ngược lại, những lời nói của Chúa Giêsu lấy được ý nghĩa chính thống hơn hết của nó trong văn cảnh sứ mạng cứu độ của Người. Được nói vào thời điểm cứu chuộc, lời nói đó đạt giá trị cao nhất của nó, chính là nhờ hoàn cảnh cao vời nầy. Thực tế, sau khi Chúa Giêsu nói những lời đó với Mẹ mình, Thánh chép Tin Mừng thêm một câu có ý nghĩa : "Đức Giêsu biết mọi sự đã hoàn tất..." (Ga 19,28), dường như Chúa muốn nhấn mạnh rằng Người đã hoàn tất hy lễ bằng cách giao phó Mẹ mình cho Gioan, và qua Gioan, cho tất cả nhân loại, để Bà trở thành người Mẹ của mọi người trong công trình Cứu Rỗi.
3. Thực tại mà những lời nói của Chúa Giêsu mang đến, đó là chức làm Mẹ mới trong tương quan với người môn đệ, thực tại nầy là một dấu chỉ nữa chỉ tình yêu cao cả khiến Chúa Giêsu hiến dâng mạng sống mình cho toàn dân. Trên Núi Sọ, tình yêu nầy được biểu lộ trong quà tặng của một người Mẹ, Mẹ Người, như vậy bà cũng trở thành mẹ của chúng ta.
Chúng ta phải nhớ rằng, theo truyền thống, chính Gioan là kẻ Đức Trinh Nữ thực sự nhìn nhận là con mình; nhưng đặc ân nầy từ đầu đã dược các kitô hữu giải thích như là dấu hiệu một sự sinh sản thiêng liêng trong tương quan với cả nhân loại.
Chức làm Mẹ phổ quát của Đức Maria, "người phụ nữ" tại đám cưới thành Cana và trên Núi Sọ, nhắc tới bà Eva "mẹ các chúng sinh" (St 3,20). Dù sao, khi bà Eva giúp mang tội vào thế gian, thì bà Eva mới, tức là Bà Maria, hợp tác trong biến cố cứu sống của ơn cứu chuộc. Như thế, trong Đức Trinh Nữ Rất Thánh, hình ảnh "người nữ" được phục hồi và chức làm mẹ của Bà lãnh nhiệm vụ phổ biến cuộc sống mới trong Chúa Kitô giữa loài người.
Vì sứ mạng đó, Người Mẹ được yêu cầu thực hành hy sinh đau đớn cực dộ, là chấp nhận cái chết của Con một mình. Những lời nói của Chúa Giêsu: "Thưa Bà, nầy là đứa con của Bà" làm cho Đức Maria cảm thấy tương quan mẫu tử mới, tương quan nầy kéo dài và mở rộng tương quan trước. Như vậy, tiếng "vâng" của Bà đối với chương trình của Thiên Chúa, là một chấp nhận hy lễ của Chúa Kitô, một hy lễ Bà chấp nhận tuân theo ý muốn Chúa Cha, chức làm Mẹ của Đức Maria đã được ấn định từ lúc khởi đầu bao gồm toàn nhân loại, nhưng chỉ trên núi Sọ, do hy sinh của Chúa Kitô, chiều kích phổ biến của nó mới được mặc khải.
Đức Maria trở thành người Mẹ tất cả các môn đệ.
Những lời nói của Chúa Giêsu "Nầy là con Bà" đã biến Đức Maria trở thành Mẹ Thánh Gioan và Mẹ tất cả môn đệ được chỉ định nhận lãnh quà ân sủng của Chúa.
4. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu không chính thức loan báo chức làm Mẹ phổ quát của Đức Maria, nhưng đã thiết lập một tương quan mẫu tử cụ thể giữa Bà và người môn đệ thương yêu. Trong sự lựa chọn của Chúa, chúng ta có thể thấy quan tâm của Người, là chức làm Mẹ này không được giải thích cách mơ hồ, nhưng phải hiểu đó là một tương quan mãnh liệt, cá nhân của Đức Maria với từng cá nhân kitô hữu.
Ước gì mỗi người chúng ta, do thực tại cụ thể của chức làm Mẹ phổ quát của Đức Maria, nhìn nhận trọn vẹn Bà là Mẹ của chính chúng ta, và tin cẩn phó thác chúng ta trong tình yêu hiền mẫu của Bà.
admin
13-09-2006, 07:59 AM
50. SỰ SÙNG KÍNH ĐỨC MARIA ĐẶT NỀN TẢNG TRÊN Ý MUỐN CỦA CHÚA GIÊSU
(Osservatore Romano số 20 ngày 14/05/1997-
Thư Tư, 07/05/1997)
Ước gì tất cả mọi người khám phá trong câu nói của Chúa "Này là Mẹ của con", lời mời gọi nhận Đức Trinh Nữ Rất Thánh làm Mẹ và đáp trả lại Bà như những đứa con thật sự.
1. Sau khi phó thác Thánh Gioan cho Đức Maria với lời: "Thưa Bà, này là con của Bà", Chúa Giêsu từ trên Thánh Giá quay sang người môn đệ thương yêu của mình, nói với ông: "Này là Mẹ của con" (Ga 19,26-27). Với những lời nói đó, Chúa mặc khải cho Đức Maria biết cao điểm chức làm Mẹ của Bà: Vì làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Bà cũng làm Mẹ những người được cứu chuộc, của tất cả các thành phần Thân Thể Mầu Nhiệm của Con Bà.
Đức Trinh Nữ âm thầm chấp nhận sự nâng chức làm Mẹ do ân sủng của Bà, lên tới cao điểm nhất vì Bà đã trả lời với lòng tin bằng tiếng "xin vâng" trong ngày Truyền Tin.
Không những Chúa Giêsu thúc giục Gioan chăm sóc cho Đức Maria bằng tình yêu đặc biệt, nhưng Người còn giao phó Mẹ mình cho ông để ông có thể nhìn nhận Bà như là Mẹ của chính mình.
Trong bữa Tiệc Ly, "người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến" nghe mệnh lệnh của Thầy "anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12) và dựa đầu vào ngực Chúa, ông nhận lãnh từ Chúa một dấu chỉ độc nhất: của tình yêu. Những kinh nghiệm này chuẩn bị ông nhận ra trong lời nói của Chúa Giêsu, một lời mời gọi đón nhận Bà đã được trao cho ông như một người Mẹ, và yêu mến Bà như Chúa Giêsu đã làm với lòng hiếu thảo.
Mong rằng tất cả mọi người nhận ra, qua lời nói Chúa Giêsu: "Nầy là Mẹ của con" lời mời gọi đón nhận Đức Maria làm Mẹ và đáp trả lại tình yêu mẫu tử của Bà như con cái thật vậy.
Đức Trinh Nữ Rất Thánh dạy chúng ta yêu mến Chúa cách sâu xa.
2. Trong ánh sáng của sự giao phó này cho người môn đệ thương mến, ta có thể hiểu ý nghĩa đích thực của sự sùng kính Đức Maria trong cộng đoàn Giáo Hội. Thực tế, sự sùng kính đó đặt người kitô hữu vào vị trí của Chúa Giêsu là con cái đối với Mẹ Người, để họ có điều kiện lớn lên trong tình thân mật với cả hai.
Sự sùng kính của Giáo Hội đối với Đức Trinh Nữ, không những là kết quả của sự ứng đáp tự nhiên đối với phẩm giá lạ lùng của con người Bà và đối với vai trò quan trọng của Bà trong công trình cứu rỗi, mà còn căn cứ trên ý muốn của Chúa Kitô.
Lời nói: "Đây là Mẹ của con" nói lên ý hướng của Chúa Giêsu muốn truyền cho các môn đệ một thái độ yêu thương và tin cẩn với Đức Maria, đưa họ tới chỗ nhìn nhận Bà là Mẹ mình, Mẹ của hết thảy những ai tin.
Nơi trường học của Đức Maria, các môn đệ học biết Chúa sâu xa, như ông Gioan vậy, và có được tương quan tình yêu thân mật và bền vững với Người. Các ông cũng nhận ra niềm vui phó thác mình trong tình yêu mẫu tử của Người Mẹ đó, sống như những đứa con thân yêu và dễ bảo.
Lịch sử về lòng đạo đức của người kitô hữu dạy rằng Đức Maria là con đường dẫn tới Chúa Kitô và lòng sùng kính hiếu thảo đó đối với Bà không cất đi cái gì khỏi tình thân mật với Chúa Giêsu. Thực vậy, sự sùng kính đó làm tăng thêm tình thân mật và dẫn đưa tới những bình diện cao nhất của sự trọn lành.
Vô số Đền Thờ khắp thế giới minh chứng những phép lạ được thực hiện nhờ ân sủng qua sự can thiệp của Đức Maria, Mẹ Chúa và Mẹ chúng ta.
Quay về với Bà, được lôi kéo do lòng dịu hiền của Bà, các người nam, nữ thời đại chúng ta cũng gặp được Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế và là Chúa của đời sống họ.
Trước tiên, các người nghèo khó, những người bị thử thách trong tinh thần, trong những cảm xúc và trong nhu cầu vật chất, tìm được sự ẩn náu và bình an nơi Người Mẹ Thiên Chúa, và nhận thức rằng đối với mọi người của cải chân thật hệ tại ơn trở lại và theo Chúa Kitô.
Mỗi người kitô hữu phải dọn chỗ cho Đức Maria trong đời sống hằng ngày của mình.
3. Theo bản gốc Hy Lạp, đoạn Tin Mừng tiếp: "Kể từ đó người môn đệ rước Bà về nhà mình" (Ga 19,27). Như vậy là đoạn văn đó nhấn mạnh Gioan đã saün sàng và quảng đại theo lời của Chúa Giêsu, và cho chúng ta biết về cách cư xử của ông, suốt đời làm người bảo vệ trung thành và làm Người Con dễ bảo của Đức Trinh Nữ.
Giờ chấp nhận là giờ làm trọn công trình cứu rỗi. Chức làm Mẹ thiêng liêng của Đức Maria và sự biểu lộ đầu tiên mối dây liên kết mới giữa Bà và các môn đệ của Chúa, bắt đầu hiện thực trong văn cảnh này.
Gioan rước bà mẹ đó "về nhà mình". Những lời nói có hơi chung chung này, xem ra đề cao sáng kiến của ông, đầy cung kính và thương yêu, không những khi rước Đức Maria về nhà mình mà còn sống đời sống thiêng liêng hợp thông với Bà.
Thật sự, phiên dịch từng chữ, thì kiểu nói Hy Lạp "về nhà mình" không thể hiểu về của cải vật chất bởi vì Gioan - như Thánh Augustinô nhận xét - (In Joan. Evang, tract. 119, 3) "không có gì là của riêng mình", nhưng đúng hơn phải hiểu về của cải thiêng liêng hay những ân huệ nhận lãnh từ Chúa Kitô: Ân sủng (Ga 1,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%201:16&FontSize=Txt10)), Ngôi Lời (12,48; 17,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2012:48 ; 17:8&FontSize=Txt10)), Chúa Thánh Thần (Ga 7,39; 14,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%207:39 ; 14:17&FontSize=Txt10)) Bí tích Thánh Thể (Ga 6,32-58 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:32-58&FontSize=Txt10)). Giữa những ân huệ này, đến từ sự kiện được Chúa Giêsu thương mến, người môn đệ nhận lãnh Đức Maria làm Mẹ mình, thiết lập một sự hiệp thông sâu xa của đời sống với Bà (x. Redemptoris Mater số 45, cước chú số 130).
Ước gì mỗi người kitô hữu theo gương người môn đệ được thương mến "rước Đức Maria về nhà mình" và dọn chỗ cho Bà trong đời sống hằng ngày của mình, công nhận vai trò quan phòng của Bà trong cuộc hành trình cứu rỗi.
admin
13-09-2006, 08:09 AM
51. ĐỨC MARIA LÀ NHÂN CHỨNG TOÀN BỘ MẦU NHIỆM PHỤC SINH
(Osservatore Romano số 22 ngày 28/05/1997-
Thứ Tư, 21/05/1997)
Đang khi các sách Tin Mừng không nhắc tới việc Chúa Giêsu hiện ra với Đức Mẹ sau khi Phục Sinh, nhưng nếu Bà là người đầu tiên cảm nghiệm vinh quang này, thì cũng là điều thích hợp.
1. Sau khi mai táng Chúa Giêsu trong mồ, Đức Maria "một mình tiếp tục giữ cháy ngọn lửa đức tin, chuẩn bị lãnh nhận lời báo tin vui mừng và đầy kinh ngạc của biến cố Phục Sinh" (Diễn văn tại cuộc tiếp kiến chung, 3/4/1996; L'Osservatore Romano English edition 10 April 1996. p. 7). Sự chờ đợi trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh là một trong những thời điểm cao nhất đức tin đối với Mẹ Chúa: Trong màn tối tăm bao trùm thế giới, Bà phó mình trọn vẹn trong tay Thiên Chúa hằng sống, và ngẫm suy lại những lời nói của Con mình, Bà hy vọng những lời hứa của Chúa sẽ được thành toàn.
Các sách Tin Mừng nhắc tới nhiều lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, nhưng không nói tới cuộc gặp gỡ nào giữa Chúa Giêsu và Mẹ Người. Sự thinh lặng đó không hẳn đưa tới kết luận rằng sau khi Phục Sinh Chúa Giêsu đã không hiện ra với Đức Maria; đúng hơn sự thinh lặng đó kêu mời chúng ta tìm kiếm những lý do tại sao các Thánh chép Tin Mừng có sự lựa chọn như thế.
Lẽ nào Đức Maria lại không ở trong số những người gặp Chúa sống lại?
Giả sử có "thiếu sót", thì sự thinh lặng đó có thể đổ cho sự kiện này, là cái gì cần thiết giúp chúng ta hiểu biết phần rỗi thì được giao phó cho những vị "được Chúa tuyển chọn làm nhân chứng" (Cv 10,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%2010:14&FontSize=Txt10)), nghĩa là các tông đồ, những vị này làm chứng Chúa Giêsu sống lại "với quyền năng mạnh mẽ" (x. Cv 4,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%204:33&FontSize=Txt10)). Trước khi hiện ra với các tông đồ, Đấng Phục Sinh đã hiện ra với nhiều người nữ đầy lòng tin để các bà thi hành phận sự thuộc Giáo Hội "về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó (Mt 28,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2028:10&FontSize=Txt10)).
Nếu các tác giả Tân Ước đã không nói gì về sự gặp gỡ của Người Mẹ với Người Con Phục Sinh của mình, là vì một nhân chứng như thế có thể bị những kẻ chối bỏ việc Chúa sống lại, quy kết là quá thiên kiến nên không đáng tin.
2. Hơn nữa, các sách Tin Mừng chỉ thuật lại một ít lần Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra và chắc chắn là không có một bản tóm lược đầy đủ tất cả những gì đã xảy ra trong vòng 40 ngày sau Lễ Phục Sinh. Thánh Phaolô nhắc lại rằng Người đã hiện ra "với hơn 500 anh em một lượt" (1 Cr 15,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr%2015:6&FontSize=Txt10)). Làm sao chúng ta giải thích được một biến cố bất thường ai cũng biết như thế lại không được các Thánh chép Tin Mừng nhắc đến? Đó là một dấu chứng rõ ràng nhiều lần hiện ra khác của Đấng Phục Sinh đã không được nhắc tới, cho dù chúng thuộc vào những biến cố ai cũng biết đã xảy ra.
Tại sao Đức Trinh Nữ Rất Thánh, hiện diện trong cộng đoàn các môn đệ đầu tiên (x. Cv 1,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%201:14&FontSize=Txt10)), lại không có tên trong số những kẻ đã gặp Người Con Thiên Chúa của mình sau khi Người sống lại từ kẻ chết?
3. Thực vậy, ý tưởng cho rằng Người Mẹ có lẽ là người đầu tiên được Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với, thật là chính đáng. Sự vắng mặt của Đức Maria trong đám người nữ đi tới mộ từ tảng sáng (x. Mc 16,1; Mt 28,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%2016:1 ; Mt 28:1&FontSize=Txt10)) không có nghĩa là Bà đã gặp Chúa Giêsu rồi sao? Sự suy diễn này cũng được xác nhận bởi sự kiện những nhân chứng đầu tiên biến cố Phục Sinh, theo ý muốn của Giêsu, là những người nữ trung thành đứng dưới chân Thánh Giá, và do đó càng vững mạnh hơn trong đức tin.
Thật vậy, Đấng Phục Sinh giao phó cho một người trong họ, Bà Maria Mađalêna, mang sứ điệp đến cho các tông đồ (x. Ga 20,17-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2020:17-18&FontSize=Txt10)). Có lẽ sự kiện này cũng cho phép chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu tỏ mình ra trước hết với Mẹ Người, là người đầy lòng tin nhất và đã giữ đức tin mình nguyên vẹn khi bị thử thách.
Sau hết, đặc tính duy nhất và đặc biệt về sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Rất Thánh trên Núi Sọ và sự hợp nhất trọn vẹn của Bà với Con khi Con chịu đau khổ trên Thập Giá, xem ra cho phép Bà chia sẻ cách rất đặc biệt trong mầu nhiệm Phục Sinh.
4. Một tác giả thế kỷ thứ 5, Sedulius, chủ trương rằng trong ánh sáng cuộc sống Phục Sinh của Người, Chúa Kitô đã tỏ mình trước nhất cho Mẹ mình. Thật vậy, Bà là người lúc Truyền Tin đã trở nên con đường để Chúa vào thế gian, thì Bà cũng được kêu mời quảng bá tin mừng lạ lùng Phục Sinh, ngõ hầu trở thành người đưa tin Chúa đến trong vinh quang. Như thế chìm ngập trong vinh quang của Đấng Phục Sinh, Bà hưởng trước vẻ huy hoàng của Giáo Hội (x. Sedulius, Paschale carmen 5, 357, 364, CSEL 10, 1400).
5. Xem ra hữu lý mà nghĩ rằng Đức Maria, như hình ảnh và gương mẫu của Giáo Hội đang chờ đợi Đấng Phục Sinh và gặp Người giữa đám môn đệ trong những lúc hiện ra ngày Phục Sinh, đã tiếp xúc cá nhân với Con Phục Sinh của Bà, nên Bà cũng có thể vui sướng vì ngập tràn niềm vui Phục Sinh.
Mẹ Chúa là "nguyên nhân vui mừng" cho mọi người.
Hiện diện tại Núi Sọ trong ngày Thứ Sáu Thánh (x. Ga 19,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2019:25&FontSize=Txt10)), và trên Căn Lầu trong ngày Lễ Ngũ Tuần (x. Cv 1,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%201:14&FontSize=Txt10)) Đức Trinh Nữ Rất Thánh có lẽ cũng là một nhân chứng đặc ân của việc Chúa Kitô sống lại, như vậy Bà hoàn thành sự dự phần của mình trong tất cả những giây phút chủ yếu của mầu nhiệm Phục Sinh. Đón rước Chúa Giêsu Phục Sinh, Đức Maria cũng là người đầu tiên và người đi trước của nhân loại, đang hy vọng hoàn thành sự sung mãn của mình qua sự kẻ chết sống lại.
Trong mùa Phục Sinh, cộng đồng kitô hữu gởi lời lên Mẹ Chúa và mời mọc Bà vui mừng: "Regina Caeli, laetare. Alleluia!". "Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, hãy vui mừng. Alleluia!" Như thế họ nhắc lại niềm vui của Đức Maria khi Chúa Giêsu Phục Sinh, nối dài trong thời gian "niềm vui" Thiên Thần đã nói với Bà trong ngày truyền tin để Bà có thể trở nên nguồn "vui lớn" cho mọi người.
admin
13-09-2006, 08:55 PM
52. ĐỨC MARIA CẦU XIN CHÚA THÁNH THẦN XUỐNG
(Osservatore Romano số 23 ngày 04/06/1997-
Thứ Tư, 28/05/1997)
Trong mọi thời đại, sự chuyển cầu đầy quyền năng của Đức Maria luôn đem đến cho Giáo Hội một sự tuôn đổ luôn mới mẻ các ơn soi sáng và ban sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
1. Khi nhìn lại diễn tiến cuộc sống của Đức Nữ Trinh Maria, Công Đồng Vatican II nhắc lại sự hiện diện của Bà trong cộng đồng đang chờ lễ Hiện Xuống. "Vì Thiên Chúa không muốn tỏ bày mầu nhiệm cứu rỗi nhân loại cách long trọng trước khi Ngài đổ tràn Thánh Thần Chúa Kitô đã hứa, nên chúng ta thấy các tông đồ trước ngày Hiện Xuống "đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và với anh em Người" (Cv 1,14). và chúng ta cũng thấy Đức Maria, tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban ơn Chúa Thánh Thần, là Đấng đã bao phủ lấy Bà trong ngày Truyền Tin (LG 59).
Đức Maria giúp các môn đệ chuẩn bị đón rước Chúa Thánh Thần
Cộng đoàn đầu tiên dọn đường sinh ra Giáo Hội; sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Rất Thánh giúp phát hoạ những nét chung cuộc, kết quả do ơn Chúa Thánh Thần.
2. Trong bầu không khí chờ đợi ở trên Căn Lầu sau lễ Thăng Thiên, Đức Maria chiếm vị trí nào liên can với sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần?
Công Đồng nhấn mạnh rõ rệt sự hiện diện cầu nguyện của Bà, khi chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống: Bà cầu nguyện "nài xin ơn Chúa Thánh Thần". Nhận xét này có ý nghĩa đặc biệt, bởi vì ngày Truyền Tin Chúa Thánh Thần đã xuống trên Bà, "rợp bóng" trên Bà và thực hiện mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.
Vì kinh nghiệm độc đáo về hiệu lực của một ơn như thế đó, Đức Trinh Nữ Rất Thánh có điều kiện lượng giá biến cố đó hơn ai hết; thật vậy, Bà lãnh được chức làm Mẹ nhờ sự can thiệp của Chúa Thánh Thần, Đấng đã biến Bà thành con đường để Đấng Cứu Thế đến trong thế gian.
Không như những kẻ ở trên Căn Lầu đang chờ đợi trong sợ sệt, Bà hiểu rõ tầm quan trọng của những lời Con mình đã hứa với các môn đệ (x. Ga 14, 16) nên đã giúp cộng đoàn sẵn sàng đón nhận "Đấng an ủi" đến.
Như thế, đang khi kinh nghiệm độc đáo của Bà làm Bà nhiệt tình mong mỏi Chúa Thánh Thần đến, thì kinh nghiệm ấy cũng đưa Bà dự phần vào sự chuẩn bị lòng trí những kẻ ở xung quanh Bà.
3. Đang khi cầu nguyện trên Căn Lầu, trong tư thế hiệp thông sâu xa với các tông đồ, cùng vài người phụ nữ và với "anh em" Chúa Giêsu, Mẹ Chúa cầu xin ơn Chúa Thánh Thần cho chính mình và cho cộng đoàn.
Điều hợp lý là việc Chúa Thánh Thần xuống trên Bà lần đầu tiên xảy ra vì chức làm Mẹ của Bà, có thể được lặp lại và tăng cường. Thật vậy, dưới chân Thánh Giá, Đức Maria được giao phó chức làm Mẹ mới, liên quan tới các môn đệ Chúa Giêsu. Sứ mạng này đích xác đòi hỏi ơn mới của Chúa Thánh Thần. Đức Trinh Nữ Rất Thánh muốn có nó, để chức làm Mẹ thiêng liêng của Bà sinh hoa quả.
Trong thời gian Nhập Thể, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên Bà với tư cách một cá nhân được kêu gọi dự phần cách xứng đáng trong mầu nhiệm cao cả, còn bây giờ mọi sự được hoàn thành vì ích lợi cho Giáo Hội, Giáo Hội mà Đức Maria được mời gọi làm hình ảnh, làm gương mẫu và làm mẹ.
Trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, nhớ lại lời hứa của Chúa Giêsu, Bà chờ đợi ngày Lễ Hiện Xuống và xin được nhiều ơn cho mọi người, phù hợp với cá tính và sứ mạng của mỗi người.
4. Lời cầu nguyện của Đức Maria có ý nghĩa đặc biệt trong cộng đoàn kitô hữu, nó tạo điều kiện cho Chúa Thánh Thần hiện xuống, nài xin Người hành động trong lòng các môn đệ và trong thế giới. Cũng như trong mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Thánh Thần đã hình thành thân xác của Chúa Kitô trong lòng trinh khiết của Bà, thì bây giờ trên Căn Lầu cũng chính Chúa Thánh Thần đến ban sự sống cho Thân Thể Mầu Nhiệm.
Như thế, Lễ Hiện Xuống là hoa trái do lời cầu nguyện liên lỉ của Đức Trinh Nữ Rất Thánh, lời cầu đó được Chúa Thánh Thần đặc cách chấp thuận vì nó bày tỏ tình yêu mẫu tử của Bà đối với các môn đệ của Chúa.
Đức Maria có một ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đoàn đầu tiên
5. Đáp trả lời cầu của Đức Trinh Nữ Rất Thánh và của cộng đoàn nhóm họp trên Căn Lầu trong ngày Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần ban đầy tràn ân huệ của Người cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh và những người hiện diện, tạo nên một biến đổi sâu sắc trong họ hướng tới việc truyền bá Tin Mừng. Mẹ Chúa Kitô và các môn đệ Người được ban cho sức mạnh mới và năng lực tông đồ mới để phát triển Giáo Hội. Cách riêng, ơn Chúa Thánh Thần được đổ xuống giúp Đức Maria thi hành chức làm Mẹ thiêng liêng của Bà một cách khác thường, qua sự hiện diện thấm nhuần đức ái và qua chứng tá đức tin của Bà.
Trong Giáo Hội mới sinh, Đức Maria truyền thông cho các môn đệ những kỷ niệm của Bà về mầu nhiệm Nhập Thể, về tuổi thơ ấu về đời sống ẩn dật và về sứ mạng của Người Con Thiên Chúa của Bà, một kho tàng quý giá, nhờ vậy Bà giúp họ biết Chúa hơn và giúp tăng cường đức tin người tín hữu.
Chúng ta không có được thông tin nào về hoạt động của Đức Maria trong Giáo Hội sơ khai, nhưng chúng ta có thể giả định rằng sau Lễ Hiện Xuống, Bà vẫn tiếp tục sống ẩn dật và kín đáo, thận trọng và hiệu năng. Vì Đức Maria được soi sáng và hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, nên Bà gây được ảnh hưởng sâu rộng trên cộng đoàn môn đệ Chúa.
admin
13-09-2006, 09:00 PM
53. ĐỨC MARIA VÀ THẢM CẢNH SỰ CHẾT CỦA CON NGƯỜI
(Osservatore Romano số 27 ngày 02/07/1997-
Thứ Tư, 25/06/1997)
Được kết hợp chặt chẽ với công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, nên điều xứng hợp là Đức Maria phải chia sẻ kinh nghiệm chết trước khi dự phần sự Phục Sinh.
1. Khi nói về sự chấm dứt cuộc đời trần thế của Đức Maria Công Đồng dùng những từ ngữ của sắc lệnh định tín mầu nhiệm Mông Triệu Thăng Thiên và tuyên bố: "Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết nhơ nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác" (LG 59b). Phát biểu công thức này, hiến chế Lumen Gentium, đi theo Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi là Đức Piô XII, không nói gì về cái chết của Đức Maria. Tuy nhiên, Đức Piô XII không có ý chối bỏ cái chết thực tế của Đức Maria, Ngài chỉ cho là chưa đúng lúc để long trọng quả quyết cái chết của Mẹ Thiên Chúa như là một chân lý mọi người tín hữu phải chấp nhận.
Chúa Kitô đã dùng cái chết như phương tiện cứu rỗi
Nhiều nhà thần học thực tế chủ trương rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh không chết và được đưa ngay lập tức từ cuộc sống trần gian đến vinh quang trên trời. Tuy nhiên, quan điểm đó không được phổ biến mãi cho đến thế kỷ 17, nhưng hiện nay một truyền thống chung lại công nhận rằng cái chết Đức Maria có nghĩa là Người đi vào vinh quang trên trời.
2. Đức Maria thành Nadaret có thể trải qua thảm kịch sự chết nơi thân xác của Người không? Suy nghĩ về số phận Đức Maria và mối liên hệ của Người đối với Con Thiên Chúa của mình, thì trả lời khẳng định là điều chính đáng: là vì Chúa Kitô đã chết nên khó mà chủ trương sự nghịch lại đối với Mẹ Người.
Các Giáo Phụ, vì không nghi ngờ về điều này, nên đã lý luận theo những chiều hướng này. Chỉ cần trưng dẫn thánh Giacóp thành Sarug (+521), thánh nhân viết rằng khi thời gian tới để Đức Maria "ra đi trên con đường của mọi thế hệ" có nghĩa là con đường sự chết thì "nhóm 12 tông đồ" qui tụ lại để chôn "xác đồng trinh của Đấng được Chúc Phúc" (Discourse of the burial of the Holy Mother of God 87-99 In C. Vona, Lateranum 19 [1953], 188). Thánh Modestus thành Giêrusalem (+634), sau khi tranh luận lâu dài về "sự yên giấc diễm phúc nhất của Người Mẹ rất vinh hiển của Thiên Chúa", kết thúc bài ca ngợi bằng cách tán dương sự can thiệp kỳ diệu của Chúa Kitô, Đấng "cho Bà chỗi dậy khỏi mồ" để đưa Bà tới vinh quang với Mình (Enc. in dormitionem Deiparae semperque Virginis Mariae, nn. 7 and 14: PG 86 bis, 3293; 3311). Còn Thánh Gioan Đamascênô (+704) đặt câu hỏi: "Tại sao Đấng khi sinh con đã vượt trên mọi hạn giới của thiên nhiên, bây giờ lại khuất phục luật thiên nhiên, và thân xác vẹn sạch của Người phải lụy phục sự chết?" Rồi thánh nhân trả lời: "Để được mặc áo bất tử, dĩ nhiên cái phần phải chết cần được lột bỏ, vì chính Đấng chủ tể vạn vật không từ chối trải qua cái chết. Thật vậy, Người đã chết theo xác thịt và lấy cái chết trị cái chết; đem cái không thối nát thay cho sự thối nát và biến sự chết thành nguyên nhân sự sống lại". (Panegyric on the Dormition of the Mother of God, n. 10: SC 80, 107).
3. Thật sự trong Mặc Khải, sự chết được diễn tả như là hình phạt tội lỗi. Dầu vậy, sự kiện Giáo Hội tuyên bố Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội do đặc ân duy nhất Thiên Chúa ban, không cho phép chúng ta kết luận rằng Người được sự bất tử về thể lý. Người Mẹ không cao trọng hơn Người Con, Đấng đã chịu chết để ban cho sự chết một ý nghĩa mới và biến nó thành một phương tiện cứu rỗi. Thông phần vào công trình cứu rỗi và dự vào hy lễ cứu độ của Chúa Kitô, Đức Maria có khả năng chia sẻ những đau khổ và sự chết vì lợi ích cứu rỗi nhân loại. Điều mà thánh Severus Thành Antiokia nói về Chúa Kitô, thì cũng áp dụng cho Đức Maria :"Không có sự chết trước, làm sao có sự Phục Sinh?" (Antijulianistica, Beirut 1931, 194f.). Muốn chia sẻ sự Phục Sinh của Chúa Kitô, Đức Maria cần chia sẻ trước sự chết của người.
4. Tân Ước không cung cấp thông tin về những gì đã xảy ra xung quanh cái chết của Đức Maria. Sự thinh lặng đó giả thiết rằng sự chết đến cách tự nhiên, không có chi tiết nào đặc biệt đáng lưu ý. Nếu không phải vậy, thì tại sao thông tin về điều ấy lại giấu các người và đồng thời không được chuyển tới chúng ta, bằng cách nào đó?
Còn về nguyên nhân cái chết của Đức Maria, những ý kiến cho rằng Đức Maria không chết do những nguyên nhân tự nhiên, là thiếu cơ sở. Điều quan trọng hơn là tìm hiểu thái độ thiêng liêng của Đức Nữ Trinh chính lúc Người ra khỏi đời này. Thánh Phanxicô đệ Salêsiô chủ trương rằng cái chết của Đức Maria là do một xúc cảm mạnh của tình yêu. Thánh nhân nói về cái chết "trong tình yêu, do tình yêu và vì tình yêu", nên cả quyết Đức Mẹ Chúa Trời chết vì tình yêu Con mình là Chúa Giêsu" (Treatise on the Love of God, bk. 7, ch. XIII-XIV).
Cái chết của Đức Maria là một biến cố tình yêu
Từ phương diện thể lý, dù là nguyên nhân hữu cơ, sinh vật học là nguyên nhân chấm dứt sự sống thân xác của Đức Maria, cũng có thể nói rằng đối với Người, đi từ sự sống này qua sự sống bên kia là sự phát triển đầy đủ ân sủng trong vinh quang, đến nỗi không có cái chết nào có thể diễn tả đúng là "giấc ngủ" như cái chết của Đức Maria.
5. Trong một vài thủ bản của các Giáo Phụ, chúng ta thấy Chúa Giêsu đến rước Mẹ mình trong giờ chết, để đem Người về hưởng vinh quang Thiên Đàng. Như vậy, các Giáo Phụ trình bày sự chết của Đức Maria như là một biến cố tình yêu dẫn đưa Người đến với Người Con Thiên Chúa của mình, để chia sẻ sự sống bất tử của Người Con. Lúc chấm dứt cuộc sống dương thế, Đức Maria phải cảm nghiệm, như thánh Phaolô và còn mãnh liệt hơn nữa, lòng ước muốn giải thoát khỏi thân xác ngõ hầu ở với Chúa luôn mãi (x. Pl 1,23).
Kinh nghiệm sự chết làm giàu cá nhân Đức Nữ Trinh: do trải qua vận mạng chung của loài người, Đức Mẹ có thể thi hành cách hiệu năng hơn thiên chức làm Mẹ thiêng liêng đối với những ai chạy đến cùng Người trong giờ sau hết cuộc đời mình.
admin
13-09-2006, 09:04 PM
54. GIÁO HỘI TIN SỰ QUY THIÊN CỦA ĐỨC MARIA
(Osservatore Romano số 28 ngày 09/07/1997-
Thứ Tư, 02/07/1997)
Giáo Hội dạy rằng Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm, nhờ đặc ân riêng, được đưa cả xác lẫn hồn về hưởng vinh quang Thiên đàng sau khi chấm dứt cuộc sống trần thế này.
1. Theo Sắc Lệnh Munificentissimus Deus của vị Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi là Đức Piô XII. Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm "được đưa cả xác lẫn hồn về hưởng vinh quang Thiên đàng, sau khi cuộc sống trần thế của Người chấm dứt" (LG 59).
Các Nghị Phụ Công Đồng muốn nhấn mạnh rằng Đức Maria, không như những kitô hữu khác chết trong ân sủng Thiên Chúa, đã được đưa vào vinh quang Thiên đàng với cả thân xác của Người. Niềm tin có từ thời xưa này, được mô tả trong một truyền thống tạc tượng lâu đời, cho thấy Đức Maria "đi vào" thiên đàng với cả thân xác của Người.
Tín điều Quy Thiên (Hồn Xác Lên Trời) khẳng định rằng thân xác của Đức Maria được tôn vinh sau khi chết. Thật vậy, đối với những người khác thì sự sống lại chỉ xảy ra sau ngày thế mạt, còn với Đức Maria, thân xác đã được tôn vinh trước nhờ một đặc ân.
2. Ngày 1 tháng 11 năm 1950 khi công bố tín điều Quy Thiên, Đức Piô XII tránh dùng từ ngữ "sống lại" và không chủ trương coi sự chết của Đức Maria là một chân lý đức tin. Sắc Lệnh Munificentissiums Deus chỉ quả quyết thân xác Đức Maria được nâng cao tới vinh quang Thiên đàng và công bố chân lý này là một "tín điều được Thiên Chúa mặc khải".
Niềm tin mau chóng lan rộng từ Đông sang Tây
Làm sao chúng ta có thể không thấy việc Quy Thiên của Đức Nữ Trinh Rất Thánh đã luôn nằm trong đức tin của dân kitô hữu, vì khi quả quyết Đức Mẹ đi vào vinh quang Thiên đàng, là họ đã có ý tuyên xưng thân xác Người cũng được tôn vinh?
Dấu tích đầu tiên chứng tỏ niềm tin vào việc Đức Mẹ Quy Thiên có thể gặp thấy trong những trình thuật ngụy thư có tên là Transitus Mariae (Đức Maria sang ngang), phát xuất từ thế kỷ thứ hai và thứ ba. Đây là những miêu tả bình dân và đôi khi có tính lãng mạn, nhưng nó lại chứng tỏ một trực giác đức tin về phía dân Thiên Chúa.
Về sau, có một thời gian dài, người ta tiếp tục suy nghĩ về vận mạng của Đức Maria bên kia thế giới. Điều này lần lần dẫn đưa người tín hữu đến chỗ tin về sự chỗi dậy vinh hiển của Mẹ Chúa Giêsu, cả thân xác cũng như linh hồn, và thúc đẩy việc thiết lập bên Đông Phương, những ngày lễ kính nhớ sự An Giấc và Quy Thiên của Đức Maria.
Niềm tin vào vận mạng vinh hiển của thân xác và linh hồn Mẹ Thiên Chúa sau khi Người chết, lan rộng nhanh chóng từ Đông Phương sang Tây Phương, và lan rộng khắp từ thế kỷ thứ 14. Trong thế kỷ chúng ta, áp ngày quyết định tín điều này, thì đã là một chân lý được cộng đoàn kitô hữu ở khắp mọi ngõ ngách thế gian này chấp nhận và tuyên xưng một cách gần như phổ quát vậy.
3. Do đó, tháng 5 năm 1946 Đức Piô XII đã ra Thông Điệp Deiparae Virginis Mariae (Đức Maria đồng trinh Mẹ Thiên Chúa), kêu mời tham khảo ý kiến rộng rãi, yêu cầu các Giám Mục và qua các ngài, yêu cầu hàng giáo sĩ và dân Chúa, cho biết có thể hay có nên quyết định sự kiện xác Đức Maria được đưa về trời như là một tín điều hay không. Kết quả hết sức tích cực: Chỉ có 6 trên 1.181 câu trả lời là còn dè dặt về tính chất mặc khải của sự thật này.
Trích dẫn sự kiện này, Sắc Lệnh Munificentissimus Deus tuyên bố: "Vì Huấn Quyền thường xuyên trong Giáo Hội nhất trí chung, chúng ta có được một bằng chứng vững chắc chứng tỏ việc Đức Nữ Trinh Rất Thánh được đưa lên trời cả xác... là một sự thật Thiên Chúa mặc khải, cho nên tất cả con cái của Giáo Hội phải tin vững vàng và trung thành" (Apostolic Constitution Munificentissimus Deus AAS 42 (1950), 757).
Sự định tín tín điều này phù hợp với niềm tin chung của dân Chúa, dứt khoát loại trừ mọi nghi ngờ và kêu gọi mọi người tín hữu tán thành công khai.
Sau khi nhấn mạnh đến niềm tin hiện giờ của Giáo Hội đối với việc Đức Maria Quy Thiên, Sắc Lệnh nhắc lại nền tảng Kinh Thánh về chân lý này.
Mặc dầu Tân Ước không khẳng định rõ rệt Đức Maria Quy Thiên nhưng cũng xây dựng nền tảng cho sự kiện đó, là vì Tân Ước nhấn mạnh Đức Nữ Trinh Rất Thánh hợp nhất hoàn toàn với vận mạng của Chúa Giêsu. Được bày tỏ từ lúc mang thai lạ lùng Đấng Cứu Thế, trong việc Người Mẹ tham gia vào sứ mạng Con mình và đặc biệt trong sự hợp tác với công cuộc cứu rỗi của Người Con, sự hợp nhất này không thể không đòi hỏi phải tiếp tục sau cái chết. Hoàn toàn hợp nhất với sự sống và công trình cứu độ của Chúa Giêsu, Đức Maria chia sẻ vận mạng Thiên đàng cả hồn lẫn xác với Con mình.
Việc Quy Thiên là kết quả của việc Đức Maria chia sẻ Thánh Giá
Sắc Lệnh Munificentissimus Deus được trưng dẫn ở trên ám chỉ sự tham gia của Người Nữ Tiền Tin Mừng vào cuộc chiến chống lại con Rắn, nhìn nhận Đức Maria là Bà Eva mới, và giới thiệu việc Quy Thiên là hệ quả việc Đức Maria hợp nhất với công trình cứu chuộc của Chúa Kitô. Theo cái nhìn này, Sắc Lệnh nói: "Bởi thế, cũng như sự Phục Sinh vinh hiển của Chúa Kitô là một phần cơ bản và là một dấu chỉ cuối cùng của chiến thắng này, thì trận chiến chung của Đức Nữ Trinh Rất Thánh và Con mình sẽ chấm dứt bằng sự vinh quang hoá thân xác trinh khiết của Người" (Apostolic Constitution Munificentissimus Deus AAS 42 (1950) 768).
Cho nên Quy Thiên là điểm cao nhất của trận chiến đòi hỏi phải có tình yêu quảng đại của Đức Maria trong việc cứu chuộc nhân loại và là kết quả sự chia sẻ duy nhất của Bà trong cuộc chiến thắng nhờ Thánh Giá.
admin
18-09-2006, 10:05 PM
55. ĐỨC MARIA LÀ THỤ TẠO ĐẦU TIÊN VUI HƯỞNG SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
(Osservatore Romano số 29 ngày 16/07/1997-
Thứ Tư, 09/07/1997)
Với tư cách là Eva mới, ngồi bên cạnh Chúa Kitô, Ađam mới, Đức Maria là con người đầu tiên vui hưởng vinh quang cõi trời, đã hứa ban cho tất cả những ai được tuyển chọn.
1. Truyền thống kiên định và đồng thuận của Giáo Hội cho thấy việc Đức Maria Quy Thiên là một phần trong chương trình của Thiên Chúa và có nền tảng trong sự chia sẻ duy nhất của Bà với sứ mạng của Con mình. Trong thập kỷ đầu, các tác giả thánh đã nói theo chiều hướng đó.
Những chứng từ, tuy chưa phát triển đầy đủ, có thể tìm gặp được nơi thánh Ambrôsiô, thánh Epiphanius và Timôthê thành Giêrusalem. Thánh Germanus I thành Constantinople (+730), đặt những lời nói này trên môi miệng Chúa Giêsu khi Người chuẩn bị rước Mẹ Người về trời: "Mẹ phải ở nơi Con ở, hỡi Người Mẹ không bao giờ xa cách Con." (Hom. 3 in Dormitionem, PG 98, 360).
Hơn nữa, cũng truyền thống Giáo Hội đó nhìn nhận chức làm Mẹ Thiên Chúa là nền tảng của sự Quy Thiên.
Chúng ta có được một dấu tích thú vị về niềm xác tín này trong tường thuật ngụy thư thế kỷ thứ 5, gán cho tác giả Pseudo- Melito. Tác giả tưởng tượng Chúa Kitô hỏi Thánh Phêrô và các tông đồ về vận mạng nào xứng đáng cho Đức Maria, và đây là câu trả lời cho Người: "Lạy Chúa, Chúa đã chọn người tớ nữ của Chúa như là một nơi tinh khiết cho Chúa ngự. Cho nên chúng con, những tên đầy tớ Chúa, cho là hợp lý nếu như Chúa đã hiển trị sau chiến thắng sự chết thì Chúa nên cho thân xác Mẹ của Chúa chỗi dậy và rước Người về trời hưởng niềm vui với Chúa" (Transitus Mariae 16 PG 5, 1238). Có thể nói rằng chức làm Mẹ Thiên Chúa, đã biến thân xác Đức Maria thành nơi tinh khiết cho Chúa ngự, chính là nền tảng cho vận mạng vinh hiển của Người.
Sự không mắc tội nguyên tổ đòi buộc vinh thăng cho Người
2. Thánh Germanus trong một văn bản đầy chất thơ xác nhận rằng, tình Chúa Giêsu yêu Mẹ mình, đòi hỏi Đức Mẹ phải được kết hợp với Người Con thần linh của mình trên trời: "Cũng như đứa con tìm kiếm và mong sự hiện diện của mẹ và bà mẹ thích thú ở bên con, thì điều thích hợp là Bà, kẻ yêu Con và Chúa mình với tình mẫu tử, phải trở về với Người. Và không đúng sao, trong bất cứ cảnh ngộ nào, nếu Chúa, Đấng yêu Mẹ thật sự, rước Mẹ về đoàn tụ với Mình?" (Hom. 1 in Dormitionem, PG 98, 347). Trong bản văn khác, vị tác giả đáng kính hoà trộn chiều kích riêng tư của mối tương quan giữa Chúa Kitô và Đức Maria với chiều kích cứu độ của thiên chức làm Mẹ khi chủ trương rằng: "Mẹ sự Sống phải chia sẻ nơi ở của sự Sống" (Sđd. PG 98, 348).
3. Theo ý kiến của một số Giáo Phụ Giáo Hội, một bằng chứng khác về đặc ân Quy Thiên rút ra từ việc Đức Maria chia sẻ trong công cuộc Cứu Chuộc. Thánh Gioan Damascênô lưu ý tương quan giữa sự kiện Người tham gia vào sự Thương Khó và vận mạng vinh hiển của Người: "Đấng đã nhìn Con mình trên Thánh Giá và đã nhận lãnh lưỡi gươm sầu bi trong đáy lòng mình... thì đáng nhìn thấy Con mình ngồi bên hữu Thiên Chúa Cha" (Hom. 2, PG 96, 471). Trong ánh sáng mầu nhiệm Phục Sinh, ai cũng thấy rõ là Mẹ phải được tôn vinh với Con mình sau giờ chết.
Công Đồng Vaticanô II, khi nhắc lại mầu nhiệm Quy Thiên trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, hướng sự chú ý về đặc ân Vô Nhiễm Thai: Chính vì được "giữ khỏi mọi vết nhơ tội nguyên tổ" (LG 59), mà Đức Maria không thể nằm trong tình trạng sự chết như bao nhiêu kẻ khác cho đến tận thế. Sự không nhiễm tội nguyên tổ và sự thánh thiện hoàn toàn của Người ngay từ lúc đầu hiện hữu của Người đòi buộc phải tôn vinh xác và hồn của Mẹ Thiên Chúa.
4. Nhìn ngắm mầu nhiệm Quy Thiên của Đức Trinh Nữ Rất Thánh, chúng ta có thể hiểu chương trình của Chúa Quan Phòng đối với nhân loại: Sau Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Đức Maria là người đầu tiên hoàn thành lý tưởng cánh chung, hưởng trước sự tràn đầy hạnh phúc hứa cho những kẻ được tuyển chọn khi thân xác sống lại.
Trong sự Quy Thiên của Đức Trinh Nữ Rất Thánh, chúng ta có thể thấy Chúa muốn thăng tiến người nữ.
Tương tự như đã xảy ra từ lúc khởi đầu nhân loại và lịch sử cứu rỗi, lý tưởng cánh chung trong chương trình của Thiên Chúa, không phải biểu lộ nơi một cá nhân, nhưng nơi một đôi nam nữ. Như vậy thì trong vinh quang thiên đàng, bên cạnh Chúa Kitô Phục Sinh cũng có một người nữ đã được cho chỗi dậy là Đức Maria: Ađam mới và Eva mới, những hoa trái đầu tiên của sự phục sinh toàn thể những thân xác của cả nhân loại.
Địa vị cánh chung của Chúa Kitô và Đức Maria, dĩ nhiên, không được đặt ngang hàng với nhau. Đức Maria, Eva mới, nhận lãnh từ Chúa Kitô, Ađam mới, sự tràn đầy ân sủng và vinh quang thiên đàng, sau khi chỗi dậy nhờ Chúa Thánh Thần qua quyền năng tối cao của Người Con.
Sự Quy Thiên chứng tỏ giá trị của thân xác loài người
5. Mặc dầu vắn tắt, các điều nói trên cho phép chúng ta nêu rõ sự Quy Thiên của Đức Maria chứng minh tính cao quý và chân giá trị của thân xác loài người.
Đứng trước cảnh ô dâm và hạ giá mà xã hội ngày nay bắt thân xác người phụ nữ phải gánh chịu, thì mầu nhiệm Quy Thiên tuyên bố tính cao quý siêu nhiên và phẩm giá của mọi thân xác con người, được Thiên Chúa mời gọi nên dụng cụ cho sự thánh thiện và được chia sẻ vinh quang của Người.
Đức Maria đi vào vinh quang vì Người đón tiếp Con Thiên Chúa trong dạ đồng trinh của mình và trong tâm hồn mình. Nhìn vào Đức Mẹ, người kitô hữu học khám phá giá trị thân xác mình và gìn giữ nó như đền thờ của Thiên Chúa đang khi chờ ngày chỗi dậy. Quy Thiên là một đặc ân cho Mẹ Thiên Chúa, như vậy nó cũng có giá trị rất lớn đối với đời sống và vận mạng của nhân loại.
admin
18-09-2006, 10:08 PM
56. NGƯỜI KITÔ HỮU NHÌN LÊN ĐỨC NỮ HOÀNG MARIA
(Osservatore Romano số 31 ngày 30/07/1997-
Thứ Tư, 23/07/1997)
Địa vị Nữ Hoàng của Đức Maria không những đặt nền tảng trên chức làm Mẹ Thiên Chúa nhưng còn trên sự hợp tác với Con Bà trong công trình cứu chuộc.
1. Lòng sùng kính bình dân kêu cầu Đức Maria như là vị Nữ Hoàng. Sau khi nhắc lại Đức Nữ Trinh Rất Thánh được rước về trời "cả xác lẫn hồn", Công Đồng giải thích rằng: Đức Maria "được Chúa tôn phong Nữ Hoàng trên mọi sự, ngõ hầu Bà được phù hợp trọn vẹn với Con mình là Chúa các Chúa (x. Kh 19, 16) và là Đấng chiến thắng sự tội và sự chết (LG 59).
Thật vậy, khởi đầu từ thế kỷ thứ 5, gần như cùng thời kỳ Công Đồng Ephêsô tuyên bố Người: "là Mẹ Thiên Chúa", người ta bắt đầu dâng tặng Người chức Nữ Hoàng. Khi nhìn nhận phẩm giá cao cả của Người, dân kitô hữu muốn đặt Người trên mọi tạo vật, đề cao vai trò và tầm quan trọng của Người trong đời sống của từng cá nhân và của cả thế giới.
Nhưng có một mảng bài giảng mà người ta cho là của ông Origen chứa đựng chú giải này về những lời Bà Elisabeth nói trong ngày Thăm Viếng "Chính tôi phải đi thăm em vì em là Bà Chúa của chị" (Fragment, PG 13, 1902 D). Bản văn đi tự nhiên từ cách nói "Mẹ của Chúa tôi" sang qua tước hiệu "Bà Chúa tôi", nói trước cái điều mà thánh Gioan Damasceno sẽ nói sau, tặng cho Đức Maria cái danh hiệu là "Nữ Hoàng": "Khi Ngài biến thành Mẹ của Đấng Sáng Tạo thì Ngài thật sự trở nên Nữ Hoàng của mọi loài" (De fide orthodoxa 4, 14 PG 94, 1157).
Chức Nữ Hoàng của Đức Maria không thay thế vai trò Mẹ của Người
2. Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi là Đức Piô XII, trong Thông Điệp Ad coeli Reginam, cơ sở tham khảo cho bản văn của Hiến Chế Lumen Gentium, chỉ rõ nền tảng chức Nữ Hoàng cũng như chức làm Mẹ của Đức Maria, là sự hợp tác của Người trong công cuộc Cứu Thế. Thông Điệp nhắc lại bản văn phụng vụ: "Đức Maria, Nữ Hoàng trên trời và Nữ Vương dưới đất, đứng âu sầu dưới chân Thánh Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (AAS 46, 1954, 634). Rồi Thông Điệp nêu lên sự tương tự giữa Đức Maria và Chúa Kitô điều đó giúp chúng ta hiểu ý nghĩa địa vị hoàng gia của Đức nữ Trinh Rất Thánh. Đức Kitô là Vua không những vì Người là Con Thiên Chúa, nhưng còn vì Người là Đấng Cứu Thế. Đức Maria là Nữ Hoàng, không những vì Người là Mẹ Thiên Chúa, nhưng còn vì Người, được ví như Bà Eva mới liên kết với Ađam mới, đã cộng tác trong công trình cứu chuộc loài người (AAS 46 [1954] 635).
Trong Tin Mừng Thánh Maccô, chúng ta đọc rằng, trong ngày lễ Thăng Thiên, Chúa Giêsu "được rước về trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (16, 19). Theo từ ngữ Kinh Thánh "ngự bên hữu Thiên Chúa" có nghĩa là chia sẻ quyền tối thượng của Người. Khi ngự "bên hữu Chúa Cha", Người thiết lập Nước của Người, Nước Thiên Chúa. Được rước về trời, Đức Maria được dự phần quyền năng của Con mình và hiến mình mở mang Nước Chúa, góp phần phổ biến ân sủng Thiên Chúa trong thế giới.
Nhìn vào sự tương tự giữa biến cố Thăng Thiên của Chúa Kitô và sự Quy Thiên của Đức Maria, chúng ta có thể kết luận rằng Đức Maria, tùy thuộc vào Chúa Kitô, là Nữ Hoàng, sở hữu và thực hành trên toàn thể vũ trụ một vương quyền do Con mình ban cho.
3. Tước hiệu Nữ Hoàng dĩ nhiên không thay thế tước hiệu Mẹ: Chức Nữ Hoàng là kết quả tất yếu của sứ mạng làm Mẹ đặc biệt của Đức Mẹ và chỉ diễn tả cái quyền năng ban cho Người để làm tròn sứ mạng.
Trưng dẫn Sắc Lệnh Ineffabilis Deus của Đức Piô IX, Đức Giáo Hoàng nêu cao chiều kích hiền mẫu của chức Nữ Hoàng của Đức Trinh Nữ Rất Thánh: "có lòng yêu thương như Mẹ đối với chúng ta và chăm lo cho phần rỗi chúng ta, Đức Maria mở rộng sự săn sóc của Người đến toàn thể nhân loại. Được Thiên Chúa đặt làm Nữ Hoàng trên trời dưới đất, được nâng cao trên hết các Thiên Thần và toàn thể phẩm trật các Thánh trên Thiên đàng, ngự bên hữu Con duy nhất của mình, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, chắc chắn Đức Maria đạt được điều Người xin với những kinh nguyện hiền mẫu của mình; Người đạt được điều Người tìm kiếm và điều đó không thể bị từ chối đối với Người" (x. AAS 46 [1954] 636-637).
Đức Maria là Nữ Hoàng trao tặng hết gì Người có
4. Bởi đó, những người kitô hữu nhìn lên Nữ Hoàng Maria với lòng tin tưởng và điều này không những không làm giảm mà còn nêu cao sự tín thác con thảo đối với Người, là người Mẹ trên bình diện ân sủng.
Thật vậy, sự chăm sóc mà Đức Nữ Hoàng Maria dành cho loài người có thể có kết quả đầy đủ chính nhờ địa vị vinh hiển của Người xuất phát từ sự Quy Thiên. Thánh Germanus 1 thành Constantinople làm nổi bật điểm này rất đặc sắc. Thánh nhân cho rằng địa vị này bảo đảm sự quan hệ thân mật giữa Đức Maria với Con mình và cho phép Người cầu bàu cho chúng ta được nhờ. Thánh nhân thưa với Đức Maria: Chúa Kitô muốn "có sự gần gũi với môi miệng và con tim của Me nói được là vậỵ; như vậy Người chấp thuận mọi ước muốn Mẹ tỏ bày với Người khi Mẹ chịu đau khổ cho con cái Mẹ, với quyền năng Thần linh Người làm mọi điều Mẹ xin Người" (Hom. 1 PG 98, 348).
5. Ta có thể kết luận rằng việc Quy Thiên làm thuận lợi sự hiệp thông đầy đủ của Đức Maria, không những với Chúa Kitô mà còn với mỗi người chúng ta: Mẹ ở bên chúng ta bởi vì địa vị vinh hiển của Mẹ cho phép Mẹ dõi theo chúng ta trong cuộc hành trình hằng ngày của chúng ta trên dương gian. Cũng như chúng ta đọc thấy lần nữa nơi thánh Germanus: "Mẹ ở cách thiêng liêng với chúng con và sự chăm nom cao cả của Mẹ đối với chúng con làm nổi bật mối hiệp thông của đời sống Mẹ với chúng con. (Hom. 1 PG 98, 344).
Như vậy, thay vì tạo nên quãng cách giữa Mẹ và chúng ta, địa vị vinh hiển của Mẹ mang lại một sự gần gũi liên tục và đầy yêu thương. Mẹ biết tất cả những gì xảy ra trong đời sống chúng ta và nâng đỡ chúng ta với tình yêu mẫu tử trong các cơn thử thách ở đời.
Được đưa vào hưởng vinh quang Thiên đàng, Đức Maria tự hiến hoàn toàn cho công cuộc cứu rỗi, ngõ hầu truyền đạt cho mọi người đang còn sống niềm hạnh phúc đã được ban cho Mẹ. Mẹ là một Nữ Hoàng, trao tặng tất cả những gì mình có, thông phần hơn ai hết trong sự sống và tình yêu của Chúa Kitô.
admin
19-09-2006, 06:52 AM
57. ĐỨC MARIA LÀ THÀNH PHẦN ƯU VIỆT CỦA GIÁO HỘI
(Osservatore Romano số 32 ngày 06/08/1997-
Thứ Tư, 30/07/1997)
Đức Mẹ sử dụng sự thánh thiện cá nhân của mình để phục vụ người tín hữu như là một sự nâng đỡ không thể thiếu sót cho mỗi kitô hữu trong trận chiến đấu chống lại tội lỗi.
1. Vai trò ngoại lệ của Đức Maria trong công trình cứu chuộc, kêu mời chúng ta đào sâu mối tương quan hiện hữu giữa Người và Giáo Hội.
Một số người cho rằng Đức Maria không thể được coi là thành viên của Giáo Hội, vì những đặc ân của Người, như sự Vô Nhiễm Thai, chức làm Mẹ Thiên Chúa và sự kiện Người hợp tác cách độc đáo vào công trình cứu chuộc, đặt Người trong một địa vị trỗi vượt sánh với cộng đoàn tín hữu.
Dầu vậy, Công Đồng Vatican II không nghi ngại giới thiệu Đức Maria như là một thành viên Giáo Hội, nhưng cũng ghi rõ Người "là thành viên ưu việt và độc nhất vô nhị" (LG 53): Đức Maria là nhân vật điển hình của Giáo Hội, là gương mẫu, là Mẹ của Giáo Hội. Tuy khác với mọi người tín hữu khác, do những ân huệ ngoại lệ Chúa ban cho. Đức Trinh Nữ Rất Thánh vẫn thuộc về Giáo Hội và được xưng hô đầy đủ là một thành viên.
Đức Maria sống hiệp thông với Con mình, hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.
2. Giáo thuyết Công Đồng gặp được nền tảng trong Kinh Thánh. Sách Công Vụ Tông Đồ nói Đức Maria hiện diện từ lúc khởi đầu cộng đoàn tiên khởi (x. Cv 1,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%201:14&FontSize=Txt10)), khi Người cùng với các môn đệ và một số nữ tín đồ mong mỏi cầu nguyện Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên họ.
Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, Đức Trinh Nữ Rất Thánh tiếp tục sống trong sự hiệp thông huynh đệ với cộng đoàn và dự phần trong kinh nguyện, lắng nghe các tông đồ giảng dạy, tham dự lễ bẻ bánh. tức là cử hành Bí tích Thánh Thể (x. Cv 2,42 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%202:42&FontSize=Txt10)).
Đức Maria đã sống hợp nhất khắng khít với Chúa Giêsu trong gia đình Nadaret, còn bây giờ, sống trong Giáo Hội hiệp thông mật thiết với Người Con, hiện diện trong Thánh Thể.
3. Vì là Mẹ Con Một Thiên Chúa, nên Đức Maria cũng là Mẹ của Cộng Đoàn hợp thành Thân Thể mầu nhiệm Chúa Kitô và dìu dắt những bước đầu tiên của Cộng Đoàn ấy.
Khi nhận lãnh sứ mạng này, Người được giao trách nhiệm khích lệ cuộc sống Giáo Hội qua sự hiện diện tình Mẹ và gương mẫu của Người. Sự liên đới này xuất phát từ sự kiện Người thuộc về cộng đoàn những kẻ được cứu chuộc. Thật vậy, không như Người Con, Đức Maria cần được cứu độ vì "thuộc dòng dõi Ađam, cũng đồng thời nên một với tất cả mọi người cần được cứu rỗi" (LG 53). Đặc ân Vô Nhiễm Thai gìn giữ Người khỏi vết nhơ tội lỗi nhờ uy thế đặc biệt của Chúa Cứu Thế.
Với tư cách là "thành viên ưu việt và độc nhất vô nhị của Giáo Hội", Đức Maria sử dụng những ân huệ Thiên Chúa ban cho để hoàn thành sự liên đới đầy đủ hơn với những anh chị em của Người Con Bà, mà bây giờ cũng là con cái Bà.
Đức Maria chia sẻ với các tín hữu sự vâng lời hiếu thảo và sự biết ơn chân thành.
4. Là một thành viên Giáo Hội, Đức Maria đầu tư sự thánh thiện cá nhân của mình, là hoa trái của ân sủng Chúa và của sự hợp tác trung thành của Người, để phục vụ anh chị em mình. Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm là một nguồn hỗ trợ không thể thiếu đối với mọi kitô hữu trong trận chiến chống lại tội lỗi, và là một khích lệ liên lĩ bảo họ sống như những kẻ được Chúa Kitô cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần thánh hoá, và như con cái Thiên Chúa Cha.
Là một thành viên của Cộng Đoàn đầu tiên, "Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu" (Cv 1,14) được mọi người kính nể và tôn vinh. Mỗi người hiểu rõ sự ưu việt của Người Mẹ đã sinh ra Con Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc muôn dân. Hơn nữa, đặc tính đồng trinh của chức làm Mẹ của Người cho phép Người góp phần lạ lùng vào thiện ích của Giáo Hội, thiện ích được tặng hiến do người biết từ bỏ sự thụ thai kiểu nhân loại vì vâng nghe Chúa Thánh Thần, để hoàn toàn hiến mình phục vụ Nước Thiên Chúa.
Được kêu gọi hợp tác mật thiết trong hy lễ của Con mình và trong ân huệ sự sống thần linh ban cho nhân loại, Đức Maria tiếp tục sứ vụ làm Mẹ của mình sau Lễ Hiện Xuống. Mầu nhiệm tình yêu chứa đựng trong Thánh Giá linh hứng lòng sốt sắng làm việc tông đồ của Người và trao cho Người trách nhiệm quảng bá Tin Mừng, với tư cách là thành viên của Giáo Hội.
Lời của Chúa Kitô chịu đóng đinh trên núi Golgotha: "Hỡi Bà, này là con của Bà" (Ga 19, 26), đã công nhận vai trò của Người là Mẹ chung cho mọi tín hữu, mở rộng chức làm Mẹ của Người ra đến những chân trời mới và bất tận. Ân ban của Chúa Thánh Thần được nhận lãnh trong ngày Hiện Xuống qua việc thi hành sứ mạng này, thúc đẩy Người lấy tình mẫu tử giúp đỡ tất cả những ai đang trên con đường hoàn thành Nước Thiên Chúa.
5. Là một thành viên ưu việt của Giáo Hội, Đức Maria sống trong tương quan có một không hai với Ba Ngôi Thiên Chúa Rất Thánh: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi gọi Đức Maria là "Mẹ của Con Thiên Chúa" và do đó là "Nữ Tử yêu mến của Chúa Cha và là đền thờ của Chúa Thánh Thần" (LG 53), Công Đồng nhắc tới hiệu quả chủ yếu của tình yêu nơi Chúa Cha, đó là chức làm Mẹ Thiên Chúa.
Ý thức ân huệ mình đã lãnh nhận, Đức Maria chia sẻ với các tín hữu những thái độ vâng phục con thảo và biết ơn chân tình, khích lệ mỗi người nhận biết những dấu chỉ lòng nhân lành của Thiên Chúa trong đời sống của chính mình.
Công Đồng sử dụng kiểu nói "đền thờ" (sacrarium) của Chúa Thánh Thần, có ý nhấn mạnh mối liên kết của sự hiện diện, của tình yêu và của sự cộng tác hiện hữu giữa Đức Trinh Nữ Rất Thánh và Chúa Thánh Thần. Đức Trinh Nữ Rất Thánh, đã được Thánh Phanxicô thành Assisi gọi là "cô dâu của Chúa Thánh Thần" (Antiphon "Sancta Maria Vergine" in: Fonti Francescane, 281), nhờ gương sáng của mình, thúc giục những thành phần khác trong Giáo Hội biết quảng đại phó thác mình cho hoạt động của Đấng An Ủi, và sống với Người trong sự hiệp thông vững bền của tình yêu.
admin
19-09-2006, 06:57 AM
58. ĐỨC MARIA LÀ HÌNH ẢNH NỔI BẬT CỦA GIÁO HỘI
(Osservatore Romano số 33-34 ngày 13-20/08/1997-
Thứ Tư, 06/08/1997)
Sự trọn lành Chúa ban cho Đức Maria đạt ý nghĩa đích thật nhất nếu được giải thích như là màn mở đầu cho sự sống thần linh trong Giáo Hội.
1. Hiến chế tín lý Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II, sau khi trình bày Đức Maria như là "chi thể ưu việt và độc nhất vô nhị của Giáo Hội", tuyên bố Người là "mẫu mực và gương sáng phi thường của Giáo Hội trên phương diện đức tin và đức ái" (LG 53).
Các Nghị Phụ gán cho Đức Maria nhiệm vụ làm "mẫu mực", nghĩa là hình ảnh "của Giáo Hội", từ được mượn của Thánh Ambrosiô. Chính thánh nhân phát biểu như thế trong bài bình luận về biến cố Truyền Tin: "Phải, Đức Maria là người có chồng nhưng lại là kẻ đồng trinh vì Bà là mẫu mực của Giáo Hội không tỳ ố nhưng lại là cô dâu: là một kẻ đồng trinh, Bà đã cưu mang chúng ta bởi Chúa Thánh Thần; là một kẻ đồng trinh Bà đã sinh ra chúng ta mà không đau đớn gì" (In Ev. sec. Luc II, 7, CCL, 14, 33, 102-106). Như thế Đức Maria là mẫu mực của Giáo Hội do sự thánh thiện vẹn sạch, do đức đồng trinh, do sự đính hôn và chức làm Mẹ của Người.
Thánh Phaolô sử dụng tiếng "mẫu mực" để mặc cho một thực tại thiêng liêng một hình thức nhìn thấy được. Thực vậy, trong biến cố vượt qua Biển Đỏ của dân Ít-ra-en, Người nhìn thấy một "mẫu mực" hay là một hình bóng phép Rửa Tội Kitô giáo, và trong bánh Manna hay trong dòng nước chảy vọt ra từ tảng đá, Người thấy một "mẫu mực" hay là hình bóng của ăn và thức uống Thánh Thể (x. 1 Cr 10,1-10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr%2010:1-10&FontSize=Txt10)).
Khi định rõ Đức Maria là mẫu mực của Giáo Hội, Công Đồng mời gọi chúng ta nhìn thấy nơi Người hình ảnh khả kiến của thực tại thiêng liêng của Giáo Hội, và thấy trong chức làm Mẹ không tì ố của Người sự loan báo chức làm Mẹ đồng trinh của Giáo Hội.
Trong Đức Maria, thực tại thiêng liêng được loan báo đã hoàn thành trọn vẹn
2. Cần giải thích rằng, không như những hình ảnh hay mẫu mực Cựu Ước chỉ là những hình bóng của những thực tại ngày sau, nơi Đức Maria, thực tại thiêng liêng được biểu thị đã hiện diện một cách trổi vượt.
Cuộc vượt Biển Đỏ được mô tả trong sách Xuất Hành là một biến cố cứu thoát giải phóng, nhưng chắc chắn không phải là một phép rửa có sức tha tội và ban sự sống mới. Cũng vậy, manna, một quà tặng quý báu Đức Giavê ban xuống cho dân Người khi đi quanh co trong sa mạc, không chứa đựng cái gì thuộc thực tại sau này của Bí Tích Thánh Thể, Mình Chúa Kitô; và dòng nước chảy vọt ra từ tảng đá cũng không chứa Máu Chúa Kitô đã đổ ra cho mọi người.
Cuộc Xuất Hành là một công trình vĩ đại Thiên Chúa thực hiện để cứu dân Người, nhưng nó không làm nên sự cứu chuộc thiêng liêng dứt khoát như Chúa Kitô sẽ thực hiện trong mầu nhiệm Phục Sinh.
Hơn nữa, khi nói tới những thực hành người Do Thái, Thánh Phaolô nhắc: "Tất cả những cái đó chỉ là hình bóng những điều sắp tới; nhưng thực tại là thân thể Đức Kitô" (Cl 2,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%202:17&FontSize=Txt10)). Điều này vọng lại trong thơ Do Thái, quảng diễn giải thích đó cách hệ thống trình bày phụng tự trong Cựu Ước như "là một bản sao và hình ảnh lu mờ mốc của thánh điện trên trời" (Dt 8,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%208:5&FontSize=Txt10)).
3. Dù vậy, khi khẳng định Đức Maria là mẫu mực của Giáo Hội, Công Đồng không có ý đặt Người ngang hàng với những hình bóng hay mẫu mực Cựu Ước, nhưng ngược lại khẳng định rằng nơi Người hoàn thành trọn vẹn thực tại thiêng liêng đã được công bố và trình bày.
Thực tế, Đức Trinh Nữ Rất Thánh là mẫu mực Giáo Hội, không phải như là một hình bóng bất toàn, nhưng như là sự tràn đầy thiêng liêng xuất hiện bằng nhiều cách trong đời sống Giáo Hội. Tương quan đặc biệt hiện hữu ở đây giữa hình bóng và thực tại được miêu tả, đặt nền tảng trên chương trình của Thiên Chúa, thiết lập mối ràng buộc chặt chẽ giữa Đức Maria và Giáo Hội. Chương trình cứu rỗi, an bài cho những hình bóng Cựu Ước phải được hình thành trong Tân Ước, cũng ấn định Đức Maria sẽ sống cách trọn lành. Cách sống ấy sau này sẽ được hoàn thành trong Giáo Hội.
Do đó sự trọn lành Thiên Chúa ban cho Đức Maria, mang một ý nghĩa hết sức đích thực, nếu được giải thích như là màn mở đầu đem lại sự sống thần linh trong Giáo Hội.
Sự trọn lành của Đức Maria vượt quá sự trọn lành của các thành phần khác trong Giáo Hội
4. Sau khi nói Đức Maria là một "mẫu mực của Giáo Hội" Công Đồng nói thêm rằng Người là "mẫu mực nổi bật "là một tấm gương trọn lành phải theo và bắt chước. Thực vậy, Đức Maria là một "mẫu mực nổi bật" vì sự trọn lành của Người vượt quá sự trọn lành của các thành phần khác trong Giáo Hội.
Đáng chú ý là Công Đồng nói thêm rằng Đức Maria thực hiện vai trò của Người "trong đức tin và đức mến". Không quên Chúa Kitô là mẫu mực đầu tiên, Công Đồng gợi ý rằng có những khuynh hướng nội tại riêng cho mẫu mực hiện thực nơi Đức Maria, giúp người kitô hữu thiết lập một tương quan đích thực với Chúa Kitô. Thực tế, nhìn lên Đức Maria, người tín hữu học sống thông hiệp sâu xa hơn với Chúa Kitô, khắng khít với Chúa bằng một đức tin sống động, đặt niềm tin và hy vọng mình vào Chúa, và yêu mến Người hết lòng.
Những nhiệm vụ "mẫu mực và gương sáng của Giáo Hội" đặc biệt quy chiếu tới chức làm Mẹ đồng trinh của Đức Maria và chiếu ánh sáng trên vị trí đặc biệt của Người trong công trình cứu rỗi. Cơ cấu căn bản này của con người Đức Maria, được phản chiếu trong chức làm Mẹ và đức đồng trinh của Giáo Hội.
admin
19-09-2006, 07:02 AM
59. ĐỨC MARIA LÀ MẪU GƯƠNG CHỨC LÀM MẸ CỦA GIÁO HỘI
(Osservatore Romano số 35 ngày 27/08/1997-
Thứ Tư, 13/08/1997)
Cũng như Đức Maria, Giáo Hội là một người Mẹ thiêng liêng đưa chúng ta tới sự sống trong Chúa Thánh Thần, nhờ lời giảng dạy và nhờ Bí Tích Rửa Tội.
1. Chính nơi thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa mà Công Đồng nhận ra nền tảng của mối tương quan đặc biệt giữa Đức Maria và Giáo Hội. Chúng ta đọc trong Hiến Chế Lumen Gentium: "Nhờ ân huệ và sứ mạng làm Mẹ Thiên Chúa mà Đức Trinh Nữ được hiệp nhất với Con là Đấng Cứu Chuộc và nhờ các ơn sủng với nhiệm vụ đặc biệt khác, Người còn kết hợp mật thiết với Giáo Hội" (số 63). Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội luôn luôn quy chiếu về phỏng định này để làm sáng tỏ các đặc ân "mẫu mực" và "gương sáng" mà Đức Trinh Nữ Rất Thánh thụ hưởng trong tương quan với Thân Thể mầu nhiệm Chúa Kitô: "Trong mầu nhiệm Giáo Hội, cũng được gọi cách hợp pháp là Mẹ và Trinh Nữ, Đức Trinh Nữ Rất tỏ ra một cách siêu việt và đặc biệt là kiểu mẫu người Trinh và người Mẹ" (Sđd.).
Chức làm Mẹ của Đức Maria được mô tả là "tuyệt vời và hiếm có" vì diễn lại một thực tại độc nhất vô song và không thể tái lập: Đức Maria, trước khi thực hành vai trò làm Mẹ nhân loại, đã là Mẹ của Con Một Thiên Chúa làm người. Đàng khác, Giáo Hội là Mẹ là vì Giáo Hội sinh Chúa Kitô cách thiêng liêng trong người tín hữu, như thế Giáo Hội thực hiện vai trò làm Mẹ của mình đối với những thành phần Thân Thể Mầu Nhiệm.
Như thế, Đức Trinh Nữ Rất Thánh là gương sáng cao hơn đối với Giáo Hội, chính vì tính độc nhất vô song của đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa.
Các nhân đức của Đức Maria là để cho Giáo Hội bắt chước
2. Hiến Chế Lumen Gentium, khi suy nghĩ về chức làm Mẹ của Đức Maria nhắc lại rằng chức ấy đã được diễn tả trong khuynh hướng tuyệt vời của lòng Bà: "Bởi lòng tin và vâng phục, Người đã sinh chính Con Chúa Cha nơi trần gian mà không hề biết đến người nam, nhưng được Chúa Thánh Thần bao phủ. Như một Eva mới, Ngườøi đã đặt niềm tin vào sứ giả của Thiên Chúa, chứ không đặt vào con Rắn, một niềm tin không bị một nghi ngờ nào làm phai nhạt" (LG 63).
Do những lời đó ta có thể thấy rõ đức tin và đức vâng phục của Đức Maria trong ngày Truyền Tin, là những nhân đức để Giáo Hội bắt chước và nói được, các nhân đức đó bắt đầu cuộc hành trình của Người Mẹ để phục vụ những kẻ được kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.
Chức làm Mẹ Thiên Chúa không thể tách rời khỏi chiều kích phổ quát theo chương trình của Thiên Chúa mà Công Đồng không ngại nhìn nhận: "Người Con mà Mẹ đã sinh ra, Thiên Chúa đã đặt làm trưởng tử, trong nhiều anh em (Rm 8, 29), nghĩa là các tín hữu mà Người cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục với tình thương của một người mẹ" (Sđd.).
3. Giáo Hội trở thành một Người Mẹ, lấy Đức Maria làm gương sáng cho mình. Trên bình diện này, Công Đồng nói: "Tuy nhiên khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ bí và noi gương đức ái của Đức Maria và khi trung thành chu toàn thánh ý Chúa Cha, Giáo Hội cũng được làm Mẹ nhờ Lời Thiên Chúa mà Giáo Hội trung thành lãnh nhận: Thực vậy, nhờ việc rao giảng và ban phép Thánh Tẩy, Giáo Hội sinh hạ những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra do Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt" (Sđd. 64).
Phân tích việc miêu tả công việc làm Mẹ của Giáo Hội, chúng ta có thể ghi nhận việc sinh hạ người kitô hữu được liên kết cách nào đó với việc sinh hạ của Chúa Giêsu, dường như sự sinh hạ người kitô hữu là phản chiếu sự sinh hạ của Chúa Giêsu: Người kitô hữu "được thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần" và do đó sự sinh ra của họ, hoa quả của lời giảng dạy và phép Thánh Tẩy, giống như sự sinh ra của Chúa Cứu Thế.
Hơn nữa khi chiêm ngắm Đức Maria, Giáo Hội bắt chước đức ái của Người, việc Người chấp nhận trung thành Lời Thiên và saün sàng làm tròn ý muốn của Chúa Cha. Bằng cách theo gương sáng của Đức Trinh Nữ Maria, Giáo Hội hoàn thành chức làm Mẹ thiêng liêng có kết quả.
4. Nhưng chức làm Mẹ của Giáo Hội không biến chức làm Mẹ của Đức Maria thành dư thừa: Vẫn tiếp tục thi hành ảnh hưởng của mình trên đời sống người kitô hữu, Đức Maria giúp ban cho Giáo Hội một gương mặt Người Mẹ. Trong ánh sáng Đức Maria, chức làm Mẹ của Cộng Đoàn Giáo Hội, có vẻ như là chung chung, được kêu gọi diễn tả cách cụ thể và cá tính hơn đối với từng người được Chúa Kitô cứu chuộc.
Bằng cách tỏ mình là Mẹ các tín hữu, Đức Maria nuôi dưỡng nơi họ những tương quan anh em thiêng liêng đích thực và đối thoại liên tục.
Cả hai Người Mẹ đều cần cho đời sống kitô hữu
Kinh nghiệm hằng ngày của đức tin, trong mọi thời đại và mọi nơi, nêu cao nhu cầu nhiều người cảm thấy phải phó thác những thứ cần thiết hằng ngày cho Đức Maria và họ tín cẩn mở rộng lòng mình cầu xin sự can thiệp hiền mẫu của Người và được Người phù hộ vững chắc.
Những kinh nguyện mà con người trong mọi thời đại dâng lên Đức Maria, nhiều hình thức và kiểu cách sùng kính Đức Maria, những cuộc hành hương đến các đền thờ và những nơi kỷ niệm các phép lạ Thiên Chúa Cha đã thực hiện qua Người Mẹ của Con mình, chứng tỏ ảnh hưởng lạ lùng của Đức Maria trong đời sống của Giáo Hội. Tình yêu của Dân Chúa đối với Đức Trinh Nữ Rất Thánh lưu ý tới sự cần phải có tương quan chặt chẽ cá nhân với Mẹ Thiên Đình. Đồng thời, chức làm Mẹ thiêng liêng của Đức Maria nâng đỡ và gia tăng sự thực hành cụ thể về phía Giáo Hội đối với chức làm Mẹ của mình.
5. Cả hai Người Mẹ, Giáo Hội và Đức Maria, đều cần thiết cho đời sống kitô hữu. Có thể nói một bên có tính ngoại tại hơn còn bên kia thì có tính nội tâm hơn.
Giáo Hội trở thành người Mẹ khi rao giảng Lời Chúa và ban các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Tẩy, khi cử hành Thánh Thể và khi tha tội.
Chức làm Mẹ của Đức Maria được diễn tả trong mọi lãnh vực mà ân sủng được ban phát, cách riêng trong khung cảnh những tương quan cá nhân.
Đó là hai hình thức bất khả phân của chức làm Mẹ: thực vậy, cả hai đều làm cho chúng ta nhận ra cùng một tình yêu Thần linh muốn chia sẻ với nhân loại.
admin
19-09-2006, 07:06 AM
60. ĐỨC MARIA HOÀN TOÀN TRUNG THÀNH VỚI CHÂN LÝ MẶC KHẢI
(Osservatore Romano số 35 ngày 27/08/1997-
Thứ Tư, 20/08/1997)
Đức Trinh Nữ Rất Thánh nắm giữ mau lẹ, toàn bộ và trọn vẹn Chân Lý mặc khải, và nhờ Người can thiệp, chính Giáo Hội sẽ tiếp tục làm như vậy.
1. Giáo Hội là một người mẹ và đồng trinh. Sau khi khẳng định Giáo Hội là một người mẹ theo gương mẫu Đức Maria, Công Đồng tặng cho tước hiệu đồng trinh với lời giải thích: "Giáo Hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn toàn vẹn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho phu quân. Noi gương Mẹ của Chúa mình, nhờ thần lực của Chúa Thánh Thần, Giáo hội bảo toàn cho tinh tuyền một đức tin toàn vẹn, một đức cậy bền vững, và một đức mến chân thành" (LG 64).
Như vậy, Đức Maria cũng là một mẫu gương cho sự trinh khiết của Giáo Hội. Về phương diện này, cần giải thích rằng đức trinh khiết không thuộc về Giáo Hội theo nghĩa đen, bởi vì nó không diễn tả tình trạng sống của phần lớn người tín hữu. Thật vậy, do chương trình quan phòng của Thiên Chúa, hôn nhân được phổ biến rộng nhất và, có thể nói, là trạng thái chung đối với những kẻ được kêu gọi phải tin. Ơn sống đức đồng trinh chỉ dành riêng cho một số ít tín hữu, được kêu gọi nắm giữ một sứ mạng đặc biệt trong lòng cộng đoàn Giáo Hội.
Sự đồng trinh của Đức Maria có ảnh hưởng ích lợi trên Giáo Hội
Dầu vậy, khi nhắc tới giáo huấn Thánh Augustinô, Công Đồng chủ trương rằng Giáo Hội đồng trinh theo nghĩa thiêng liêng là giữ tính nguyên vẹn trong đức tin, đức cậy và đức mến. Do đó, Giáo Hội không phải là đồng trinh trong toàn thể mọi thành phần của mình, nhưng là giữ sự đồng trinh tinh thần (virginitas mentis) nghĩa là " đức tin nguyên vẹn, đức cậy vững vàng và đức ái chân tình" (In Io. Tr., 13, 12, Pl 35, 1499).
2. Do đó, Hiến Chế Lumen Gentium ra sức nhắc lại rằng sự đồng trinh của Đức Maria, một kiểu mẫu cho đức đồng trinh của Giáo Hội, cũng bao gồm chiều kích vật chất, qua đó Người đã thụ thai đồng trinh Chúa Giêsu bởi phép Chúa Thánh Thần mà không có sự can dự của người nam.
Đức Maria là nữ đồng trinh trong thân xác và nữ đồng trinh trong tâm hồn, như chứng tỏ qua ý muốn của Người sống trong sự thân mật sâu xa với Chúa, được bày tỏ dứt khoát trong ngày Truyền Tin. Như vậy, được kêu cầu như "Nữ Đồng Trinh trên các kẻ đồng trinh", chắc chắn đối với mọi người, Đức Maria là một gương mẫu rất cao về sự trong sạch hoàn toàn và sự hiến mình phục vụ Chúa. Nhưng Đức Trinh Nữ còn là một nguồn cảm hứng đặc biệt cho những người nữ đồng trinh kitô hữu và cho những kẻ quyết tâm và triệt để dâng mình phục vụ Chúa trong những hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến.
Như vậy, sau vai trò quan trọng trong công trình cứu rỗi, đức đồng trinh của Đức Maria tiếp tục gây ảnh hưởng có ích lợi cho đời sống của Giáo Hội.
3. Chúng ta đừng quên rằng Chúa Kitô chắc hẳn là gương mẫu đầu tiên và cao nhất đối với mọi đời sống trinh khiết. Tuy vậy, Đức Maria vẫn là mẫu gương đặc biệt của đức trinh khiết sống vì tình yêu Chúa Giêsu.
Đức Maria khích lệ mọi người kitô hữu phải sống đức trinh khiết với sự dấn thân đặc thù tùy theo tình trạng của mình, và phó thác mình cho Chúa trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Là đền thờ Chúa Thánh Thần cách trổi vượt hẳn, Người giúp các tín hữu tái khám phá ra chính thân xác của họ là đền thờ Thiên Chúa (x. 1 Cr 6, 19) và ngưỡng mộ tính thanh cao và thánh thiện của đền thờ đó.
Giới trẻ, đang tìm kiếm tình yêu chân thật, hay nhìn lên Đức Trinh Nữ Rất Thánh và cầu xin sự trợ giúp có tình Mẹ của Người để được bền bỉ sống đức khiết tịnh.
Đức Maria nhắc các đôi vợ chồng nhớ tới những giá trị căn bản của hôn nhân, bằng cách giúp họ thắng những cơn cám dỗ ngã lòng và khắc phục những tình dục tìm cách thống trị trong lòng họ. Sự tận hiến hoàn toàn của Người để phục vụ Thiên Chúa là một khích lệ mãnh liệt đối với họ, để họ sống trung tín với nhau, như thế họ sẽ không bao giờ nhượng bộ trước những khó khăn vây chắn sự hiệp thông vợ chồng.
4. Công Đồng thúc giục người tín hữu nhìn lên Đức Maria để có thể noi theo đức tin, đức cậy và đức mến "hoàn toàn trinh khiết" của Người.
Đức Maria đón nhận chân lý mặc khải với lòng vâng phục
Bảo tồn nguyên vẹn đức tin là một nhiệm vụ khó nhọc đối với Giáo Hội, vì Giáo Hội được kêu mời luôn tỉnh thức, dù với giá hy sinh hay chiến đấu. Thực tế, đức tin của Giáo Hội không những bị đe doạ bởi những kẻ chối bỏ sứ điệp Tin Mừng, nhưng cách riêng bởi những kẻ chỉ nhận có một phần chân lý mặc khải, từ chối chia sẻ đầy đủ trong toàn bộ gia sản đức tin của Nàng Dâu Chúa Kitô.
Thật bất hạnh, cơn cám dỗ này, chúng ta gặp ngay từ lúc khởi điểm của Giáo Hội, vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống Giáo Hội, thúc ép Giáo Hội chấp nhận mặc khải từng phần thôi, hay là giải thích Lời Chúa một cách hạn hẹp, có tính cá nhân phù hợp với não trạng đang thắng thế hay với những ước muốn cá nhân. Trung thành toàn vẹn với Lời Chúa, Đức Maria tặng cho Giáo Hội một gương sáng đức tin "trọn bề đồng trinh", vì với sự vâng phục và kiên nhẫn Người đón nhận chân lý mặc khải toàn bộ và nguyên vẹn. Và nhờ sự cầu bàu liên tục của Người, Giáo Hội hưởng được ánh sáng đức cậy và ngọn lửa đức ái, những nhân đức mà trong đời sống trần thế của Người, Người để lại như một gương mẫu tuyệt vời cho mọi người.
admin
19-09-2006, 07:12 AM
61. ĐỨC MARIA: MẪU GƯƠNG ĐỨC TIN, ĐỨC CẬY VÀ ĐỨC MẾN
(Osservatore Romano số 37 ngày 10/09/1997-
Thứ Tư, 03/09/1997)
Khi ráng sức tiến tới sự thánh thiện bằng cách chiến thắng sự tội, người tín hữu ngước mắt nhìn lên Đức Mẹ Rất Thánh. Người sáng chói như tấm gương cho Giáo Hội về sự thánh thiện.
1. Trong thư gởi tín hữu Ephêsô, Thánh Phaolô giải thích quan hệ phu thê giữa Chúa Kitô và Giáo Hội bằng những lời lẽ sau đây: "Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, như vậy Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và Lời Hằng Sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ khuyết điểm nào, nhưng thánh hiến và tinh tuyền" (Ep 5,25-27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%205:25-27&FontSize=Txt10)).
Công Đồng Vatican II áp dụng những xác nhận của Thánh Tông đồ và nhắc lại rằng: "Qua con người của Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Giáo Hội đã đạt tới sự toàn thiện" nhưng "người kitô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để thăng tiến trên đường thánh thiện" (LG 65).
Như vậy, sự khác biệt giữa Đức Maria và người tín hữu được nhấn mạnh, mặc dù cả hai đều thuộc về Giáo Hội thánh thiện mà Chúa Kitô đã tác thành "không tỳ ố hay không vết nhăn". Trên thực tế, người tín hữu lãnh nhận sự thánh thiện qua Bí Tích Thánh Tẩy, còn Đức Maria thì được bảo vệ khỏi mọi vết nhơ tội Nguyên Tổ và được Chúa Kitô cứu chuộc trước. Hơn nữa, mặc dù người tín hữu đã được giải thoát "khỏi luật của tội" (x. Rm 8,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%208:2&FontSize=Txt10)), họ còn có thể chiều theo cơn cám dỗ và sự mỏng giòn của con người tiếp tục lộ diện trong đời sống của họ. Thơ Thánh Giacôbê nói: "Tất cả chúng ta thường hay vấp ngã" (Gc 3,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gc%203:2&FontSize=Txt10)). Vì lẽ đó Công Đồng Trentô dạy: "Không ai có thể tránh khỏi các thứ tội, dù là tội nhẹ, suốt đời mình" (DS 1573). Dù sao nhờ đặc ân của Chúa, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm là một luật trừ đối với luật này, như Công Đồng Trentô nhắc lại (Sđd.).
Đức Maria là sự phát biểu trọn vẹn của đức tin
2. Mặc dầu các thành phần của mình mắc tội, Giáo Hội trước hết và hơn hết vẫn gồm những người được kêu gọi sống thánh thiện và cố gắng mỗi ngày đạt tới sự thánh thiện.
Trên con đường nhiêu khê dẫn tới sự trọn lành, họ cảm thấy được khích lệ do Đấng là "gương sáng nhân đức". Công Đồng ghi chú: "Nhờ thành kính tưởng nhớ Đức Maria và chiêm ngưỡng Người dưới ánh sáng Ngôi Lời Nhập Thể, Giáo Hội cung kính tiến sâu hơn vào mầu nhiệm cao thẳm tức là mầu nhiệm Nhập Thể, và nên giống Phu Quân mình ngày một hơn. (LG 65).
Giáo Hội nhìn ngắm Đức Maria như thế đó. Giáo Hội không những chiêm ngưỡng ân huệ lạ lùng của sự đầy ân sủng, mà còn ra sức bắt chước sự trọn lành nơi Người, (sự trọn lành ấy) là kết quả do Người hoàn toàn phục tùng mệnh lệnh Chúa Kitô: "Vậy anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,48 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:48&FontSize=Txt10)). Đức Maria thật hoàn toàn thánh thiện. Đối với cộng đoàn tín hữu, Người là gương mẫu sự thánh thiện chính thống được hoàn thành qua sự hợp nhất với Chúa Kitô. Đời sống trần thế của Mẹ Thiên Chúa được đánh dấu bởi sự hoà hợp trọn vẹn với Người Con và bởi sự tận hiến toàn vẹn của Người trong công trình cứu chuộc do Con của Người thực hiện.
Giáo Hội chú tâm nhìn ngắm tình thân mật của người Mẹ âm thầm phát triển trong thời gian ở Nadaret, và đạt tới sự trọn lành trong thời điểm Hiến Tế, và Giáo Hội cố gắng bắt chước trong cuộc hành trình hằng ngày của mình. Như thế, Giáo Hội ngày càng thêm đồng hình dạng với Phu Quân của mình. Được kết hợp với Thánh Giá Đấng Cứu Chuộc như Đức Maria, cho nên giữa những khó khăn, mâu thuẫn và bách hại tái diễn mầu nhiệm Thương Khó của Chúa trong đời sống của mình, Giáo Hội luôn luôn tìm cách nên đồng hình dạng với Người.
3. Khi nhìn thấy nơi Đức Maria "là kẻ tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì đã nói với Bà" (Lc 12,45 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2012:45&FontSize=Txt10)), nhờ lòng tin Giáo Hội sống biểu thức đầu tiên và hoàn hảo của đức tin. Trong cuộc hành trình phó thác đầy tin tưởng vào Chúa, Đức Trinh Nữ đi trước các môn đệ, trung thành giữ Lời Thiên Chúa với cường độ hằng gia tăng, bao gồm tất cả mọi giai đoạn đời sống của Bà và lan rộng tới chính sứ mệnh của Giáo Hội.
Gương sáng của Đức Trinh Nữ khích lệ Dân Chúa thực hành đức tin và nghiên cứu phát triển nội dung đức tin, bằng cách lưu giữ trong lòng và suy niệm những biến cố cứu rỗi.
Đức Maria cũng trở nên mẫu mực cậy trông cho Giáo Hội. Khi nghe lời sứ thần truyền tin, Đức Trinh Nữ hướng hy vọng mình trước hết về Vương Quốc vô tận mà Chúa Giêsu đã được sai đến để thiết lập.
Đức Maria đứng vững gần Thánh Giá Con mình, chờ đợi lời Thiên Chúa hứa được thực hiện. Sau ngày Lễ Hiện Xuống, Mẹ Chúa Giêsu vẫn nâng đỡ hy vọng của Giáo Hội, mặc cho đe doạ bắt bớ. Như thế, Người là Mẹ niềm cậy trông của cộng đoàn tín hữu và của từng cá nhân kitô hữu, Người còn khích lệ và hướng dẫn con cái mình khi họ chờ đợi Vương Quốc, bằng cách nâng đỡ họ trong những thử thách hằng ngày và qua những biến cố lịch sử, cho dầu có bi thảm.
Đức Maria tiếp tục nâng đỡ cộng đoàn kitô hữu
Sau hết, ta nhìn thấy nơi Đức Maria mẫu mực đức mến. Khi nhìn lại hoàn cảnh cộng đoàn tín hữu đầu tiên chúng ta khám phá ra sự đồng tâm nhất trí của họ, khi họ chờ đợi ngày Hiện Xuống, được kết hợp với sự có mặt của Đức Trinh Nữ Thánh (x. Cv 1, 14). Và chính bởi đức mến sáng tỏ của Đức Maria, mới có thể giữ được sự hài hoà và tình yêu huynh đệ ở mọi thời trong lòng Giáo Hội.
4. Công Đồng minh nhiên nhấn mạnh vai trò gương mẫu Đức Maria đối với sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, với nhận xét sau đây: "Do đó, trong công cuộc tông đồ, Giáo Hội có lý để nhìn lên Đấng đã sinh ra Chúa Kitô là người được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Nữ Trinh sinh ra để, nhờ Giáo Hội, cũng sinh ra và lớn lên trong lòng các tín hữu. Đời sống của Đức Nữ Trinh là một gương sáng của tình mẫu tử thắm thiết. tình mẫu tử ấy phải là động lực của tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội và để tái sinh nhân loại" (LG 65).
Sau khi cộng tác vào công trình cứu rỗi bằng chức làm Mẹ của mình, bằng sự liên kết với hy lễ Chúa Kitô và sự giúp đỡ mẫu tử đối với Giáo Hội mới sinh, Đức Maria tiếp tục nâng đỡ cộng đoàn kitô hữu và tất cả những kẻ tin trong cuộc dấn thân quảng đại của họ để rao giảng Tin Mừng.
admin
19-09-2006, 07:33 AM
62. ĐỨC MARIA: MẪU GƯƠNG CẦU NGUYỆN CHO GIÁO HỘI
(Osservatore Romano số 38 ngày 17/09/1997-
Thứ Tư, 10/09/1997)
Thái độ của Đức Mẹ đối với hoạt động của Thiên Chúa, khích lệ người tín hữu triển khai tương quan cá nhân với Chúa Kitô và hợp tác trong chương trình cứu rỗi của Người.
1. Trong Tông Huấn Marialis Cultus, Người Tôi Tớ Chúa là Đức Phaolô VI đáng kính giới thiệu Đức Trinh Nữ Rất Thánh như là mẫu mực của Giáo Hội trong việc thờ phượng. Xác nhận trên nói được là hệ luận của chân lý chỉ rõ Đức Maria là kiểu mẫu cho Dân Chúa trên con đường nên thánh: "Nói Đức Trinh Nữ Rất Thánh là gương mẫu trên bình diện này, là vì Bà được xem như một tấm gương ưu tú nhất của Giáo Hội trong phạm vi đức tin, đức mến và hợp nhất hoàn toàn với Đức Kitô, có nghĩa là trong phạm vi của thái độ saün sàng khiến Giáo Hội, Hiền Thê yêu quý liên kết chặt chẽ với Chúa của mình, kêu cầu Chúa Kitô và qua Người, tôn thờ Chúa Cha vĩnh cửu" (số 16).
2. Đức Trinh Nữ đã tỏ mình sẵn sàng tuân theo chương trình của Thiên Chúa trong ngày truyền tin, thì đối với mọi người tín hữu Bà là một mẫu mực tuyệt vời dạy chăm chú và vâng phục Ngôi Lời Thiên Chúa.
Khi trả lời Thiên Thần: "Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1, 38 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:38&FontSize=Txt10)) và khi phát biểu mình sẵn sàng hoàn thành đầy đủ ý muốn của Chúa, đúng là Đức Maria chia sẻ cái phúc Chúa Giêsu đã công bố: "Phúc thay kẻ lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa" (Lc 11,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 11:28&FontSize=Txt10)).
Đức Maria hiểu được ý nghĩa sâu xa của những biến cố cứu rỗi
Với thái độ đó, bao trùm cả đời sống của Người, Đức Trinh Nữ Rất Thánh chỉ ra con đường lớn biết lắng nghe Lời Chúa, một yếu tố chủ yếu của phụng tự đã trở thành nét đặc thù của phụng vụ Kitô giáo. Gương sáng của Người cho thấy việc phụng tự trước tiên không phải hệ tại việc diễn tả những tư tưởng và cảm nghĩ con người, nhưng hệ tại việc nghe Lời Chúa để hiểu biết, thấm nhuần và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hằng này.
3. Mỗi cử hành phụng vụ là một kỷ niệm mầu nhiệm Chúa Kitô trong hoạt động cứu rỗi nhân loại của Người, và có ý cổ võ sự tham gia cá nhân của người tín hữu trong mầu nhiệm Phục Sinh, được tái diễn và hiện thực trong các cử chỉ và lời nói trong nghi thức.
Là chứng nhân những biến cố cứu rỗi diễn ra trong lịch sử, lên đến cực điểm trong Tử Nạn và Phục Sinh của Đấng Cứu Thế, Đức Maria "hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Cv 2,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%202:19&FontSize=Txt10)).
Người không những hiện diện trong những biến cố cá nhân mà còn tìm nắm bắt ý nghĩa sâu sắc của chúng, cố hết sức mình trung thành với những gì được hoàn thành cách bí nhiệm trong các biến cố đó.
Do đó, Đức Maria xuất hiện như mẫu mực tuyệt vời của sự dự phần cá nhân trong mầu nhiệm thần linh. Người hướng dẫn Giáo Hội suy gẫm về mầu nhiệm cử hành và dự phần trong biến cố cứu rỗi, bằng cách khích lệ người tín hữu khao khát một tương quan thân tình, cá nhân với Chúa Kitô, để hợp tác trong việc cứu chuộc mọi người bằng chính mạng sống của họ nữa.
4. Đức Maria cũng là mẫu mực cầu nguyện cho Giáo Hội. Điều chắc chắn là Đức Maria đang trầm lắng trong cầu nguyện khi sứ thần Gabrien vào nhà ở Nadaret và kính chào Người. Khung cảnh cầu nguyện đó chắc chắn hỗ trợ Đức Trinh Nữ Rất Thánh khi trả lời sứ thần và tỏ ý ưng thuận cách quảng đại mầu nhiệm Nhập Thể.
Trong phong cảnh Truyền Tin, các hoạ sĩ hầu như luôn luôn hoạ ảnh Đức Maria trong tư thế cầu nguyện. Trong số đó phải kể đến ông Fra Angelico. Sự kiện này chứng tỏ cho Giáo Hội và tất cả người tín hữu thấy bầu khí cần có khi làm việc phụng tự.
Chúng ta có thể nói thêm rằng đối với Dân Chúa, Đức Maria là mẫu mực mọi biểu thức đời sống cầu nguyện của họ. Cách riêng, Đức Maria dạy các kitô hữu hướng về Thiên Chúa xin Người giúp đỡ, và khuyến khích trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.
Người kitô hữu được khích lệ dâng những lễ tế thiêng liêng
Sự kiện Đức Maria cầu bàu tại tiệc cưới Cana và hiện diện trên Căn Lầu bên cạnh các tông đồ đang khi họ cầu nguyện và chờ đợi ngày Hiện Xuống, gợi ý rằng kinh nguyện cầu xin là một hình thức hợp tác chủ yếu để đẩy mạnh công trình cứu chuộc trong thế giới. Khi theo mẫu mực của Đức Maria, Giáo Hội học tập tính bạo dạn khi cầu xin, tính bền đỗ trong khi cầu bàu và nhất là học tập biết nài xin ơn Chúa Thánh Thần.
5. Đức Trinh Nữ Rất Thánh cũng nên mẫu mực cho Giáo Hội biết quảng đại dự phần trong hy sinh.
Khi dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ và nhất là ở dưới chân Thánh Giá, Đức Maria hoàn thành sự dâng hiến chính bản thân mình, (sự dâng hiến) kết hợp Người Mẹ với đau khổ và thử thách của Con mình. Như vậy, trong cuộc sống hằng ngày cũng như khi cử hành Thánh Thể, "Đức Trinh Nữ dâng của lễ" (Marialis Cultus số 20) khuyến khích các kitô hữu biết "dâng những lễ hy sinh thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô" (1 Pr 2,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Pr 2:5&FontSize=Txt10)).
admin
19-09-2006, 07:37 AM
63. ĐỨC TRINH NỮ RẤT THÁNH LÀ MẸ GIÁO HỘI
(Osservatore Romano số 39 ngày 24/09/1997-
Thư Tư, 17/09/1997)
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI minh nhiên tuyên bố Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và nhắn bảo toàn thể dân Kitô hữu hãy tôn kính và kêu cầu Người với tước hiệu này.
1. Sau khi tuyên bố Đức Maria là một " thành viên trỗi vượt", là "kiểu mẫu" và "gương sáng" của Giáo Hội, Công Đồng Vaticanô II nói: "Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Người tình con thảo, như đối với một người Mẹ rất dấu yêu. (LG 53).
Nói đúng ra, bản văn Công Đồng không minh nhiên gán tước hiệu "Mẹ Giáo Hội" cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh, nhưng bản văn đó biểu thị không sai lầm nội dung của nó khi lặp lại lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XIV trước đây đã hơn hai thế kỷ năm 1748, (Bullarium Romanum, series 2, 1, 2 n. 61, p 428).
Trong tài liệu này, Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi, khi mô tả những tình cảm con thảo của Giáo Hội nhìn nhận Đức Maria là người Mẹ yêu quý nhất của mình, gián tiếp tuyên bố Người là Mẹ Giáo Hội.
Tước hiệu nói lên tương quan mẫu tử của Đức Maria với Giáo Hội
2. Tước hiệu này ít được sử dụng trong quá khứ, nhưng mới đây trở nên phổ biến hơn trong những công bố của Huấn Quyền Giáo Hội và trong sự sùng kính của dân Kitô hữu. Đầu tiên, người tín hữu kêu cầu Đức Maria với tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa", "Mẹ tín hữu" hay là "Mẹ chúng con" để nhấn mạnh tới tương quan cá nhân của Người với từng đứa con của mình.
Về sau, do sự chú ý nhiều hơn tới mầu nhiệm Giáo Hội và mối tương quan của Đức Maria với Giáo Hội, nên Đức Trinh Nữ Rất Thánh bắt đầu được kêu cầu thường hơn là "Mẹ Giáo Hội".
Trước Công Đồng Vatican II, kiểu nói này được Huấn Quyền Đức Lêo XIII sử dụng, quả quyết rằng Đức Maria "đúng thật là Mẹ Giáo Hội" (Acta Leonis XIII, 15, 302). Tước hiệu này về sau được sử dụng nhiều lần trong các bài giảng của Đức Gioan XXIII và Phaolô VI.
3. Cho dù tước hiệu "Mẹ Giáo Hội" được gán cho Đức Maria mới đây thôi, nhưng tước hiệu ấy lại diễn tả tương quan mẫu tử giữa Đức Trinh Nữ Rất Thánh và Giáo Hội như nhiều bản văn Tân Ước đã minh chứng.
Khởi từ ngày Truyền Tin, Đức Maria đã được kêu mời thuận ý khai mở Vương Quốc cứu thế, mà sau này sẽ xuất hiện với sự hình thành Giáo Hội.
Tại Cana, khi xin Con mình thi hành quyền năng cứu thế của Người, Đức Maria đã góp phần cơ bản vào việc ghi dấu đức tin trong cộng đoàn các môn đệ đầu tiên và hợp tác trong việc khai mở Nước Chúa, một nước đặt "mầm giống" và "khởi điểm" nơi Giáo Hội (x. LG 5).
Trên Núi Sọ, Đức Maria kết hợp mình với hy lễ của Con và đã góp phần hợp tác mẫu tính của mình vào công trình cứu chuộc, dưới hình thức của cơn đau đẻ, sinh ra nhân loại mới.
Khi nói lời: "Thưa Bà, nầy là con của Bà", Đấng chịu đóng đinh tuyên bố Người là Mẹ không những đối với tông đồ Gioan mà còn với tất cả các môn đệ. Chính Tác Giả Tin Mừng, khi nói Chúa Giêsu chết "để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối" (Ga 11,52 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 11:52&FontSize=Txt10)), đã chỉ rõ sự sinh ra Giáo Hội như là hoa quả của hy lễ cứu chuộc mà Đức Maria đã kết hợp với mẫu tính.
Thánh Sử Luca nhắc tới sự hiện diện của Mẹ Chúa Giêsu trong cộng đoàn đầu tiên ở Giêrusalem (Cv 1,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv 1:14&FontSize=Txt10)). Như vậy Thánh Sử nhấn mạnh vai trò người mẹ của Đức Maria trong Giáo Hội mới sinh, bằng cách so sánh vai trò đó với vai trò của Người khi sinh ra Đấng Cứu Thế. Chiều kích Mẹ như thế trở thành một yếu tố cơ bản trong tương quan của Đức Maria với Dân mới được cứu chuộc.
4. Căn cứ theo Kinh Thánh, giáo huấn của các Giáo Phụ nhìn nhận chức làm Mẹ của Đức Maria trong công trình của Chúa Kitô và do đó, trong công trình của Giáo Hội, cho dù bằng những lời lẽ không luôn luôn minh nhiên.
Theo Thánh Irênê, Đức Maria "trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho toàn dòng giống loài người" (Haer 3, 22, 4; PG 7, 959), và lòng thanh sạch của Đức Trinh Nữ "tái sinh người ta trong Thiên Chúa" (Haer 4, 33, 11; PG 7, 1080). Điều đó được Thánh Ambrôsiô lặp lại: "Một Trinh Nữ đã sinh ra Đấng cứu rỗi cho thế gian, một Trinh Nữ đã mang đến sự sống cho mọi sự" (Ep. 63, 33; PL 16, 1198), và nhiều Giáo Phụ khác cũng lặp lại khi gọi Đức Maria "Mẹ của sự cứu rỗi" (Severian pf Gabala, Or 6 in mundi creationem, 10; PG 54, 4; Faustus of Riez, Max. Bibl. Patrum, VI, 620-621).
Thời Trung Cổ, Thánh Anselmô thưa với Đức Maria thế này: "Mẹ là Mẹ của sự công chính hoá và cả những kẻ được công chính hoá, là Mẹ sự hoà giải và cả những kẻ được hoà giải, là Mẹ sự cứu rỗi và cả những kẻ được cứu rỗi" (Or 52, 8; PL 158, 957), còn nhiều tác giả khác lại gán cho Người tước hiệu "Mẹ ân sủng" và "Mẹ sự sống".
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên bố Đức Maria là "Mẹ Giáo Hội"
5. Như thế tước hiệu "Mẹ Giáo Hội" phản chiếu niềm xác tín sâu xa của người tín hữu Kitô, họ nhìn thấy nơi Đức Maria không những là người Mẹ của con người Chúa Kitô, mà còn của người tín hữu. Người được nhìn nhận là Mẹ sự cứu thế, Mẹ sự sống và Mẹ ân sủng, Mẹ những người được cứu chuộc và Mẹ kẻ sống, thì thật chính đáng khi tuyên bố Người là Mẹ Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã muốn Công Đồng Vatican II tuyên bố "Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể Dân Chúa, của người tín hữu và các mục tử của họ". Chính Đức Giáo Hoàng thực hiện điều đó khi đọc bài diễn văn bế mạc khoá thứ 3 Công Đồng (21/11/1964), Người cũng bảo: "từ nay toàn thể dân Kitô hữu hãy tôn kính và kêu cầu Đức Trinh Nữ Rất Thánh với tước hiệu này " (AAS 1964, 37).
Như vậy, Đấng Tiền Nhiệm đáng kính của Tôi đã minh nhiên phát biểu giáo lý chứa đựng trong chương 8 Hiến Chế Lumen Gentium, với hy vọng tước hiệu của Đức Maria Mẹ Giáo Hội sẽ có một vị trí quan trọng hơn trong phụng vụ và lòng đạo đức của dân Kitô hữu.
admin
19-09-2006, 07:43 AM
64. ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊNG LIÊNG PHỔ QUÁT
(Osservatore Romano số 40 ngày 01/10/1997-
Thứ Tư, 24/09/1997)
Đức Mẹ là Mẹ toàn thể nhân loại bởi vì Người đã hợp tác bằng đức tin, đức cậy và đức mến trong công trình của Chúa Kitô để phục hồi sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.
1. Đức Maria là Mẹ nhân loại trên bình diện ân sủng. Công Đồng Vatican II đề cao vai trò này của Đức Maria khi liên kết nó với sự hợp tác của Người trong công cuộc cứu rỗi do Chúa Kitô.
"Theo chương trình của Chúa Quan Phòng, trên trần gian Người đã trở nên Mẹ cao trọng của Đấng Cứu Chuộc thần linh, và cách đặc biệt hơn những người khác, Người là cộng sự viên quảng đại và tôi tá khiêm hạ của Chúa" (LG 61).
Với những phát biểu này, Hiến Chế Lumen Gentium muốn nhấn mạnh riêng sự kiện này là Đức Trinh Nữ Rất Thánh vì liên kết mật thiết với công trình cứu rỗi của Chúa Kitô, nên trở thành "cộng sự viên quảng đại" của Đấng Cứu Thế "cách đặc biệt".
Bằng những hành động như của bất cứ bà mẹ nào, từ những hành động tầm thường nhất tới những hành động cam go nhất, Đức Maria tự do hợp tác vào công trình cứu rỗi nhân loại trong sự hoà hợp bền vững và sâu xa với Người Con thần linh của mình.
Chức làm Mẹ của Đức Maria có tầm phổ quát
2. Công Đồng cũng nói rõ rằng sự hợp tác của Đức Maria được linh hứng bởi các nhân đức Tin Mừng - vâng lời, tin, cậy và mến - và được hoàn thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Công Đồng cũng nhắc lại rằng ơn làm Mẹ thiêng liêng phổ quát của Người xuất hiện chính xác từ sự hợp tác này: được liên kết với Chúa Kitô trong công trình cứu chuộc bao gồm sự tái sinh thiêng liêng loài người, Người trở thành Mẹ của những kẻ được tái sinh vào đời sống mới.
Khi nói Đức Maria là "Mẹ của chúng ta trên bình diện ân sủng" (x. Sđd.), Công Đồng cũng nhấn mạnh chức làm Mẹ thiêng liêng của Người không chỉ giới hạn nơi các môn đệ mà thôi, dường như lời Chúa Giêsu nói trên Núi Sọ: "Hỡi Bà này là con của Bà" (Ga 19, 26), đòi hỏi một giải thích rất hạn chế. Thật sự, với lời nói đó, Đấng chịu đóng đinh thiết lập một tương quan thân mật giữa Đức Maria và người môn đệ thương mến, một minh hoạ kiểu mẫu có tầm phổ quát, nhằm tiến dâng Mẹ mình làm Mẹ toàn thể nhân loại.
Đàng khác, hiệu năng phổ quát của hy lễ cứu chuộc và sự hợp tác có ý thức của Đức Maria với lễ dâng hy sinh của Chúa Kitô không cho phép một hạn chế nào đối với tình yêu từ mẫu của Người.
Sứ mệnh phổ quát của Đức Maria được thực thi trong toàn cảnh của mối tương quan có một không hai của Người với Giáo Hội. Bằng sự quan tâm tới mỗi người kitô hữu, và thực sự tới mỗi con người thọ tạo, Người hướng dẫn đức tin của Giáo Hội đến chỗ chấp nhận Lời Chúa cách sâu sắc hơn nữa, nâng đỡ đức cậy, chấn hưng đức mến và sự hiệp thông huynh đệ trong Giáo Hội, đồng thời khích lệ năng động tông đồ của Giáo Hội.
3. Trong lúc còn sống ở trần gian, Đức Maria bày tỏ tình mẹ thiêng liêng đối với Giáo Hội chỉ một thời gian vắn thôi. Tuy vậy, giá trị đầy đủ về vai trò này của Người xuất hiện sau ngày Người Quy Thiên và được an bài để mở rộng qua các thế kỷ cho tới tận thế. Công Đồng tuyên bố rõ ràng: "Nhưng trong nhiệm cục ân sủng, Đức Maria luôn tiếp tục thiên chức làm Mẹ, từ khi Người ưng thuận với lòng tín thác trong ngày Truyền Tin, rồi giữ vững không dao động dưới chân Thập Giá, cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn" (LG 62).
Sau khi đã vào Vương Quốc đời đời của Chúa Cha, ở gần hơn với Người Con thần linh, và như thế là ở gần hơn với tất cả chúng ta, Người có thể thi hành cách hiệu nghiệm hơn trong Chúa Thánh Thần vai trò chuyển cầu từ mẫu mà Chúa Quan Phòng đã giao phó cho Người.
4. Chúa Cha trên trời muốn đặt Đức Maria gần Chúa Kitô và trong sự hiệp thông với Người, Đấng có thể "đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa, Thật vậy Người hằng sống để chuyển cầu cho họ" (Dt 7,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt 7:25&FontSize=Txt10)): Chúa Cha muốn hợp nhất sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Rất Thánh trong tư cách người mẹ với sự chuyển cầu của Đấng Cứu Chuộc trong tư cách một tư tế. Đó là một vai trò Đức Maria thực hiện vì những kẻ đang gặp nguy hiểm và cần những trợ giúp ở trần gian và nhất là sự cứu rỗi đời đời: "Với đức ái hiền mẫu, Người chăm sóc những anh em của Con mình đang lữ hành trên đường dương thế và đang gặp bao nhiêu hiểm nguy, thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc Quê Trời. Vì thế, trong Giáo Hội Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua tước hiệu: Trạng Sư, Vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian" (LG 62).
Những tước hiệu đó, được gợi lên do đức tin của dân Kitô hữu, giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất sự can thiệp của Mẹ Đức Chúa trong đời sống của Giáo Hội và của mỗi người tín hữu.
5. Tước hiệu "Trạng Sư" là do Thánh Irênê. Nhìn vào sự bất tuân của Bà Eva và sự vâng phục của Đức Maria, thánh nhân nói rằng vào lúc Truyền Tin "Đức Nữ Trinh Maria trở thành Trạng Sư" của bà Eva (Haer 5, 19, 1; PG 7, 1175-1176). Thật vậy, với tiếng "xin vâng" của Người, Người bênh vực người mẹ đầu tiên của chúng ta, giải thoát bà khỏi những hậu quả do sự bất tuân của bà và trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho bà và cho cả nhân loại.
Đức Maria thi hành vai trò "Trạng Sư" của mình bằng cách hợp tác với Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi và, với Đấng trên Thánh Giá đã bàu chữa những kẻ bắt bớ Người (x. Lc 23,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 23:24&FontSize=Txt10)), Thánh Gioan gọi Người là "Đấng bảo trợ chúng ta trước mặt Chúa Cha" (1 Ga 2,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Ga 2:1&FontSize=Txt10)). Với tư cách người Mẹ, Đức Maria bênh vực con cái mình và bảo vệ chúng khỏi sự độc hại do tội lỗi chính chúng gây ra.
Đức Maria ở gần những kẻ đang đau khổ hoặc gặp nguy hiểm
Người kitô hữu kêu lên Đức Maria là "Đấng Cứu Giúp", vì công nhận tình yêu từ mẫu của Người luôn nhìn thấy các nhu cầu của con cái mình và sẵn sàng đến trợ giúp chúng, đặc biệt khi phần rỗi đời đời của chúng bị lâm nguy.
Sự xác tín rằng Đức Maria ở gần những kẻ đau khổ và gặp hoàn cảnh nguy hiểm trầm trọng, đã thúc đẩy người tín hữu kêu cầu Người là "Ân Nhân". Cũng một sự chắc chắn đầy tin tưởng như thế được diễn tả trong kinh lâu đời nhất với những lời lẽ: "Chúng con trông cậy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng, bàu chữa chúng con khỏi mọi sự dữ" (sách Nhật Tụng Roma).
Là Đấng Trung Gian từ mẫu, Đức Maria dâng những ước muốn cùng những lời cầu xin của chúng ta lên Chúa Kitô, và chuyển thông ơn Chúa cho chúng ta, liên lĩ cầu bàu cho chúng ta.
admin
19-09-2006, 07:51 AM
65. SỰ TRUNG GIAN CỦA ĐỨC MARIA XUẤT PHÁT TỪ SỰ TRUNG GIAN CỦA CHÚA KITÔ
(Osservatore Romano số 41 ngày 08/10/1997-
Thứ Tư, 01/10/1997)
Giáo Hội không nghi ngại tuyên xưng sự trung gian tùy thuộc của Đức Trinh Nữ Rất Thánh và dạy người tín hữu phải hết lòng để ý tới.
1. Giữa các tước hiệu tặng cho Đức Maria qua sự sùng kính của Giáo Hội, chương 8 Lumen Gentium nhắc tới tước hiệu "trung gian". Mặc dầu một số Nghị Phụ không hoàn toàn đồng ý với sự chọn tước hiệu này (x. Acta synodalia III, 8, 163-164), tước hiệu ấy vẫn được đặt trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, như yểm trợ cho giá trị chân lý tước hiệu đó diễn tả. Do đó, phải ý tứ đừng liên kết tước hiệu đó với một khoa thần học riêng biệt nào về sự trung gian, nhưng chỉ nên đặt nó giữa bao nhiêu tước hiệu khác được công nhận nơi Đức Maria.
Hơn nữa, bản văn Công Đồng đã giải thích ý nghĩa tước hiệu "Trung Gian" khi nói rằng "Đức Maria vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bàu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời" (LG 62).
Như Tôi đã nhắc lại trong Thông Điệp Redemptoris Mater: "sự trung gian của Đức Maria gắn liền mật thiết với thiên chức làm Mẹ của Người. Nó mang một tính từ mẫu đặc biệt, khác với sự trung gian của các tạo vật khác" (số 38).
Từ quan điểm này, sự trung gian đó là độc nhất vô song theo loại của nó và có hiệu lực cách đặc biệt.
Sự trung gian của Chúa Kitô không bị lu mờ do sự trung gian của Đức Maria
2. Đối với những phản đối mà một số Nghị Phụ nêu lên về từ "Trung Gian", thì chính Công Đồng đã cho lời giải đáp khi nói Đức Maria "là Mẹ chúng ta trên bình diện ân sủng" (LG 61). Cũng nên nhắc lại rằng sự trung gian của Đức Maria được xác định chủ yếu do thiên chức làm Mẹ của Người. Hơn nữa, vai trò trung gian của Người được mặc nhiên công nhận trong kiểu nói "Mẹ chúng ta". Kiểu nói đó trình bày giáo lý về sự trung gian của Đức Maria bằng cách nhấn mạnh đến thiên chức làm Mẹ của Người. Sau cùng, tước hiệu "Mẹ trên bình diện ân sủng" giải thích rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh luôn hợp tác với Chúa Kitô trong sự tái sinh thiêng liêng nhân loại.
3. Sự trung gian từ mẫu của Đức Maria không làm lu mờ sự trung gian duy nhất và hoàn bị của Chúa Kitô. Thật vậy, sau khi gọi Đức Maria là "Đấng Trung Gian", Công Đồng cẩn thận giải thích rằng "phải hiểu các tước hiệu ấy thế nào để không thêm bớt gì vào vinh dự và quyền năng của Chúa Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất" (LG 62). Và về điểm này Công Đồng trưng dẫn bản văn nổi tiếng trong Thư thứ 1 gởi Timôthêô: "Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người" (2,5-6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Tm%202:5-6&FontSize=Txt10)).
Hơn nữa, Công đồng còn nói rõ rằng "vai trò làm Mẹ loài người của Đức Maria không làm lu mờ hoặc giảm bớt vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của trung gian ấy (LG 60).
Do đó, thay vì làm cản trở Chúa Kitô thi hành sự trung gian duy nhất của mình, Đức Maria lại càng đề cao sự phong phú và quyền lực của sự trung gian đó. "Vì mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết thánh thiện nào, nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa, và bắt đầu từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô. Ảnh hưởng ấy nương tựa và hoàn toàn tùy thuộc vào sự trung gian của Chúa Kitô, nguồn mạch mọi nguồn lực của ảnh hưởng đó" (LG 60).
4. Giá trị sự trung gian của Đức Maria phát nguồn từ Chúa Kitô và như thế ảnh hưởng cứu độ của Đức Trinh Nữ Rất Thánh "không làm cản trở chút nào sự hợp nhất trực tiếp của người tín hữu với Chúa Kitô nhưng ngược lại còn nuôi dưỡng nó" (Sđd.).
Công việc của "Đấng trung gian" thực chất hướng về Chúa Kitô, thúùc đẩy Công Đồng khuyên bảo người tín hữu quay về Đức Maria "để nhờ sự nâng đỡ và phù hộ từ mẫu của Người, họ gắn bó mật thiết hơn với Đấng Trung Gian và Cứu Thế" (LG 62).
Khi tuyên bố Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất, Thánh Phaolô, trong Thư thứ nhất gởi Timôthêô (2,5-6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Tm%202:5-6&FontSize=Txt10)), loại trừ bất cứ trung gian song song nào khác, nhưng không loại trừ sự trung gian lệ thuộc. Thật vậy, trước khi đề cao trung gian duy nhất của Chúa Kitô, tác giả thúc giục "ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van tạ ơn cho tất cả mọi người" (2,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1%20Tm%202:1&FontSize=Txt10)). Lời cầu xin không phải là hình thức trung gian sao? Thật sự, theo thánh Phaolô, trung gian duy nhất của Chúa Kitô là để khuyến khích những hình thức trung gian lệ thuộc và phục vụ khác. Khi tuyên bố trung gian của Đức Kitô là duy nhất, Thánh Tông đồ chỉ có ý loại trừ trung gian nào có tính tự trị hoặc ganh đua, chớ không phải những hình thức khác tương hợp với giá trị vô cùng của công trình Đấng Cứu Thế.
5. Người ta có thể dự phần vào trung gian của Chúa Kitô trong nhiều lĩnh vực khác nhau thuộc công trình cứu rỗi. Sau khi nhấn mạnh rằng "không một tạo vật nào có thể đặt ngang hàng với Ngôi Lời Nhập Thể và cứu chuộc" (LG 62), Hiến Chế Lumen Gentium diễn tả cách thế những tạo vật có thể thi hành một vài hình thức trung gian tùy thuộc vào Chúa Kitô. Thật sự, "cũng như chức linh mục của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều hình thức cho các thừa tác viên và các giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các tạo vật, thì trung gian duy nhất của Đấng Cứu Thế không những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ sinh cộng tác, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất" (LG 62).
Vai trò từ mẫu của Đức Maria tùy thuộc vào trung gian của Đức Kitô
Ước muốn được nhiều sự tham gia vào trung gian duy nhất của Chúa Kitô cho thấy tình yêu nhưng không của Thiên Chúa muốn chia sẻ cái gì Người có.
6. Trên thực tế, trung gian từ mẫu của Đức Maria là gì nếu không phải ân huệ của Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại? thế nên Công Đồng kết thúc: "Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng mà luôn luôn nghiệm thấy, và nhắn nhủ các tín hữu ghi nhớ trong lòng" (Sđd.).
Đức Maria thực hiện vai trò từ mẫu của mình trong sự tùy thuộc liên lỉ vào sự trung gian của Chúa Kitô và từ nơi Chúa, Người nhận lãnh tất cả những gì lòng Người muốn ban cho nhân loại.
Trên cuộc hành trình trần thế, Giáo Hội "luôn luôn" cảm thấy hoạt động hiệu nghiệm của "Người Mẹ trên bình diện ân sủng" của mình.
admin
19-09-2006, 07:59 AM
66. ĐỨC MARIA LUÔN LUÔN ĐƯỢC SÙNG KÍNH CÁCH ĐẶC BIỆT
(Osservatore Romano số 43 ngày 22/10/1997-
Thứ Tư, 15/10/1997)
Từ lúc khởi đầu Giáo Hội Đức Trinh Nữ Rất Thánh, với tư cách là Mẹ toàn thể nhân loại, luôn luôn có một vị trí đặc biệt trong con tim và lòng sùng kính của người tín hữu.
1. "Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Mình tới, sinh làm con một người phụ nữ" (Gl 4,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gl%204:4&FontSize=Txt10)). Sự sùng kính Đức Maria - như lời thánh Phaolô - căn cứ trên quyết định kỳ diệu của Thiên Chúa muốn liên kết mãi mãi căn tính nhân loại của Con Thiên Chúa với một người phụ nữ: Đức Maria thành Nadaret. Mầu nhiệm làm Mẹ Thiên Chúa và mầu nhiệm Hiệp Thông Cứu Chuộc của Đức Maria khiến các tín hữu mọi thời đại luôn luôn có một thái độ kính phục, vừa đối với Đấng Cứu Chuộc vừa đối với Người Nữ đã sinh ra Đấng ấy trong thời gian, tức là hợp tác trong sự cứu chuộc.
Một lý do nữa để người ta yêu mến và biết ơn Đức Trinh Nữ đầy ơn phước, đó là chức làm Mẹ phổ quát của Người. Khi chọn Người làm Mẹ cả nhân loại, Cha trên trời muốn mặc khải chiều kích mẫu tử, có thể nói như vậy, của lòng dịu hiền nơi Thiên Chúa, và sự Thiên Chúa chăm lo cho cả nhân loại trong mọi thời đại. Trên Núi Sọ, nói những lời "Này là con Bà", "Này là Mẹ của con" (Ga 19,26-27), trước hết Chúa Giêsu giao phó Đức Maria cho tất cả những ai muốn nhận lãnh Tin Mừng cứu rỗi. Và như vậy Người đặt nền tảng cho sự sùng kính Đức Maria. Theo chân Thánh Gioan, người tín hữu tiếp tay cho tình yêu của Chúa Kitô đối với Mẹ của Người, bằng chính lòng sốt sắng của họ, khi nhận lãnh Đức Maria vào trong đời sống của mình.
2. Lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Rất Thánh bắt đầu có từ nguồn gốc của giáo Hội, các sách Tin Mừng minh chứng rằng lòng sùng kính Đức Maria xuất hiện ngay từ đầu Hội Thánh. Hai chương đầu Tin Mừng Thánh Luca xem ra thuật lại sự chú ý đặc biệt của các kitô hữu gốc Do Thái đối với Mẹ Chúa Giêsu, khi họ diễn tả sự quý mến của họ với Đức Maria và tranh nhau cùng giữ những kỷ niệm về Người.
Đàng khác, trong những câu chuyện Thời Thơ Ấu, chúng ta có thể nhận thấy rõ những diễn tả đầu tiên và các lý lẽ của sự sùng kính Đức Maria, được tóm kết trong những lời thán phục của Bà Elisabeth "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng những lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện" (Lc 1,42-45 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:42-45&FontSize=Txt10)).
Những dấu tích chứng tỏ sự sùng kính đã lan rộng giữa cộng đồng kitô hữu đầu tiên, lại nằm trong kinh Magnificat: "Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc" (Lc 1,48 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:48&FontSize=Txt10)). Đặt những lời này trên miệng lưỡi Đức Maria, người kitô hữu nhìn nhận sự cao cả độc nhất của Đức Maria, sự cao cả phải được ca tụng cho đến cuối thời gian.
Hơn nữa, những tường thuật Tin Mừng (x. Lc 1,24-35; Mt 1,23; Ga 1,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1:24-35 ; Mt 1:23 ; Ga%201:13&FontSize=Txt10)), những công thức đức tin đầu tiên và một trích dẫn từ Thánh Inhaxiô thành Antiôkia (x. Smyrn. 1, 2, SC 10, 155) làm chứng rằng sự khâm phục đặc biệt của những cộng đoàn tiên khởi đối với sự đồng trinh của Đức Maria, được gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể.
Tin Mừng ghi nhận sự hiện diện của Đức Maria ở đoạn đầu và đoạn cuối đời sống công khai của Con mình gợi ý cho các kitô hữu đầu tiên hiểu rõ vai trò của Đức Maria trong công cuộc Cứu Chuộc, trong sự tuỳ thuộc yêu thương trọn vẹn vào Chúa Kitô.
3. Công Đồng Vatican II nhấn mạnh đến đặc tính việc tôn kính Đức Maria: "nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh, sau Chúa Con, vượt trên tất cả các Thiên Thần và loài người, vì Ngài là Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa và đã tham dự vào mầu nhiệm của Chúa Kitô. Do đó Người đáng được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính" (LG 66a).
Rồi khi nhắc tới kinh có từ thế kỷ thứ ba: "Sub tuum praesidium" - chúng con trông cậy rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời - Công Đồng nói thêm là đặc tính ấy xuất hiện ngay từ đầu: "Thật vậy, từ những thời rất xa xưa, Đức Trinh Nữ đã được tôn kính dưới tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa" và các tín hữu đã khẩn cầu và ẩn náu dưới sự che chở của Người trong mọi cơn gian nan khốn khó" (LG 66b).
4. Sự xác nhận này được củng cố trong nghệ thuật mô tả bằng tranh vẽ và trong các huấn giáo của các Giáo Phụ từ thế kỷ 2.
Tại Roma, dưới hang toại đạo Priscilla, người ta có thể chiêm ngưỡng bức vẽ đầu tiên về đề tài Đức Maria ẵm Con, đồng thời thánh Giustinô và Irênê nói về Đức Trinh Nữ như là một Eva mới, Đấng lấy đức tin và vâng phục của mình mà đền tội bất tín và bất phục của người nữ đầu tiên. Theo quan điểm của các Giám Mục Lyon thì việc Ađam được cứu chuộc trong Chúa Kitô còn chưa đủ "mà thật hợp lý và cần thiết là bà Eva phải được khôi phục trong Đức Maria" (Demonstratio apostolica, 33). Như vậy, Thánh nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của người nữ trong công cuộc cứu chuộc và đặt nền tảng cho sự không thể tách rời việc tôn kính Đức Maria ra khỏi việc tôn kính Chúa Kitô, một việc tôn kính sẽ luôn tồn tại qua các thế kỷ Kitô giáo.
Lòng sùng kính Đức Maria đâm rễ vững chắc trong đức tin kitô hữu
5. Lòng sùng kính Đức Maria trước hết được diễn tả trong lời khẩn cầu Đức Maria là "Theotókos", một tước hiệu đã được Công Đồng Ephesô năm 431 thừa nhận cách xác quyết, sau cơn khủng hoảng Nestoriô.
Phản ứng của dân chúng đối với lập trường hồ đồ và lưỡng lự của Nestoriô vì đi quá xa đến nỗi chối bỏ thiên chức làm Mẹ của Đức Maria, cũng như sự đón nhận vui mừng tiếp sau đó đối với những quyết định của Công Đồng Ephêsô, chứng tỏ rằng sự sùng kính Đức Maria đã ăn rễ sâu giữa người kitô hữu. Dù sao "Công Đồng Ephêsô đã kéo theo sự gia tăng lòng tôn kính của Dân Thiên Chúa đối với Đức Maria cách lạ lùng: Họ sùng kính, mến yêu, cầu khẩn và noi gương" (LG 66). Sự tôn kính đó được mô tả đặc biệt trong các ngày lễ phụng vụ, trong các lễ đó, từ đầu thế kỷ 5 "Ngày lễ Đức Maria Theotokos" có tầm quan trọng đặc biệt. Lễ này được cử hành ngày 15 tháng 8 tại Giêrusalem, và sau trở thành lễ Quy Thiên hay là Hồn Xác Lên Trời.
Dưới ảnh hưởng của "Tiền Tin Mừng Thánh Giacôbê", các lễ Sinh Nhật, Vô Nhiễm và Dâng Mình cũng được đưa vào và đã góp phần đáng kể làm tăng thêm nhiều khía cạnh quan trọng thuộc mầu nhiệm của Đức Maria.
6. Chúng ta có thể nói rằng lòng tôn kính Đức Maria đã phát triển cho tới ngày nay một cách liên tục đáng kinh ngạc, luân phiên lúc thịnh, lúc suy. Tuy nhiên, những lúc suy đó lại có công mang lại sự đổi mới hơn nữa cho lòng tôn kính này.
Từ Công Đồng Vaticanô II, sự tôn kính Đức Maria có phần phát triển trong cảnh hoà hợp với sự hiểu biết rõ hơn về mầu nhiệm Giáo Hội và trong sự đối thoại với các nền văn hoá thời đại, để được đâm rễ sâu hơn trong đức tin và đời sống dân lữ hành của Thiên Chúa trên địa cầu.
admin
19-09-2006, 08:04 AM
67. NGƯỜI TÍN HỮU TÔN KÍNH ĐỨC MARIA VỚI TÌNH CON THẢO
(Osservatore Romano số 44 ngày 29/10/1997-
Thứ Tư, 22/10/1997)
Sự tôn kính Đức Mẹ khác với việc thờ phượng Thiên Chúa: Thiên Chúa phải được yêu mến trên các mọi sự khác, đang khi Đức Maria phải được tôn kính như Người Mẹ và Trạng Sư.
1. Công Đồng Vaticanô II tuyên bố rằng: Việc tôn kính Đức Trinh Nữ được chúc phúc "như vẫn có trong Giáo Hội, tuy hoàn toàn đặc biệt, nhưng tự bản chất nó, nó vẫn khác biệt với việc thờ phượng đồng dâng lên Ngôi Lời Nhập Thể và Chúa Cha và Chúa Thánh Thần; việc tôn kính Đức Maria khuyến khích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi" (LG 66).
Bằng những lời lẽ đó, Hiến chế Lumen Gentium nhấn mạnh những đặc tính của việc tôn kính Đức Maria. Tuy việc tôn kính Đức Maria được các tín hữu đặt ở vị trí cao hơn việc sùng kính các thánh khác, nhưng nó vẫn thấp kém hơn việc thờ phượng Thiên Chúa mà tự bản chất, rất khác biệt với việc tôn kính Đức Maria. Từ ngữ "THỜ PHƯỢNG" chỉ hình thức tôn kính phượng thờ dành riêng cho Thiên Chúa, nhìn nhận Người là Đấng Sáng Tạo và là Chúa Tể vũ trụ. Được Mặc Khải của Thiên Chúa soi sáng, người tín hữu thờ phượng Chúa Cha trong "tinh thần và chân lý" (Ga 4, 23). Cùng với Chúa Cha, người kitô hữu thờ phượng Chúa Kitô Ngôi Lời Nhập Thể khi cất tiếng với Thánh Tông đồ Thomas: "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa Trời tôi" (Ga 20, 28). Sau cùng, người kitô hữu cũng dành hành động thờ phượng này cho Chúa Thánh Thần, Đấng "được tôn thờ và ca ngợi cùng với Chúa Cha và Chúa Con" (DS 150), như Kinh Tin Kính Công Đồng Niceno Costantinopoli nhắc tới.
Việc tôn kính Đức Maria dẫn tới việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi
Khi người tín hữu kêu cầu Đức Maria "là Mẹ Thiên Chúa" và chiêm ngắm nơi Bà phẩm giá cao cả nhất được ban cho một thọ tạo, họ không dâng lên Người một sự tôn kính ngang hàng với Ba Ngôi Thiên Chúa. Có một khoảng cách vô tận giữa sự tôn kính Đức Maria với sự thờ phượng Ba Ngôi và Ngôi Lời Nhập Thể.
Do đó, mặc dù cộng đoàn kitô hữu tung hô Đức Trinh Nữ bằng ngôn từ đôi khi giống ngôn từ trong việc thờ kính Thiên Chúa, thì ngôn từ đó vẫn mang một ý nghĩa và giá trị hoàn toàn khác biệt. Như vậy, tình yêu người tín hữu dành cho Đức Maria khác với tình yêu dành cho Thiên Chúa: đang khi phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, với hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn mình (Mt 22,37 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2022:37&FontSize=Txt10)), thì tâm tình liên kết người kitô hữu với Đức Trinh Nữ, trên bình diện thiêng liêng, phải là tình yêu con cái đối với Mẹ mình.
2. Tuy nhiên, có sự nối tiếp giữa sự tôn kính Đức Maria và sự thờ phượng Thiên Chúa: Thật vậy, lòng tôn kính Đức Maria hướng dẫn và đưa tới việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi.
Công Đồng nhắc lại rằng sự tôn kính của người kitô hữu đối với Đức Maria "rất thuận lợi" cho việc thờ phượng Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Rồi trên bình diện Kitô học, Công Đồng nói thêm rằng: "Giáo Hội đã chấp nhận nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa, trong giới hạn của giáo lý lành mạnh và chính thống tùy theo hoàn cảnh, thời gian và nơi chốn hợp với tính khí cùng tinh thần của tín hữu; những hình thức ấy qua việc tôn kính Mẹ, cũng làm cho người tín hữu nhận biết đúng đắn, yêu mến và tôn vinh Chúa Con. và tuân giữ giới răn Người, vì nhờ Người mà muôn vật được tạo thành (x. Cl 1,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%201:15-16&FontSize=Txt10)) và nơi Người, Chúa Cha hằng hữu "muốn có đầy đủ mọi sự (Cl 1,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%201:19&FontSize=Txt10)) (LG 66b).
Từ những ngày đầu Giáo Hội, việc tôn kính Đức Maria được an bài để nuôi dưỡng lòng trung thành gắn bó với Chúa Kitô. Tôn kính Mẹ Thiên Chúa tức là xác quyết thần tính của Chúa Kitô. Thật vậy, khi các Nghị Phụ Công Đồng Ephêsô tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, thì các người có ý củng cố niềm tin vào Chúa Kitô, Thiên Chúa thật.
Đoạn kết bài tường thuật phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực hiện tại Thành Cana, do lời cầu xin của Đức Maria, chứng tỏ là hành động của Đức Mẹ đưa tới sự tuyên dương Con mình. Thật vậy, Thánh Sử chép: "Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên tại Cana, xứ Galilê và tỏ bày vinh quang của Người, và các môn đệ Người tin vào Người" (Ga 2,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%202:11&FontSize=Txt10)).
3. Sự tôn kính Đức Maria cũng khuyến khích sự thờ phượng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đối với những ai làm việc đó hợp với tinh thần của Giáo Hội. Thật vậy, khi nhìn nhận giá trị chức làm Mẹ của Đức Maria, các tín hữu khám phá ở đó sự biểu lộ đặc biệt tình nhân hậu của Thiên Chúa Cha.
Mầu nhiệm Đức Mẹ Đồng Trinh làm nổi bật hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho Con Trẻ đầu thai trong lòng Mẹ và luôn hướng dẫn đời sống Mẹ.
Những tước hiệu Đấng An Ủi, Người Bàu Chữa, Người Trợ Giúp, mà lòng sốt sắng dân chúng ta gán cho Đức Maria, không che khuất những biểu dương hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi, vì (những tước hiệu đó) chuẩn bị người tín hữu hưởng nhờ các ân ban của Chúa Thánh Thần.
Những ân ban cho Đức Maria là ngoại lệ
4. Sau cùng Công Đồng nhắc tới tính độc nhất của việc tôn kính Đức Maria và nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc thờ phượng Chúa và sự tôn kính các Thánh.
Sự tôn kính này không có lặp lại (không có cái thứ hai), vì nó trực chỉ một nhân vật mà sự trọn lành và sứ mạng có tính chất độc đáo.
Thật vậy những ân huệ ban cho Đức Maria do tình yêu Thiên Chúa, như sự thánh thiện vô nhiễm, chức làm Mẹ Thiên Chúa, sự cộng tác vào việc cứu độ và trên hết sự hy sinh Thánh Giá đó là những ân huệ tuyệt đối ngoại lệ vậy.
Sự tôn kính Đức Maria nói lên rằng: Hội Thánh ca ngợi và nhìn nhận những ân huệ khác thường này. Dân kitô hữu do lòng tin cậy con thảo thúc đẩy, hướng về Mẹ là Mẹ Giáo Hội và là Mẹ nhân loại, ngõ hầu cầu xin Mẹ bàu chữa và lãnh nhận được những của cải cần thiết cho cuộc sống trần thế này, trong viễn ảnh hạnh phúc đời đời.
admin
19-09-2006, 08:07 AM
68. GIÁO HỘI THÚC GIỤC CÁC TÍN HỮU TÔN KÍNH ĐỨC MARIA
(Osservatore Romano số 45 ngày 05/11/1997-
Thứ Tư, 29/10/1997)
Công Đồng Vatican II khuyên nhủ các thành phần của Giáo Hội hãy cổ động nhiều hình thức khác nhau của sự sùng kính Đức Maria, nhất là sự sùng kính trong Phụng Vụ đối với Đức Mẹ.
1. Sau khi chứng minh về mặt giáo lý sự tôn kính Đức Thánh Nữ Trinh, Công Đồng Vatican II khuyên bảo mọi tín hữu hãy đẩy mạnh sự tôn kính này: "Thánh Công Đồng cố ý dạy giáo lý công giáo ấy, đồng thời Giáo Hội cũng khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Nữ Trinh, nhất là trong phụng vụ, hãy coi trọng những việc thực hành và việc đạo đức nhằm suy tôn Người đã được quyền Giáo huấn Giáo Hội cổ võ qua các thế kỷ (LG 67a).
Với những lời tuyên bố trên, các Nghị Phụ Công Đồng, không đi vào các chi tiết, nhưng có ý khẳng định lại giá trị của một vài kinh nguyện, như kinh Mân Côi và kinh Truyền Tin, là những kinh được yêu chuộng theo truyền thống dân Kitô giáo và thường xuyên được các vị Giáo Hoàng cổ võ như là những phương thế hiệu năng để nuôi dưỡng đời sống đức tin và lòng tôn kính Đức Thánh Nữ Trinh.
Công Đồng Nicê II xác nhận việc sùng kính các ảnh Thánh
2. Bản văn Công Đồng tiếp tục yêu cầu các tín hữu "hãy kính cẩn tuân giữ các quyết định của các thời đại trước liên quan đến việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ và các Thánh" (LG 67a).
Như thế, Công Đồng nhắc lại các quyết định của Công Đồng Nicê II, họp năm 787, đã thừa nhận tính hợp pháp của việc tôn kính các ảnh tượng thánh, chống lại những ai muốn phá hủy các ảnh tượng thánh, vì cho đó là không thích hợp để diễn tả thần tính (x. Redemptoris Mater 33). Các Nghị Phụ Công Đồng đó nói: "Chúng tôi quyết định rõ rệt và cẩn thận rằng: cũng như việc trưng bày Cây Thánh Giá cao quý ban sự sống, thì những hình ảnh thánh đã được tôn kính, dầu sơn màu hay nạm khảm hay làm bằng một chất liệu nào xứng hợp, có thể trưng bày nơi các nhà thờ Thiên Chúa, chứa đựng những dụng cụ hay y phục thánh, treo trên bức tường hay trên khuông cửa, đặt trong nhà hay ngoài đường, cho dù đó là hình ảnh Thiên Chúa và Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế hay là hình ảnh Đức Mẹ vô nhiễm Mẹ Thiên Chúa, các Thiên Thần hay chư thánh và người công chính" (DS 600).
Nhắc lại quyết định này Hiến Chế Lumen Gentium có ý nhấn mạnh tính hợp pháp và giá trị của các ảnh tượng thánh, ngược lại với những khuynh hướng dời các ảnh tượng ra khỏi nhà thờ hay điện thờ, để tập trung sự chú ý vào Chúa Kitô mà Thôi.
3. Công Đồng Nicê thứ hai không những khẳng định tính hợp pháp của các ảnh tượng, mà còn tìm diễn tả sự hữu ích của các ảnh tượng đối với lòng sốt sắng người kitô hữu: "thật vậy, càng ngắm nhìn những ảnh tượng này, thì những người ngắm nhìn tới đó càng nhớ tới và ao ước những mẫu mực gốc, và khi hôn kính những ảnh tượng, họ chứng tỏ lòng kính cẩn và tôn sùng" (DS 601).
Những chỉ thị này áp dụng cách riêng cho việc tôn kính Đức Trinh Nữ Rất Thánh. Các ảnh tượng, tranh vẽ Đức Mẹ đặt trong nhà thư, nơi công cộng và vô số nhà thờ, nhà nguyện, giúp tín hữu cầu khẩn sự hiện diện liên lỉ và sự bàu chữa đầy tình thương của Người trong nhiều hoàn cảnh của đời sống. Vì làm cho lòng nhân hậu của Đức Maria được rõ nét và gần như thấy được, nên những ảnh tượng đó đòi hỏi chúng ta quay hướng về Người, cầu nguyện với Người cách tin cẩn và bắt chước Người can đảm chấp nhận thánh ý Chúa.
Không một ảnh tượng nào được biết lâu nay, diễn tả được đúng gương mặt của Đức Maria, như Thánh Augustinô nhìn nhận (De Trinitate 8, 7), dầu vậy, các ảnh tượng đó giúp thiết lập một quan hệ sống động hơn với Đức Maria. Cho nên thói quen trưng bày ảnh tượng Đức Maria tại những nơi thờ phượng và trong các nơi khác nên được khuyến khích, để chúng ta nhận thức sự giúp đỡ của Người trong những lúc gian nan và như để chúng ta lưu tâm sống một cuộc đời mãi mãi thánh thiện và trung thành hơn với Thiên Chúa.
4. Để động viên các tín hữu sử dụng đúng các ảnh tượng Thánh. Công Đồng Nicê nhắc lại rằng "vinh dự dành cho ảnh tượng thật sự dành cho nhân vật nó diễn tả, và những người tôn kính ảnh tượng thì tôn kính đích thực nhân vật nó diễn đạt" (DS 601).
Cho nên khi tôn thờ Ngôi Lời Nhập Thể qua ảnh tượng Chúa Kitô, người tín hữu thực hành một hành động đích thực thờ phượng không có chút gì liên quan đến việc thờ các ngẫu tượng.
Cũng vậy khi người tín hữu tôn kính những ảnh tượng Đức Maria thì thực hành của họ cuối cùng là có ý tỏ lòng tôn kính chinh con người thật của Thân Mẫu Chúa Giêsu.
5. Vì vậy Công Đồng Vatican II khuyến khích các nhà thần học và những người rao giảng Lời Chúa không nên phóng đại cũng không nên giảm thiểu phẩm giá đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa. Công Đồng nói thêm: "nhờ học hỏi Kinh Thánh, các Thánh Giáo Phụ, các tiến sĩ và phụng vụ trong Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của quyền Giáo Huấn Giáo Hội, họ hãy làm sáng tỏ đúng mức những chức vụ và đặc ân của đức Trinh Nữ, những chức vụ và đặc ân này luôn quy hướng về Chúa Kitô, nguồn mạch toàn thể chân lý, thánh thiện và đạo đức" (LG 67b).
Sự tôn kính của Đức Maria bắt nguồn từ lòng tin và lòng yêu mến hiếu thảo
Giáo lý chính thống về Đức Maria được bảo đảm do độ trung thành với Kinh Thánh và Thánh Truyền, cũng như với những bản văn phụng vụ và huấn quyền. Đặc tính thiết yếu của nó là quy chiếu về Chúa Kitô tất cả nơi Đức Maria phát sinh từ và hướng về Chúa Kitô.
6. Sau cùng, Công Đồng cung cấp cho các tín hữu nhiều tiêu chuẩn để sống đích thực tương quan con thảo với Đức Maria: "Phần các tín hữu hãy nhớ rằng lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta" (LG 67c).
Với những lời lẽ đó, các Nghị Phụ dạy dân chúng đề phòng sự "mê tín" và chống lại tình cảm lấn áp. Các Ngài nhắm trước hết tới sự xác nhận việc tôn kính đích thực Đức Maria, bắt nguồn từ lòng tin và yêu mến, nhìn nhận phẩm giá của Đức Maria. nuôi dưỡng tình gắn bó con thảo với Người, và gieo vào lòng sự dốc quyết vững mạnh muốn bắt chước các nhân đức của Người.
admin
19-09-2006, 08:11 AM
69. CHÚNG TA CÓ THỂ TRÔNG CẬY VÀO SỰ BÀU CHỮA CỦA ĐỨC MARIA
(Osservatore Romano số 46 ngày 12/11/1997-
Thứ Tư, 05/11/1997)
Người tín hữu luôn luôn nhìn nhận giá trị sự hiện diện từ mẫu của Đức Trinh Nữ Rất Thánh và chạy tới Người cầu xin bất cứ ân sủng nào.
1. Trải qua hàng thế kỷ nay, sự sùng kính Đức Maria lan rộng không ngừng. Ngoài những ngày lễ phụng vụ theo truyền thống để kính nhớ Mẹ Thiên Chúa, đã trổ sinh vô số cách thức diễn tả lòng sùng kính, thường được phê chuẩn và khuyến khích bởi Huấn Quyền Giáo Hội.
Nhiều cách sùng kính và kinh đọc, làm khuếch trương ngành phục vụ và nhiều khi góp phần làm phong phú toàn bộ phụng vụ, ví dụ Nhật tụng kính Đức Nữ Trinh Rất Thánh, và nhiều bản kinh khác trở nên thành phần của Giờ Kinh Phụng Vụ.
Kinh cầu Đức Maria được biết đầu tiên, khởi sự từ thế kỷ thứ ba và mở đầu bằng những tiếng: "Chúng con trông cậy (Sub tuum) Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời". Nhưng từ thế kỷ thứ 14 kinh các kitô hữu thường đọc nhất là kinh "Kính Mừng".
Khi lặp lại những lời đầu tiên của sứ thần thưa với Đức Maria, người tín hữu có dịp suy gẫm về mầu nhiệm Nhập Thể. Tiếng Latinh "Ave" dịch từ tiếng Hy Lạp "Chaire": đó là một lời mời gọi vui mừng và có thể dịch "hãy vui mừng". Ca vịnh Đông phương "Akathistos" nhấn đi nhấn lại sự "vui mừng" này. Trong Kinh "Kính Mừng" Đức Trinh Nữ Rất Thánh được gọi là "đầy ân sủng" và như vậy là Người được nhìn nhận có một tâm hồn trọn lành và cao đẹp.
Chuỗi Mân Côi giữ một vị trí quan trọng trong sự sùng kính Đức Maria
Câu "Thiên Chúa ở cùng Bà" mặc khải mối tương quan đặc biệt cá nhân giữa Thiên Chúa và Đức Maria, tương quan này phù hợp với chương trình Chúa lập giao ước với loài người. Tiếp theo, câu "Bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phước lạ", diễn tả sự hoàn thành chương trình của Thiên Chúa nơi thân xác đồng trinh của người Nử Tử Xion.
Khi đọc "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời" người kitô hữu cầu xin Đấng làm Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa qua một đặc ân duy nhất: "cầu cho chúng con là kẻ có tội", và phó thác chính mình cho Đức Maria trong thời hiện tại cũng như trong thời kỳ cuối đời khi chết.
2. Kinh truyền thống "Angelus" (nhựt một) cũng mời người kitô hữu suy gẫm về mầu nhiệm Nhập Thể, thúc giục họ coi Đức Maria như một điểm quy chiếu vào những thời khắc khác nhau trong ngày sống của họ, ngõ hầu có thể bắt chước sự Người sẵn sàng hoàn thành chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Kinh này bắt chúng ta bằng cách nào đó sống lại biến cố trọng đại trong lịch sử nhân loại là biến cố Nhập Thể được nhắc tới trong mỗi Kinh "Kính Mừng". Ở đây, chúng ta thấy được giá trị và sự hấp dẫn của kinh "Angelus" được diễn tả rất nhiều lần, không những do các nhà thần học và mục tử mà cả đến những nhà thơ và hoạ sĩ nữa.
Trong sự sùng kính Đức Maria, Chuỗi Mân Côi giữ một vai trò quan trọng. Khi lặp lại "Kính Mừng Maria", chúng ta được hướng dẫn suy gẫm những mầu nhiệm đức tin. Khi nuôi dưỡng lòng yêu mến của dân kitô hữu đối với Mẹ Thiên Chúa, kinh đọc đơn sơ này cũng hướng lời cầu nguyện với Đức Maria tới mục đích của nó cách rõ ràng hơn: tôn vinh Chúa Kitô.
Đức Giáo Hoàng Piô VI, cũng như các vị Tiền Nhiệm, cách riêng Đức Lêô XIII, Piô XII và Gioan XXIII, rất quý trọng việc đọc Chuỗi Mân Côi và muốn việc đọc kinh ấy được phổ biến trong các gia đình. Hơn nữa, trong Tông Thư Marialis Cultus, Ngài giải thích giáo thuyết này bằng cách gọi đây là một "kinh nguyện Phúc Âm, tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể", và nhấn mạnh "đến chiều hướng Kitô học rõ ràng của nó" (số 46).
Lòng sốt sắng bình dân thường thêm Kinh Cầu vào Chuỗi Mân Côi. Kinh cầu có tiếng nhất được dùng tại đền Loretô cho nên được gọi là "Kinh cầu Loretô".
Với những lời cầu rất đơn sơ, nó giúp chúng ta tập trung vào bản thân Đức Maria, ngõ hầu nắm chắc những ơn phúc thiêng liêng mà tình yêu của Thiên Chúa Cha đã đổ xuống trên Người.
3. Như phụng vụ và lòng sốt sắng kitô hữu chứng tỏ, Giáo Hội luôn luôn coi trọng việc sùng kính Đức Maria, cho rằng nó được liên kết chặt chẽ với niềm tin vào Chúa Kitô. Thật vậy, việc sùng kính này có nền tảng trong chương trình của Chúa Cha, trong ý muốn Đấng Cứu Thế và trong sự soi dẫn Chúa Thánh Thần.
Vì đã nhận lãnh ơn cứu độ và ân sủng từ Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ Rất Thánh được gọi giữ vai trò quan trọng trong việc cứu rỗi nhân loại. Qua sự sùng kính Đức Maria, người kitô hữu hiểu biết giá trị sự hiện diện của Đức Maria trong cuộc hành trình của mình đi tới phần rỗi, nên họ chạy tới cầu cứu Người để xin mọi thứ ân sủng. Nhất là các kitô hữu biết rằng mình có thể cậy trông sự cầu bàu từ mẫu của Người, để lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì cần thiết để lớn lên trong đời sống linh thiêng và đạt tới sự cứu rỗi đời đời.
Như nhiều tước hiệu được gán cho Đức Trinh Nữ Rất Thánh, và như những cuộc hành hương thường xuyên đến các Đền Thờ Đức Maria làm chứng, thì sự tin cậy của người tín hữu vào Mẹ Chúa Giêsu, thúc đẩy họ kêu lên Mẹ cho những nhu cầu hằng ngày.
Đức Maria không thờ ơ với những nhu cầu con cái mình
Họ tin chắc rằng trái tim Người Mẹ không thể thờ ơ với sự thiếu thốn vật chất và thiêng liêng của con cái mình.
Bằng cách khuyến khích lòng cậy trông và tự nguyện của người tín hữu, sự sùng kính Đức Mẹ Chúa Trời giúp họ làm sáng lên đời sống thiêng liêng của mình và cho họ khả năng tiến bước trên con đường khó nhọc của các "Mối Phúc".
4. Sau cùng, chúng ta muốn nhắc lại rằng sự sùng kính Đức Maria nêu cao chiều kích nhân bản của mầu nhiệm Nhập Thể giúp chúng ta nhận thức rõ hơn gương mặt của một Thiên Chúa biết chia sẻ những vui buồn của nhân loại, Vị "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" mà Mẹ đã cưu mang làm người trong dạ rất thanh sạch của Mẹ, đã sinh ra, nuôi dưỡng và bằng tình yêu khôn tả đã theo dõi từ những ngày ở Nadaret rồi Bêlem cho tới những ngày Tử Nạn và Phục Sinh.
admin
19-09-2006, 08:14 AM
70. NHỮNG ANH EM LY KHAI CŨNG TÔN KÍNH ĐỨC MARIA
(Osservatore Romano số 47 ngày 19/11/1997-
Thứ Tư, 12/11/1997)
Ngày nay nhiều người Anh Giáo và kitô hữu Tin Lành sùng kính Đức Maria và anh em Chính Thống Giáo cũng đã luôn yêu mến và cung kính Đức Maria với một sự tôn sùng nồng nhiệt.
1. Sau khi giải thích mối tương quan giữa Đức Maria và Giáo Hội, Công Đồng Vatican II vui mừng khi thấy Đức Nữ Trinh rất thánh cũng được tôn kính do những người kitô hữu không thuộc cộng đồng Công Giáo: "Thánh Công Đồng rất vui mừng và được an ủi khi thấy ngay giữa các anh em ly khai không thiếu những người dâng lên Mẹ Chúa Cứu Thế vinh dự Ngài đáng được." (LG 69a). Nhìn vào sự kiện đó, chúng ta có thể nói rằng chức làm Mẹ phổ quát của Đức Maria là một dấu hiệu hy vọng lớn đối với tiến trình hiệp nhất, cho dù do đó phát sinh những chia sẻ u buồn biết bao.
Nhiều cộng đồng Tin Lành vì có quan niệm riêng biệt về ân sủng và Giáo Hội học, chống đối giáo lýù và sự tôn kính Đức Maria, cho rằng sự cộng tác của Đức Maria trong công trình cứu chuộc sẽ làm giảm giá sự trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Theo cái nhìn này thì sự tôn kính Đức Maria cạnh tranh cách nào đó với danh dự dành cho Người Con.
2. Dầu sao những năm gần đây sự nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng của nhà cải cách đầu tiên, cho thấy nhiều lập trường cởi mở hơn đối với giáo lý công giáo. ví dụ, những bài viết của ông Luther, chứng tỏ tình yêu và lòng sùng kính với Đức Maria được đề cao như là một mẫu mực các nhân đức: ông xác nhận sự thánh thiện cao siêu của Mẹ Thiên Chúa và thỉnh thoảng ông khẳng định đặc ân vô nhiễm ấy, chia sẻ niềm tin qua về đức đồng trinh trọn đời của Đức Maria cùng với những nhà cải cách khác.
Các kitô hữu phương đông cung kính đặc biệt Đức Maria
Công cuộc nghiên cứu tư tưởng của Luther và Calvin, cũng như phân tách một vài bản văn Phái Kitô hữu Phúc Âm, đã góp phần gây nên sự quan tâm đổi mới do các Phái Tin Lành và Anh Giáo đối với nhiều chủ đề thuộc giáo lý Đức Maria.
Nhiều vị đã đi tới những lập trường rất gần với lập trường của các người công giáo liên quan đến những điểm cơ bản về giáo lý Đức Maria, như chức làm Mẹ Thiên Chúa, sự đồng trinh, sự thánh thiện và chức làm Mẹ thiêng liêng của Người.
Sự quan tâm nhấn mạnh tơi sự hiện diện người phụ nữ trong Giáo Hội thúc đẩy sự cố gắng nhìn nhận vai trò của Đức Maria trong lịch sử cứu độ.
Tất cả những sự kiện này là những lý do đem hy vọng cho tiến trình hiệp nhất. Người công giáo ước muốn sâu xa có thể chia sẻ với mọi anh chị em mình trong Chúa Kitô, niềm vui mừng xuất phát từ sự hiện diện của Đức Maria trong cuộc sống theo Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
3. Trong số anh em "có lòng tôn sùng người Mẹ của Chúa và là Đấng Cứu chuộc chúng ta", Cộng đồng kể những kitô hữu phương đông "là những kẻ do lòng sốt sắng và sung lực nhiệt tình, tôn vinh Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh (LG 69)".
Như chúng ta có thể nhận thấy do họ diễn tả lòng sùng kính, thì sự tôn kính Đức Maria miêu tả một yếu tố đầy ý nghĩa về sự hiệp thông giữa người công giáo và chính thống giáo.
Nhưng còn nhiều điểm bất đồng xung quanh các tín lý Vô Nhiễm Thai và Quy Thiên, dầu những chân lý này được trình bày trước tiên do một ít nhà thần học Phương Đông ta chỉ kể tên các tác giả lớn như Gregory Palamas (+1359), Nicholas Gabasilas (+ 1369) và George Sholarios (+1472).
Những bất đồng này, dù sao đi nữa có lẽ là những bất đồng trong phát biểu hơn là trong nội dung, nên đừng bao giờ để chúng làm chúng ta quên niềm tin chung của chúng ta về chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, đức trọn đời đồng trinh, sự thánh thiện vẹn toàn và sự cầu bàu từ mẫu của Người với Con Người. Như Công Đồng Vatican II nhắc lại: "xung lực nhiệt tình" và "lòng sốt sắng" này liên kết người Công Giáo và Chính Thống Giáo trong sự tôn kính Đức Mẹ Thiên Chúa.
4. Trong phần kết Hiến Chế Lumen Gentium, Công Đồng mời gọi chúng ta phó thác sự hiệp nhất các kitô hữu cho Đức Maria: "Tất cả mọi kitô hữu hãy thiết tha khẩn nguyện Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ loài người, để như Người đã trợ giúp Giáo Hội sơ khai bằng lời cầu nguyện của mình, thì ngày nay được tôn vinh vượt trên các thần thánh trên trời (Sđd.)
Đúng như sự hiện diện của Đức Maria trong cộng đoàn đầu tiên nuôi dưỡng tình thống nhất lòng người, mà sự cầu nguyện làm thêm vững mạnh và khả kiến (x. Cv 1,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%201:14&FontSize=Txt10)), thì cũng vậy, sự thông hiệp thâm sâu nhất với Đức Maria mà Thánh Augustinô gọi là Mẹ của sự hiệp nhất (Sermo 192, 2; PL 38, 1013), có thể dẫn đưa người kitô hữu tới chỗ vui hưởng sự hiệp nhất đại kếât trông đợi từ lâu nay.
Qua Đức Maria chúng ta cầu xin sự hiệp nhất và an hoà
Chúng ta không thôi cầu xin Đức Nữ Trinh Rất Thánh, cũng như từ buổi đầu Ngài đã nâng đỡ sự hành trình hiệp nhất của cộng đồng kitô hữu trong cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng, thì ngày nay nhờ lời cầu khẩn của Người, Người có thể mang lại sự hoà giải và hiệp thông trọn vẹn giữa những người tin vào Chúa Kitô.
Là Mẹ loài người, Đức Mẹ biết rõ những nhu cầu và những ước muốn của nhân loại. Đặc biệt Công Đồng xin Người cầu bàu sao cho "mọi gia đình dân tộc, hoặc đã mang danh hiệu kitô hữu, hoặc chưa biết Đấng Cứu Chuộc, đều hân hoan đoàn tụ trong an bình và hoà thuận, hợp thành một Dân Thiên Chúa duy nhất, hầu vinh danh Ba Ngôi Thiên Chúa rất thánh và không phân chia" (LG 69b).
Niềm an bình, sự hoà hợp và sự hiệp nhất mà Giáo Hội và nhân loại mong đợi xem như vẫn còn xa vời. Dù vậy, những điều đó vẫn là hồng ân của Thần Khí mà chúng ta phải luôn tìm kiếm, khi học nơi Đức Maria và tin tưởng vào sự cầu bàu của Người.
5. Cầu xin như vậy là người kitô hữu chia sẻ sự trông đợi của Đấng, đầy lòng trông cậy nâng đỡ Giáo Hội trong cuộc hành trình về tương lai cùng với Thiên Chúa.
Tự bản thân, Đức Maria đã đạt tới hạnh phúc, bởi vì "Bà tin rằng những gì phán cùng Bà được thực hiện" (Lc 1,45 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:45&FontSize=Txt10)), Đức Nữ Trinh Rất Thánh đồng hành với những kẻ tin - và toàn thể Giáo Hội - để trong thế giới, giữa những vui mừng và đau khổ của cuộc sống, họ có thể là những ngôn sứ đích thực rao giảng niềm hy vọng không bao giờ làm thất vọng.
- Hết -
ĐÔ. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.