View Full Version : Mùa Thường niên B - Fiches Dominicales
admin
11-07-2009, 08:33 PM
CNTN10
CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN
HAI CĂN NHÀ
(Mc 3,20-25)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ căn nhà chia rẽ chống lại chính minh
Trên núi, Ðức Giêsu thiết lập nhóm "mười hai để họ ở với Người và để sai họ đi rao giảng với quyền xua đuổi ma quỷ". Giờ đây Người "vào một ngôi nhà nơi đám đông tụ tập. Họ khao khát nghe lời Người đến nỗi Người không có thời giờ ăn uống? Chính trong khung cảnh ấy Máccô tường thuật lại hai cuộc chống đối Ðức Giêsu. Sự chống đối của gia đình người". Thân nhân của Người nói: "Người đã mất trí" và họ đến "bắt Người về (kiểu nói "bắt" được nhắc lại 4 lần trong bài Thương khó để chỉ việc bắt giam Ðức Giêsu). Sự chống đối của các "Luật sĩ đến từ Giêrusalem" uy quyền tôn giáo ở Israel: Họ tố cáo Người bị quỷ "Bê-en-dê-bun ám"và Người xua đuổi ma quỉ vì Người là "tướng quỷ" Ðức Giêsu đã trả lời họ tức khắc bằng hai dụ ngôn ngắn:
- Dụ ngôn thứ nhất về " vương quốc " hoặc về "gia đình " chia rẽ. Ðức Giêsu viện dẫn lương tri: làm sao Satan có thể xua đuổi Satan (hoặc quân quốc của Satan?). Ðó là dấu hiệu "hắn tự chống lại mình", "tự chia rẽ", như thế đâu thể đứng vững; quả hắn đã đến ngày tàn".
Dụ ngôn thứ hai về "người mạnh" khi xua tuổi ma quỉ, Ðức Giêsu chứng tỏ Người mạnh hơn Satan, có thể "trói gô" hắn lại. Ðối với các Luật sĩ những kẻ hiểm ác đến độ qui về Satan cả những hoạt động của Thánh Linh, Ðức Gtêsu tràn đầy Thánh Thần Thiên Chúa đã cho họ biết rằng Người đến truất phế Satan khỏi vương quốc của hắn và Người sẽ trị vì thay hắn.
2. đến căn nhà qui tụ các anh em Ðức Giêsu
Thân nhân của Ðức Giêsu tới để "bắt Người". Họ, những kẻ "đời hỏi Người" hiện nay đang "ở ngoài" theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; ở bên ngoài căn nhà, họ đụng phải dòng người vây quanh Thầy để lắng nghe.
Ðức Giêsu đảo mắt nhìn những người tự tập quanh Người (theo Máccô, cái nhìn chăm chú ấy luôn mang một ý nghĩa quan trọng) và đưa ra một lời tuyên bố long trọng: gia đình thực sự của Người không phải là gia đình theo xác thịt, nhưng là những người lắng nghe lời Người và thực hành thánh ý Thiên Chúa: "Ai thi hành thánh ý Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta".
J. Hervieux giải thích: "Ðối với Máccô, đó là một cách diễn tả Giáo Hội vừa rõ ràng vừa đơn sơ cho các Kitô hữu thời ấy. Cơn bách hại của người rôm đã đẩy bao gia đình vào thảm cảnh chia lìa đớn đau. Những người trở lại đảo luôn bị bắt buộc phải lựa chọn hoặc dây liên hệ gia đình, hoặc gắn bó với cộng đoàn Kitô hữu. Tác giả Tin Mừng chỉ cho họ thấy rõ chính Ðức Giêsu cũng đã bị bắt buộc phải cắt đứt hoàn toàn mối dây liên hệ với thân nhân" ("Tin Mừng Marco", Centurion, trang 63).
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. Một gia đình khác, mạnh hơn gia đình thuộc huyết tộc, đang tbành hình
(G. Bessière: trong "Thiên Chúa rất gần. Năm B", DDB, trang 107-108).
Dư luận xì xầm. Làng xóm bàn tán. Gia đình mở cuộc họp. Ðó là mối nhục của gia tộc. Và ta không thể gả chồng cho các cô gái nữa. Chỉ cần thốt ra tên một người, tức khắc mọi người sẽ tránh xa. Hội đồng gia tộc đã quyết định: "Người ta bảo ông ta khùng rồi"trong khi đám đông vây xúm xít quanh Ðức Giêsu, "gia đình Người tới để bắt người, vì họ cho rằng: Người đã "mất trí". Những ông cậu, những ông anh bà con lực lưỡng cũng biết rằng một uỷ ban luật pháp - các luật sĩ - đã được phái tới từ Giêrusalem để điều tra. Kết luận của họ nguy hiểm cho Người và cho danh giá của cả gia tộc: "Người bị tướng quỷ Bê-en-dê-bun ám; Chính nhờ uy quyền của tướng quỷ người mới trừ được lũ quỷ con". Tốt hơn nên nói rằng: Người đã "mất trí".
Người đã làm gì để đến nỗi bị coi là điên khùng hay một người ủng hộ Satan? Người loan báo rằng Thiên Chúa đã đến
Gần, giải thoát những người bị quỷ ám, chữa lành các bệnh nhân, gần gũi những người cùi, thậm chí còn dám đựng chạm để chữa lành họ, Người còn đi đến mức tha thứ cho người tội lỗi, ăn uống tại nhà những người tội lỗi công khai. Người tự do trong việc giữ luật ngày Sabát. Người có lập trường riêng chẳng hề dựa trên truyền thống. Người nói phải chứa rượu mới trong bầu da mới! Tóm lại là đảo lộn tất cả, và còn tự xưng là... Thiên Chúa!.
Chẳng có cách nào băng qua những vòng người ngồi chung quanh để tóm lấy người. Gia đình người đành ở lại bên ngoài và cho đòi Người. người ta nhắn vào: "Mẹ Thầy và anh em Thầy ở ngoài kia tìm Thầy". Nhưng người trả lời: "Ai là mẹ Ta? ai là anh em Ta? Rồi đưa mắt nhìn mọi người đang ngồi thành vòng tròn chung quanh, Người bảo: "Ðây là mẹ Ta và anh em Ta. Ai thực hành thánh ý Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em, và mẹ Ta".
Ở một thời buổi và giữa một dân tộc coi gia đình là thánh thiêng, Ðức Giêsu đã có một thái độ thoát ly tán bạo. Một gia đình khác chào đời, mạnh hơn gia đình theo huyết tộc, mở rộng đón nhận cả nhân loại, gia đình của Cha Ðấng ngự trên trời. Ai đo lường được mức độ mới mẻ gây tranh cãi mà đứa con lạc loài của Nadarét mang lại?
2. Cuộc hành hương đức tin của Maria
(G.Garde trong "Các cộng đoàn của Chúa" số 41, trang 51).
Máccô buộc ta phải hiểu đức tin của Ðức Maria là một đức tin lớn mạnh tiệm tiến. Chẳng phải ngay lúc nhập thể, Ðức Maria đã hiểu biết con trai mình là Thiên Chúa. Luca không nói khác, vì theo ông, Mẹ không hiểu câu trả lời của Ðức Giêsu ở Ðền Thờ năm Người lên 12 tuổi (Lc 2,50). Cũng vậy, hôm nay Mẹ tin rằng phải dùng quyền làm mẹ, để đưa Ðức Giêsu trở lại cuộc sống đơn sơ ở Nazareth, nhất là khi giáo quyền của đạo Do Thái xem ra chống lại con Mẹ. Dần dà, nhờ "lắng nghe Lời Chúa" và nhờ thực hành thánh ý mà Ðức Maria đã lớn lên trong đức tin, một đức tin càng ngày càng sáng tỏ. Quyền làm mẹ đã tìm thấy một chiều kích mới, để trở nên Mẹ Giáo Hội.
admin
11-07-2009, 08:35 PM
CNTN11
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN
HAI DỤ NGÔN VỀ NƯỚC TRỜI
(Mc 4,26-34)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Hạt giống tự mọc lên.
Tiếp theo trình thuật về ai là thân nhân thực của Ðức Giêsu (Tin Mừng Chúa nhật trước), Máccô đã long trọng đưa vào một chương mới, phải nói là quan trọng. Lúc ấy Ðức Giêsu đang ở ven Biển Hồ " Galilê. "Một đám người rất đông " tụ họp chung quanh Người. Nên Người phải "xuống thuyền mà ngồi dưới biển để giảng dạy đám đông đang ở trên bờ " (4, 1 - 2).
Ðây là lần đầu tiên Người giảng dạy "bằng dụ ngôn" (4,2). J. Hervieux giải thích: "Dụ ngôn là một câu chuyện rút ra từ thiên nhiên hay trong đời sống thường nhật. Nhờ hình thức rất đơn giản và tính cách lạ thường, dụ ngôn dễ làm cho người nghe chú ý và khiến họ phải suy nghĩ đến điều mà dụ ngôn có ý nhắm tới thông qua những hình ảnh" ("L'evangile de Marc", Centurion, trang 65).
Bỏ qua các dụ ngôn người gieo giống (1 -9, 13-20) dụ ngôn cái đèn (21 -23) cái đấu (24-25), là những dụ ngôn ta đã suy niệm trong năm A-Matthêu, bài đọc năm B này chỉ giữ lại hai dụ ngôn cuối cùng: dụ ngôn hạt giống tự mọc lên và dụ ngôn hạt cải.
Mở đầu Tin Mừng Chúa nhật XI thường niên này là dụ ngôn Hạt giống tự mọc lên.
+ Tiên vàn trình thuật vắn tắt gợi lại thời gieo vãi: chuyện nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người-vãi hạt giống xuống đất".
+ Rồi kết thúc cũng một cách vắn gọn, nói về "thời gặt lúa". "Lúc vừa chín, người ta đem liềm hái ra gặt ". Kiểu nói sau này là mượn lời của ngôn sứ Joel 4,1 3 loan báo ngày phán xét của Chúa tương tự như mùa gặt: "Ta sẽ ngự toà phán xét muôn dân - Hãy đem liềm hái ra, vì đã đến mùa gặt rồi".
+ Khoảng giữa hai thời kỳ là việc nảy mầm và phát triển của hạt giống diễn ra trong âm thầm và chậm chạp, được tác giả Tin Mừng gợi ra bằng những giai đoạn lần lượt nối tiếp nhau: "cây lúa", " trổ đòng" rồi "bông lúa nặng trĩu hạt".
Ðối lại với sự hoạt động của hai thời kỳ gieo và gặt, là tính vô lo rõ ràng của người gieo trong giai đoạn trung gian này. Thật vậy bác nhà nông của chúng ta đã trở lại nhịp sống thường ngày. Bác lo toan những công việc khác mà chẳng phải bận tâm đến đồng ruộng nữa. Vậy mà đang lúc ấy, "đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức", thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, "bằng cách nào" thì người ấy không biết.
Một dụ ngôn trả lời cho tâm trạng thiếu kiên nhẫn hoặc thất vọng của đám thính giả vốn dựa vào lời giáo huấn của Gioan Tẩy Giả nên đang trông đợi ngày Chúa phán xét và trừng trị những quân gian ác, cùng với sự xuất hiện của Nước Chúa. Về phần Ðức Giêsu, Người muốn cho họ hiểu rằng Người sẽ thi hành quyền xét xử đó vào ngày tận thế, tức là vào thời kỳ gặt lúa. Còn sứ vụ hiện nay của Người là thời gian để hạt giống nẩy mầm và lớn lên; đó là thời trung gian cần thiết để Lời được gieo vãi vào lòng đất, hoạt động không ngừng trong lòng mọi người hầu chuẩn bị cho Ngày Thu Hoạch.
Khi lấy lại những lời này của Ðức Giêsu để gởi đến cho các độc giả của mình, Máccô muốn đoan chắc với họ rằng dù họ đang phải sống những giờ phút gian nan thử thách thế mà Thiên Chúa lại có vẻ như vắng bóng, nhưng kỳ thực Người vẫn đang lèo lái công trình của Người bằng một hoạt động là lặng lẽ và âm thầm, nhưng miệt mài và có kết quả.
2. Hạt nhỏ nhất lại trở thành cây lớn
Dụ ngôn thứ năm và cũng là dụ ngôn cuối cùng của chương 4 Tin Mừng Máccô, cho thấy vẻ tương phản rõ rệt giữa một bên là sự nhỏ bé, vô nghĩa lúc ban đầu, và bên kia là kết quả cuối cùng lại phong phú không ngờ, thật chẳ người tương xứng chút nào! "Hạt cải... là loại hạt nhỏ nhặt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ ".
Ngỏ lời với đám thính giả đang đánh giá sứ vụ của mình theo những tiêu chuẩn phàm trần, và với những ai đang thất vọng khi thấy vẻ khiêm tốn lúc ban đầu của mình, Ðức Giêsu báo trước cho họ biết rằng, dù thế nào, họ cũng vẫn là những người được chứng kiến công cuộc khai trương Nước Thiên Chúa. Nơi bản thân Ðức Giêsu, dù bằng cách kín đáo thế nào chăng nữa, thì Nước Thiên Chúa cũng đã xuất hiện rồi. Một ngày nào đó, nhân loại sẽ phải ngỡ ngàng chứng kiến sức mạnh vô địch và vẻ phong phú lạ lùng của Nước ấy. Cái gì mắt người được nhìn thấy hiện nay không cho ai đoán trước được nó sẽ như thế nào ớ giai đoạn chót của mức phát triển.
Tường thuật lại cho các độc giả của mình những lời này của Ðức Giêsu, Máccô muốn trấn an họ rằng hoạt động của Ðức Giêsu khi còn tại thế dù khiêm tốn, nhỏ bé, và cộng đoàn các môn đệ của Người là Giáo Hội, dù có yếu đuối thế nào, thì tất cả đều đang tham gia vào thành tựu vẻ vang của một công trình tràn đầy sức sống mà khi tới giai đoạn chót của mức phát triển, phải đạt được chiều kịch toàn cầu (J.Hervieux).
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. "Chính Thiên Chúa mới là tác giả của Nước Trời"
(L.S;ntas, trong "Parole de diệu pour la mÚditation ét l'homélie, năm B", Médiaspaul, trang 90-91).
Ðức Giêsu kể tiếp một dụ ngôn khác liên kết với dụ ngôn nói về sự phát triển từ những cái nhỏ bé. Dụ ngôn này đem lại rất nhiều sức nâng đỡ, ủi an, nếu ta biết sống đúng chân lý của dụ ngôn ấy. Thật vậy, nhiều khi vì lòng nhiệt thành mà ta lại phải chuốc lấy lo âu phiền muộn. Khi ta mệt mỏi phần nào vì trông cho Nước Chúa trị đến, nên có lẽ vì sự mệt mỏi đó, mà ta đòi hỏi phải có ngay và thấy được sự thành tựu. Ðó cũng là điều tự nhiên thời. Thế nhưng thái độ đó thật nguy hiểm. Vì rốt cuộc nó sẽ làm cho ta ngờ rằng chính ta là những tác giả, là những người thợ kiến tạo Nước Trời. Mà thực ra chỉ mình Thiên Chúa và chính Thiên Chúa mới là tác giả của Nước ấy. Về phần ta, chỉ phải coi mình là những dụng cự bé mọn mà tay Chúa dùng. Hãy nhìn hạt giống đã gieo vãi xuống đất. Ðêm hay ngày, người gieo có ngủ hay thức, lo âu hay thanh thản, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên. Không ai có thể thúc bách cho hạt giống mọc vội, mọc nhanh. Bởi lẽ chính Chúa mới là Kẻ Kiến Tạo Nước Trời.
Trong những thời kỳ khủng hoảng chúng ta đang trải qua trong Giáo Hội, thiết tưởng ta nên coi trọng dụ ngôn này. Những xao xuyến, bồn chồn, cuồng nhiệt của ta sẽ chẳng thêm gì hơn cho Nước Chúa. Nước Chúa chỉ cần ta góp phần vào một việc là người gieo hãy làm công việc của mình cách trung thực. Ðành rằng công việc gieo vãi này, ta phải chu toàn. Nhưng hãy ở đúng vị trí của mình, chứ đừng bao giờ lấn sang chỗ không phải là của ta. Hạt giống mọc lên không tuỳ thuộc ở ta mà hoàn toàn tuỳ thuộc ở Chúa. Nếu tình hình hiện nay của Giáo Hội cho phép ta hiểu biết khá hơn chân lý này, thiết tưởng cũng là điều hữu ích vậy.
2. "Chỉ trong vài dòng mà đã nói lên tất cả hành trình cuộc đời của Ðức Giêsu và tất cả bước đường phiêu lưu của Nước Trời.
(G.Bessi~re, trong "Die~si proche. năm B", Desclée de Brouwer, trang 111- 112).
Quả thực, chuyện Nước Thiên Chúa cũng giống như chuyện của hạt giống vậy. Ðược gieo vãi vào lòng đất, hạt giống sẽ nẩy mầm, mọc lên và phát triển, không cần đến bày tay can thiệp của người gieo, không cần biết hạt giống mọc lên như thế nào. Nước ấy sẽ tỏ hiện vào mùa gặt, nghĩa là vào ngày "chung thẩm". Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, liềm hái và mùa gặt gợi ra hình ảnh ngày tận thế"? Từ khi gieo vãi cho đến mùa gặt là thời gian đất hoạt động âm thầm: mầu nhiệm sự chết và sự sống. Khi kể dụ ngôn này, Ðức Giêsu có vẻ đặc biệt nhấn mạnh đến giai đoạn phát triển của phạt giống. Trọn hành trình cuộc đời của Ðức Giêsu được nói lên ở đây, vắn gọn trong một vài dòng - Và đó cũng là tất cả bước đường phiêu lưu của Nước Trời. Lời Chúa đã mang mầm mống nhân loại: "và Ngôi Lời đã trở nên người phàm". Giờ đây Người động ở trong cánh đồng nhân loại để gieo vãi. Rồi sẽ tới ngày là mùa gặt. Hiện giờ là phải sống tin tưởng và hy vọng vì là lúc hạt giống đang nẩy mầm và lớn lên.
Dụ ngôn thứ hai, dụ ngôn hạt cải nhấn mạnh đến tính cách nhỏ bé của hạt và tầm vóc lớn lao của cây. Thật lạ lùng! Hãy nhìn coi, vật nhỏ bé nhất của trần gian, mà phát triển như vậy đón Nước trời ở khắp mọi nơi. Ở đâu người ta đón nhận Lời Chúa, ở đó lời chúa trở nên hữu hình. Hạt giống của Lời nẩy mầm và lớn lên trong âm thầm của những cõi lòng, trong huyền nhiệm của những cuộc đời vậy.
admin
11-07-2009, 08:37 PM
admin
11-07-2009, 08:38 PM
CNTN14
CHÚA NHẬT XIV THƯƠNG NIÊN
"BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG"
(Mc 6, 1 - 6)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Dân làng Nagiarét ngạc nhiên mà không tin
Trong thời gian rao giảng Tin Mừng ở Galilê, Ðức Giêsu hẳn
đã có nhiều dịp trở về Nagiarét. Thế nhưng Tin Mừng nhất lãm (Mt 13,54-58; Lc 4,16 và tiếp theo; Mc 6,1 -6) đã chỉ ghi lại có một lần viếng thăm này mà thôi, bởi lẽ đối với các ngài, thái độ rẻ rúng của dân làng Nagiarét đối với Ðức Giêsu trong lần viếng thăm ấy, đã mang ý nghĩa tiêu biểu cho thái độ chối từ của dân Do Thái mà Người đã phải hứng chịu.
Phần đầu của buổi viếng thăm này rất giống với những gì Máccô kể ra ở 1,21: thiên hạ đều sửng sốt về lời giảng dạy của Ðức Giêsu. Nhưng phần kết thúc của hai bài tường thuật lại khác nhau hoàn toàn. Ở đây, nơi quê quán" của Người, những người nghe mà cảm phục, rồi lại mau chóng thay lòng đổi dạ, không tin Chúa, tiên vàn họ đều là những người cùng làng xóm với Người. M.E. Boismard tự hỏi: Làm sao giải thích sự thay đổi tình hình như vậy? Ông gợi ý: "Có thể là vì thời Ðức Giêsu, người Do Thái vốn có một niềm tin khá phổ biến như sau: Ðấng Kitô phải có một nguồn gốc siêu phàm huyền nhiệm. Sau này trong buổi đối thoại với một người Do Thái là Try-phon, thánh Giút-ti-nô (khoảng năm 150) sẽ làm vang vọng lại nếm tin này khi kể lại ý kiện sau đây của những học giả Do Thái: "Nếu có người nói rằng Ðấng Mêsia đã đến rồi, người ta đâu biết ai. Chỉ khi Ngài tỏ mình ra trong vinh quang, là người ta sẽ nhận ra ngay ngài là Ðấng Mêsia " (Dial. 110, 1).
Ðó đúng là luận điệu của những người làng Nagiaré t (...). Mà cũng là luận điệu của cư dân Giêrusalem được Tin Mừng Gioan tường thuật: "Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi, còn Ðấng Kitô khi Người đến, thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả ", nghĩa là không ai biết rõ nguồn gốc của Người (Ga 7,27). Ðối với những dân làng Nagiarét cũng vậy, Ðức Giêsu không thể là Ðấng Mêsia được, vì người ta biết rõ người, biết cả tông chi họ hàng của Người nữa" ("Jésus, un homme de Nazareth", Cerf, 1 996, trang 84).
-Cụ thể là họ biết rõ nghề nghiệp của Người: "ông ta không phải là bác thợ mộc sao?" (thời ấy nghề thợ mộc không chỉ chuyên lo về mộc, mà cũng còn lo cả việc xây cất nhà cửa nữa).
-Họ biết rõ bà thân mẫu của Người: "ông ta không phải là con bà Maria sao?"
- Họ biết bà con họ hàng của Người: "ông ta không phải là anh em của các ông Giacôbê, Doxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lột xóm với chúng ta sao?".
Thế nên, làm sao mà họ nhận biết được Người là vị ngôn sứ Ðấng được Thiên Chúa sai đến để nói nhân danh Chúa? Họ "hoàn toàn vấp ngã " (sát nghĩa là bị sì-căng-đan) vì Người". Ðức Giêsu người đồng hương của họ, mà trước đây họ lấy làm vui sướng đón tiếp, thì giờ đây lại trở nên một chướng ngại vật khiến họ vấp ngã.
2. Ðức Giêsu "ngạc nhiên" vì họ cứng lòng tin và đành bó tay.
- Con người mà, các môn đệ đã từng thấy truyền lệnh cho sóng yên bể lặng (Tin Mừng Chúa nhật 1 2), xua đuổi quỷ dữ (phép lạ chừa người bị quỷ ám ở Ghêrasa, 5,1-20) cho người đàn bà mang bệnh bất trị được khỏi và đem cô gái con ông Giairôra khỏi giấc ngủ ngàn thu, thì nay bỗng trở thành kẻ bất lực, vô phương, "ngạc nhiên" vì những người đồng hương của mình cứng lòng tin. Máccô chẳng e ngại khi phải viết lời này: "Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó? Không phải là vấn đề thiếu yếu tố tâm lý cần thiết cho sự lành bệnh, mà chính là tại thiếu lòng tin, vì có tin thì "phép lạ" mới có được ý nghĩ đích thực. Nên Ðức Giêsu đành phải mượn ý câu ngạn ngữ "Bụt nhà không thiêng" mà kết luận rằng: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi".
- Nhưng không gì có thể ngăn chặn được tính năng động của Lời. Thái độ chối từ của người làng Nagiarét. cũng như sự ngạc nhiên mà thúc thủ của Ðức Giêsu, đều đã loan báo tấn bi kịch về cuộc khổ nạn và sự thất bại tỏ tường của Thập giá; còn việc Ðức Giêsu khai trương đi rao giảng cho "các làng chung quanh lại báo trước chiến thắng phục sinh và công việc truyền giáo cho các dân ngoại.
- Ðây là đoạn bản lề phân chia Tin Mừng Máccô thành hai phân rõ rệt.
+ Một giai đoạn đang hoàn thành. Trong suốt giai đoạn này vấn đề chân tính của Ðức Giêsu không ngừng được vang lên như một điệp khúc: " Vậy người này là ai?".
- Về phía các môn đệ, vấn đề luôn mở ra: "Vậy người này là
ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? Các môn-đệ đã khởi sự đi vào gia đình đích thực của Ðức Giêsu, gia đình của những người thực hành ý muốn của Thiên Chúa (3,31-35). Rồi đây sau cơn hốt hoảng của Ngày Thứ Sáu Thánh, các ông sẽ có thể tuyên xưng Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh, chết, sống lại là "Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng Rôma nơi Máccô 1 5,39).
Về phía dân làng Nagiarét, vấn đề được khép lại: "ông ta không phải là bác thợ mộc, con bà Maria sao? Câu hỏi đó đã là điềm báo trước con đường bi thảm của hiện tượng này: thái độ chối từ Chúa.
+ Một giai đoạn mới đang mở ra. Giai đoạn đó sẽ đưa ta đi từ việc tham gia công việc truyền giáo của Nhóm Mười Hai (Tin Mừng Chúa nhật tới) để rối cùng tuyên xưng lòng tin với Phêrô (8,26).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. "Ðức Giêsu đối mặt với thái độ không tin"
(Cahiers-Evangile", số 1/2 trang 53).
Câu chuyện Ðức Giêsu đến Nagiarét (6,1-6) xoay quanh vấn đề không tin và tạo nên bức tranh tương phản với chuyện xảy ra trước đây.
"Ðức Giêsu lấy làm lạ vì họ không tin " (6, 6). Một sự kiện thật là tương phản với loạt phép lạ xảy ra trước đây, và chứng tỏ rằng để nhận ra được Ðức Giêsu có quyền làm cho kẻ chết sống lại, người ta phải có một lòng tin đến thế nào.
Tới Nagiarét, nơi quê quán của Người lúc này Ðức Giêsu phải đối mặt với thái độ không tin của con người. "Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó, ngoại trừ đặt tay trên vài bệnh nhân và chữa lành họ". Việc Người không thể làm được phép lạ ở đây có liên quan tới thái độ không tin của những người trong cuộc chứ không phải do yếu tố tâm lý nơi người bệnh vốn cũng là điều kiện cho người ấy được khỏi. Không có bối cảnh của lòng tin, phép lạ chẳng còn ý nghĩa gì, và sẽ không thể nói đến phép lạ.
Ðức Giêsu đã phải sửng sốt vì thái độ không tin này. Ta hãy xem Người đã tỏ thái độ thế nào với các môn đệ khi gặp bão táp: "Sao nhát thế". Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?" (4,40). Người ta không có lòng tin là điều Chúa không hiểu nổi, thì ngược lại, khi thấy một lòng tin mạnh như thế, ngoài Israel, Người tỏ ra rất ngạc nhiên như Matthêu và Luca ghi nhận (Mt 8,10, Lc 7,9) Còn trong trường hợp này, Ðức Giêsu đang ở quê nhà, giữa đám bà con họ hàng. Người đã nói với họ rằng: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình hay giữa đám bà con thân thuộc và trong gia đình mình mà thôi" (6,4). Chỉ có mình Máccô, nhấn mạnh và xác định rõ là "giữa đám bà con thân thuộc". Tại Nagiarét, người ta lại thấy có sự phân biệt trong liên hệ "ai là mẹ tôi" đã diễn tả trước đây (3,20-35). Ở đây sự thu hẹp (về liên hệ) còn rõ nét hơn. Bởi lẽ có lần Chúa đã xác định gia đình mới của Người là những ai nghe Lời Chúa, những kẻ mà trong một buổi gặp gỡ trước đây được mô tả là ngồi chung quanh Chúa. Lúc này Ðức Giêsu và các môn đệ Người lại giữ khoảng cách với những người đứng ở ngoài, những người không thuận với Người.
Trước dây có lời chép rằng: " Ai nghe Lời Chúa, người ấy là bà con thân thuộc với tôi" (3,35). Còn ở đây, Người muốn tỏ cho thấy rằng ai tin, người ấy là bà con thân thuộc của Người. Nghe lời Chúa và tin vào Người là hai mặt luôn kết hợp hài hoà và bổ túc lẫn nhau.
2. "Ta biết người ấy quá mà"
(Ðức Cha L.Daloz trong "Qui dong est-it?", Desclée de Brouwer, trang 37-38).
"Nếu lòng tin tạo khả năng đón thận ơn cứu độ Chúa mang đến, thì sự thiếu lòng tin dựng lên hàng rào ngăn cản. Ở Nagiarét, Ðức Giêsu không thể làm được một phép lạ nào, dù là đang ở tại quê nhà, giữa đám bà con thân thuộc của mình... ở giữa đám bà con, mà Người phải "lấy làm lạ vì họ không tin". Ðức Giêsu lấy làm lạ, Còn họ khi được nghe lời Người giảng dạy ở hội đường thì "rất đỗi ngạc nhiên". Ðôi bên ngạc nhiên nhau, một thứ không hiểu nhau. Ở đây sự gần gũi với Ðức Giêsu lại nên như bức màn che giấu mầu nhiệm về bản thân Người. Người đang có mặt ở đây, rõ ràng là người đồng hương của ta. Người ta biết Người rành rọt: biết nghề nghiệp của Người, biết bà mẹ và các anh chị em của Người. Họ biết tất cả, mà cái cốt yếu thì lại không biết. Bác thợ mộc Giêsu, người Nagiarét đã phải kín đáo lắm, bình dị lắm, phải y hệt như mọi người, "chẳng có dấu hiệu gì đặc biệt. Bởi đâu ông ta được như thế". Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao? "... Như vậy, Ðức Giêsu đã tỏ ra hoàn toàn là người, hoàn toàn là một người Nagiarét, nên ở quê hương mình, người ta không thể công nhận được rằng ngoài những điều mà tới nay ai nấy vốn đã có thể biết, Người còn có gì hơn nữa. Từ bé đến nay, việc ta quen lui tới với Chúa, với nhiều cách thế để được nghe nói về Người phải chăng đôi khi cũng là bức màn che giấu đi cái cốt yếu? Người môn đệ đích thực của Chúa lúc nào cũng phải mới để có khả năng đón nhận. Người ấy biết rằng Ðức Giêsu không chỉ như mình hiểu biết. Người ta không thể đóng khung hạn định được Người. Người luôn vượt khỏi tầm tay của ta và vượt xa điều ta hiểu biết về Người. Ta có hiểu biết Người ở đời này, thì cũng như biết qua tấm gương mù mờ thôi. Khi nói về Ðức Giêsu, phải chăng ta hay đưa ra những thông tin về Người, những thông tin có thể tạo ảo tưởng là ta biết đủ rồi mà không mời gọi ta tiến thêm lên, hay là ta cố gắng đi sâu vào sự gặp gỡ với chính bản thân và huyền nhiệm của Người?"
3. "Chỉ có tin với tin"
(G.Bessière, trong "diệu si proche. Năm B", DDB, trang 120-121).
Thật cũng lạ: Ðức Giêsu lấy làm lạ vì những đồng hương của Người lại thiếu lòng tin. Vậy mà những người đồng hương của Người thảy đều là kẻ tin Thiên Chúa, một Thiên Chúa cứng rắn, thảy đều đã tùng hội họp vòi nhau ở hội đường. Họ đều là những kẻ có lòng tin từ đầu đến chân, như tục ngữ nói. Lòng trí họ không một dấu vết do dự hay ngờ vực nào. Họ tôn thờ Chúa là Ðấng tạo dựng vạn vật và điều khiển dòng lịch sử. Thời đó, đâu đã có những người vô thần hay những kẻ không tin như ngày nay!.
Họ có lòng tin không? Tất nhiên có. Nhưng lòng tin Ðức Giêsu đòi hỏi người ta ở đây, không phải chỉ là lòng tin vào Thiên Chúa, theo kiểu cha truyền con nối, mà chính là tin vào Người bác thợ mộc của làng. Liệu một bác thợ mộc mà người ta biết rõ cha mẹ và tất cả bà con của ông, lại có thể đòi hỏi người ta phải tin vào mình như tin vào Thiên Chúa chăng? Nè, còn hơn thế nữa kìa, lòng tin mà con người ấy muốn, không phải là một mớ những điều phải tin, nhưng là sự đảo lộn cuộc sống: "Ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy." Người còn nói: phải đi theo Người, phải cho đi và hiến thân, phải yêu mến cả kẻ thù, phải vác thập giá mình...Nào, chúng ta hãy lật ngửa các con bài (quyết định). Chúng ta đây là những kẻ tin. chúng ta đây "có" (than ôi!) lòng tin, mà có thật là ta đang vạch đường đời ta đi trong niềm tin như Ðức Giêsu đã đề ta không? Xin đừng trả lời quá gấp".
admin
11-07-2009, 08:40 PM
CNTN15
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN
CHÚA KÊU GỌI VÀ SAI CÁC ÔNG ÐI TRUYỀN GIÁO
(Mc 6, 7- 13)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Công Việc truyền giáo của Nhóm Mười Hai.
Ngay từ những trang đầu Tin Mừng của mình, Máccô đã muốn kể lại việc Chúa kêu gọi Simon và anh của ông là Anrê, cùng với hai anh em Giacôbê và Gioan khi Người đang đi dọc theo Biển Hồ Galilê (1,16-20); Người nói với các ông ấy: "... Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá! Máccô cũng cho ta thấy khi tới Capharnaum vào một ngày Sabát, Ðức Giêsu "cùng với các môn đệ đi vào thành" (1,21). Sau đó thánh sử còn cho ta thấy Ðức Giêsu "Lập Nhóm Mười Hai để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ"(3,14-15). Con số Mười Hai ám chỉ mười hai chi tộc Israel là dấu chỉ Chúa muốn khai sinh một dân Thiên Chúa mới nơi bản thân các ông.
Giờ đây Máccô gợi nhớ lại buổi truyền giáo ban đầu của Nhóm Mười Hai mà Ngài lại đặt vào trong một nghịch cảnh là sau chuyến viếng thăm thất bại của Ðức Giêsu khi trở về quê hương Nagiarét. Máccô viết: "Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi". Hai động từ "Gọi, sai đi" diễn tả rõ rệt ơn gọi của các ông. Các ông sẽ là những "Tông đồ" của Ðức Giêsu, nghĩa là những người được Chúa "sai đi', như Tin Mừng thứ hai sẽ nói đến, khi các ông đi truyền giáo về (6,30).
Những lời tiếp theo là chỉ thị Ðức Giêsu ban bố cho các tông đồ trước khi lên đường truyền giáo. M.Quesnel ví những lời đó như "một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo" ("Comment lire un évangile?", Seuil, trang 103).
- Ðức Giêsu sai các ông đi: "Từng hai người một". J.Potin giải
thích: đó là tập tục các kinh sư. Vẫn thi hành đối với các môn sinh của họ. Hai người có chứng từ phù hợp nhau chứng tỏ rằng họ cùng được sai đi từ một người. Thực vậy, sứ điệp họ mang đi không phải là của riêng các ông, mà là của Ðức Giêsu " (Jésus, l'histoire vraie", Centurion, trang 266-267). Nhóm Mười Hai không được "tính toán cho mình". Sứ mệnh của các ông bắt nguồn từ Ðức Giêsu; đây là công việc của nhóm, là hành đông mang tính cộng đoàn.
Và thực tế như vậy, trong Công vụ Tông đồ, chúng ta sẽ thấy các nhà truyền giáo ấy thường lên đường với nhau "từng hai người một". Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); giuđa và Sila (Cv 15,22).
-Ðức Giêsu ra chỉ thị cho các kẻ Người gọi và sai đi như vậy phải có tinh thần khó nghèo và từ bỏ:
+ Khó nghèo xét về hành trang đi đường: "Một cây gậy, một đôi dép" là những gì Người cho phép. Người cũng không đồng ý cho mang hai áo". Những kẻ được Chúa sai đi sẽ là những con người thanh thoát, không cồng kềnh, mà rong ruổi như Người và luôn sẵn sàng lên đường đi loan báo Tin mừng.
+ Khó nghèo xét về những phương tiên sinh sống: không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng". Hành trình như vậy đặt các người được sai đi tong tư thế tuỳ thuộc. Họ sẽ nhận lương thực và tiền túi từ tay những ai sẽ tiếp rước họ.
Ðức Giêsu không giấu giếm họ: con đường truyền giáo là con đường gian khổ. Cũng như Người họ phải đón nhận rủi ro bị chối từ hay xua đuổi Các ông phải đi theo Người đến độ phải bị chống đối, phải hy sinh thân mình.
2. Một sứ mệnh nối tiếp sứ mệnh của Ðức Giêsu.
Sứ mệnh của Nhóm Mười Hai không phải là của riêng các ông, đó chính là sứ mệnh của Ðức Giêsu nối tiếp nơi bản thân các ông: các ông rao giảng cùng một sứ điệp như Ðức Giêsu là "Sám hối" (Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" Mc 1,14-1 5); các ông thực hiện cùng những dấu chỉ như Ðức Giêsu là "trừ quỷ"và nếu Maccô ghi nhận rằng nhờ việc "xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh" thì hẳn là để ám chỉ rằng các ông hành động nhờ quyền năng của một ai khác là Ðức Giêsu vậy.
Là những người được kêu gọi và sai đi, Nhóm Mười Hai không được giới thiệu ở đây như là những chuyên viên có ít nhiều chuyên môn hay là những người chuyên trách rao giảng Tin Mừng. J. Delorme kết luận: "Máccô mang lại cho sứ mệnh của nhóm Mười Hai một chiều kích rộng lớn hơn cả không phủ nhận một sự thật là bất cứ tác vụ nào trong Hội Thánh đều có thể tìm thấy nền tảng nơi sứ mệnh của Nhóm Mười Hai, trình thuật này của thánh Máccô có thể nhắc cho mọi tín hữu nhớ rằng họ thuộc một Hội Thánh được sai đến với mọi người và họ phải là nhân chứng của Ðức Giêsu trước mặt người đời".
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. "Sứ mệnh của Nhóm Mười Hai, một cột mốc quan trọng và mang nhiều ý nghĩa"
(J.Delorme, "Assemblées du Seigneur" số 46, trang 49).
Không những mang giá trị lịch sử, bài trình thuật về sử mệnh của Nhóm Mười Hai ở Galilê, trong Tin Mừng Máccô còn hoàn thành một chức năng cao hơn. Trình thuật ấy ghi một cột mốc quan trọng, có ý nghĩa, ở buổi ban đầu của Hội Thánh cũng như trong sự triển khai một công trình vẫn được theo đuổi trong Hội Thánh và thế giới. Khi đọc trình thuật này Hội Thánh được mời gọi nhận ra ơn gọi của mình. Ơn gọi này bao hàm một sứ mệnh không cho phép Hội Thánh được tự kết cấu thành xã hội khép kín đối với chính mình hoặc đối với bất kỳ mô hình văn hoá-xã hội nào. Trong trình thuật của Máccô, khi sai Nhóm Mười Hai ra đi, không kèm theo một xác định rõ ràng nào về địa điểm, nơi chốn phải tới để hạn định các ông (so sánh với Mt 10, 5-6 và Lc 9,6; 10,1). Mà theo sau đó là cả một bài tập nghề khó khăn đối với các môn đệ, khiến Ðức Giêsu phải gia tăng các phép lạ và những lời cảnh giác rút vào ngay trong Do Thái giáo (7,8- 13) (...). Theo cái nhìn của Hội Thánh, Nhóm Mười Hai chính là những bảo chứng cho phần vụ mà Hội Thánh phải gánh vác là giới thiệu Tin Mừng cho tất cả mọi người.
2. "Ðược liên kết với sứ mệnh của Chúa"
(Ðức Cha L.Daloz, trong "Qui dong est-i Desclée de Brouwer, trang 39).
"Ðức Giêsu cho con người liên kết với công việc chính Người đang thực hiện. Người mở rộng công việc rao giảng, rời bỏ làng mạc cùng gia đình, đi đến các làng chung quanh mà giảng dạy. Người gọi Nhóm Mười Hai để ở bên Người rồi sai họ đi. Các ông sẽ phải lao vào cùng một cuộc chiến như Chúa, nên Người ban cho các ông "quyền trừ quỷ". Thế là các ông ra đi từng hai người một, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, trừ được nhiều quỷ, chữa nhiều người đau ốm khỏi bệnh. Rồi đây cuộc đời của các Tông đồ sau khi Chúa sống lại và ban Thánh Thần, sẽ như thế nào, thì lúc này đã được khởi sự như một bước thí nghiệm vậy. Bởi đấy người môn đệ của Ðức Giêsu chia sẻ sứ mệnh của Người. Người môn đệ ấy loan báo và truyền đạt ơn cứu độ, ơn chữa lành ơn giải thoát. Ðức Giêsu làm cho người môn đệ ấy trở thành cộng tác viên của Người. Người môn đệ mang cùng một tâm tư, có chung cùng hoạt động và những bận tâm như Thầy mình. Từ nay, những "ưu tư " của người môn đệ trở nên đơn giản vì "Người chỉ thi cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy, không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng...Ði
theo Ðức Giêsu, không phải là sống cách biệt với sứ mệnh. Nhưng là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ".
3. "Từ di sản đến cử chỉ đề nghị"
("Thư gởi người Công giáo Pháp", Cerf, trang 36-37).
Cái thời mà Hội Thánh thực Sự hoá thân với đại bộ phận xã hội, dầu gặp phải nhiều chống đối và thách đố, công việc truyền bá đức tin đều được tiến hành gần như tác động, nhờ vào những bộ phận chuyên lo việc truyền bá này còn có mặt ở cả những cơ quan điều hành thông thường của xã hội nửa. Do đó mà kiểm chứng được câu ngạn ngữ cho rằng người ta không sinh ra làm người tín hữu, nhưng cử thành người tín hữu (có đạo theo kiểu cha truyền con nối).
Dần dà với thời gian, chúng ta phải nhìn nhận rằng hoàn cảnh xa xưa này có những điều bất tiện, bởi lẽ khi việc loan báo đức tin ít nhiều bị thu gọn vào công việc thi hành những thủ tục gần như tự động để truyền đạt, người ta khó mà nhận thấy được những lệch lạc có thể xảy ra. Có những lệch lạc thực sự đã dẫn đến một thứ tục hoá đức tin chừng nào đạo Công giáo nhắm trở thành một phận vụ của xã hội và Hội Thánh thì được coi như một dịch vụ bình thường của xã hội.
Hoàn cảnh hiện nay lại có những khó khăn mới. Thực vậy, việc truyền bá đức tin ngày nay đang bị thoả hiệp, hoặc rất khó thực hiện trong những khu vực rộng lớn của xã hội Pháp.
Ðiều có vẻ nghịch lý là hoàn cảnh này đòi buộc chúng ta phải đón nhận chiều kích mới mẻ của đức tin và kinh nghiệm sống đức tin ấy. Chúng ta không còn có thể chỉ hài lòng với một di sản đã thừa hưởng dù nó có phong phú đến đâu. Mà phải mở lòng đón nhận ân huệ Chúa ban trong những điều kiện mới mẻ và đồng thời tìm lại được cử chỉ ban đầu của việc phúc âm hoá đó là thái độ đề nghị đơn sơ mà cả quyết của Tin Mừng đức ki tô (Giáo Hội chỉ rao giảng Tin Mừng như một đề nghị để mỗi người tự ý quyết định lựa chọn).
CNTN16
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN
ÐỨC GIÊSU, VỊ MỤC TỬ THIÊN SAI
(Mc 6, 30-34)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ đám đông như bày chăn không người chăn dắt.
Sự thể bắt đầu gần giống như một trò chơi ú tim. khác một điều là ở đây người chơi không có cách để ẩn mình! Thầy trò Ðức Giêsu muốn trốn khỏi đám đông, thì rốt cuộc lại phải chăm lo cho đám đông. Trình thuật nhìn bề ngoài có vẻ như một cảnh "chụp vội", nhưng xét kỹ mới thấy là rất công phu. Trình thuật cốt ý làm một nhịp cầu nối hai sự kiện lại với nhau là công việc truyền giáo vừa hoàn thành của Nhóm Mười Hai và việc hoá bánh sắp diễn ra bằng cách đặt Ðức Giêsu trước mặt đám đông mà Người không thể tránh khỏi được. Ðúng là có một vài chi tiết không thích hợp, theo như nhận xét của M.E. Boismard: "Việc mô tả đám đông tụ tập lại thật là kỳ lạ, và người ta có cảm tưởng là Máccô phối hợp hai tư liệu khác nhau. Theo tư liệu thứ nhất, có một đám đông đã ở bên cạnh các ngài trước khi các ngài lên đường ra đi (c 31). Họ thấy thầy trò Ðức Giêsu bỏ đi (c.33a) nên họ đi bộ (c 33c) đến nơi trước các ngài (c.33e). Còn theo tư liệu thứ hai, thì có nhiều người ở quanh vùng khi nghe tin Chúa đến (c.33b) họ liền từ khắp các thành thị chung quanh đó tuôn đến nơi các ngài đang có mặt (c.33d): ("Jésus, un homme de Nazareth", Cerf, 1996, trang 89).
Ở đây, Nhóm Mười Hai lần đầu tiên được gọi là "các Tông đồ (nghĩa là "những Người-được-sai-đi") đã đi truyền giáo về. Ðây là giờ các ông báo cáo về công việc truyền giáo ấy: "Các ông kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy". Ðầy vẻ ân cần chăm lo cho các cộng sự viên của mình, Ðức Giêsu bảo các ông tìm nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi và trốn khỏi những chuyện rầy rà vốn làm cho các ông "cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa: Người bảo các ông: "Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút ".
Nơi đây hoàn toàn hoang vắng! Vậy mà người ta "đã theo đường bộ chạy đến nơi" trước cả các ngài ở phía bờ bên kia Biển Hồ. Khi các vị vừa ra khỏi thuyền thì đã thấy đám đông trước mặt mình.
2..đến dân tộc được Chúa quy tụ:
Thánh sử ghi: "Ngài chạnh lòng thương họ". Dịch là chạnh lòng thực ra không lột được hết ý nghĩa rất mạnh của kiểu nói trong Kinh Thánh: "ruột gan bồn chồn" Giống như trường hợp Thiên Chúa tỏ ra với dân Người, trong sách ngôn sứ Ôxê (11,8); như ông chủ trong dụ ngôn tha món nợ khổng lồ cho người đầy tớ van xin ông (Mt 18,27); như người Cha thấy đứa con trai đã mất nay trở về (Lc 1 5,20); như người Samaria trước cảnh người đàn ông bị cướp đánh nhừ tử nằm lây lất bên đường (Lc 10,33); như Ðức Giêsu trước cảnh hai người mù loà van xin khi Người vừa ra khỏi Giêricô (Mt 20,34); hoặc như lần khác, trước những giọt nước mắt đầm đìa của bà quả phụ Naim trên đường đi chôn đứa con duy nhất của bà (Lc 7,13). Từng ấy nơi lòng thương xót bao la của Thiên Chúa đối với con người được cử hành, được biểu lộ ra nơi con người Ðức Giêsu Kitô.
Như vậy là trong trích đoạn Tin Mừng Chúa nhật 16 này, qua thái độ Ðức Giêsu "chạnh lòng" thương đám dân chúng. Ðáp lại nỗi khốn khổ của họ, chính là lòng thương xót của Chúa được mặc khải, tình thương yêu của Người được biểu lộ ra; chính là lời Thiên Chúa hứa được thực hiện, như phần tiếp theo của trình thuật sẽ cho thấy.
" Vì họ như bầy chiên không người chăn dắt". Biểu tượng của đoàn chiên và người Mục tử là những chủ đề quen thuộc trong Cựu ước. Cựu ước thường dùng những hình ảnh ấy để gợi nghĩ đến tình cảnh đáng thương của dân Chúa bị bỏ rơi, vất vưởng, không người chăn dắt như Êgiêkien 34 hoặc Giêrêmia được trích đọc trong bài đọc 1 hôm nay. Cựu ước cũng dùng biểu tượng ấy để tán tụng sáng kiến của Chúa và Người lãnh đạo đoàn chiên của Người, như còn thấy trong Giêrêmia 23, hoặc Thánh vịnh 22 được dùng làm đáp ca của Chúa nhật này và là Thánh vịnh tạo hậu cảnh cho trình thuật của Máccô. Những lời Tin Mừng hay dùng, đặc biệt gợi nhớ lại lời Môsê cầu nguyện cùng Chúa trước khi chết; ông xin Chúa ban cho dân Người một vị lãnh đạo "để cộng đoàn dân Chúa không rơi vào tình trạng bầy chiên không người chăn dắt" (Ds 27, 17).
Vậy giờ đây, Máccô mời gọi chúng ta cùng ngài hướng nhìn về Ðức Giêsu như vị Mục Tử Thiên Sai mà các ngôn sứ đã loan báo; như Môsê mới của một Xuất hành mới; như Ðấng Chúa sai đến để quy tụ một dân mới và dưỡng nuôi họ bằng Lời và Lương thực của Người.
- Máccô kết luận: " Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều". Việc đầu tiên Người đáp ứng những nhu cầu của dân chúng là dạy dỗ, dùng lời có khả năng quy tụ, tập họp, sau đó là săn sóc và cung cấp lương thực cho dân.
J.Hervieux nhận xét: thánh sử đã hai lần ghi nhận tầm quan trọng của lời Thầy dạy dỗ (1,22; 4, 1-2) không lần nào Máccô
ghi rõ ràng nội dung lời dạy dỗ. Cả ở đây cũng vậy. Nhưng sự việc diễn ra lại mang nhiều ý nghĩa. Trước khi phân phát lương thực thì tiên vàn Ðức Giêsu đã dùng lời mà quy tụ người ta lại. Trình thuật về hoá bánh xảy ra sau đó không được tách biệt với việc xảy ra lúc trước. Chính nhờ "Lời" mà Ðức Giêsu quy tụ được đám đông thành một dân mới của Thiên Chúa. Hội Thánh lúc ban đầu đã ghi nhớ rõ ràng và cẩn thận duy trì việc này. Trong cứ hành nghi lễ bẻ bánh, Hội Thánh luôn đặt "hai bàn" nối tiệp nhau: đầu tiên là bàn để Lời. rồi mời đến bàn để bánh': ("L'evangile de Marc", Centurion, trang 95).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. "Từ đám đông không người chăn dắt, Ðức Giêsu khai sinh một dân tộc".
(G.Bessière, trong "diệu si proche, năm B), Desclée de Brouwer, trang 1 25-1 26).
Kìa họ đang trở về, những con người mà Ðức Giêsu đã sai đi trên mọi nẻo đường. Không mang theo lương thực, tiền bạc, bao bị. Họ chỉ được mang theo một cái áo và cây gậy đi đường. Các ông ra đi nhẹ nhàng như gió Thánh Linh. Nhưng các ông có quyền trừ quỷ, chữa người đau ốm khỏi bệnh. Các ông kêu gọi người ta ăn năn sám hối, dứt khoát trở lại với Ðấng hoán cải lòng người và có thể biến đổi toàn bộ xã hội.
Kìa họ đang trở về, những con người tay mang gậy. Các ông phải trở về báo cáo về chuyến đi của mình! Các ông quây quần bên Ðức Giêsu "và kể lại cho người biết mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy". Các ông đã không chỉ nói suông mà còn hành động, như Ðức Giêsu đã làm gương. Tin Mừng không chỉ ở trong những lời nói suông mà là bằng những việc làm: một cuộc sống chứng từ.
Chúa nói với các ông: chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút: Nhóm nhỏ đó cần tìm lại được những giây phút thân tình với Chúa, và được Người bồi dưỡng cho tâm hồn. Tiên vàn Chúa đã chọn các ông để các ông "ở với Người" (Mc 3,14) rồi mới sai các ông đi rao giảng. Ngày mai đây các ông sẽ lại phải ra đi, có mang gậy hay không nhưng hiện giờ thì còn cần phải được thưởng thức thêm hương vị của tình nghĩa rạng ngời, phải nói cho Người biết rằng hạt giống gieo đã mọc lên, phải nhận định cho rõ ràng hơn cái gì đã làm và cái gì còn phải làm. Phải ra đi, rồi phải biết lui về nơi yên tĩnh hoặc trong thanh vắng của tâm hồn, thiết tưởng luôn luôn là vấn đề sinh tử.
Ðức Giêsu đã kéo các môn đệ của Người ra khỏi vòng xoáy của cơn lốc đám đông. Những kẻ lui người tới những cuộc chuyện trò, những lúc gặp gỡ không để cho các ông có thời giờ ăn uống nữa. Ðức Giêsu vẫn là trọng tâm của phong trào quần chúng này. Người cố gắng "đồng hội, đồng thuyền"với các tông đồ. Khi thuyền các ngài cập nơi được kể là hoang vắng, "Ðức Giêsu thấy một đám người rất đông". Người đã theo đúng chữ - "bồn chồn ruột gan", như Người cũng đã cảm thấy khi đứng trước những người ốm đau hay tật nguyền. Bởi lẽ họ "như bầy chiên không người chăn dắt", nghĩa là một quần chúng lạc lường đang trông mong một vị Thiên Sai nào đó. Cả một quần chúng bệnh hoạn.
Trong đám quần chúng này, Ðức Giêsu sẽ khai sinh ra một dân tộc Người bắt đầu "dạy dỗ" họ, bởi lẽ "người ta sống không chỉ nhờ cơrn bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra " (Dnl 8,3): Sau đó, Người sẽ hoá bánh ra nhiều và Manna mới để làm giao ước mới cho một dân tộc đang trên đường xuất hành. Cả một tương lai bao la được cô đọng trong cảnh quá mạnh này.
2. "Thách thức lớn lao nhất cho việc chỉnh đốn mục vụ hiện hành..."
(J.Rigal trong llfêtes ét Saisons", số 483: "Ðể chuẩn bị tương lai Giáo Hội", trang 1 1-12).
Thiết tưởng Hội Thánh sẽ đi lầm đường nếu vì nghĩ đến tương lai mình, mà chỉ lo lắng trước tiên cho sự sống còn của mình. Thiết tưởng Hội Thánh sẽ không tìm, được đường đi cho mình khi chỉ con đường trong sự thu mình vào nội bộ và cậy dựa vào việc củng cố hàng ngũ của mình.
Thách đố lớn lao nhất cho việc chỉnh đốn mực vụ hiện hành, tất nhiên không phải là thách đố về số người điều hành, hay là về nguồn tài chánh, cho dù những vấn đề này có tầm quan trọng thế nào đi nữa. Ðúng hơn chính là thách đố về nhiệt tình truyền giáo và sống tình huynh đệ, yêu thương đối với thế giới chung quanh ta.
Người ta cũng có thể nói được là Hội Thánh đánh mất đi lẽ sống của mình và tự tan rã, nếu chỉ quan tâm đến chính mình hơn là lo cho những con người nam nữ mà Hội Thánh được sai đến. Trái lại Hội Thánh được biến đổi, tìm được nhuệ khí mới, khi nỗ lực đối chiếu sứ điệp Tin Mừng với nếp sống duy thực của những con người thời nay, và với những thách đố của lịch sử. Cần nhắc lại rằng truyền giáo không nhằm bành trướng Hội Thánh mà nhắm mở rộng Nước Trời.
Mọi lựa chọn liên quan tới tương lai của Hội Thánh đều phải quy hướng trước nhất về mục tiêu truyền giáo. Ðiều này sẽ không bao giờ nói đủ. Ðược Chúa triệu vời, cộng đoàn Kitô hữu quy tự để cầu nguyện, đón nhận Lời Chúa, liên hệ Lời Chúa với những khát mong của con người thời nay. Bởi lẽ việc quy tụ luôn được bồ trí để hướng tới sự ra đi, gần gũi, chia sẻ. Ðáp lại tiếng Chúa kêu mời tụ họp, tốt rồi, nhưng còn để hoà mình hơn vào cuộc sống thường ngày của mọi người, hầu làm chứng Tin Mừng Phúc âm cho họ.
Công đồng Vatican II mở đầu Hiến chế Mục vụ "Gaudium ét
Spes" bằng những lời thấm thía sau đây: "Vui mùng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay... cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Ðức Kitô".
Khi phác hoạ bản đồ mục vụ của địa phận, thiết tưởng phải tự hỏi xem làm thế nào để hiện thực hoá những lời kêu gọi này của Công đồng Vaticanô II trên một quy mô thật rộng rãi.
admin
11-07-2009, 08:41 PM
CNTN17
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN
ÐỨC GIÊSU HOÁ BÁNH VÀ CÁ RA NHIỀU
CHO ÐÁM ÐÔNG ĂN
(Ga 6, 1-15)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Bánh hoá nhiều dư dật...
Tạm rời bỏ Tin Mừng Máccô, sách Bài đọc năm B hôm nay lấy ở Tin Mừng gian câu chuyện Chúa hoá bánh ra nhiều, rồi
tiếp liền đó là "diễn từ về Bánh trường sinh" được phân chia để đọc liền trong bốn Chúa nhận tiếp theo.
Chỉ có phép lạ hoá bánh là được cả bốn Tin Mừng cùng tường thuật (Máccô còn tường thuật tới 2 lần ở 6,35-44 và 8,1 -9). Khi tường thuật việc Hoá bánh, tác giả Tin Mừng bốn đã tập trung vào Ðức Giêsu như con người lèo lái hành động từ đầu đến cuối.
"Sang bên kia Biển Hồ Galilê, Ðức Giêsu "lên núi " và "ngồi" đó với các môn đệ.
Người "nước mắt lên" và nhìn "Thâý đông đảo dân chúng" đến với mình.
- Hoàn toàn biết mình sắp làm gì rồi, Người hỏi ông Philípphê: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây". Câu hỏi thật lấp lửng: "Thưa có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút".
- Dù chẳng có sự tương xứng (5 cái bánh và 2 con cá thì thấm vào đâu với đám đông chừng 5000 người), Người vẫn nói: "Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi".
Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn và phân phát thật sự bánh đã hoá ra rất nhiều.
Người bảo các môn đệ thu lại những miếng thừa.
- Sau cùng biết được ý đồ và sự hồ hởi của dân chúng sau khi đã được ăn no, Người lại lánh mặt đi lên núi một mình.
2. Manna mới trên đường xuất hành mới.
Trình thuật này tập trung vào Ðức Giêsu, lại mang âm hưởng sâu xa của thời d vãng xa xưa trong Cựu ước mà nay đang ứng nghiệm nơi Ðức Giêsu; trình thuật cũng loan báo bí tích Thánh Thể.
Chuyện kể lấy hậu cảnh là Thánh Kinh (Cựu ước) nên cần được khai thông để có thể thấu triệt được tất cả ý nghĩa phong phú của câu chuyện.
+ Tác giả trình thuật lấy hứng từ việc hoá bánh xảy ra trong thời ngôn sứ Êlisê.
Cũng không có sự cân xứng
20 bánh lúa mạch cho 100 người. trong trường họp của ngôn sứ Êlisê;
5 cái bánh và 2 con cá cho chừng 5000 người đàn ông, trong Tin Mừng.
Các người chứng kiến cùng tỏ vẻ lo lắng:
- "Là m sao mà đủ cho 1 00 người được? " người đầy tớ của ngôn sứ Êlisê hỏi.
Thưa, có mua đến 200 đổng bạc bánh cũng chẳng đủ... ", ông Phipphê trả lời.
Cùng ra lệnh bảo làm:
" Cứ cho hết mọi người ăn", Ngôn sứ Êlisê nhấn mạnh.
"Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi". Ðức Giêsu bảo.
Bánh ăn rồi đều cùng có dư thừa:
"Họ ăn rồi mà còn dư lại...", trình thuật của sách Các Vua quyển hai.
"Họ chất đầy được rnười hai thúng miếng bánh vụn", Tin Mừng Gioan viết.
Như vậy, thánh Gioan muốn cho thấy rằng việc làm của Ðức Giêsu vượt trội hơn hình ảnh mờ nhạt của Cựu ước tiên báo về thời của Ðấng Thiên Sai nhiều. Và nếu bánh thừa nhiều vô vàn hơn thời kỳ ngôn sứ Êlixê còn thừa, thì chính là để ngụ ý rằng hôm đó Ðức Giêsu không những bẻ bánh cho đám đông ăn, mà còn cho hết thảy mọi người nữa.
+ Trình thuật của Gioan cũng ám chỉ nhiều đến những biến cố của thời Xuất hành.
Ðức Giêsu đã lên "núi", núi Sinai mới nơi đó Người là Môsê mới, sẽ ban Lời Chúa và Manna mới cho dân Người.
Tác giả xếp đặt cho cảnh xảy ra vào "ít ngày trước Lễ vượt qua", đặt biến cố vào bối cảnh cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập có ngụ ý đây chính là một cuộc xuất Hành mới đang mở màn, một cuộc Vượt qua mới được loan báo, lễ vượt qua của Ðức Giêsu (cf. Ga 2,13-20; 11,55-57).
Còn về câu Chúa hỏi Philípphê: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây" chính là tiếng vang vọng lại lời của Môsê hỏi Thiên Chúa khi dân Do thái lẩm bẩm kêu trách ông trong hoang mạc: "Con sẽ kiếm đâu ra thịt mà cho dân này đây?(Ds 11, 3).
Nhưng X.Léon-dufour nhận xét thêm: "Khác với Môsê có vẻ lo lắng, Ðức Giêsu đã biết người sắp làm gì rồi".. Việc Ðức Giêsu sắp "làm " đây sẽ không chỉ là một việc lạ lùng sắp diễn ra mà còn bao gồm luôn chính thực tại mà phép lạ ấy là dấu chỉ nưa: để cho muôn người được sống, Ðức Giêsu sẽ ban không chỉ những lời nghe được từ Cha, mà cả chính bản thân Người qua cái chết nữa. Ðiều này còn quí trọng hơn cả những tấm bánh hứa nhau lạ lùng hôrn nay. " ("Lecture de l'evangile se lon saint Jean", cuốn 11, Seuil, trang 1 07).
Nếu Gioan thêm câu "Người nói thế là để thử ông", thì cũng là để ám chỉ những thử thách dân Do Thái đã trải qua xưa trong cuộc hành trình qua hoang mạc vậy.
Ngần ấy hình ảnh ám chỉ như vậy, khiến tấm bánh hoá nhiều chính là Manna mới dành để dưỡng nuôi một dân mới do Ðức Giêsu là Môsê mới lãnh đạo.
Nhưng nếu trình thuật này mang âm hưởng sâu xa của thời Cựu ước xa xưa, thì đồng thời cũng báo trước Bí tích Thánh Thể.
A.Marchadour nhận xét: "Lời lẽ của trình thuật, 'người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn (c. 11) chính là những lời cộng đoàn Gioan vẫn thường nghe trong những buổi cứ hành Thánh Thể.
Như ta được biết, trong bữa ăn tối trước khi chia tay, chính Ðức Giêsu làm cử chỉ phân phát, (chứ không phải các môn đệ đã làm việc này theo như tường thuật của ba Tin Mừng nhất lãm). "Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí" (c. 12) lời nhận xét này ngụ ý diễn tả thời điểm lịch sử của Ðức Giêsu là trổi vượt, rất đáng trân trọng, nên đừng để uổng phí. Người ban dư đầy ăn huệ, để chính Giáo Hội cũng được thụ hưởng dồi dào. Ðức Giêsu đến (cho người ta được sống và sống dồi dào" (10, 10). Phải dồi dào đủ cho hết thảy các thế hệ Kitô giáo" ("L'evangile de Jean", Centurion, trang 101)
3. Ðức Giêsu là Môsê mới lãnh đạo cuộc Xuất hành mới.
Ðây là trường hợp hi hữu trong Tin Mừng Gioan: Ðấng làm phép lạ ấy được dân chúng hoan hô, vì họ nhận thấy Người còn hơn là vị ngôn sứ; Người là nhân vật Thiên Chúa hứa trong Nhị Luật 18;15 giống như Môsê; dân chúng nói: "Hẳn ông này là vị ngôn sứ Ðấng phải đến thế gian ".
Nhưng thay vì lấy lòng tin để mở lòng ra đón nhận Ðấng mà phép lạ ấy nói cho biết, thì dân chúng lại chỉ nghĩ đến cơm bánh mà họ đã được no nê. Họ còn ra sức giam hãm Ðức Giêsu trong quan niệm quá phàm trần họ vốn có về Ðấng Mêsia: "Họ sắp đến bắt Người đem đi mà tôn làm vua".
Vì thế Ðức Giêsu lánh mặt đi "lên núi một mình". Người không phải là "vi ngôn sứ" đúng như họ mong muốn khi trông đợi một Ðấng Mêsia trần tục.
A.Marchadour kết luận: "Thánh Gioan đã khéo léo lồng vào câu chuyện này ba thời điểm khác nhau: thới xuất hành lúc dân Israel đã bắt đầu rong ruổi trong sa mạc, thời gặp gỡ lịch sử với Ðức Giêsu làm khung cho câu chuyện, vá thời của Giáo Hội. Ðiều đó phải muốn nói lên rằng qua ba hoàn cảnh lịch sử khác nhau này vẫn một câu hỏi căn bản còn phải được đặt ra là: Làm thế nào để sống tin tưởng vào Chúa khi ở trong sa mạc (manna)? trong lúc Chúa nhập thể ở giữa con người (Ðức Giêsu)? và trong Giáo Hội (Thánh Thể)?
Trong tư tưởng của Gioan, Ðức Giêsu không nhắm mục tiêu tỏ bày lòng thương xót của Người đối với đám đông đang đói cho rằng muốn mạc khải nhân tính đích thực của mình vì thế Gioan đã đẩy các môn-đệ lui vào hậu cảnh, để tâm cả câu chuyên tập trung vào con người toàn năng là Ðức Giêsu, Ðấng lèo lái các biến cố và làm cho các biến cố có ý nghĩa. trình thuật kết thúc bằng một thất bại, nhưng phần sau câu chuyện lại sẽ cố gắng làm cho mạc khải được sáng tỏ khi đào sâu ý nghĩa biểu tưởng của bánh vốn đã có ngay trong dấu chỉ rồi. Người ta sẽ nhận ra ngay được rằng Ðấng ban lương thực, thì chính Người cũng là lương thực nuôi sống mọi người. " (O. C. trang 101)
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. "Một dấu" chỉ cần tìm ra ý nghĩa, một mầu nhiệm cần phải hiểu biết"
(F.Deleclos, trong "Prends ét mang la Parole de Dieu ", Centurion-duculot, trang 156-157).
Trong tâm tưởng của Ðức Giêsu Nagiarét, đây chính là một kiểu chia sẻ lương thực mới lạ... Một dấu lạ gây được niềm hồ hởi, những sẽ bị ngộ nhận. Một dấu lạ cần tìm ra ý nghĩa, một mầu nhiệm cần phải hiểu biết, mà chỉ có đức tin mới tiếp cận được. Một Bánh Trường sinh cần khám phá. Nhưng Bánh nào và sự sống nào?
Chắc hẳn chúng ta đều bị lôi cuốn muốn đọc những biến cố này một cách quá ư duy vật khi chỉ cho đó là phép lạ. Nên không đòi hỏi nhiều đức tin. Trái lại điều "người môn đệ Chúa yêu" trình bày, là thuộc lãnh vực thiêng liêng. Nên coi như phải đòi hỏi nhiều đến đức tin, bởi lẽ, đàng sau hình ảnh hay dấu chỉ là chân lý sâu xa phải đạt tới, là giáo lý Chúa dạy, là kho tàng phong phú Chúa ban cho.
Dân chúng thích được ăn 'bánh ngọt" mà không quan tâm đến Ðấng muốn nhân đấy tỏ mình ra là Ðấng Mêsia mà đức tin cho biết là Ðấng ban tặng lương thực và là chính lương thực. "Các ông đi tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê " (Ga 6, 26). Manna trong sa mạc xưa đã nên như biểu tượng nói lên tính cách chân thật của Lề Luật vì rằng khi Thiên Chúa thử thách dân người và thực hiện vô số những dấu lạ, thì người muốn dạy cho họ biết rằng: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh. nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra " (NL 8.3b).
Lương thực của kẻ nghèo và vài con cá nhỏ cũng đã được coi như một Manna mới. Nhưng đàng sau những thực tại khiêm tốn của con người. Ðức tin sẽ phải dần dần tìm thấy ở đấy là nghi "Bẻ Bánh" tên ban đầu được dùng để chỉ cử hành Thánh Thể. Ðức Giêsu là Lời và Bánh, ban mình làm lương thực cho dân mới, nơi Người đã qui tự lại để khai trương và xây dựng một vương quốc sung túc mọi bề.
Giờ đây hẳn chúng ta cũng đang ở trước "một phép lạ lịch sử gây ngỡ ngàng cảm phục, khiến chúng sẽ phải vỗ tay ca ngợi Ðấng làm phép lạ và gợi cho lòng ta ước muốn tôn Người làm Vua - cứu tinh vậy".
2. " Từ Mười Hai Thúng, chúng ta nhận lấy bánh Thánh Thể"
(Mgr. L. Daloz, trong "Nous avons vu sa gloire". DDB, trang 130).
Những kiểu nói này dùng trong kinh nguyện Thánh Thể ngày nay: Cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho, hẳn phải làm ta nghĩ ngay đến mối liên hệ giữa bữa ăn đột xuất ngoài trời khi xưa và Bữa Tiệc Ly. Chính Ðức Giêsu trao bánh cho mọi người; một cử chỉ hoàn toàn khó tin, bởi lẽ làm sao mà chính Người có thể phân phát bánh cho cả năm ngàn Người? Ðiều đó cũng khiến ta phải nghĩ rằng tấm bánh hoá nhiều đó là dấu chỉ của Thánh Thể. Sau cùng, còn lại mười hai thúng đầy, số mười hai chỉ mười hai chi tộc Israel có nghĩa là ân huệ Chúa ban sẽ luôn dư dật cho Israel mới. Mười hai thúng cũng nói lên sự dồi dào phong phú của Chúa. Chính trong mười hai thúng này mà chúng ta được múc lấy tình yêu vô tận, không bao giờ cạn kiệt. được nhận lấy bánh, bánh từ bàn tiệc Thánh Thể, bánh đem lại phúc trường sinh.
3. "Phải vừa là người của lương thực hằng ngày, vừa là người Thánh Thể".
(H.Vull;ez, trong "diệu si proche. Năm B", Desclée de Brouwer, tr.76-77).
Dấu lạ Ðức Giêsu làm diễn ra thật vĩ đại. Nên sau đó những kẻ mục kích nhìn nhận Người là vị ngôn sứ phải đến và muốn tôn Người làm vua, âu cũng là điều dễ hiểu!
Nhưng rõ ràng cũng chính bởi tại đó nên mới xảy ra đổ vỡ. Ðức Giêsu phải lánh ra và rút lui. Khi gặp lại họ ở phía bên kia Biển Hồ, Người phải giải thích nhiều để họ hiểu rằng sự sống Người đến để ban cho họ không phải là chuyện ăn uống sinh sống ở đời này. Ðó là sự sống đời đời. Bánh Người chia cho ăn hôm ấy chỉ là thứ đồ ăn mau hư nát. Thực ra, đó chính là dấu chỉ của một lương thực khác, thứ lương thực "trường tồn đem lại phúc trường smh" (6,27). Phải có được sự tỉnh táo của Ðức Giêsu thì những dấu lạ Người làm cho con người mới không bị thu hẹp vào chỉ một vấn đề tìm thoả mãn những nhu cầu trần thế mà thôi. Phải được Người gắn bó ta với sứ mệnh Chúa Cha đã trao phó cho Người.
Chúng ta cũng sẽ gặp phải cơn cám dỗ này, mối nguy hiểm này là khuynh hướng thích thu hẹp lại. Những nhu cầu cấp bách vốn dằn vặt con người khiến chúng ta phải trăn trở. Chúng ta đành phải dấn thân như Ðức Giêsu để đối phó với những nhu cầu của họ. Thái độ dấn thân này, đối với lòng tin của ta, là dấu chỉ tình yêu của Chúa muốn cho con cái Người được hạnh phúc. Chúng ta không thể vô tình trước các nỗi bệnh tật, đói khát, bất công. Ta phải không ngừng mở rộng con tim và bàn tay, không ngừng bắt tay vào việc chia sẻ và xây dựng một thế giới công bằng và có tình liên đởi. Việc làm ấy tham dự vào sứ mệnh của ta. Ðồng thời ta phải tỉnh thực để không chỉ thu hẹp tầm nhìn vào những nhu cầu vật chất mà thôi, không say sưa vì khao khát cho công việc thành tựu, hoặc ngây ngất trước vẻ cao cả lớn lao của công trình đang thực hiện. Ta phải mở mắt nhìn vào một nhu cầu khác kín đáo hơn? vì sâu xa hơn: đó chính là sự sống đời đời, chỉ sự sống đó mới làm cho con người được phỉ chí toại nguyện. Ăn uống no nê, con người chưa lấy làm đủ. Ðây là một thế quân bình khó giữ. Chúng ta vừa phải là những con người đem lại cơm no áo ấm, vừa phải là những con người đem đến Thánh 'Thể".
admin
11-07-2009, 08:42 PM
CNTN18
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN
ÐỨC GIÊSU, BÁNH TRƯỜNG SINH
(Ga 6,24-35).
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI.
1.Từ lương thực "mau hư nát"... đến lương thực "trường tồn":
Sau phép lạ hoá bánh, Ðức Giêsu "đã lánh mặt đi lên núi một mình", "Chiều đến", các môn đệ Người xuống thuyền đi sang "bên kia Biển Hồ"; còn Ðức Giêsu lát sau đó "đi trên mặt biển " mà đến với các ông. Hôm sau đám đông cũng xuống thuyền vượt qua: Biển Hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Mọi người sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc "vượt qua" khác, sâu xa hơn nhiều: vượt qua từ bánh hoá nhiều đến với Ðấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Ðấng chính là bánh trường sinh.
Trước tiên Chúa cảnh giác đám thính giả của Người về mong muốn lệch lạc của họ. Họ có sự hiểu lầm về lương thực (xem sự hiểu lầm của phụ nữ Samari về nước uống): "Các ông đi tìm tôi, Chúa nói với họ, không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê". X.Léon-dufour nhận xét: Ðộng cơ thúc đẩy họ vẫn là mùi vi của bánh trần gian: họ đã không nhìn thấy trong ân huệ bánh dư thừa, dấu chỉ của một lương thực khác phải tìm kiếm, thứ lương thực thường tồn ban phúc trường sinh mà Con người sê ban cho" ("Lecture de l'evangile de Jean", cuốn 11, Seuil, trang 132). Chính thứ tương thực này mà con người phải khao khát được ăn; chính vì lương thực ấy mà con người phải "làm việc" để kiếm tìm.
Ngộ nhận mới do những từ ngữ "làm", "những việc" gọi nên. Dân chúng hỏi: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" Theo họ nghĩ, đó là những việc bên
ngoài mà Chúa đòi hỏi nơi những kẻ thờ phượng Người, như những nghi lễ và một số những việc khác.
Lập tức Ðức Giêsu bắt họ bỏ qua "những việc" (số nhiều) để nghĩ đến "Việc Thiên Chúa" (số ít): bởi lẽ "việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Ðấng Ngài đã sai đến".
2. Từ "bánh bởi trời"..chính Ðấng là "bánh trường sinh".
Những người đàm đạo với Chúa xem ra sẵn lòng tin nhận Người là Ðấng Thiên Chúa sai đến, nhưng dẫu sao cũng có điều kiện: "ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông". Dân chúng vừa mới được thấy dấu lạ là bánh hoá nhiều, thế mà họ còn đòi xem một dấu lạ khác, thì kể cũng là lạ thường. Nhưng ta đừng quên câu chuyện mới xảy ra gần đây, khi những người miền Galilê này đã coi Ðức Giêsu như Vị Ngôn sứ, đó là: theo truyền thống tiên tri, một dấu lạ được chứng thực là đúng thì phải được Người thực hiện nó loan báo trước. X. Léon-dufour còn nhấn mạnh: "Thực ra người ta không đòi hỏi Chúa thực hiện ngay dấu lạ, mà chỉ cần nói cho biết Người sẽ làm dấu lạ nào"(O.C., trang 134).
Giống như phụ nữ Samari nại đến tổ phụ gia cóp (4,12), những người Do Thái nại đến tổ phụ Ápraham, thì đám đông người miền Galilê nại đến Môsê, người đã bầu cử với Chúa ban cho có rnanna: "Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc".
Ðức Giêsu đã bài bác lối giải thích của họ, dựa vào lời họ trưng dẫn trong sách Xuất hành mà làm bằng cứ:
+ Người ban manna, "bánh bởi trời" không phải là Môsê, như ý họ muốn nói, nhưng là Ðấng mà Người gọi là "Cha" của Người.
+ Ðiều cải chính trên về ai là kẻ ban phát manna không chỉ nói về thời dĩ vãng xa xưa của cha ông họ khi Xuất Hành, mà còn liên quan tới thời buổi này đối với những kẻ đang nghe Chúa nói. Ân huệ manna đó được ban cho chính họ ngay lúc này, ơn huệ đó là đích thực. Lương thực Chúa Cha ban cho hôm nay làm cho hình ảnh manna tiên báo và những lời hứa của Luật được ứng nghiệm. X Leon-dufour viết tiếp: "Giữa quá khứ và tương lai thì đây là "hiện tin Của Thiên Chúa. Từ việc nhớ lại ỉmanna trong sa mạc" (hồi ức) và khao khát "được ăn mãi thứ bánh ấy" (trông mong) người ta đạt tới thực tại mang tính bản thể" (O.C., trang 137).
+ Sau cùng "Bánh Thiên Chúa ban, bánh từ trời xuống" không chỉ dành riêng cho một mình dân Israel thôi. Bánh đem lại sự sống cho thế gian ấy, hết mọi dân tộc trên trái đất đều có quyền được hưởng.
-"Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy", dân chúng liền nói, giống như phụ nữ Samari đã nói với Ðức Giêsu bên bờ giếng Giacóp: "Thưa Ngài, xin Ngài cho tôi thứ nước ấy (4, 15).
- Với lời lẽ trang trọng Chúa nói với họ "chính tôi đây là bánh trường sinh", bánh các ông ao ước ăn đó, là chính tôi đây. "Ðức Giêsu làm ứng nghiệm nơi Người hình ảnh manna mang tính cánh chung vậy" (X.Léon-dufour, Sđd, trang 136).
Bởi vậy, điều kiện duy nhất để được ăn bánh đó là "đến" với Người và tin" vào Người. Vì tự coi mình là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa (Kn 9,1: bài đọc 1 Chúa nhật 20), là Nguồn sống đáp ứng được sự đói, khát của con người, Ðức Giêsu trân trọng mời gọi anh em Người tới dùng bữa: "Ai đến với tôi, không hề phải đói: Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ".
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. "Từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Ðấng mà dấu lạ biểu thị"
(R.Josse trong "Célébrer" tạp chi của CNPL, số 240, trang 41).
Câu hỏi tỏ vẻ quan tâm ghi ở đầu trình thuật này ("Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy cho thấy đám đông có phần
nào bị lạc hướng. Họ đã tìm kiếm Ðức Giêsu, nhưng không phải để hiểu biết Người: dấu lạ đã chỉ khơi dậy nơi lòng họ ước muốn có bánh ăn, chứ không phải niềm khao khát được ánh sáng soi rọi giúp hiểu biết về con người Ðức Giêsu. Họ chẳng hiểu được ám chỉ về quyền năng của Con Người. Theo kiều đối thoại, Tin Mừng Gioan lần lượt trình bày cho biết sự ngộ nhận do họ không hiểu biết.
Họ ỷ mình đã từng được biết câu chuyện manna ghi trong sách thánh. Ðức Giêsu vịn vào lý lẽ của họ và hướng người nghe chú tâm đến Thiên Chúa: Môsê xưa đã cho các ngươi ăn bánh bởi trời, nhưng không phải là bánh bởi trời đích thực, mà chỉ là bánh nếm thôi. Trong Xuất Hành, manna nói lên ân huệ cụ thể thật cần thiết, là lương thực được cung cấp sáng chiều: người ta hầu như nghĩ tưởng đến trình thuật về sáng tạo, lực sáng tạo của Chúa hoạt động một cách vô cùng rộng rãi. Nhưng ân huệ ấy vì là dấu chỉ thôi thúc lòng tin, nên phải nhắc nhở (con người thụ hưởng) nhở đến Ðấng ban phát ơn tuy mắt không thấy, nhưng Ngài vẫn hiện diện và hoạt động, vẫn lèo lái con đường giải thoát. Bánh Chúa ban, lúc này đây, là chính Ðấng từ trời xuống, Ðấng đem lại sự sống cho thế gian.
Cuộc đối thoại sẽ còn dẫn đến một ngộ nhận mới cũng giống như ngộ nhận của phụ nữ Samari nơi Ga 4,15: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh đó!". Nay Chúa không lấy một cái gì đó mà cho người ta, Chúa cho chính mình Người. Từ quan tâm đến việc Chúa làm, người ta chuyển quan tâm đến Người là ai, nghĩa là phải từ bánh được ban tới Người ban bánh, từ dấu lạ tới Ðấng mà dấu lạ ấy biểu thị. Lòng tin vào Ðức Kitô đòi phải có một chuyển biến sâu xa tự thâm căn con người vậy.
2. "Lương thực đích thực"
(Ðức Cha L.Daloz, trong "Nous avons vu sa gloire", Desclée de Brouwer, trang 81-82).
" Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Ðấng Người đã sai đến". Lời khẳng định mạnh mẽ này phơi bày điều thầm kín từ đáy lòng họ. Họ đã biết đôi chút về Ðức Giêsu. Họ đã muốn tôn Người làm vua, sau khi được thấy dấu lạ hoá bánh. Ðiều Chúa yêu cầu họ lúc này có tính cách bó buộc. Họ phải tin vào Người, phải từ bỏ những tính toán riêng tư để đem lòng tin cậy Người. Ðó cũng chính là vấn đề quyết liệt được đặt ra cho tất cả những ai gặp gõ Ðức Giêsu, cho cả chính chúng ta nữa. Ta có nhận là không nhờ Người để rà xem những ý tưởng riêng tư của ta đúng hay sai, để thực hiện những chương trình của ta, mà trái lại ta biết nhờ Người giúp đi vào chương trình Người hoạch định, đi theo Người đến nơi Người muốn đưa ta đến? Những người đàm đạo với Chúa khi ấy lẫn tránh không muốn sự lựa chọn quyết liệt này. Họ muốn được kiểm chứng, họ cần phải có được một cuộc "giám định lại", một dấu lạ khác... Họ không muốn dấn thân: "ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? ông sẽ làm gì đây? Tuy họ đã được thấy dấu lạ về bánh, nhưng họ chưa lấy làm đủ. Nhân danh Sách Thánh họ từ khước Người: tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc. Cần phải có cái gì hơn thế mới có thể lay chuyển được họ, những con người được liệt vào bậc thầy về Kinh Thánh. Ðối với người không tin Ðức Giêsu, luôn luôn có cách tìm thoái thác. Thế nhưng Ðức Giêsu vẫn tiếp tục cuộc đối thoại. Người đi cho tới cùng mặc khải Người đã bắt đầu. Người biện bác khởi đi từ chính vấn để họ đặt ra: "Thật, tôi bảo thật các ông không phải ông mô sê đã cho các ông ăn bánh bởi trỏi đâu. Ơn manna khi ấy chỉ là một ân huệ tạm thời, chỉ là một loan báo mà giờ đây mới co ý nghĩa đích thực. Chính việc hoá bánh ra nhiều cũng chỉ là một dấu chỉ. Chính Ðức Giêsu mới là bánh đích thực, từ trời xuống để cho thế gian được sống: Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian".
admin
11-07-2009, 08:42 PM
CNTN19
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN
BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG
(Ga 6, 41 -51)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Bỏ qua "những lời sầm xì phản đối".
Hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục tìm hiểu bài 'diên từ về Bánh hằng sống" đã khởi sự được đọc từ Chúa nhật trước. Ðức Giêsu vừa long trọng khẳng định: "Tôi là bánh từ trời xuống". Manna là của ăn tạm bợ, mau hư nát phải gợi lên cho con cái lsrael một cơn đói khác: đói Lời Chúa, một thứ lương thực duy nhất có khả năng làm cho lòng người được no đầy phỉ chí. Còn trổi vượt hơn manna kỳ diệu, Ðức Giêsu tự xưng là "Bánh Trường sinh là mạc khải quyết định, nên nghe Người là được mời dùng bữa, hấp thụ lời Người trở thành lương thực đem lại kết quả là sự sống. Chúa nói tiếp: "Ai đến với tôi không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ".
Lời tuyên bố này vì có tính cách thúc ép họ phải xác định lập trường đối với Ðức Giêsu, nên khiến cho quan hệ đôi bên trở
nên tồi tệ: từ ngộ nhận này đến ngộ nhận khác đánh dấu hồi đầu của cuộc đối thoại, người ta đi tới thái độ không hiểu và chống đối.
Những điềm báo trước sự đổ vỡ này được Tin Mừng Gioan mô tả trong ba nét sau:
- Trước tiên đã có sự thay đổi từ vựng. Trước đây, thánh sử dùng những từ "đám đóng" hoặc "dân chúng" để chỉ đám người Galilê Chúa nói. Từ nay, Ngài sẽ nói là những người Do Thái, hiểu nơi này trong Tin Mừng Gioan không có ý chỉ dân Do Thái chút nào, mà được hiểu là những chức sắc tôn giáo ở Giêrusalem, họ là những người đã có lập trường chống đối Ðức Giêsu. Kiểu nói đó, hiểu rộng ra cũng ám chỉ tất cả những kẻ đã từ chối tiếp nhận Chúa.
Thứ đến là việc lặp đi lặp lại hai động từ "xầm xì phăn đối" để nêu bật những phản ứng tiêu cực trong bụng dạ họ thay cho những thỉnh cầu tỏ tường và trực tiếp lúc ban đầu. Những động từ này rõ ràng mang âm hưởng Kinh Thánh vì gợi cho người ta nhớ đến thái độ phản loạn của con cái Israel trong hành trình ở sa mạc. X.Léon-dufour giải thích: "Trung thành với câu chuyện về manna trong sa mạc được làm nên cho cả chương sách, thánh sử với những thính giả của Ðức Giêsu lúc này như thế hệ của những người trong sa mạc xưa: "họ xì xầm, phản đối", những khác nào cha ông họ xưa tỏ ra cứng đầu cứng cổ, bị cơn đói dày vò, đã buông lời kêu trách ông Môsê vì đã dẫn đưa họ ra khỏi đất Ai Cập. Mối liên hệ giữa hai bản văn là sự thiếu lòng tin (...) Trong sa mạc khi những người Do Thái xì xầm phăn đối ông Môsê, ông đã trả lời rằng không phải họ đã phản đối ông, mà chính là đã phản
đối Ðức Giavê vậy" (...) Có thể là Gioan thích dùng động từ "xì xầm phản đối" hơn bất cứ động từ nào khác, vì từ ấy thích hợp hơn để gọi ý rằng từ chối tin vào Ðức Giêsu chính là từ chối đi theo chương trình của chính Thiên Chúa vậy. Ở 6,35-40, Ðức Giêsu đã nhấn mạnh đến việc Người được Chúa Cha sai đến và người hoàn toàn làm trọn ý Cha Người" ("Lecture de l'evangile selon Jean". cuốn 11, trang 152).
Sau cùng có vấn nạn gay gắt họ đưa ra: "ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống". Họ nghĩ bụng: "Quả thực, có thể nhìn nhận cái gốc gác thần linh ông ta đòi, nơi một kẻ mà người ta cỡn biết rõ cả gia đình, nghề nghiệp và địa vị xã hội được chăng?"
2..Tiếp đến lòng tin vào Ðức Giêsu, Ðấng Thiên Chúa sai đến.
Không những không nhẹ giọng, Ðức Giêsu còn lên tiếng mạnh mẽ quả quyết rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, rằng chỉ mình Người đã thấy Chúa Cha. Tin Ðức Kitô là tuyên xưng Người có nguồn gốc từ trời, không căn cứ vào những vẻ bề ngoài, không nệ vào những gì ta biết được về liên hệ gia đình và xã hội của Người. Tin chính là khởi đi từ dấu chỉ để học cho biết nhận ra và hết lòng tin cậy vào Ðấng Chúa Cha sai đến... Và đó hẳn không phải là chuyện con người một mình tiến hành; chỉ những ai được Chúa Cha lôi kéo mới đến được với Ðức Kitô thôi: " Chẳng ai đến với tôi được, nếu không được Chúa Cha, là Ðấng đã sai tôi, lôi kéo người ấy.".
Dựa vào những lời hứa và hình ảnh tiên báo của Cựu ước, Ðức Giêsu liền tuyên bố rằng những lời hứa và hình ảnh ấy nay đang ứng nghiệm nơi bản thân Người:
Vị ngôn sứ xưa đã loan báo rằng Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra cho toàn thể dân Người: "Mọi người sẽ được chính Thiên Chúa dạy dỗ" (ls 54,13 và 11,8 hoặc Giê 31,34). Chính bây giờ là lúc Ðức Giêsu khẳng định - lời hứa ấy được ứng nghiệm. Người còn nói với họ: Chính bây giờ là lúc Chúa Cha kêu gọi các ông và lôi kéo các ông đấy, bởi lẽ lời dạy dỗ của tôi là lời dạy dỗ của Chúa Cha; người mà các ông chỉ muốn coi là "con ông Giuse" chính là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo trước.
Manna, lương thực lạ lùng đấy, nhưng tạm bợ, đã không thể giữ cho lớp người ở sa mạc khỏi phải chết. Còn Ðức Giêsu, vì
người bởi Thiên Chúa mà đến, mới thực là "bánh hằng sống",
bánh đem lại phúc trường sinh: "Tổ tiên các ông đã ăn manna
trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, ai ăn thì khỏi phải chết".
Ở câu 51: "Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống", Ðức Giêsu loan báo cái chết của Người là ân huệ, một ân huệ nguồn sống. Ðây là câu chuyển tiếp sang phần hai của "Diễn từ về Bánh hằng sống" chúng ta sẽ đọc vào Chúa nhật tới.
A.Marchadour muốn lưu ý ta rằng: "Trong bối cảnh lịch sử rõ ràng là bài diễn từ về bánh hằng sông này không thể trực ngụ ý nói về bí tích Thánh Thể, càng không thể hiểu được là bữa ăn sau hết, cái chết và sự phục sinh của Ðức Giêsu. Vậy ta nên coi đây là mặc khái về chính bản thân con người Ðức Giêsu. Nhưng vì được viết sau Phục sinh, cùng với những từ ngữ mang âm sắc mạnh mẽ của việc cử hành Thánh Thể, thì rõ ràng là toàn bộ chương 6 là một bài diễn từ gọi lại cùng một lúc lòng tin và bí tích Thánh Thể với một tỉ lệ đảo ngược: từ câu 51-52 trở đi, nốt chủ âm là bí tích Thánh Thể (51/71), còn từ đầu chương cho đến câu 51, thì lòng tin vào Ðức Giêsu Ðấng Mạc Khải chính là nốt chủ âm thứ nhất (1./51) vậy. (Sđd, trang 107)
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. "Sâu thẳm lòng tin"
(Ðức Cha L.Daloz, Trong Únous avons vu sa Gloire", Desclée de Brouwer, trang 85-86).
Những lời Chúa nói gây nên trong đám đông một cuộc tranh luận sôi nổi. Như Cộng đồng Israel trong sa mạc, vì sợ chết đói, nên đã xầm xì phản đối hai ông Môsê và Aaron thế nào, thì những người Do Thái, như Tin Mừng cho biết, cũng bắt đầu xầm xì phản đối Ðức Giêsu như vậy. Lời quả quyết của Người có vẻ lố bịch: ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả. Vấn đề chân tính của Ðức Giêsu được họ đặt ra rất gay gắt. Con người này, người ta biết rõ gia đình của ông, thế mà ông ấy lại quả quyết mình từ trời xuống! Ðó là cái nút thắt của mầu nhiệm mà sau này các Công đồng và các nhà thần học sẽ cố gắng tập trung nghiên cứu, mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Con vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Vào thời điểm Tin Mừng Gioan được viết ra, các tín hữu đã suy niệm mầu nhiệm này rồi, nên không lạ gì mầu nhiệm ấy đã được trình bày cho chúng ta một cách khá rõ ràng.
Ðây là một vấn đề luôn có tính thời sự. Cả chúng ta cũng phải đối diện với mầu nhiệm này nữa, nếu ta muốn tiếp nhận Ðức Giêsu đúng như chân tính của Người: vừa gần gũi vừa khiến ta ngỡ ngàng, vừa dễ hiểu vừa nhiệm mầu. Ðể được như vậy, thì ta cần phải để cho Chúa Cha lôi kéo, để Người nói với con tim ta: "Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Ðấng đã sai tôi không lôi kéo người ấy". Ðức Giêsu vừa rất gần gũi, rất người, mà cũng xa cách biết bao. Ðể nhận biết Người cho đúng, ta phải "đến với Người". Trong con người Giêsu ấy mà ta tưởng là đã nắm được lý lịch, ta sẽ khám phá ra Ðấng đã thấy Chúa Cha, Ðấng có quyền cho mọi người sống lại trong ngày sau hết. Ðức tin ngay từ bây giờ đưa ta đi vào cuộc sống đời đời: "Thật, tôi bảo thật các ông ai tin thì được sự sống đời đời". Ðây chính là một giai đoạn mà ta phải quyết định. Ðằng sau vẻ ồ ạt bên ngoài của đám đông theo Ðức Giêsu vì Người đã thoả mãn nhu cầu cơm bánh của họ, đằng sau ngay cả vẻ tán đồng của các môn đệ vì đã nhìn thấy qua các dấu chỉ của Người, vinh quang Chúa tỏ hiện, thì bước sau cùng tiến đến lòng tin vẫn là ngoan ngoãn để Chúa Cha lôi kéo. Những con mắt thịt của ta chỉ có thể trông thấy những cái bên ngoài; còn trực giác của ta chỉ có thể làm cho ta cảm nghiệm được mầu nhiệm. Việc tuyên xưng niềm tiến chỉ nảy ra trong lòng và tràn trên môi miệng ta nấu Thiên Chúa rọi sáng cho con mắt tâm hồn của ta và ta được ánh sáng hướng dẫn. Ta có lòng tin sâu thẳm khi trong mật thiết sâu xa và huyền nhiệm Chúa đến gần gũi ta và ta tự do dâng hiến toàn thân và dấn thân cho Người
2. "Chúng ta có tránh khỏi sầm xì không".
(H.Vulliez, trong "diệu si proche, Năm B", Desclée de Brouwer, tr. 137).
Khi những tiếng xầm xì, nhỏ to nổi lên từ một đám đông, thật đáng buồn. Những lời xầm xì nham hiểm, tệ hơn những lời phản đối mạnh mẽ! Không có gì đáng sợ và có sức phá hoại hơn thái độ khinh thị ngạo mạn này. Khi lang thang trong sa mạc, dân Do Thái đã luyến tiếc "những củ hành và miếng thịt" của Ai Cập mà quên đi kiếp nô lệ phũ phàng đã phải chịu. Họ bắt đầu xầm xì phản đối ông Môsê và Aaron.
Thực ra chính là họ đứng lên chống lại chính Thiên Chúa. Trong cả bộ Kinh Thánh, từ "xầm xì phản đối" đều có một ý nghĩa đạo đức nhất định. Ðó sẽ là sự biểu lộ thái độ ngoan cố chối từ kế hoạch Chúa muốn cho con người. Như ta thấy biểu lộ trong phần đầu chương 6, Tin Mừng Gioan: những người lãnh đạo Do Thái giáo chối từ "bánh hằng sống". Xa hơn (Ga 6,61) ta thấy thái độ chối từ của chính các môn đệ. Những lời xầm xì thường là thái độ chối từ chưa dám đem niêm yết công khai vậy.
Liệu chúng ta có tránh khỏi thái độ xầm xì không?
admin
11-07-2009, 08:43 PM
CNTN20
CHÚA NHẬT XX THUỞNG NIÊN
DIỄN TỪ VỀ BÁNH TRƯỜNG SINH
(Ga 6, 51 -58)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Một lời huyền nhiệm mới:
Chúa nhật trước, chúng ta đã kết thúc phần thứ nhất "diễn từ bánh trường sinh"; theo thánh Gioan, Chúa nói những lời này ở hội đường Capharnaum, tiếp theo sau phép lạ bánh hoá nhiều. Lúc ấy, Ðức Giêsu tự giới thiệu Ngài là "Bánh từ trời xuống", cao trọng vô cùng so với manna của cuộc Vượt Qua thứ nhất. Ðiều này đã gây ra sự chống đối nơi người Do thái: "Người này không phải là Giêsu, con của ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết rõ, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống". Trước sự chống đối này, Ðức Giêsu cho họ biết một mạc khải mới về mầu nhiệm con người và sứ vụ của Ngài: "Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. "
Câu nói này còn gây ra một chống đối khác, và để trả lời cho sụ chống đối lần thứ hai này, lại có thêm một mạc khải mới nữa về mầu nhiệm Ðức Giêsu, lời huyền nhiệm mới của Ngài ở câu 51 (câu kết bài Phúc âm chúa nhật trước) mở đầu cho phần thứ hai của diễn từ. Lời này chủ yếu nói đến Thánh Thể: "Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."
Ðức Giêsu không những chỉ rõ mình là "bánh trường sinh" mà còn là "bánh trường sinh từ trời xuống".
Ðộng từ "ban" ("Bánh trôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống") chủ từ của nó không phải là Cha, nhưng chính là Ðức Giêsu. Ngài là người ban tặng, nhân danh Chúa Cha.
Bánh này đồng nhất với "thịt " của Ðức Giêsu. Từ này không chỉ bản chất của cơ thể con người, nhưng chỉ chính Ðức Giêsu trong thân phận con người phải chết. Tại sao tác giả Tin Mừng thích dùng từ này hơn từ thân mình" mà truyền thống đã quen khi nhắc lại những lời đức Giêsu nói ở bữa tiệc ly? Cha X. Léon-dufour trả lời: "Có thể do từ "thịt" đã nêu lên cách hiện diện của Ngôi Lời giữa chúng ta trong Lời Tựa của Phúc âm thánh Gioan (1,14: "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt); như vậy, ở đây, tác giả Phúc âm muốn giữ lại ý tưởng về mầu nhiệm nhập thể mà diễn từ muốn làm nổi bật khi nói đến vấn đề từ trời xuống." (Lecture de l'evangile se lon Jean', tập 2, Seuil, tr. 160). Ngôi lời đã trở nên xác thịt (1,14). Và thịt đã trở nên bánh (6,51).
Còn công thức: "Ban để cho thế gian được sống" nói rõ mục đích của việc Ðức Giêsu dâng hiến mạng sống mình làm quà tặng." (sách đã dẫn, tr.161)
2. Một phản đối mới:
Ðiều khẳng định mới mẻ về cái chết của Ngài là mạch suối hằng sống cho thế gian đã gây ra một phản đối mới: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?"
Mới đó, Ðức Giêsu đã gây xung đột khi xưng mình có nguồn gốc từ trời, giờ lại thêm một xung đột khác. Nếu đúng thực là
người Thiên Chúa sai đến, là Ðấng Thiên sai như đã tự phụ thì làm sao Thiên Chúa có thể để Ngài phải trải qua cái chết vì Ngài quả quyết: " Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. " Làm sao Thiên Chúa có thể không cứu Ngài thoát khỏi quân thù và bảo đảm cho Ngài chiến thắng? L.M. Chauvet cảnh báo ": " Nếu khó khăn thứ nhất về căn tính Ðức Giêsu đã khó có thể tiêu hoá nổi thì khó khăn thứ hai về cách thực hiện sứ mạng của Ngài càng không thể nuốt trôi: vì như vậy, Thiên Chúa có lẽ sẽ không còn là Thiên Chúa nữa. " ("Symbole ét sacrement", Cerf, tr.229-230).
Chính xung đột thứ hai là hậu cảnh cho "diễn từ về bánh trường sinh", chứ không phải việc bánh trở nên thịt Ngài được gọi là sự (biến đổi bản thể). Chính niềm tin vào Ðức Giêsu, Ðấng từ Thiên Chúa mà đến \là lại trở về với Thiên Chúa sau khất trải qua cái chết để ban sự sống cho thế gian mới là trung tâm của tất cả diễn từ. "Như thế, chúng ta mới nói hết được tầm quan trọng của vấn nạn ờ câu 52 (Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?): Thiên Chúa có còn là Thiên Chúa nữa không một khi Người để cho kẻ người sai đi phải chết?" (L.M. Chauvet, Sđd, tr.230).
3. Mạc khải mới của Ðức Giêsu về chính mình:
Thay vì hạ giọng làm cho người nghe khỏi bị vấp phạm, Ðức Giêsu còn lên tiếng mạnh mẽ, quả quyết hơn: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình."
Không chỉ có vấn đề "thịt ", mà còn phải "ăn" (nghiã đen là nhai, như chúng ta "nhai" bữa ăn phục sinh; chúng ta gặp động từ này 8 lần trong những câu này); và phải uống (máu Ngài. Ðể "ở, với Ngài ngay từ bây giờ, để sống sự sống Ngài đã nhận từ Cha, chúng ta phải nhờ đức tin đón nhận mầu nhiệm sự chết là quà tặng Ngài ban cho ta.
Khi đọc bản vằn này, một bản văn rất tương hợp với bài tường thuật về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể, người Kitô hữu không thể không nhận biết đó là lời loan báo về Thánh Thể. Tài liệu thần học chuẩn bị cho Ðại hội Thánh Thể quốc tế tại Lộ đức viết rằng: "Khi ăn mình mầu nhiệm Chúa, các Kitô hữu nghiền ngẫm" (nhai lại) biến có gây vấp phạm là việc Ðấng Thiên sai bị đóng đinh vì muốn ban sự sống cho thế gian (xem gian 6, 5 1), và lên một với Người nơi chính thân thể mình, hữu đời sống hằng ngày được biến đổi nên giống Người" (" Jésus Christ, painrompu our un monde nouveau", Centurion, 1 980, tr.64)
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. "Ngôi lời đã trở tàhnh xác thịt. Xác thịt đã trở nên bánh"
(A. Marchadour, trong "Les dossiers de la Bible", số 41, 1992, tr.13-14):
Khi giảng dạy tại Capharnaum. Ðức Giêsu không thể tuyên bố trực tiếp về Thánh Thể vì trước bữa tiệc ly. cũng như trước khi Ngài chết và sống lại, điều đó còn rất khó hiểu. Trước hết, thành ngữ "Bánh trường sinh" là cách để chỉ Ðức Giêsu là Ðấng mạc khải từ trời đến, và lời Ngài là của ăn và của uống giống như sự Khôn ngoan của Thiên Chúa được trình bày cụ thể bằng bánh và rượu (" Hãy đến, hãy ăn bánh và hãy uống rượu ta đã dọn cho các ngươi, Prov. 9,5). Toàn bộ diễn từ nhằm gợi lên niềm tin vào Ðức Giêsu, Ðấng mạc khải; ngoài ra, việc cử hành bí tích Thánh Thể cũng được biểu lộ rõ ràng trong những kiểu nói: " Ăn, uống, có sự sống". Hơn nửa, phần cuối (câu 51-58) của diễn từ còn trực tiếp nói đến Thánh Thể. Chúng ta hãy xem xét phần này.
Quả thật, từ câu 51, Ðức Giêsu nói đến cái chết của Ngài như nguồn mạch sự sống: "Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống". Từ thịt làm chúng ta nghĩ đến Lời Tựa: "Ngôi Lời đã trở thành xác thịt" (1,14). Ở đây, rõ ràng, mầu nhiệm nhập thể được diễn tả ở điểm chót là cái chết của Ðức Giêsu. Ngôi lời đã trở thành xác thịt. Xác thịt đã trở nên bánh. Có sự liên tục giữa nhập thể, cái chết trên thập giá và Thánh Thể. Ngày nay, Ðức Giêsu vắng mặt về thể xác, nhưng điều Ngài mạc khải còn đó và Thánh Thể vẫn và điểm hẹn để con người có thể gặp gỡ hoặc từ chối Người như những người đương thời với Ðức Giêsu vậy: "Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi". (6,60)
Trong các câu 53-56, thay vì động từ "ăn", Gioan dùng một động từ có nghĩa mạnh hơn: "nhai", "nhai rau ráu". Ðiều này có thể nhằm nhấn mạnh đến thực tại của Thánh Thể vì có một số Kitô hữu theo thuyết ngộ đạo bác bỏ sự trung gian của vật chất trong việc kết hợp với Ðức Giêsu qua các bí tích, và không nhận Ngài cũng là người như chúng ta: đến trong xác thịt (1 Gioan 4,2). Tuy nhiên, sử dụng vật chất làm trung gian trong các bí tích không có nghĩa là chúng ta sử dụng ma thuật: Chính Thần Khí mới làm cho sống, còn xác thịt chẳng ích chi (6,63). Thánh Thể, xác và máu, thông truyền cho tín hữu hai quà tặng mà những người thời Ðức Giêsu tìm kiếm: đời sống vĩnh cửu ngay từ bây giờ và sự luôn "ở " với Ðức Giêsu. Ngày nay cũng vậy, Kitô hữu nào thông hiệp với Ðức Kitô trong đức tin thì ở trong Ngài và được sự, sống đời đời.
2. '"Hai bàn tiệc".
(cl Duchesneau, trong "Petit traité d'animation liturgique", Atelier, 1997, tr. 52-53).
" Thánh lễ gồm hai phần: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể; cả hai "liên kết chặt chẽ để làm nên một hành động phụng tự duy nhất. Thật vậy, thánh lễ vừa là bàn tiệc Lời Chúa vừa là bàn tiệc Thân Thể Chúa nhờ đó các tín hữu được giáo huấn và được bồi dưỡng" (PGMPL 8) Bản văn này sáng sủa rõ ràng nên không cần phải giải thích thêm. Nó nói đến tính cách đặc biệt của mỗi phần trong thánh lễ: có hai bàn tiệc nên có hai của ăn, nhưng cũng nói đến sự duy nhất làm cho hai bàn nên một hành động phượng tự duy nhất. Chúng ta đi từ Lời đến Thánh Thể, hay, dựa trên câu nổi tiếng của phúc âm thánh Gioan: "Ngôi Lời đã trở thành xác thịt" (1,14), để nói rằng chúng ta không thể đi tới xác thịt (thân thể) mà không qua Ngôi Lời (lời), và cả hai đều chỉ là duy nhất một Chúa có nghĩa là để gặp Chúa, đến với Chúa, phải nhờ Lời của Người.
Chúng ta cũng biết rằng từ thế kỷ XVI, anh em tin lành nhấn mạnh hơn đến tầm quan trọng của bàn tiệc thứ nhất và người
công giáo chú trọng đến bàn tiệc thứ hai, nhưng từ công đồng Vaticanô II, phụng vụ có được sự cân đối hài hoà giữa hai bàn tiệc này. Ðàng khác, Công đồng không canh tân mà chỉ trở về nguồn là nền thần học của các Giáo phụ nổi tiếng như Origênê, Ambrôsiô, Hiêrônimô, Gioan Kim Khẩu và Xê-da thành Ác".
admin
11-07-2009, 08:43 PM
CNTN21
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN
THẦY CÓ NHỮNG LỜI BAN SỰ SỐNG ÐỜI ÐỜI
(Ga 6,60-69)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Khi mọi người đã bỏ đi, Ðức Giêsu lại đặt một câu hỏi hết sức quyết liệt
Ở Capharnaum, diễn từ về bánh hằng sống kết thúc bằng sự khủng hoảng công khai. Sau "người Do thái" là những người đầu tiên bỏ đi, đến lượt "nhiều môn đệ" của Ðức Giêsu xầm xì và đả kích Ngài giống như con cái Israel trong thời kỳ băng qua sa mạc (vào đất hứa). Họ nói: "Lời này chướng tai quá, ai mà tiếp tục nghe nổi?".
Không làm dịu bớt bầu không khí căng thẳng, Ðức Giêsu còn đặt ra cho những người nghe mình một câu khó trả lời. Sau khi dã loan báo cái chết của mình là nguồn mạch sự sống cho thế gian, bây giờ Ngài đề cập đến việc Ngài trở về với Cha. Ngài nói với họ: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?".
Lần này thì quá lắm rồi! Tác giả Tin Mừng viết tiếp: "Từ lúc đó rất nhiều môn-đệ rút lui, không còn đi với Người nữa".
- Chính lúc đó, lúc mà hầu như mọi người bỏ rơi mình, Ðức Giêsu quay sang "nhóm mười hai" (hạt nhân của một dân mới) là tên mà Tin Mừng thứ bốn gọi lần đầu tiên. Ngài nói với họ, thúc ép họ phải có một chọn lựa dứt khoát: hoặc bỏ đi hoặc ở lại và theo Ngài cho tới Lễ Vượt Qua của Ngài, như Ngài đã hỏi họ tại miền Cêsarê Philipphê (Mt 16,15; Mc 6,14-15; Lc 9,7-8): "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao? "
2. Và lời tuyên xưng đức tin của Simon Phêrô:
Simon-Phêrô nhân danh "nhóm mười hai " (ông xưng hô ở ngôi nhất số nhiều) tuyên bố sự gắn bó của các ông với Ðức Giêsu: "Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đi với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa. "
+ Thánh Phêrô bắt đầu: "Chúng con biết đi với ai?". Tác giả Tin Mừng đặt trên môi Phêrô động từ "đi" là động từ đã được dùng trước đó để chỉ sự "rất nhiều môn đệ" bỏ rơi Thầy.
Rõ ràng, ngược lại với đám đông môn đệ đó, "nhóm mười hai" đã dấn thân theo Thầy.
+ Chính việc mạnh mẽ tuyên xưng đức tin đã làm tan biến mọi do dự; tuyên xưng đức tin không phải là gắn bó với những chân lý trừu tượng, nhưng với con người Ðức Giêsu: "Thầy có, Thầy là". X. Léon-dufour chú giải: Lời tuyên xưng đức tin của "Phêrô vọng lại điều Ðức Giêsu vừa mạc khải: Lời Ngài là "sự sống đời đời". Phêrô mặc nhiên hoàn toàn chấp nhận tất cả nội dung của diễn từ mà các môn đệ khác xét là không thể nhận được. Chắc chắn, theo tình hình câu chuyện được kể lại trong Tin Mừng, ông vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa trọn vẹn những lời Ðức Giêsu, nhưng ông đã tin tưởng vào điều chính yếu nhất, đó là sứ điệp của Ðức Giêsu đem đến sự sống đời đời. ("Lecture de l'Evangile selon Jean", tập 2, Seuil, tr. 1 88)
Và trong lời tuyên xưng đức tin, Phêrô đã dành cho Ðức Giêsu một danh hiệu chưa từng có: "Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa", nghĩa là Ðấng mang trong chính mình một cái gì thánh thiện của chính Thiên Chúa.
X Léon-Dufour đặt câu hỏi: "Ðấng Thánh của Thiên Chúa nói lên điều gì? Ðây là một tên gọi thân hữu, khó giải thích. Phêrô không dừng lại một tên nào mà Ðức Giêsu đã sử dụng trong diễn từ để chỉ chính Ngài (Con, Bánh trường sinh, Ðấng Thiên sai, Con Người); thậm chí ông cũng không dùng một danh hiệu truyền thống nào về sự mong đợi Ðấng Cứu Thế trong đạo Do thái... Ðiều đặc biệt ở đây là Phêrô đã diễn tả Ðức Giêsu là ai theo cách của riêng ông. Phải chăng ông lập lại danh hiệu này theo thánh vịnh 16, trong đó có nói đến danh hiệu "Ðấng Thánh của Ngài", theo bản dịch Bảy mươi? (xem Tông đồ công vụ 2,27) Thánh vịnh này ca tụng tình thân mật sâu xa giữa Thiên Chúa và người cầu nguyện; phải chăng Phêrô cũng muốn nói đến tình thân mật sâu xa giữa Ðức Giêsu với Thiên Chúa? Ðức Giêsu đã công bố sự kết hợp giữa Ngài với Chúa Cha (5,19-30), sau đó, Ngài còn loan báo mình đã được "Thiên Chúa thánh hiến" (10,6; 17,19). Danh hiệu "Ðấng Thánh Của Thiên Chúa" cao vượt hơn danh hiệu "Thiên Sai" rất nhiều và thích hợp với danh hiệu "Con Thiên Chúa" mà Simon - Phêrô tuyên xưng trong Mátthêu 16, 16." (Sách đã dẫn, tr. 189)
- Trong cơn khủng hoảng Giáo hội hiện phải đương đầu, các Kitô hữu ngày nay cũng đang đứng trước câu hỏi cốt yếu xưa kia Ðức Giêsu đã đặt ra cho các môn đệ Ngài: câu hỏi về căn tính con người của Ngài, về sứ vụ của Ngài và về sứ vụ của Giáo Hội. Dựa trên đức tin của Simon-Phêrô và nhóm Mười Hai, chúng ta có cương quyết chọn đi theo Ðức Giêsu để trở nên nhân chứng cho Tin Mừng mà thế giới đang mong đợi không?
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Ðức tin: một cuộc mạo hiểm
(H. Vulliez, "Thiên Chúa rất gần, năm B, DDE3, tr.141-142)
"Cuộc khủng hoảng rất trầm trọng. Nó lan tới cả những người thân cận với Ðức Giêsu. Ðây là một khủng hoảng về niềm tin đưa đến mọi đổ vỡ. "Diễn từ bánh trường sinh", một trong những đỉnh cao của sứ điệp, mang dáng dấp một thất bại thảm não. Ðủ rồi! không hiểu biết, thất vọng, bối rối vọng lên từ những tiếng xầm xì... Trước đám người lạc hướng hoặc thù nghịch này, sao Ðức Giêsu không bớt giọng một chút? Ngài có thể nắm họ trong tay nếu làm họ cảm động. Nhưng không thế! Không có một nhượng bộ nào! Không có một dễ dãi nào để người ta dễ tin vào chân lý hơn.
Ðức Giêsu thậm chí đã sẵn sàng để nhìn cảnh các tông đồ bỏ đi. Ðối với Ngài, trung tín với Chúa Cha, với Lời, nguồn mạch của tất cả hiện hữu, là trên hết. Chính Ngài là Ngôi Lời trở thành xác thể; là Lời Thiên Chúa hiện thân trong xác phàm. Rõ ràng chính đó mới là điều không thể chấp nhận được.
"Còn anh em, anh em có muốn bỏ đi không?" Bỏ đi, không ở lại là một tình huống rất có thể xảy ra, ngay cả đối với những người bạn thân nhất. Ngài còn đưa ra câu hỏi lấp lửng như thế chất vấn thính giả của mình: "Thế thì khi anh em thấy Con người lên nơi ở trước kia thì sao?"
Nicôđêmô đã không còn chỗ bám víu để rồi cuối cùng hiểu được ông phải "sinh lại" cách nào. Ông đã tin. Chỉ có Ðức tin mới soi sáng cho chúng ta hiểu xa hơn những gì từ ngữ nói lên, những gì chúng ta nghĩ rằng mình đã hiểu, những gì chúng ta tưởng tượng, kể cả những gì chúng ta tin rằng mình đã tin. Xa hơn? Người ta ngừng bước... hãy đi xa hơn. Người ta ngừng bước khi không còn lắng tai nghe... hãy vượt xa hơn. Người ta bám lấy những ý kiến riêng, kể cả những thành kiến riêng. Người ta từ chối không chịu nhúc nhích, không chịu để mình bị thúc ép.
() Tin, chính là nhận ra ánh sáng le lói bên kia những từ ngữ, bên kia những nghi lễ. Tin cũng còn là ăn "Lời và được nuôi dưỡng bằng Lời."
2. Tin vào Ðấng Thiên Chúa sai đến và bước theo Ngài
(J. Guillet. trong "Ðức Giêsu trong niềm tin của những môn đệ đầu tiên", Desclée de Brouwer. 1995, tr.82...84).
"Giữa sự tuyên xưng đức tin tại Capharnaum và tại Cêsarê có những điểm giống nhau lạ lùng, tuy nhiên giống về hoàn cảnh và nội dung hơn là ngôn từ (...) Ðó là lúc khủng hoảng là giây phút chọn lựa (...)
Chịu ảnh hưởng của Mác-cô nên ngay khi bắt đầu câu chuyện, các tác giả Tin Mừng nhất lãm đã cho thấy một câu hỏi nổi cộm về nhân vật Giêsu. Ðứng trước uy thế phát xuất tử lời Người nói, sức mạnh từ các phép lạ Người làm, và nhất là lời Người khẳng định mình là Bánh Hằng Sống, mọi người thắc mắc hỏi nhau: Ðức Giêsu là ai? Câu hỏi này có liên quan trực tiếp đến số phận của dân Do thái và số phận của chính Ðức Giêsu, bởi vì sự chúc phúc mà Abraham lãnh nhận đã gắn liền số phận của Israel với số phận của tất cả mọi dân tộc. Ðó là vấn đề phần rỗi của cả nhân loại. Trung tâm của vấn đề trọng đại và lớn rộng này là nhân vật Giêsu và sự đón tiếp Người. Ðây cũng là vấn đề đức tin: dưới ánh sáng của Thiên Chúa, các tác giả Tin Mừng nhất lãm trình bày làm thế nào Phêrô là người đầu tiên đã biết trả lời cho Ðức Giêsu và nhờ đó dẫn Giáo Hội vào con đường cứu rỗi.
Nơi Gioan, với cách trình bày khác, câu trả lời của Phêrô chứa đựng cùng một nội dung và phát xuất từ cùng một niềm tin: Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa, Thầy từ Thiên Chúa mà đến, Thầy thuộc về một thế giới mà loài thụ tạo không thể tiếp được thế giới của mọi ước vọng, thế giới của Thiên Chúa Cực Thánh. Tất cả mọi hình thức đức tin đều giống nhau về điểm này. Nhưng theo cách riêng của mình, Tin Mừng Gioan đã đem đến cho lời tuyên xưng đức tin này một tầm mức hết sức quan trọng. Lời tuyên xưng đó được đặt vào một bối cảnh hết sức rộng lớn. Bối cảnh đó là số phận dân Israel và lịch sử của họ. Suốt chương VI, rất nhiều chi tiết cho thấy những diễn tiến từ lúc Ðức Giêsu sang bờ bên kia biển hồ Galilê (6,1) cho đến lúc Phêrô tuyên xưng đức tin và Ðức Giêsu khen ông đều diễn ra song hành với những biến cố lớn của sách Xuất hành diễn tả sự ra đời của dân tộc Israel.
Những điểm tương cận đó (...) mang một ý định rõ rệt. Ðàng sau những trùng hợp này (...), Gioan lưu ý đến mối liên hệ sâu xa giữa biến cố Xuất Hành, giải phóng dân riêng, vượt biển Ðỏ, ông qua sa mạc, và kinh nghiệm mà Ðức Giêsu muốn các môn đệ Người trải qua. Theo Môsê ngày xưa và theo Ðức Giêsu hôm nay tự căn bản, tiến trình cũng là một. Giữa những đồng bào thù nghịch và trong một tương lai đen tối, vấn đề là nhận ra, nơi con Người mà bề ngoài như bất lực kia, sự hiện diện của Thiên Chúa và quyền năng Người, cũng như nhận ra sự đảm bảo một tương lai hạnh phúc. Vấn đề cũng là bước theo Người, và sống niềm tin như Abraham xưa kia và Ðức Giêsu Kitô ngày nay.
3. Trở thành môn đệ và chứng nhân cho Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô.
(Thư Hội Ðồng Giám Mục gởi cho người công giáo Nước Pháp, Cerf, tr. 19-21)
"Vào cuối thế kỷ XX này, người công giáo Pháp ý thức rằng mình đang phải đối đầu với một tình thế nghiêm trọng. Triệu chứng của tình thế này thì nhiều và đôi khi đáng ngại. Dĩ nhiên, không được quá thổi phồng cơn khủng hoảng hiện nay: báo cáo của Hội đồng giám mục về "trình bày đức tin cho thế giới hôm nay" cho thấy ngay giữa những khó khăn, nhiều tín-hữu đã đương đầu với thử thách đức tin. Họ là những người đã tìm thấy nơi Giáo hội những lý do để tin, để đối đầu với những khó khăn trong cuộc sống, và để dấn thân lãnh nhận trách nhiệm trong đời sống xã hội.
Nhưng không phải vì thế mà chúng ta bưng bít những dấu hiệu đáng lo, đó là số người đi lễ nhà thờ giảm sút, ký ức Kitô giáo phần nào mất đi, và sự phục hồi khó khăn. Ngày nay, trong xã hội chúng ta, chính chỗ đứng và tương lai của đức tin bị đặt thành vấn đề (...)
Chính trong bối cảnh xã hội này, từ Tin Mừng, chúng ta có thể chọn lựa những gì phù hợp để giúp thế giới phát triển, nhưng cũng không quên Tin Mừng có thể phản bác lại trật tự của thế giới và xã hội khi trật tự này trở nên vô nhân.
Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng thời buổi hiện tại không bất lợi cho việc loan báo tin Mừng hơn những thời kỳ trước đây. Trái lại, tình thế nghiêm trọng hiện nay càng thúc đẩy chúng ta trở về nguồn của đức tin cũng như thúc đẩy chúng ta trở nên những môn đệ và chứng nhân cho Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô một cách cương quyết hơn và dứt khoát hơn".
admin
11-07-2009, 08:44 PM
CNTN22
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
"GIỚI RĂN THIÊN CHÚA"
VÀ "TRUYỀN THỐNG LOÀI NGƯỜI"
(Mc 7, 1-23).
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ sạch sẽ của đôi bàn tay đến trong sạch của tâm hồn
Máccô có chủ tâm khi đặt đoạn Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay trong "phần nói về bánh ", giữa hai lần bánh hoá nhiều: lần thứ nhất tại vùng đất Do thái (6,35 và tiếp theo), và lần thứ hai tại vùng đất dân ngoại (8,1-9). Quả thật, đó là cuộc tranh luận giữa Ðức Giêsu với những người biệt phái cùng ký lục về "sạch" và "ô uế", sâu xa hơn, về thái độ kỳ thị của người Do thái đối với dân ngoại. Họ cho rằng dân ngoại thì " ô uế ", do đó không được đi lại với những người này.
-Tranh luận bắt đầu từ một phản ửng của biệt phái và ký lục từ Giêrusalem đến điều tra " xì căng đan" do các môn đệ Ðức Giêsu gây ra: vài người trong các ông "dùng bữa (nghĩa đen: ăn bánh) với đôi bàn tay dơ, nghĩa là không rửa".
Và Máccô kể cho những người dân ngoại đọc Tin Mừng của ông, một vài tập tục nhằm bảo vệ người Do thái khỏi bị lây nhiễm đúng tập tục ngoại lai và giữ cho dân Chúa được toàn vẹn về mặt xã hội cũng như tôn giáo. J. Potin viết: " Nhờ cả một mạng lưới những chịt những điều cấm bao trùm từng giây phút, từng tình huống trong đời sống hằng ngày mà dân Do thái vẫn giữ cẩn thận luật về trong sạch (pureté) mà một thành viên của dân Thiên Chúa phải có. Ví dụ, tư tế phải thanh tẩy hằng ngày trước khi bước qua tiền đường vào đền thờ. Những hy lễ đền tội dâng tiến trong các cuộc hành hương ở Giêrusalem, những lễ nghi rửa tay, sự chay tịnh, bố thí, những lời cầu nguyện đều nhằm tìm lại sự trong sạch (pureté). Ðôi khi sự trong sạch này bị mất đi vì những "sinh hoạt" của cuộc sống hằng ngày như sinh đẻ, lỗi luật, tiếp xúc với xác chết hoặc với người ngoại, người cùi,... Theo cách nói của các Rabbi (thầy dạy), luôn có một bức tường vây kín toàn bộ đời sống của người Do thái để bảo vệ họ. (Xem " Ðức Giêsu, lịch sử đích thực Centurion, 192-193). J. Potin viết tiếp, những tập tục này tất nhiên đòi phải có: " Lối sống định canh định cư rất khác biệt với hoàn cảnh sống rầy đây mai đó của Ðức Giêsu và các môn đệ. Hơn nữa, một số môn đệ là người bình dân nên dĩ nhiên không được chuẩn bị sẵn sàng để tôn trọng những thói tục của dân thành thị. (sách đã dẫn, tr. 193-1 94).
- Sau khi trả lời những người biệt phái và ký lục, Ðức Giêsu nói với đám đông rồi mới nói với các môn đệ.
+ Chẳng những không tìm cách xin lỗi cho các môn đệ, Ðức Giêsu còn cự lại những người chống đối và đánh giá họ là " những kẻ giả hình ", khi dùng những lời tiên tri Isaia để nói về họ: " Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta. Chúng có thờ phụng Ta thì cũng vô ích; vì giáo lý chúng dạy là những giới luật phàm nhân" (Is. 7,6-7 và 29,1 3). Kế đó, để tiếp tục phản công, Ngài tố cáo những" truyền thống" do cha ông truyền lại (những " truyền thống " của loài người) thường cho phép thay đổi cả những giới răn của Thiên Chúa. Thậm chí Ngài đưa ra một ví dụ điển hình (sách bài đọc không nói đến) để lột mặt nạ tính giả dối của những kẻ hay soi mói: " Hãy thờ cha kính mẹ ", đó là giới luật tuyệt đối Thiên Chúa đã truyền cho dân Ngài qua miệng Môisen; tuy nhiên, người biệt phái đoan chắc rằng nếu ai hứa dâng cúng của cải mình cho Ngân khố đền thờ thì được miễn nuôi dưỡng cha mẹ già (Họ nói rằng cái gì đã hứa cho Thiên Chúa thì không thể cho người khác được nữa!) J. Potin giải thích: " Ðó rõ ràng là cách thay thế giá trị nền tảng của Thiên Chúa bằng sự thánh hiến tiền bạc giả danh tôn giáo. Ðây là một trường hợp quá đáng nên chính những Kitô Do thái cũng chống lại vì họ rất gắn bó với gia đình. Ðức Giêsu làm mọi người cảm nhận rõ ràng do đâu những truyền thống phát xuất từ cơ chế tôn giáo có thể làm biến chất chính căn bản nhất của nó và thậm chí cả hướng đi trong sáng nhất của nó nữa. " (sách đã dẫn, tr. 194)
+ Rồi Ðức Giêsu quay sang nói với "đám đông ". Sau khi đã vượt lên trên sự đối nghịch sạch, ô uế theo nghi lễ, Ngài đi ngược lên tận nguồn gốc của sự ô uế luân lý, nơi xuất phát mọi kết định của con người: đó là "lòng" họ. Chỉ có một sự ô uế mặt sự mà con người mắc phải khi tự do quyết định theo điều sự: " Chính cái từ con người xuất ra, là cái làm con người ra ô uế".
M. Quesnel khẳng định: " Chắc chắn đó là bài học chủ yếu của đoạn Tin Mừng này không có gì ở ngoài con người có thể làm họ trở nên dơ. Về điều này, Máccô là một nhà cách mạng đối với người Do thái thời ông; ông tỏ rõ rằng những người tin vào Ðức Kitô và gia nhập Giáo hội không còn lệ thuộc vào sự tuân giữ những luật lệ của Israel về sạch, ô uế nữa: đụng một xác chết hay một người cùi ăn uống với người ngoại, uống náu những con vật, đối với người Do thái, tất cả những hành vi này gây ra sự ô uế về lễ nghi, nhưng đối với người tin vào Ðức Kitô, thực sự chúng không còn chút khả năng nào để tách rời họ khỏi Thiên Chúa". (Ðọc Tin Mừng Thánh Máccô thế nào?", Seuil, p. 125)
+ Nhưng điều Ðức Giêsu vừa nói với đám đông thì lập tức tiếp đó Ngài nói với các môn đệ " trong nhà". Sau khi đã kể ra một loạt những thói xấu và tội lỗi, Ngài kết luận: " Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra, và làm con người ra ô uế.
2. Từ phân biệt đến cởi mở và thông hiệp:
Chính Máccô giải thích: " Như vậy Ðức Giêsu tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch". Câu này (không có trong sách bài đọc) chắc chắn gây nên một cú sức: "Ngay lập tức, Ðức Giêsu tuyên bố những truyền thống nhằm chia xã hội thành hai khối: người tốt và kẻ xấu theo cách của đạo maníchéisme (đạo thiện ác) là nhúng truyền thống lạc hậu. Theo kiểu phân chia này, một bên là những người sạch, tức người biệt phái (nghĩa từ này là "những người được tách biệt ra ") và bên kia là những người ô uế, nên tránh, tức những người tội lỗi. Như vậy, Ðức Giêsu vừa thiết lập một xã hội mới. Phần Thiên Chúa, người thông hiệp với tất cả nhũng ai là nạn nhân của sự phân biệt xã hội và tôn giáo do chủ trương của phái" những người sạch và khắc nghiệt tức những người biệt phái. Ngài uống với những kẻ ô uế, " những kẻ bị loại trừ " (người thu thuế, đĩ điếm, lính Rôma, v. v.) Chính điều mới mẻ này sẽ xô đổ những ngăn cách tai hại vào thời Ðức Giêsu. " (J. Hervieux, "Tin Mừng thánh Máccô", Centurion, tr. 103)
-Một lời nói rõ ràng và có sức giải phóng dành cho những người đọc Tin Mừng Máccô ở một thời đại mà Giáo hội sơ khai đang trải qua những căng thẳng và xung đột giữa những Kitô hữu gốc Do thái và Dân ngoại. J. Potin nhận xét thêm: " Ðiều phê phán trên chứng tỏ rằng việc áp dụng giáo huấn này không dễ dàng, như sách tông đồ cóng vụ đã chứng minh: Phêrô đã phản đối: Trong đời tôi, không bao giờ tôi ăn những gì nhơ nhớp và ô uế, khi trong thấy một rổ những loài vật thiên thần mời ông ăn trong giấc mơ (10, 14). Nhưng vì người Do thái và dân ngoại cùng hiện diện đồng bàn trong cộng đoàn Kitô hữu nên bắt buộc phải bãi bỏ những điều cấm về ẩm thực dành riêng cho người Do thái một khi chúng không có chiều kích luân lý. " (Sách đã dẫn, t r. 195 - 196) Qua việc công tố về sạch và ô uế, Ðức Giêsu mở ra con đường của tự do Kitô giáo.
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. Giới răn của Thiên Chúa và tập tục phàm nhân.
(Nocent, trong "Célébrer Jésus Christ", Editions universitaires, số 7, tr.20...22)
Một cộng đoàn Kitô trẻ trung gặp khó khăn trong đời sống thể trước những luật lệ phải bỏ và phải duy trì. Không phải chỉ thời Cựu ước và trong đạo Do thái người ta mới bị cám dỗ muốn ẩn trốn sau những tập tục và giới luật để được an tâm. Cũng không phải chỉ ở thời đại chúng ta Kitô giáo mới biết đến những cám dỗ như thế. Chính Giáo hội sơ khai cũng đã phải trải qua những cám dỗ này.
Thánh Phaolô chứng minh cho chúng ta thấy những luật lệ Do thái và sự trong sạch nệ luật gây ra những thái độ cần phải chỉnh đốn. Sách tông đồ công vụ, thư gởi tín hữu Galata, thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, thư gởi tín hữu Rôma đều lần lượt ám chỉ đến vấn đề này.
Thư gởi tín hữu Galata cho chúng ta thấy chính Phêrô cũng do dự trước tình hình nghiêm trọng do phản ứng mạnh của một số người. Ông dùng bữa chung với người ngoại giáo, nhưng khi một số người thân cận của Giacôbê từ Giêrusalem đến, ông lẩn tránh mà không dám tiếp xúc với người ngoại giáo nữa vì sợ những người đã cắt bì. Thấy vậy, một số người Do thái khác cũng bắt trước ông. Thánh Phaolô đã kịch liệt đả kích thái độ " ỡm ờ" này (Galata 2,11 -14)
Chương 10 trong Tông đồ công vụ thuật lại: trong lúc Phêrô phải đương đầu với những khó khăn này thì một thị kiến đã dạy ông thái độ cần có và ông đã vào nhà viên bách quan dù theo luật như chính ông đã biết: người Do thái bị cấm vào nhà người ngoại giáo.
Một vấn đề khác, đó là việc cắt bì. Một số muốn dân ngoại khi trở lại phải chịu cắt bì (Ac 15). Chính Phêrô, thủ lãnh của Giáo hội, cũng cảm thấy khó mà quyết định về những vấn đề này; ông đã can đảm giải quyết nó nhưng không phải là không phân vân.
Thánh Phaolô cảm thấy cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng thứ yếu của những tập tục về thức ăn, nên ông viết: " Thức ăn dành cho bụng và bụng dành cho thức ăn. Thiên Chúa sẽ huỷ diệt cả cái này lẫn cái kia". (1 Cor. 6,13) Trong thư gởi tín hữu Rôma, về vấn đề này, ông đưa ra một phán đoán rất quân bình: " Nước Thiên Chúa không phải chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. " (14, 17)
Tuy nhiên, bằng cách khích lệ là cần phải làm đúng lúc vi " những người yếu đuối ", Phaolô nói tiếp: " Ðừng vì một thức ăn mà phá huỷ công trình của Thiên Chúa." (14,20) Tất nhiên mọi thức ăn đều sạch, nhưng chúng sẽ trở nên sự dữ đối với người ăn chúng mà gây gương mù.Những sự kiện này giúp chúng ta hiểu rõ hơn giáo huấn của thánh Máccô dành cho các tín hữu của ông. "
2. Truyền thống là gì?
(H. Vulliez, trong " Thiên Chúa rất gần. Nam B ", Desclée de Brouwer, tr. 1 46).
" Những người biệt phái trách các môn đệ Ðức Giêsu không rửa tay trước khi ăn ", nghĩa là không trung thành với truyền thống. Nhưng truyền thống là gì?
Trong đạo Do thái, luật bắt buộc các tư tế phải rửa tay trước khi cử hành phụng vụ (Xuất hành 30,17-21). Các Rabbi biến luật này thành phức tạp hơn khi thêm vào đó những chi tiết và những giải thích cho rõ ràng hơn.
Ðàng khác, họ áp đặt lễ nghi này cho mọi người Do thái trước khi họ dùng bữa, " lấy cớ là tất cả các bữa ăn đều làm một hành vi tôn giáo và toàn thể Dân Israel là dân tư tế ". Rồi, dựa vào một tiến trình mà ai cũng biết để biện minh cho những luật lệ này, họ nói rằng chúng có nguồn gốc từ thời ông Môisen, người đã giải phóng dân tộc. Nên đó là "Truyền thống ".
Nhằm phá vỡ tính máy móc của sự khép kín này, cũng như nhằm tháo bỏ nó khỏi chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa nệ truyền thống khởi đi từ sự đối lập giữa sạch và ô uế, cái bên trong và ăn ngoài, Ðức Giêsu lập luận: "Không có gì từ bên ngoài trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; chúng chính cái từ con người xuất ra mới là cái làm con người ra ô uế".
Khi bên ngoài lấn át bên trong, dáng vẻ bề ngoài lấn át con tim, lễ nghi lấn át ý nghĩa, trình diễn ngoạn mục lấn át nội tâm, tỉ lệ lấn át tinh thần; thì đó sẽ là điều đồi bại. Bản văn chính thức chúng ta đọc trong chúa nhật này đã bỏ đi một câu tố cáo sống sượng sự phản bội dưới vỏ bọc của một truyền thống sai lạc: "Bất cứ cái gì lừ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm con người ra ô uế được, bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta rồi thải ra ngoài".
Chỉ có một truyền thống đích thực, đó là dòng chảy từ con tim của Thiên Chúa đến con tim của con người. Nhưng để dòng chảy lưu thông thông suốt, đương nhiên cần có những ống dẫn. Những ống này càng mịn màng tinh tế càng ít cản trở dòng chảy ".
3. Ðức Giêsu giải phóng chúng ta
(Mgr Daloz, trong "Vậy, Ngài là ai? ", Desclée de Brouwer, tr.43)
"Ðức Giêsu là con người tự do. Ngài giải phóng. Ngài là người con say mê tìm vinh quang của Cha mình. Ngài bảo vệ các môn đệ chống lại các cuộc tấn công của những kẻ nệ luật; Ngài bảo vệ giới luật của Thiên Chúa không để chúng bị thay thế bởi những luật lệ loài người. Ðức Giêsu mới gọi chúng ta đi đến tận "tâm điểm", tức tận trung tâm của con người mà từ đó phát xuất ra những gì là sạch và ô uế. Ngài kêu mời chúng ta phải lãnh trách nhiệm của chính mình. Ngài cũng kêu gọi hãy có sự trong sạch của tâm hồn, chứ không phải của đôi bàn tay. Chính khi làm thế chúng ta ở trong chân lý, không giả hình, không biện minh vụn vặt cho những chọn lựa nhỏ nhặt của mình, không kết án nhân danh những luật lệ chính chúng ta nặn ra. Ðức Giêsu bắt người ta vừa phải đối diện với chính mình, với cái "tâm" của mình, vừa phải đối diện với "giới luật của Thiên Chúa". Ðó chính là hai tiêu chuẩn để đo lường sự chính trực. Như vậy, Ðức Giêsu đưa chúng ta trở về với điều cốt yếu nhất và giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của những điều vụn vặt, những hình thức bên ngoài... "
admin
11-07-2009, 08:45 PM
CNTN23
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊNCHỮA NGƯỜI CÂM ÐIẾC
TẠI VÙNG ÐẤT DÂN NGOẠI
(Mc 7, 31-37)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Tại vùng đất dân ngoại.
Sau khi tranh luận với những người biệt phái và các ký lục về "sạch, và "ô uế", Ðức Giêsu vào vùng dân ngoại, một cử chỉ cho thấy lời nói và việc làm của Ngài luôn đi đôi với nhau. Khi đi ngang qua miền Tyrô và Siđôn (hiện nay thuộc Libăng), nhận lời cầu xin của một phụ nữ Syrô-phênêxi, Ngài đã đuổi quỉ ám ra khỏi con gái bà (7, 24-30: Sách bài đọc năm B không trích câu chuyện này). Giờ thì Ngài đã ở trong miền Thập Tỉnh (Ðêcapôli): nơi chốn Máccô xác định ở đây có tính cách thần học hơn là địa lý, vì người Do Thái coi miền có mười thành phố này; ở phía Ðông sông Gióc-đa-nô, như vùng đất ngoại giáo và ngoại quốc. Theo Marcô, câu chuyện đã xảy ra chính tại miền này, và chỉ trong Tin Mừng của ngài mới có: " Người ta đem một ngài vừa điếc vừa câm đến với Ðức Giêsu, và xin Ngài đặt tay trên anh".
2. Người câm điếc được chữa lành cách lạ lùng...
Lúc chúng ta chờ đợi Ðức Giêsu chữa lành người câm điếc bằng một cử chỉ và lời nói đầy quyền năng của Ngài, thì Máccô chúng ta kinh ngạc khi ông thuật lại Ðức Giêsu đã chửa lành theo cách các thầy lang ngoại giáo và Do thái thời đó thường làm.
Ðể tránh những con mắt tò mò, Ngài kéo riêng người câm điếc: "Xa khỏi đám đông".
Ngài: " đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh ". Chúng ta thấy Ðức Giêsu cũng dùng nước miếng để chữa người mù ở Bé t-sai-đa trong Máccô 8, 23, và chữa người mù từ mới sinh trong Gioan 9, 6.
J. Potin xác nhận: " Những cách thức chữa bệnh này rất thông dụng trong các đền thờ ngoại giáo và vẫn còn thịnh hành trong các môi trường Kitô giáo" (Ðức Giêsu Lịch sử đích thực), Centurion, tr. 172). Ở Ðây phải chăng cũng cần nhắc là trước thời cánh tân phụng vụ, trong lễ nghi rửa tội, có cử chỉ vùa lấy nước miếng sức vào lỗ tai và miện g của đứa trẻ vừa đọc lại lời của Ðức Giêsu?
- Ngài ngước mắt lên trời, một cử chỉ cầu nguyện và khẩn nài quen thuộc cho thấy quyền năng của Ðức Giêsu từ đâu mà có.
- Ngài rên lên một tiếng. Ðây không phải là tiếng kêu cảm thương đối với người bệnh cho bằng một lời mời gọi sức mạnh thần linh đến để chiến thắng quyền n lực sự dữ.
Ngài phán một lời mầu nhiệm mà Máccô đã có ý thuật lại bằng tiếng Aramé en, ngôn ngữ Ðức Giêsu dùng, mặc dù ông viết Tin mừng bằng tiếng Hy lạp, đó là (Eftata ", nghĩa là" hãy mớ ra ".
Lời nói và cử chỉ của Ðức Giêsu hiệu lực ngay tức thì: đôi tai của người câm mở ra, lưỡi của anh như được tháo cởi, anh bắt đầu nói rõ ràng; và như trong như người câm trong chuyện khác về phép lạ, việc Chúa chữa lành làm dấy lên sự phấn khởi nơi đám đông chứng kiến phép lạ dù Ðức Giêsu đã khuyên họ giữ kín.
3...dấu chỉ thời đại Ðấng Thiên Sai
Lời tung hô Máccô trích dẫn để kết luận câu chuyện cho chúng ta thấy chìa khoá của bài đọc: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được. "
Phần thứ nhất của lời tung hô qui chiếu về sách Sáng tạo: " Thiên Chúa thấy tất cả những gì Ngài đã làm đều tốt đẹp", (Sáng thế 1, 31). Như vậy, nó ám chỉ việc Ðức Giêsu chữa lành bệnn tật là những dấu chỉ về sự sáng tạo mới mọi người chờ đợi trong thời buổi cuối cùng.
Phần thứ hai hiển nhiên ám chỉ đến những sấm ngôn của Isaia, nhất là sấm ngôn trong sách bài đọc của chúa nhật thứ 23 này: "Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra... và miệng người câm sẽ reo hô mừng rỡ. " Ðiều này có nghĩa là tất cả những gì các ngôn sứ loan báo đều được hoàn tất nơi Ðức Giêsu. Nó cũng chào đón sự mở đầu của thời đại Ðấng Thiên Sai.
4...loan báo sự chữa lành thiêng liêng:
Việc Chúa chữa người câm điếc ở miền Thập Tỉnh được kết thúc bằng lời tung hô chào đón những dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa. Nó chuẩn bị cho việc chữa người mù ở Bét-sai-đa trong 8, 22-26 (sách bài đọc năm B không có). Việc chữa lành này sẽ mở đường cho các môn đệ nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Sai.
Như vậy, theo Máccô, phép lạ này cho chúng ta thấy ý tưởng trưng của việc chữa lành thiêng liêng mà các môn đệ Ðức Giêsu đang cần. Trong câu chuyện, các môn đệ không được chỉ đích danh. Các ông hình như vắng mặt. Nhưng lời mời gọi đầy rung cảm: "Hãy mở ra " nhằm đến các ông trước tiên vì các ông vẫn còn câm điếc một cách bướng bỉnh trước sứ điệp của Thầy mình. Chính các ông có tai mà vẫn không nghe, nên tai các ông cần phải mở ra để có thể nghe lời Thầy mình và lưỡi các ông cũng cần được tháo cởi để có thể lấy đức tin đáp trả lời mời gọi ấy. Chính các ông có mắt mà không thấy (8,18), nên mắt các ông cần được mở ra và soi sáng để có thể tuyên xưng cùng với lòng tin tưởng: "Thầy là Ðấng Thiên Sai" (3,29).
Sau cùng, Máccô có chủ ý để phép lạ này xảy ra trong phần đất dân ngoại và đặt nó trong " đoạn về bánh trường sinh" là đoạn hoàn toàn nói đến việc dân ngoại được mời gọi lãnh nhận ơn cứu độ và được tham dự vào bàn tiệc thánh thể; ông cũng có chủ ý khi đặt trên môi những người ngoại giáo lời tung hô: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được". Là muốn công bố và báo trước lời tuyên xưng đúc tin của các cộng đoàn Kitô hữu đã sinh ra và sẽ sinh ra từ việc truyền giáo cho dân ngoại. Như vậy, những độc giả xuất thân từ ngoại giáo trước kia cũng như ngày nay có thể dễ dàng lắng nghe đoạn Tin mừng này, đồng hoá mình với người câm điếc được chữa khỏi cũng như với đám đông nhân chứng. Họ cũng được mời gọi " cởi mở đón nhận Lời và Hà nh động của Ðấng Cứu Thế", và "đừng sợ hãi khi phải "công bố" chúng với thế giới". (Xem J. Hervieux, (< Tin Mừng Máccô ", Centurion, tr. 107)
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. " Hãy mở ra!"
(H. Vulliez, "Thiên Chúa rất gần. Năm 8", DD[3, tr. 147-148).
" Phải chăng Ðức Giêsu là người chuyên làm phép lạ để lòe bịp dân chúng, lôi cuốn họ theo mình và làm cho họ sống sảng khoái mê li trong một thế giới hư ảo?
Khi thuật lại cho chúng ta trình tự chi tiết về việc chữa lành người câm điếc, Máccô, tác giả Tin Mừng, hướng dẫn chúng ta nhìn xa hơn, nhằm giúp hiểu Ðức Giêsu cách sâu sắc hơn. Khi chữa người khuyết tật để anh có thể nghe và nói được, Ðức Giêsu mạc khải Ngài là ai: hơn hẳn một người có phép thần thông, Ngài chính là Ðấng Thiên Sai.
Thực vậy, Isaia đã loan báo điều ấy. Lúc Ðấng Thiên Sai đến giải thoát dân Ngài, thì một người mù sẽ mở ra và tai người nghe được ". Ðối với sự điếc lác, mù tối, câm nín và tê liệt, Ngài là dấu chấm hết. Ngài sẽ tạo nên những con người mới. Và giờ đây nhờ Ðức Giêsu, người mù xem thấy, người điếc nghe được, người câm lên tiếng và người tê liệt bước đi. " Mọi sự Ngài làm đều mới lạ... và tất cả những gì Ngài thực hiện đều đáng ca ngợi".
Thời kỳ Ðấng Thiên Sai được thể hiện mỗi khi con người đi tháp Babel nơi không ai hiểu ai đến Lễ Ngũ Tuần là lúc mọi Người đều nghe và hiểu nhau nói gì, dù rất khác biệt về ngôn ngữ chủng tộc và văn hoá, mỗi khi lời người khác không bị phớt lờ vì giải thích một chiều; mỗi khi lời nói của những người đã từng không thể phát biểu trong những cuộc họp, những đại hội, trước micro và máy quay phim, nay được vang lên khắp nơi, không còn bị cấm đoán nữa; mỗi khi những kẻ xấu không còn dám khẳng định mình làm "việc nhân đạo" bằng cách chiếm đoạt quyền ăn nói của những người "thấp cổ bé miệng " trong xã hội vì sau cùng, ai cũng có quyền lên tiếng; mỗi khi ai nấy đều chăm chú lắng nghe những khát vọng cao đẹp nhất của tâm hồn là những cảm hứng đúng đắn nhất của tinh thần nơi bản thân mình cũng như nơi người khác.
Thời kỳ Ðấng Thiên Sai cũng được thể hiện mỗi khi chúng ta tung được bức tường giam hãm mỗi người. Bức tường hình thành bởi tính tình và sự giáo dục đã nhận, hoặc bởi sức ép của tính tình và chính trị; mỗi khi thay đổi được điều kiện làm việc ở xưởng thợ, trong dịch vụ, nơi văn phòng, điều kiện làm việc khiến con người khó hoặc không thể giao tiếp với nhau.
Thời kỳ Ðấng Thiên Sai cũng được thể hiện mỗi khi con người cùng nhau tạo lập được thế quân bình chính đáng giữa lời phải nói và sự im lặng để lắng nghe; mỗi khi trong gia đình, trong nhóm, trong các đám đông, mối dây giao tiếp trở thành mối dây hiệp thông; mỗi khi các tín hữu phân định được tiếng Chúa trong những điều con người nói với nhau; mỗi khi những bạn hữu của Ðức Giêsu không còn ấp úng trong việc loan báo Tin Mùng và ca ngợi những kỳ công của Thiên Chúa.
2. Kỳ diệu thay những cử chỉ của Ðấng Nhập Thể!
(N. Quesson, trong "Những cuộc đàm đạo ngày chúa nhật. Năm B, Droguet ét Ardent, tr. 1 87- 1 88)
" Sự chữa lành hay sự giải thoát Ðức Giêsu muốn thực hiện nơi chúng ta đến với chúng ta bằng cách nào? Các giáo phụ trả lời: " Bằng nhân tính thánh thiện của Ðức Giêsu". Ðúng vậy, Ðức Giêsu chữa lành chúng ta bằng Thân Thể Ngài và bằng cách tiếp xúc với thân thể chúng ta! Marcô nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh này của dấu chỉ: " Ngài đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Ngài ngược mắt lên trời, rên lên một tiê'ng... " toàn bộ hành vi cứu độ của Ðức Giêsu Cứu Thế được giải thích qua những cử chỉ thân xác. Chúng ta thường có khuynh hướng xoá bỏ những hình ảnh đầy cảm tính của Ðức Giêsu dù chúng " rất người ". Nhưng chúng ta sẽ không thể gạt bỏ điều này, đó là Ðức Kitô cứu độ chúng ta không phải bằng lời nói mà bằng những cử chỉ biết nói: bữa Tiệc ly, máu đổ ra từ Thập giá, hòn đá được lăn ra khỏi ngôi mộ trống. Chính những cử chỉ cụ thể này đã nói lên điều muốn nói! Kỳ diệu thay những cử chỉ của Ðấng Nhập Thể!
Do đó, đương nhiên, các bí tích cũng nằm trong chiều hướng chung của việc Nhập Thể: một mình gặp gỡ Thiên Chúa không qua những cử chỉ cứu độ của Ðức Giêsu... là một giấc mơ hão huyền mau qua và sẽ kết thúc mau lẹ bằng việc không còn sống với Thiên Chúa nữa, nhưng là sống theo bản tính tự nhiên: con-người khép-kín-trong-chính-mình, con người điếc, câm, mù trước những thực tại cao cả. Chúng ta chỉ gặp gỡ Thiên Chúa thực sự nhờ đôi tai, cái lưỡi và đôi mắt. Sự gặp gỡ với Ðức Giêsu chỉ có sức mạnh biến đổi thực sự nhờ những dấu chỉ bí tích, những dấu chỉ thuộc thân xác và trong Giáo hội là Thân Thể mầu nhiệm của Ðức Kitô.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có thái độ nào đối với những cử chỉ Ðức Kitô muốn thực hiện trên chúng ta? Chúng ta sẽ đến gần Ðức Giêsu để Ngài biến đổi chúng ta thành con người mới, con người được chữa khỏi câm điếc hay không? Con người từ nay trở đi hoàn toàn rộng mở!
admin
11-07-2009, 08:45 PM
admin
11-07-2009, 08:46 PM
CNTN27
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN
HỌ CHỈ LÀ MỘT XƯƠNG MỘT THỊT
(Mc 10, 2 - 16)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ cuộc tranh luận "khi đi đường"..
Ðã hai lần (và sẽ còn một lần thứ ba nữa) Ðức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn của Người. Trên đường lên Giêrusalem, nơi Người sẽ chịu khổ nạn và chịu chết, Người tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan.
" B. Standaert nhận xét như sau: " Việc Máccô ghép giáo huấn luân lý của ông vào cuộc khổ nạn của Ðức Kitô thật đáng suy nghĩ: Thay vì lên lớp dạy luân lý, hoặc trích luật này luật nọ trong Kinh Thánh, ông- nhìn nhận chỉ có một nền tảng duy nhất cho đời sống luân lý Kitô giáo là việc noi gương Ðức Kitô. Những trình thuật quan trọng loan báo số phận của Con người thật ra không gì là khích lệ, nhưng chính từ đinh mệnh Ðức Kitô, ta sẽ hiểu được những đòi hỏi thực tế của Kitô giáo. Do đó, ta sẽ không còn ngạc nhiên thấy đời sống đó có những đòi hỏi quyết liệt, không khoan nhượng. J, ông nhận xét tiếp: "Theo Máccô trình bày, noi gương Ðức Kitô là chìa khoá của tấ cả đời sống luân lý. Sự tương cận giữa đời sống Ðức Giêsu và đời sống người Kitô hữu mà Máccô đề ra vẫn là gương mẫu cho nỗ lực tìm hiểu đời sống Kitô giáo. Máccô mời gọi ta suy nghĩ lại thí cả những thực hành, hoạt động, bi kịch và ước vọng của ta dưới ánh sáng duy nhân của tân thảm kich mà Ðức Giêsu đã trải qua: "bị nộp vào tay ngai đòi, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết Người sẽ sống lại" (9. 31) ("L'evangile se lon Marc", Cerf, trang 78-79 và 81).
- Có lẽ ở Giuđê, nơi dân cư là người Do thái sống chung quanh thủ đô Giêrusalem, Ðức Giêsu chạm trán với nhóm Pharisêu. Nhóm này muốn thử thách Người nên đặt vấn nạn về vấn đề ly hôn: "Chồng có được phép rẫy vợ không? " Vào thời đó, việc chồng rẫy vợ trên nguyên tắc được mọi người chấp thuận. Sách Ðệ Nhị luật 24,1 có viết: "Nếu một người đàn ông đă lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà"? Người ta chỉ bất đồng ý kiến về lý do mà người đàn ông viện ra để rẫy bỏ vợ mình.
+ Phái bảo thủ, muốn bênh vực quyền lợi cho người đàn bà trong xã hội do đàn ông thống trị, (môn phái Shammai) chỉ nhận duy nhất một lý do là hợp pháp: đó là thói lăng loàn bất trị của người vợ, hoặc một hành động khiến có thể nghi ngờ lòng chung thuỷ của nàng.
+ Phái tự do (môn phái Hillel) cho phép rẫy bỏ vợ bất cứ vì lý do nào, thí dụ như vô sinh, hiếm muộn, gặp được người đàn bà khác mình thích hơn, hoặc chỉ vì nấu ăn dở.
Nhóm Pharisêu tự hỏi xem Ðức Giêsu sẽ gia nhập phái nào? Nhưng họ cũng biết quá rõ, cho dầu chọn môn phái nào, Người cũng bị sập bẫy. Vì người ta sẽ chụp mũ Người là "cứng cỏi" hoặc là "buông thả" đối với Lề Luật thánh, và như vậy, không ai còn tin giáo huấn của Người.
- Nhưng Ðức Giêsu không rơi vào cạm bẫy của họ. Người trả lời bằng một câu hỏi: "Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông
điều gì?: Khi dùng từ truyền dạy, Người buộc những người chất vấn phải nhìn nhận công khai, đó không phải "một lệnh truyền" của Môsê, mà chỉ là một nhân nhượng" vì lý do nhân đạo. Họ thú nhận: " Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ".
Bấy giờ, Ðức Giêsu nại đến một quyền lực cao trọng hơn nền lực của Môsê trong việc cắt nghĩa Lề luật. Như những lần tranh luận về ngày Sabát, ở đây, Ðức Giêsu cũng nại đến ý Thiên Chúa từ thuở ban đầu: "Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con ngùỏi có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ " lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt". Việc rẫy vợ, dù rằng có rao tờ ly hôn chỉ là một nhân nhượng, nó không huỷ bó ý muốn ban đầu của Thiên Chúa, và tính cách vĩnh viễn của hôn ước. "Vì thế họ sẽ thành một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly".
J. Hervieux giải thích: "Ra đời trước sách Ðệ nhị luật rất lâu, sách Sáng thế mà Chúa trích dẫn, đã trình bày sự phối hợp người nam người nữ như nền tảng vững chắc, trên đó nhân loại được xây dựng chớ không bị huỷ diệt. Con người được tạo dựng có nam có nữ nên cả hai phái tính đàn ông và phụ nữ đều là "hình ảnh của Thiên Chúa ". Sự cao quí của việc kết hợp nam nữ là ở đó. Ðức Giêsu rút ra kết luận mà Ðấng Tạo Dựng mong muốn: " Vì lý do cả hai thành một xương một thịt"... Lời lẽ thật hết sức rõ rệt. Ðàn ông và phụ nữ ơn gọi làm nên một tế bào gia đình tự lập. Ðôi uyên ương họ tạo lập trở nên một đơn vị nền tảng, phát xuất do mối tương quan tình yêu và giới tính. Cái đơn vị hàng đầu này, được tạo lập do ý đinh của Thiên Chúa, là một thực thể cần được bảo vệ bằng mọi giá. Ðức Giêsu cương quyết nhắc nhủ điều đó "Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" ("L'evangile de Marc", Centurion, trang 141-142).
2.... đến cuộc chuyện vãn thân mật "ở nhà".
Thay vì bị mắc vào âm mưu của các luật sĩ, Ðức Giêsu cương quyết tái xác định ý nghĩa sự phối hợp hôn nhân do Thiên Chúa sắp đặt tự nguyên thuỷ; Người không làm luật, Người chỉ đề nghị một thái độ đạo đức cơ bản: đó là đặt mình vào kế hoạch của Ðấng tạo thành. Người mở ra con đường khắt khe hơn quan điểm thường tình của người phàm. Cũng thế, vừa khi trở về nhà, (nơi biểu trưng cho những giáo huấn mà Ðức Giêsu dạy dỗ riêng các môn đệ) các môn đệ thay thế cho nhóm Pharisêu đặt câu hỏi: Và Ðức Giêsu trả lời họ: "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác, là phạm tội ngoại tình, đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác cũng phạm tội ngoại tình".
Ta thấy, khi chuyển lời Chúa đến địa chỉ mới là những Kitô hữu gốc ngoại giáo, thuộc thế giới Hy-lạp, nơi mà luật pháp cho phép phụ nữ cũng như đàn ông được quyền tự ý ly dị, Máccô cũng để ý đến hoàn cảnh đặc biệt này. Ông lần lượt nêu ra trường hợp người chồng, rồi người vợ, lìa bỏ người bạn đời của mình; dù cho phía nào gây ra cuộc phân ly cũng sẽ có "ngoại tình" nếu đi lấy người khác, nghĩa là nếu kéo theo cuộc phối hợp khác.
J.Hervieux nhận xét: "ý kiến cứng rắn của Ðức Giêsu về vấn đề ly di được áp dụng cho Giáo Hội sơ khai trong bồi cảnh mới mẻ. Ðem áp dụng cho Giáo Hội hôm nay cũng không là điều đáng ngạc nhiên. Giáo Hội luôn phải đối mặt với những trường kết hợp vợ chồng bị đổ vỡ rồi tái tạo. Dù sao đi nữa, ta phải luôn nhớ rằng ý kiến của Ðức Giêsu không dựa trên quan điểm " duy luật" và Người luôn dang rộng tay đón tiếp những người bị khai trừ và những kẻ tôi lỗi" (Sđd, trang 142).
Tiếp ngay sau giáo huấn này, là việc một số cha mẹ dẫn con họ đến với Ðức Giêsu để "Người đặt tay trên chúng" và họ chạm phải phản ứng thô bạo của các môn đệ: các ông thẳng tay đuổi chúng.
Ta dễ hiểu phản ứng của các môn đệ, nếu ta nhớ rằng vào Ðức Giêsu. Trẻ nhỏ thường bị người lớn khinh thường (...). Tất cả những chú nhóc chen chúc nhau trong cộng đồng Do thái đều mù tịt về luật Môsê (...) chúng bị liệt vào hạng "bị khai trừ ", như bệnh nhân, phụ nữ và nô lệ.
Bực tức trước thái độ như thế, Ðức Giêsu lợi dụng cơ hội này để dạy về thái độ tinh thần mà người môn đệ của Nước Trời phải có: "Cứ để trẻ em đến với Thầy. đừng ngăn cấm chúng, vì nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng". "Nếu Vị Tôn nêu trẻ nhỏ ra làm gương mẫu cho người lớn bắt chước, chính là theo quan niệm của thời đó, vì chúng nhỏ bé, nghèo khó, bị khai trừ. Như đã nói, vào thời Ðức Giêsu, trẻ nhỏ là "người nghèo": chỉ là một sinh vật hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Nhưng trẻ nhỏ cũng là dấu chỉ sống động cho khả năng biết lắng nghe và tin tưởng. Chính khả năng dễ hoà nhập của trẻ nhỏ là một tấm gương cho các tín hữu. Ðức Giêsu long trọng quả quyết điều đó(câu 15). Bởi vậy, ta nhận ra rằng Ðức Giêsu luôn lo lắng để uốn nắn cái nhìn của các môn-đệ, mà Người đang đào tạo để trở thành những người lãnh trách nhiệm trong Hội Thánh. Họ cần phải bỏ tính tự cao tự đại (9,33-34), phải trở nên nhỏ bé để đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn khiêm nhượng và rộng mở " (Sđd trang 142).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Do bản tính yếu đuối của con người.
(H.Vuillez, trong "diệu si proche. Année B", DDB, trang 158-159).
"Do bản tính yếu đuối của con người" đó là câu nói cửa miệng để biện minh cho luật lệ và quy chế. Không có nó, con người sẽ đi về đâu? Có lẽ xã hội sẽ do những người mạnh nhất, hoặc những kẻ xấu nhất thống trị. Luật lệ là điều cần thiết dù ở thời đại nào, hay trong nền văn minh nào cũng vậy. Ðó là lời thú nhận về những giới hạn của thân phận con người (...).
Trả lời cho nhóm Pharisêu có ý gây hấn và đầy ác tâm, Ðức Giêsu vạch một luống cày để gieo hạt giống cho sự sống vĩnh cửu. "Chính vì lòng chai dạ đá của các ông mà Môsê đã ban hành luật như thế, kể cả luật hôn nhân, để các ông khỏi chìm xuống sâu hơn, đúng hơn để các ông giữ được độ cao và biết đâu, các ông có thể sẽ muốn vươn lên cao hơn".
Một cái nhìn đầy tin tưởng đối với nhân loại! Người không lợi dụng điểm yếu của họ. Người khơi dậy điều tốt nhất nơi họ, điều làm cho một tạo vật nên giống hình ảnh của Ðấng Sáng Tạo, tức lương tri và trí tuệ mở rộng vô biên đến tận cõi trời vĩnh phúc.
Như vậy, Ðức Giêsu dẫn đối thủ của Ngài về với ý định đầu tiên mà cũng là cuối cùng của Thiên Chúa, đó là con người sống hoà hợp với nhau và với vũ trụ. Thiên đường tại thế và Nước Trời. Giữa hai thế giới ấy, những yếu đuối của con người đọc coi là "sự cứng cỏi của con tim", là trái tim từ chối đập theo nhịp của Thiên Chúa. Là từ chối hoạt động cho sự hoà hợp trong vũ trụ theo ý muốn của Ðấng Sáng Tạo".
3. Những đòi hỏi của Tin Mừng về hôn nhân: đời lối khả thi để xây dựng cuộc sống gia đình.
(Lettre des Evêques aux Catholiques de France", Cerf, trang 93).
Ðể xem xét mục vụ về bí tích Hôn nhân, chúng ta phơi thực quan tâm đến những điều kiện thực tế hiện nay của đời sống lứa đôi: cuộc sống tạm bợ, bấp bênh về tương lai, bất ổn về đời sống lứa đôi không ngừng gia tăng, đổi thay của thân phận phụ nữ, những vấn đề do việc điều hoà sinh sản đặt ra. Khi để ý đến những điều kiện này, ta có thể trình bày những đòi hỏi của Tin Mừng về hôn nhân như một đường lối khả thi để xây dựng đời sống lứa đôi và gia đình. Một đường lối khả thi, nghĩa là đi theo nó, đôi vợ chồng không bị bỏ rơi nhưng, nhờ sự nâng đỡ của một nhóm hay một cộng đoàn Kitô hữu, chính họ được mời gọi để hiểu rằng Lời Ðức Kitô dạy về tình yêu nhân loại đáp ứng được điều sâu thẩm nhất mà cũng mỏng giòn nhất nơi con người".
admin
11-07-2009, 08:47 PM
CNTN28
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN
ÐỨC GIÊSU GẶP NGƯỜI THANH NIÊN GIÀU CÓ.
NGUY HIỂM CỦA SỰ GIÀU SANG
(Mc 10, 17 - 30)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ ánh mắt Ðức Giêsu nhìn người thanh niên giàu có.
Bối cạnh của đoạn Tin Mừng này cũng giống như Chúa nhật trước, đó là cuộc hành trình lên Giêrusalem, đây là dịp hai lần, và còn lần thứ ba nữa, Ðức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn của Người. Khi Ðức Giêsu vừa lên đường có một người chạy đến trước mặt Người. B.Standaert nhận xét: "Cuộc gặp gỡ với người thanh niên giàu có nêu lên một đề tài quan trọng trong giáo huấn đầu tiên của Kitô giáo: vấn để giàu có. Thánh sử đạo diễn tấn kịch này hết sức cẩn thận. Từng nấc một, ông đã đưa người ta tiên dần đến điểm giới hạn tột cùng: "Như vậy thì ai có thể được cứu: Có thể nói sự giàu có là một vách đá vững chắc mà mỗi khi vỗ vào các đợt sóng cố gắng của con người đành phải vỡ vụn, cho đến khi Thiên Chúa can thiệp: "Ðối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được" (10,27)" ("L'evangile se lon Marc", Cerf, trang 80).
- Từ lúc đầu của cuộc gặp gỡ, mọi sự báo trước một kết thúc may mắn:
+ Dáng vội vã của người thanh niên "chạy đến" và "quỳ xuống" trước mặt Ðức Giêsu, một cử chỉ trong nghi thức phụng vụ.
+ Thái độ sẵn sàng nội tâm ta có thể cảm nhận được qua câu hỏi anh đặt ra: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? trong câu trả lời của Ðức Giêsu, người đã tự xoá nhoà trước Thiên Chúa duy nhất, khi nói chỉ mình Thiên Chúa mới nhân lành, và dành ưu tiên cho mối tương quan với tha nhân, khi Người hướng dẫn người thanh niên về lề luật Thiên Chúa: "Hẳn anh biếtt các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ".
+ Lòng ngay thẳng và trung thực của anh được bộc lộ qua câu trả lời Ðức Giêsu: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi tuân giữ từ thuở nhỏ" J.Potin nhận xét: "Ðức Giêsu biết mình được một người Do thái sống ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa và luôn cố gắng tôn trọng tha nhân trong mọi hoàn cảnh. Hẳn người này thuộc hạng người có phẩm chất tốt hơn những người giàu có khác mà Chúa thường gặp" ("Jésus, l'histoire vraie", Centurion, trang 233).
Bấy giờ Ðức Giêsu đưa mắt nhìn anh (lưu ý là trong vài câu thôi mà Máccô đã nói tới ba lấn về điểm này) và Người mời anh. Lời mời gọi này là chóp đỉnh và khúc ngoặc quyết định vì cuộc gặp gỡ này.
+ Ðức Giêsu "đưa mắt nhìn anh ta" và "đem lòng yêu mến".
+ Một ánh mắt đầy âu yếm và quí trọng, được diễn tả ngay thành một lời mời gọi tha thiết: "Anh chỉ cỡn thiếu có 1 điều là hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi".
Ðức Giêsu đề nghị dẫn anh đi xa hơn nữa trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, con đường tuy gồ ghề, nhưng chỉ là nối tiếp đường anh đã đi từ thuở nhỏ để được sụ sống đời đời làm gia nghiệp; đó là: từ bỏ của cải để cho người nghèo.
Nhưng điều hoàn toàn mới nằm trong lời mời gọi ở câu kết "Rồi hãy đến theo tôi" Ðức Giêsu mời gọi người Do thái trung thực này vượt lên khỏi đức tin của cha ông để gắn bó với Người, là trở nên môn đệ của Người.
" Nghe lời đó", cuộc gặp gỡ từ đầu đến đây đã diễn tiến đầy hứa hẹn, bỗng đột ngột chấm dứt: "Người thanh niên sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi", thánh sử cho ta biết, bởi vì "anh ta có nhiều của cải".
"Trên đường đi theo Ðức Giêsu, người thanh niên giàu có này gặp phải một chướng ngại, đó là lòng gắn bó với gia tài sản nghiệp. Của cải như tâm kính mờ đã che lấp ánh sáng, lúc ánh sáng muốn thâm nhập vào lóng anh. "Anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi". Ðức Giêsu đã đem lòng yêu mến anh. Nếu niềm hy vọng có một con đường dẫn thẳng tới Thiên Chúa đã khơi dậy niềm vui to lớn thế nào thì giờ đây, thay vào đó, là một nỗi buồn sâu xa không kém. " (Sđd, trang 234).
2. đến mắt Chúa nhìn các môn-đệ
- Người thanh niên giàu có vừa đi khỏi, Ðức Giêsu liền đưa mắt nhìn các môn đệ đang "ở chung quanh Người".
+ Người tuyên bố: "nhửng người giàu có thì khó vào nước Thiên Chúa biết bao". Người còn làm cho các môn đệ sững sờ hơn khi nhấn mạnh theo kiểu phương Ðông: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa".
+ J.Potin giải thích: "Các môn đệ càng cảm thấy sửng sốt hơn nữa vì theo cách giữ đạo thời đó, thì càng giàu càng có nhiều thuận lợi. Có tiền thì người giàu có thể dâng lễ vật cho Thiên Chúa theo Luật buộc để được xá tội, có thể dâng cúng một phần mười tài sản mà các tư tế đòi, hoặc có thể bố thí cho người nghèo. Dường như có một thoả thuận ngầm giữa Thiên Chúa và những người giàu. Như vậy, giàu có của cải không phải là dấu chỉ của người đẹp lòng Thiên Chúa đó sao?" (Sđd, trang 234).
Bởi đó mới có câu hỏi: Thế thì ai có thể được cứu rỗi? "Nếu người giàu không được cứu rỗi, thì còn ai có thể được"? J. Potin giải thích tiếp: "Nếu họ theo sát lối tư duy của đạo truyền thống, những người không thể có đủ tiền mua những lễ vật dồi dào, không mua được những bộ chén dĩa cần thiết để giữ luật lệ sạch sẽ còn người giàu, họ có thể mà!" (Sđd, trang 235).
+ Nhìn các môn đệ một lần nữa, Ðức Giêsu nói thêm: "Ðối với loài người thì không thể được, nhưng đối vơi Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được". Ðây là lời tuyên xưng niềm tin-cậy đã ghi một dấu ấn quan trọng trong lịch sử Kitô giáo ngay từ buổi đầu. Thiên thần đã chẳng tuyên bố với Ápraham về việc Sara sẽ làm mẹ, dù bà hiếm muộn tuổi già: "Có phép lạ nào mà Chúa không thể thực hiện được?". Thiên thần đã chẳng tuyên bố với Ðức Maria về việc bà Êlisabét sắp sinh con trong lúc tuổi già: "Bởi vì không có gì mà Thiên Chúa không làm được" đấy sao? Chúng ta không được cứu nhưng việc thực thi các lề luật, hoặc nhờ những của lễ sang quí giá, hay nhờ việc từ bỏ, hy sinh anh hùng; ơn cứu độ là ân huệ cần phải đón nhận, chính Thiên Chúa đưa ta vào Nước Trời, ân sủng cao cả của Người có thể làm nên những việc lạ lùng. Câu nói trên của Ðức Giêsu là một lời cổ vũ làm cho cái khó của sứ điệp trước giảm nhẹ đi. Câu chuyện kết thúc khi Phêrô hỏi: " Thầy coi, chúng con bỏ mọi sự mà theo Thầy"? Ðức Giêsu hé mở cho thấy niềm vui "trăm lần", những gì đã từ bỏ, niềm vui ấy bất cứ ai đã bỏ mọi " Người và vì Tin Mừng sẽ cảm nghiệm được ở đời này" và "đời sau". Nhưng Người cũng không che giấu những cuộc bách hại" đang chờ họ. J.Potin kết luận: "Người môn-đệ phải tham gia vào việc rao giảng Tin Mừng với Ðức Giêsu... Nhưng cũng như Người, giữa niềm vui về những điều thiện hảo của Nước Chúa, họ phải chuẩn bị để chịu đựng những cuộc bách hại. Ngay từ buổi đầu Ðức Giêsu đã đào tạo họ theo chiều hướng này! Phạm trù để phán xử đều bị đảo lộn. người giàu mà ta trông thấy đang ở chỗ nhất trong Nước trời, nay bị đưa xuống chỗ rốt hết. Còn môn-đệ và người nghèo được mời lên ngồi vào chỗ nhất, Sau khi đã cùng Thầy mình trải qua thử thách của sự bách hại. "'(Sđd, trang 235).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Con đường khó đi
(Mgr. Daloz, trong "Qui dong est-il?", DDB, trang 62-63)
Ðức Giêsu lên đường. Ta sẽ biết con đường ấy dẫn đến đâu: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp.. " Ngay lúc ấy, có một người đến tìm Người. Anh ta đi tìm sự sống, sự sống đời đời. Anh ta đã nghiêm túc tìm kiếm bằng con đường tuân giữ các giới răn: " Tất cả nhửng điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ". Anh ta cảm thấy cần phải tiến xa hơn, nên đến hỏi Chúa: "Tôi phải làm gì?..Và Ðức Giêsu đem lòng yêu mến anh. Người yêu mến sục tìm kiếm và lòng quảng đại của anh. Người chỉ đường cho anh: "Anh chỉ còn thiếu một điều: hãy đi bán những gì anh có..? Nhưng con đường này làm người thanh niên khiếp sợ bởi vì anh ta có nhiều của cải'? Con đường này cũng khiến các môn đệ khiếp sợ vì họ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa.. "Như vậy thì ai có thể được cứu? Bấy giờ, Ðức Giêsu mời gọi nhìn vào cái vô hình. người bảo đảm với người thanh niên: "Anh sẽ được kho tàng ở trên trời'? Nói với Phêrô, Người hứa ban "gấp trăm lần" và mai sau được sống đời đời. Như Ðức Giêsu, số phận của các môn đệ được sắp đặt trên nền tảng của sự vĩnh cửu. Vật đặt cược chính là sự sống đời đời. Và cái khó ở đây là phải ưu tiên cho cái vô hình trước cái hữu hình ta đang có. "Ðối với loài người thì không thể được". Ðây là một cuộc Vượt qua của Ðức Giêsu. Ðức Glêsu sắp hy sinh mạng sống. Người mời gọi ta theo Người, từ bỏ mọi sự vì Người và vì Tin Mừng. Hy sinh mạng sống vì những điều này cũng đáng lắm nhưng thực hiện cuộc vượt qua này trong đức tin và không cái hữu hình lôi cuốn mình là điều không phải dễ. Chỉ có quyền năng Thiên Chúa mới có thể thực hiện điều đó nơi ta: đối Thiên Chúa Chúa mọi sự đều có thể được'? Nhưng còn cần ta để cho Người thực hiện.. "
2. Bước vào con đường khôn ngoan đích thực, Khôn ngoan của Thiên Chúa.
(L.Sint~s) "Parole de diệu pour la méditation ét l'homélie", tr. 1 24-125).
Ðức Kitô là Sự Khôn Ngnan Thiên Chúa nhập thể. Ai đặt tin tưởng vào Ðức Kitô, thì từ nay sẽ không theo sự khôn ngoan nào ngoài Lời của Ðức Kitô. Thư gởi tín hữu Do Thái dạy ta điều rất rõ. Ðối với người Kitô htĩu, Ðức Kitô, Lời chân thật của Thiên Chúa trở nên một tiêu chuẩn tối hậu để nhận biết sự khôn ngoan đích thực. Bởi vậy, lời của Ðức Giêsu tuy có vẻ điên rồ trong cách suy luận của ta, nhưng vẫn là lời khôn ngoan hơn bất cứ danh ngôn phàm trần nào.
Chính điều đó đã thể hiện trong truyện người thanh niên giàu có theo Tin mừng Máccô. Anh chạy đến Ðức Giêsu. Anh đi tìm sự khôn ngoan. Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời? Ðức Giêsu nói theo lương tâm đạo đức ngay thẳng của ngươi thời đó, Người nhắc nhủ anh về những giới răn của luật Môsê. Nhưng tất cả các giới răn đó anh đã giữ cặn kẽ từ nhỏ. Nếu anh đến tìm Chúa, là vì anh khao khát điều gì khác, điều mà việc tuân giữ các giới răn đã không thoả mãn được.
Ðức Giêsu chăm chú nhìn anh. Trước khát vọng của anh, Người ban cho anh một thời mởi mẻ. Người mở ra trước mắt anh một con đường, mà dù có trung thành cặn kẽ mấy đi nữa, anh cũng không nghĩ ra. Người đề nghị với anh một điều có vẻ điên rồ trước mắt người đời: Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, rồi hãy đến theo tôi.
Ta chỉ hiểu những lời này qua hệ luỵ chúng gây ra trong cuộc sống của ta thôi. Nào là bỏ tất cả, mất tất cả, bán tất cả, cho tất cả. Nhưng điều quan trọng không ở đó. Ðiều quan trọng nằm ở phần thứ hai của câu nói: Rồi hãy đến theo tôi! Theo Ðức Giêsu là theo Lời Thiên Chúa, là theo Sự Khôn Ngoan Thiên Chúa. Theo Ðức Giêsu là muốn Sự Khôn Ngoan Thiên Chúa hơn tất cả mọi sự. Chỉ có lòng yêu mến như vậy, tuy không thấy, không nắm bắt được, mới biện minh cho hành vi từ bỏ tất cả mọi sự được Khốn nỗi, việc mất đi mọi sự che lấp chân trời rộng mở, cản trở ta câm nghiệm được Sụ Khôn Ngoan đích thực của Thiên Chúa. Theo Ðức Giêsu là dám liều mất tất cả. Và đó là điều Chúa đòi hỏi. Bạn có đủ tin tưởng vào Tôi để nghe theo lời tôi khuyên nhủ không? Thực sự, bạn chỉ cảm nghiệm được giá trị của nó sau này thôi! Còn lúc này, bạn có thể tin tôi không, khi tôi nói rằng bạn sẽ được thoả lòng?
Thật ra, Ðức Giêsu đặt người thanh niên vào đúng vị trí của ông Ápraham. Cha của Người trong đức tin. Người đề nghị với anh hãy tin và hãy tín nhiệm vào Lời vừa đòi hỏi vừa hứa hẹn.
Tin Mừng thuật rằng: người thanh niên bỏ ra về, bởi vì anh có nhiều của cải. Và Tin Mừng cũng nói rõ thêm: Anh sa sầm nét mặt. Niềm vui đã tan biến. Khát vọng chân thật mà người thanh niên bộc lộ lúc ban đầu gặp Chúa, bây giờ tàn lụi, tắt ngấm. Nó không còn có thể làm nẩy sinh niềm vui đến từ lòng khát vọng sống động.
Trình thuật này được viết ra không phải để chúng ta buồn lòng về trường hợp người thanh niên ấy, nhưng để Lời Chúa đánh động tâm hồn ta. Lời Chúa cũng muốn vươn tới khát vọng chân thật của ta, cũng muốn khát dậy đức tin chân thật nơi ta, Người muốn đưa ta vào con đường khôn ngoan chân thật, là Khôn Ngoan của Thiên Chúa.
admin
11-07-2009, 08:48 PM
CNTN29
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN
CON NGƯỜI ÐẾN KHÔNG PHẢI ÐỂ ÐƯỢC PHỤC VỤ, NHƯNG ÐỂ PHỤC VỤ
(Mc 10, 35-45).
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Sau khi loan báo cuộc thụ khổ lần thứ ba.
trên đường lên Giêrusalem, lúc này đã gần tới nơi, bầu không khí càng lúc càng thêm bi thảm. "Người dẫn đầu các ông", những người đi theo "kinh hoàng" và "sợ hãi", tiến trên đường dẫn đến cái chết.
Ðây là lần thứ ba Chúa loan báo cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người. Loan báo mà Ðức Giêsu gởi tới nhóm Mười Hai, là tế bào đầu tiên và cũng là những người phụ trách cộng đoàn môn đệ của Người. Một lời loan báo rõ rệt hơn hai lần trước (8, 31-33 và 9,32-33), vì đã phác hoạ trước những gì sẽ xảy ra bị nhà cầm quyền Do thái kết án (xem 14,64), trao nộp cho quan Philatô, kẻ "ngoại giáo" (xem 1 5,1), bị phỉ báng và chịu cực hình: "chúng sẽ nhạo báng người" (xem 1 5,30-31) chúng sẽ khạc nhổ vào người" (xem 14, 65 và 15, 9), ('chúng sẽ đánh đòn Người " (15, 15) "chúng sẽ giết Người " (xem 15, 37) "và ba ngày sau sẽ sống lại".
cũng như các lần loan báo trước, lần loan báo thứ ba này gây ra những phản ứng chứng tỏ. Các môn đệ không hiểu, nên Ðức Giêsu phải giải thích cho họ.
2..Thái độ không hiểu tái diễn nơi các môn-đệ
Rõ ràng lời xin xỏ của Giacôbê và Gioan chẳng thích đáng chút nào trong bối cảnh đó (Ðức Giêsu vừa mới loan báo về cuộc khổ nạn của Người). Hai ông đã từng là những người được gọi ngay thời kỳ đầu sứ vụ rao giảng (1,19-20), lúc Chúa hồi sinh con gái ông Giairô, hai ông đã có thể xác minh quyền năng của Người trên sự chết (5,37); hai ông đã cùng với Phêrô là những người duy nhất được chứng kiến Chúa hiển dung trên núi (9,28); và sau này cũng cùng với Phêrô chứng kiến Chúa hấp hối trong vườn Ghêtsêmani (14,33).
Khi Ðức Giêsu vừa mới loan báo cuộc khổ nạn lần thứ ba, thì hai ông nóng lòng muốn bảo đảm chiếm cho được chỗ tốt, được một tương lai sáng lạn trong vương quốc. Các ông tiến lại thưa Chúa: "Xin cho hai anh em chú ng con được ngồi một người bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang". Số phận mỉa mai thật! khi sau này Chúa hấp hối trên thập giá, hai người được đặt ở bên tâ bên hữu Chúa là hai người trộm cướp (1 5,37) đang cùng chia sẻ cực hình với Người!
- Ðức Giêsu cố gắng tỏ cho hai ông biết: đặc ân họ xin là quá lớn và họ thật quả vô tâm, nhưng vô ích. "Các anh không biết các anh em gì'? Rồi dùng hình ảnh mạnh mẽ, như "chén phải
uống '. "phép rửa phải chịu" để đưa các ông đến trước mặt những gì sắp xảy ra: "Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa thầy sắp ch.ịu không?".
+ Trong Cựu ước, "Chén" đôi khi người ta nói chén chúc tụng, nhưng thường là nói về chén đắng để diễn tả những đau
đớn trước lúc chết. Lúc hấp hối, Ðức Giêsu đã xin Chúa Cha cất chén đắng cho Người, nhưng cũng nói tiếp: "Nhưng đừng theo ý con, chỉ xin theo ý Cha mà thôi" (1 4,36).
+ Trong "Bí tích rửa tội", toàn thân được dìm xuống nước, tượng trưng cho việc "chìm đắm" trong cái chết trước khi chỗi
(trong đời sống mới. Trong cuộc khổ nạn, Ðức Giêsu sẽ trải qua một phép rửa thật sự, Người sẽ bị dìm xuống làn nước chết, khi chỗi dậy vào ngày thứ ba.
Xin được vinh dự bên cạnh Chúa trong Nước Người, tức là thuận theo cùng một con đường Người đã đi:
Hai môn đệ có dám theo Chúa tới đó không? "Thưa được" ông đáp không hề do dự, không đếm xỉa gì đến những điều Chúa đã cảnh báo.
Mười ông kia đã nghe rõ câu chuyện. Nếu họ "tức tối" thì hẳn không phải vì chê trách mưu đồ của Giacôbê và Gioan, mà vì sợ hai anh em ông này dành được chỗ nhất.
3..Giáo huấn mới của Ðức Giêsu: Sự đảo ngịch của Tin Mừng.
Ðức Giêsu qui tụ nhóm Mười Hai lại và long trọng giảng giải cho các tông đồ về sự đảo nghịch của Phúc âm.
Khi nói với các tông đồ, cũng như với những người chịu trách nhiệm về các cộng đoàn Kitô hữu có mặt lúc đó hay trong tương lai, Ðức Giêsu nêu lên một luật đối trọng với cách thế mà xã hội dân sự chủ trương về quyền hành: "Những người được là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, nhưng người '" lớn thì lấy quyền mà cai trị dân". Ðiều luật này chống lại lòng ham muốn thống trị và lòng khao khát quyền lực ta mang trong mình, như Giacôbê và Gioan và mười tông đồ còn lại. Ðiều luật này không chỉ là một điều luật bình thường, mà Ðức Giêsu coi nó hiến chế cho các cộng đồng môn đệ Người: mỗi người là đầy tớ người (J.Delorme).
Ðây là một đảo lộn tận gốc, một lý thuyết cách mạng bắt đầu cho một mối tương quan mới giữa người với người: "Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em (người phục vụ, tiếng hy lạp là diakonos, còn có nghĩa là thầy phó tế).
Lý do và gương mẫu cho nguyên lý cách mạng này chính là cách đối xử của Ðức Giêsu, Người kết luận: "Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người'? Câu này nhắc lại lời ngôn sứ nói về Người Tôi Tớ đau khổ (Bài đọc l), nhờ lời này soi sáng, Ðức Giêsu nhận biết số phận của Ðấng Mêsia-tôi Tớ; Lời đó còn nói lên ý nghĩa sự sống và cái chết của Người và loan báo lời mà Chúa sẽ tuyên bố về "chén" vào thứ năm, trước khi Người bị bắt: "Này lá máu Thầy, máu Giao ước sẽ đổ ra cho nhiều người". Ðể có thể sống như một Kitô hữu chân chính, cộng đoàn môn đệ, hôm nay, hôm qua cũng như ngày mai, cần phải xét xem lối hoạt động của mình có hợp với ý và gương mẫu của Ðấng Sáng lập, Ðấng đã đưa tinh thần phục vụ đến tột đỉnh không.
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Vinh quang đầy mâu thuẫn của Con Người
(B.Standaert trong "L'evangile se lon Marc", Cerf, trang 80-81).
Cuộc chuyện trò cuối cùng của Ðức Giêsu với các môn đệ (10, 38-43) là cuộc thảo luận lần nữa về ngôi thứ trong cộng đoàn, như vậy, nó nối kết với ý tưởng của phần đầu chương này. Lời xin của hai anh em Giacôbê và gian đưa đến cuộc chuyện trò này, đồng thời cũng biểu lộ ước muốn chỗ cao nhất: ngồi bên tả bên hữu Chúa trong vinh quang.
Diễn tiến của ước muốn này mang dấu ấn của Máccô. Trước hết, khi hai tông đồ vừa tỏ lộ ước muốn của mình Ðức Giêsu hỏi ngay: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?". Ðức Giêsu thăm dò, tìm hiểu hết mọi khát vọng của ta, đôi khi những ước muốn mà chính ta cũng không hiểu rõ ("Các anh không biết các anh xin gì"). Con đường mà ước muốn phải đi qua để tới đích không gì khác hơn là thập giá, ở đây được diễn tả bằng hai hình ảnh: chén và phép rửa. Cách nói lặp lại nhiều lần (ở đây lặp lại bốn lần) là đặc điểm của Máccô. Ðối với ông, điều không thể tránh được trong cuộc sống Kitô hữu chính là thập giá. Còn vinh quang là một ơn hoàn toàn nhưng không, ta không thể biết trước, chỉ một mình Thiên Chúa biết mà thôi. "Cho những lời mà Thiên Chúa đã chuẩn bị". Ðối với những người xin nhiều, xin cả đến vinh quang Thiên Chúa, thì Máccô đề nghị họ sống theo tấm gương của Con Người, một tấm gương đi ngược lại "cách sống của người đời: đến để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người" (10,45).
" Sống theo gương Ðức Giêsu là đề tài rất phổ biến, nhất là khi cuốn sách "Gương Chúa Giêsu" xuất bản ở thời Trung cổ, trở thành nền tảng cho toàn bộ "luân lý" và chính thánh sử Maccô đãtrình bày cho chúng ta điều đó. Ngài đã nói lên mối hệ gần gũi giữa đời sống của Ðức Giêsu (nhất là cuộc khổ của Người) và đời sống của người Kitô hữu. Mối quan hệ gần gũi đó luôn là ví dụ điển hình cho mọi nỗ lực tìm hiểu cuộc sống người Kitô hữu. Máccô mời gọi ta suy nghĩ lại những thói quen giữ đạo: những hoạt động, bi kịch, và khát vọng của ta dưới ánh sáng của tấn thảm kịch duy nhất của Ðức Giêsu "Bị nộp vào tay người họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau sẽ sống lại" (9,31).
2. Ðối với Ðức Giêsu, chức quyền là để phục vụ
(N.Quesson, "Les entretens du dimanche, Année B, tr. 208-209).
Chức quyền cũng như tiền bạc, tự nó không xấu. Bất cứ nào cũng cần có một người phụ trách. Nhưng theo ý Chúa, phụ trách trước hết không phải một địa vị thống trị, hưởng lợi, hưởng uy thế, mà là một địa vị để phục vụ nhiều hơn. Trong Hội Thánh nói riêng, người cầm quyền là những thừa tác viên trong tiếng Latinh từ này có nghĩa là "đầy tớ" - Bản hy lạp của Tin Mừng Máccô dùng hai từ diakonos = đầy tớ và doulos = nô lệ. Ðiều đáng buồn là ngày nay đôi khi còn có những người tranh giành quyền lực trong Hội Thánh. Ðức Giáo Hoàng cũng tự xưng mình là Tôi tớ các tôi tớ " của Thiên Chúa.
Thật vậy, cần phải đạt tới cách sống như thế. Người lãnh đạo giỏi là người biết làm cho ngtioi dưới cùng chịu trách nhiệm. Giáo sư giỏi là người biết khơi dậy sáng kiến của môn sinh. Chủ doanh nghiệp giỏi là người biết hỏi ý kiến của công nhân và cán bộ của mình. Cha mẹ tốt là người biết nghệ thuật làm triển nở con cái một cách tích cực. Những giáo xứ mạnh là nơi mà các tín hữu biết tham gia cộng tác với mọi tầng lớp và trong mọi việc.
Có lẽ người ta đã quên rằng từ "quyền thế"' trong tiếng Latinh: auctoritas" bởi gốc "augere" = làm cho lớn lên, thêm lên. Ðối với Ðức Giêsu, chính là như vậy: quyền hành là sự phục vụ trong một nhóm, nhằm giúp các thành viên lớn lên, dám tự mình chịu trách nhiệm. Người lãnh đạo chân chính là người biết nghe, hiểu, đánh giá, tôn trọng người khác, chứ không phải là người thống trị, hạ nhục, lợi dụng người khác, và để người khác thụ động vô trách nhiệm".
admin
11-07-2009, 08:48 PM
CNTN30
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN
BÁC TI-MÊ, NGƯỜI MÙ
THÀNH GIÊRICÔ ÐƯỢC CHỮA LÀNH
(Mc 1 0, 46-52).
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI.
1. Từ tình trạng bất động của người bị loại trừ.
Ðức Giêsu đang"trên đường đi lên Giêrusalem, nơi sẽ diễn cuộc khổ nạn của Người, như Người đã báo trước tới ba lần. Lúc này Người đang đi ngang qua Giêricô. Bất cứ ai đi từ miền kia sông Gioan vào Israel đều phải đi qua thành này. Có các môn đệ và "đám đông dân chúng" đi theo Ðức Giêsu. Tinh thần môn đệ vẫn còn mù tối.
Ðúng lúc ra khỏi thành, Người gặp anh mù. A. Paul nhận xét "Diễn tiến của phép lạ chữa lành người mù Giêricô giống với phép lạ chữa lành người mù ở Bétsaiđa (8,22-25). Phép lạ ở Bétsaiđa diễn ra liền trước lúc Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêsarê tiếp liền sau lời tuyên xưng này, là lời loan báo về cuộc khổ nạn (8,27 30). Cũng vậy, tiếp sau phép lạ ở Giêricô là lời ca ngợi Ðấng Cứu Thế khi Ðức Giêsu vào thành Giêrusalem, và sau đó là trình thuật về cuộc khổ nạn (...) Trong viễn tượng thần học này, phép lạ làm cho đôi mắt người mù mở ra có giá trị như một dấu chỉ. " ("Assemblée du neur", số 61, trang 45).
Ðể làm nổi bật ý nghĩa phong phú của phép lạ, thánh sử tường thuật rất rõ ràng sự việc đã xảy ra:
Ông nêu tên người mù là "Bác-ti-mê", nhưng sợ rằng độc giả nói tiếng Hy lạp không hiểu tiếng A-ra-mê, nên ông ghi chú thêm "con của Timê"
Ông diễn tả người này như một người tàn tật, mà tật khiếm thị đã buộc anh phải ăn xin, và vĩnh viễn không đi lại được, bị liệt vào loại người bị loại trừ, anh ngồi ở vệ đường, vệ đường có ý chỉ tình trạng bị loại trừ.
2. Ðến cú đứng phắt dậy khi Ðức Giêsu gọi.
Thật ngược đời: ở giữa đám đông những người sáng mắt rầm rộ đi theo Ðức Giêsu, anh mù là người duy nhất tỏ ra nhìn rõ, anh có thể nhận ra Ðấng đang đi qua là "Con vua Ðavít" Ðấng Mêsia mọi người hằng trông đợi, và anh đã lớn tiếng hô lên.
Người ta nạt nộ bảo anh im đi - vì họ nghĩ rằng để cho anh mù quấy rầy Ðức Giêsu trên đường là điều không nên - nhưng anh càng kêu lớn hơn: "Lạy Con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi!? Cho đến khi Ðức Giêsu dừng lại và bảo người ta: " Gọi anh ta lại đây, thì người ta mới để ý đến người tàn tật khốn khổ đang la lối này. Sứ điệp được chuyền đi ngay lập tức: "Cứ yên tâm, đứng dậy, người gọi anh đấy" Ðức Giêsu giúp anh lột bỏ được tình trạng bất động của người chết.
Tiếng gọi của Chúa có kết quả liền: "người mù liền vất bỏ áo choàng lại (áo choàng mà anh dùng để đựng đồ xin được) đứng phắt dậy mà đến gần Ðức Giêsu". J.Hervieux giải thích. "Những chi tiết này thật là lạ lùng. Mọi sự xảy đến dường như Bác-ti-mê không còn mù nữa. Khi vật bỏ áo choàng, anh cũng vất bỏ luôn tình trạng bị loại trừ (...). Cái áo choàng là vật duy nhất mà người nghèo sở hữu. Vất bỏ nó, Bác-ti-mê đã thực hiện điều mà Ðức Giêsu đã không làm được với chàng giàu có: anh đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Ði theo cách nào? Anh nhảy lên, đứng phắt dậy. Cú nhảy trong đêm tối là cú nhảy đức tin vì một anh vẫn còn mù". ("L'evangile de Marc", Centurion, trang 156).
"Rab-bô-ni", thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được!". Anh mù đáp lại câu hỏi của Chúa, cũng là câu mà Chúa đã hỏi hai người Con ông Giêbêđê: "Anh muốn tôi làm gì cho anh? Ðàng sau khát vọng được nhìn thấy, Ðức Giêsu đã nhận ra nơi anh đức tin khát vọng được biết nhiều hơn về Ðấng Mêsia, được nhìn thấy thực tại tối hậu ẩn sau dáng vẻ bên ngoài. Người ăn xin tàn tật không những được chữa lành, mà còn được "cứu nhờ đức tin. "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh? Từ này, anh nhìn thấy, không chỉ bằng con mắt xác thịt, mà còn bằng ánh mắt đức tin. Ðó là tấm gương cho các môn đệ, đó là tấm gương cho người đã được thánh tẩy, được soi sáng nhờ gặp gỡ Ðức Giêsu Kitô. Anh đi theo Người trên con đường Người đi. Con đường lên Giêrusalem. Con đường dẫn đến thập giá.
J. Hervieux kết luận: "Ở đây, nghệ thuật kể chuyện của Maccô đạt đến đỉnh hoàn thiện. Hai hình ảnh thật trái ngược nhau: hoàn cảnh ban đầu của Bác-ti-mê (ngồi ở vệ đường, mù loà ăn xin) và hoàn cảnh kết thúc (đứng, đi trên đường, nhìn thấy và đem Tin Mừng đi). Không còn nghi ngờ gì, tác giả đặt trình thuật này lúc Ðức Giêsu đi lên Giêrusalem, dẫn theo bạn bè và đám đông tiến về "Ánh sáng" soi rõ hơn thân thế và sứ mạng của Người. Câu chuyện này là một minh hoạ cho thấy nhờ đâu, người ta mới trở nên "người môn đệ đích thực". Người môn đệ cần phải để Thầy mình dẫn đến sự giác ngộ đức tin. Phép lạ chữa người mù ở Bétsaiđa đã thúc đẩy các môn đệ Ðức Giêsu khám phá Người là Ðấng Mêsia. Giờ đây, Ðức Giêsu lại mời gọi họ - những kẻ muốn đi theo Người - hãy mở rộng đôi mắt tâm hồn để đón nhận Ðấng Mêsia đau khổ và khải hoàn trong đức tin, Máccô đã không thể đặt trình thuật này vào lúc nào tốt hơn là lúc Ðức Giêsu vào thành Giêrusalem: người ta có nhận ra Người vì thân thế của Người, và vì những gì Người đã làm không? Ðấng đến cứu loài người theo đuổi hai mục đích: vừa trả lại cho họ quyền lợi trong xã hội họ đang sống, vừa giúp họ hội nhập vào cộng đoàn yêu thương mà người sáng lập. (Sđd, trang 157).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Chúng ta thuộc loại "trung gian" nào đây?
(Mgr.Daìoz, trong "Qui dong est-il?", DDB, trang 66).
Ðây là người mù Bác-ti-mê đang kêu cầu Ðức Giêsu. Anh nói lên khát vọng được chữa lành, nhưng cũng biểu lộ đức tin của anh (" Lạy Con Vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi"? Khi người ta nạt nộ bảo anh phải im đi, thì anh lại càng la to hơn. Bấy giờ Chúa dừng lại và gọi anh. Những người "trung gian" vừa lúc trước mới nạt nộ anh, giờ đây đổi giọng: "Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!". Chỉ cần chúng ta có can đảm la lên, mặc dầu mọi người bảo ta phải im đi. Ðức Giêsu sẽ không giả điếc làm ngơ đâu. Còn chúng ta, chúng ta thuộc loại "trung gian" nào đây? Chúng ta thường không nghe ai, lại còn bắt người ta im đi nữa. Còn Ðức Giêsu, Người nghe, Người luôn để tai nghe. Người nghe tiếng kêu của những người van xin Người dủ lòng thương xót van xin Người cho họ được nhìn thấy, được đứng dậy. Nếu ta nhận biết Chúa quan tâm đến tiếng kêu xin của con người, chắc ta sẽ trở thành những "trung gian" tốt, để nói với họ: "Hãy an tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy".
2. Sáng mắt hay mù?
(F.Deleclos, trong "Prends ét mang la Parole", Centurion-Duculot, trang 176).
"Anh muốn tôi làm gì cho anh?". Cùng một câu hỏi mà Ðức Giêsu đã hỏi Giacôbê và Gioan. Câu hỏi là một, nhưng câu trả lời người mù thì chỉ xin ánh sáng. Các môn đệ muốn áp đặt tham vọng của mình, còn người ăn xin thì chỉ xin được nhìn thấy. Vậy ở đây có hai người mù và một kẻ sáng mắt.
" Với Bác-ti-mê, Ðức Giêsu không nói gì về tật nguyền của anh, không nói đến con mắt mù loà, cũng không nói rằng sẽ chữa lành. Người chỉ nói: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh". Nhờ sự tín nhiệm và đức tin, người bị gạt ra bên lề xã hội đã được nâng lên hàng môn đệ. Một đức tin cứu độ đến nỗi người này bắt đầu nhìn thấy và đi theo Ðúc Giêsu, không chỉ theo trong tinh thần, mà còn bước đi trên đường. Một cuộc tuyển mộ tuyệt hảo.
Ðức Giêsu thường được vây quanh bởi những môn đệ mù. Còn lề đường thì lại đầy những người mù sáng mắt. Nhóm trước bị khép kín trong những bảo đảm vĩnh viễn, bị ràng buộc bởi những tham vọng và vướng mắc nhỏ nhen. Nhóm sau thì có lòng khiêm nhường và tin tưởng, có đức khôn ngoan để biết nghe và còn học hỏi, sẵn sàng đón nhận những bất ngờ của Thánh Linh những từ bỏ có sức giải thoát.
Ðể được chữa lành tật mù loà, cần phải tuyên xưng đức tin, "vất bỏ áo choàng"và đi theo Chúa Kitô mọi nơi Người dẫn đi, và không buộc Chúa phải theo lộ trình do những tham vọng trần tục của ta vẽ ra. Ðường lối của Chúa không giống đường lối của ta".
admin
11-07-2009, 08:49 PM
CNTN33
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN
CHỜ ÐỢI NGÀY CHÚA ÐẾN
(Mc 13,24-32)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1 Từ những hình ảnh Khải huyền
Chương 13 của Tin Mừng Máccô đã được trích đọc vào Chúa nhật 1 Mùa Vọng để khai mạc năm phụng vụ B, mà cũng được trích đọc hôm nay để kết thúc năm phụng vụ này.
Vào lúc Ðức Giêsu ra khỏi đền thờ để rồi không bao giờ trở lại đây nữa, một trong số các môn đệ của Ngài mong muốn Thầy chia sẻ lòng thán phục của mình: "Này Thầy nhìn kia, những phiến đá rực rỡ biết bao, toà kiến trúc lộ ng lẫy chừng nào! " Ngôi đền thờ thật ra có những gì đáng thán phục. J.Potin giải thích: "Ðền thờ do Hêrôđê xây lên đã là một trong những công trình đẹp nhất thế giới. Ngay cả đền Roma cũng không có được ngôi đền thờ tôn giáo nào hùng vĩ như vậy. Tính bạo tàn của người xây lên nó cũng giảm bớt hung hãn trước vẻ tráng lệ của nó; nó còn vượt xa đền thờ vinh hiển của vua Salomon. Nền móng vững chắc của nó bảo đảm nó có thể đứng vững nhiều thế kỷ, vẻ sáng ngời của cẩm thạch và vàng bạc trang trí ngời lên đức tin độc thần lan đi khắp cả hành tinh " ("Jésus, lhistoire vraie", Centurion, trang 396).
Câu trả lời của Ðức Giêsu làm người môn đệ cụt hứng: 'Sẽ không còn phiến đá nào chồng trên phiến đá nào " (13,1- 2) Nào đền thờ không biểu trưng cho Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người đấy ư? Phải chăng lời loan báo về đền thờ sẽ bị tiêu huỷ là mào đầu cho một thiên tai to lớn hơn: đó là ngày tận cùng cả thế giới hoặc ngày tận cùng của một dân tộc?
Vì vậy, ngay khi Ðức Giêsu vừa ngôi ở sườn núi Cây Dầu: là từ đây người ta có một cái nhìn toàn cảnh cả thành thánh và đền thờ, thì Phêrô, Giacôbê, Gioan, Anrê, những môn đệ được Chúa gọi đầu tiên, xin Chúa trả lời những câu hỏi đầy lo lắng của họ: "Xin Thầy nói cho biết khi nào các sự việc ấy xây ra và khi tất cả sắp đến hồi chung cục, thì có điềm gì báo trước? " (13, 3).
Lời thỉnh cầu của bốn môn đệ này là cơ hội để Ðức Giêsu nói lên diễn từ dài nhất trong Tin Mừng thánh Máccô: trong diễn từ đó, cái nhìn hướng về sự tiêu huỷ của đền thờ pha trộn với cái nhìn hướng về ngày thế mạt. Lối văn dùng nhiều kiểu nói của những sách Khải huyền, mang niềm hy vọng đến cho những người sống trong cơn khủng hoảng trầm trọng. những hình tượng mầu mè, tuy hoàn toàn truyền thống, không chủ ý gieo rắc nỗi lo sợ kinh hoàng, nhưng muốn làm nổi bật cuộc xáo trộn do sự can thiệp của Thiên Chúa gây nên. J.Hervieux trong cuốn "L Evangile de Marc', (Centurion, tr. 192) cảnh báo rằng: "Người đọc mà hiểu theo mặt chữ thì cách hiểu của họ và của người Do thái thế kỷ I xa nhau hàng trăm dặm". Mặt trời ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các vì sao từ trời rơi xuống, các quyền lực trên trời bị lay chuyển... chỉ là loan báo cuộc hiển thắng cuối cùng của Chúa vào ngày tận cùng của lịch sử.
2. Ðến Tin Mừng mà những hình ảnh ấy loan báo.
Trong bối cảnh một vũ trụ được đổi mới tận căn này, Ðức Giêsu đã loan báo Tin Mừng về Vương quốc công chính và hoà bình của Người được biểu lộ vào lúc tận cùng thời gian. Người tự đồng hoá với Con Người của sách ngôn sứ Ðaniel (Bài đọc 1 Chúa nhật tới), Ðấng ngự trong đám mây mà đến, sẽ sai các thiên sứ đi tập họp những kẻ được Người tuyển chọn - tức là những người đã luôn trung thành qua các cuộc thử thách - từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Ngày Chúa trở lại sẽ là ngày tuyệt vời, ngày mà tình thương và sự sống chiến thắng quyền lực sự ác và sự chết.
J.Hervieux gợi ý: "Các môn đệ nêu lên câu hỏi về sự cố huỷ diệt đền thờ: bao giờ việc ấy xảy ra? Câu đáp của Chúa đưa các ông vượt qua kiên cố đó một quãng xa. Không nên chỉ nhìn Ðền thờ như một địa điểm tụ họp. Nó sẽ điêu tàn và cả những gì thuộc về nó cũng vậy. Cần phải ngước mắt nhìn lên Ðấng, còn cao hơn Ðền thờ, sẽ là Ðấng tập họp toàn thể nhân loại đã được giải thoát khỏi Thần ác. Ðó là Ðức Kitô hiển vinh, Ðấng Phục sinh" (Sđd, trang 1 95). Thật là đầy ý nghĩa, Máccô trước khi bước sang chương 14 tường thuật cuộc khổ nạn của Ðức Giêsu, đã muốn "vén bức màn" (đó là nghĩa của từ Apocalypse = mạc khải), để hé mở cho ta nhìn thấy ánh sáng chói ngời của ngày người trở lại trong vinh quang, ngày khiến lịch sự cuộc đời ta có ý nghĩa.
3. Và đến thái độ mà những hình ảnh ấy khơi dậy: tỉnh thức
Cây vả loại cây có trái trễ, rất quen thuộc đối với các thính giả, cung cấp cho Ðức Giêsu tư liệu của một dụ ngôn minh hoạ cho sứ điệp của Người. Nó rụng hết lá vào mùa đông, và khi bước sang mùa xuân ngắn ngủi của vùng Palestin, thấy xuất hiện chồi non và rồi đến lá non, báo hiệu mùa hạ, mà trong mùa đó trái vả ngọt ngào sẽ chín mùi. vâng, cũng như bất cứ người nông dân biết quan sát nào cũng có khả năng đoán biết mùa hạ sẽ đến sớm hay đến trễ, thì các môn đệ Chúa cũng phải học cách đọc các dấu chỉ thời đại để nhận ra ở giữa lòng lịch sử thời đại mình có "Ðấng đã đến gần", có "Ðấng đang đứng ở cửa"? Ðó là Con Người. Ðức Giêsu còn nói tiếp: "Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra"? Một câu nói gây nhiều rắc rối cho các nhà chú giải Kinh Thánh, và họ cắt nghĩa mỗi người một cách.
Ta chỉ nên lưu ý rằng kiểu nói này khá mơ hồ và khái quát, không chỉ ám chỉ những độc giả của Máccô (là những Kitô hữu đang phải đương đầu với những xáo trộn và với cuộc bách hại), nhưng còn chỉ bất cứ thế hệ tiếp theo nào của lịch sự: như thế hệ chúng ta ngày nay, thế hệ sắp bước sang thiên niên kỷ thứ ba.
Ðức Giêsu kết luận: "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được ngay cả Con Người cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi".
Sự không biết của Chúa Con này có thể khiến ta kinh ngạc sao, nó nhấn mạnh đặc biệt nhân tình của Ðức Giêsu. Và Maccô cho rằng đó là thêm một lý do để chấm dứt những suy nghĩ và tò mò có hại về ngày giờ xảy ra tận thế vì đó là bí nhiệm tuyệt đối của Chúa Cha, và là lý do để kêu gọi mọi tín hữu sống giây phút hiện tại trong tinh thần chờ đợi Ðấng sẽ đến.
II. BÀI ÐỌC THÊM
1. Ơn gọi của người môn-đệ cho đến ngày tận thế là làm người canh thức cho thế giới
(Mgr. L. Daloz, " Vậy Ngài là ai?', DDB, trang 83-84).
Chương này dựng cảnh trí cho Ðức Giêsu nói đến bi kịch thế giới sẽ diễn ra: viễn ảnh của ngày tận thế. Sự chết và sống lại của Ðức Giêsu làm cho lịch sử nhân loại có ý nghĩa. Tại núi Cây Dầu, đối diện với Ðền thờ, Ðức Giêsu tâm sự với bốn môn-đệ mà Người kêu gọi trước hết là "Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê ". Qua các ông, Người mặc khải cho chúng ta ý nghĩa của thời kỳ ta đang sống: đó là thời kỳ chờ đợi, người môn đệ phải là người canh thức, ngóng chở chủ trở về. Ðó là thời kỳ đầy mơ hồ cần sự phân định, và chúng ta được mời gọi phải canh phòng cẩn thận đừng để bị phỉnh gạt chạy theo những Ðấng Mêsia giả hiệu. Ðó là thời kỳ phấn đấu và chịu bách hại, thời kỳ chuyển bụng của một thế giới đang đau đớn trước khi sinh con. Ðó là thời kỳ được ban cho các nhân chứng để rao giảng Tin Mừng cho mọi dân mọi nước. Ðó là thời kỳ của Thần Khí. Ðấng hướng dẫn miệng lưỡi các vị tử đạo Sự' chết và sự sống lại của Ðức Giêsu phá vỡ cái vòng luẩn quẩn của những biến cố xoay ván bất tấn. Xuyên qua ngay cả những bất an và những cùng khổ, từ nay lịch sử quy hướng về Con Người đang đến. Ngay khi mọi chỗ nương tựa chắc chắn hữu hình và cả đến "trời và đất" đều sụp đổ, Người để lại cho các môn đệ Người một chỗ nương tựa vững chắc, đó là những lời người không thể qua đi. Họ có bổn phận phải kiên trì quan sát những cành cây vả, để nhận ra và loan báo rằng, cây sắp đâm chồi nẩy lộc, và sau mùa đông rét buốt thì mùa hạ đang đến gần. Họ có bổn phận phát lắng tai để nghe hồi chuông báo hiếu giờ quyết định, mà không ai ngoài Chúa Cha được biết, và phải mở to đôi mắt để chiêm ngắm ngày mới, toả ánh vinh quang của Con Người. Từ nay ơn gọi của người môn đệ cho đến ngày tận cùng thời gian là làm người canh thức cho thế giới... "lạy Ðức Giêsu, xin hãy đến!"
2. Hôm nay, hãy đón nhận sự sống mới Thiên Chúa ban và hãy thay đổi cuộc đời.
(H.Vulliez, trong "diệu si proche - Année B." DDB trang 176-177).
Sự sống mới sẽ bừng lên vào ngày Chúa đến, việc ta phải làm là thánh hoá mọi điều mới mẻ do Thiên Chúa để cho xảy ra hằng ngày. Sự sống bí ẩn, không thể sờ mó, không thể nắm bắt, vọt lên từ thẳm sâu con người, là điều mới mẻ vĩnh. hằng. Con Người (đó là danh xưng mà Ðức Giêsu thường dùng để chỉ chính mình) đang ở gần bên. Người ở ngay ngoài cửa, cửa của lương tâm bạn. Người là sự mới mẻ của đời sống; Người là cuộc sống Phục sinh. Mỗi người cần phải mở tâm hồn để đón nhận sự mới mẻ của Thiên Chúa và sống khác đi. Ðừng trì hoãn nữa! Ðừng để lỡ cuộc hẹn này. Nếu không, bạn sẽ liều mình lỡ cuộc hẹn chót đấy. Bạn hãy nghe Chúa dạy bảo. Bạn thấy chưa? Cây vả mà đã tưởng rằng chết queo, vậy mà giờ đây cành của nó trở nên niềm mại và nẩy lộc, loan báo mùa hạ tươi sáng ấm áp.
Ít ngày trước cuộc trò chuyện về ngày tận thế này, một môn đệ đã mời Ðức Giêsu chiêm ngưỡng đền thờ: "Thầy nhìn kìa những phiến đá đẹp đẽ biết bao! Công trình kiến trúc huy hoàng lẫy chừng nào!". Và không sợ làm cụt hứng những bạn thân cũng là những tông đồ trung thành nhất của mình, Ðức Giêsu đã trả lời: " Tất cả đều sẽ bị phá huỷ. Sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào". Còn với bọn biệt phái chuyên tìm cớ gây tranh cãi thì Người thách thức họ: "Các ông cứ phả huỷ đền thờ này đi. Và các ông sẽ thấy, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại". Lời nói khó hiểu, ngay cả đối với những bạn bè thân nhất của Ðức Giêsu. Thánh sử Gioan cố gắng soi sáng cho các độc giả đã viết: "Người nói về chính mình Người'? Và chúng ta có thể nói thêm: "Người nói về cuộc sống lại của Người".
Như vậy, Chúa bảo không nên tin tưởng vào những phiến đá quý hoặc vào đền đài nguy nga, nhưng vào sự sống. Thánh Phaolô đã viết cho giáo đoàn Côrintô: "Thế giới cũ đã qua-đi, và một thế giới mới đã sinh ra"? Thế giới cũ qua đi và thế giới mới ra mọi giây phút, mỗi khi có thêm tình thương, tình liên đới và công bình. Chính những cái đó là những phiến đá sống vậy".
3. Vẻ bình tĩnh đến khó hiểu.ngay ngưỡng cửa cuộc khổ nạn
(N.Quesson, "Les entretiens du Dimanche, Année B", Droguet & Ardant tr. 223-224).
Vâng, chỉ ít ngày trước khi chịu chết, trong bài giảng cuối cùng - "bài giảng cánh chung", nghĩa là "bài giảng về thời tận thế" Ðức Giêsu giử một vẻ bình tĩnh lạ kỳ, vẻ lạc quan khó có thể tưởng tượng. Trong khi nói lên nhận định buồn thảm về sự chuyển biến của lịch sử, và về số phận của chính bản thân, là cuộc sống bị đứt đoạn vào tuổi thanh xuân lúc 30 tuổi đời, Ðức Giêsu tuyên bố: "Khi anh em xem thấy những tai ương đó xảy ra... thì anh em hãy biết rằng "mùa hạ " đã đến gần. Mùa hạ là mùa đẹp trời được báo hiệu khi cây vả đám chồi và nẩy lộc non vào mùa xuân" (Mc 13,28).
Không nhìn những tai ương trong vũ trụ và lịch sử như những điềm báo rằng vũ trụ này bị huỷ diệt hoàn toàn, Ðức Giêsu lại coi nó như điềm báo một niềm hy vọng vĩ đại: "Anh em hãy biết rằng Con Người đã đến gần, đang ờ ngay ngoài cửa nhà anh em". Ðang khi tất cả xem ra như sụp đổ chung quanh Người, khi mà cái chết đã gần kề, Ðức Giêsu quả quyết rằng "Mùa hạ, đang đến. Ðó là đoạn kết chung cục của lịch sử: "Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Ngài sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời '? Lời tuyên bố quá ngạo mạn, nếu người ta chỉ nhìn Ðức Giêsu như một người ở Nagdarét. Nhưng không, con người nghèo khổ yếu đuối này, biết mình sẽ chịu chết ít ngày nữa đây, không thể tóm gọn vào trong chiều kích khố khổ phàm trần: Người nhìn xa, Người nhìn rộng, xem như bỗng chốc Người chiếm địa vị Thiên Chúa... Người coi mình như vị thẩm phán chung cục của mọi thời đại, nói theo sách ngôn sứ Ðaniel (7,13-14). Người loan báo kế hoạch toàn cầu của Thiên Chúa thành công: những người được tuyển chọn, những người được Thiên Chúa yêu thương sẽ tập họp để hưởng hạnh phúc toàn vẹn và bền vững. "Trời đất sẽ qua đi nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu". Ðúng là một cá tính vượt trên người phàm. Tính lạc quan bất khuất.
admin
11-07-2009, 08:49 PM
ÐKVVT
ÐỨC KITÔ VUA VŨ TRỤ
VƯƠNG QUYỀN CỦA ÐỨC KITÔ
(Ga 18, 33-37)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1. Ðức Giêsu Vua, nhưng khác với vua trần thế.
Ta đang tham dự vụ án xử Ðức Giêsu trước toàn án Rôma, Giêrusalem trong dinh tổng trấn Philatô ông làm tổng trấn xứ
Giuđê từ năm 26 đến 36.
Ngay lúc đầu cuộc thẩm vấn do Philatô đứng xét hỏi, phía nghịch đã nêu lên cáo trạng chống lại Ðức Giêsu, tìm cách chuyển vụ án sang lãnh vực chính trị để đạt được mục đích của là lên án tử hình cho Ðức Giêsu. Vậy quan tổng trấn hỏi: "Ông có phải là vua dân Do Thái không?".
X Léon - DufQur giải thích: "Cần lưu ý rằng, dưới thời đế quốc Roma cai trị, dân Do Thái thường xen lẫn ý nghĩ chờ đợi Ðấng Mêsia với lòng mong mỏi độc lập cho quốc gia, do Ðấng Mêsia thiết lập (Cv 1,6) và khởi đầu một thời đại mới. Trong Tin Mừng thứ bốn, ta thấy hai giai thoại phản ánh bầu khí này. Ðó là sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, đám đông dân chúng Galilê đã muốn lấy "vị Ngôn sứ" để tôn lên làm vua; bấy giờ Ðức Giêsu phải lên núi mới thoát khôi (Ga 6,14-15). rồi sau khi Chúa cải tử hoàn sinh cho Ladarô, niềm phán khởi của quần chúng đối với Giêsu biểu lộ bằng việc từng đoàn lũ cầm cành vạn tuế, biểu hiệu của thắng trận, đi đón rước Chúa váo thành Giêrusalem, tung hô Ngài là "Vua Israel", vì họ coi Ngài như vị cứu tinh giải phóng quốc gia. Bấy giờ Chúa đã tỏ rõ sự bát đồng tình của Người và tố giác sự ngộ nhận của cuộc đón rước bằng cách chọn một con lừa nhỏ để cỡi." ("Lecture de l'evangile selon Jean", tập IV, Seuil. 1996, tr. 82). Một lần nữa Ðức Giêsu gạt phăng mọi hiểu lầm.
Trước hết, Chúa dùng một câu hỏi, truy tìm nguồn gốc của lời tố cáo này: "Ngài tự ý nói điều đó, hay những người khác đã nói với Ngài về tôi?". Philatô nhìn nhận đó là cuộc tranh luận nội bộ của người Do Thái, nên trả lời: "Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?".
- Sau đó, Chúa đã dùng câu trả lời phủ quyết. Nếu Ngài là vua, thì không theo kiểu cách của trần gian này, không theo kiểu cách các vua Amônê, là những người trị vì Israel trước khi đế quốc Rôma xâm chiếm. Nếu Ngài là vua, thì Ngài không phải là địch thủ của Xêda, và vương quyền của Ngài không có màu sắc chính trị; nó không thuộc thế trần: "Nước tôi không thuộc về thế gian này".
A.Marchadour quảng giải: "Nước Chúa vừa không phải như dân Do Thái trông đợi, cũng không như Philatô hình dung, cũng không như nước của loại người thống trị nhờ sức mạnh quân đội và nhờ cuộc chinh chiến mở rộng biên cương. Nước của Người đến từ nơi khác, đến từ "xứ sở" nơi Ðức Giêsu "sinh ra", và từ đó Người "đã đến thế gian", vì Người đã hiện hữu từ muôn thuở. Nước ấy được thiết lập không nhờ sức mạnh, nhưng nhờ trình bày lời mặc khải. Những ai đến nhận Lời thì trở nên công dân của Vương quốc, không chỉ ở cuối đời, mà ngay lúc này" ("L'evangile de Jean", Centurion, trang 227).
2. Ðức Giêsu là vua, nhưng để làm chứng cho chân lý.
Bởi vì Philatô gạn hỏi: "Vậy ông là vua ư?", Ðức Giêsu phá tan mọi hiểu lầm bằng một câu xác quyết long trọng. Sứ mạng của Người nơi trần gian là "làm chứng cho chân lý" (từ "làrn chứng" trong tiếng Hy lạp là "martyr": tử đạo). Chân lý này chính điều đã được nói đến trong chương Nhập đề của Tin Mừng thứ bốn ("Người Con duy nhất đầy ân sủng và chân lý"): Chân lý về Thiên Chúa, Chân lý cho biết Thiên Chúa là ai: Thiên Chúa là tình thương, Thiên Chúa cứu độ, mà Ðức Giêsu là Người mạc khải, Người đã đến trần gian để đề nghị cho con người ơn thông hiệp vào đời sống thần linh. Người làm chứng bằng hành động, đến mức đổ máu để đóng ấn cho việc làm chứng. Ðức Giêsu không chỉ đến cứu dân tuyển chọn mà thôi, nhưng để cứu "bất cứ ai thuộc về chân lý".
Sứ mạng của Người, và có thể nói vương quốc của Người, đang thuộc về thế gian này, nhưng nó hoạt động ở thế gian này, trên thế giới này: nó mặc khải cho bất cứ người nào Chân lý về Thiên Chúa. Người làm việc đó ở đâu, bao giờ? Khi mà Người được nâng lên khỏi đất, được ngự trên toà thập giá. Mọi người rồi phải tỏ rõ lập trường: " Hễ ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi" Nếu Ðức Giêsu thi hành quyền bính, thì chỉ bằng cách từ trên trời cao,thập giá Người lôi kéo người ta đến bằng đức tin và lòng yêu mến. Người không cai trị, nhưng chỉ mời gọi người ta tự nguyện đi theo người. Ta không thể lẩn trốn như Philatô, bằng cách đặt câu hỏi: Chân lý là gì?" ("Célébrer" tạp chí của Trung tâm phụng vụ toàn quốc, số 243, trang 42).
II. BÀI ÐỌC THÊM.
1. Ðức Giêsu, một vị vua đảo ngược mọi điều người ta suy diễn.
(x Léon-dufour, trong "Lecture de l'evangile selon St Jean", cuốn 4, Seuil, trang 21).
Phụng vụ tung hô Ðức Kitô là "Vua Vũ Trụ", một danh xưng xứng hợp, đoạn văn của Gioan là "một cuộc hiển linh của vi vua" Nhưng Ðức Giêsu là vua theo nghĩa nào, đó là điều mà Gioan đã minh định bằng nhiều cách. Vị vua của dân Do Thái đến theo truyền thống của vua Mêsia mà Giao ước thứ nhất đã trông đợi, nhưng đã chu toàn việc chờ đợi này trên một bình diện khác. Suốt cuộc đời công khai của Người, vương quốc mà Ðức Giêsu loan báo, thì thuộc về một trật tự khác. Lúc này, đối diện với quan tổng trấn Rôma, Ðức Giêsu cả quyết rằng vương quốc của Người không đến từ thế gian, và nó chủ yếu là để làm chứng cho chân lý. Vị vua là "người"vừa bị đánh đòn, bị khoác áo đỏ và đội vòng gai làm triều thiên. Vị vua bị trưng bày như vua hề này ngày nay có còn cho phép người ta khoác lên vai tấm vải lừa dối, ảo tưởng nữa không? Vị vua này bị treo lên thập giá, bị mọi người ruồng rẫy. Vương quốc của Người được tước bỏ mọi giới hạn địa lý hoặc dân tộc: bởi vì "chân lý" mà Người công bố, liên quan đến mọi người. Gioan đồng quan điểm với Matthêu, tác giả trong dụ ngôn về cuộc phán xét cuối cùng chỉ rõ, người ta có thể gặp vị vua " ấy ở đâu: Vua vinh quang phán: "Ðiều gì anh em làm cho một người nhỏ nhất trong các người thân của Ta đây, là anh em đã làm cho chính Ta" (Mt 25,40): để có thể tìm thấy "vua", tôi cần phải tìm nơi người nghèo mà tôi gặp. Giêsu, người Nagiarét, vua dân Do Thái: bản án treo trên đầu thập giá mang tầm vóc toàn cầu. Trong câu 4,22 Ðức Giêsu đã cả quyết với người phụ nữ Samari rằng, ơn cứu độ đến từ dân Do Thái. Trưng bày danh hiệu "vua dân Do Thái" phản ánh theo cách thế của Chúa sự tin tưởng của Người. Như vậy là đã công bố cho toàn cầu rằng lời hứa về "vị vua" đã được thực hiện: nó thành hiện thực nơi Ðức Giêsu, người Nagiarét: ở nơi Người, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với loài người đã được đóng ấn.
2. Ðức Giêsu, phản vua (L'antiroi)
(F.Declelos, "Prends ét mang la Parole", Centurionduculot, tr. 81).
" Nước tôi không thuộc về thế gian này", Ðức Giêsu còn nhắc lại cho những người lính binh thánh giá và những. kẻ ham hố của mọi thời đại. Nước tôi không thiết lập do việc trưng cầu dân ý, cũng không do đi chinh phục. Nó không theo lề thói trần thế cũng không tuân theo luật lệ thế gian. Nó không tuân theo bắt cứ tiêu chuẩn tự phụ nào. Nó chỉ tuân theo chân lý, nó luôn là nó.
Philatô đã không hiểu gì. Những thượng tế cũng vậy, còn các môn đệ, những người đã tranh cãi để chiếm địa vị cao vì mơ tưởng ngày vinh quang, thì cũng không hiểu bao nhiêu.
Ngày nay cũng vậy, chúng ta còn cảm thấy khó hiểu được thái độ của Ðức Giêsu, và còn thấy khó hơn để chấp nhận. Ðức Kitô một phản vua, giống như người ta nói về phản-anh-hùng (antithéros) hoặc phản-siêu-sao (antivedettes). Người rất gần gũi, đơn giản và thân thiện.
Lòng tôn kính đối với Người không phải là tôn kính bằng sự vật và lời nói, cũng không chỉ là những định ước lễ nghi. Nó phải là tự trái tim. Quyền lực của Người là quyền lực của tình thương là sức mạnh là sức mạnh của tha thứ. Chinh phục của Người là mời gọi, và các môn đệ trung thành nhất của Người là những ai làm chứng cho chân lý... giống như Người.
Thành công của Người, cũng như những thành công của các bạn hữu Người, thường mang bộ mặt thất bại thảm thương. thập giá và máu, bạo hành và gông cùm. Tin Mừng bị nghi ngờ, phúc thật bị từ khước, canh tân và sám hối bị chê bỏ. Ðức Kitô, là đầu của thân thể, không phải là cái đầu đột mão triều thiên, và Hội Thánh là thân thể của Người cũng không thoát khỏi bị bầm dập và chê cười. Cái thân thể này, nếu muốn là thân thể, chỉ cần làm một dấu lạ, như một mặt nạ gây phá sản che giấu sự trống rỗng và mời gọi người ta tôn thờ vẻ bề ngoài - chân lý bị lừa gạt.
Vương quyền của Ðức Kitô nẩy mầm ở trong tâm trí và trong tâm hồn. Những cột cái nâng đỡ vương quốc là những người lính vô danh, những người trộm cướp bị treo thập giá, và những đại đội trưởng ngoại giáo. Cuộc sắc phong diễn ra tại Gôn-gô-tha.
3. Ðức Giêsu, vau của tự do
(G.Bessière, trong "diệu si proche- Année B", DDB, trang 181).
Lạy Ðức Giêsu, Chúa đã truyền cho con: hãy đứng dậy và bước đi,
ngày Sabát được lập nên vì con người.
Chớ không phải con người vì ngày Sabát,
ngọn đèn của thân xác con là con mắt.
Chúa đã dạy con đừng kêu ai là "Thầy",
và dạy con thì thầm với Thiên Chúa là:
"Lạy Cha chúng con"
Chúa đã nói với con về kho báu, về viên ngọc quí
về thập giá
về sự chết và Phục sinh
Bởi vậy con đã quyết tâm chọn Chúa
làm Vua duy nhất!
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.