Giáo phận Bà Rịa
Vài nét về giáo phận mới Bà Rịa chia ra từ giáo phận Xuân Lộc
VietCatholic News (23/11/2005) VŨNG TẦU -- Vào tuần đầu tháng 9 năm 2005, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã họp Khoá Họp thường niên tại Trung Tâm Đức Mẹ Bãi Dâu, Vũng Tầu. Khoá họp sẽ kết thức vào ngày 10/9/2005. Trong khoá họp này Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chính thức đồng ý thành lập một giáo phận mới tại Việt Nam có tên là Bà Rịa. Giáo phận này được chia đôi từ giáo phận Xuân Lộc, và sẽ do Đức Cha Nguyễn văn Trâm làm giám mục tiên khởi. Giáo phận mới có trung tâm Hành Hương Đức Mẹ Bãi Dâu rất nổi tiếng và Tượng Đài Chúa Giêsu làm Vua trên Núi Vũng Tầu nhìn ra biển.
| |
| Đức Cha Tôma Nguyễn văn Trâm |
Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm sinh ngày 09-01-1942 tại Phước Tuy, Bà Rịa, trong một gia đình lễ giáo.
Sau khi theo học tại Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, ngài được thụ phong linh mục ngày 01-05-1969 tại Nhà Thờ Phước Lễ (Bàrịa), và được bổ nhiệm làm cha phó xứ Biên Hoà.
Một năm sau đó, ngài được gởi đi du học tại Rôma.
Năm 1974 ngài tốt nghiệp tại Đại học Giáo Hoàng Urbaniana của Bộ Truyền Giáo với học vị Tiến sĩ Giáo Luật.
Trở về Việt Nam, ngài được Đức Cố Giám Mục Đaminh Nguyễn văn Lãng chọn làm Bí thư và được bổ nhiệm làm Cha Sở Giáo xứ Thánh Mẫu (nay là Giáo xứ Xuân Khánh), cạnh Toà Giám Mục, đồng thời kiêm các chức vụ Chánh án Toà án Hôn Phối và Quản lý Giáo phận. Ngài cũng là Giáo sư môn Giáo luật tại Đại chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn.
Ngày 06/03/1992, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc và ngày 07-05-1992, Đức Cha Phaolô-Maria tấn phong giám mục cho ngài tại khuôn viên Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô. Khẩu hiệu giám mục: " Hiền lành và Khiêm nhường".
Tìm hiểu qua về Giáo phận Xuân Lộc với quá trình hình thành Ðịa Dư: Khi mới thành lập (1965), Giáo Phận Xuân Lộc bao gồm 3 tỉnh: Long Khánh-Biên Hoà-Phước Tuy. Toà Giám Mục đặt tại Xuân Lộc, tỉnh lỵ Long Khánh. Ngày 01-08-1976, hành chánh được phân phối lại. Toàn giáo phận nằm trong tỉnh mới là Đồng Nai, trừ 3 giáo xứ: An Bình 1, Đông Hoa, Nghĩa Sơn, thuộc tỉnh Sông Bé (Bình Dương). Năm1979, Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai, được tách thành một đơn vị hành chánh biệt lập trực thuộc trung ương, mang tên Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo. Như thế, giáo phận Xuân lộc gồm: Tỉnh Đồng Nai, - Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo và - một phần huyện Thuân An, tỉnh Sông Bé. Năm1992, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được thành lập gồm: Đặc Khu Vũng Tàu Côn Đảo và một số huyện vùng duyên haỉ của tỉnh Đồng nai.
1. VỊ TRÍ
* Giáo phận Xuân Lộc có hình ngũ giác không đều cạnh
* Đông giáp giáo phận Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận).
* Đông Bắc giáp giáo phận Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng).
* Tây Bắc giáp giáo phận Phú Cường (tỉnh Bình Dương).
* Tây Nam giáp giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.
* Nam giáp với Biển Đông.
Tổng diện tích là 8.414 Km2.
Bao gồm trọn vẹn 2 tỉnh: Đồng Nai: 5.886,4 Km2; Bà Riạ Vũng Tàu: 2. 012,65 Km2; và một phần tỉnh Bình Dương: 529,95 Km2.
2. ĐẤT ĐAI VÀ KHÍ HẬU.
a. Đồng Nai: có 23,3% là đất đỏ Bazan (phe-ra-lit). 10% là đất ma-ga-lit. 12,3% là đất pheralit trên phiến sa thạch; phù hợp cho các loại cây công nghiệp và lương thực. Ngoài ra còn có nhiều loại đất khác như: phù sa cổ, đất cát vàng, có độ chịu lực cao, thích hợp cho việc xây dựng các khu công nghiệp. Nhiều đồi núi nhưng không cao lắm. Cao nhất la núi Chứa Chan (dân địa phương gọi là núi Giá Ray) cao 839m. núi Cam Tiên 441m, núi Bé Bạc 319m, núi Đồng Bác 236m, núi Bửu Long, núi Thuỳ Vân…Sông ngòi cũng khá nhiều như sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Đồng Tranh, sông Xoài. Sông Đồng Nai dài 460 Km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 290 Km
Khí hậu của Đồng Nai thuộc miền nhiệt đới nóng ẩm đươc chia ra làm hai mùa khá rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 4. Nắng đủ, mưa nhiều, ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800-2000 mm.
b. Bà Rịa Vũng Tàu: Phần lớn là đất cát: có thể cấy lúa, trồng cây và hoa màu. Có nhiều đồi núi thấp. Nuí Hòn Sụp cao 250m. Núi Lớn cao 249m, núi Vũng Mây 240m, núi Nhỏ (còn gọi là núi Tao Phùng) cao 179m, núi Dung 125m, núi Le 265m, núi Mía 186m, núi Thị Vải 466m, núi Chóp Mao 338m, núi Hồ Linh 164m. Có nhiều đồi cát nhỏ chạy vòng theo bờ biển. Nhiều rạch như: rạch Bà 7,9 Km, rạch Cây Khế 6 Km, rạch Bến Đinh 5,5 Km, rạch Ông Nhu, rạch Sông Cái… con sông chính là sông Đinh dài 11Km. Ngoài ra còn có các sông khác như: sông Cỏ Chi, sông Ray, sông Tầu Bé, sông Cá, suối Lồ Ô…
Bà Riạ Vũng Tàu có bờ biển trải dài thích hợp cho ngư nghiệp và ngành du lịch Khí hậu thuộc miền khí hậu gió mùa. Hai mùa chính gió mùa Đông Bắc: từ tháng 11 đến tháng 3, là mùa khô nắng. Mùa gió Tây Nam: từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa mưa. Giữa hai thời kỳ gió mùa này là hai thời kỳ chuyển tiếp: gió yếu và ngoài khơi có sóng nhỏ vào khoảng tháng 4 và tháng 10.
1. Trong bối cảnh Giáo Hội Việt Nam
Sau hơn một thế kỷ (1533-1659), hạt giống Tin Mừng được các nhà truyền giáo Dòng Đaminh Bồ đào Nha và Dòng Tên gieo vải trên quê hương đất Việt, Đức Thánh Cha Alexandrô VII đã công bố Sắc lệnh Super Cathedram Principis đề ngày 9/9/1959 thành lập hai giáo phận tông toà đầu tiên là Giáo phận Đàng Ngoài (Bắc Hà) vơí khoảng 80.000 tín hữu và bổ nhiệm Tân Giám mục Francois Pallu làm đại diện tông toà và Giáo phận Đàng Trong (Nam Hà) vơí khoảng 20.000 giáo dân được trao cho Tân Giám mục Đại diện tông toà Pierre Lambert de la Motte cai quản.
Hai mươi năm sau (1679), Giáo phận Đàng Ngoài được chia làm hai thành Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hànôị) và Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng). Và mãi gần 200 năm sau (1844), Toà Thánh mới chia Giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận: Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) giao cho Đức Cha Cuenot Thể đảm trách và Tây Đàng Trong (Sàigòn) được trao cho Đức Cha Miche Mịch cai quản. Lúc bấy giờ Giáo phận Sàigòn gồm Nam Kỳ Lục tỉnh, xứ Cao Miên và các tỉnh phía nam Lào. Năm 1850, Toà Thánh thành lập giáo phận mới là Nam Vang, tách ra từ Giáo phận Tây Đàng Trong (Sàigòn), và trao cho Đức Cha Mich Mịch.
Năm 1924, khi tên các giáo phận không còn gọi theo miền hay xứ nhưng theo tên hành chính, nơi vị Giám mục có cư sở, thì lúc bấy giờ Giáo phận Tây Đàng Trong mới chính thức đựợc gọi là Giáo phận Sàigòn. Năm 1954, hiệp định Genève phân chia hai miền Nam-Bắc dựa theo vĩ tuyến 17 và gần 800.000 người công giáo di cư từ Bắc vào Nam. Phần rất đông đã tập họp về vùng đất mầu mỡ của Đồng Nai và Bàrịa-Vũng Tàu tạo nên các xứ đạo toàn tòng công giáo như các khu vực Hố nai, Tam Hiệp, Gia Kiệm, Phương Lâm, Bình Giả, Long Hương, Bàrịa, Vũng Tàu. Số giáo dân tăng từ 8000 đến 160.000 người.
Ngày 24/11/1960 là điểm mốc quan trọng nhất của lịch sử Giáo hội Việt Nam khẳng định sự tiến triển và trưởng thành của Giáo Hội công giáo Việt Nam: Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam phân chia thành ba giáo tỉnh: Hànội, Huế và Sài gòn; đồng thời phia chia Giáo phận Sàigòn thành ba: Sàigòn, ĐàLạt và Mỹ Tho.
Và ngày 14/10/1965, Đức Phaolô VI đã thành lập hai giáo phận mới tách ra từ Giáo phận Sàigòn; đó là Phú Cường và Xuân Lộc. Giáo phận Xuân Lộc lúc bấy giờ bao gồm ba tỉnh Biên Hoà, Long Khánh và Phước Tuy. Toà Giám mục được đặt tại Xuân Lộc.
2. Xuân Lộc và các nét sinh hoạt tôn giáo trước khi được thành lập
Trước khi chính thức trở thành một giáo phận, tại địa bàn của Giáo phận Xuân Lộc đã hiện diện nhiều xứ đạo cổ xưa như: Đất Đỏ, Bà Rịa, Vũng Tàu (thuộc tỉnh Bà Riạ Vũng Tàu ngày nay) và sáu giáo xứ chung quanh Biên Hoà như: Biên Hoà, Mỹ hội, Phước Lý, Phước Khánh, Bến Gỗ, Dầu Giây (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay) với 8.033 giáo hữu.Kể từ khi chính thức trở thành giáo phận, Xuân Lộc có số giáo dân tăng 160.000. Giáo phận Xuân lộc co nguồn gốc lịch sử khá lâu đời và đã trải qua một quá trình hình thành lâu dài hơn trăm năm.
*Vùng đất Đồng Nai
Từ Mô Xoài-Bà Rịa, các thế hệ người Việt di dân với phương tiện chủ yếu là thuyền xuồng ngược dòng Đồng Nai và cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào Đồng Nai. Các điểm định cư sớm nhất của họ là Nhơn Trạch-Long Thành-An Hoà-Bến Gỗ-Bầu Lâm-Cù Lao Phố-Cù Lao Tân Chánh-Cù Lao Ngô-Cù Lao Kinh- Cù lao Tân Triều. Các vùng ven núi cũng là nơi lưu dân Việt chọn làm nơi ở, bởi các nơi đó có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như săn bắn, khai thác gỗ... Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ. Năm1698 dưới sự bảo trợ của Chúa Nguyễn số người Việt từ miền Trung di dân vào Đồng Nai ngày càng đông. Năm1790, Nguyễn Ánh ra lệnh lập đồn điền, mộ dân khẩn hoang lập ấp và sử dụng binh lính khai phá đất đai, canh tác ở khu vực trú quân. Chính việc mở rộng khai phá bằng nhiều hình thức (đồn điền, dinh điền) đã tạo điều kiện để dân cư phát triển ở vùng Biên Hoà. Đầu thế kỷ XX, các công ty đồn điền cao su Đồng nai được thành lập. Họ đã chiêu mộ công nhân từ các làng quê miền Bắc và miền Trung,khiến vùng đất này cũng ngày càng đông dân.
* Vùng đất Bà Riạ Vũng Tàu
Đây là một vịnh biển lớn trông ra Biển Đông.Bà Riạ Vũng Tàu xưa kia là biển, dần dần do biển bồi đắp trở thành những bãi lầy, trải qua bao ngày tháng đã trở thành đất liền. Thế kỷ XIII, nơi đây là rừng rậm, có rải rác vài bản người Chàm và Khơme sống bằng nghề trồng lúa, săn bắn và đánh cá. Thế kỷ XV-XVI nơi đây đã trở thành chỗ tránh bão, cung cấp nước ngọt và đồ gỗ tốt cho các đoàn tàu Tây Phương trên đường đi qua Biển Đông. Thế kỷ XVII, thời Trịnh-Nguyễn phân tranh những cư dân miền Trung vào Bà Riạ sinh sống và cư dân Miền Bắc đi đường biển vào Vũng Tàu lập nghiệp ngày càng đông. Đầu thế kỷ XIX, dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiêu Trị, Tự Đức, tất cả các bổn đạo đều gặp khó khăn thử thách của cuộc cấm đạo, giáo hưũ phải lén lút giữ đạo và khó khăn cực nhọc khi đưa dẫn các linh mục thừa sai hoặc bản xứ đi thăm giáo dân và cử hành bí tích. Ngày 04-11-1847 sau khi vua Thiệu Trị qua đời, con thứ của vua Thiệu Trị là Hồng Nhậm Dục Tông lên ngôi, niên hiệu là Tự Đức. Vua Tự Đức đã ra chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa trên cả nước (đây là Chỉ dụ thứ 8, kể từ khi Minh Mạng ra chỉ dụ đầu tiên 11-1832) và chỉ dụ cuối cùng14-11-1861 của Tự Đức là khốc liệt nhất, vì đặt ra biện pháp cấm đạo rất nặng là thắt cổ và tống giam tất cả các giáo hữu công giáo. Phước Tuy là địa điểm tập trung gồm bốn ngục giam: Dinh Phước Lễ, Thành Long Điền-Đất Đỏ tại làng Phước Thọ và Thơm tại Long Kiên. Các tín hữu kitô bị tập trung giam giữ từ tháng 9-1861 (Phước Tuy máu lửa, Họ đạo Bà Rịa- xb. 1962). Ngày 07-01-1862, những người công giáo bị giam tại các ngục thất trên đã bị thiêu sống. ("Quốc triều chính biên" Sử Địa- xbSG 1971). Theo bản "Phúc trình của Cha Errard", số giáo dân bị thiêu sống trong 4 nhà giam như sau: Ngục Phước Lễ: giam 300 người, thiêu sống 288 người. Long Kiên: 135 người, chết thiêu 86 người. Long Điền: 140 người, chết thiêu 48. Phước Thọ: 125 người, chết thiêu 22. Tổng số chết thiêu là 444 người trong 4 nhà giam, đàn ông là 288 và đàn bà trẻ em là 156 người. * (Tham khảo tài liệu của Giáo Phận Xuân Lộc)
VietCatholic News (23/11/2005)
Giáo Phận Bà Rịa
Giáo Phận Xuân Lộc: Thiết lập ngày 22/11/2005
Ðức Giám Mục Tôma Nguyễn Văn Trâm
Diện tích: 1,975 Km2
Số giáo dân: 224,474
Số Giáo Xứ: 78
Số Linh Mục: 91
Số Nữ Tu Sĩ: 406
Số Nam Tu Sĩ: 192
Toà Giám Mục Bà Rịa : Thị Xã Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Nhà Thờ Chánh Toà Bà Rịa Phước Hưng, P. Phước Hưng, Thị Xã Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu Tel: (064) 825-705
Hạt Bình Giả
Giáo Xứ Bình Ba ấp Bình Ðức, xã Bình Ba, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Thánh Tâm ấp Cù Bị 2, xã Láng Lớn, huyện Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Ðức Hiệp ấp Liên Hiệp, xã Xà Bang, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Ðức Mỹ ấp Ðức Mỹ, xã Suối Nghệ, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hữu Phước 23 Vinh Sơn, xã Nghĩa Thành, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Kim Long xã Kim Long, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Mai Khôi ấp Cù Bị, xã Xà Bang, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Quảng Thành ấp Tiến Long, xã Quảng Thành, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Quảng Nghệ ấp Trung Sơn, xã Suối Nghệ, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Ngãi Giao Ttr. Ngãi Giao, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Vinh Châu ấp Vinh Châu, xã Bình Giả, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Vinh Hà ấp Vinh Hà, xã Bình Giả, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Vinh Trung ấp Vinh Trung, xã Bình Trung, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Xuân Sơn 1 Xuân Hoà, xã Xuân Sơn, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Phước Thiện xã Xà Bang, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Phước Ân xã Láng Lớn, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nông Trường Cù Bị, xã Xà Bang, Châu Ðức, Bà Rịa Vũng Tàu
Hạt Long Hương
Giáo Xứ Chu Hải xã Hội Bài, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hải Sơn ấp Hải Sơn, xã Phước Hoà, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Kim Hải ấp Kim Hải, P. Long Hương, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Lam Sơn ấp Lam Sơn, xã Phước Hoà, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Láng Cát ấp Láng Cát, xã Hội Bài, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Long Hương ấp Núi Dinh, P. Long Hương, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Ngọc Hà ấp Ngọc Hà, xã Phú Mỹ, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Phú Hà ấp Phú Hà, xã Mỹ Xuân, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Lộc ấp Phước Lộc, xã Phước Hoà, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Song Vĩnh ấp Song Vĩnh, xã Phước Hoà, tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Thanh Phong ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Xuân, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Xuân Hạ ấp Tân Lập, xã Tóc Tiên, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Xuân Ngọc ấp Trảng Lớn, xã Hắc Dịch, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Châu Pha ấp Tân Ninh, xã Châu Pha, Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Hạt Phước Lễ
Giáo họ Bình Châu ấp Láng Găng, xã Bình Châu, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Dũng Lạc KP. 3, P. Phước Nguyên, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Ðất Ðỏ ấp Thanh Long, xã Phước Thạnh, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Hải Lâm ấp Hải Lâm, xã Phước Hưng, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hoà An ấp 2, xã Bưng Riềng, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hoà Hội ấp 3, xã Hoà Hội, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hoà Thuận ấp Phú Hoà, xã Hoà Hiệp, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hoà Xuân xã Hoà Bình, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Long Ðiền Ttr. Long Ðiền, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Long Hải ấp Hải Ðiền 2, Ttr. Long Hải, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Long Kiên KP. 6, P. Long Toàn, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Long Tân xã Long Tân, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Long Toàn KP. 2, P. Long Toàn, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Bình ấp Phước Bình, xã Phước Tỉnh, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Lâm ấp Phước Lâm, Phước Hưng, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Lễ Phước Hưng, P. Phước Hưng, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Phước Tân KP. 6, P. Phước Hưng, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Tỉnh 153 Phước Hiệp, xã Phước Tỉnh, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Tân Phước ấp Tân Phước, xã Phước Tỉnh, Long Ðất, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Têrêxa ấp Việt Kiều, xã Phước Tân, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Thủ Lựu KP. 2, P. Phước Nguyên, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Văn Côi ấp Nhân Ðức, xã Xuyên Mộc, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Bông Trang xã Bông Trang, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Hoà Phước xã Phước Bửu, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Hoà Lâm xã Bầu Lâm, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Kitô Vua xã Phước Tân, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Môn Côi xã Long Toàn, Châu Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo Xứ Long Tâm P. Phước Hưng, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Giáo họ Phước Hải xã Phước Hải, Tx. Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu
Hạt Vũng Tàu
Giáo họ Bãi Dân 176/2b Trần Phú, P. 5, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Bến Ðá Trần Phú, P. 5, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Ðông Xuyên P. 10, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Hải Ðăng P. 11, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Hải Xuân KP. 2, P. 10, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Nam Bình Nam Bình, P. 11, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Nam Ðồng 28 Ngô Quyền, P. 10, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Phước Thành P. 12, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Sao Mai 268/16 Trần Phú, P. 5, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Tân Châu Phạm Hồng Thái, P. 7, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo họ Thánh Gioan Baotixita P. 8, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Thuỷ Giang P. 10, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Trung Ðồng P. 10, Thành Phố Vũng Tàu
Giáo Xứ Vũng Tàu Thống Nhất, P. 1, Thành Phố Vũng Tàu
(dựa theo cuốn Niên Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)
Niên Giám Công Giáo 2005
LM Trần Công Nghị
| cập nhật ngày 19 tháng 01 năm 2006 |
| © 2005 Gia Nhân |