Giáo Phận Kontum.
Giám Mục Kontum
nhà thờ chánh toà
Thư chung 1997
Kontum, Một Địa Danh …
ÐỨC CHA THÁNH STÊPHANÔ CUÉNOT THỂ
Giám Mục Tử Ðạo
Vị Khai Sáng Miền Truyền Giáo Tây Nguyên
(1802 - 1861)

? 1802 [08.02] : Sinh tại Sous-Réumont, Giáo xứ Bélieu, Pháp.
? 1825 [24.09] : Thụ phong linh mục.
? 1829 [31.05] : Tới Kẻ Vĩnh, Việt nam: với tên là Stêphanô Cuénot Trí.
? 1833 [20.02] : Cùng Ðc Taberd Từ, chạy qua Xiêm.
? 1835 [03.05] : Giám mục phó, hiệu tòa Métellopolis với khẩu hiệu "Fac me cruce inebriari" [Hãy làm cho tôi say mê Thập Giá].
? 1835 [12.05] : Về lại Việt nam vối tên là Gm S. Cuénot Thể. Coi sóc Giáo Phận Ðàng Trong.
? 1840 [31.07] : Chính thức kế vị Ðức cha Taberd Từ vừa qua đời tại Calcutta, Ấn Ðộ.
? 1861 [30.10] : Bị bắt tại Gò Bồi.
? 1861 [14.11] : Chết rũ tù tại nhà giam Bình Ðịnh.
? 1899 [13.01] : ÐGH Lêô XIII phong Bậc đáng kính.
? 1909 [02.05] : ÐGH Piô X phong Chân Phước.
? 1988 [19.06] : ÐGH Gioan-Phaolô II tôn phong Hiển Thánh Tử Ðạo.
Lễ kính ngày 14. 11. hàng năm
CÔNG TRÌNH TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN.
Từ Singapore, vị tân Giám mục phó trở lại Việt Nam ngay. Và lần lượt trốn trại. An ngãi [21. 06. 1835] Phú hòa Bến Ðá Gia Hựu Gò Xoài Ðồng Hâu (1839) (-1861).
Việc đầu tiên là: Truyền chức 10 thầy giảng làm linh mục. Mở lại 2 chủng viện Di Loan (Quảng Trị) và Lái Thiêu.
ÐƯỜNG LỐI MỤC VỤ
CỦA ÐỨC GIÁM MỤc STÊPHANÔ CUÉNOT THỂ (1)
1. Ðường lối chỉ đạo chung : Mở Công đồng Gò Thị (1841).
2. Cụ thể có những vấn đề :
2.1. Ð/v anh chị em tín hữu: củng cố lòng tin.ÐGM tận dụng viết thư để khích lệ, nâng đỡ, khuyên nhủ, dạy dỗ.Thi đua học giáo lý và truyền giáo.
2.2. Ð/v những anh chị em yếu đuối trong lúc bị cấm cách : Thông cảm, tha thứ . Việc đền tội: "mời gọi được một tân tòng".
2.3. Ð/v nữ tu : Tập trung các nữ tu MTG. Tại 18 địa sở. Với số 250 dì.
2.4. Ð/v các chủng sinh :
Ðẩy mạnh việc đào tạo tại địa sở để có chủng sinh gửi đi học .
Mở lại 2 chủng viện Lái Thiêu (Sài Gòn) và Di Loan (Quảng Trị).
Gửi đi học Pénang. Học xong, về nhà làm việc và chuẩn bị chịu chức.
2.5. Về tổ chức :
Xin Tòa Thánh chia cắt Gp Ðông Ðàng Trong thành:
? Năm 1844: Ðông Ðàng Trong và Tây Ðàng Trong
? Năm 1850: Chia Gp Ðông Ðàng Trong thành: Ðông Ðàng Trong [Quy Nhơn] và Bắc Ðàng Trong [Huế]
Chia Tây Ðàng Trong thành: Tây Ðàng Trong [Sài Gòn] và Nam Vang
2.6. Gửi người đi truyền giáo Tây Nguyên.
(1) x. Ðào Trung Hiệu OP, Cuộc lữ hành đức tin, I, TpHCM,tr.311
GIÁO PHẬN KONTUM
MIỀN ÐẤT TÂY NGUYÊN
Giáo Phận Kontum hiện nằm gọn trong hai tỉnh Kontum và Gialai với diện tích 25.728 km2 thuộc Miền Bắc Tây Nguyên.
Miền Tây Nguyên này chạy dọc 2 bên sườn phần phía Nam dãy Trường Sơn, dài khoảng 450 km, rộng khoảng 140 km. Bắc giáp Quảng Nam Ðà Nẵng. Nam giáp Nam Bộ. Ðông giáp các tỉnh duyên hải Miền Trung. Tây giáp Lào và Campuchia. Triền phía Tây Trường sơn thoai thoải; triền phía Ðông hơi thẳng đứng. Chạy theo hướng Tây Bắc Ðông Nam, Trường Sơn có nhiều nếp hình thành phức tạp. Nhấp nhô trùng điệp các rặng núi với các ngọn cao như Ngọc Niay cao 2.259m (Huyện ÐăkGlei), Lang Biang cao 2.163m (Tp Ðà Lạt), Hàm Rồng (1.028m) ở Tp. Pleiku hay Phượng Hoàng (H. Ðức Cơ), nơi đây năm 1958 có đặt Tượng Ðức Mẹ cao 3m. Cao nhất là đỉnh Ngọc Linh, được mệnh danh là "Nóc nhà Tây Nguyên", cao 2.598m (Huyện Dak Glei), nơi bắt nguồn của nhiều dòng sông lạch suối.
Miền Kontum, có Sông Pôkô chảy từ Bắc Kontum (Ðak Glei) xuống phía Nam nhập dòng sông Sêsan đổ qua Mêkông. Từ đông Bắc đổ vào dòng Pôkô này còn có Sông Ðak Tơkan chảy qua Ðaktô, Sông Ðak Psi chảy qua Diên Bình và Sông ÐakBla bọc qua Thị xã Kontum.
Miền Pleiku có Sông Ayun và Sông Ba bắt nguồn từ hướng Ðông Bắc tỉnh chảy xuôi gặp nhau tại Thị Trấn Ayun Pa (Cheo Reo) rồi đổ vào Sông Ðà Rằng chảy ra Thái Bình Dương. Cũng có những hồ lớn: như Biển Hồ, còn gọi là Hồ Ia Nueng rộng 230 ha (Tp. Pleiku), Hồ Ia Băng (H. Mang Yang), Hồ Yok Dania, Hồ Lắc (Daklak). Có thác nổi tiếng như Thác Ialy, cao 60m (H. Sa Thầy và H. Chư Pah), nơi đang xây dựng công trình Thủy điện lớn thứ 3 trong cả Nước; Thác Lệ Kim cao hơn 30m (Huyện Ia Grai), Thác Dak Trôi (Huyện Mang Yang), Thác Suối Ðá (H. Ayun Pa), Thác Dak Xơ Nge (H. Kon Plong), thác Maray (H. Sa Thầy).
Vùng Bắc Tây Nguyên chủ yếu là núi và đồi, đồng bằng chỉ là những dải đất nhỏ bé trải dọc theo mấy sông chính như sông Pôkô, sông Ðăkbla, sông Ayun và sông Ba. Cánh đồng ven sông Ðăkbla ở Kontum chính là miền Ðất Hứa mà Ðức Cha Cuenot Thể đã mong ước đoàn truyền giáo sớm tìm gặp. Và đây là cái nôi truyền giáo thành công nhất Vùng Truyền giáo Tây Nguyên kể từ năm 1848.
Miền Tây Nguyên nằm gọn trên các cao nguyên Sêđăng, Kontum-Pleiku, Daklak và Lang Biang. Có người gọi là Cao Nguyên Nam Trung Bộ. Ðất được cấu tạo với khối đá phún xuất, hoa cương và ba dan. Chủ yếu là vùng ba dan đất đỏ rất thích hợp với các loại cây công nghiệp như chè, cà-phê, tiêu, cao su. Khí hậu tương đối dễ chịu, phân thành 2 mùa mưa nắng rõ rệt. Nhiệt độ trung bình 23.
CON NGƯỜI TÂY NGUYÊN
Các bộ tộc bản địa Tây Nguyên chủ yếu là Bahnar, Sêđăng, Jrai, Rađê. Gié Triêng, Mnông, K?Ho, Brâu, Rơmâm... Vào đầu thế kỷ 19 bắt đầu có ít người kinh từ miền xuôi lên buôn bán dọc biên giới. Tiếp sau là số người thuộc các phái đoàn truyền giáo. Tiếp đến số người lên lập nghiệp, khi miền xuôi bắt đạo gắt gao. Mãi về sau các nhà chính trị, các nhà quân sự người Pháp mới bắt đầu dòm ngó tới vùng này. Cũng từ đó số người Kinh lên lại càng đông.
Những năm 1925 - 1930, người Pháp đã chiêu mộ tới 75.000 người kinh lên làm đồn điền cao su, chè. Năm 1954, sau Hiệp định Genève 20.7.1954, có tới 64.000 người, đa số là đồng bào công giáo từ Miền Bắc di cư vào lập nghiệp ở tỉnh Daklak và tỉnh Pleiku (Gia Lai ngày nay). Tới năm 1957 - 1958, thêm 30.000 người thuộc 3 tỉnh miền duyên hải Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Ðịnh lên xây dựng các Khu dinh điền rải rắc khắp 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Daklak và Phước Long. Sau 1975, nhiều gia đình từ Miền Trung hay Miền Bắc lên xây dựng các Vùng kinh tế mới cũng như các nông trường và các trang trại, trong số có đồng bào thuộc nhiều bộ tộc thiểu số từ Bắc vào lập nghiệp. Nguyên tại địa bàn Thành phố Pleiku đã có tới 28 sắc tộc như Thái, Nùng, Mường...
Tây Nguyên đã đổi da đổi thịt cách quyết liệt kể từ ngày số người kinh lên. Nhiều con đường đã được hình thành. Nối Ðông với Tây, tức Tp. Quy Nhơn với Cửa Khẩu Ðức Cơ chạy qua hai Ðèo An Khê, Ðèo Mang Yang (Cổng Trời), Thành Phố Pleiku, có Quốc lộ 19. Chạy từ phía Bắc (Tp. Ðà Nẵng) xuống phía Nam (Quốc lộ 13, Tỉnh Bình Phước) có Quốc lộ 14 chạy qua Kontum - Pleiku - Buôn Ma Thuột. Quốc lộ 24 nối Kontum với Quảng Ngãi. Quốc lộ 25 nối Pleiku - Phú Bổn - Tuy Hòa (Phú Yên). Quốc lộ 26 nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang. Quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với Ðà Lạt. Quốc lộ 28 nối Gia Nghĩa (Tỉnh Daklak) với Di Linh (Tỉnh Lâm Ðồng) và Phan Thiết. Hy vọng hệ thống đường ngang dọc này sẽ giúp Tây nguyên phát triển mạnh trong những năm tháng tới. Nhờ đó các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên như rừng, mỏ quặng vẫn còn bị chôn dấu dưới lòng đất đỏ ba dan cũng sẽ được khai thác nhằm nâng cao đời sống người dân.
Năm 1997, dân số trên địa bàn hai tỉnh Gialai và Kontum, cũng đã có tới hơn 1.181.682 với 50, 68% dân tộc ít người.
ÐƯỜNG
TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN
Ngay từ năm 1765, Ðức Cha Guillaume Piguel (1704 - 1771) đã gửi thừa sai
lên truyền giáo miền Kontum, nhưng không thành công.
Năm 1775, Ðức Cha Pigneau de Béhaine (1771 - 1799) gửi một đoàn truyền
giáo do cha Faulet hướng dẫn tiến vào vùng Tây Nguyên thuộc sắc dân
Stiêng, người Cuy (?) sống dọc theo sông Chlong. Các ngài đã gặp 2
gia đình công giáo đã tới sinh sống tại đây trước rồi. Sau khi mua một
mảnh đất, các ngài cho dựng một căn nhà vừa làm nơi tạm trú vừa
làm nhà nguyện. Vì ngã bệnh, các ngài phải trở về Prambey-Chlom. Sau
bình phục, trở lại, lại ngã bệnh và phải bỏ ngang vào mùa xuân 1776.
*
Giai đoạn 1: Giai đoạn khai sáng Miền Truyền Giáo Kontum:
(1848 -
1932).
*
Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển (1932 - 1960).
*
Giai đoạn 3: Giai đoạn trưởng
thành (1960 -).
Giai đoạn
I:
GIAI ÐOẠN KHAI SÁNG MIỀN TRUYỀN GIÁO KONTUM
(1848 - 1932)
Tình hình Việt Nam đã có nhiều thay đổi sau khi Ðức Cha Pigneau de
Béhaine (X
9.10.1779) và Vua Gia Long qua đời (3.2.1820). Kể từ năm 1825, nhiều
sắc lệnh cấm đạo đã được ban hành. Công việc truyền giáo cho các
đồng bào các sắc tộc từ hướng Tây Ðàng Trong hầu như bị khựng lại,
thì từ hướng Bình định, Phú Yên lại có phần sôi động hơn. Mặc dầu
phải chăm sóc đoàn chiên rải rác trên một lãnh thổ rộng lớn chạy
dài từ Sông Gianh phân chia hai miền Bắc Nam tới mũi Cà Mau, tới biên
giới Thái-lan, Ðức Cha Cuenot Thể vẫn không quên những anh chị em thuộc
nhiều sắc tộc khác trên Vùng Cao. Ðây là một ưu tiên trong chương
trình hoạt động của ngài.
Nhưng
có lẽ Công Cuộc Truyền Giáo Tây Nguyên đã thực sự sôi động và đạt
thành quả vững chắc lại chính là vào thời kỳ Ðức Cha Stê-pha-nô
Théodore Cuenot Thể, Giám Mục Ðại diện Tông Tòa Ðông Ðàng Trong. Chính
Ngài đã Mở đường truyền giáo vùng phía Tây, tức vùng Tây
Nguyên ngày nay. Lịch sử truyền giáo vùng này có
thể chia thành 3 giai đoạn:
Ngay khi vừa lên kế vị Ðức Cha Taberd (X 1840 tại Thái Lan) năm 1841, Ðức Cha Cuenot Thể đã cho triệu tập Công Ðồng Gò Thị để ổn định đời sống giáo phận sau nhiều năm cấm cách, đặc biệt đưa ra hướng mục vụ cảm thông tha thứ và tạo điều kiện cho những anh chị em vì yếu đuối sa ngã trong thời cấm đạo. Nhưng chủ yếu vẫn là đào tạo linh mục bản xứ để đẩy mạnh công việc truyền giáo.
Năm 1839, Ngài đã cử hai phái đòan truyền giáo một do Ông Cả Ninh dẫn đầu khởi hành từ Cam Lộ, Quảng Trị; một do Ông Cả Quới lên đường từ Phú Yên. Cả hai đều thất bại.
Qua năm 1842, phái đoàn Ông Cả Quới gồm Cố Duclos và Cố Miche, 11 Thầy giảng và 3 giáo dân lại lên đường. Ai ngờ chỉ mới đi sâu vào vùng dân tộc, ngày 16.2 tất cả đã bị bắt giải về Huế.
Năm 1846, Ðức Cha Cuenot gửi hai cha người Việt là cha Vận và cha Hòa, lên mở Vùng Buôn Ðôn thuộc Daklak. Tiếp sau là cha Fontaine Phẩm được chuyển từ Plei Chư xuống. Năm 1856, tất cả phải rút về Kontum. Với một ý chí sắt đá, Ðức Cha Cuenot không chùn bước. Ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Thánh Thần Chúa. Năm 1848, một năm có tính quyết định đã đến.
Vị mục tử nay hướng tới: Thầy Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Do, cũng có tên là An, một chủng sinh vừa tốt nghiệp đại chủng viện Pinang về nước. Ngài thấy nơi con người thông minh, quả cảm và khiêm tốn này có khả năng mở đường tiến sâu vào thế giới các sắc dân miền núi phía Tây.
I.1. THẦY SÁU DO MỞ ÐƯỜNG (1848 - 1850)
Thầy Do đã khéo léo đóng vai một người đầy tớ trung thành và cần mẫn gánh đồ hàng cho một nhà buôn người kinh. Sáu tháng đi từ làng này tới làng khác, thầy tiếp cận với dân Bahnar bản địa, nói được tiếng nói của họ, biết phần nào phong tục tập quán cùng thu thập được ít điều về địa hình địa vật của vùng cao. Thầy mau mắn về Gò Thị báo cáo lên Vị Chủ Chăn ngày đêm ngóng chờ tin vui.
Ðược Tin vui, Ðức cha cử ngay một đoàn Thừa Sai lên đường. Thầy Do làm trưởng đoàn. Một đoàn buôn chính hiệu, có 4 chủng sinh cùng đi. Chính vì "cái chính hiệu với đồ hàng kồng kềnh của nhà buôn" này đã làm lóa mắt kẻ tham chặn đường cướp hết. Các vị Thừa Sai phải bỏ của chạy cứu mạng.
Qua 1849, một đoàn truyền giáo khác lên đường. Có cha Combes, 4 Thầy giảng và một số chủng sinh. Ði từ Gò Thị, lên Bến, tới Trạm Gò, đoàn gặp phải đàn voi rượt đuổi. Tất cả bỏ chạy tán loạn. Thoát được cơn giận của voi, về tới Bình định phái đoàn chạm phải cơn "thánh nộ" của Ðức Cha Cuenot. Ðược nghỉ 15 ngày, phái đoàn lại lên đường. Lúc đó là đầu năm 1850.
Lên đường lần này có thêm cha Fontaine Hoàn (sau gọi là Bok Phẩm) với 7 thầy. Ðến Trạm Gò, tiến vào làng Baham, đi qua làng Kon Bơlu, phái đoàn tiến sâu vào làng Kon Phar. Ðức Cha đã ân cần dặn dò nhiều lần ?nhớ" phải tránh đường mòn của lái buôn kinh, phải tránh tù trưởng Bok Kiơm kiêm chức vị "quan triều đình Huế" có nhiệm vụ phải chặn đường xâm nhập của các vị Thừa Sai.
Ngày núp, đêm đi. Vạch rừng, lội suối, leo đèo, với đủ thứ đe dọa của rừng sâu, của khí hậu, của thú dữ. Lệnh "không được trở lại" vẫn văng vẳng bên tai. Nhưng "Ðất động ! Trời sập ! Doàn gặp đúng Bok Kiơm! Biết làm sao bây giờ ? Hồn siêu, phách lạc, hết đường "chạy trốn", cả đoàn như chết đứng giữa trời ! Chính lúc đang đứng đơ như những tượng gỗ, thì "con người hung dữ kia lại lên tiếng trước: "Sao ? Quí vị là ai ? Cứ nói thật đi, tôi sẽ giúp cho !"
Trời đất ! Lại một bất ngờ ! Thay vì hạch họe, bắt nộp cho triều đình, Bok Kiơm lại tỏ ra thân thiện ngay. Có lẽ cũng chính cái mất hồn khiếp vía hiện trên các khuôn mặt những con người không có một tham vọng nào khác ngoài tình thương mà liều mình đi đến với những anh chị em miền xa lạ", nên con người "đáng khiếp kia" bỗng trở thành "con người dễ thương". Ông đã trở thành một Cyrus Miền Truyền giáo Tây Nguyên ! Phái đoàn tiếp tục đi vào làng Kon Kơlang.
Ngày 11.11, thầy Thám, em ruột thầy Do, dẫn một nhóm truyền giáo khác lên Kontum. Cùng đi có cha Dourisboures Ân (25 tuổi), cha Desgouts Ðề (45 tuổi). Họ đi theo lộ trình Gò Thị - Bến - Trạm Gò - Bơham - Bơlu - Kon Phar để tới Kon Kơlang. Tại đây, anh em gặp nhau mừng vui khôn xiết. Tất cả bắt tay dựng căn nhà 2 gian: một gian để ở, một gian làm nhà nguyện. Tạ ơn Chúa ! Công việc truyền giáo Tây Nguyên bắt đầu một trang sử mới có nhiều hứa hẹn, với lắm khó khăn !
I.2. PHÂN ÐỊNH VÀ THIẾT LẬP CÁC TRUNG TÂM MIỀN TRUYỀN GIÁO (1851)
Sau thời gian dò dẫm, tìm hiểu, có sự giúp đỡ chân tình của Bok Kiơm, các vị thừa sai đã tới được Miền Ðất Hứa năm 1850, chính là cánh đồng Ðăkbla như Ðức Giám Mục hằng chờ mong. Năm sau, Ngài quyết định thiết lập ngay 4 Trung Tâm truyền giáo và đặt cha Combes (Bê) làm Bề trên Miền.
* Trung tâm Plei Rơhai: Cha Bernard Desgouts và thầy Sáu Do phụ và lo truyền giáo cho bộc tộc Bahnar. Ðịa điểm nằm ngay địa sở Tân Hương ngày nay. Sau ít tháng, thầy Sáu Do được gọi về Gò Thị chuẩn bị lãnh thiên chức linh mục. Năm 1853, cha Do trở lại Trung tâm và tiến hành xây dựng Nhà Thờ Plei Rơhai. Cha phát động mô hình nông trang trên miền đất này để cải thiện cuộc sống của đồng bào dân tộc và để tự túc lương thực phòng đường tiếp tế từ Vùng xuôi bị cắt đứt ! Ðức Cha còn chỉ thị cho cha Desgouts mở ngay Chủng Viện Thừa Sai Miền Kontum trong khi Miền xuôi đang bị cấm cách gắt gao. Nhưng khí hậu cay nghiệt, Chủng Viện đã không trụ lâu được.
* Trung tâm Kon Trang: Nằm phía Bắc Kontum, được trao cho cha P. Dourisboures Ân phụ trách để truyền giáo cho bộ tộc Sêđăng. Cha hăng say học tiếng và la-tinh-hóa chữ viết Sêđăng làm phương tiện tiếp xúc và truyền giáo. Năm sau, năm 1852, Ðức Cha đã tăng cường cho Trung tâm một vị thừa sai mới, cha Arnoux A. Ngày 01.01.1852, cha Dourisboures Ân đã rửa tội cho một em bé sơ sinh. Ðây là hoa trái đầu mùa. Sau đó là hai thiếu niên Giu-se Ngui, 12 tuổi (+ 1857) và Gio-an Pat, 9 tuổi được lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy ngày 16.10.1853.
* Trung tâm Plei Chư: Nằm phía tây Kontum. Cha Fontaine Hoàn (Bok Phẩm) phụ trách Trung tâm lo loan báo Tin Mừng cho bộ tộc Jrai. Năm 1854, Ðức Cha thuyên chuyển cha xuống Pơnong (Mnông) - Trung tâm Buôn Ðôn, ở Daklak, làm việc với cha Hòa và cha Vận. Nhưng chẳng được bao lâu cha cũng phải rút về lại Kontum.
* Trung tâm Kon Kơxâm: được trao cho cha Bề Trên đầu tiên Miền Truyền Giáo, cha Combes. Nằm về phía Ðông Kontum, Trung Tâm có nhiệm vụ giảng đạo cho anh chị em Bahnar Jơlơng. Cha chọn Ðức Bà Cứu Chữa làm bổn mạng Trung tâm. Cha cũng bắt tay ngay vào công việc la-tinh hóa chữ viết. Năm sau, cha soạn xong cuốn Giáo Lý và Sách Kinh bằng tiếng Bahnar. Qua năm 1853, cả làng Kon Kơxâm tòng giáo! Và ngày 28.12.1853, cha đã ban Bí Tích Thanh Tẩy cho ông Giu-se H'Mur. Ðây là người tín hữu Bahnar đầu tiên ! Nhưng cha đã qua đời 5 năm sau (1857), vào tuổi 32. Phải chăng vì làm việc quá sức hay vì khí hậu thời tiết ác nghiệt thời đó ? Trách nhiệm Bề Trên chuyển qua vai cha P.Dourisboures.
1.3. MÁU ÐỨC CHA S. CUENOT THỂ ÐÃ ÐỔ. GIÁO ÐÒAN TÂY NGUYÊN NỞ RỘ
Ðức Cha Cuenót Thể đảm nhận giáo phận rộng lớn Ðàng Trong đúng vào thời cấm đạo gay gắt. Các phương thức cấm cách thật tinh vi, nhắm tiêu diệt từng đối tượng theo từng giai đoạn khác nhau. Ngài điều khiển giáo phận từ hầm trú ở Gò Thị. Ngài làm việc ngày đêm để nắm vững tình hình giáo phận, nhưng không thể xuất hiện công khai hoặc đi lại tự do. Dầu số nhân sự ít ỏi, ngài vẫn dành cho Miền Truyền giáo này nhiều vị thừa sai. Ngài cũng không ngừng vun trồng Ơn Gọi Linh Mục.
Ðể đẩy mạnh cộng cuộc truyền giáo, Ngài đã xin Tòa Thánh chia nhỏ địa phận.
Ðợt 1: Năm 1844, chia Ðịa phận Ðàng Trong thành Ðông Ðàng Trong và Tây Ðàng Trong.
Ðợt 2: Năm 1850, Chia địa phận Ðông Ðàng Trong thành Bắc Ðàng trong và Ðông đàng trong; chia Tây Ðàng Trong thành Tây Ðàng Trong và Nam Vang. Kontum vẫn thuộc Ðông Ðàng Trong, tức Giáo phận Qui nhơn sau này.
Trong khi miền xuôi còn bị cấm cách, thì trên cao nguyên các làng dân tộc "đua nhau" trở lại. Khởi đầu là làng Kon Klor (1886), tới Kon Hngo Kơtu (1887). Chỉ trong 21 năm 94 làng trở lại. Có năm tới 12 làng (năm 1893), 14 làng (năm 1895) hoặc như năm 1897, ngoài 14 làng Bahnar, Sêđăng xin theo đạo, còn có cả một số làng bộ tộc Rađê cũng xin tòng giáo. Kết quả thật tốt đẹp. Sức người theo không kịp. Trước một tình hình sôi động như thế, các vị chủ chăn đã đẩy mạnh việc đào tạo nhân sự bản xứ. Ðây là giai đoạn hình thành Trường đào tạo Yao phu và hình thức Nhà Chung. Ðúng như Tòa Thánh đã tiên liệu và chỉ đạo: "phải ưu tiên làm sao sớm có người bản xứ truyền đạo và phục vụ người bản xứ!"
Ý?thức tầm quan trọng của chỉ thị trên, cha Bonnard qui tụ một số thanh niên dân tộc nhằm đào tạo họ thành các giáo lý viên cho các họ đạo. Công việc và chương trình này chỉ thực sự được tổ chức và đẩy mạnh nhờ quyết tâm cao của cha Martial Jannin Phước. Năm 1905, ngài xúc tiến xây dựng trường đào tạo các Yao Phu và khánh thành ngày 7.1.1908. Cha M. Jannin Phước là vị giám đốc đầu tiên. Chính ngài đã dám nghĩ dám thực hiện mẫu người Yao Phu. Ngài là linh hồn của công trình trọng điểm này. Năm 1911 Tạp chí Hlabar Tơbang đã được phát hành để hỗ trợ cho công việc đào hệ trọng này.
Từ trường này, nhiều thanh niên dân tộc đã chọn đời sống tu trì. Cụ thể, ngày 29.6.1932, ba thanh niên bahnar đầu tiên đã lãnh nhận thiên chức linh mục: đó là các cha Mi-ca-e Hiâu (1900 - 1949), cha Giu-se Châu (1900 - 1955), cha An-tôn Ðen (1903 - 1987). Một trong 3 vị đã có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử Giáo Phận Kontum: Cha An-tôn Ðen. Là một nhà trí thức, một học giả Bahnar. Ngài đã dành suốt một đời dịch Kinh Thánh, dịch sách Phụng Vụ, viết Hạnh Các Thánh và phụ trách tờ Hlabar Tơbang. Ngài âm thầm, chăm chỉ làm việc cho tới giờ phút cuối đời. Một kho tàng hiếm có của Giáo Phận ! Giáo Phận biết ơn Ngài, biết ơn các bậc cha anh đã đào tạo được một người làm việc trí óc không biết mệt mỏi như thế !
II. Giai đoạn 2
|
LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG |
GIAI ÐOẠN PHÁT TRIỂN GIÁO PHẬN TÔNG TÒA KONTUM (1932 - 1960)
2.1. Một chặng đường mới (1932 - 1945)
Sau nhiều cố gắng xây dựng, ngày 18.1.1932, Tòa Thánh đã công bố Nghị định thư thiết lập Giáo Phận đại diện tông tòa Kontum tách từ Giáo Phận Mẹ Quy Nhơn: gồm các tỉnh Kontum, Pleiku, Daklak và Attâpư (Hạ Lào). Và ngày 23.1.1932, cha Bề Trên Martial Jannin Phước được bổ nhiệm làm Giám Mục tiên khởi quản nhiệm Giáo Phận, hiệu tòa Gadara. Trường Cuenot tạm dùng làm Tòa Giám Mục. Chính Ðức Cha C.Dreyer, Khâm sứ Tòa Thánh tại Ðông Dương, đã từ Huế vào tấn phong cho vị Giám Mục mới ngay tại Nhà Thờ Chánh Tòa Kontum ngày 23.6.1932.
Công việc đầu tiên và ưu tiên của vị tân Giám Mục là cho xây Chủng Viện Thừa Sai Kontum (1935 - 1938). Nhà hoàn toàn bằng gỗ cà chích, dài 100m, vách trần bằng rơm và bùn đất, mái lợp ngói. Một kiệt tác. Chính Ðức Giám Mục thiết kế và trông coi tới hoàn thành. Ngài còn cho thực hiện nhà in, hệ thống dẫn thủy nhập điền, hệ thống thủy điện. Gặp buổi khó khăn, Ngài cũng tự chế chiếc ô-tô bánh xe bằng gỗ để di chuyển. Giáo Phận có cả một xưởng lao động để giải quyết công việc trong Giáo Phận và đào tạo các tay nghề. Công việc Truyền Giáo vẫn tiến triển mạnh mẽ. Các địa sở ngày càng phát triển.
Ngoài tờ báo Hlabar Tơbang cho Yao Phu, Giáo Phận còn có các tạp chí Chức Dịch Thơ Tín (1933) cho Hội Chức Việc Á Thánh Năm Thuông Giáo Phận Kontum, Tạp chí Les Echos (1941) - sau đổi thành tờ báo Dư Âm, năm 1968 đổi thành tờ Tiếng Vang, tạp chí dành cho các Linh Mục Giáo Phận. Trước đây vị khai sáng Miền Truyền Giáo Tây Nguyên, Ðức Cha Stêphanô Cuenot Thể đã điều khiển Giáo Phận mênh mông từ hầm trú bằng thư từ suốt 26 năm trời, thì ngày nay vị Giám Mục của Kontum cũng dùng hình thức tạp chí để huấn luyện và nuôi dưỡng từng lớp nhân sự trong Giáo Phận.
Ngày 22.4.1942, Linh Mục Gio-an Si-on Khâm đã được tấn phong Giám Mục kế vị Ðức Cha M. Jannin Phước qua đời năm 1940 hưởng thọ 73 tuổi (1867 - 1940). Ngài đã chuyển Tòa Giám Mục từ trường Cuenót về Chủng Viện Thừa Sai... Thế giới chiến tranh 2 (1939 - 1945) cũng đã cản trở công cuộc Truyền Giáo Tây Nguyên phần nào. Khi Thế Chiến chấm dứt, thì lịch sử Giáo Phận cũng sang trang mới.
2. 2. Gian Nan và Vinh Quang (1945 - 1960)
Ý thức Giáo Phận đang phải trải một giai đoạn hết sức tế nhị và khó khăn, nên ngày 5.12.1943, Ðức Giám Mục Giáo Phận đã dâng hiến toàn thể Giáo Phận cho Trái Tim Vẹn sạch Ðức Trinh Nữ Maria. Nghi thức diễn ra trọng thể tại Nhà Thờ Chánh Tòa... Thế chiến vừa chấm dứt, cuộc nội chiến lại xảy ra. Một Giáo Phận miền núi càng gặp cảnh khó khăn trăm chiều. Ðức Cha Gio-an Si-on Khâm vẫn cố chèo chống.
Quân đội Nhật đã tập trung các vị thừa sai về Nha Trang. Sau một thời gian tất cả đã được thả và trở lại địa sở (7.1946). Trước tình hình mới của xã hội, việc đầu tiên ngài làm là xin Tòa Thánh cắt Attâpư trả về Giáo Hội Lào. Ngài xúc tiến việc thiết lập Trường Lý Ðoán (Ðại chủng viện) riêng cho Giáo Phận Kontum, vì tình hình lúc bấy giờ không thể gửi các Ðại Chủng Sinh vào Sài-gòn hay ra Hà Nội.
Ngày 16.6.1944, ngài ban hành Facultates Majoris Seminarii Kontumensis. Năm 1946, ngài ký ban hành Statuta Ordinarii pro Anlumnis Majoris Kontum. Trường Lý Ðoán đã bắt đầu hoạt động với con số khiêm tốn khoảng 10 Ðại Chủng Sinh. Chính Ðức Cha làm giám đốc, cha Crétin làm giáo sư, cha Thomann làm quản lý.
Song song việc đào tạo Linh Mục, ngài đã xin phép Tòa Thánh cho thiết lập Hội Dòng Ảnh Phép la, một hội dòng nữ dân tộc. Lúc đầu không được Tòa Thánh chấp thuận, vì trong Giáo Hội đã có nhiều Hội Dòng rồi, Ðức cha không bỏ cuộc. Ngài tha thiết trình bày với lý lẽ vững chắc: muốn có những Linh Mục, Tu Sĩ bản địa lo cho người bản địa, thì cần có những bà mẹ Công Giáo thực sự?????????, vì thế việc thiết lập một Hội Dòng đào tạo các thiếu nữ dân tộc thật là chính đáng và thiết thực. Thánh Bộ đã chấp thuận. Hội Dòng đã được chính thức thành lập ngày 6.4.1947. Qua dòng lịch sử, cũng như Hội Yao Phu, Hội Dòng Ảnh Phép Lạ đã giữ một vai trò độc đáo và quan trọng trong Giáo Phận.
Ngày 19.8.1951, Ðức Cha Gio-an Si-on Khâm qua đời tại Montbeton (Pháp), Cha Paul Seitz Kim đang coi Viện Cô Nhi Ki-tô Vua ở Thái Hà Ấp, Hà Nội, được bổ nhiệm kế vị. Lễ tấn phong diễn ra tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội, ngày 3.10.1952. Dưới sự dìu dắt của vị Tân Giám Mục, Giáo Phận đã có những bước tiến vượt bực. Là con người đầy nhiệt huyết, với tuổi đời 46, ngài đã hăng say bắt tay củng cố Giáo Phận sau nhiều năm chiến tranh.
Nhờ số Giáo Dân Kinh tăng vọt qua các đợt di cư từ Bắc hoặc lên Dinh điền từ Miền Trung, nhiều xứ họ sầm uất đã mọc lên khắp Miền Cao. Sinh hoạt của Giáo Phận sống động hơn nhiều. Nhiều xứ họ mới đã hình thành dọc các quốc lộ 19, 14 cũng như các tỉnh lộ mới mở. Số Linh Mục cũng đông đảo hơn. Có lúc đã lên tới cả 100. Nhiều anh chị em tại các dinh điền đã hăng say gia nhập Hội Thánh Chúa. Ơn gọi Chủng Sinh và Tu Sĩ cũng dồi dào, đặc biệt từ các xứ đạo di cư Miền Ban Mê Thuột. Công cuộc Truyền Giáo mang một sức sống mới.
Ðây cũng là giai đoạn Truyền Giáo cho người Jrai được tiếp nối với sự xuất hiện của Cha Jacques Dournes, một nhà nhân chủng học, một vị thừa sai lỗi lạc. Ngài đã từ phía dân tộc K?Ho, Lâm Ðồng, đi xuyên qua lãnh thổ bộ tộc Rađê vào vương quốc bộ tộc Jrai. Ngài dừng chân ở Cheo Reo, Phú Bổn ngày 1.8.1955.
Ngay từ 1850, Ðức Cha Cuenot Thể và các Thừa Sai đã nghĩ tới việc truyền giáo cho Jrai. Cha Fontaine đã được phân nhiệm lo công tác này. Trung tâm Plei Chư đã được thiết lập riêng cho công việc này. Nhưng kết quả không được dồi dào như nơi các bộ tộc Sêđăng hay Bahnar. Các địa sở Jrai Hạ Bầu (Huyện ÐăkÐoă), Plei Ngol Khop (Huyện Ðức Cơ) hoặc Plei Kơbey (Huyện Sa Thầy) là những thành quả khiêm tốn thuở ban đầu.
III. GIAI ÐOẠN 3
3. 1. TIẾN BƯỚC DƯỚI ÁNH SÁNG CÔNG ÐỒNG CHUNG VATICAN 2 (1960 - 1975)
Ngày 24.11.1960, Tòa Thánh đã ban Tông Hiến Venerabilium Nostrorum thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Giáo PhậnÐại Diện Tông Tòa Kontum trở thành Giáo PhậnChánh Tòa. Giáo Phậnvào thời điểm này có 73.966 Giáo Dân, 271 Họ Ðạo và 66 Linh Mục.
Ngày 10.11.1962, Ðức Thánh Cha Gio-an 23 long trọng khai mạc Công Ðồng Vatican 2. Làn gió Chúa Thánh Thần đã thổi tung mọi cánh cửa tâm hồn và ban sức mạnh cho các người thợ trong cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên. Nhiều Hội Dòng đã tình nguyện lên truyề? giáo Tây Nguyên. Tiên phong là Dòng Thánh Phao-lô Thành Charles thuộc Tỉnh Dòng Sài-gòn. Dòng Mến Thánh Giá Kontum đổi thành Dòng Nữ Vương Hòa Bình và chuyển xuống Buôn Mê Thuột chuẩn bị thiết lập Giáo Phận mới.
Việc cử hành Phụng Vụ bằng tiếng bản xứ đã có một tác động mạnh mẽ. Sinh hoạt trong các Xứ Họ đã nổi hẳn: càng ngày có nhiều người tin theo Ðạo. Bộ mặt Tây Nguyên cũng đổi mới. Các thị tứ đã mọc lên nhanh chóng. Ðời sống kinh tế phát triển mạnh, mặc dầu chiến tranh vẫn có đó. Từ 1965, nhiều đồng bào từ các dinh điền ở xa đã chạy về thành thị, đặc biệt là thị xã Pleiku. Số đồng bào này quy tụ những họ đạo mới như Hoa Lư, Hiếu Nghĩa, Hiếu Ðức, Hiếu Lễ, Phao-lô Trà bá 2.
Năm 1969 các cha các thầy Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam do cha An-tôn Vương Ðình Tài dẫn đầu đã lên tiếp nối công trình của cha J.Dournes. Chiếu ngày 10.10.1969, Ðức Cha P. Seitz Kim đích thân lái xe Land Rover đưa cha An-tôn Tài, thầy Giu-se Tín, thầy Phê-rô Mầu và Tu sĩ Lê-ô-na-đô xuống Pleikly. Ðứng ngay bên đường nhìn về phía làng, Ðức Giám Mục đọc một đoạn Kinh Thánh, giơ tay cầu nguyện và chúc lành cho công việc truyền giáo của 4 vị Thừa Sai Việt nam, rồi lên xe về thẳng Tòa Giám Mục. Các vị Thừa Sai mới nhận được bài học hoàn toàn phó thác để cho Thần Khí Chúa hướng dẫn.
Bắt đầu trọ trẹ vài tiếng Jrai vào làng xin trú đêm ! Bị từ chối, vì gặp ngày kiêng kỵ của làng, các vị gặp cảnh "bơ vơ?. Sau đó, các vị mượn được một "gian nhà bỏ hoang" làm nơi tạm trú. Công việc bắt đầu như thế trong khi chiến tranh mỗi ngày mỗi thêm ác liệt ! Bao khó khăn thử thách dồn tới ! Cơ sở mới gây dựng bước đầu bị đốt cháy, các ngài phải "rời" khỏi Pleikly, rút về thị xã Pleiku lập Trung Tâm Maranatha gần PleikuRoh, sau chuyển xuống Pleichuet. Nhưng hạt giống đã gieo cứ âm thầm phát triển và nở rộ đúng vào dịp Ðức Thánh Cha tôn phong 117 Vị Thánh Tử Ðạo tại Việt Nam ngày 19.06.1988 ! Tới nay con số tân tòng Jrai đã lên tới 15.000 trong khi số?dự tòng cũng trên 8.000. Mỗi dịp Lễ Phục Sinh tổng cộng số lãnh nhận Thanh Tẩy thuộc 3 Trung Tâm Truyền Giáo Jrai: Pleichuet, Pleikly và Cheoreo-Tơlui - cũng trên cả 1.500 người.
Với sức sống phát triển mạnh mẽ như thế, năm 1967 Tòa Thánh chấp thuận cắt Tỉnh Daklak khỏi Giáo Phận Kontum và Tỉnh Phước Long của Giáo Phận Ðà Lạt để thiết lập Giáo Phận mới Buôn Mê Thuột. Giáo Phận Kontum còn 3 Tỉnh Kontum, Pleiku và Phú Bổn. Và từ 1975, Giáo Phận Kontum lại bắt đầu một trang sử mới !
3. 2. TIẾP BƯỚC THEO QUYỀN NĂNG THẦN KHÍ CHÚA (1975 đến nay)
Một giai đoạn mới đã bắt đầu. Nếu 3 lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà, thì một lần di tản còn tệ hơn cả?cháy nhà. Thế mà dân miền Kontum-Pleiku đã phải di tản tới 3 lần: 1968, 1972 và 1975. Mỗi lần di tản có khi 2,3 tháng sau mới trở về. Họ bỏ nhà cửa chạy xuống Nha Trang, xuống tận Sài-gòn. Coi như sạch bách. Một số lớn Giáo Dân đi mà không về lại. Số trở về phần đông lại quá muộn ! Gần 100 Linh Mục nay còn lại 45 vị. Chỉ sau 13 năm đã có tới 15 Linh Mục qua đời trong khi chỉ thêm có 4 Linh Mục mới. Tuổi trung bình là 61. Tiểu Chủng Viện ngưng hoạt động từ cuối năm 1975. Ðại Chủng Viện giải tán năm 1976. Ðặc biệt gần 30.000 Giáo Dân Sêđăng và nhiều cộng đoàn Giáo Dân Bahnar miền Bắc Kontum sống cảnh "côi cút" nhiều năm. Không Linh Mục, không Tu Sĩ, không nơi thờ phượng ! Tất cả phó thác cho các Yao phu bám trụ coi sóc ! Dịp Lễ Giáng Sinh, Phục Sinh phố xá Kontum tràn ngập Giáo Dân Sêđăng, Bahnar về dự lễ. Cơm gói cơm ống nằm la liệt sân cỏ Nhà thờ Chánh Tòa, sân Tòa Giám Mục... để chờ dự lễ.
Sau có thêm nhiều Giáo Dân từ các miền khác đất nước lên lập nghiệp, tại vùng sâu vùng xa, tại các nông trường, các điểm kinh tế mới. Số Giáo Dân đã tăng lên tới 156.770 năm 1998 chưa tính số Giáo Dân tại các vùng sâu, vùng xa, những vùng Nông trường, kinh tế mới tự do cũng như trong các đơn vị lực lượng vũ trang vì chưa có điều kiện lui tới để làm thống kê ! Con số Giáo Dân hiện trên 180.000 cho thấy "Việc Chúa làm thật vĩ đại !" Trong khi Giáo Phận trở nên "nghèo khó" nhiều mặt, thì Dân Chúa lại cứ thêm đông ! Việc Chúa làm nào ai thấu nổi ! Chúa có cách hoạt động riêng của Ngài ! Ngài là chủ lịch sử !
(Ảnh chụp Linh Mục đoàn GP. Kontum ngày 29.9.2000, vắng 3 Linh Mục đang học bên Pháp)
TRƯỚC MỘT TƯƠNG LAI ÐẦY TRÁCH NHIỆM VỚI NHIỀU THÁCH ÐỐ MỚI
Miền Truyền Giáo Tây Nguyên đã bước đầu thành công nhờ sáng kiến và quyết tâm của Ðức Cha Thánh Tử Ðạo Stêphanô Théodore Cuenot Thể. Có Cha Do tiên phong cùng với hàng hàng lớp lớp các vị thừa sai Giáo Dân và Giáo Sĩ. hăng say dấn thân lên đường. Hỗ trợ cho công việc Truyền Giáo, các vị chủ chăn đã tận dụng phương thức báo chí để nuôi dưỡng đoàn chiên.
Năm 1998, được phép Tòa Thánh, Giáo Phâ? Kontum mở Năm Thánh Mừng 150 năm kể từ ngày Thầy Sáu P.X. Nguyễn Do đã thành công mở đường cho các vị Thừa Sai lên truyền giáo Vùng Kontum, rồi sau được mở rộng khắp Vùng Tây Nguyên. Miền rừng thiêng nước độc của ngày nào nay đã trở thành miền đất hiền lành và hiếu khách. Trong ngày cao điểm, ngày 12.11.1998, Giáo Phận đã được hân hạnh đón tiếp 17 Giám Mục, gần 300 Linh Mục, đông đảo các Tu Sĩ nam nữ cũng như anh chị em tín hữu xa gần về dự lễ tại Nhà Thờ Chánh Tòa Kontum. Gặp nhau để cùng nhau cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa bao kỳ công Chúa đã thực hiện qua bàn tay của các vị sứ giả Tin Mừng.
Sau những ngày mừng lễ sốt sắng, Giáo Phận Kontum trở lại với thực tế đầy căm go thử thách, nhưng cũng nhiều hy vọng chứa chan. Số linh mục, tu sĩ không nhiều, nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao. Số anh chị em tìm về với Hội Thánh Chúa càng nhiều, không chỉ anh chị em Dân Tộc, nhưng có cả anh chị em Kinh. Nhiều vấn đề đặt ra cho Giáo Phận.
Vấn đề nhân sự để phục vụ Lời, phục vụ Hội Thánh Chúa. Ðây là vấn đề hàng đầu: đào tạo người tông đồ giáo dân và đào tạo các linh mục, tu sĩ. Giáo Phận Kontum đã có một truyền thống đào tạo người Giáo Dân ngay từ những ngày đầu của Miền Truyền Giáo Tây Nguyên. Chính các vị Câu biện đã đi hàng đầu và dẫn các phái đoàn đi tìm đường lên Miền Cao. Cùng đi còn có các chị Nữ Tu Mến Thánh Gía. Giáo Phận đã được thừa hưởng 2 tổ chức đào tạo người Tông Ðồ Giáo Dân: Hội Yao Phu và Hội Dòng Ảnh Phép Lạ. Chương trình "người ngưòi hầu việc Chúa, nhà nhà hầu việc Chúa, xư xứ hầu việc Chúa, và cả Giáo Phận hầu việc Chúa" vẫn là ước nguyện khôn nguôi của Giáo Phận. Nhiều nơi trong Giáo Phận hiện không linh mục, không Nhà Thờ, không Phụng Vụ Thánh Lễ... nhưng có người Tông Ðồ Giáo Dân hiện diện.
Không thể có ơn gọi Linh Mục Tu Sĩ, không thể có những Linh Mục, Tu Sĩ thánh thiện cũng như những Tông Ðồ Giáo Dân đích thực, nếu gia đình không được chăm chút đặc biệt. Gia đình là nền tảng ! Gia đình đã và đang giữ vai trò vô cùng to lớn trong việc duy trì và phát triển đời sống lòng tin của đoàn Dân Chúa !
Vấn đề phục vụ người nghèo cũng là một vấn đề lớn ! Nhiều anh chị em chung quanh vẫn còn nghèo ! Phải làm gì để anh chị em ngày "được dùng đủ", được có mực sống xứng phẩm giá con người, người con của Chúa, cách riêng những anh chị em thuộc các sắc dân ít người ! Giáo Phận luôn trăn trở.
Nhưng vấn đề giáo dục con tim, giáo dục lương tâm đạo đức của con người trong một thế giới tục hóa và hưởng thụ hôm nay lại càng cấp thiết hơn: lo sao giúp cho con người, cách riêng lớp trẻ được phát triển hài hòa giữa khối óc và con tim để có khả năng biết yêu thương và dấn thân phục vụ hết tình, để cùng nhau xây dựng môi trường sống trên nền tảng sự thật, công bình và thương yêu !
Và phải chăng vấn đề truyền giáo cho người dân tộc đã đến lúc trở thành vấn đề lớn không chỉ của riêng Giáo Phận Kontum ! Ðâu đâu trên đất Việt đều có anh chị em dân tộc khao khát đi tìm Lời Chúa ! Vấn đề hội nhập văn hóa, đưa tinh thần Tin Mừng vào ngay chính nền văn hóa của mỗi dân tộc cũng đã và đang là một thách đố lớn cho tất cả những ai đang phục vụ trên cánh đồng truyền giáo !
Và Miền đất Truyền giáo Kontum vẫn vẫy gọi tất cả những con người thiện chí dấn thân phục vụ để cách riêng các anh chị em dân tộc được chăm sóc ngõ hầu ngày càng được phát triển xứng phẩm giá những con người, những người con của Chúa và được sống hài hòa với tất cả các thành viên của một cộng đồng đang có diễm phúc sống trên Miền Ðất Ðỏ hiền lành hôm nay !
TỔ CHỨC GIÁO PHẬN
1. CÁC GIÁM MỤC:
Ðức Cha Martial Jannin (Phước Giám Mục tiên khởi, Ðại Diện Tông Tòa (1932 - 1940).
Ðức Cha Jean Sion (Khâm) Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa (1942 - 1951).
Ðức Cha Paul Seitz (Kim) Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa (1952 - 1960), Giám Mục Chính Tòa Kontum (1960 - 1975), qua đời tại Paris năm 1982.
Ðức Cha Alexis Phạm Văn Lộc (1975 - 1995), sinh: 17.3.1919, Huế, Linh Mục: 21.8.1951, Giám Mục phó: 17.3.1995, Giám Mục chính: 2.10.1975, về hưu: 3.4.1995.
Ðức Cha Phêrô Trần Thanh Chung, sinh: 1926, Linh Mục: 25.8.1955, Giám Mục phó: 22.11.1981; Giám Mục chính: 13.4.1995
2. TỔ CHỨC HIỆN NAY:
Giám Mục Giáo Phận: Ðức Cha Phê-rô Trần Thanh Chung
Linh Mục Tổng Ðại Diện: Linh Mục Mi-ca-e Hoàng Ðức Oanh
Các Linh Mục đặc trách: Thư ký Tòa Giám Mục: Linh Mục Giu-se Nguyễn Thanh Liên. Ban Thánh nhạc: Linh Mục Giu-se Phạm Minh Công. Ban Giáo Lý: Linh Mục Tô-ma Nguyễn Văn Thượng. Ban Phát Triển: Linh Mục Giu-se Ðỗ Hiệu. Ban Xây Dựng: Linh Mục Phê-rô Nguyễn Vân Ðông. Quản Lý Giáo Phận: Linh Mục Phao-lô Nguyễn Ðức Hữu.
3. CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ KHÁC:
Diện tích Giáo Phận: 25.728 km2 với 249 Họ Ðạo.
Giáo Dân: 181.063 Giáo Dân trên tổng số 1.300.000 dân.
Linh Mục: 37, cùng với 21 Ðại Chủng Sinh và 45 dự bị.
Tu Sĩ: 163 (6 nam,157 nữ).
Tông Ðồ Giáo Dân: 648 Yao Phu, 748 chức việc, 1.232 Giáo Lý Viên.
Lược Sử Giáo Phận KONTUM 2000, Hết