6/1/2004 Thứ Ba
"Một Văn Kiện Quí
Giá và Quan Trọng Nhất Lịch Sử Loài Người"
Thứ Tư
10/12/2003, ngày đúng 55 năm về trước, Liên Hiệp Quốc đă công bố Bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Quát. ĐTGM Celestino Migliore, quan sát viên
thường trực của Toà Thánh ở Liên Hiệp Quốc đă nói trước phiên họp 58 của
Tổng Hội Nghị về Mục Chương Tŕnh 48: Mừng Kỷ Niệm Năm 55 Bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền Phổ Quát.
Thưa Ngài Chủ Tịch,
Đại biểu tôi hân hạnh được tham dự vào việc cử hành mừng 55 năm kỷ niệm
việc ban hành và chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền. Việc phát
triển đặc biệt ngoại lệ trong việc bảo vệ các thứ quyền lợi của con
người là những ǵ được căn cứ vào các truyền thống trọng đại nhất của
jus gentium (Luật Lệ của Các Quốc Gia), một thứ luật lệ được đặt căn bản
trên giá trị luân lư khách quan như lư trí lành mạnh nhận thức. Nguyên
tắc lư trí lành mạnh là cốt lơi của một thứ lề luật tự nhiên đă từng soi
động và tiếp tục làm sinh động Bản Tuyên Ngôn Chung này. Những vị học
giả khả kính đă ghi nhận mối liên hệ bất khả tháo gỡ giữa lề luật tự
nhiên và thực tại gồm tóm tất cả mọi quyền lợi của con người cùng với
các thứ quyền tự do căn bản của con người cũng như của các dân tộc là
những ǵ bất khả chuyển nhượng.
Khi chúng ta khảo sát Bản Hiến Chương này, chúng ta mới càng nhận thấy
cái thắt nối giữa Tổ Chức Liên Hiệp Quốc và Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân
Quyền, một trong những văn kiện quí giá và quan trọng nhất trong lịch sử
loài người. Những vị luật sư thời trung cổ và những diễn giả luật pháp
hăng say thuộc thế kỷ 16, như Vitoria và Suárez đă khai triển những tiền
đề cho các nguyên tắc căn bản liên quan đến quyền lợi của con người,
những thứ quyền lợi phát xuất từ cái chính yếu và phẩm giá của con
người… Những thứ quyền lợi này không phải là những ǵ do Quốc Gia tạo
nên mà là bắt nguồn từ tính chất và bản tính của chính nhân tính … Thật
vậy, chúng ta không cần phải đi đâu xa xôi mới có thể thấy được tác dụng
của Bản Tuyên Ngôn Chung này đă thực hiện đối với rất nhiều những giải
pháp được Tổng Hội Đồng ban bố. Cũng thế, Bản Tuyên Ngôn này đă có một
tầm ảnh hưởng tích cực nơi những bản hiến pháp quốc gia cũng như nơi
những thứ luật căn bản của quốc gia là những ǵ đă được soạn thảo trong
những thập niên vừa qua.
Trong việc xác định một số quyền lợi căn bản phổ quát cho hết mọi phần
từ của gia đ́nh nhân loại, Bản Tuyên Ngôn đă thực sự đóng góp vào việc
phát triển luật lệ quốc tế. Ngoài ra, nó cũng giải quyết những thách đố
của những thứ luật lệ nhân bản chối bỏ con người nam nữ phẩm giá họ có
quyền hưởng v́ thân phận làm người của họ. Tiếc thay, những quyền lợi
căn bản, đă được công bố, thành văn và cử hành trong Bản Tuyên Ngôn
Chung, vẫn c̣n là đối tượng của những vi phạm trầm trọng và liên tục.
Thế nhưng, có những thách đố khác cho việc áp dụng thi hành các thứ
quyền lợi của con người. Chẳng hạn như khuynh hướng của một số người chỉ
muốn các thứ quyền lợi phục vụ cho bản thân ḿnh mà thôi, khuynh hướng
của một số người chỉ muốn những thứ quyền lợi phục vụ bản thân họ mà
thôi. Ở một số trường hợp, những ǵ bất khả tách rời với một số con
người đồng thời lại bị chối bỏ đối với những người khác. Trường hợp điển
h́nh là việc chối bỏ một thứ quyền lợi căn bản nhất, đó là chính quyền
sống, một thứ quyền là nguồn gốc phát xuất của tất cả mọi thứ quyền khác
theo tự nhiên cũng như luận lư. Những việc làm như thế đe dọa đến tính
chất nguyên tuyền của Bản Tuyên Ngôn đây. Bất cứ một thứ ngờ vực nào về
tính cách phổ quát hay hiện hữu của những qui chuẩn bất khả giảm giá trị
sẽ làm suy yếu toàn thể lâu đài quyền lợi con người.
V́ càng ngày càng có khuynh hướng tiến đến một đường lối hay nhất đối
với các thứ quyền lợi của con người, đại biểu tôi muốn ủng hộ cái nhăn
quan nguyên thuỷ của Bản Tuyên Ngôn này, một nhăn quan cho thấy các thứ
quyền lợi về chính trị và dân sự là những ǵ không thể châm chước cho
đức công b́nh của xă hội và kinh tế, hoặc ngược lại. Trong kỷ nguyên
toàn cầu hoá nhanh chóng này, thời điểm mà các quốc gia nghèo khổ đang
phải đương đầu với cuộc thách đố hiểm nghèo liên quan tới t́nh trạng bất
ổn định về chính trị xă hội cũng như về nền kinh tế, cộng đồng thế giới
cần phải tiếp tục cố gắng để cùng nhau mang lại hai cái nửa của một linh
hồn bị phân rẽ về dự án nhân quyền – tức việc khẳng định vang vọng của
quyền tự do và tính cách nhất trí của nó nơi gia đ́nh nhân loại duy nhất
là những ǵ ai ai cũng phải có trách nhiệm chung. Thật vậy, một trong
những mối đe dọa lớn nhất ngày nay đối với tính chất liêm khiết của Bản
Tuyên Ngôn được phát xuất từ khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa thái quá
thường đưa đến t́nh trạng mạnh được yếu thua. Và đó là vấn đề khó nuốt
đối với Bản Tuyên Ngôn này cũng như đối với các thứ quyền lợi căn bản
được nó cổ vơ và bảo vệ.
Thưa Ngài Chủ Tịch, việc chấp nhận những nguyên tắc phổ quát này không
có nghĩa là cần phải làm cho chúng sống động ở mọi nơi theo cách tức
giống như nhau. Phổ quát tính không cần phải được kèm theo đồng nhất
tính. Thật vậy, những nhà kiến tạo Bản Tuyên Ngôn Chung này đă thấy đợc
tính cách đa diện ợp lư nơi các h́nh thức của quyền tự do. Như một học
giả khả kính c lần đă nói: "có nhiều loại nhạc khác nhau được tŕnh
diễn trong 30 giây đàn của Bản Tuyên Ngôn này". Tiếc thay, việc hiểu
biết đa dạng tính ấy thường không đợc lưu ư tới, ngay cả bởi những người
bạn hữu của dự án nhân quyền nữa.
Thưa Ngài Chủ Tịch,
thế giới chúng ta đang sống đây hiện hữu dưới bóng tối chiến tranh,
khủng bố và các h́nh thức đe dọa đến sự sống c̣n của loài người cũng như
đến phẩm vị bẩm sinh của con người. Ở tận căn gốc của những thứ bóng tối
tăm này là việc chối bỏ một số quyền lợi phổ quát. Khốn thay, chính nhân
loại lại là kẻ làm phát tỏa ra những thứ bóng tối tăm này. Tuy nhiên,
chúng ta cũng học được sự khôn ngoan trong việc sử dụng ánh sáng của lư
trí lành mạnh để đánh tan chúng đi. Những nguyên tắc cao quí chất chứa
trong Bản Tuyên Ngôn Chung này sẽ giúp cho chúng ta đạt tới mục đích là
một tương lai sáng lạn cho tất cả mọi người, chứ không phải cho một số
nào trong gia đ́nh nhân loại.
Trong dịp mừng kỷ niệm 55 năm năm này,
chúng ta vẫn c̣n cần phải đặt vấn đề là những ǵ đă từng xẩy ra cho
quyền lợi của mọi người ‘thuộc lănh vực xă hội và quốc tế là những lănh
vực các thứ quyền lợi và quyền tự do được phác họa trong Bản Tuyên Ngôn
này có thể hoàn toàn được hiện thực’ (khoản 28)? Phẩm giá con người,
quyền tự do và niềm hạnh phúc được Bản Tuyên Ngôn này nh́n nhận sẽ không
hoàn toàn được hiện thực mà lại thiếu t́nh đoàn kết giữa tất cả mọi dân
nước. Được tác động bởi gương sáng của tất cả những ai h́nh thành Bản
Tuyên Ngôn này, thành phần dấn thân trước thách đố của tự do, chẳng lẽ
chúng ta lại không thể tái dấn thân trước thách đố của tính đoàn kết –
cũng là thách đố của hoà b́nh hay sao?
Mặc dù Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền giờ đây được 55 tuổi, vẫn c̣n
nhiều điều được nó hứa hẹn cần được tiếp tục hoàn tất. Tuy nhiên, nó vẫn
c̣n là ‘một trong những lời bày tỏ cao nhất của lương tâm con người
trong thời đại của chúng ta đây’ (John Paul II, Address to the U.N.,
October 2, 1979 and October 5, 1995). Đại biểu tôi tin rằng Bản Tuyên
Ngôn này sẽ tiếp tục đóng vai tṛ làm hải đăng cho cuộc con người hành
tŕnh tiến về một xă hội tự do, công bằng và an b́nh hơn.
Cám ơn Ngài Chủ Tịch.
Đaminh Maria Cao Tấn
Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ tài liệu của Toà Thánh được Zenit phổ biến
ngày 12/12/2003.
NHÂN QUYỀN
Trên tờ 1 Dollar Mỹ, chúng ta thấy có hai con số
lịch sử liên quan đến nhân quyền. Con số thứ nhất là 1776, Năm Khai Sinh
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, con số được viết bằng hàng mẫu tự La Mă
MDCCLXXVI nằm ở mặt mầu xanh lá cây của đồng tiền, dưới chân h́nh Kim Tự
Tháp; và con số thứ hai là 1789, Năm Cách Mạng Pháp, con số được viết
bằng số Hy Lạp, nằm ở mặt mầu trắng của đồng tiền, dưới đáy ṿng chữ Bộ
Ngân Khố “The Department of the Treasury”.
Phải, năm 1776 và 1789, theo lịch sử thế giới, là hai năm thuộc hậu bán
thế kỷ 18, một thế kỷ đă đánh dấu những bước đầu tiên của một kỷ nguyên
văn minh chẳng những về khoa học kỹ thuật mà c̣n cả về nhân bản nữa, ở
chỗ con người đă bắt đầu ư thức được nhân quyền của ḿnh. Tuy nhiên, dầu
sao hai năm lịch sử này cũng mới chỉ là thời điểm mở màn cho một màn bi
hùng kịch được kết thúc vào năm 1948, với Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của
Tổ Chức Liên Hiệp Quốc ban bố ngày 10/12, một bản tuyên ngôn có tầm vóc
quốc tế chứ không phải chỉ có tầm vóc của một quốc gia, như Bản Tuyên
Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ được ban hành ngày 4/7/1776. Thế nhưng, để biết được
tiến tŕnh lịch sử về văn minh nhân bản của con người từ hậu bán thế kỷ
18 đến trung bán thế kỷ 20, chúng ta cũng nên đọc lại và suy tư một số
những khoản trọng yếu trực tiếp liên quan đến Nhân Quyền trong hai bản
Tuyên Ngôn quan trọng này. Những Ư Thức về Nhân Quyền thuộc lănh vực
trần thế này rất gần gũi với Học Thuyết Xă Hội Kitô Giáo, một học thuyết
phát xuất từ Phúc Âm Chúa Kitô, một Tin Mừng Sự Sống đă thấm nhuần và
làm nên chân dung văn hoá đích thực của Âu Châu, một Âu Châu đă đi khắp
thế giới để truyền bá văn minh phúc âm hoá từ thế kỷ 16.
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được chia làm 4 phần rơ rệt: phần thứ nhất là Lời
Ngỏ Mở Đầu, phần thứ hai là Tuyên Ngôn Quyền Lợi, phần thứ ba là Cáo Thị
Luận Bác và phần thứ bốn là Công Bố Độc Lập. Trong bốn phần này, căn bản
nhất và trọng yếu nhất là phần thứ hai, phần Tuyên Ngôn Quyền Lợi. V́
những Ư Thức về Nhân Quyền trong phần thứ hai về Tuyên Ngôn Quyền Lợi
này mới dẫn đến phần ba là phần bao gồm những Cáo Buộc Luận Bác đối với
Vua Đại Anh Quốc, một quyền bính đă áp đặt chế độ thực dân trên Hoa Kỳ,
hoàn toàn phản lại với những Ư Thức về Nhân Quyền trong phần hai, một
t́nh trạng cần phải được tái thiết lập theo đúng như những Ư Thức về
Nhân Quyền, được thể hiện bằng việc tranh đấu để giành Tự Do và Độc Lập,
một cuộc tranh đấu đă được kết thúc bằng việc Công Bố Độc Lập, phần thứ
tư của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Vậy phần Tuyên
Ngôn Quyền Lợi hết sức quan trọng trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ đă
được Quốc Hội công nhận ngày 4/7/1776 và sau đó đă được đa số 56 vị đại
diện thuộc 13 tiểu bang tiên khởi của Hoa Kỳ kư ngày 2/8/1776, bao gồm
những Ư Thức về Nhân Quyền ra sao?
“Chúng tôi chủ trương đây là những chân lư
minh nhiên, đó là, tất cả mọi con người đều được dựng nên b́nh đẳng, đó
là, họ được Hoá Công ban cho một số Quyền Lợi bất khả xúc phạm, đó là,
trong số những quyền lợi này có Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền theo
đuổi Hạnh Phúc.
“Đó là, để bảo toàn những quyền lợi này, cần phải thiết lập Chính Quyền
nơi Con Người, với quyền hạn chính đáng được phát xuất từ sự ưng thuận
của dân chúng.
“Đó là, bất cứ Thể Chế Chính Quyền nào trở thành nguy hại cho những mục
tiêu quyền lợi ấy th́ Dân Chúng Có Quyền thay đổi hay loại trừ nó, để
thiết lập một Chính Quyền mới, được đặt căn bản trên những nguyên tắc
quyền lợi này, và tổ chức quyền hạn của nó theo một thể chế có thể đối
với họ mang lại hiệu quả tốt đẹp cho t́nh trạng An Sinh và Hạnh Phúc của
họ”.
Căn cứ vào Tuyên Ngôn Quyền Lợi thuộc phần thứ hai trong Bản Tuyên Ngôn
Độc Lập Hoa Kỳ, chúng ta thấy những điểm chính yếu sau đây:
• Về phương diện bẩm sinh cá nhân, có ba Quyền Lợi chính: đó là Quyền
Sống, Quyền Tự Do và Quyền theo đuổi Hạnh Phúc;
• Về phương diện tổ chức xă hội, cũng có ba Quyền Lợi chính: đó là Quyền
Tuyển Chọn Thể Chế Công Quyền, Quyền Truất Phế Thể Chế Bạo Quyền, và
Quyền Tái Lập Thể Chế Chính Quyền.
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Tổ Chức Liên Hiệp
Quốc
Trước hết, về nguồn gốc của chính Tổ Chức Liên
Hiệp Quốc (The United Nations), cơ quan quốc tế này được thành lập ngày
24/10/1945 sau Thế Chiến Thứ Hai. Tổ Chức Liên Hiệp Quốc này được phỏng
theo và tiếp nối tổ chức quốc tế đă được h́nh thành sau Thế Chiến Thứ
Nhất, đó là Tổ Chức Liên Minh Chư Quốc (League of Nations). Tổ Chức Liên
Minh Chư Quốc được các nước dự phần vào cuộc chiến thắng Đại Chiến Thứ
Nhất là Pháp, Đại Anh Quốc, Ư , Nhật và Hoa Kỳ thành lập vào tháng Giêng
năm 1920 với trụ sở chính ở Geneva Thụy Sĩ. Tổng Thống Woodrow Wilson
Hoa Kỳ là người chủ chốt trong việc thành lập tổ chức quốc tế này, nhưng
đă thất bại trong việc chinh phục Hoa Kỳ tham gia vào tổ chức này, một
tổ chức bị giải tán vào tháng 6/1946, sau khi Tổ Chức Liên Hiệp Quốc
thành h́nh. Tổ Chức Liên Hiệp Quốc cũng được đa số các nước sáng lập Tổ
Chức Liên Minh Chư Quốc đứng ra thành lập. Đại diện của các nước này đă
gặp nhau ở San Francisco vào tháng Tư năm 1945 để phác họa một dự án bảo
vệ hoà b́nh thế giới, dự án được gọi là Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (the
Charter of the United Nations). Tháng 6/1945, đă có 50 nước kư nhận Bản
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc này và đă trở thành hội viên đầu tiên của Tổ
Chức Liên Hiệp Quốc. Cho tới nay, các nước hội viên Liên Hiệp Quốc đă
lên đến 159, trong đó có Việt Nam (gia nhập từ năm 1977). Trụ sở chính
của Liên Hiệp Quốc được đặt tại Nữu Ước Hoa Kỳ. Lá cờ của Liên Hiệp Quốc
cũng cho thấy mục đích phục vụ hoà b́nh của tổ chức này, đó là h́nh ảnh
thế giới được bao đỡ bởi hai cành lá Olive tượng trưng cho hoà b́nh.
Mục đích chính của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, đó là phục vụ Hoà B́nh Thế
Giới và Nhân Phẩm Con Người. Mục đích phục vụ Hoà B́nh Thế Giới của Liên
Hiệp Quốc đă được xác nhận trong Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (the
Charter of the United Nations), nhất là ở ngay phần Lời Ngỏ Mở Đầu của
bản văn kiện này, do Jan Christiaan Smuts nước Nam Phi soạn thảo, và mục
đích phục vụ Nhân Phẩm Con Người cũng đă được thể hiện nơi Bản Tuyên
Ngôn Chung Về Nhân Quyền (the Universal Declaration of Human Rights).
Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc: Lời Ngỏ Mở Đầu
“Các dân tộc thuộc Tổ Chức Liên Hiệp Quốc
chúng tôi quyết định:
• Cứu vớt các thế hệ sau này khỏi những cuộc hoạn nạn chiến tranh đă hai
lần mang lại trong thời đại của chúng tôi t́nh trạng buồn đau khôn tả
cho loài người,
• Tái xác nhận niềm tin tưởng nơi các quyền lợi căn bản của con người,
nơi phẩm vị cũng như giá trị của loài người, nơi quyền b́nh đẳng của con
người nam nữ cũng như của các quốc gia lớn nhỏ,
• Thiết lập những điều kiện có thể bảo tŕ công lư và việc tôn trọng cần
phải tỏ ra đối với những đ̣i buộc của các hiệp định cũng như của các
nguồn khác thuộc công pháp quốc tế,
• Phát động t́nh trạng tiến bộ xă hội cùng với những qui chuẩn sống
trong tự do thoải mái tốt đẹp hơn.
Và v́ những mục tiêu sau đây:
• Thể hiện việc dung nhượng và chung sống hoà b́nh với nhau như là những
cận nhân tốt lành,
• Hiệp nhất sức mạnh của chúng ta để bảo tŕ hoà b́nh và an ninh quốc tế,
• Bảo đảm lực lượng quân sự không được sử dụng nữa th́ góp phần vào việc
sinh lợi ích chung, bằng việc chấp nhận những nguyên tắc cũng như bằng
việc thiết lập những phương pháp, và
• Sử dụng guồng máy quốc tế để đẩy mạnh t́nh trạng tiến bộ về kinh tế
cũng như xă hội cho tất cả mọi dân tộc,
Chúng tôi đă quyết tâm hợp lực để hoàn thành những mục đích ấy. Bởi thế,
những Chính Quyền hiện hành chúng tôi, qua các vị đại diện họp nhau ở
thành phố San Francisco, những người có đầy đủ quyền hạn hiệu năng và
xứng hợp, đă ưng thuận với Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc này, để thiết
lập một tổ chức quốc tế được gọi là Liên Hiệp Quốc này”.
Thực tế cho thấy, từ ngày thành lập đến nay, Tổ
Chức Liên Hiệp Quốc đă phục vụ Hoà B́nh Thế Giới qua những trường hợp
điển h́nh sau đây:
Năm 1947, giải quyết Chiến Tranh Trung Đông giữa Dân Do Thái và Khối
Palestine, bằng việc chia đất Palestine thành hai quốc gia, Do Thái và Ả
Rập, nhưng Thành Giêrusalem trực thuộc Liên Hiệp Quốc. Khối Ả Rập chống
lại dự án này, và ngay sau ngày khi quốc gia Do Thái h́nh thành,
14/5/1948, tới nay, giữa năm 2002, Chiến Tranh Trung Đông vẫn kéo dài,
với những cuộc mắt đền mắt, răng đền răng, Palestine khủng bố tấn công,
Do Thái tấn công khủng bố, hầu như không ai có thể can thiệp nổi.
Năm 1947, giải quyết cuộc Tranh Giành quyền trị giữa Cộng Hoà Nam Dương
với Hoà Lan, nước muốn tái đô hộ Nam Dương nói chung và miền Đông Tân
Giunê nói riêng sau Thế Chiến II, cuộc Tranh Giành đă được hoàn toàn ổn
định vào năm 1963 và 1969.
Năm 1948, can thiệp vào cuộc xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan xẩy ra từ
năm 1947 về miền đất Kashmir, cuộc xung đột nhờ Liên Bang Nga đă tạm ổn
vào năm 1966. Nhưng cho tới nay, giữa năm 2002, hai nước này vẫn chưa
nguôi xung đột như giữa Dân Do Thái và Khối Palestine ở Trung Đông.
Năm 1948, nhúng tay vào Chiến Tranh Đại Hàn, bằng việc công nhận Cộng
Hoà Nam Hàn và coi chính phủ Nam Hàn là chính phủ chính thức duy nhất
của Đại Hàn; thế nhưng, Bắc Hàn đă tấn công Nam Hàn từ ngày 25/6/1950,
và Liên Hiệp Quốc đă giúp Nam Hàn chống cộng từ ngày 7/7/1950, thế rồi
vào tháng 10 cùng năm, Trung Cộng đă nhẩy vào ṿng chiến cho tới ngày
27/7/1953. Tuy nhiên, cho tới nay Đại Hàn vẫn chưa hoàn toàn thống nhất.
Năm 1954, can thiệp vào Cuộc Xung Đột ở Cyprus, một nước bấy giờ đang
thuộc quyền đô hộ của Anh và bao gồm hai sắc dân, Hy Lạp chiếm 80% muốn
đảo Cyprus sát nhập vào Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đa số trong 20% c̣n
lại. Cuộc xung đột dữ dội vào tháng 2/1957 đă thúc LHQ yêu cầu ba nước
Anh Quốc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ giải quyết vấn đề và nhờ đó đă giúp
Cyprus trở thành một Nước Cộng Hoà ngày 16/8/1960. Tuy nhiên, sau đó,
Cộng Hoà Cyprus vẫn tiếp tục là nơi xung đột giữa hai Nước Hy Lạp và Thổ
Nhĩ Kỳ, một lần vào tháng 12/1963, đến nỗi LHQ đă phải gửi quân tới để
giữ an ninh cho đảo này, và một lần vào tháng 7/1974, kết quả là vào năm
1983, sau khi xâm chiếm Cyprus, Thổ Nhĩ Kỳ đă tuyên bố Cộng Hoà Thổ Nhĩ
Kỳ Miền Bắc Cyprus, nhưng công bố này đă bị LHQ lên án.
Năm 1960, nhúng tay vào t́nh h́nh Congo, một nước đă được độc lập ngày
30/6/1960 sau 55 năm bị Bỉ đô hộ. Thế nhưng, sau khi Bỉ rút lui, nước
này đă bùng nổ nội chiến. Quân Bỉ đă phải trở lại để giữ an ninh. Quân
Congo yêu cầu LHQ giúp đỡ, một lực lượng đă phục hồi an ninh cho nước
này và rút khỏi nước này ngày 30/6/1964. Thế nhưng, chi phí cho cuộc văn
hồi này lên đến 450 triệu Mỹ kim, một chi phí LHQ phải một ḿnh gánh
chịu v́ Nga, Pháp và một số nước không đồng ư chung lưng gánh chịu.
Năm 1962, can thiệp vụ đầu đạn nguyên tử ở Vịnh Cuba. Ngày 22/10, Tổng
Thống Hoa Kỳ Kennedy loan báo cho thế giới biết rằng Nga Sô đang thiết
lập những căn cứ đầu đạn nguyên tử bí mật ở Cuba, nơi có thể tấn công
Hoa Kỳ qua ngả Florida với khoảng cách độ 90 dặm. Ngày 24/10 LHQ đă yêu
cầu hai cường quốc đệ nhất hoàn cầu giải quyết vấn đề với nhau. Ngày
28/10, hai bên đă giải quyết vấn đề ổn thỏa.
Bản Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền của Liên
Hiệp Quốc
Văn kiện lịch sử hết sức quan trọng nàycó hai phần
rơ rệt, phần Ư Thức và phần Xác Quyết. Phần Ư Thức cho thấy 7 lư do thúc
đẩy Liên Hiệp Quốc phác họa Bản Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền. Phần Xác
Quyết gồm 30 khoản gồm tóm tất cả mọi quyền lợi bẩm sinh bất khả vi phạm
của con người, xứng với phẩm giá làm người của họ, bao gồm đủ mọi lănh
vực về con người, như sự sống (khoản 3), phẩm vị (khoản 4, 12, 25), phát
triển (khoản 22, 28, 29), kiện cáo (khoản 5-11), hôn nhân (khoản 16),
giáo dục (khoản 26), di chuyển (khoản 13, 14, 15), sinh sống (khoản 22,
23, 24), sở hữu (khoản 17, 27), hành đạo (khoản 18), chính trị (khoản
21). Sau đây là toàn bản văn kiện Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền:
• Xét rằng, việc nh́n nhận phẩm vị bẩm sinh
và những quyền lợi b́nh đẳng bất khả vi phạm của tất cả mọi phần tử
thuộc gia đ́nh nhân loại là nến tảng của tự do, công lư và hoà b́nh trên
thế giới,
• Xét rằng, việc coi thường và khinh thị nhân quyền đă gây nên những
hành động man rợ làm cho lương tâm con người uất hận, mà việc thăng tiến
của một thế giới làm cho nhân loại được hoan hưởng quyền tự do phát biểu
và tin tưởng, tự do an vui và thoải mái, đă được công nhận là một ước
vọng cao nhất của chung con người,
• Xét rằng, nếu con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến việc nổi
loạn như là phương tiện bất đắc dĩ để chống lại với bạo quyền và đàn áp,
th́ nhân quyền thực sự cần phải được qui luật pháp lư bênh vực,
• Xét rằng cần phải đẩy mạnh việc phát triển các mối liên hệ thân hữu
giữa các dân nước,
• Xét rằng các dân tộc thuộc Tổ Chức Liên Hiệp Quốc đă tái xác nhận
trong Bản Hiến Chương của ḿnh về niềm tin của họ nơi các nhân quyền căn
bản, nơi phẩm vị và giá trị của con người cũng như nơi quyền b́nh đẳng
nam nữ, và đă quyết tâm phát động t́nh trạng tiến bộ về xă hội cùng với
những qui chuẩn sống tự do thoải mái hơn,
• Xét rằng Các Quốc Gia Phần Tử đă tự hứa quyết cộng tác với Tổ Chức
Liên Hiệp Quốc trong việc đạt đến vấn đề cổ vơ ḷng tôn trọng phổ quát
cũng như vấn đề tuân giữ nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
• Xét rằng việc hiểu biết chung về những quyền lợi và tự do này có một
vai tṛ hết sức quan trọng cho việc hoàn toàn thể hiện lời đoan quyết
này,
Bởi vậy, giờ đây, Đại Hội Đồng xin tuyên bố
Bản Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền, như là một qui chuẩn chung đối với
tất cả mọi dân tộc cũng như tất cả mọi đất nước, để giúp cho hết mọi
người và hết mọi cơ cấu xă hội, khi liên lỉ ghi nhớ bản Tuyên Ngôn này,
nỗ lực đạt đến mục đích ấy, bằng cách dạy dỗ và giáo dục để cổ vơ ḷng
tôn trọng những quyền lợi và tự do này, cũng như bằng những biện pháp
tân tiến, cả ở lănh vực quốc gia lẫn quốc tế, để rơ ràng cho thấy họ
thực sự nh́n nhận và tuân giữ một cách phổ quát và có tác hiệu, cả nơi
dân tộc của Các Nước Phần Tử cũng như nơi dân tộc thuộc các lănh địa
thuộc phạm vi quyền hạn của họ.
1. Tất cả mọi con người được sinh ra có tự do và b́nh đẳng về phẩm giá
cũng như quyền lợi. Họ được ban cho có trí khôn và lương tâm, và phải
tác hành hướng về nhau trong tinh thần huynh đệ.
2. Hết mọi người đều có quyền hưởng tất cả mọi quyền lợi và tự do được
Bản Tuyên Ngôn này phác họa, không phân biệt thứ loại, như giống ṇi,
mầu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, tư kiến chính trị ra sao, gốc gác
quốc gia hay xă hội, của cải sản vật, hoàn cảnh sinh vào đời thế nào.
Ngoài ra, không được phân biệt căn cứ vào vị thế chính trị, pháp vực hay
quốc tế của xứ sở hay lănh thổ con người thuộc về, cho dù độc lập, tùy
thuộc, không tự trị hay bị bất cứ một giới hạn về quyền trị nào.
3. Hết mọi người đều có quyền sống, tự do và an ninh bản thân.
4. Không ai phải bị bắt làm nô lệ hay tôi mọi; tất cả mọi h́nh thức nô
lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
5. Không ai phải bị hành sử hay trừng phạt một cách tàn bạo hay dă man,
nhục nhă và đê hèn.
6. Hết mọi người đều có quyền được nh́n nhận là một ngôi vị trước luật
pháp ở khắp mọi nơi.
7. Tất cả mọi người đều b́nh đẳng trước pháp luật và được luật pháp bảo
vệ như nhau. Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau khỏi bất kỳ một
kỳ thị nào phạm đến Bản Tuyên Ngôn này cũng như khỏi bất cứ một xui giục
nào đưa đến một kỳ thị như vậy.
8. Hết mọi người đều có quyền được các pháp đ́nh quốc gia thẩm quyền
bênh chữa một cách hiệu lực đối với những hành động vi phạm đến các
quyền lợi của họ theo hiến định hay luật định.
9. Không ai phải bị tù ngục, giam giữ hay đầy ải một cách độc đoán.
10. Hết mọi người đều được đầy đủ quyền lợi như nhau trong việc khiếu
nại một cách công bằng và công khai để toà án độc lập và vô tư phán
quyết về các quyền lợi và trách vụ của họ, cũng như về tội trạng họ bị
tố cáo.
11. 1) Hết mọi người bị cáo buộc phạm tội đáng bị trừng phạt đều được
giả thiết là vô tội cho đến khi chứng minh thấy họ có tội theo luật pháp
trước một phiên toà công khai để họ có tất cả những bảo đảm cần thiết
trong việc bênh chữa cho họ. 2) Không ai sẽ bị coi là có tội về bất cứ
vi phạm đáng phạt nào, nếu bất cứ việc làm nào hay việc bỏ qua không làm
nào vốn không phải là một vi phạm đáng phạt theo luật quốc gia hay quốc
tế vào lúc xẩy ra vấp phạm đó. Cũng không được ra h́nh phạt nặng hơn
h́nh phạt ở vào lúc tội phạm xẩy ra.
12. Không ai bị ngang nhiên xía vào đời tư, gia đ́nh, nhà cửa hay thư
tín của họ, cũng như bị tấn công đến danh dự và tiếng tăm của họ. Hết
mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ khỏi những xía xỏ và tấn
công này.
13. 1) Hết mọi người đều có quyền tự do di chuyển và cư trú trong ranh
giới của mỗi một quốc gia. 2) Hết mọi người đều có quyền ĺa bỏ bất cứ
xứ sở nào, bao gồm cả quê hương xứ sở của ḿnh, cũng như có quyền trở về
xứ sở của ḿnh.
14. 1) Hết mọi người đều có quyền t́m cách tị nạn và được hưởng tị nạn ở
những xứ sở khác để lánh nạn bắt bớ. 2) Không được rút lại quyền này
trong trường hợp những cuộc bắt bớ hoàn toàn gây ra bởi những tội ác phi
chính trị nhưng lại trái với những mục đích và nguyên tắc của Liên Hiệp
Quốc.
15. 1) Hết mọi người đều được hưởng quyền có một quốc tịch. 2) Không một
ai sẽ bị tước đoạt một cách ngang xương quốc tịch của họ hay bị từ chối
không cho họ thay đổi quốc tịch.
16. 1) Những con người nam nữ thành nhân, bất kể ṇi giống, quốc tịch
hay tôn giáo, đều có quyền kết hôn và lập gia đ́nh. Họ có quyền ngang
nhau trong việc kết hôn với nhau, trong việc sống đời hôn nhân với nhau
cũng như trong việc huỷ bỏ hôn nhân. 2) Việc hôn nhân phải được hai
người muốn lấy nhau thực hiện một cách tự do và hoàn toàn chấp nhận
nhau. 3) Gia đ́nh là đơn vị nhóm theo tự nhiên và căn bản của xă hội và
được hưởng quyền bảo vệ của xă hội và quốc gia.
17. 1) Hết mọi người đều có quyền sở hữu tài sản riêng của ḿnh cũng như
với những người khác. 2) Không một ai bị tước đoạt một cách ngang xương
tài sản của họ.
18. Hết mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ, tự do theo lương tâm và
tự do theo đạo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hay niềm
tin của ḿnh, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay niềm tin của
ḿnh qua giáo huấn, qua việc hành đạo, qua việc phượng tự cũng như qua
việc giữ luật đạo, theo cá nhân hay với những người khác trong cộng
đồng, một cách công khai hay âm thầm.
19. Hết mọi người đều được quyền tự do có ư kiến và phát biểu; quyền này
bao gồm quyền tự do giữ ư kiến của ḿnh mà không bị gây khó dễ, cũng như
quyền được tự do t́m kiếm, lănh nhận và truyền đạt tín liệu cũng như tư
tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào, bất kể giới tuyến.
20. 1) Hết mọi người đều được quyền tự do hội họp với nhau một cách trật
tự và gia nhập hiệp hội. 2) Không ai bị bắt buộc phải thuộc về một hiệp
hội nào.
21. 1) Hết mọi người đều có quyền tham gia vào việc cai trị xứ sở của
ḿnh, một cách trực tiếp hay qua những vị đại diện được tự do tuyển
chọn. 2) Hết mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc hưởng dịch vụ
công cộng nơi xứ sở của ḿnh. 3) Ư của dân chúng phải là nền tảng cho
quyền bính của chính phủ; ư dân này được thể hiện nơi những cuộc tuyển
cử định kỳ và chuyên chính, bằng cuộc đầu phiếu chung và b́nh đẳng, cũng
như bằng phiếu kín hay bằng những phương thức tự do bỏ phiếu tương
đương.
22. Hết mọi người, với tư cách là phần tử của xă hội, đều có quyền được
hưởng an sinh xă hội, và được quyền hiện thực những quyền lợi về kinh
tế, xă hội và văn hoá bất khả thiếu đối với phẩm vị của họ cũng như đối
với việc phát triển nhân cách của họ, nhờ việc nỗ lực của quốc gia cũng
như việc hợp tác quốc tế, hợp với việc tổ chức và các nguồn lợi của mỗi
Quốc Gia.
23. 1) Hết mọi người đều có quyền làm việc, có quyền tự do chọn công ăn
việc làm, quyền chọn những điều kiện chính đáng và thuận lợi để làm
việc, và quyền được bảo vệ cho khỏi bị cảnh thất nghiệp. 2) Hết mọi
người không trừ ai đều được hưởng lương bổng đồng đều cho việc làm như
nhau. 3) Hết mọi người làm việc đều có quyền được hưởng công thưởng
chính đáng và bổng lợi hầu bảo đảm cho họ cũng như cho gia đ́nh họ một
cuộc sống xứng đáng với phẩm vị con người, và, nếu cần, họ c̣n được xă
hội trợ cấp bằng những phương cách bảo vệ khác. 4) Hết mọi người đều có
quyền thành lập và tham gia những nghiệp đoàn để bảo vệ những ích lợi
của họ.
24. Hết mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, bao gồm cả việc ấn
định hợp lư về giờ giấc làm việc cũng như về những ngày nghỉ lễ vẫn có
lương.
25. 1) Hết mọi người đều có quyền hưởng một tiêu chuẩn sống đầy đủ, bao
gồm thực phẩm, quần áo, nhà cửa, dịch vụ ư tế, và những dịch vụ xă hội
cần thiết, hợp với sức khỏe và t́nh trạng an lành của chính họ cũng như
của gia đ́nh họ, cũng như quyền hưởng an sinh trong trường hợp bị thất
nghiệp, bệnh nạn, tật nguyền, goá bụa, giả cả, hay thiếu hụt khác của
cuộc sống ở vào những hoàn cảnh xẩy ra ngoài ư muốn của họ. 2) Vai tṛ
làm mẹ và làm con được quyền hưởng những chăm sóc và trợ giúp đặc biệt.
Tất cả mọi trẻ em, bất kể được sinh ra trong hôn nhân hay ngoại hôn, đều
phải được xă hội bảo vệ như nhau.
26. 1) Hết mọi người có quyền được học hành. Việc giáo dục phải miễn
phí, ít là ở những giai đoạn tiểu học và căn bản. Giáo dục ở bậc tiểu
học là việc bắt buộc. Việc giáo dục về kỹ thuật và chuyên môn phải thuận
lợi cho chung mọi người, và việc giáo dục cao cấp phải dễ dàng theo đuổi
như nhau đối với tất cả mọi người có cùng một khả năng. 2) Việc giáo dục
phải nhắm đến t́nh trạng phát triển trọn vẹn nhân cách của con người và
việc củng cố ḷng tôn trọng đối với các quyền lợi của con người cùng với
các quyền tự do của họ. Nó phải cổ vơ việc hiểu biết, ḷng dung nhượng
và t́nh hữu nghị nơi tất cả mọi dân nước, mọi nhóm chủng tộc hay tôn
giáo, và phải làm phát triển những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong
việc bảo tŕ hoà b́nh. 3) Phụ huynh có quyền ưu tiên trong việc chọn lựa
vấn đề giáo dục cho con em của ḿnh.
27. 1) Hết mọi người đều có quyền tự do tham dự vào sinh hoạt văn hoá
của cộng đồng, hoan hưởng những nghệ thuật và tham phần vào những tiến
bộ về khoa học cùng với những tiện ích của nó. 2) Hết mọi người có quyền
được bảo toàn những ích lợi luân lư và thể lư phát xuất từ những sản
phẩm về khoa học, văn chương hay nghệ thuật mà họ là tác giả.
28. Hết mọi người đều được quyền hưởng trật tự xă hội và quốc tế có thể
giúp vào việc hoàn toàn thể hiện các quyền lợi và quyền tự do được phác
họa trong Bản Tuyên Ngôn này.
29. 1) Hết mọi người có nhiệm vụ đối với cộng đồng giúp họ có thể hiện
thực việc phát triển tự do và trọn vẹn nhân cách của họ. 2) Trong việc
hành sử các quyền lợi và quyền tự do của ḿnh, hết mọi người chỉ phải
tùy thuộc vào những giới hạn luật định để bảo đảm việc nh́n nhận và tôn
trọng những quyền lợi và quyền tự do của người khác, cũng như để đáp ứng
những đ̣i hỏi chính đáng của luân lư, của phạm vi công quyền cũng như
của t́nh trạng an sinh chung trong một xă hội quân chủ. 3) Những quyền
lợi và tự do này không bao giờ được hành sử nghịch lại với những mục
đích và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.
30. Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được cắt nghĩa như hàm ư
giành cho một Quốc Gia nào, phái nhóm hay con người nào, quyền lợi tham
gia vào bất cứ hoạt động hay thi hành bất cứ hành động nào nhắm vào việc
huỷ hoại bất cứ một quyền lợi và tự do được phác họa ở đây.
Điển h́nh của những ǵ Tổ Chức
Liên Hiệp Quốc đă nỗ lực để phục vụ Phẩm Giá Con Người liên quan đến Bản
Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền, thế giới có thể thấy được, đó là Cuộc
Họp Thượng Đỉnh Thiên Kỷ của Liên Hiệp Quốc (United Nations Millennium
Summit), một cuộc họp thượng đỉnh đông đảo chưa bao giờ có, với sự góp
mặt của 150/159 đại diện các nước hội viên, diễn ra vào ngày 6-8/9/2000
tại Nữu Ước Hoa Kỳ, Tổng Hành Dinh của Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc họp
thượng đỉnh này, các vị lănh đạo quốc gia tham dự viên đă quyết định
những điều liên quan đến việc phục vụ Phẩm Giá Con Người như sau. Đó là,
vào năm 2015, sẽ giảm một nửa số dân chúng trên thế giới đang sống ở mức
kiếm được dưới 1 Mỹ kim một ngày; chặn đứng hay đảo ngược lại việc lan
truyền khuẩn liệt kháng HIV, khuẩn gây ra Chứng Liệt Kháng AIDS; và đưa
hết mọi trẻ em đến học đường.
(Tài liệu nghiên cứu và trích dịch
trong bài này được lấy từ Bộ Bách Khoa World Book)
Vấn đề ở đây là tại sao con người đă ư thức được
nhân quyền của ḿnh, qua hai văn kiện lịch sử là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776, nhất là Bản Tuyên Ngôn Chung Về
Nhân Quyền của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc năm 1948, mà con người vẫn chưa
thể sống trong công lư và hoà b́nh, trái lại, như lịch sử cho thấy, con
người chẳng những càng ngày lại càng kỳ thị nhau hơn và xung khắc với
nhau hơn bao giờ hết, giữa các chủng tộc với nhau, như ở Âu Châu sau
Biến Cố Đông Âu 1989, nhất là ở cuộc Chiến Tranh Trung Đông, giữa các
tôn giáo với nhau, như giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo, giữa các chủ nghĩa
với nhau, như giữa Tư Bản và Cộng Sản, giữa tôn giáo và văn minh, như
giữa Hồi Giáo và Âu Mỹ, mà c̣n càng ngày càng biến loạn hơn bao giờ hết,
với những thứ quyền lợi và quyền hạn được pháp luật chính thức công nhận,
như quyền ly dị và phá thai, quyền đồng tính luyến ái và đồng tính hôn
nhân v.v. Tại sao? Phải chăng một khi lên đến tuyệt đỉnh văn minh về
nhân quyền, con người bắt đầu đi xuống?? Thế nhưng, cái ǵ sẽ lên thay
thế vị trí tuyệt đỉnh nhân quyền này???
Tâm Phương Cao Tấn Tĩnh
(bài Phát Thanh Vui Mừng Và Hy Vọng 25, 7/7/2002)