Hội Nghị Doha, một hội nghị cử
hành để kỷ niệm 10 năm Năm Quốc Tế Tiên Khởi Về Gia Đ́nh:
Giáo Hôi Công Giáo
Quyết Thắng ở Hội Nghị Cairo về Dân Số 10 Năm Trước Đây
Hôm Thứ Hai 29/11/2004,
Hội Nghị Quốc Tế Doha về Gia Đ́nh đă được khai mạc ở thủ đô nước
Qatar trước sự hiện diện của 1500 quan khách, trong đó có cả Sheikha
Moza Bint Nasser Al-Missned, vợ của tiểu vương nước này kiêm nữ sáng
lập viên và là chủ tịch Hội Đồng Tối Cao của Qatar đặc trách Gia
Đ́nh Vụ là hội đồng bảo trợ cho hội nghị này.
Trong thành phần tham dự người ta c̣n thấy, ĐHY Alfonso Lopez
Trujillo, chủ tịch Hội Đồng Toà Thánh Về Gia Đ́nh, cùng với một số
phần tử thuộc hội đồng này. Ngoài ra c̣n có ông Richard Wilkins,
giám đốc Trung Tâm Qui Chế Gia Đ́nh Thế Giới ở Đại Học Brigham Young
tiểu bang Utah, vị được yêu cầu tổ chức biến cố hai ngày này, Tiến
sĩ Gary Becker, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel ở Đại Học Chicago,
các phần tử thuộc các cơ quan NGO không chính phủ, các vị học giả,
các viện sĩ hàn lâm cùng các đại diện dân sự cùng tôn giáo, kể cả
Đức Giáo Hoàng Shenouda III thuộc Giáo Hội Coptic Ai Cập.
Hội Nghị Doha, một hội nghị cử hành để kỷ niệm 10 năm Năm Quốc Tế
Tiên Khởi Về Gia Đ́nh, có ư để vừa khảo sát lại lời phát biểu ở
Khoản 16, số 3 của Bản Tuyên Ngôn Chung Về Nhân Quyền nói rằng “Gia
đ́nh là một đơn vị nhóm theo tự nhiên căn bản của xă hội, và có
quyền được bảo vệ trước xă hội và quốc gia”, cũng như kiểm điểm lại
những chính sách trên thế giới về gia đ́nh. Hội nghị này hy vọng
chứng tỏ cho thấy rằng vấn đề chú trọng tới gia đ́nh là việc hướng
dẫn vững chắc đối với vấn đề sức khỏe khả thủ của xă hội cũng như
với thiện ích của xă hội.
Để thấy được
Giáo Hội Công Giáo đă phải cương quyết và gay go đến thế nào trong
việc chiến đấu chống văn hoá sự chết rất mănh liệt trong Hội Nghị
Cairo về Dân Số thế nào, chúng ta hăy cùng với vị đại diện Toà Thánh
bấy giờ và sử gia của TĐCGPII ôn lại biến cố kinh hoàng khủng khiếp
này để tạ ơn Chúa.
(Bài viết sau
đây được trích từ cuốn Ánh Sáng Thế Gian của Cao Tấn Tĩnh, do Trung
Tâm Mục Vụ Việt Nam Hoa Kỳ xuất bản năm 2000, trang 214-227)
Ngày nay, đạo lư Kitô
giáo c̣n bị cả trào lưu “văn hoá tử vong”, văn hoá duy nhân bản, tức
trào lưu sống theo đạo làm người, mà là đạo làm
người vô thần, nghĩa là đạo thờ thần tôi,
đạo thờ nữ thần tự do, nổi lên chống đối nữa, càng ngày
càng quyết liệt, nhất là về mặt luân lư liên quan đến quyền làm
người tuyệt đối, quyền tự quyết hết mọi sự theo ư ḿnh, kể cả sự
sống của con người. Điển h́nh nhất là Hội Nghị Về Dân Số ở Cairô
nước Ai Cập vào năm 1994. Để có thể cảm nhận được sức bung phá
và hận thù như thế nào phát ra từ những con người văn minh đang có
thế hoạt động trên b́nh diện quốc tế qua Hội Nghị này, trước hết
chúng ta hăy nghe cảm tưởng của Đức Tổng Giám Mục Renato Martino,
vị đại biểu của Toà Thánh tham dự Hội Nghị, cho biết như sau:
· “Tôi lănh
đạo phái đoàn đại biểu của Toà Thánh ở Cairô (năm 1994). Tôi có thể
cho quí vị (phóng viên nguyệt san Inside The Vatican 8-9/1999,
trang 67) biết là ở Hội Nghị Cairô chúng tôi có rất nhiều người,
nhiều vị đại biểu, nhiều phái đoàn đại biểu và nhiều người khác nữa
chống lại chúng tôi. Chúng tôi thật là đau khổ khi thấy được t́nh
trạng hận thù này. Tôi sẽ không đề cập đến thành phần thù hận chúng
tôi làm ǵ, mà chỉ cho quí vị biết những ǵ đă xẩy ra tại Hội Nghị
Cairô thôi.
“Trong việc thương
thuyết vào lúc cuối cùng của cuộc Hội Nghị Cairô, nhóm phác họa vấn
đề đă đi đến kết luận thiên về việc phá thai, và vị chủ tọa của nhóm
này bắt đầu kêu gọi các phái đoàn đại biểu mà ông biết là thích phá
thai. Thế rồi, chỉ vào phút cuối cùng – chỉ vào phút cuối cùng mà
thôi – ông mới nhường lời cho Toà Thánh. Dĩ nhiên là Toà Thánh nói
‘Không đồng ư!’ – chống lại việc phá thai.
“Sau đó, ông ta cho
giải tán phiên họp. Thế nhưng ông đă không thèm đếm xỉa ǵ tới 17
chữ kư của các phái đoàn đại biểu cùng chí hướng với Toà Thánh yêu
cầu được tŕnh bày để chống lại việc phá thai. Và cái ǵ đă xẩy ra?
Ngày hôm sau, các đầu đề của tất cả mọi tờ báo trên thế giới đăng là
‘Toàn Thánh Vatican Cản Trở Hội Nghị Cairô’, ‘Toà Thánh Vatican Bị
Cô Lập’, ‘Toà Thánh Vatican Đơn Thân Độc Mă’ v.v… v.v.
“Hôm sau, vị chủ tọa
ấy đă xin lỗi về đường lối ông điều khiển buổi họp cũng như về việc
ông phải cho các phái đoàn đại biểu yêu cầu đêm hôm trước được phát
biểu. Đây là những mưu mô và là những phương pháp – những mưu mô bẩn
thỉu – họ chơi chúng tôi. Từ bấy giờ họ đă cố gắng cho tới cùng,
trong các cuộc họp khác, để đẩy mạnh ư tưởng phá thai.
“Một ḿnh chúng tôi
phải chịu trận, nếu cần, để chỉ cần bảo vệ những ǵ Đức Giáo Hoàng
đă nói. Chúng tôi thấy có một số nước, mặc dù đồng ư với những
nguyên tắc được chúng tôi bênh vực, song vào phút chót, đă rút lui
khỏi vị thế bênh vực của Toà Thánh, chỉ v́ những ư tứ về chính trị,
mặc dù họ hoàn toàn chấp nhận nguyên tắc được Toà Thánh bênh vực.
Thế nhưng, vào giây phút cuối cùng họ lại nói: ‘Này, chúng tôi không
muốn làm phiền đến người này, người kia hay người nọ’.
“Thế là, v́ ư tứ
chính trị, họ chấp nhận đứng ở vị thế mập mờ, và họ bảo vệ một vai
tṛ mập mờ.”
Để theo dơi kỹ lưỡng hơn tiến tŕnh chống
lại “Phúc Âm Sự Sống” (tên của bức thông điệp Evanglium
Vitae ban hành ngày 25/3/1995 của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II)
cũng là chống lại Giáo Hội, thẩm quyền bảo vệ lề luật Thiên Chúa,
chúng ta hăy theo dơi bài tường thuật “Những Ǵ Đă Xẩy Ra Ở Hội
Nghị Cairô” của Dale O’Leary được phổ biến trong tờ Nguyệt San
Inside The Vatican 2/1999 (trang 85-87) sau đây.
· “Hội
Nghị Quốc Tế Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Dân Số và Phát Triển năm 1994
đă được tổ chức tại Cairô trong việc đối đầu với những đe dọa của
nhóm Hồi Giáo cực đoan và trách Toà Thánh Vatican đă hợp tấu việc
đàn áp nữ giới. Các tham dự viên chia rẽ nhau một cách dữ dội về vấn
đề phá thai. Bên được dẫn đầu bởi phái đoàn đại biểu Hoa Kỳ th́
tranh đấu về từ ngữ có thể đưa đến việc chấp nhận phá thai như một
phần của vấn đề sức khỏe sinh sản. Bên kia chống lại bất cứ một áp
đặt nào về việc phá thai đối với các nước đang coi phá thai là việc
bất hợp pháp. Các vị đại biểu của Toà Thánh đóng vai tṛ chủ động
trong cuộc tranh luận, bênh vực sự sống và gia đ́nh, bênh vực người
nghèo và các quyền lợi đích thực của nữ giới.
“Hội Nghị
Cairô không phải là hội nghị đầu tiên về vấn đềø dân số. Năm 1974
Liên Hiệp Quốc đă tổ chức một hội nghị về dân số tại Bucharest chấp
nhận một Dự Án Thực Hiện Dân Số Thế Giới, đến năm 1984, hội nghị về
dân số ở Thánh Phố Mễ-Tây-Cơ đẩy mạnh 88 đề nghị để thực hiện dự án
này hơn nữa.
“Ở Hội Nghị Mễ-Tây-Cơ, phái đoàn đại biểu
Hoa Kỳ dẫn đầu tranh đấu việc thêm chữ nghĩa vào các đề nghị để làm
cho sáng tỏ vấn đề không được cổ vơ phá thai như là một phương tiện
kế hoạch hoá gia đ́nh.
“Trong thập niên giữa Hội Nghị Mễ Tây Cơ
và Cairô, Liên Hiệp Quốc Tế Hoạch Định Vai Tṛ Phụ Huynh (IPPF
International Planned Parenthood Federation), các nhóm muốn kiểm
soát dân số, và các nhóm phụ nữ cố gắng gây thêm ảnh hưởng của ḿnh
ở Liên Hiệp Quốc. Thay thế chính phủ Reagan và Bush, chính phủ
Clinton đă ủng hộ vấn đề phá thai. Nắm được cơ hội này, những nhóm
ấy chống lại ‘ngôn ngữ của Hội Nghị Mễ Tây Cơ’, thứ ngôn ngữ cần
phải được băi bỏ ở Hội Nghị Cairô.
“Ngoài ra, c̣n có những thay đổi thật
nhiều trong giới những người để ư tới vấn đề kiểm soát dân số. Thành
phần nữ giới ở các nước đang phát triển đă chống lại những chương
tŕnh kiểm soát dân số do các viên chức chính quyền bắt buộc họ nỗ
lực đạt tới chỉ tiêu về việc thực hành ngừa thai hay huỷ hoại bộ
phận sinh sản. Những chương tŕnh mới đă đề cao sức khỏe và quyền
lợi phụ nữ. Theo bản tin tức chính thức của Hội Nghị Cairô th́
‘những mục tiêu của hội nghị này là tăng thêm quyền cho nữ giới –
một tiến tŕnh bao gồm việc cải tiến các khía cạnh về vị thế, sức
khỏe, kiến thức và công ăn việc làm của họ – và bảo đảm quyền chọn
lựa đối với vấn đề kế hoạch hoá gia đ́nh’.
“Các cuộc hội
nghị của Liên Hiệp Quốc được sửa soạn bằng những phiên họp dọn đường
để soạn thảo sẵn các dự án thực hiện. Một cuộc họp như thế đă được
tổ chức tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Nữu Ước vào tháng Ba năm 1994.
Như đă dự định, ngôn ngữ được sử dụng trong Hội Nghị Mễ Tây Cơ đă
được loại bỏ. Trong khi bản thảo không minh nhiên kêu gọi quyền phổ
quát trong việc phá thai, nó cũng nói đến ‘vai tṛ làm mẹ an toàn’,
đến ‘vấn đề phá thai không an toàn’, đến ‘vấn đề sức khỏe sinh nở và
sinh dục’, đến ‘những quyền sinh sản và sinh dục’, đến ‘việc điều
hoà thai nghén’ và đến ‘những dịch vụ kế hoạch hoá gia đ́nh toàn
diện’ – những từ ngữ có trường hợp được xác định bao gồm cả trường
hợp được phép phá thai. Có đoạn trong bản thảo viết như sau: ‘Những
chương tŕnh chăm sóc sức khỏe sinh dục và sinh sản, bao gồm cả các
dịch vụ kế hoạch hoá gia đ́nh, phải giúp cho việc tự do chọn lựa tối
đa bao nhiêu có thể’. Một đoạn khác viết: ‘Để giúp cho các cặp vợ
chồng và cá nhân đạt được mục tiêu sinh sản’. Cụm từ ‘các cặp vợ
chồng và cá nhân’ gợi lên cho thấy bản chương tŕnh này khích lệ
sinh hoạt dục tính ngoài hôn nhân. Bản văn cũng có các câu ‘các h́nh
thức khác nhau của gia đ́nh” và “các cuộc phối hợp khác” là những ǵ
được một số nước Hồi Giáo cho rằng đó là nỗ lực của Tây phương trong
việc cổ động vấn đề đồng tính luyến ái.
“Một bản văn thẩm quyền mang tựa đề ‘Việc
Hoạch Định Sức Khỏe Sinh Sản và Gia Đ́nh là Quyền Lợi của Con Người’
do Văn Pḥng Tổng Thư Kư chính thức của Hội Nghị Quốc Tế về Dân Số
và Phát Triển viết: ‘bước đầu tiên để tiến đến việc cải tiến sức
khỏe của thành phần vị thành niên là cất đi những ngăng trở về pháp
lư cũng như về qui lệ làm cản bước đường của họ đến với những dịch
vụ ấy’. Điều này được coi như là một cuộc tấn công quyền làm cha làm
mẹ.
“Chính quyền Clinton hết ḷng ủng hộ chủ
trương của bản thảo ấy. Năm 1994, chính quyền Hoa Kỳ đă tăng ngân
khoản tài trợ cho các chương tŕnh dân số quốc tế lên tới 600 triệu
Mỹ kim. Trong cuộc họp sửa soạn cho Hội Nghị, các đại biểu Hoa Kỳ
làm áp lực bắt các đại biểu Châu Mỹ Latinh không được chống đối.
Marta Casco, một đại biểu ở Honduras, đă đứng lên phản đối áp lực
của Hoa Kỳ và tỏ ra không ưng thuận với việc dùng từ ngữ của bản
thảo.
Trong khi chờ đợi, Cơ Quan Thông Tin Hoa
Kỳ cho phổ biến một tập tổng hợp các bài viết mang tựa đề ‘Dân Số,
Phát Triển và Vai Tṛ Nữ Giới: Cần Được Đồng Ḷng Thỏa Thuận’, với
lời giới thiệu của Tổng Thống Bill Clinton và Phó Tổng Thống Al
Gore. Hai trong các bài viết này được trích từ cuốn ‘Vượt Ra Ngoài
Những Con Số: Một Dẫn Giải về Dân Số, về Việc Tiêu Thụ và Môi Sinh’
(Island Press, 1994), do
Laurie Ann Mazur duyệt thảo. Một trong những bài viết ấy, ‘Cứu Xét
Các Vấn Đề Đạo Lư’, Ruth lập luận rằng, việc từ chối không cho nữ
giới có thể phá thai một cách an toàn hợp pháp v́ những ‘niềm tin và
thói tục lâu đời’ là điều bất nhân vô đạo’. Một bài viết khác, ‘Việc
Cân Bằng Những Mức Độ: Chính Sách về Dân Số và Sức Khỏe của Phụ Nữ’,
Adrienne Germain và Jane Ordway lập luận: ‘Việc ngăn ngừa trẻ vị
thành niên có thai đ̣i phải được xă hội chấp nhận vấn đề giáo dục về
t́nh dục và các dịch vụ về ngừa thai đối với đám tuổi từ 13 tới 19’
và ‘các dịch vụ hoạch định gia đ́nh, bao gồm cả việc phá thai an
toàn, phải làm sao cho thuận lợi, tính chất của nó phải được cải
tiến và mục tiêu của nó phải được mở rộng’.
“Điều đáng để ư ở đây là chính phủ Hoa Kỳ
xuất bản những bài viết chọn lọc này, những bài viết ăn rễ sâu vào
trào lưu nữ giới, vào văn từ phản lại gia đ́nh, tức là chính phủ
Clinton đă tự đặt ḿnh vào tư thế tương khắc đối nghịch với những
quan tâm của Toà Thánh.
“Ủy ban chính phát xuất ra việc sử dụng từ
ngữ được bàn căi này lại nằm dưới quyền chủ tọa của Fred Sai ở
Ghana, chủ tịch của cơ quan Liên Hiệp Quốc Tế Kế Hoạch Hoá Vai Tṛ
Phụ Huynh, một tổ chức đă hết ḿnh vận động cho việc hợp thức hoá
vấn đề phá thai.
Ngày 30 tháng 6 năm 1994, trên nhật báo
Thời Điểm Trái Đất, tờ tổng hợp các cuộc hội nghị của Liên Hiệp
Quốc, đă xuất hiện một nhan đề ‘Toà Thánh Vatican Cương Quyết Giữ
Vững Lập Trường Đối Với Hội Nghị Dân Số’. Trong số nhật báo này,
Carla Shea, tay viết của tờ New York, đă thực hiện một cuộc phỏng
vấn Sai, mang tựa đề ‘Việc Sửa Soạn Cho Hội Nghị Cairô Bị Trầm
Trọng’. Shea hỏi Sai: ‘Tôi có sai hay không khi đi đến kết luận rằng
mục tiêu của hội nghị này là đặt lại vấn đề với chính những giả
thiết và nền tảng ư hệ nơi trật tự xă hội cổ kính?’ Sai đă trả lời:
‘Đúng. Xác nhận ấy đúng. Đúng là như thế’…
“Việc Đức Thánh Cha phê phán về bản thảo
(theo tác giả lần 1 ngày
19/3/1994, qua bức thư riêng gửi cho mọi vị quốc trưởng, và 3 lần
sau qua các Buổi Nguyện Kinh Truyền Tin hay Triều Yết Chung vào
tháng 3, 4 và 8) đă làm bùng lên hàng loạt cuộc tấn công Toà
Thánh Vatican cũng như tấn công giáo huấn Công Giáo đối với vấn đề
tính dục, sự sống và nữ giới. Mặc dầu Đức Thánh Cha đă kêu gọi nhiều
lần việc tôn trọng nữ giới và việc bênh vực nữ giới, Toà Thánh cũng
vẫn bị tố cáo là chống lại việc giải phóng nữ giới.
“Trong khi có một số người ửng hộ bản thảo
cho rằng Toà Thánh Vatican đă hiểu lầm nó và cho rằng văn kiện này
không tấn công gia đ́nh hay vấn đề phá thai, th́ lần nào các vị đại
biểu yêu cầu các câu định nghĩa loại trừ vấn đề phá thai ra cần phải
cho vào bản thảo họ đều bị chống đối kịch liệt.
“Ngày 5 tháng
9 năm 1994, ngày khai mạc hội nghị, Gro Brundtland, Thủ Tướng nước
Na-Uy, kêu gọi ‘việc tha phép cho phá thai’ như là ‘một phương thế
cần thiết trong việc bảo vệ sự sống của nữ giới’.
“Những phần tử của Các Tổ Chức Ngoài Chính
Quyền (NGO: Non-Government
Organizations) được phép phát biểu trong hội nghị cũng như được
phép vận động các đại biểu. Một số đă cổ vơ ‘quyền’ cho nữ giới phá
thai. Francis Kissling, chủ tịch tổ chức Các Người Công Giáo Tự Do
Chọn Lựa, một nhóm bị các giám mục Hoa Kỳ cho de, đă lợi dụng vị thế
là một tổ chức ngoài chính quyền của ḿnh để tấn công Toà Thánh
Vatican. Muthgard Toewe, thuộc nhóm Linh Động Truyền Thông với Nữ
Giới theo Văn Hoá của Họ, tuyên bố rằng: ‘Mọi người phụ nữ đều có
quyền – v́ đó là một phần thuộc phẩm vị cũng như nhân quyền của họ –
trong việc phá bất cứ một cái thai nào không cần thiết’.
“Tuy nhiên, có một vài đại diện của các tổ
chức ngoài chính quyền thuộc các Đệ Tam Quốc Gia đă phê b́nh việc
Liên Hiệp Quốc đang nhấn mạnh đến vấn đề ngừa thai đối với người
nghèo. Margaret Ogla, một bác sĩ nhi đồng ở Kenya, đă nói đến những
nạn ở xứ sở của ḿnh: ‘Chúng tôi đang hết cả thuốc chính ngừa. Chúng
tôi không có lấy cả ống tiêm, cả mũi chích, cả thuốc khử trùng, cả
thuốc trụ sinh, thế mà các Trung Tâm An Sinh Gia Đ́nh của chúng tôi
lại không bao giờ thiếu các đồ dự trữ cho việc kiểm soát sinh sản.
Nữ giới chết xuất huyết bởi các thứ thuốc IUD’
“Zainab Sa’id Kabir, một giáo sư của Đại
Học Bayero ở Nigeria, cũng phàn nàn rằng việc quá chú trọng tới ‘sức
khỏe sinh sản’ đă đưa đến việc chểnh mảng chăm sóc sức khỏe căn bản:
‘Ở Châu Phi chúng tôi không chăm sóc về y tế cho lắm, chúng tôi
không có các thứ thuốc kháng tố, song lại có đầy những thứ ngừa
thai… Chúng tôi không thể nào không nghĩ rằng các thành phần viện
trợ đă có những mưu đồ bí ẩn nào đó’.
“Henri Boulad, Giám Đốc của tổ chức
Caritas Ai Cập, đă thách thức thuyết chủ trương dân số tăng gây ra
nghèo khổ rằng: ‘Các trường hợp ở Ai Cập, Ấn Độ và Trung Hoa cho
thấy việc tăng nhân số thực sự giúp cho các xứ sở ấy thoát được cảnh
nghèo khổ. V́ t́nh trạng phong phú của một xứ sở là chính dân chúng
của ḿnh, nên việc tăng dân số lên thực sự không nguy hiểm bằng việc
giảm dân số xuống… nạn dân số tăng quá nhiều là chuyện hoang đường,
một chuyện v́ được lập đi lập lại và tuyên truyền mới trở thành một
tín điều vậy thôi’.
“Cuộc tranh căi giữa những vị đại biểu xẩy
ra dữ dội. Đến lúc căng thẳng nhất th́ Dr. Sai đă đổ lỗi cho Toà
Thánh Vatican là gây cản trở cho việc đồng ḷng thỏa thuận với nhau.
Vào ngày 8 tháng 9 năm 1994, nhật báo Terra Viva, tờ tường thuật về
các hoạt động của Liên Hiệp Quốc, đăng một đầu đề: ‘Các quyền của nữ
giới bị giữ làm con tin: Nạn nhân của t́nh trạng thiếu đồng ư về
việc phá thai’. Một bức tranh hí họa vẽ một đấng bậc Công giáo đang
cau mày giữ chặt lấy cây thập giá và quay lưng lại với một đám đông
đa văn hoá đang cầm các bảng hiệu yêu cầu ‘cùng nhau đồng thỏa thuận
ḷng’ và ‘dung hoà’.
“Thật ra, không có một sự thỏa thuận nào
cả, v́ các đại biểu của các nước Hồi Giáo và Công Giáo lo ngại là,
nếu ngôn từ đang tranh luận về sức khỏe sinh dục và sinh sản được
chấp nhận, th́ việc ngoại quốc viện trợ sẽ dính liền với việc chấp
nhận các chương tŕnh cổ vơ phá thai hay làm băng hoại các giá trị
tôn giáo. Hội nghị đă đi đến chỗ tắc nghẽn.
“Bấy giờ phái
đoàn đại biểu Ai Cập mới đề nghị dung hoà: vấn đề ngôn từ về sức
khỏe sinh dục và sinh sản vẫn để nguyên trong bản văn, nhưng sẽ được
thêm vào ở đầu văn kiện một chapeau (đoạn rào đón) là vấn đề thực
hiện Chương Tŕnh Thực Hiện là quyền tối hậu của mỗi quốc gia đối
với việc hoàn toàn tôn trọng các giá trị đạo giáo và luân thường
khác nhau của dân chúng.
“Bản Chương Tŕnh Thực Hiện cũng nói rơ
ràng là hội nghị không có thẩm quyền ban bố các thứ nhân quyền mới,
như thế là phủ nhận chủ trương ‘các quyền sinh sản và sinh dục’.
Ngôn từ của Hội Nghị ở Mễ Tây Cơ không bị băi bỏ. Thay vào đó, thành
ngữ đă được chấp nhận ở Hội Nghị Mễ Tây Cơ – ‘không có một trường
hợp phá thai nào được cổ vơ như phương pháp kế hoạch hoá gia đ́nh’ –
xuất hiện ở hai phần tách biệt. Chương Tŕnh Thực Hiện cũng xin tài
trợ 17 tỉ rưỡi Mỹ kim cho các chương tŕnh kiểm soát dân số.
“Cả hai phía đều cho rằng ḿnh thắng. Một
nữ phát ngôn viên cho Tổ Chức Đại Đa Số Nữ Giới cho rằng Bản Chương
Tŕnh Thực Hiện được chấp thuận là ‘cái tát vào nỗ lực của Toà Thánh
Vatican trong việc làm trật đường rầy t́nh trạng phát triển của giới
phụ nữ’.
“Olivia Gans, đại diện tổ chức Liên Hiệp
Quyền Sống Quốc Tế cho rằng bên ḿnh thắng, v́ ngôn từ của Hội Nghị
ở Mễ Tây Cơ vẫn c̣n giữ nguyên.
“Một số người ủng hộ bản thảo nguyên thuỷ
công nhận là họ không thắng nổi ở những vấn đề then chốt. Jan Pronk,
một đại biểu ở Nertherlands phàn nàn rằng: Câu ‘quyền sinh dục’ bị
loại bỏ thật là đáng tiếc”.
Tuy nhiên, theo George Weigel, một
trong những b́nh luận gia hàng đầu về t́nh h́nh luân lư và xă hội ở
Hoa Kỳ, cũng là tác giả viết cuốn tiểu sử chân thực nhất về Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II qua cuốn “Witness to Hope” (Cliff
Street Books, 1999), th́:
· “Việc
thảm bại của chính quyền Clinton cũng như của nhóm liên minh quốc tế
ở hội nghị dân số Cairô chắc chắn không phải là thành quả của riêng
một ḿnh Toà Thánh… Tất cả những yếu tố này (được tác giả cho
biết là do khối các quốc gia đệ tam thực hiện từ hai hội nghị dân số
trước đó cho tới hội nghị lần ba đây), cộng với những can thiệp của
Toà Thánh (như những lần Đức Thánh Cha chính thức công khai liên tục
lên tiếng chống lại tinh thần và h́nh thức của bản thảo đề ra cho
hội nghị dân số ở Cairô vào tháng 9, qua các Buổi Nguyện Kinh Truyền
Tin trưa Chúa Nhật hằng tuần hay các Buổi Triều Kiến Chung mỗi ngày
Thứ Tư hằng tuần, được tác giả liệt kê ở trang 723-724, chẳng hạn
các ngày 12/6, 19/6, 22/6, 26/6, 3/7, 10/7, 17/7, 24/7, 31/7, 7/8,
14/8, 28/8/1994, nhất là lời Ngài viết gửi cho mọi vị quốc trưởng
ngày 19/3/1994, trong đó, cả tác giả cuốn sách này, ở trang 718, và
tác giả của bài viết trên đây, trang 86, đă trích lại cùng câu: ‘Có
lư do để mà sợ rằng bản thảo ấy có thể gây ra một t́nh trạng suy
thoái về luân lư khiến cho nhân loại bị thụt lùi một cách trầm
trọng’), đă giúp vào việc chuyển hướng mẫu thức kiểm soát
của hội nghị dân số ở Cairô từ ‘việc kiểm soát dân số’ đến ‘việc cho
quyền nữ giới’… Nếu mẫu thức trao quyền cho nữ giới được phối
hợp với việc tái sinh hoá đời sống gia đ́nh cũng như việc tái xác
nhận quyền năng làm mẹ của nữ giới, hơn là với cuộc cách mạng dục
tính như đang diễn tiến nơi thế giới các nước phát triển, th́ trên
cầu trường chính trị quốc tế ở thế kỷ 21 sẽ xẩy ra khác hẳn…
“Hội nghị
Cairô đă diễn tiến như thể hoàn toàn không đếm xỉa ǵ tới cuộc vận
động của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong những tháng trước đó…
“Ai cũng
nắm chắc được là trong tương lai vẫn không thể nào thoát được những
cuộc đối chọi tương tự như thế xẩy ra… Tuy nhiên, Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đă đẩy mạnh cái chính yếu của luân
lư trong lập luận về dân số lên chính tâm điểm của khấu trường thế
giới, đă làm thay đổi được bản chất của cuộc tranh luận chung này,
và đă giúp vào việc chuyển hướng cái bố cục của cuộc bàn luận từ
‘việc kiểm soát’ dân số sang việc cho quyền nữ giới.
“Tiến tŕnh
hội nghị dân số ở Cairô đă được thay đổi là như thế”.
(Witness to
Hope trang 726-727)
Trường hợp điển h́nh cuộc chiến đấu giữa
ánh sáng và bóng tối tại Hội Nghị Cairô năm 1994 trên đây đă chứng
thực là “bóng tối không át được ánh sáng” (Jn 1:5). Nói như
thế không có nghĩa là hoàn toàn phủ nhận “quyền thống trị của tối
tăm” (Col 1:13) trên thế gian này, một quyền thống trị đến nỗi
có thể có thể “át được” (Jn 1:5) cả chính “ánh sáng thực”
(Jn 1:9) là Chúa Kitô: “Đây là giờ của các người – giờ chiến
thắng của tối tăm!” (Lk 22:53), tất nhiên cũng sẽ “át được”
cả “các con là ánh sáng thế gian” (Mt 5:14) khi tới thời điểm
“được phép” (Rev 13:7; cũng xem 20:3,7) của nó, đến nỗi, như
Người cảnh báo trước “lúc Con Người tới không biết Người có c̣n
thấy đức tin trên thế gian này nữa chăng?” (Lk 18:8).
Tự do của con người sẽ
bị giam cầm nếu họ không biết sống theo chân lư
Đức Ông Vitaliano Mattioli, giáo sư dạy ở Đại Học Toà Thánh Urban và
là phó chủ tịch của Viện Giáo Hoàng Thánh Apollinare, trong cuốc
sách mới nhất của ḿnh, mang tựa đề “Liberta Imprigionata” - “Một Tự
Do Bị Ngục Tù”, do Segno Publishers xuất bản, đă chủ trương rằng
không có sự thật th́ tự do bị ngục tù. Trong cuộc phỏng vấn với
Zenit, tác giả đă cắt nghĩa về đề tài chính được tác phẩm của ngài
bàn giải, đó là mối liên hệ giữa sự thật và tự do.
Vấn: Tại sao ngài chọn đầu đề này cho tác phẩm của ḿnh?
Đáp: Qua một số năm tôi đă muốn viết về một điều ǵ đó
liên quan tới lập luận này. Tôi nhận thấy nơi dân chúng mộỉt khuynh
hướng thực hiện những việc chọn lựa tiêu cực làm cho họ bị giam cầm.
Bằng việc coi tự do của con người là một cái ǵ “bất chấp” là cá
nhân không giải phóng ḿnh mà là xiềng xích ḿnh lại, ở chỗ họ giam
nhốt tự do của họ lại.
Con người không c̣n “làm chủ” của chính ḿnh nữa; quan niệm sai lạc
của họ về đời sống và sự hiện hữu đẫn họ tới chỗ diệt vong. Tôi phân
tách một vài thứ xích xiềng tiêu biểu này ở phần chính của cuốn
sách. Tóm lại, tất cả những thứ xích xiềng này đều phát xuất từ một
chủ trương không mới mẻ ǵ, song tái diễn trước sau khắp các thế kỷ,
đó là chủ trương sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu.
Bởi thế mới có phụ đề “Luận Đề về Việc Con Người Tự Diệt”. Làm sao
có thể tránh được thảm họa này? Cần phải đề cập ngay tới h́nh ảnh
Chúa Kitô, vị duy nhất có thể trả lại cho con người tự do nguyên
thuỷ của họ.
Vấn: Trong Thông Điệp “Rạng Ngời Chân Lư – Veritatis
Splendor”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă nhấn mạnh rằng không có
tự do nếu thiếu chân lư, một khẳng định được Huấn Quyền của Giáo Hội
tiếp tục lập đi lập lại. Đức ông có thể nói cho chúng tôi biết về
khía cạnh này chăng?
Đáp: Con người đă tách rời cặp “tự do/chân lư” này ra. Họ
muốn dập tắt đi sự thật về Thiên Chúa, không c̣n coi Ngài là Đấng
Hoá Công và là nguồn gốc của tất cả những ǵ là tốt lành thiện hảo
nữa, là nguyên lư của hữu thể, và là Đấng làm cho tất cả được hiện
hữu.
Bằng việc loại trừ đi Vị Thiên Chúa siêu việt này mới hiện lên một
con người kiểu nhân vật Hy Lạp Promethean (biệt chú của người dịch:
Prometheus đă đánh cắp lửa của các thần mà trao cho con người, bị
Zenus xích lại và được Heracles giải cứu). Một sự thật khác cũng bị
phủ nhận ở đây nữa đó là sự thật về con người. Là một tạo vật, họ
cảm thấy ḿnh là hoá công. Bằng việc chối bỏ một Thiên Chúa hoá
công, họ đă đặt ḿnh vào việc sản xuất ra con người. Phủ nhận một vị
Thiên Chúa lập pháp, con người trở thành luật kệ cho chính ḿnh. Bởi
thế mới có thứ Quốc Gia luân thường đạo lư.
Bằng việc chối bỏ những sự thật ấy, tự do cũng bị thủ tiêu, chẳng
những nơi cá nhân mà c̣n nơi cả quan điểm về chính trị nữa. Khi con
người đứng ở trên một cái bệ, sau khi hạ bệ thần tính xuống, con
người coi ḿnh là thần, nhưng không phải là một vị Thiên Chúa là
cha, mà là một vị Thiên Chúa làm chủ, một nhà độc tài chuyên chế.
Các thứ quyền lợi của con người không c̣n được đếm xỉa tới nữa. Con
người tự giáng ḿnh xuống một cuộc sống đầy những cầm buộc. Như thế
là họ đă làm mất đi quyền tự do hiện hữu của họ.
Bằng việc loại trừ Thiên Chúa, con người coi ḿnh được miễn trừ để
rồi cho ḿnh được quyền sống thả lỏng theo đam mê. Chính bản thân
họ, không c̣n tác hành nữa mà là những thứ đột hứng và thị hiếu
thiếu lành mạnh của họ là những ǵ làm chủ và chi phối họ. Một khi
tiến tới chỗ này là con người có thể thực hiện bất cứ một thứ lầm
lạc nào.
Lư do Huấn Quyền của Giáo Hội nhấn mạnh rất nhiều đến việc bênh vực
cặp tự do / chân lư này không những v́ Giáo Hội muốn cho thấy quan
điểm của Kitô giáo về đời sống mà là để ngăn ngừa con người, bất cứ
là ai, khỏi đi đến chỗ tự diệt.
Vấn: Hiện t́nh ở Âu Châu là một thí dụ điển h́nh cho thấy
cái xung khắc giữa sự thật và tự do. Việc đề cập tới các căn gốc
Kitô giáo của Âu Châu đă bị loại trừ nhân danh việc tôn trọng hơn
nữa vị thế của trạng thái thế tục và quyền tự do tôn giáo. Đức ông
nghĩ ǵ về vấn đề này?
Đáp: Trong cuốn sách của tôi, khi nói đến cái sợi giây
xích cột thứ ba là “tâm thức trần thế”, tôi phân tích cái khác nhau
giữa trạng thái thế tục và trạng thái duy thế tục. Đức Piô XII đă
không sợ chấp nhận một cách dứt khoát “một chủ nghĩa thế tục lành
mạnh của quốc gia”. Chủ nghĩa thế tục chấp nhận tính cách đa diện
tôn giáo và thấy tính cách này là những ǵ thăng hoá.
Trong một bài diễn từ ở Assisi (15/10/2004), Marcello Pera, chủ tịch
thượng viện Ư quốc, đă nói rằng: “chủ nghĩa thế tục là một nguyên
tắc tự lập, khoan dung, tôn trọng các niềm tin tưởng, các thứ tín
ngưỡng và các thứ triết lư”.
Trái lại, một quốc gia chối bỏ thực tại tôn giáo, hay coi tôn giáo
thuộc về lănh vực chủ quan là một quốc gia duy thế tục. Bởi thế,
thực tế mới cho thấy rằng đời sống tôn giáo không có quyền công dân
ở quốc gia duy thế tục, một quốc gia cần phải biến đổi thành một
quốc gia có luân thường đạo lư.
Âu Châu muốn coi ḿnh là thế tục mà thật ra nó đang trở nên duy thế
tục. Đó là lư do về việc nó cương quyết không công nhận các căn gốc
của Kitô Giáo trong lời mở đầu của bản hiến pháp của ḿnh.
Theo ông Marcello Pera, “chủ nghĩa thế tục là vấn đề ngược hẳn. Có
những lúc một ư hệ trở thành một thứ tôn giáo thậm chí có thể trở
thành một thứ tôn giáo mù quáng, tŕ độn và cuồng tín”. Có lẽ thứ
tôn giáo thế tục này, hơn bất cứ một tôn giáo nào khác, đang dẫn
giải cho thấy việc loại bỏ các căn gốc Kitô Giáo của Âu Châu nơi Lời
Mở Đầu của Bản Hiệp Ước ấy. Ở đây, Âu Châu đang bắt đầu biểu lộ tính
cách bất khoan dung đáng lo ngại.
Vấn: Nhân danh quan niệm tự do hơn về gia đ́nh, chúng ta đang
chứng kiến thấy một ước muốn nới rộng gia đ́nh cho cả thành phần các
cặp đồng tính luyến ái, cho phép họ được nhận nuôi con cái. Đức ông
nghĩ thế nào?
Đáp: Trước hết tôi xin nhấn mạnh đến vấn đề tuyệt đối tôn
trọng thành phần đang lâm vào t́nh trạng này. Nói như thế là nh́n
nhận các cặp đồng tính luyến ái là một trong những hậu quả của việc
chấp nhận một Quốc Gia duy thế tục.
Khi t́nh trạng vô chủ thay thế cho quyền tự do (là khả năng tác hành
hợp với lư trí đúng đắn) th́ mọi sự trở thành được phép. Tôi có luật
lệ riêng của tôi và tôi cần phải tiến đến chỗ làm cho quốc gia công
nhận theo pháp lư các ước muốn của tôi.
Gia đ́nh bao giờ cũng được coi là một cuộc hiệp nhất giữa một con
người có nam tính với một con người có nữ tính, một thứ gia đ́nh
được xă hội nh́n nhận. Việc chống đối ở đây không phải là chống đối
vấn đề chọn lựa cá nhân giữa hai con người mà là về chống đối vấn đề
áp lực đối với cơ cấu lập pháp để làm cho việc chọn lựa này thành
b́nh thường nhờ đó cũng hợp lư.
Vấn đề những cặp vợ chồng đồng tính nhận con nuôi lại càng là vấn đề
xẩy ra đúng như thế hơn nữa. Tất cả những ǵ tâm lư cho thấy đó là
nhu cầu cần phải có nhân vật nam tính cũng như nhân vật nữ tính
trong việc giáo dục con cái. Trái lại, ở đây, lại là vấn đề bắt buộc
các nhà lập pháp đi ngược hướng với tất cả mọi nguyên tắc lành mạnh
của thiên nhiên, cũng như những nhận định hiển nhiên nhất của khoa
học liên quan đến việc phát triển cân bằng của một con người.
Vấn đề thích thú nhất thời cũng là vấn đề chi phối ở đây nữa. Đó là
vấn đề t́m thỏa măn buông thả bất cứ ước muốn nào, là những ǵ cho
thấy hoa trái của cái tôi và vấn đề không t́m thị6n ích của người
khác.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Zenit ngày 12/11/2004
Theo Lịch Sử Nhân Loại
Học Kitô Giáo Là Nguồn Mạch Cho Các Thứ Nhân Quyền
Tác giả cuốn “Nhân Loại Học Kitô Giáo: Từ Công Đồng Chung
Vaticanô II Tới Đức Gioan Phaolô II” là ông Juan Luis Lorda, một kỹ
sư về kỹ nghệ, với cấp bằng tiến sĩ thần học, dạy ở Đại Học Navarre
từ năm 1983 và là tác giả cuốn “Là Một Kitô Hữu” và “Nghệ Thuật
Sống”, đă chủ trương rằng nhân loại học Kitô Giáo, theo lịch sử, là
nguồn mạch khơi nay các thứ quyền làm người. Trong cuộc phỏng vấn
sau đây với Zenit, vị tác giả này cho biết Đức Gioan Phaolô II đă
đóng góp vào việc hiểu biết hơn nữa về nhân loại học Kitô Giáo.
Vấn: Nhân loại học Kitô Giáo từ Công Đồng Chung Vaticanô
II đă được đổi mới ra sao?
Đáp: Điều quan trọng nhất đó là việc giải thích và phát
triển được Đức Gioan Phaolô II cống hiến cho công đồng này, nhất là
cho “Vui Mừng Và Hy Vọng – Gaudium et Spes”. Bản Hiến Chế này là một
trong những cột trụ của công đồng này và Đức Gioan Phaolô II đă trực
tiếp hợp tác vào việc viết văn kiện ấy. Từ đó, ngài đă thực hiện
việc dẫn giải sâu xa về nó trong giáo triều của ngài.
Ngày nay mọi người quen thuộc với Khoản Số 22 nổi tiếng của “Vui
Mừng Và Hy Vọng”: “Chúa Kitô hoàn toàn tỏ cho con người biết về con
người”. Tuy nhiên, trước Đức Gioan Phaolô II điều này chẳng nổi nang
ǵ. Sự kiện này có thể thấy được nơi nhiều bài dẫn giải b́nh luận
vào thời ấy, những bài dẫn giải b́nh luận thậm chí không hề đề cập
đến nó.
Có nhiều triết gia và thần học gia đă gây nhiều ảnh hưởng đến nhân
loại học Kitô Giáo, v́ khoa học này đă từng trải qua một giai đoạn
rất phong phú. Thế nhưng, vấn đề tổng hợp về tín lư của những nguyên
tắc này là do Đức Gioan Phaolô II.
Vấn: Edith Stein, một nữ tu Ḍng Camêlô bị đảng Nazis sát
hại và được Đức Gioan Phaolô II phong thánh, cũng đă đóng góp quan
trọng vào khoa nhân loại học này. Vị nữ quan thày của Âu Châu đây đă
có một trực giác như thế nào?
Đáp: H́nh ảnh về Edith Stein là một h́nh ảnh thật là kỳ
thú, và tôi nghĩ rằng vị thánh này sẽ chiếm một vị trí càng ngày
càng quan trọng nơi tư tưởng Kitô Giáo. Về nguồn gốc, ngài là một
trí giả Do Thái. Về việc học hỏi th́ ngài thuộc về trường phái đầu
tiên của khoa hiện tượng học, với những nghiên cứu quan trọng.
Sau khi trở lại Công Giáo, ngài đă cố gắng thiết lập liên hệ giữa
những luồng triết học này với của Thánh Tôma Aquinas. Ngài đă chết
như một nữ tu Camêlô ở một trại tập trung, vào lúc cao điểm của thảm
cảnh Sát Tế kinh hoàng.
Khi ḷng mà t́m thấy được những nhân cách có một chiều kích nhân bản
hết sức sâu xa. Hiện tượng học, nhất là khoa hiện tượng được thực
hiện bởi nhóm của Edith Stein, với Reinach, Max Scheler,
Conrad-Martius, von Hildebrand, là một trong những luồng triết học
sinh hoa trái nhất và rơ ràng nhất, đặc biệt trong việc hiểu biết
bản thân nội tại của con người. Nơi Edith Stein cũng như nơi Đức
Gioan Phaolô II sau đó, khoa hiện tượng học này được liên kết với
truyền thống Kitô Giáo. Và đó là vấn đề rất quan trọng.
Chúng ta không được quên rằng việc khám phá ra luồng triết lư này đă
giải thoát ngài khỏi những thành kiến và đặt ngài vào một vị thế
lắng nghe chân lư. Đó là bước đầu tiên trên đường trở lại của ngài.
Đó là một thứ triết học và nhân loại học cần cho chúng ta hôm nay
đây: loại khoa học này hướng về sự thật, khám phá ra bản thân nội
tại của con người, và liên kết với đức tin Kitô Giáo. Nó cũng là một
thứ triết học chúng ta cần đến nơi các phân khoa của chúng ta.
Vấn: Đâu là những đóng góp của Karol Wojtyla vào khoa
nhân loại học Kitô Giáo này?
Đáp: Vẫn khó ḷng trong việc phán quyết về tầm ảnh hưởng
của Karol Wojtyla đối với thần học Công Giáo, v́ chúng ta thiếu phối
cảnh. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu về ngài nhiều năm, tôi cảm thấy
rằng ảnh hưởng của ngài thật là vĩ đại, nhất là nơi nền tảng về nhân
loại học của nền luân lư, như giáo huấn về tính dục, về t́nh yêu
phối ngẫu, về việc truyền sinh cũng như về phẩm vị của sự sống con
người.
Tôi tin rằng người ta phải thành thực mà nói là ngài đă cải tiến một
cách đặc biệt giáo huấn về thần học nơi tất cả mọi vấn đề. Điều ấy
được phản ảnh rơ ràng nơi cuốn Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo. Có vấn đề
trước và có vấn đề sau cuốn giáo lư này.
Vấn: Tại sao khoa nhân loại học Kitô Giáo là một trong
những vấn đề mạnh mẽ của việc truyền bá phúc âm hoá?
Đáp: V́ nó khám phá ra cách thức con người là cùng với
những ước vọng sâu xa nhất của họ. Tâm điểm của việc truyền bá phúc
âm hoá Kitô giáo là Thiên Chúa, ở chỗ dẫn con người tân tiến đến chỗ
khám phá ra rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta v́ Ngài là Cha của
chúng ta. Đó là tâm điểm sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô.
Thế nhưng, con đường này trở thành dễ dàng hơn khi một người khám
phá ra ḿnh là ǵ và những ước vọng sâu xa nhất của họ qui hướng về
Thiên Chúa. Giáo Hội có một kiến thức khôn ngoan về con người, có
một nền nhân bản Kitô Giáo, một kho tàng về văn hoá thuộc đệ nhất
đẳng, v́ kho tàng văn hoá này làm cho đời sống có ư nghĩa, nó dẫn
con người đến chỗ sống hợp với nhân phẩm, và làm cho con người cảm
thấy hạnh phúc. Nó là một thứ ánh sáng lạ lùng trên thế gian này.
Có nhiều người đương thời của chúng ta đây, khi họ nghĩ về ḿnh, họ
nghĩ rằng họ là thành quả mù quáng của những tác lực về thể chất,
một thứ nguyên sinh động vật biến chuyển theo may rủi. Chúng ta biết
rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa, chúng ta có một Người Cha yêu
thương chúng ta, chúng ta là anh em với nhau và định mệnh của t́nh
yêu là những ǵ chúng ta có thể đă sống đang đợi chờ chúng ta.
Chúng ta hiểu được cái ư nghĩa của lư trí và tự do, của yêu thương
và gia đ́nh. Đó là vẻ đẹp. C̣n những cái khác đều là tăm tối và đê
tiện. Dostoyevsky đă nói về điều này rằng: “Chỉ có vẻ đẹp mới cứu
thế giới”.
Vấn: Phải chăng khoa nhân loại học Kitô Giáo là nền tảng
vững chắc cho các thứ quyền làm người, như ĐTGM Fernando Sebastian ở
Pamplona đă nói đến trong lời giới thiệu cho tác phẩm của ông?
Đáp: Thậm chí tôi có thể nói rằng khoa nhân loại học Kitô
Giáo về lịch sử là nguồn mạch cho các thứ quyền làm người, v́ những
ai góp phần vào việc h́nh thành giáo huấn này, mặc dù trong một số
trường hợp họ đă đánh mất đức tin, họ đă nắm được cái yếu tố chính
yếu về văn hoá Kitô Giáo rồi vậy.
Họ tin rằng rằng con người chúng ta là thành phần tự do và hữu trách
đối với các hành động của ḿnh; rằng chúng ta b́nh đẳng với nhau;
rằng chúng ta là những ngôi vị; và chúng ta có một phẩm giá bất khả
xúc phạm. Tất cả những điều này đều phát xuất từ đức tin Kitô Giáo.
Nếu có ai nghĩ rằng con người là thành quả mù quáng của việc tiến
hoá về vật chất, một thứ nguyên sinh chất được tiến hoá theo cơ may,
như tôi đă nói đến trước đây, th́ họ không đạt được thành quả ấy. Họ
không thể suy diễn rằng chúng ta là thành phần tự do và hữu trách.
Họ không thể suy diễn rằng chúng ta đều b́nh đẳng với nhau. Họ không
thể suy diễn rằng chúng ta là những con người hay chúng ta có một
phẩm giá bất khả xúc phạm.
Thật vậy, chủ nghĩa duy vật về khoa học đang huỷ hoại đi nền văn hoá
về pháp lư và luân lư của tính cách tân tiến. Nơi những vấn đề thuộc
khoa đạo lư sinh học, chúng ta đang ở vào lúc cao điểm của cuộc tấn
công sự sống con người.
Những phôi bào đang được chế tạo ra cho việc sử dụng trị liệu, v́
phôi bào vốn là một con người được nghĩ rằng chỉ là một chùm tế bào
chẳng có phẩm giá ǵ, giống như bất cứ một thứ văn hoá về tế bào nào
vậy thôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ
Zenit ngày 9/11/2004