| |
| Mầu nhiệm nên một trong Hôn Nhân | |
| |
VietCatholic News (21/11/2005) “MẦU NHIỆM NÊN MỘT” TRONG ƠN GỌI HÔN NHÂN KITÔ HỮU: LƯ TƯỞNG HAY ẢO TƯỞNG ? Aug. Trần Cao Khải Người ta thường nói “Vợ chồng như đũa có đôi” để minh hoạ cho sự hiệp nhất, gắn bó, nương tựa giữa hai người bạn đời trong đời sống hôn nhân gia đ́nh. Và chúng ta cũng biết đến một câu thơ khá phổ biến, như một điệp khúc dễ thương: “Ḿnh với Ta tuy hai mà một, Ta với Ḿnh tuy một mà hai”. Trước đây, vợ chồng thường hay xưng hô với nhau: “Ḿnh ơi ḿnh !...”, c̣n ngày nay, các bạn trẻ có một cách nói khác xem ra thi vị hơn, gợi cảm hơn, ví von hơn, để gọi người bạn đời của ḿnh: “Một nửa của tôi ơi !...”. Quả vậy, đời sống hôn nhân mà các bạn sắp bước vào được đánh dấu như một biến cố vĩ đại và một sự thay đổi quan trọng vào bậc nhất trong cuộc sống của hai người. Bởi v́, nhờ ơn huệ và hiệu lực kỳ diệu của bí tích hôn phối được cử hành hôm nay, hai bạn sẽ “không c̣n là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x.Mt 19,6), và “người đàn ông ĺa cha mẹ mà gắn bó với vợ ḿnh, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Điều đó có nghĩa là bắt đầu từ nay, hai bạn sẽ hiệp nhất nên một trong t́nh yêu, trong cuộc sống nhờ giao ước hôn nhân Kitô giáo. I.- HĂY MĂI LÀ “MỘT NỬA” CỦA NHAU !... Cụm từ “hiệp nhất nên một” đă gợi cho chúng ta khá nhiều suy nghĩ về viễn ảnh đời sống hôn nhân, trong đó chính các bạn sẽ là những người vừa kiến tạo vừa xây dựng, lại vừa sống bằng tất cả t́nh yêu và nỗ lực của chính ḿnh. Lời Chúa liên quan mầu nhiệm - bí tích hôn phối sẽ luôn là ánh sáng và động lực giúp các bạn hiểu rơ cũng như thể hiện đúng đắn sự hiệp thông t́nh yêu và sự hiệp nhất trọn vẹn cả tâm hồn lẫn thể xác. Hôn nhân chính là cuộc đời “hai-trong-một”. Chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện hôm nay với vấn đề “lư tưởng nên một” trong hôn nhân Kitô hữu bằng cách đặt vấn đề: “Đâu là ư nghĩa và mục đích của lư tưởng ‘nên một’ này?”. ĐGH Gioan-Phaolô II trong Tông huấn về những bổn phận của gia đ́nh Kitô hữu đă nhấn mạnh như sau: “Nhờ tính cách bí tích của hôn nhân, đôi bạn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ không thể tháo gỡ được. Khi người này thuộc về người kia, họ thực sự biểu lộ tương quan giữa Đức Kitô với Hội Thánh của Ngài, qua dấu chỉ bí tích” (FC 13). Bên cạnh đó, HĐGMVN qua thư Mục Vụ năm 2002 về Thánh hoá Gia đ́nh cũng đă chỉ rơ: “Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đ́nh Kitô giáo là h́nh ảnh sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Yêu nhau và nên một với nhau mà vẫn hoàn toàn tôn trọng sự khác biệt giữa các ngôi vị” (TMV 2002, 6). Dựa vào các chỉ dẫn trên, chúng ta có thể h́nh dung được hai h́nh mẫu đặc trưng của sự hiệp nhất trong hôn nhân Kitô giáo. Một là phản ánh sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và hai là biểu lộ mối quan hệ mật thiết như tương quan gắn bó giữa Chúa Kitô và Hội thánh. ¨ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO: PHẢN ÁNH SỰ HIỆP THÔNG T̀NH YÊU GIỮA BA NGÔI VỊ THIÊN CHÚA. Trong hôn nhân Kitô giáo, sự kiện “hai người nên một” đă diễn tả ư nghĩa sâu xa của thực tại hiệp thông t́nh yêu giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa, như Tông huấn về những bổn phận của gia đ́nh Kitô hữu đă khẳng định: “Thiên Chúa là T́nh yêu và nơi chính ḿnh Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo h́nh ảnh Người, và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. T́nh yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (FC 11). Vậy, khi chấp nhận sống ơn gọi hôn nhân theo như ư Thiên Chúa, các bạn sẽ phải phấn đấu không ngừng và nỗ lực bền bỉ trong việc hoàn thiện sự hiệp thông t́nh yêu, nhờ đó hai người hợp nhất nên một và trở nên dấu chỉ sống động về t́nh yêu hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây được coi là ơn gọi căn bản, nền tảng đối với những ai muốn sống và trung thành với giao ước hôn nhân Kitô hữu của ḿnh. ¨ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO: MÔ PHỎNG VÀ THỂ HIỆN CÁCH TRUNG THỰC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚA KITÔ VÀ HỘI THÁNH. Một sự hiệp thông và hiệp nhất như thế nơi quan hệ vợ - chồng trong hôn nhân Kitô giáo cũng được thánh Phaolô đồng hoá với mối quan hệ trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Ngài đă không ngần ngại so sánh sự kết hiệp giữa chồng - vợ với mối hiệp thông sâu xa, huyền diệu giữa Đức Kitô và Hội thánh của Chúa. Trong thư gửi tín hữu Êphêsô, thánh nhân đă viết: “V́ chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh…Người làm chồng, hăy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến ḿnh v́ Hội thánh” (x.Êp 5,23-25). Như vậy, mối tương quan “đầu-thân ḿnh” là mối tương quan “sống-chết”, là mối tương quan gắn kết không thể tách rời nhau được. Và qua mô phỏng này, đôi bạn sẽ không c̣n là hai cá thể rời rạc mà hợp thành một thân-thể-trong-xác-thịt-và-trong-tinh-thần. Như Lời Kinh thánh mà chúng ta đă nói đến lúc đầu: “Không c̣n là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x.Mt 19,6). Với nhận định như thế, chúng ta xác tín rằng qua việc cử hành bí tích hôn phối trong ngày hôm nay, đôi bạn sẽ mặc nhiên chấp nhận sống mầu nhiệm hiệp thông như Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và mầu nhiệm liên kết như Đức Kitô và Nhiệm Thể của Ngài. II.- ĐIỀU KIỆN ĐỂ NUÔI DƯỠNG, DUY TR̀ VÀ PHÁT HUY SỰ HIỆP THÔNG HIỆP NHẤT TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG. Tuy nhiên, để sống trọn vẹn sự hiệp thông, hiệp nhất và nên một theo kiểu mẫu nêu trên, chúng ta phải dơi theo những ǵ Thiên Chúa và Đức Kitô đă thực hiện. Có thể nêu ra đây ba đ̣i hỏi chính yếu. Đó là phải có t́nh yêu thương quảng đại, phải có sự hy sinh cao cả và phải có ḷng bao dung rộng lớn. 1. Một t́nh yêu thương quảng đại: Như chúng ta đă biết, Thiên Chúa là T́nh Yêu (1Gio 4,8). Và T́nh Yêu xuất phát từ Người (1Gio 4,7). T́nh yêu ấy th́ quá bao la và rộng mở. Ba Ngôi Vị Thiên Chúa yêu nhau “tràn đầy” và vĩnh cửu. Người cũng yêu con người vô bờ bến. V́ yêu, Người đă hành động với tất cả những ǵ Người có thể làm được, kể cả hiến ban Con Một ḿnh để nhân loại được sống sung măn và yêu thương như Người (x.1Gio 4,9-10). Đến lượt Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa làm người, cũng làm gương cho ta về sức mạnh bao la của t́nh yêu. Ngài yêu Cha và vâng phục thánh ư Cha trong mọi sự, kể cả chấp nhận cái chết nhục nhă đau thương nhất. Ngài yêu con người đến giọt máu và hơi thở cuối cùng. Với một t́nh yêu cực kỳ mănh liệt, Ngài đă hiến ban chính sự sống ḿnh cho chúng ta để minh chứng một điều duy nhất: t́nh yêu (x. Gio 13,1;10,11-18). Như vậy, chính t́nh yêu nơi Thiên Chúa và t́nh thương nơi Đức Kitô, sẽ măi măi là mẫu mực cho tất cả mọi Kitô hữu, đặc biệt cho những ai bước vào đời sống hôn nhân gia đ́nh. Hai người bạn đời sẽ yêu nhau như Thiên Chúa yêu họ và như Đức Kitô yêu Hội thánh. Đó thực sự là một đ̣i hỏi quyết liệt và đầy thách thức. Nhưng “T́nh yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (FC 11). Và bí tích hôn nhân Kitô giáo sẽ ban cho chúng ta ơn thánh dồi dào để ta có đủ sức mạnh và nghị lực xây dựng, bảo vệ t́nh yêu đến cùng. Chỉ có t́nh yêu quảng đại (=Agapê) đích thực mới gắn kết hai tâm hồn, hai thân xác, hai con người lại với nhau một cách sâu xa, bền chặt mà thôi. “Hăy yêu như Thiên Chúa đă yêu”. Đó vừa là một mệnh lệnh vừa là một ơn gọi… 2. Một sự hy sinh cao cả: Khi yêu, người ta phải hy sinh. Đó là một quy luật muôn thủa. Chính Chúa Giêsu đă phán: “Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh” (Gio 15,13). Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux cũng đă nói: “Yêu và hy sinh là một, không hy sinh th́ chưa gọi là yêu”. Để t́nh yêu thể hiện đúng nghĩa và có khả năng bảo toàn trọn vẹn sự hiệp thông yêu thương, chúng ta phải hy sinh. Đó là điều mà ĐGH Gioan-Phaolô II đă khẳng định trong Tông huấn về những bổn phận của gia đ́nh Kitô hữu. Ngài viết: ”Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới giúp ǵn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đ́nh. Thực vậy, sự hiệp thông này đ̣i hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở ḷng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hoà giải với nhau. Không có gia đ́nh nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hoà, những căng thẳng, những xung đột đă làm hại cho sự hiệp thông gia đ́nh biết chừng nào, và đôi khi c̣n có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn vàn h́nh thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đ́nh.” (FC 21) Và những nét nổi bật của sự hy sinh đó chính là từ bỏ ư riêng, là sống quảng đại, là biết tôn trọng lẫn nhau, là sẵn sàng tha thứ và kiên tŕ phục vụ v́ lợi ích cho nhau. Chúa Giêsu đă nói và làm gương về sự hy sinh của Ngài. Với Ngài, sống là chu toàn ư Cha, là vác thập giá, là chấp nhận đau khổ, là hoàn thành bổn phận dù là nhỏ mọn nhất, là nhẫn nại chịu đựng, là hy sinh quên ḿnh để phục vụ vv…T́nh yêu nơi Đức Kitô được biểu thị bằng h́nh ảnh một trái tim rướm máu, một trái tim rực lửa và một trái tim luôn luôn rộng mở. Trái tim khao khát chia sẻ t́nh yêu thương. Cuối cùng, một điều đặc biệt quan trọng khác, đó là muốn nên một trong cuộc sống hôn nhân gia đ́nh, chúng ta cần có một tấm ḷng bao dung nữa. 3. Một ḷng bao dung rộng lớn: Chúng ta biết rằng, ḷng bao dung (tolérance) khác với ḷng khoan dung (indulgence). Bao dung là tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người trong đủ mọi chiều kích. Trong khi đó, khoan dung là dễ dàng chấp nhận và tha thứ những lỗi lầm hay khiếm khuyết của người khác. Trên thực tế, có người từng khoan dung, nhưng chưa hẳn đă từng bao dung. Họ có thể tha thứ, thông cảm những sai lỗi của người khác, nhưng không chấp nhận người khác suy nghĩ, hành động khác ḿnh. () Với nhận thức “Bao dung là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của con người” th́ vợ chồng sẽ dễ dàng xích lại gần nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, dễ dàng giúp đỡ nương tựa nhau, dễ dàng cần đến nhau, nhờ đó họ kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương nhau. Một danh nhân đă nói: “Yêu ai là yêu trọn vẹn con người đó y nguyên như trong thực tế, chứ không phải như trong ước muốn của ta” (Leon Tolstoi). Ca dao VN ta cũng có câu: “Yêu nhau vạn sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…”. Thực vậy, “Sự hiệp thông trong gia đ́nh đ̣i hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở ḷng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hoà giải với nhau.” (FC 21). Khi hai người phối ngẫu biết mở ḷng ra để đón nhận người bạn đời th́ có nghĩa là, một mặt họ phải sẵn sàng chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người ấy, mặt khác họ cần khiêm tốn quảng đại tự điều chỉnh ḿnh kịp thời và thường xuyên, để sự hiệp nhất luôn được bảo toàn, tránh xảy ra những rạn nứt, mâu thuẫn nghiêm trọng. III.- “NÊN MỘT”: CÓ CHĂNG CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG ? Những suy nghĩ trên kia giúp chúng ta hiểu rằng sự hiệp thông, hiệp nhất để nên một trong hôn nhân Kitô hữu không chỉ là lư tưởng mơ hồ, như một điều ǵ đó “kính nhi viễn chi”, mà thực chất đó là ơn gọi, là sứ mệnh và cũng là ơn huệ của con cái Thiên Chúa. Chúa Giêsu đă từng quan tâm điều này, và thành khẩn cầu mong “Để tất cả nên một…” (Gio 17,21). Với các đồ đệ thân tín của Ngài, cũng như với mọi tín hữu sống ơn gọi khác nhau, lời cầu xin ấy luôn có ư nghĩa to lớn. Bởi thực tế luôn cho thấy rằng có rất nhiều “ma lực” luôn đe doạ, nhằm phá vỡ cách dễ dàng sự hiệp thông hiệp nhất vợ chồng. Những thông tin được đăng tải hằng ngày trên sách vở báo chí căn cứ những thống kê khảo sát tỉ mỉ đă cho thấy thực trạng đổ vỡ nơi các đôi vợ chồng trong gia đ́nh hiện nay rất đáng báo động. Những mâu thuẫn, rạn nứt, đổ vỡ, chia rẽ, bất hoà, xung đột, căng thẳng đang có nguy cơ len lỏi vào hầu hết các gia đ́nh, kể cả những gia đ́nh Kitô hữu chúng ta. Và hệ quả thường kéo theo là những vụ ly hôn, ly dị. Chuyện hợp tan, tan hợp không c̣n ǵ là hiếm hoi, xa lạ nữa. Báo chí cho biết ở Trung Quốc, trong năm 2002 có 1,2 triệu cặp vợ chồng ly hôn. Có nghĩa là trung b́nh mỗi ngày có 3.225 vụ ly hôn. () Riêng ở nước ta, tại TP. HCM, năm 1995 có 5.195 vụ ly hôn trên tổng số 15.918 đôi kết hôn, tỷ lệ là 32,64%. Như thế, ta thấy cứ ba đôi kết hôn th́ lại có một đôi ly hôn. Con số này so với các thành phố khác như Manila, Thượng Hải, Kuala-Lumpur, Jakarta…là khá cao. () Đó là mặt trái đen tối của bức tranh hôn nhân gia đ́nh trong xă hội ngày này. V́ lư do nào đó, người ta đă đánh mất niềm an vui hiệp nhất quư báu mà lư tưởng hôn nhân đă định hướng ngay từ ban đầu. Dù sao chăng nữa, các đôi vợ chồng Kitô hữu chúng ta cũng không quá bi quan trước t́nh h́nh này. Vấn đề là chúng ta cần cảnh giác và tỉnh táo để nhận định thực trạng, t́m hiểu nguyên nhân và cầu nguyện. Ơn Chúa sẽ giúp chúng ta thực thi hoàn hảo trong đời sống cụ thể của ḿnh ba đ̣i hỏi căn bản của Chúa, đó là: “yêu thương quảng đại - hy sinh cao cả và bao dung rộng lớn”. Đó là cách chúng ta đối phó với những đe doạ huỷ hoại mối hệ hiệp nhất vợ chồng. Đó cũng là cơ sở vững chắc để chúng ta tin tưởng sẽ bảo vệ cuộc hôn nhân của ḿnh được bền vững và hạnh phúc lâu dài. Để kết thúc đề tài này, chúng ta nhắc lại một ư tưởng ngắn trong Thư Mục Vụ 2002 của HĐGMVN về “Thánh hoá gia đ́nh”, như sau: “Dẫu cho có những bóng tối và khó khăn che lấp đi phần nào sự cao đẹp của những giá trị hôn nhân và gia đ́nh, nhưng các Kitô hữu vẫn luôn được mời gọi vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa để trở thành sứ giả loan báo Tin Mừng về gia đ́nh cho thế giới hôm nay, và để các ‘gia đ́nh Kitô hữu trở nên tin mừng cho thiên niên kỉ thứ ba’ ” (TMV2002, 9). Sự hiệp thông gắn bó và hiệp nhất bền vững trong đời sống vợ chồng luôn là dấu chỉ về một cuộc hôn nhân hạnh phúc, đẹp ḷng Thiên Chúa. Đó cũng là một cách làm chứng và rao giảng Tin Mừng có sức thuyết phục nhất đối với những gia đ́nh đang ch́m trong bất hoà, chia rẽ và nguy cơ tan vỡ. Aug. Trần Cao Khải |
| cập nhật ngày 12 tháng 12 năm 2005 |
| © 2005 Gia Nhân |