Thư
của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Gởi phụ nữ toàn thế giới
ngày 29/06/1995 nhân dịp Năm Quốc Tế Người Nữ
Tôi gởi lời chào thân t́nh nhất tới tất cả chị em phụ nữ toàn thế giới !
1. Tôi xin gởi thơ này đến từng người trong chị em làm dấu chỉ chia sẻ
và biết ơn, đang khi gần tới kỳ Hội Nghị Thế Giới lần thứ tư về Phụ Nữ,
sắp họp tại Bắc Kinh vào tháng 9 tới đây.
Trước hết tôi muốn nói với Tổ chức Liên Hiệp Quốc là tôi tán thành sáng
kiến có tầm quan trọng lớn lao do Liên Hiệp Quốc chủ xướng. Giáo Hội, về
phần ḿnh, muốn đóng góp vào việc bênh vực phẩm giá, vai tṛ và những
quyền lợi các người nữ, không những bằng phần đóng góp đặc biệt của Phái
đoàn chính thức của Toà Thánh cho công việc tại Bắc Kinh, nhưng Giáo Hội
cũng trực tiếp nói với con tim và tâm trí của các người nữ. Mới đây,
nhân cuộc bà Gertrude Mongella, Tổng Thư Kư Hội Nghị, đến viếng thăm tôi
v́ cuộc Hội Nghị quan trọng này, tôi có ư trao cho bà một Sứ Điệp tŕnh
bày một số điểm căn bản thuộc huấn giáo của Giáo Hội về và án đề này.
Đây là một Sứ Điệp, ngoài biến cố chính xác linh hứng nó, mở ra một viễn
ảnh phổ quát hơn thuộc thực tại và những vấn đề của toàn thể người nữ,
giúp ích cho quyền lợi của họ trong Giáo Hội và trong thế giới hiện nay.
Do đó, tôi quyết định gởi Sứ Điệp này tới tất cả các Hội Đồng Giám Mục
để được phổ biến rộng răi nhất.
Từ những ǵ tôi đă viết trong tài liệu này, bây giờ tôi muốn nói trực
tiếp với mỗi người nữ ngơ hầu suy tư với họ về những án đề và những viễn
ảnh của địa vị người nữ trong thời đại chúng ta, dừng lại cách riêng
trên chủ đề thiết yếu thuộc phẩm giá và các quyền lợi người nữ dưới ánh
sáng Lời Chúa.
Khởi điểm việc bắt đầu cuộc đối thoại này chỉ có thể là một tiếng cám ơn.
Như tôi đă viết trong Tông thư Mulieris dignitatem, Giáo Hội "ao ước tạ
ơn Thiên Chúa Ba Ngôi v́ 'mầu nhiệm người nữ' và v́ tất cả người nữ, v́
những ǵ cấu tạo nên chiều kích vĩnh cửu của phẩm giá người nữ, v́ những
'sự lạ lùng' của Thiên Chúa, được thực hiện nơi người nữ và qua người nữ,
trong lịch sử các thế hệ loài người" (n. 31).
2. Lời cảm tạ dâng lên Chúa, v́ ư định của Người đối với ơn gọi và sứ
mệnh người nữ trong thế giới, cũng trở thành một lời cám ơn cụ thể và
trực tiếp đối với các người nữ, mỗi một người nữ, v́ những ǵ họ phô
diễn trong đời sống nhân loại.
Cảm ơn chị, hỡi người nữ-mẹ, chị tiếp nhận trong ḷng chị hữu thể nhân
bản với niềm vui và sự cực nhọc của một kinh nghiệm duy nhất, do kinh
nghiệm đó chị trở nên sự mỉm cười của Chúa đối với đứa con ra đời, chị
trở nên kẻ hướng dẫn những bước đi đầu tiên của nó, nâng đỡ sự lớn lên
của nó, rồi trở nên mục tiêu trên con đường sự sống của nó.
Cảm ơn chị, hỡi người nữ-vợ, chị liên kết cách bất di dịch
vận mạng của
chị với vận mạng một người nam, trong một quan hệ trao thân cho nhau,
để phục vụ sự hiệp thông và sự sống.
Cảm ơn chị, hỡi người nữ-con và người nữ-chị, chị mang vào nhà của gia
đ́nh, rồi trong cảnh phức tạp đời sống xă hội, những phong phú thuộc
tính đa cảm của chị, thuộc trực giác của chị, thuộc ḷng quảng đại của
chị và thuộc sự kiên nhẫn của chị.
Cảm ơn chị, người nữ-lao công, dấn thân vào trong tất cả các lănh vực
thuộc đời sống xă hội, kinh tế, và văn hoá, nghệ thuật, chính trị, v́ sự
góp phần của chị, không thay thế được, vào việc xây dựng một nền văn hoá
có khả năng liên hợp lư trí và t́nh cảm, vào một quan niệm về sự sống
luôn luôn mở ra theo nghĩa "mầu nhiệm", vào sự thiết lập những cấu trúc
kinh tế và chính trị phong phú hơn về mặt nhân loại.
Cảm ơn chị, người nữ-thánh hiến, theo sau người nữ cao cả nhất là Mẹ
Chúa Kitô Ngôi Lời nhập thể, chị tự mở ḷng đón nhận t́nh yêu của Chúa
cách hết sức ngoan ngoăn và trung thành, nhờ vậy chị giúp Giáo Hội và
toàn thể nhân loại dâng lên Chúa một câu trả lời "có tính hiền thê" (réponse
sponsale), diễn tả cách kỳ diệu sự hiệp thông Chúa muốn thiết lập với
thọ tạo của Người.
Cảm ơn chị, người nữ, chỉ v́ chị là phụ nữ ! Nhờ tri giác xứng hợp với
nữ tính của chị, chị làm giàu cho sự hiểu biết về thế giới và chị góp
phần vào chân lư hoàn hảo của những liên quan nhân bản.
3. Nhưng tôi biết điều đó, tiếng cảm ơn không chưa đủ. Vô phúc thay
chúng ta đă thừa hưởng một lịch sử có quá nhiều qui định mà, trong mọi
thời gian và không gian, đă gây khó khăn cho đường đi của người nữ, phủ
nhận phẩm giá người nữ, biến chất những đặc quyền người nữ, thường loại
người nữ ra bên lề và c̣n bắt người nữ sống cảnh nô lệ.
Tất cả những thứ đó đă ngăn cản người nữ làm người nữ cách trọn vẹn, và
đă tước đoạt toàn thể nhân loại những kho tàng thiêng liêng chính hiệu
nhất. Chắc không dễ ǵ nhận định những trách nhiệm đích xác, v́ trọng
lượng của những sự kết tầng (sédimentation) văn hoá, qua bao thế kỷ, đă
h́nh thành những năo trạng và những cơ chế.
Nhưng nếu trong lănh vực này, người ta không thể phủ định, nhứt là trong
một số bối cảnh lịch sử, trách nhiệm khách quan của nhiều người con Giáo
Hội, th́ tôi chân thành hối tiếc điều đó. Chớ ǵ sự hối tiếc đó có thể
diễn dịch, đối với tất cả Giáo Hội, qua cố gắng lấy lại ḷng trung thành
với linh hứng Phúc Âm, sự linh hứng này, chính trên chủ đề giải phóng
người nữ khỏi mọi h́nh thức bất công và thống trị, chứa đựng một sứ điệp
luôn có tính thời sự phát xuất từ chính thái độ của Chúa Kitô. Chúa Kitô
vượt qua mọi qui định thịnh hành trong văn hoá thời đại Người, duy tŕ
đối với người nữ một thái độ cởi mở, tôn trọng, tiếp rước, dịu hiền. Như
vậy Chúa Kitô tôn trọng nơi người nữ cái phẩm giá họ luôn có được trong
ư đồ và trong t́nh yêu của Thiên Chúa.
Khi quay hướng về Người lúc kết thúc ngàn năm thứ hai, tự nhiên chúng ta
hỏi ḿnh sứ điệp của Người đă được lănh nhận và đem ra thực hành tới đâu
rồi.
Vâng, đă tới lúc, với ḷng can đảm của trí nhớ và sự nh́n nhận thành
thực những trách nhiệm, phải xem xét lịch sử lâu dài của nhân loại, một
nhân loại đă được người nữ góp phần không thua kém người nam, và thường
là trong những điều kiện khó khăn hơn nhiều.
Đặc biệt tôi nghĩ tới những người nữ ưa thích văn hoá và nghệ thuật, và
đă hiến ḿnh vào đó tuy khởi đầu từ những hoàn cảnh bất lợi, thường
không được hưởng nền giáo dục ngang với người nam, liều bị đánh giá quá
thấp, liều thấy sự đóng góp trí tuệ của ḿnh bị phủ nhận hay có khi bị
tước đoạt. Vô phúc thay, tuy các người nữ trong lịch sử hoạt động nhiều
như thế, mà rất ít sự việc được ghi nhận qua các dụng cụ của khoa chép
sử khoa học.
Nhưng cũng may, nếu thời gian đă chôn vùi những tài liệu mang dấu vết
của những sự việc đó, th́ không thể không cảm thấy những hiệu quả tốt
của chúng trong chất nhựa đă nuôi dưỡng các thế hệ kế tiếp nhau tới thời
chúng ta. Nhân loại nợ một món nợ không tính được đối với "truyền thống"
phụ nữ vĩ đại và mênh mông này. Biết bao người nữ đă bị và c̣n bị đánh
giá theo phương diện thể lư hơn là theo khả năng của họ, theo giá trị
nghề nghiệp của họ, theo sinh hoạt trí thức của họ, theo sự phong phú
thuộc t́nh cảm của họ và, sau hết, theo chính phẩm giá thuộc hữu thể của
họ !
4. và nói ǵ về những cản trở mà, trong nhiều nơi trên thế giới, c̣n
ngăn cản phụ nữ góp phần cách đầy đủ trong đời sống xă hội, chính trị và
kinh tế ? Chỉ cần nghĩ rằng hồng ân được làm mẹ thường bị vạ hơn là được
quí trọng, đang khi nhân loại nhờ đó mà sống c̣n.
Chắc chắn c̣n nhiều việc phải làm để thân phận người nữ và người mẹ
không c̣n bị kỳ thị nữa. Điều khẩn cấp là đạt được khắp nơi sự b́nh đẳng
thật sự về các quyền lợi con người, tức là tiền lương đồng đều cho một
công việc ngang nhau, sự bảo vệ những bà mẹ lao động, sự thăng tiến
trong nghề, quyền b́nh đẳng vợ chồng trong gia đ́nh, sự nh́n nhận tất cả
những ǵ liên kết với những quyền lợi và nhiệm vụ của người công dân
trong một chế độ dân chủ. Đó là một hành vi công bằng, mà cũng là một sự
cần thiết. Trong nền chính trị mai sau, người nữ sẽ luôn luôn dính líu
hơn trong những vấn đề trầm trọng được tranh căi bây giờ: thời giờ rảnh
rỗi, chất lượng sự sống, những di dân, những phục vụ xă hội, sự chết êm
dịu, thuốc chích, sức khoẻ và những chăm sóc, sinh thái học, v.v...
Trong tất cả các lănh vực này, thấy sự hiện diện dũng cảm xă hội của
người nữ là quí báu, bởi v́ người nữ sẽ góp phần bày tỏ những mâu thuẫn
của một xă hội được tổ chức chỉ trên những tiêu chuẩn của hiệu lực và
sản suất, và người nữ sẽ bắt buộc tái xác định những hệ thống, có lợi
cho những những diễn tiến nhân đạo hoá, biểu thị đặc tính riêng "cho nền
văn minh t́nh yêu".
5.
Khi xem xét một trong những khía cạnh tế nhị nhất của thân phận người nữ
trong thế giới, làm sao mà không nhắc tới lịch sử lâu dài và nhục nhă -
thường là "bí ẩn" (souterraine)- của những lạm dụng phản lại người nữ
trong lănh vực t́nh dục ? Sắp bước sang ngàn năm thứ ba, chúng ta không
thể thản nhiên trước hiện tượng này, cũng không thể cam chịu vậy. Tới
lúc phải mạnh mẽ lên án, bằng cách khơi lên những phương tiện lập pháp
xứng hợp để ngăn cấm, những h́nh thức bạo tàn t́nh dục thường lấy người
nữ làm đối tượng.
Nhân danh sự tôn trọng con người, chúng ta cũng không thể không tố cáo
nền văn hoá theo chủ nghĩa khoái lạc và thương mại rất phổ biến, quảng
cáo việc khai thác có hệ thống t́nh dục, thúc ép chính những em gái tuổi
c̣n bé ngă nhào vào trong những mạch hư đốn và biến thân xác ḿnh thành
một món hàng.
Trước những trụy lạc như vậy, ngược lại, đáng ca ngợi biết bao, những
người nữ, v́ t́nh yêu anh hùng đối với con ḿnh, vẫn tiếp tục cưu mang
bào thai h́nh thành do sự bất công của những quan hệ t́nh dục bị cưỡng
ép, và điều đó xảy ra không những trong khuôn khổ những sự tàn bạo, vô
phúc xảy ra trong những bối cảnh chiến tranh c̣n rất thường trong thế
giới, nhưng cũng xảy ra trong những hoàn cảnh an lạc và hoà b́nh, những
hoàn cảnh thường bị ung thối do một nền văn hoá cho phép thụ hưởng khoái
lạc, nơi dễ dàng phát sinh những khuynh hướng bộc lộ nam tính cách hiếu
chiến ! Trong những hoàn cảnh thể ấy, việc chọn lựa phá thai, luôn luôn
là một trọng tội, trước lúc gán trách nhiệm cho người nữ, là một tội ác
phải đổ lỗi cho người nam và cho sự đồng loă của môi trường sống.
6. Việc cám ơn của tôi đối với người nữ, tức là kêu nài tất cả mọi người,
cách riêng các Quốc Gia và những cơ chế quốc tế, làm những ǵ phải làm
để phẩm giá và vai tṛ người nữ được tôn trọng đầy đủ.
Về vấn đề này, tôi không thể không bày tỏ ḷng khâm phục của tôi đối với
những người nữ thiện chí đă tự hiến ḿnh bênh vực phẩm giá của địa vị
người nữ, nhờ sự thu phục những quyền căn bản trên các mặt xă hội, kinh
tế và chính trị, và đối với những người nữ đă can đảm đưa ra sáng kiến
này trong những thời điểm mà sự dấn thân của họ bị coi như là một hành
vi phạm pháp, một dấu thiếu nữ tính, một sự phát lộ chứng phô bày, có
khi là là một tội !
Như tôi đă viết trong Sứ Điệp Ngày Quốc Tế Hoà B́nh năm nay, khi xem xét
diễn tiến cả thể của sự giải phóng phụ nữ, người ta có thể nói rằng con
đường này "đă là khó nhọc và phức tạp, thỉnh thoảng có lầm lẫn, nhưng
tích cực về bản chất, cho dầu nó chưa hoàn tất do nhiều ngăn trở mà
trong nhiều vùng thế giới, ngăn cản người nữ được biết, được tôn trọng
và đánh giá trong phẩm giá riêng của họ" (n. 4).
Phải kiên nhẫn trong con đường này ! Nhưng, tôi xác tín rằng bí mật để
nhanh chóng vượt qua con đường tôn trọng đầy đủ căn tính người nữ, không
những phải qua sự tố giác, mặc dầu đó là cần thiết, những kỳ thị và
những bất công, mà c̣n và hơn hết phải qua một dự án thăng tiến cũng
hiệu nghiệm như được soi sáng, bao gồm tất cả các lănh vực thuộc đời
sống người nữ, khởi sự từ việc có ư thức đổi mới và phổ biến về phẩm giá
người nữ. Chính lư trí chấp nhận lề luật Chúa ghi trong ḷng mọi người,
th́ cũng làm chúng ta nhận biết phẩm giá này mặc dầu có nhiều qui định
lịch sử của nó. Nhưng Lời Chúa hơn hết cho phép chúng ta nhận rơ nền
tảng nhân loại học căn nguyên của phẩm giá người nữ, khi cho chúng ta
thấy nó trong ư đồ của Thiên Chúa trên nhân loại.
7. vậy, thưa chị em quí mến, chị em hăy chấp nhận cho tôi cùng với chị
em suy tư lại trang Thánh Kinh kỳ diệu diễn tả việc sáng tạo con người,
và phát biểu nhiều điều về phẩm giá của chị em và về sứ mệnh của chị em
trong thế giới.
Sách Sáng Thế nói về việc sáng tạo một cách tổng hợp và trong một ngôn
ngữ thi vị và biểu trưng, nhưng chân thực sâu sắc: "Thiên Chúa sáng tạo
con người theo h́nh ảnh ḿnh, Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh
ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1, 27).
Hành vi sáng tạo của Thiên Chúa dàn ra theo một đồ án nhứt định. Trước
hết, nói rằng con người được làm ra theo h́nh ảnh và nên giống Thiên
Chúa (x. St 1, 26), cách nói làm sáng tỏ tức th́ đặc tính riêng biệt của
con người trong toàn thể công tŕnh sáng tạo.
Tiếp theo nói con nguời được tạo nên "có nam có nữ" (St 1, 27), ngay từ
đầu. Chính Kinh Thánh cung cấp việc giải thích yếu tố này: mặc dầu được
bao vây bởi những thọ tạo nhiều vô số trong thế giới hữu h́nh, con người
vẫn cảm thấy ḿnh cô đơn (x. St 2, 20). Thiên Chúa can thiệp đưa con
nguời ra khỏi cảnh cô đơn này: "Con người ở một ḿnh th́ không tốt, Ta
sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó" (St 2, 18). Như vậy, từ đầu,
nguyên lư trợ tá đă được viết trong việc sáng tạo người nữ: trợ tá -chúng
ta hăy nhớ kỹ- không phải đơn phương, nhưng hỗ tương. Người nữ là tuỳ
thể (complément) của người nam, cũng như người nam là tuỳ thể của người
nữ: người nữ và người nam bổ sung cho nhau. Nữ tính thực hiện "nhân bản"
cũng y như nam tính, nhưng theo một hoà điệu khác biệt và bỗ sung.
Khi sách Sáng thế nói tới "trợ tá", sách ấy không những qui chiếu về
lănh vực hành động, mà c̣n về lănh vực hữu thể. Nữ tính và nam tính bỗ
sung cho nhau, không những về phương diện thể lư và tâm lư, nhưng thực
thể nữa. Chỉ nhờ tính nhị nguyên của "nam tính" và của "nữ tính" mà "con
người" được thể hiện đầy đủ.
8. Sau khi tạo dựng con người, có nam có nữ, Thiên Chúa phán với cả hai:
"Hăy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất"
(St 1, 28). Thiên Chúa không những ban cho con người quyền năng sinh sản
để lưu tồn nhân loại theo thời gian, nhưng Thiên Chúa cũng ban cho con
người mặt đất như một nhiệm vụ, khuyến khích con người quản trị những
tài nguyên mặt đất một cách có trách nhiệm. Con người, hũu thể có lư trí
và tự do, được kêu mời biến đổi mặt đất. trong nhiệm vụ này, chủ yếu là
một công tŕnh văn hoá, người nam và người nữ có trách nhiệm ngang nhau
từ đầu. Trong tính hỗ tương vợ chồng và phong phú của họ, trong nhiệm vụ
chung của họ làm bá chủ và thống trị trái đất, người nữ và người nam
không diễn tả một sự ngang hàng cân bằng và san bằng, càng không phải là
một sự khác biệt sâu thẳm và xung đột cách khốc liệt: tương quan tự
nhiên nhất của họ, đáp ứng với ư định của Thiên Chúa, là "sự hiệp nhất
cả hai", nghĩa là một "sự hiệp nhất nhị nguyên" liên hệ, cho phép mỗi
người khám phá sự quan hệ liên vị và hỗ tương như là một hồng ân, nguồn
mạch sự phong phú và trách nhiệm.
Thiên Chúa trao cho "sự hiệp nhất cả hai" này, không những công tŕnh
sinh sản và sự sống gia đ́nh, nhưng cũng trao cho sự xây dựng lịch sử.
Nếu, trong Năm Quốc Tế Gia Đ́nh, cử hành năm 1994, người ta chú ư tới
người nữ như người mẹ, Hội Nghị Bắc Kinh là một dịp thuận tiện để tái
nhận thức nhiều sự đóng góp mà người nữ hiến cho đời sống xă hội và các
quốc gia toàn diện. Đó là những sự đóng góp có bản chất thiêng liêng và
văn hoá hơn hết, nhưng cũng thuộc bản chất xă hội chính trị và kinh tế.
Tầm quan trọng thật sự là to lớn của những ǵ mà các lănh vực khác biệt
xă hội, các Quốc gia, các nền văn hoá quốc gia và, sau hết, sự thăng
tiến của toàn thể nhân loại, có được, nhờ sự đóng góp của những nguời nữ.
9. Nói chung, sự tiến triển được đánh giá tùy theo những ngành khoa học
và kỹ thuật, và, dầu về phương diện này, sự đóng góp của người nữ không
phải là không đáng kể. Nhưng, đó không phải là chiều kích duy nhất của
sự tiếân triển, cũng không phải là chiều kích chính. Chiều kích đạo đức
và xă hội, đánh dấu những tương quan nhân bản và những giá trị tinh thần,
xem ra quan trọng hơn: trong chiều kích này, thường được phát triển cách
âm thầm khởi từ những tương quan hằng ngày giữa những con người, đặc
biệt bên trong gia đ́nh, chính ở "thiên tài người nữ" mà xă hội mắc nợ
phần lớn.
Về vấn đề ấy, tôi muốn tỏ ḷng cảm ơn cách riêng đối với những người nữ
dấn thân trong các lănh vực rất khác biệt của việc giáo dục bên ngoài
gia đ́nh: vườn trẻ, trường học, đại học, những phục vụ xă hội, những
giáo xứ, những hội họp và những phong trào. Bất cứ nơi nào cần có một
công tŕnh đào tạo, người ta có thể chứng nhận sự sẵn sàng vô tận của
những người nữ nỗ lực trong những quan hệ nhân bản, cách riêng v́ những
kẻ yếu kém nhất và những kẻ không được bảo vệ. Trong hành động này,
những người nữ hoàn thành một h́nh thức mẫu tính yêu đương, văn hoá và
thiêng liêng, có một giá trị thật vô giá do những hiệu quả trên sự phát
triễn con người và tương lai xă hội. và làm sao không nhắc tới ở đây
chứng từ của nhiều người nữ công giáo và của nhiều Hội Ḍng nữ tu mà,
trong nhiều vùng khác biệt, đă lấy việc giáo dục, nhất là giáo dục những
thanh niên và thiếu nữ trẻ, làm sinh hoạt chính của ḿnh.
Làm sao lại không có tâm t́nh biết ơn đối với tất cả những người nữ đă
làm việc và tiếp tục làm việc trong lănh vực y tế, không những trong
khuôn khổ những cơ chế y tế được tổ chức chu đáo nhất, nhưng thường
trong những hoàn cảnh rất tạm bợ, trong những xứ nghèo nhất thế giới,
các chị nêu lên một bằng chứng sẵn sàng thuờng gần như tử đạo ?
10. Thưa chị em yêu quí, tôi ước sao cho người ta chú tâm suy tư một
cách đặc biệt về chủ đề "thiên tài người nữ", không những để nhận ra ở
đó những nét thuộc chương tŕnh đích thực của Thiên Chúa cần phải được
chấp nhận và kính tôn, mà c̣n phải dành cho chương tŕnh đó một chỗ
trong tổng thể của đời sống xă hội, và cả trong đời sống Giáo Hội nữa.
Trong Tông Thư Mulieris dignitatem phổ biến năm 1988, tôi đă có dịp đề
cập rộng răi vấn đề này, vấn đề đă được bàn đến trong Năm Thánh Mẫu. Rồi
năm đó, ngày thứ Năm Tuần Thánh, tôi đă muốn nhắc tới Tông Thư Mulieris
Dignitatem trong thơ tôi thường gởi các linh mục, nhắc các ngài suy nghĩ
vềƠ vai tṛ đầy ư nghĩa người nữ thi hành trong đời sống của họ, với tư
cách làm mẹ, làm chị và làm người cộng tác trong các sinh hoạt tông đồ.
Đó là một chiều kích khác của người "trợ tá"- khác với chiều kích vợ
chồng, nhưng cũng quan trọng như vậy - mà người nữ, theo sách Sáng Thế,
được kêu mời thi thố cho người nam.
Giáo Hội thấy trong Đức Maria sự diễn tả cao nhất của "thiên tài người
nữ" và gặp ở đó một nguồn linh hứng liên tục. Đức Maria đă tự định nghĩa
là "tôi tá Chúa" (Lc 1, 38). Chính v́ vâng theo Lời Chúa mà Mẹ đă chấp
nhận ơn gọi đặc biệt của Mẹ, nhưng không phải thật dễ dàng khi làm vợ và
làm mẹ tại gia đ́nh Nadareth. Khi đặt ḿnh phục vụ Chúa, Mẹ cũng đặt
ḿnh phục vụ con người: phục vụ t́nh yêu. Chính việc phục vụ này đă cho
phép Mẹ thực hiện trong đời sống, kinh nghiệm một "vương quyền" mầu
nhiệm nhưng đích thực. Không phải do ngẫu nhiên mà Mẹ được kêu xin như
là "Nữ Vương trời đất". Tất cả cộng đồng tín hữu kêu xin mẹ như thế đó;
nhiều dân tộc và quốc gia kêu xin Mẹ như Nữ Vương. "Vương quyền" của Mẹ
là một phục vụ ! Việc phục vụ của mẹ là một "vương quyền"!
Uy quyền trong gia đ́nh cũng như trong xă hội và Giáo Hội, phải được
hiểu như vậy. "Vương quyền" là một mặc khải của ơn gọi căn bản thuộc hữu
thể nhân bản, với tư cách được sáng tạo giống "h́nh ảnh" của Đấng là
Chúa trời đất, và được kêu gọi làm dưỡng tử Chúa trong Đức Kitô. Con
người là tạo vật duy nhất trên mặt đất mà "Chúa đă muốn cho chính nó",
như Công đồng Vatican II dạy, Công Đồng nói thêm cách có ư nghĩa rằng
con người "chỉ có thể gặp lại chính bản thân ḿnh nhờ thành thực hiến
thân" (Gaudium et Spes, n. 24).
"Vương quyền" từ mẫu của Đức Maria hệ tại đó. Toàn thân Mẹ đă là một
tặng phẩm cho Chúa Con, Mẹ cũng là một tặng phẩm cho các con trai con
gái của toàn thể nhân loại, gợi lên niềm tin rất sâu xa của kẻ quay về
với Mẹ để được Mẹ dắt đi dọc những con đường khó nhọc sự sống, tới đích
cùng cá nhân ḿnh, tới án mạng siêu việt của ḿnh. Qua những giai đoạn
ơn gọi riêng của ḿnh, mỗi người đi tới cùng đích này, cùng đích định
hướng sự cam kết trong thời gian của người nam cũng như người nữ.
11. Trong viễn ảnh "phục vụ" này - phục vụ diễn tả "vương quyền" thật
của hữu thể nhân loại, nếu nó được hoàn thành trong tự do, trong hỗ
tương và t́nh yêu -, cũng có thể chấp nhận một sự khác biệt nào đó về
nhiệm vụ, mà không sinh ra những hậu quả bất lợi cho người nữ, theo mức
độ sự khác biệt đó không phải là hậu quả của một trật tự độc đoán, nhưng
phát xuất từ những đặc tính của hữu thể nam và nữ. Đó là một khẳng định
cũng được áp dụng riêng biệt bên trong Giáo Hội. Nếu Chúa Kitô - do một
sự chọn lựa tự do và tối cao, được chứng nhận rơ rệt trong Tin Mừng và
trong truyền thống liên tục của Giáo Hội - chỉ giao phó cho người nam
nhiệm vụ làm "h́nh ảnh" gương mặt "mục tử" của Người và "làm phu quân"
của Giáo Hội qua việc thực thi chức tư tế thừa tác, th́ điều đó không
cướp đoạt ǵ hết đối với vai tṛ người nữ, cũng như đối với vai tṛ
những phần tử khác trong Giáo Hội mà không được trao quyền thừa tác vụ
thánh, bởi v́ tất cả đều được phú cho phẩm giá riêng biệt "của chức tư
tế chung" gốc rễ trong bí tích Rửa Tội. Thật vậy, những phân biệt vai
tṛ không nên giải thích dưới ánh sáng những qui luật hoạt động xứng hợp
với các xă hội loài người, nhưng theo những tiêu chuẩn riêng của nhiệm
cục bí tích, nghĩa là nhiệm cục của "những dấu" Chúa tự do lựa chọn, để
hiện diện giữa loài người.
Hơn nữa, chính trong đường lối của nhiệm cục các dấu này, cho dầu bên
ngoài lănh vực bí tích, "nữ tính", sống theo kiễu mẫu Đức Maria, không
được coi thường. Thật vậy, trong "nữ tính" của người nữ tín hữu, và cách
riêng của người nữ "thánh hiến", có một thứ "lời ngôn sứ" tự tại (x.
Mulieris dignitatem, n. 29), một biểu trưng khơi động mạnh, người ta có
thể nói "một đặc tính h́nh ảnh" có thai, đặc tính thực hiện đầy đủ nơi
Đức Maria và diễn tả đúng chính hữu thể của Giáo Hội với tư cách là cộng
đồng thánh hiến, trong sự tràn trề của một con tim "đồng trinh", để làm
"Hiền Thê" của Chúa Kitô và "Mẹ" của các tín hữu. Trong viễn ảnh bổ sung
"h́nh ảnh" của những vai tṛ nam và nữ, có hai chiều kích không thể phân
ly của Giáo Hội càng hiện ra ánh sáng hơn nữa: nguyên lư "Maria" và
nguyên lư "tông đồ và Phêrô" (x. ibid, n.27).
Trong lănh vực bao la này của việc phục vụ, lịch sử Giáo Hội, qua hai
ngàn năm, mặc dầu với bao nhiêu qui định, thật sự đă biết "thiên tài
người nữ", v́ đă thấy xuất hiện trong ḷng ḿnh những người nữ hàng đầu,
họ đă để lại một dấu tích quan trọng và tốt lành về chính ḿnh, trong
những thời đại khác nhau. Tôi nghĩ tới đoàn dài những người nữ tử đạo,
những thánh nữ, những dấu hiệu thần bí. Cách riêng tôi nghĩ tới thánh
Catarina thành Siênna, thánh Têrêsa Avila, những vị thánh được đức Giáo
Hoàng Phaolô VI ban cho tước hiệu Tiến sĩ Giáo Hội. Và làm sao không
nhắc tới vô số người nữ, do đức tin khích động, đă hiến đời ḿnh cho
những sáng kiến có ích lạ lùng cho xă hội, cách riêng để phục vụ những
kẻ nghèo nhất ?
Tương lai Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba chắc sẽ thấy xuất hiện những
biểu thị mới mẽ và đáng ca ngợi của "thiên tài nữ giới".
12. Thưa chị em quí mến, chị em thấy Giáo Hội có nhiều lư do để ước muốn
rằng, trong kỳ Hội Nghị sắp tới do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh,
người ta đưa ra ánh sáng chân lư trọn vẹn về người nữ. Ước ǵ người ta
tán dương thật sự "thiên tài người nữ", lưu ư không những tới các người
nữ quan trọng và danh tiếng, đă sống thời quá khứ hay c̣n đồng thời với
chúng ta, nhưng cũng lưu tâm tới các người nữ b́nh thường, những người
phát triển tài năng phụ nữ của ḿnh để phục vụ những kẻ khác trong cái
tầm thường hằng ngày !
Thật vậy, chính lúc hiến ḿnh cho kẻ khác trong đời sống mỗi ngày mà
người nữ thực hiện ơn gọi sâu xa của sự sống ḿnh, người nữ đó thấy
người nam, có lẽ c̣n hơn người nam, bởi v́ người nữ đó thấy người nam
với con tim. Người nữ đó thấy người nam mà không quan tâm tới những hệ
thống khác biệt ư thức hệ hay chính trị.
Người nữ đó thấy người nam với sự cao cả và những hạn chế của người nam,
và người nữ đó t́m đến gặp người nam và làm trợ tá cho họ. Bằng cách đó,
trong lịch sử nhân loại, được thực hiện chương tŕnh cơ bản của Đấng
Sáng Tạo và xuất hiện không thôi, trong vẻ khác biệt các ơn gọi, sự tốt
đẹp - không những thể lư mà c̣n thiêng liêng - mà Thiên Chúa đă ban phát
từ đầu cho tạo vật nhân bản và cách riêng cho người nữ.
Đang khi tôi phó thác cho Thiên Chúa trong kinh nguyện, hậu quả tốt đẹp
của cuộc gặp gỡ quan trọng tại Bắc Kinh, tôi kêu mời các cộng đồng Giáo
Hội lấy năm nay làm thời gian cảm tạ sâu sắc ơn Đấng Sáng Tạo và Đấng
Cứu Thế, v́ tặng phẩm của một tài sản to lớn như là nữ tính; trong những
biểu lộ đa dạng của nó, nữ tính thuộc về gia sản cấu tạo của nhân loại
và của Giáo Hội.
Xin Đức Maria, Nữ Vương t́nh yêu, chăm sóc các người nữ và sứ mệnh của
họ trong việc phục vụ nhân loại, hoà b́nh, và sự truyền bá Nước Chúa !
Với sự chúc lành của tôi.
Từ Vatican, ngày 29 tháng 6 năm 1995, ngày lễ trọng kính Hai Thánh Tông
Đồ Phêrô và Phaolô.
+ Gioan-Phaolô II
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ
VietCatholic News(18/03/2001).
đọc thêm:
Thân phận nữ giới
VietCatholic News(18/03/2001). VATICAN, Thứ Năm ngày 7 tháng 3 năm 2001
(Zenit. org)-"Người nữ và hoà b́nh", đó là chủ đề năm nay của ngày quốc
tế phụ nữ do Liên Hiệp Quốc thiết lập năm 1976. Mỗi năm, tại Nữu Ước, vị
Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc có dịp đọc một bài diễn văn nói về hoàn cảnh
của người nữ. Chọn ngày 8 tháng 3 bởi v́ ngày đó nhắc lại ngày 8 tháng 3
năm 1857: một nhóm nữ lao công kỹ nghệ dệt xuống đường tại Nữu Ước ngày
đó để đ̣i việc làm và những điều kiện lao động khá hơn.
Nhưng đó cũng là một ngày dành ra để tưởng niệm 100 nữ lao công, chết
hồi đầu thế kỷ 19, tại Hoa Kỳ, trong một cuộc hoả hoạn thiêu rụi xưởng
máy nơi họ làm việc. Do đó, đây là một ngày muốn nhắc tới phẩm giá của
tất cả nhân vị, và của tất cả người lao động.
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách