| |
| Phần I Chương 4 | |
| |
Chương IV Sứ Mệnh Của Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay 44*
40. Tương quan giữa Giáo Hội và thế giới. Tất cả những ǵ chúng ta đă tŕnh bày về phẩm giá con người, về cộng đoàn nhân loại, về ư nghĩa sâu xa của hoạt động nhân loại tạo thành căn bản cho sự tương quan giữa Giáo Hội và thế giới cũng như nền tảng cho cuộc đối thoại giữa đôi bên 1. Bởi vậy, dựa trên tất cả những ǵ về mầu nhiệm Giáo Hội mà Công Đồng này đă tuyên bố, trong chương này sẽ phải đề cập đến cũng chính Giáo Hội, xét như thực tại hiện diện ở thế giới này, cùng sống và cùng hoạt động với thế giới ấy. Phát sinh từ t́nh yêu Chúa Cha muôn đời 2, do Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ thiết lập trong thời gian, được qui tụ trong Chúa Thánh Thần 3, Giáo Hội có mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng giờ đây Giáo Hội đă hiện diện trên trái đất này rồi, được qui tụ gồm những con người là phần tử của xă hội trần gian; họ được kêu gọi để hợp thành gia đ́nh các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngơ hầu tăng trưởng luôn măi cho tới khi Chúa đến. Hiệp nhất để nhằm đạt những của cải thiêng liêng, trở nên giàu có v́ những của cải ấy, gia đ́nh này “như một xă hội được thiết lập qui củ trên trần gian” 4, được trang bị “các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xă hội hữu h́nh” 5. Như thế, là “một đoàn thể hữu h́nh và là cộng đoàn thiêng liêng” 6, Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần thế với thế giới; Giáo Hội như men và hồn của xă hội loài người 7, sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đ́nh của Thiên Chúa. Thực ra, sự tương nhập giữa hai xă hội trần thế và thiên đàng chỉ có thể nhận thức được qua đức tin. Hơn nữa, đó c̣n là một mầu nhiệm của lịch sử nhân loại, một lịch sử bị tội lỗi xáo trộn cho đến khi vinh quang con cái Thiên Chúa được mạc khải đầy đủ. Tuy nhiên trong khi đeo đuổi mục đích cứu rỗi cá biệt của ḿnh, Giáo Hội không phải chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, nhưng c̣n chiếu giăi ánh sáng của đời sống ấy cách nào đó trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này, trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá nhân vị, củng cố cơ cấu của xă hội nhân loại và thấm nhuần cho hoạt động thường nhật của con người một chiều hướng và một ư nghĩ sâu xa hơn. Như thế, nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn, Giáo Hội tin tưởng có thể đóng góp nhiều vào việc biến đổi gia đ́nh và lịch sử loài người trở nên nhân đạo hơn. Ngoài ra, Giáo Hội Công Giáo sẵn sàng tán thưởng những việc mà các Giáo Hội Kitô giáo hay các cộng đoàn giáo hội khác đă và c̣n đang thực hiện để đóng góp vào việc chu toàn cùng một bổn phận này. Đồng thời, Giáo Hội xác tín mạnh mẽ rằng thế giới có thể có nhiều cách góp phần lớn lao vào việc dọn đường cho Phúc Âm bằng tài năng và hoạt động cá nhân cũng như của xă hội. Sau đây là một vài nguyên tắc tổng quát để phát triển đúng mức mối tương quan và tương trợ trong những phạm vi mà Giáo Hội và thế giới có phần chung nhau. 41. Sự trợ giúp mà Giáo Hội cố gắng cống hiến mỗi người. Con người hiện đại đang trên đường phát triển trọn vẹn nhân cách của ḿnh và càng ngày càng xác định quyền lợi của ḿnh rơ rệt hơn. Được trao phó nhiệm vụ tỏ bày mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng làm cùng đích của con người, Giáo Hội cũng đồng thời tỏ cho con người biết ư nghĩa của cuộc đời con người, tức là sự thật thâm sâu về con người. Giáo Hội biết chắc rằng chỉ có Thiên Chúa mà Giáo Hội phụng sự mới đáp ứng được các ước vọng sâu xa nhất của ḷng người. Ḷng người không bao giờ hoàn toàn thoả măn với những của ăn trần thế. Giáo Hội cũng biết rằng con người được Thánh Thần Chúa không ngừng thúc đẩy, sẽ không bao giờ hoàn toàn lănh đạm trước vấn đề tôn giáo, như kinh nghiệm quá khứ và nhiều chứng tích của thời đại chúng ta minh chứng. Thực vậy, con người luôn khao khát muốn biết, ít là một cách mơ hồ, cuộc sống, hoạt động và cái chết của ḿnh có ư nghĩa ǵ. Chính sự hiện diện của Giáo Hội nhắc nhở cho con người nhớ đến những vấn đề ấy. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người giống h́nh ảnh Ngài và cứu thoát con người khỏi tội lỗi, mới giải đáp đầy đủ các vấn đề ấy. Ngài giải đáp bằng cách mạc khải trong Con của Ngài là Chúa Kitô, Đấng đă hoá thân làm người. Ai theo Chúa Kitô, Con Người hoàn hảo, kẻ ấy sẽ được trở nên người hơn. Dựa trên đức tin ấy Giáo Hội có thể cứu gỡ phẩm giá của bản tính con người khỏi mọi trào lưu tư tưởng di động không ngừng giữa sự khinh dễ và tôn sùng thái quá đối với thân xác con người. Không một luật lệ nào có thể đảm bảo phẩm vị và tự do con người cách thích đáng bằng Phúc Âm Chúa Kitô, đă được trao phó cho Giáo Hội. Thực vậy, Phúc Âm loan báo và công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa, phủ nhận mọi h́nh thức nô lệ v́ mọi ách nô lệ rốt cuộc đều bởi tội lỗi mà ra 8. Phúc Âm tôn trọng triệt để phẩm giá và quyết định tự do của lương tâm, lại không ngừng nhắc nhở phát huy mọi tài năng để phụng sự Thiên Chúa và mưu ích cho mọi người. Sau hết, Phúc Âm c̣n dạy mọi người phải thương yêu nhau 9. Những điều đó phù hợp với luật căn bản trong nhiệm cuộc cứu rỗi của Kitô giáo. V́, tuy Thiên Chúa vừa là Đấng Cứu Độ, vừa là Đấng Tạo Dựng, vừa làm Chủ lịch sử nhân loại, vừa làm Chủ lịch sử cứu rỗi, nhưng trong chính chương tŕnh của Thiên Chúa, sự tự trị đúng mức của tạo vật và nhất là của con người không hề bị huỷ diệt, trái lại c̣n được phục hồi và củng cố trong phẩm giá riêng. Vậy, Giáo Hội dựa vào Phúc Âm đă được uỷ thác cho ḿnh mà công bố những quyền lợi của con người, nh́n nhận và tôn trọng năng động của thời hiện đại hiện đang cổ vơ những quyền lợi ấy khắp nơi. Tuy nhiên, những trào lưu đó phải được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và phải được bảo vệ cho khỏi nhiễm mọi h́nh thức tự trị sai lầm. Thực vậy, chúng ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng các quyền lợi của chúng ta chỉ được duy tŕ trọn vẹn khi trút bỏ mọi Luật Lệ của Thiên Chúa. Nhưng thực ra, đó là đường lối làm cho phẩm giá con người chẳng những không được duy tŕ mà c̣n bị tiêu tan đi. 45* 42. Sự trợ giúp mà Giáo Hội cố gắng mang đến cho xă hội nhân loại. Sự thống nhất gia đ́nh nhân loại được củng cố và bổ túc 46* nhiều nhờ sự hiệp nhất của gia đ́nh con cái Chúa đă được thiết lập trong Chúa Kitô 10. Sứ mệnh riêng biệt mà Chúa Kitô đă uỷ thác cho Giáo Hội Người không thuộc phạm vi chính trị, kinh tế hay xă hội: mục đích Người đă ấn định cho Giáo Hội thuộc phạm vi tôn giáo 11. Nhưng, bởi chính sứ mệnh tôn giáo ấy, phát sinh bổn phận, ánh sáng và những sức mạnh có thể giúp thiết lập và củng cố cộng đoàn nhân loại theo Luật Lệ của Thiên Chúa; cũng thế, khi có nơi nào cần, chính Giáo Hội có thể và hơn nữa, phải phát động, tuỳ theo hoàn cảnh thời gian và nơi chốn, những công cuộc nhằm phục vụ mọi người, nhất là những người cùng khốn, thí dụ như các công cuộc từ thiện hoặc những tổ chức khác tương tự. Giáo Hội c̣n nh́n nhận tất cả những ǵ tốt đẹp trong năng động xă hội hiện tại: nhất là sự tiến tới hiệp nhất, tiến tŕnh xă hội hoá lành mạnh và sự liên đới trong phạm vi công quyền và kinh tế. Thực vậy, việc cổ vơ hiệp nhất phù hợp với sứ mệnh sâu xa của Giáo Hội, v́ chính Giáo Hội ở “trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” 12. Như thế, chính Giáo Hội bày tỏ cho thế giới biết rằng sự hiệp nhất bên ngoài trong phạm vi xă hội bắt nguồn từ sự hiệp nhất tâm trí, nghĩa là từ đức tin và đức mến, căn bản hiệp nhất bất khả phân ly của Giáo Hội trong Chúa Thánh Thần. Sinh lực mà Giáo Hội có thể chuyển thông cho xă hội nhân loại ngày nay là đức tin và đức mến ấy, được thể hiện trong cuộc sống, chứ không phải do thế lực bên ngoài nào dựa vào những phương thế hoàn toàn nhân loại. Hơn nữa, bởi sứ mệnh và bản chất, Giáo Hội không cấu kết với một h́nh thức văn hoá nhân loại đặc thù nào, hoặc một chế độ chính trị, kinh tế hay xă hội nào. Nhờ tính cách phổ quát ấy, Giáo Hội có thể là một mối dây liên kết hết sức chặt chẽ giữa các cộng đoàn nhân loại và các quốc gia khác nhau, miễn là các quốc gia và cộng đoàn nhân loại ấy tin tưởng vào Giáo Hội và thực sự nh́n nhận Giáo Hội có quyền tự do đích thực để chu toàn sứ mệnh ḿnh. V́ vậy, Giáo Hội khuyến cáo các con cái ḿnh và hết mọi người: hăy vượt qua mọi tranh chấp giữa các quốc gia, chủng tộc trong tinh thần gia đ́nh con cái Thiên Chúa và củng cố các hiệp hội nhân loại chính đáng. Công Đồng quí trọng ngưỡng mộ tất cả những ǵ chân thật, tốt lành và chính đáng trong các tổ chức rất khác biệt mà nhân loại đă và c̣n đang không ngừng thành lập cho ḿnh. Công Đồng cũng tuyên bố rằng: Giáo Hội muốn trợ giúp và cổ vơ mọi tổ chức ấy trong những ǵ liên hệ và khả dĩ phù hợp với sứ mệnh của Giáo Hội. Giáo Hội không ao ước ǵ hơn là được tự do phát triển dưới mọi chế độ để phục vụ lợi ích mọi người, miễn là các chế độ này nh́n nhận những quyền lợi căn bản của con người, của gia đ́nh và những đ̣i hỏi của công ích. 43. Sự trợ giúp mà Giáo Hội cố gắng nhờ các Kitô hữu mang đến cho hoạt động nhân loại 47*. Công Đồng khuyến khích các Kitô hữu, công dân của cả hai đô thị, hăy nỗ lực chu toàn cách trung thành những bổn phận trần thế của họ và chu toàn dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm. Thực sai lầm cho những ai đang khi biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở trần thế và đang phải kiếm t́m một quê hương hậu lai để rồi v́ đó tưởng rằng ḿnh có thể xao lăng các bổn phận trần gian 13, như thế là không nhận thấy chính đức tin buộc phải chu toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người tuỳ theo ơn gọi của ḿnh 14. Ngược lại, cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào công việc trần thế như thể các công việc ấy hoàn toàn xa lạ với đời sống tôn giáo, v́ cho rằng đời sống tôn giáo chỉ c̣n hệ tại những hành vi phượng tự và một vài bổn phận luân lư phải chu toàn. Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta. Và gương mù này ngay trong Cựu Ước các Tiên Tri đă mạnh mẽ tố cáo 15 và trong Tân Ước chính Chúa Giêsu Kitô c̣n ngăm đe nhiều hơn nữa bằng những h́nh phạt nặng nề 16. Vậy, không được đem sinh hoạt nghề nghiệp và xă hội mà đối nghịch cách giả tạo với đời sống tôn giáo. Đối với người Kitô hữu, xao lăng bổn phận trần thế tức là xao lăng bổn phận đối với người lân cận và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của ḿnh bị đe doạ. Theo gương Chúa Giêsu đă sống như một người thợ, các Kitô hữu hăy vui mừng v́ có thể thi hành mọi hoạt động trần thế mà đồng thời có thể liên kết trong một tổng hợp sống động duy nhất, các cố gắng nhân loại, gia đ́nh, nghề nghiệp, khoa học hay kỹ thuật với các giá trị tôn giáo. Dưới sự điều hướng tối cao của các giá trị tôn giáo này, mọi sự được qui hướng về vinh danh Thiên Chúa. Những phận vụ và sinh hoạt trần thế thuộc lănh vực riêng của giáo dân, tuy không độc quyền thuộc về họ. V́ vậy, khi hoạt động, cá nhân hay đoàn thể, với tư cách công dân trần thế, không những họ phải tôn trọng các luật lệ riêng của mỗi ngành nhưng c̣n phải ra sức tự luyện khả năng chuyên môn thực sự trong các lănh vực ấy. Họ sẽ sẵn ḷng hợp tác với những người cùng theo đuổi những mục đích chung. Nh́n nhận các đ̣i hỏi và hưởng nhờ sức mạnh của đức tin, khi cần, họ sẽ không do dự đề nghị và thực hiện những sáng kiến mới. Một khi được đào luyện cách thích hợp, lương tâm họ phải đem luật Chúa thấm nhập cuộc sống của xă hội trần gian. Giáo dân hăy mong đợi ánh sáng và sức mạnh tinh thần nơi các linh mục. Tuy nhiên, họ đừng v́ thế mà nghĩ rằng: các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn để có thể có ngay một giải pháp cụ thể cho mọi vấn đề xảy ra, kể cả những vấn đề quan trọng. Cũng đừng lầm tưởng các chủ chăn vốn có sứ mạng ấy. Nhưng tốt hơn là chính họ, được đức khôn ngoan Kitô giáo soi dẫn và cẩn thận chú ư các giáo huấn của Giáo Hội 17, hăy nhận lấy trách nhiệm của ḿnh. Thường th́ chính vũ trụ quan Kitô giáo sẽ hướng dẫn họ chọn một giải pháp nhất định nào đó tuỳ hoàn cảnh. Tuy nhiên, cũng có những tín hữu khác, dầu khá thực tâm, sẽ thẩm định cách khác về cùng một vấn đề, như thường thấy xảy ra; và sự thẩm định đó vẫn được coi là hợp lư như thường. Nhiều người dễ dàng gán ghép với sứ điệp Phúc Âm những giải pháp mà họ đề ra, mặc dầu nhiều khi ngoài ư muốn của họ. Nhưng nên nhớ trong các trường hợp trên, không ai được độc quyền giành lấy thẩm quyền của Giáo Hội để biện minh cho lập trường riêng 48*. Phải luôn luôn nỗ lực soi dẫn nhau bằng đối thoại thành thực, bảo toàn t́nh tương ái và trước hết mưu cầu công ích. Người giáo dân có những phận vụ tích cực phải chu toàn trong toàn thể đời sống Giáo Hội. Không những họ phải đem tinh thần Kitô giáo thấm nhuần thế giới nhưng c̣n được kêu gọi làm chứng cho Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh, ngay giữa ḷng cộng đoàn nhân loại. C̣n các Giám Mục đă được uỷ thác việc điều hành Giáo Hội Chúa hăy cùng các linh mục của ḿnh rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô, sao cho mọi hoạt động trần thế của các tín hữu thấm nhuần ánh sáng Phúc Âm. Hơn nữa, tất cả các chủ chăn hăy nhớ rằng các Ngài sẽ biểu lộ cho thế giới một khuôn mặt của Giáo Hội qua thái độ và ưu tư hằng ngày của ḿnh 18. Qua khuôn mặt ấy, người ta phán đoán về sức mạnh và chân lư của sứ điệp Kitô giáo. Bằng đời sống và lời giảng, hợp cùng các tu sĩ và giáo hữu của ḿnh, các ngài hăy minh chứng rằng Giáo Hội, nguyên bằng sự hiện diện và kho tàng ân huệ của ḿnh, đă là nguồn vô tận của những mănh lực mà thế giới ngày nay rất cần. Các Ngài hăy trau dồi khả năng bằng cách chuyên cần học hỏi sao cho có thể đóng trọn vai tṛ trách nhiệm của ḿnh trong khi đối thoại với thế giới và những người thuộc bất cứ lập trường nào. Nhưng, trước hết xin các ngài hăy ghi ḷng những lời sau đây của Công Đồng: “Ngày nay, v́ nhân loại ngày càng hiệp nhất về dân sự, kinh tế và xă hội, nên các Linh Mục càng phải loại trừ mọi mầm mống chia rẽ, phải nối kết cố gắng và khả năng ḿnh dưới sự hướng dẫn của các Giám Mục và Giáo Hoàng, để toàn thể nhân loại hiệp nhất trong gia đ́nh Thiên Chúa” 19. Mặc dù Giáo Hội, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, vẫn là hiền thê trung tín của Chúa ḿnh và không ngừng là dấu chỉ ơn cứu rỗi trong thế giới, tuy nhiên Giáo Hội biết rơ rằng trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn không thiếu những phần tử trong Giáo Hội 20, giáo dân hoặc giáo sĩ, sống bất trung cùng Thánh Thần Chúa. Ngay trong thời đại chúng ta, Giáo Hội không quên sự cách biệt lớn lao giữa sứ điệp do Giáo Hội công bố và sự yếu đuối nhân loại của những người được giao phó rao giảng Phúc Âm. Dầu lịch sử có phê phán thế nào về những khiếm khuyết ấy, chúng ta cũng phải ư thức và mạnh mẽ khử trừ những thiếu sót để khỏi phương hại đến việc rao giảng Phúc Âm. Cũng vậy, trong việc mở rộng tương quan với thế giới, Giáo Hội biết ḿnh phải luôn trưởng thành nhờ kinh nghiệm qua các thế kỷ, Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Mẹ Giáo Hội không ngừng “khuyên giục con cái thanh tẩy và canh tân, để ấn dấu của Chúa Kitô chiếu sáng rạng ngời hơn trên khuôn mặt Giáo Hội” 21. 44. Sự trợ giúp mà Giáo Hội nhận được nơi thế giới ngày nay 49*. Cũng như thế giới cần phải nh́n nhận Giáo Hội như một thực thể xă hội lịch sử và như men của lịch sử, Giáo Hội cũng biết ḿnh đă nhận được rất nhiều nơi lịch sử và sự tiến hoá của nhân loại. Kinh nghiệm của những thế kỷ đă qua, tiến bộ của khoa học, các kho tàng hàm chứa trong những h́nh thức văn hoá nhân loại khác nhau, biểu lộ đầy đủ hơn bản tính của chính con người và mở ra những con đường mới dẫn đến chân lư: tất cả những điều ấy đều hữu ích cho Giáo Hội. Thực vậy, chính Giáo Hội ngay từ buổi đầu của lịch sử ḿnh đă ra sức diễn tả sứ điệp của Chúa Kitô bằng những ư niệm và ngôn ngữ của nhiều dân tộc. Hơn nữa, Giáo Hội c̣n cố gắng dùng sự khôn ngoan của các triết gia để làm sáng tỏ sứ điệp ấy. Làm như thế, nhằm thích nghi Phúc Âm, trong mức độ có thể, với tầm hiểu biết của mọi người cũng như với những đ̣i hỏi của các nhà hiền triết. Rao giảng lời mạc khải cách thích nghi như vậy c̣n phải là luật lệ cho mọi công cuộc truyền giáo, bởi v́ có như vậy mới khơi dậy trong mọi quốc gia khả năng diễn tả sứ điệp Chúa Kitô theo lối riêng của ḿnh và đồng thời mới cổ vơ được sự trao đổi linh động giữa Giáo Hội và những nền văn hoá khác nhau của các dân tộc 22. Để xúc tiến những cuộc trao đổi như thế, nhất là trong thời đại chúng ta, thời mà sự vật biến đổi rất nhanh và lối suy tư rất nhiều khác biệt, Giáo Hội đặc biệt cần đến sự đóng góp của những người sống trong thế giới và biết rơ các tổ chức và bộ môn khác nhau, cũng như thấu triệt tinh thần các tổ chức và bộ môn đó, dầu họ có đức tin hay không. Bổn phận của toàn thể Dân Chúa, đặc biệt của các chủ chăn và các nhà thần học là nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, đón nghe, phân biệt và giải thích các tiếng nói của thời đại, rồi phán đoán dưới ánh sáng lời Chúa để Chân Lư mạc khải luôn được thấu triệt, được hiểu rơ và tŕnh bày cách thích hợp hơn. Giáo Hội có một cơ cấu xă hội hữu h́nh, dấu hiệu của sự hiệp nhất trong Chúa Kitô, nên Giáo Hội cũng có thể được giàu có thêm và thực sự đang được giàu có thêm nhờ sự tiến hoá của cuộc sống xă hội nhân loại, không phải v́ định chế do Chúa Kitô ban cho Giáo Hội như thiếu một điều ǵ, nhưng là để định chế đó được hiểu biết sâu xa hơn, được diễn tả trung thực hơn và được thích nghi hoàn hảo hơn với thời đại chúng ta. Với ḷng biết ơn, Giáo Hội nhận thấy rằng Giáo Hội đă được nhiều người thuộc mọi giai cấp và hoàn cảnh giúp đỡ nhiều cách cho chính cộng đoàn cũng như cho từng con cái ḿnh. Quả thực, tất cả những ai phát triển cộng đoàn nhân loại trong phạm vi gia đ́nh, văn hoá, kinh tế, xă hội, chính trị và trên b́nh diện quốc gia, cũng như quốc tế, đều trợ giúp không ít cho cộng đoàn Giáo Hội, theo như ư định của Thiên Chúa, trong mức độ Giáo Hội lệ thuộc những yếu tố bên ngoài. Hơn nữa, Giáo Hội c̣n nh́n nhận rằng chính sự chống đối của những kẻ công kích hay bách hại Giáo Hội đă và c̣n đang có thể giúp ích cho Giáo Hội 23. 45. Chúa Kitô, Alpha và Omega. Khi trao đổi với thế giới những sự giúp đỡ hỗ tương, Giáo Hội nhằm một mục đích duy nhất là: làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu rỗi. Mọi lợi ích mà Dân Chúa trong thời gian hành tŕnh tại thế có thể đem lại cho gia đ́nh nhân loại đều phát xuất từ sự kiện này: Giáo Hội là “bí tích phổ quát cứu rỗi” 24, tỏ bày và đồng thời thực hiện mầu nhiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với con người. Quả thực, Ngôi Lời Thiên Chúa, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, đă làm người, là Con Người hoàn hảo, Người cứu rỗi mọi người và kết thâu vạn vật nơi Người. Chúa là cùng đích của lịch sử nhân loại, là điểm qui tụ mọi ước vọng của lịch sử và văn minh, là trung tâm của nhân loại, là niềm vui của tâm hồn và đáp ứng mọi niềm khao khát 25. Chính Người là Đấng Chúa Cha đă phục sinh từ kẻ chết, đă tôn vinh và cho ngự bên hữu, đặt làm thẩm phán kẻ sống và kẻ chết. Được sống động và tụ họp trong Thánh Thần Ngài, chúng ta đang hành tŕnh hướng về chung cục lịch sử nhân loại, phù hợp với ư định yêu thương của Ngài: “kết thâu tất cả trong Chúa Kitô: mọi sự trên trời dưới đất” (Eph 1,10). Chính Chúa đă nói: “Vậy tiền công của ta sẵn đây rồi, này ta đến gấp mà trả cho mỗi người tuỳ theo công việc họ làm. Ta là Alpha và Omega, thứ nhất và sau chót, nguyên thuỷ và cứu cánh” (Kh 22,12-13) 50*.
Chú Thích: 44* Trong chương này Công Đồng muốn tŕnh bày vai tṛ của Giáo Hội ở giữa thế giới (40a): Trước hết, nhắc lại khởi nguyên của Giáo Hội, mục đích, phần tử (40b), sứ mệnh siêu nhiên cũng như tự nhiên (40c), và sự cộng tác cần thiết của mọi người (40d). 1) Vai tṛ đối với từng cá nhân (tương ứng với chương I trên đây): Giáo Hội soi sáng ư nghĩa ước ao của con người (41a), Giáo Hội cũng bảo vệ nhân phẩm đích thực (t́m thấy ở giữa một số cực đoan) (41b) và công nhận nhân quyền rồi đem tinh thần Phúc Âm vào việc cổ vơ quyền lợi ấy (41c). 2) Đối với xă hội (tương ứng với chương II): Giáo Hội giúp đỡ nhân loại hiệp nhất chặt chẽ hơn (42a) và đem tinh thần mới nhập vào cơ cấu xă hội. Hoạt động xă hội của Giáo Hội như vậy là hợp lư (42b,c,d). 3) Đối với sinh hoạt xă hội (tương ứng với chương III): Đức tin đ̣i phải chu toàn nhiệm vụ sinh hoạt xă hội (43a). Đó là phận vụ riêng biệt của giáo dân đă được đào tạo và có trách nhiệm (43b). Họ phải cộng tác với người khác và lo cho ích chung (43c), trong khi đem tinh thần Kitô giáo và sinh hoạt đó (43d). Phần giáo sĩ, các ngài phải soi sáng giáo dân và phải làm gương về các đức tính xă hội (43e). Là dấu chứng về sự cứu độ, Giáo Hội phải luôn luôn nỗ lực để tự tinh luyện (43f). 4) Thế giới cũng giúp đỡ Giáo Hội: Khi Giáo Hội tiếp xúc với nhiều nền văn minh khác nhau và t́m cách rao giảng Phúc Âm một cách thích nghi, th́ chính Giáo Hội trở nên phong phú hơn (44a,b). Đàng khác mọi tiến bộ nhân loại cũng giúp ích cho Giáo Hội (44c). 5) Giáo Hội phục vụ thế giới khi làm tṛn sứ mệnh riêng là mở rộng nước Thiên Chúa (44a) và rao giảng về Chúa Kitô, Đấng đă sáng lập mọi sự đồng thời là trung tâm điểm, là cùng đích của mọi sự (44b,c). 1 Xem Phaolô VI, Tđ. Ecclesiam suam, III: AAS 56 (1964), trg 637-659. 2 Xem Tit 3,4: “Philanthropia”. 3 Xem Eph 1,3; 13-14; 23. 4 Xem Vat. II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. I, số 8: AAS 57 (1965), trg 12. 5 N.v.t., ch. II, số 9: AAS 57 (1965), trg 14; - x. số 8: AAS, n.v.t., trg 11. 6 N.v.t., ch. I, số 8: AAS 57 (1965), trg 11. 7 Xem n.v.t., ch. IV, 38: AAS 57 (1965), trg 43 và ghi chú 120. 8 Xem Rm 8,14-17. 9 Xem Mt 22,39. 45* Đối với con người hiện nay, con người giàu có với mọi h́nh thức nhân bản, với tất cả những tiến bộ khoa học và xă hội, Giáo Hội có thể đem đến lợi ích ǵ? Giáo Hội đem lại ánh sáng chính yếu để con người tự biết ḿnh và bảo vệ nhân phẩm. Nếu không biết Thiên Chúa, con người làm sao hiểu biết sự thật thâm sâu về ḿnh được. Không biết ḿnh, con người không thể nào trả lời cho những vấn nạn căn bản về ư nghĩa cuộc sống, sinh hoạt và sự chết. Không biết Chúa Kitô là con người hoàn hảo, con người không thể nào trở nên đầy đủ (41a). Khi nào tự biết ḿnh và phẩm giá đích thực của ḿnh, con người mới có thể lên tiếng đ̣i cho ḿnh các quyền lợi nhân bản một cách đầy đủ và hợp lư cũng như xứng hợp với đức tin. 46* Công Đồng đă nhắc lại sự thống nhất của nhân loại (số 29) có nền tảng tự nhiên là sự thống nhất sinh vật, sự thống nhất về bản tính và do đó về các quyền lợi căn bản. Vả lại bản tính xă hội sẽ thúc đẩy con người hiệp nhất một ngày một hơn (số 6,25). Mặt khác sự thống nhất của nhân loại cũng có nền tảng siêu nhiên, v́, như đức tin dạy, tất cả mọi người được Thiên Chúa dựng nên và có cùng một cứu cánh là chính Thiên Chúa. Tất cả đă được Chúa Kitô cứu chuộc, tất cả đă được mời gọi để trở nên con cái Thiên Chúa và anh em với nhau. Luật mới của những con người mới ấy là luật thương yêu lẫn nhau. V́ là một thân thể, một dân tộc duy nhất, Giáo Hội giúp đỡ nhân loại thực hiện lư tưởng thống nhất. V́ là bí tích, tức là dấu chứng và dụng cụ để giúp đỡ nhân loại kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và hiệp nhất với nhau (42c), Giáo Hội góp phần lớn lao để thống nhất loài người. Đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội vậy (số 92a). 10 Xem CĐ. Vat II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. II, số 9: AAS 57 (1965), trg 12-14. 11 Xem Piô XII, Allocutio ad Cultores historiae et artis, 9-3-1956: AAS 48 (1956), trg 212: “Trong phạm vi văn hoá, vị Sáng Lập thần linh của Giáo Hội là Chúa Kitô không ban cho Giáo Hội một sứ mệnh nào cũng không ấn định một mục đích nào. Mục đích mà Chúa Kitô nhằm là thuần tuư tôn giáo (...) Giáo Hội phải dẫn dắt mọi người đến với Chúa để họ phó thác cho Ngài mà không đắn đo (...) Giáo Hội không khi nào có thể để mục đích thuần tuư tôn giáo, siêu nhiên này lọt ra ngoài tầm nhăn giới của ḿnh. Ư nghĩ a mọi hoạt động của Giáo Hội cả đến tận khoản cuối cùng của Bộ Giáo Luật chỉ qui về mục đích đó cách trực tiếp hay gián tiếp”. 12 Xem CĐ Vat. II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. I, số 1: AAS 57 (1965), trg 5. 47* Sống trong thế gian tín hữu phải tránh hai thái độ sai lầm: 1) bỏ sót công việc trần thế để chỉ lo cho việc đạo đức; 2) ch́m đắm trong công việc trần thế và coi công việc này như không có liên quan ǵ đến việc đạo đức. Qua cả hai sự sai lầm trên, người ta tách biệt đời sống tôn giáo và đời sống nghề nghiệp hay đời sống trần thế nếu nói rộng hơn (cuộc giải trí, văn hoá...) và lại hành động theo luân lư cá nhân (số 30). Đức tin phải ảnh hưởng trên cả đời sống và ta phải đem tinh thần Phúc Âm vào công việc trần thế: vào nghề nghiệp, vào giao thiệp với người khác, vào văn hoá, vào cuộc giải trí v.v... “Đối với người Kitô hữu, xao lăng bổn phận trần thế tức là xao lăng bổn phận đối với những người lân cận và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của ḿnh bị đe doạ”: v́ bổn phận trần thế là phương tiện để thực hành đức mến đối với anh em và đối với Thiên Chúa. Không thực hành đức mến tức là phạm đến toàn thể bộ luật (x. Gal 5,14). Cho nên kẻ nào xao lăng bổn phận trần thế hay là tách rời nó khỏi ảnh hưởng của tinh thần Phúc Âm tức là người không sống đạo, họ không phải là người công giáo. 13 Xem Dth 13,14. 14 Xem 2Th 3,6-13; Eph 4,28. 15 Xem Is 58,1-12. 16 Xem Mt 23,3-33; Mc 7,10-13. 17 Xem Gioan XXIII, Tđ. Mater et Magistra, IV: AAS 53 (1961), trg 456-457 và I: n.v.t., trg 407, 410-411. 48* “3) Sau khi nhắc lại những nguyên tắc tổng quát trên đây, Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Việt Nam chiếu theo những sự kiện lịch sử, chính trị, xă hội, tôn giáo hiện tại trong nước, đồng thanh xác định như sau: a) Không cho phép một đảng phái nào lấy tên là “Công Giáo” hay là “Thiên Chúa Giáo”, để rồi đảng ấy có thể xuất hiện như là đảng phái của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam. b) Kêu mời giáo dân Công Giáo phải ư thức rằng: sức mạnh của họ trước hết phải ở trong tinh thần Chúa Giêsu - tức là tinh thần Phúc Âm được mọi người sống động và chiếu dọi chung quanh, như đă tŕnh bày trong những đoạn nói trên. c) Tuy nhiên để áp dụng nguyên tắc số 2 ở trên, hết mọi người Công Giáo - với tư cách là người công dân - đều có thể tự do ghi tên để gia nhập đảng này hay đảng khác tuỳ ư, bất cứ là đảng ấy đă thành lập rồi, hay sẽ được những công dân đầy đủ khả năng, can đảm thành lập về sau. Ghi tên vào một đảng phái như thế, đồng bào Công Giáo không cam kết Giáo Hội, nhưng chỉ cam kết cá nhân ḿnh... Đồng bào Công Giáo hoạt động trong đảng phái ḿnh đă lựa chọn, tuy nhiên cả trong hoạt động chính trị (cũng như đời sống cá nhân, gia đ́nh, nghề nghiệp) họ phải là một nhân chứng của Chúa Kitô. Họ phải t́m cách để in sâu vào trong các tâm hồn những luật lệ, những qui chế, tinh thần Phúc Âm và học thuyết xă hội của Hội Thánh. 1) Hiện nay không có một tờ báo Công Giáo nào, hay là một tờ báo có xu hướng Công Giáo nào đă được Hàng Giáo Phẩm chỉ định để làm tiếng nói chính thức cho Công Giáo... 2) Có những báo chí đă được thành lập do một số giáo dân Công Giáo nhiệt thành, quảng đại; đó là quyền lợi riêng của họ và chúng tôi thêm rằng: đó là nghĩa vụ của họ. Chúng tôi để lời khen ngợi họ đă có sáng kiến tốt đẹp như thế, và chúng tôi hết sức khuyên họ hăy tiếp tục bền vững”. (Thư luân lưu của H.Đ.G.M.V.N., ngày 22 tháng 1 năm 1964, x. trong báo Sacerdos, số 27, tháng 3 năm 1964, (trg 170-171; 172-173). 18 Xem CĐ Vat II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. III, số 28: AAS 57 (1965), trg 34-35. 19 N.t., số 28: AAS, n.v.t., trg 35-36. 20 Xem T. Ambrosiô, De Virginitate, ch. VIII, số 48: PL 16, 278. 21 CĐ Vat. II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. II, số 15: AAS 57 (1965), trg 20. 49* Từ xưa tới nay, thế giới cũng đem lại rất nhiều lợi ích cho Giáo Hội. Quả quyết như vậy là xác nhận một sự kiện lịch sử, nhưng có lẽ chỉ gần đây tín hữu mới ư thức về sự kiện ấy. Giáo Hội lănh nhận nhiều: 1) Trong lănh vực tư tưởng nhờ các kho tàng của nhiều nền văn minh khác nhau. Tất cả những ǵ giúp ta hiểu biết hơn về con người và thế giới đều giúp đỡ Giáo Hội: giáo dục, văn hoá, khoa học... 2) Trong lănh vực cơ cấu xă hội: từ đầu, Giáo Hội đă chịu ảnh hưởng của nếp sống Do Thái, của pháp lư La Mă và Đức Quốc, và ít hay nhiều của phong tục các dân tộc khác nữa. Pháp lư các xứ truyền giáo đă ảnh hưởng rất nhiều đến pháp lư chung của Giáo Hội chẳng hạn. Hiện nay ta thấy ảnh hưởng của chế độ dân chủ qua những phong trào phân quyền, nhiều cơ quan mới như Thượng Hội Đồng Giám Mục, Hội Đồng Giám Mục, Hội Đồng Linh Mục, v.v... 3) Trong lănh vực sinh hoạt: khi các Quốc Gia và các Tổ Chức quốc tế kính trọng sự tự do của Giáo Hội, mời Giáo Hội cộng tác, giúp Giáo Hội hoạt động, hay là mặc dầu không muốn nhờ Giáo Hội, nhưng khi các Tổ Chức ấy cố gắng nâng cao con người nhờ việc giáo dục, nhờ việc bảo đảm nhân quyền, v.v... thực ra họ đă làm những công việc có chung mục đích với Giáo Hội. Là người Việt Nam hay làm việc ở Việt Nam, ta phải nhấn mạnh câu “Rao giảng lời mạc khải cách thích nghi như vậy c̣n phải là luật lệ cho mọi công cuộc truyền giáo”. Sau hơn ba thế kỷ từ khi Phúc Âm tới Việt Nam, phải chăng Đạo chúng ta c̣n thấm nhuần màu sắc ngoại quốc quá đáng? Người ngoại giáo có cảm tưởng đó không? 22 Xem CĐ Vat. II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. II số 13: AAS (1965), trg 17. 23 Xem Justinô, Dialogus cum Tryphone, ch. 110: PG 6, 729, x.b. Otto, 1897, trg 391-393: ... “nhưng chúng ta càng chịu nhiều khổ nhục ấy, lại càng có nhiều người trở thành tín hữu và đạo đức nhờ danh Chúa Giêsu”. - Xem Tertullianô, Apologeticus, ch. L, 13: PL I, 534; Corpus Christ., ser. Lat. I, trg 171: “càng bị các người gặt (bách hại) chúng tôi càng trở nên đông đúc hơn: máu tử đạo là hạt giống nảy sinh Kitô hữu!” - X. Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. I I số 9: A AS 57 (1965), trg 14. 24 Xem CĐ Vat. II, Hiến chế tín lư về Giáo Hội Lumen gentium, ch. VII, số 48: AAS 57 (1965), trg 53. 25 Xem Phaolô VI, Huấn từ 3-2-1965: L'Osservatore Romano, 4-2-1965. 50* Alpha và Omega là chữ đầu và chữ cuối của mẫu tự Hy Lạp. Câu nói có nghĩa là khi dùng các chữ trong mẫu tự, ta có thể viết ra tất cả những ǵ ta muốn. Vậy th́, nói về Chúa (cũng như về Thiên Chúa Cha: Kh 1,8) có nghĩa là Chúa có toàn quyền để phán xét nhân loại.
|
| cập nhật ngày 12 tháng 12 năm 2005 |
| © 2005 Gia Nhân |