Nhập Đề
Thân Phận Con Người
Trong Thế Giới Ngày Nay
4*
4. Hy vọng và lo
âu. Để chu toàn phận vụ ấy, lúc nào Giáo Hội cũng có bổn
phận t́m hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại
5* và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm;
như vậy mới có thể giải đáp một cách thích ứng với từng thế hệ những
thắc mắc muôn thuở của con người về ư nghĩa cuộc sống hiện tại và mai
hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy. Do đó, cần phải
biết và hiểu thế giới chúng ta đang sống với những chờ đợi, mong ước và
cả tính chất thường là bi thảm của nó. Có thể phác họa một vài nét chính
yếu của thế giới ngày nay như sau:
Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai
đoạn mới trong lịch sử của ḿnh
6*.
Đó là giai đoạn chất chứa những đổi thay sâu xa và mau chóng đang dần
dần lan rộng tới toàn thể hoàn cầu. Những thay đổi do óc thông minh và
nổ lực sáng tạo của con người khơi dậy, đang trở lại ảnh hưởng trên
chính con người, trên những phán đoán và ước vọng cá nhân hay tập thể
con người, trên cách suy tư và hành động đối với sự vật cũng như con
người. Như vậy, chúng ta có thể nói đến sự biến đổi đích thực về mặt xă
hội cũng như văn hoá, sự biến đổi này đang lan tràn tới cả đời sống tôn
giáo.
Cũng như trong bất cứ cơn khủng hoảng tăng
trưởng nào, sự biến đổi này kéo theo những khó khăn không nhỏ. Chẳng hạn
như đang khi bành trướng quá rộng quyền lực của ḿnh, không phải lúc nào
con người cũng có thể bắt nó phục vụ ḿnh. Cố gắng đi sâu hơn vào thâm
tâm ḿnh, con người nhiều khi lại tỏ ra hoang mang hơn về chính ḿnh. Ḍ
dẫm t́m hiểu rơ hơn những luật lệ của đời sống xă hội, con người lại do
dự không dám định đoạt hướng đi cho ḿnh.
Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả
năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay, một phần rất lớn
nhân loại trên thế giới đang quằn quại v́ đói ăn và thiếu thốn, rồi
không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ. Chưa bao giờ con người
ư thức mănh liệt được sự tự do như ngày nay, đang khi đó, lại thấy sống
dậy những h́nh thức nô lệ mới mẻ về mặt xă hội cũng như tâm lư. Trong
lúc đang mănh liệt cảm thấy sự duy nhất cũng như sự kiện tất cả lệ thuộc
nhau trong sự liên đới cần thiết, th́ thế giới lại bị lôi kéo kịch liệt
theo những chiều hướng tương phản do những lực lượng chống đối nhau;
thực vậy vẫn c̣n kéo dài măi tới ngày nay những bất đồng trầm trọng về
chính trị, xă hội, kinh tế, chủng tộc và ư thức hệ, và một cuộc chiến
diệt vong vẫn c̣n đe dọa. Đang khi sự trao đổi tư tưởng phát triển, th́
những ngôn ngữ dùng để diễn tả những quan niệm có tầm mức quan trọng lại
mang ư nghĩa khác nhau tùy từng ư thức hệ riêng biệt. Sau hết, người ta
nỗ lực đi t́m một tổ chức trần thế hoàn hảo hơn, nhưng lại không lo tiến
tới sự phát triển tinh thần tương xứng.
Do những hoàn cảnh phức tạp như thế chi
phối, rất nhiều người đương thời thấy khó ḷng có thể nhận chân được
những giá trị trường cửu và đồng thời cũng khó mà hoà hợp những giá trị
ấy cho đúng với những phát minh gần đây. Do đó, bị lay động giữa hy vọng
và lo âu, băn khoăn về sự xoay chuyển hiện tại của thế giới, họ cảm thấy
một nỗi ưu tư. Sự xoay chuyển của thế giới đang thách đố và thúc bách
con người t́m câu giải đáp.
5. Những hoàn
cảnh biến đổi sâu rộng. Sự giao động tâm hồn hiện nay và
sự thay đổi cảnh sống gắn liền với một biến chuyển rộng lớn hơn. Trong
phạm vi trí dục, sự biến chuyển này làm cho toán học, vạn vật học và các
khoa học nhân văn càng ngày càng thêm quan trọng, c̣n trong phạm vi hoạt
động, th́ kỹ thuật, con đẻ của khoa học, lại mỗi ngày một thêm uy thế.
Tinh thần khoa học này đang tạo ra một nền văn hoá và những lối suy tư
khác với trước kia. Kỹ thuật phát hiện đến độ thay đổi cả cục diện địa
cầu và c̣n đang cố gắng chinh phục không gian.
Tâm trí con người như đang nới rộng phạm vi
chế ngự trên cả thời gian: chế ngự dĩ văng nhờ sử học, và chế ngự tương
lai nhờ dự liệu và tổ chức các kế hoạch. Những khoa học đang tiến bộ như
sinh vật học, tâm lư, xă hội, không những giúp con người hiểu biết chính
ḿnh hơn, mà c̣n giúp con người biết lợi dụng những phương pháp kỹ thuật
để trực tiếp ảnh hưởng tới đời sống các xă hội. Đồng thời nhân loại mỗi
ngày mỗi lưu tâm hơn để t́m cách tiên liệu và giải quyết vấn đề gia tăng
dân số.
Chính lịch sử đang tiến bước quá nhanh đến
nỗi từng cá nhân riêng rẽ khó ḷng theo kịp. Vận mạng cộng đoàn nhân
loại trở thành một mà thôi và không c̣n bị phân tán thành nhiều ḍng
lịch sử khác nhau nữa. Như vậy từ một quan niệm tĩnh về vũ trụ, nhân
loại đă bước sang một quan niệm động và tiến hoá hơn
7*, do đó phát sinh những vấn đề hết sức
phức tạp mới mẻ đ̣i phải có những phân tích và tổng hợp mới.
6. Những biến
đổi trong phạm vi xă hội. Cũng v́ vậy, các cộng đoàn cổ
truyền địa phương, như gia tộc, "thị tộc", bộ lạc, xóm làng, các tập thể
khác và các liên hệ trong cộng đoàn xă hội đều thay đổi mỗi ngày mỗi sâu
xa hơn.
Tổ chức xă hội theo khuôn mẫu kỹ nghệ dần
dần bành trướng, đưa một số quốc gia tới mức thịnh vượng kinh tế và thay
đổi tận gốc rễ những quan niệm và hoàn cảnh đời sống xă hội đă cố định
từ lâu đời. Sự ham chuộng theo đuổi đời sống thị thành cũng gia tăng, v́
các thành phố càng ngày càng mọc lên nhiều, dân cư càng ngày càng đông,
và v́ cách sống thị thành đang lan rộng tới cả thôn quê.
Những phương tiện truyền thông mới mẻ và mỗi
ngày một thuận tiện hơn giúp con người theo dơi được các biến cố cũng
như phổ biến hết sức mau lẹ và rộng răi những cách cảm nghĩ và suy tư,
do đó chúng gây nên nhiều âm hưởng vang dội có liên quan với nhau.
Một hiện tượng không kém quan trọng khác:
biết bao người bởi nhiều lư do phải di cư, và v́ di cư đă thay đổi cả
cách sống.
Do vậy mà những liên hệ của con người với
đồng loại không ngừng tăng thêm măi, đồng thời chính sự "xă hội hoá"
8* lại tạo thêm những liên hệ mới,
tuy nhiên, những liên hệ mới ấy không phải lúc nào cũng giúp nhân vị
trưởng thành một cách thích hợp, hoặc cổ vơ những liên hệ thực sự người
(nhân vị hoá).
Thực vậy, sự tiến hoá ấy phát hiện rơ rệt
hơn tại những quốc gia hưởng thụ những tiện nghi kinh tế và kỹ thuật,
nhưng sự tiến hoá ấy cũng thúc đẩy các dân tộc c̣n đang cố gắng tiến
lên, v́ họ là những người mong mỏi cho xứ sở ḿnh được hưởng ích lợi của
nền kỹ nghệ và đô thị hoá. Các dân tộc ấy, nhất là các dân tộc đă bám
víu vào những truyền thống cổ kính, đồng thời cảm thấy bị thúc đẩy muốn
tự ḿnh xử dụng tự do một cách trưởng thành và hợp nhân vị hơn.
7. Những biến
đổi về tâm lư, luân lư và tôn giáo. Sự thay đổi tâm thức
và cơ cấu thường làm cho con người bất đồng ư kiến về những giá trị đă
được chấp nhận, nhất là nơi những người trẻ là lứa tuổi đôi khi thiếu
nhẫn nại; hơn nữa v́ lo âu, nên họ mới nổi loạn, và v́ ư thức tầm quan
trọng của riêng ḿnh trong đời sống xă hội, nên họ mong muốn sớm được dự
phần vào đời sống xă hội hơn. Do đó, nhiều khi cha mẹ và các nhà giáo
dục càng ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc chu toàn bổn phận.
Các định chế, luật pháp, những lối suy tư và
cảm nghĩ của người xưa truyền lại, h́nh như không phải lúc nào cũng phù
hợp với t́nh thế hiện tại, do đó, có sự xáo trộn trầm trọng trong phương
thức và trong cả các tiêu chuẩn hành động.
Sau hết, những hoàn cảnh mới cũng ảnh hưởng
tới đời sống tôn giáo. Một phần v́ khả năng phán đoán sâu sắc hơn đă
thanh lọc khỏi đời sống tôn giáo quan niệm ma thuật về thế giới
9* và những mê tín vẫn c̣n lan tràn tới
ngày nay. Khả năng sâu sắc ấy đ̣i hỏi đức tin phải được chấp nhận mỗi
ngày một thêm cá biệt và linh hoạt; bởi đó, nhiều người đạt được một ư
thức sống động hơn về Thiên Chúa. Phần khác, số người ĺa xa Thiên Chúa
trong cách sống thực tế càng ngày càng đông. Khác với thời xưa, sự từ
chối hoặc tránh né đề cập tới Thiên Chúa hay tôn giáo không c̣n là một
hành vi dị thường và có tính cách cá nhân nữa, v́ ngày nay, biết bao
người coi đó như một đ̣i ḥi của tiến bộ khoa học
10* hay của nền nhân bản mới
11*. Tại nhiều nơi, quan niệm này không
những được diễn tả trong các trường phái triết học, mà c̣n ảnh hưởng rất
nhiều tới văn chương, nghệ thuật, các giải thích của các khoa học nhân
văn và sử học, cũng như ảnh hưởng tới cả dân luật khiến cho nhiều người
hoang mang.
8. Những chênh
lệch trong thế giới ngày nay. Sự biến chuyển quá mau
chóng và thường thiếu trật tự, hơn nữa, sự ư thức càng ngày càng bén
nhạy hơn về những sự khác biệt hiện có trong thế giới, đó là những yếu
tố làm phát sinh hoặc gia tăng nhiều mâu thuẫn và chênh lệch.
Chính nơi con người thường phát sinh sự
thiếu quân b́nh giữa óc thực tế hiện thời và lối suy tư thuyết lư. Lối
suy tư này không c̣n khả năng làm chủ và tổng hợp gọn gàng toàn thể mọi
tri thức. Cũng vậy, sự thiếu quân b́nh hiển hiện giữa những lo âu đạt
được hiệu quả cụ thể và những đ̣i hỏi của lương tâm, và nhiều lúc giữa
những cảnh sống tập thể và những điều khẩn thiết cho suy tư cá nhân và
nhất là cho sự chiêm niệm. Sau hết là sự chênh lệch giữa sự chuyên biệt
hoá các sinh hoạt nhân loại và cái nh́n phổ quát về muôn vật.
Trong gia đ́nh cũng xuất hiện nhiều mâu
thuẫn, hoặc do những hoàn cảnh ngột ngạt về dân số, kinh tế, xă hội,
hoặc do những khó khăn phát xuất giữa những thế hệ tiếp nối nhau, hoặc
do những xă giao mới giữa người nam và nữ.
Ngoài ra c̣n có những sự khác biệt lớn lao
giữa các chủng tộc và kể cả giữa những giai cấp xă hội khác nhau, giữa
những quốc gia cường thịnh và những quốc gia nghèo nàn yếu kém, sau hết
giữa những tổ chức quốc tế đă được thiết lập v́ sự mong mỏi hoà b́nh của
các dân tộc và tham vọng gieo rắc ư thức hệ riêng cùng những ham hố tập
thể hiện hữu trong các quốc gia hoặc các tập thể khác.
Từ đó, phát sinh ngờ vực và thù nghịch nhau,
xung đột và thống khổ mà chính con người là nguyên nhân và nạn nhân.
9. Những khát
vọng phổ quát hơn của nhân loại. Trong khi đó, người ta
thêm xác tín rằng nhân loại không những có thể và phải mỗi ngày mỗi củng
cố thêm sự thống trị của ḿnh trên tạo vật mà c̣n phải thiết lập một
trật tự chính trị, xă hội và kinh tế để phục vụ con người ngày đắc lực
hơn, giúp mỗi cá nhân, mỗi tập thể khẳng định và trau dồi phẩm giá riêng
của ḿnh.
Bởi đó, rất nhiều người đ̣i hỏi gắt gao
những của cải mà họ ư thức mănh liệt rằng họ bị cướp mất v́ bất công hay
v́ phân chia không đồng đều. Các quốc gia đang trên đường phát triển
cũng như các quốc gia mới giành được chủ quyền mong muốn dự phần vào
những lợi ích của nền văn minh hiện nay không những trong phạm vi chính
trị mà cả trong phạm vi kinh tế nữa, và mong muốn tự do chu toàn vai tṛ
của ḿnh trong thế giới. Tuy nhiên, trong khi ấy, càng ngày càng gia
tăng sự cách biệt giữa các quốc gia này, cũng như thường thấy gia tăng
sự lệ thuộc cả về phạm vi kinh tế đối với những quốc gia khác giàu mạnh
và tiến bộ nhanh hơn. Các dân tộc bị đói khổ hoành hành đang kêu gọi các
dân tộc phồn thịnh hơn. Ở đâu nữ giới chưa được b́nh quyền với nam giới
đều đứng lên đ̣i hỏi cho ḿnh được b́nh đẳng trước pháp lư và trên thực
tế. Các công nhân và nông gia cũng muốn rằng họ làm việc không những để
mưu sống nhưng c̣n để phát huy những tài năng của con người họ, hơn nữa
họ c̣n muốn tham gia vào việc tổ chức đời sống kinh tế, xă hội, chính
trị và văn hoá. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, toàn thể
các dân tộc đă xác tín ḿnh có thể và phải thực sự phổ biến những thành
quả của văn hoá tới hết mọi dân tộc.
Dưới tất cả những đ̣i hỏi đó tàng ẩn một ước
vọng sâu xa và đại đồng hơn: mọi cá nhân và tập thể đều khao khát một
cuộc sống đầy đủ và tự do xứng với con người; để phục vụ cho chính ḿnh,
họ muốn chế ngự tất cả những ǵ thế giới ngày nay có thể cung ứng hết
sức dồi dào cho họ. Hơn nữa, các quốc gia vẫn ngày một cố gắng hơn để
đạt tới một thứ cộng đoàn đại đồng.
Như vậy, thế giới ngày nay tỏ ra vừa mạnh
vừa yếu, có khả năng thực hiện những điều tốt đẹp nhất hoặc xấu xa nhất,
đang khi ấy trước mặt nó là con đường dẫn tới tự do hoặc nô lệ, tiến bộ
hoặc thoái hoá, huynh đệ hoặc đố kỵ. Lại nữa, con người đă ư thức được
chính họ phải điều khiển cho đúng những năng lực do chính ḿnh tạo nên
và đó là những năng lực có thể đè bẹp họ hoặc phục vụ cho họ. Do đó họ
phân vân.
10. Những vấn
nạn sâu xa hơn của nhân loại. Thực vậy, những chênh lệch
dày ṿ thế giới ngày nay được nối liền với một chênh lệch căn bản hơn
phát xuất từ đáy ḷng con người. Bởi v́, ngay chính trong con người có
nhiều yếu tố xung khắc nhau. V́ một đàng, là tạo vật, con người nhận
thấy ḿnh bị giới hạn trong nhiều phương tiện, nhưng đàng khác, lại cảm
thấy ḿnh có những khát vọng vô biên và c̣n cảm thấy được mời gọi tới
một cuộc sống cao cả hơn. Bị lôi kéo giữa nhiều quyến rũ, con người luôn
bị bó buộc phải lựa chọn một số hoặc loại bỏ một số khác. Hơn nữa, v́
yếu đuối và tội lỗi, nhiều khi con người làm điều ḿnh không muốn và
không làm được điều ḿnh muốn làm
4.
Bởi vậy, có sự phân rẽ trong chính con người, từ đó, sinh ra bao nhiêu
là bất hoà lớn lao trong xă hội. Thực vậy rất nhiều người v́ đời sống
thấm nhiễm chủ nghĩa duy vật thực hành nên đă không nh́n nhận rơ ràng
thảm trạng ấy, hay ít ra v́ lối sống cơ cực đè nặng không cho phép họ
nghĩ tới nữa. Đàng khác, dựa vào mớ lư thuyết mà họ đă t́m ra để giải
thích vũ trụ, nhiều người tưởng như thế là đủ an tâm. C̣n có những người
chỉ trông vào nỗ lực của con người mới đem lại cho nhân loại sự giải
phóng đích thực và trọn vẹn, và họ xác tín rằng sự thống trị mai hậu của
con người trên trái đất sẽ làm măn nguyện mọi ước vọng của con tim nhân
loại. Cũng không thiếu những người thất vọng về ư nghĩa cuộc sống tán
dương những kẻ táo bạo nghĩ rằng sự hiện hữu của con người tự nó không
mang một ư nghĩa nào nên họ cố gắng dùng nguyên tài năng của ḿnh để tạo
nên tất cả ư nghĩa cho sự hiện hữu ấy. Tuy nhiên, trước sự tiến hoá hiện
nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người hoặc đặt vấn đề hoặc
nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như:
con người là ǵ? Đâu là ư nghĩa của đau khổ, sự dữ, cái chết? Sao chúng
c̣n tiếp tục tồn tại mặc dù đă có bao nhiêu tiến bộ? Bao chiến thắng đạt
được với một giá đắt ấy có ích ǵ? Con người có thể đem lại ǵ cho xă
hội và có thể trông đợi ǵ ở xă hội? Cái ǵ sẽ tiếp theo sau cuộc sống
trần gian này?
Giáo Hội tin rằng Chúa Kitô đă chết và đă
sống lại cho mọi người 5. V́ thế qua
Thánh Thần của Người, Người ban cho con người ánh sáng và sức mạnh để
con người có thể đáp lại thiên chức cao cả của ḿnh. Giáo Hội cũng tin
rằng dưới bầu trời này chẳng c̣n danh hiệu nào khác được ban cho loài
người để loài người phải nhờ đó mà được cứu rỗi
6. Cũng thế, Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích
của toàn thể lịch sử nhân loại đều ở trong Đức Kitô là Chúa và là Thầy
của Giáo Hội. Hơn nữa, Giáo Hội c̣n xác nhận rằng qua mọi thay đổi, có
nhiều điều vẫn không đổi thay v́ nền tảng cuối cùng của những điều không
thay đổi này là Chúa Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và măi măi
7. Vậy dưới ánh sáng Chúa Kitô, H́nh Ảnh
của Thiên Chúa vô h́nh, Trưởng Tử giữa mọi thụ sinh
8, Công Đồng muốn nói với mọi người để làm
sáng tỏ mầu nhiệm về con người và để cùng nhau t́m giải đáp cho những
vấn đề chính yếu của thời đại chúng ta.
Chú Thích:
4* Công
Đồng mời gọi ta cùng t́m hiểu thế giới hiện đại (số 4a) để ta có thể đối
thoại với nó và đem ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi các vấn đề của nó (số
10b). V́ thế Công Đồng:
1) Kể lại những sự kiện tương phản với nhau:
trạng thái thừa thăi và đói khát; tiến bộ và mù chữ; khát vọng tự do và
nhiều thứ nô lệ; khát vọng hiệp nhất và vô số chia rẽ cũng như tư tưởng
hỗn độn; tiến bộ kỹ thuật, văn hoá và tinh thần không tương hợp với nhau
(số 4).
2) Những thay đổi thuộc về:
a) Cơ cấu về trí óc: v́ ảnh hưởng do khoa
học và kỹ thuật gây nên; v́ được biết lịch sử rộng hơn, cũng như v́ phép
dự liệu và thuật kế hoạch; v́ nhận thấy con người bắt đầu có quyền trên
đời ḿnh cũng như trên lịch sử. Quan niệm tĩnh ngày xưa chuyển thành
quan niệm động (số 5).
b) Cơ cấu xă hội: nếp sống cổ điển biến mất;
có những hiện tượng mới như kỹ nghệ hoá, thành thị hoá, các phương tiện
truyền thông xă hội, những cuộc di cư, sự xă hội hoá (số 6).
3) Bởi đó đặt vấn đề theo cách mới:
a) Về tôn giáo: Giới thanh niên phản đối,
lạc hướng; tinh thần phê b́nh; lối sống bỏ đạo thực hành; tuyên xưng vô
thần (số 7).
b) Về cá nhân: v́ những phán đoán thiếu quân
b́nh, v́ những xung đột giữa lương tâm và trí óc trong việc đi t́m kết
quả thực tiễn giữa nhu cầu chuyên môn và một quan niệm tổng quát về vũ
trụ.
c) Về gia đ́nh: v́ vấn đề dân số, khó khăn
kinh tế xă hội, những khác biệt giữa các thế hệ, những liên quan mới
giữa nam giới và nữ giới.
d) Về quốc gia: v́ những sự khác nhau giữa
các chủng tộc, các giai cấp; giàu có và nghèo khổ; v́ những lư thuyết
ảnh hưởng các phong trào hoà b́nh (số 8).
4) Nguyện vọng mới: v́ con người ư thức về
quyền thế ḿnh, nhận thấy rằng có thể đ̣i hỏi tham gia vào những thành
quả của văn minh và cảm thấy có quyền sống đầy đủ và xứng hợp với bản
tính con người. (Trở lại đầu trang)
5* Đức
Gioan XXIII, đă dựa theo Mt 16,4 và Lc 21,7 để dùng câu này trong thông
điệp Pacem in Terris, và sau đó câu này trở thành một biểu ngữ cho việc
canh tân Giáo Hội. Trong số 11a Công Đồng lại diễn tả thái độ ḍ xét
thời điểm này. (Trở lại đầu trang)
6* Ta
phải chú ư rất kỹ đến câu quả quyết quan trọng này (xem lại trong số
54a). Đặc biệt tất cả những ai có trách nhiệm giáo dục lớp trẻ phải suy
xét lại rằng: cố gắng tiếp tục sống theo nếp cũ trong "giai đoạn mới của
lịch sử" tất nhiên là lỗi thời. (Trở lại đầu trang)
7* Công
Đồng muốn nói rằng, thời xưa (và gần đây) người ta coi những thực tại
nhân loại là vững bền và ít thay đổi. Ví dụ các luật trong lănh vực pháp
lư, những tổ chức gia đ́nh, làng xóm, đô thị trong lănh vực xă hội;
những nhu cầu của dân chúng trong lănh vực kinh tế, v.v... Qua bốn thế
kỷ vừa qua chưa có những thay đổi trong phụng vụ Thánh Lễ!... Nhưng ngày
nay th́ khác hẳn. Người ta không c̣n thích coi lănh vực nào là bất di
dịch nữa. Ngày nay con người dễ tỏ ḷng nghi ngờ khi người ta nại vào
những nguyên tắc bất biến hay là dựa trên quan niệm cổ điển để giải
thích các vấn đề. Hiện nay người ta không c̣n tin như xưa rằng lịch sử
là "thầy dạy cho cuộc sống", hay ít ra cũng không phải theo cùng một
quan niệm như xưa. (Trở lại đầu trang)
8* Thông
điệp Mater et Magister của Đức Gioan XXIII diễn tả hiện tượng "đời sống
xă hội" này và Công Đồng (số 25b) trích lại lời đó. Dĩ nhiên đó là hiện
tượng mới trong xă hội kỹ nghệ Âu Mỹ. Trong xă hội nông thôn Á Đông, nó
đă có từ ngh́n xưa (dù dưới h́nh thức khác), đến nỗi nhiều khi gây ra
nguy hại cho quyền tự do cá nhân (xem Phaolô VI, Populorum progressio,
số 36). Hiện tượng này không phải đồng hoá với xă hội chủ nghĩa đă bị
Giáo Hội lên án nhiều lần (đặc biệt trong Tđ. Quadragesimo Anno của Đức
Piô XI, năm 1931). Sau đó chính xă hội chủ nghĩa đă biến đổi không ít.
Sự kiện xă hội hoá có thể sa vào những chỗ nguy hại như Công Đồng nhắc
lại trong đoạn này, nhưng cũng có thể đem lại kết quả tốt đẹp: ngoài sự
phát triển vật chất, có thể giúp để thỏa măn nhiều quyền lợi căn bản của
con người như về giáo dục, đào tạo nghề nghiệp, sự cứu trợ xă hội, cứu
trợ y khoa, về hoàn cảnh làm việc, nhà ở, v.v... (Xem MV 25a và 42c). (Trở
lại đầu trang)
9* V́
thiếu óc khoa học, giới b́nh dân tin tưởng vào những sức lực vô h́nh do
những quỉ thần nào đó gây nên để giải thích hiện tượng thiên nhiên. Nhờ
những nghi lễ lạ lùng vàhuyền bí cố định từ ngàn xưa truyền lại, họ t́m
cách gây ảnh hưởng trên những ma lực đó (x.33a).
Tin tưởng vào số tử vi cũng phải được coi
như một hành thức biểu thị quan niệm phù phép.
Đây là quan niệm rất tai hại cho đức tin, v́
quyền tự do, ḷng yêu mến Thiên Chúa là Đấng hiểu biết và âu yếm điều
khiển đời ta, chẳng chiếm chỗ nào trong quan niệm đó. (Trở
lại đầu trang)
10*
Những quốc gia tân tiến hơn (Hoa Kỳ, Nga Sô, Thụy Điển...) lại chẳng
phải là những nước bỏ đạo nhiều hơn sao! Giới trí thức, không kể giới
bác học cũng không phải như thế sao! Nhiều khi người ta nghe nói như vậy.
Thực sự nhiều khi người trí thức học sâu về khoa học trong khi lại quên
phát triển những điều học hỏi về tôn giáo lúc c̣n bé. Trường hợp như thế
dễ mất đức tin, nhưng không được nói rằng đó là đ̣i hỏi của khoa học! (Trở
lại đầu trang)
11*
Trong số 9c và 10a, Công Đồng tóm tắt ư nghĩa đại khái của những h́nh
thức nhân bản chủ nghĩa khác nhau: nhân bản dân chủ mong ước giải thoát
con người khỏi mọi trạng thái hỗn độn nhờ giáo dục, kỹ thuật, quyền tự
do... không cần đến Thiên Chúa, tôn giáo, và chủ trương tự sức ḿnh, con
người sẽ đạt tới hạnh phúc... Nhân bản khoa học, một cách tương tự, chủ
trương con người t́m được tất cả các câu trả lời nơi khoa học và không
cần biết đến thực tại về tội lỗi và nguồn gốc tội lỗi nơi con người,
thực tại về công cuộc cứu chuộc của Đấng Cứu Thế, v.v... Nhân bản Mác
xít đánh giá việc làm như giá trị duy nhất của con người. Nhờ đảng điều
khiển, con người sẽ xây dựng thế giới và xă hội mới, loại trừ mọi bất
công. Tôn giáo là một dụng cụ của các chế độ tư bản dĩ nhiên sẽ biến mất.
Nhân bản Quốc gia: đă chiếm được độc lập th́ phải tự trị để phát triển
đầy đủ không chấp nhận bất cứ h́nh thức đế quốc nào nữa, mà tôn giáo
chẳng phải là một thứ đế quốc văn hoá sao? Nhân bản hiện sinh chủ trương
rằng đời sống là phi lư. Từ con số không, con người đang đi tới con số
không nữa. Chỉ cần ḷng can đảm để tự tạo ư nghĩa cho đời ḿnh, và tạo
nên một thế giới tiện nghi hơn cho con cháu (xem số 10a). (Trở
lại đầu trang)
4 Xem Rm
7,14tt. (Trở lại đầu trang)
5 Xem
2Cor 5,15. (Trở lại đầu trang)
6 Xem
CvTđ 4,12. (Trở lại đầu trang)
7 Xem
Dth 13,8. (Trở lại đầu trang)
8 Xem
Col 1,15. (Trở lại đầu trang)