Ðiều
quan trọng chúng ta cần chú ý ngay khi bước vào những chứng cứ để
biết có Thiên Chúa là chữ "Demonstratio" (proof, prouve)... hay
những danh từ như thế không có nghĩa thông dụng của chúng trong các
khoa học thực nghiệm, nhưng có một nghĩa riêng biệt, nghĩa đó chúng ta
gọi là chứng
cứ.
Nhưng
thực ra Thánh Thomas đã chỉ dùng chữ
"con đường" (Via) thay vì "chứng cứ". Nghĩa chữ này -Via- rất thâm thúy vì nó cho chúng ta
thấy đây không phải là công việc của lý trí mà thôi nhưng là sinh
hoạt của cả con người. Muốn tránh tất cả những ngộ nhận có hại cho
sự nghiên cứu sau này, chúng ta cần lưu y hai điểm sau
đâý:
1.Vì
những chứng cứ là những con đường hữu thể học dẫn tới Thiên Chúa,
cho nên những chứng cứ đó chỉ thành công khi con người suy nghĩ với
tất cả tâm linh mình.1 Gabriel Marcel đã
đưa ra một cách nhận xét sâu sắc : một đàng có nhiều bộ óc lỗi lạc
đã chứng minh Thiên Chúa hiện hữu, và lấy làm hài lòng về các
chứng cứ mình đưa ra, và quả thực những chứng cứ ấy là những chứng
cứ vững chắc về phương diện lý trí.Ðàng khác, chúng lại không có
khả năng thuyết phục được người nghe, không đưa người nghe đến chỗ
chấp nhận kết luận của chúng.
2.
Trước khi chứng minh người ta đã có trước một khẳng định về Thiên
Chúa, mà sau đó người ta phải đặt vào vòng ngoặc, nghĩa là phải đặt
thành vấn đề. Chứng minh là xóa bỏ cái vòng ngoặc đó đi, để cho
thấy cái khẳng định mặc nhiên lúc đầu là hợp lý. Nói thế không có
nghĩa là những chứng cứ kia không có giá trị khách quan. Không thiếu
những người cho rằng, tín ngưỡng là câu chuyện tình cảm ai tin thì tin,
chứng cứ trong thần lý học là những chứng lý được kết cấu đúng
phép luận lý, nghĩa là : nó là một sinh hoạt thuần lý khách quan có
giá trị cho hết mọi người.
Nhưng
luân lý tính và khách quan tính có nhiều cấp độ tùy theo phạm vi áp
dụng. Ví dụ : Tôi biết Trần Hưng Ðạo đuổi quân Nguyên thế kỷ XIII,
tôi không biết chắc chắn sự kiện lịch sử này như 2 với 2 là 4, hoặc
như định luật nước đun nóng 1OO% thì sôi. Chứng minh lịch sử dựa trên
bằng chứng một số giới hạn sách sử, di tích ... và không lập lại để
thí nghiệm. Sự kiện lịch sử không phải là những sự kiện thô sơ, tự
nó đã mang một ý nghĩa hiển nhiên, nhưng luôn luôn phải được giải
thích. tính khách quan của sử học không bằng khoa học thực nghiệm.
Cũng vậy, kết luận của thần lý học không có tính cưỡng bách, tuy
vậy nó cũng xác thực và hợp lý khiến cho người ta có thể chấp nhận
nó mà không cảm thấy làm một việc phi lý.
Ngũ
Ðạo của thánh Thomas được coi là truyền thống vì đi từ Aristote qua
Thánh Thomas, rồi qua đến triết học kinh viện mà đến với chúng
ta.
A.
TRÌNH BÀY NGŨ ÐẠO CỦA THÁNH THOMAS
1.
Con đường I : Chứng cứ dựa trên biến dịch
Chứng
cứ này được trình bày trong Ia,q2,a3. Trong chứng cứ này Thánh Thomas
dùng quá nhiều danh từ chuyên môn của triết Kinh viện, cho nên nếu
không quen với tư tưởng của Người, người ta sẽ dể hiểu lầm hoặc hiểu
không tới nơi tới chốn.
Vậy,
quan niệm cần phải được chúng ta hiểu thật đúng là quan niện motus. Nếu hiểu motus là chuyển
động, thì chứng cứ không còn gì nữa. Vậy phải hiểu theo đúng tư tưởng
Thomas :"motus" là biến dịch, nghĩa là nói lên sự chuyển biến từ năng
thể sang hiện thể, thành thử sự kiện biến dịch đặt chúng ta vào trung
tâm học thuyết Thánh Thomas về hữu thể và vô hữu, và về biến dịch
dưới tất cả mọi hình thức.
Hơn
nữa, chúng ta nên chú ý về sự khác biệt giữa hai quan niệm của
Aristote và của Thánh Thomas về tác động biến dịch. Tác động biến dịch
nghĩa là gì ?
Là làm cho một sự vật đang ở năng
thể trở thành hiện thể ! Cũng một câu này, ở trong hai hệ thống
triết học của Aristote và Thánh Thomas có hai ý nghĩa khác nhau một
trời một vực:
-
Nơi Aristote tác động kia nằm trong bản tính của mỗi loài vật. Như vậy có thể có nhiều đệ nhất động
cơ cho mổi sự vật.
-
Trong hệ thống triết học Aristote, không thể có quan niệm về sáng tạo
như ta thấy nơi Thánh Thomas, thành thử tác động biến dịch của Aritote
chỉ đưa một vật ở năng thể thực thụ sang tới hiện thể. Trái lại với
tư tưởng nơi Thánh Thomas, người ta không thể nói tới những năng thể
thực thụ. Bởi vì trước khi được sáng tạo, vạn vật không ở năng thể
theo nghĩa Aristote nhưng là ở thể hư vô.
Sở
dĩ phải nhắc lại và đào sâu quan niệm tác động biến dịch, là vì nếu
có quan niệm triết học Thánh Thomas như chính thuyết Aristote sửa chữa đi chút ít thì chúng ta
không thể nào đạt tới Thiên Chúa.
Luận
chứng thứ I của Thánh Thomas đã được xây dựng theo hai nguyên
tắc.
a.Thứ
I :
Bất cứ một sự vật gì biến động, đều có nguyên nhân biến
động.
Nguyên
tắc thứ I dể chứng minh và kinh nghiệm cũng cho thấy rõ
ràng.
b.
Thứ II :
Không thể ngược lên đến vô cùng.
Nguyên
tắc thứ II đã được Aristote chứng minh 3 cách khác nhau
:
b.1.
Nếu ngược lên đến vô cùng, thì phải công nhận có một số vô cùng.
Nhưng sự vật vừa động, vừa bị động, mà bởi vì các động cơ bị động đó
cũng động cho nên phải coi chúng như một chuyển động duy nhất. Cho nên
chủ trương 1 vô cùng chuyển động trong 1 thời gian hữu cùng là chủ
trương một điều mâu thuẫn.
b.2. Nếu không công nhận đệ I động cơ,
thì không hiểu được sự chuyển động. Vì tất cả những động cơ bị động
kia không cái nào là nguyên tác thành ra sức chuyển động
hết.
b.3.
Mỗi động cơ bị động chỉ động và phát ra sức chuyển động, vì nó được
động bởi một động cơ chính còn chúng chỉ là những động cơ dụng cụ.
Vậy không có động cơ chính thì vẫn không hiểu được sự chuyển động
của những động cơ dụng cụ kia, cũng như không có bàn tay thì làm sao
mà cái gậy kia chuyển động được.
Thánh
Thomas coi chứng cứ dựa trên biến dịch là chứng cứ quan trọng nhất và
vững nhất, và các triết gia Kinh viện cũng nghĩ rằng: chứng cứ này
vững nhất và mạnh nhất, nhưng chúng ta không thể không nghĩ đến sự
kiện này :
Chứng
cứ thứ I là một tiếng nói quá xa lạ với tư tưởng người thời nay,
nhất là vật lý học ngày nay không xét đến những nguyên nhân như
Aristote mà chỉ nghiệm chứng những hiện tượng trực tiếp, cho nên tư
tưởng triết học ngày nay không quen thuộc với cách giải nghĩa bằng
nguyên nhân.
2.
Con đường 2 : Chứng cứ dựa trên nguyên nhân tác thành
.
Chứng
cứ này khác với chứng cứ 1, ở chỗ không xét đến sự kiện biến dịch
xét như là biến dịch. Nhưng xét đến hiệu qủa của biến dịch, cũng là
biến dịch. Nhưng chứng cứ 1 nghiệm xét đến tác động biến dịch ; còn
chứng cứ 2 thì nghiệm xét thành qủa của biến dịch thôi.
Thánh
Thomas xây dựng luận chứng của Người trên hai nguyên tắc rất chắc
chắn :
a.
Không sự vật nào có thể tự làm nguyên nhân cho chính mình, vì điều
đó mâu thuẫn quá ! Nhận rằng một sự vật có thể làm nguyên nhân cho
nó tức nhận rằng : nó hiện hữu trước khi nó thực sự hiện hữu. Vậy
mỗi hữu thể phải có nguyên nhân biệt khỏi nó và hiện hữu trước
nó.
b.
Không thể ngược lên đến vô cùng trong trật tự những nguyên nhân
trung gian, nghĩa là những hữu thể vừa làm nguyên nhân cho cái khác,
vừa cần một nguyên nhân cho mình. Thánh Thomas còn chứng minh bằng
phản chứng :"Nếu bỏ đệ I nguyên nhân tác thành đi, tất không còn
những nguyên nhân trung gian, và cũng không còn những hữu thể thành
qủa nữa". Vậy mà chúng ta thấy những lập luận như thế là phản với
thực tế. Vì trong thực tế là ai cũng nhận có các sự vật trong vũ
trụ, vậy phải kết luận : phải có đệ I nguyên nhân tác
thành.
Ai
cũng nhận thấy hai chứng cứ 1 và 2 giống nhau, và các chứng cứ sau
này cũng giống như thế, thành thử không thiếu những học giả cho rằng
: chỉ có một con đường duy nhất và đường đó có 5 phần. Nghĩ thế là
không kính trọng tư tưởng thánh Thomas cho đủ ! Vì Người đã viết rõ
là: "In que Dei" (5 con đường). Tuy nhiên
không ai chối được rằng: 5 chứng cứ đó được xây dựng một
kiểu.
3.
Con đường 3 : Chứng cứ dựa trên tất yếu.
Chứng
cứ này dựa trên hai tiền đề :
*
Là khả hữu, là cái bất tất, có cũng được mà không có cũng được.
Như vậy nó đối lập với tất yếu.
*
Là vật khả hữu không do mình mà có, cho nên nó cần phải có nguyên
nhân của hữu thể nó.
Từ
đây, chúng ta gặp lại cách lập luận đã qua của Thánh Thomas. Về con
đường này Et. Gilson đã đưa ra những tài liệu đầy đủ để chứng minh
rằng : Thánh Thomas đã hoàn toàn theo cách chứng minh của hiền triết
Do Thái Maimonide để nêu lên sự kiện những hữu thể bất tất và tất
yếu. Thánh Thomas cũng làm như Maimonide là đặt ra 3 giả thuyết
:
a. Không vật nào sinh ra và diệt đi
hết : giả thuyết này bị kinh nghiệm hằng ngày bác bỏ ngay. Vì ai cũng
thấy có những sự vật sinh và diệt trong vũ trụ.
b.
Tất cả vạn vật đều sinh ra và diệt : giả thuyết này cũng không thể
nhận được. Vì nếu tất cả đều sinh và diệt, tức là tất cả đều bất
tất, mà bất tất thì đã có lúc chúng không có và đã không có thì
chúng không thể tự chúng bắt đầu có và như vậy không có hữu thể
nào hết. Kinh nghiệm cho hay : có những hữu thể trong vũ trụ cho nên
giả thuyết thứ hai này kkông thể nhận được.
c.
Có những vật bất tất có sinh và diệt, và cũng có những hữu thể
tất yếu không sinh không diệt. Thực ra đây không còn là một giả
thuyết nhưng là kết luận phải được chấp nhận. Sau khi chúng ta thấy
không thể chấp nhận hai giả thuyết trên kia. Những sự vật chúng ta
gặp trong vũ trụ thảy đều sinh và diệt. Như vậy, chúng đều bất tất,
nếu chúng thảy đều bất tất, thì có nghĩa là có lúc chúng không có,
và như vậy là hư vô hoàn toàn, bởi vì hư vô đó không thể tự sinh ra
hữu thể cho nên, nếu nhận rằng tất cả các hữu thể đều bất tất, thì
cũng phải nhận rằng đã có lúc không có một hữu thể nào hết. Và
như vậy,đáng lẽ bây giờ cũng không có chi hiện hữu hết. Vì giả
thuyết đó vô lý, cho nên chúng ta phải công nhận rằng : ngoài những
hữu thể bất tất ra còn có hữu thể tất yếu đó là hữu thể mà mọi
người gọi là Thiên Chúa.
Các
tác giả lưu ý chúng ta về quan niệm tất yếu và hằng hữu mà thánh
Thomas mượn lại của vũ trụ học Aristote. Theo Aristote, cái gì tất yếu
thì hằng hữu, còn cái bất tất thì ở trong thời gian. Sở dĩ Aristote
chủ trương như thế vì ông nghĩ : vũ trụ hằng hữu.
Thực
ra, trong Tổng luận thần học. Thánh Thomas chỉ lập lại Aristote thôi, vì
thế sinh ra khó khăn cho ta. Trái lại, ở nơi khác Người tỏ ra gọn hơn
và không nạn đến quan niệm về hằng hữu, bất tất khi đó có nghĩa là
một hữu thể không thể ra khỏi tình trạng hư vô, nếu không có một
nguyên nhân tác động vào nó. Khi đã tẩy sạch những khó khăn như thế
con đường thứ 3 được coi là một luận chứng thỏa
mãn.
4.
Con đường 4 : Chứng cứ dựa trên các cấp hữu
thể.
Chứng
cứ này đã gây nhiều tranh luận nhất. Có những tác giả bênh thuyết
Thomas hơn cả Thánh Thomas cho rằng chứng cứ này chắc chắn nhất. Một
số học giả lại cho rằng chứng cứ này không dẫn tới kết luận cụ
thể nào hết, vì nó thuộc loại luận chứng hữu thể học. Ðại ý chứng
cứ này như sau :
Ta
thấy trong vũ trụ có những sự vật hơn nhau về tốt lành, về chân
thực. Như vậy, chắc trên hết phải có một hữu thể chí thiện, chí
chân. Chí thiện đó cũng là hữu thể trên hết và là căn nguyên của
vạn vật, đó là Thiên Chúa.
Ai
cũng nhận rằng chứng cứ này có lối đi của biện chứng pháp Platon.
Tuy nhiên theo cha Sertillanges, thì Thánh Thomas đã tránh được những sai
lầm của Platon là :
Thứ
nhất :
Trong khi Platon muốn dừng lại ở đệ nhất của mỗi loại hữu thể, thì
Thánh Thomas đi tới sự nhận ra cha của các linh tượng. Như thế, Thánh
Thomas tránh được sự kiện nhiều đệ nhất.
Thứ
hai :
Thánh Thomas đã bảo toàn được thực tại trong khi Platon thì hy sinh
nó.
Như
thế, chứng cứ của Thánh Thomas có thể dẫn tới một Ðấng chí thiện.
Trái lại nhiều triết gia trong nhóm Kinh viện đã không nghĩ thế, họ
cho rằng chứng cứ của Thánh Thomas không thể sạch tội luận chứng hữu
thể học.
Tóm
lại nơi chứng cứ thứ 4, Thánh Thomas đã phác họa một con đường khả dĩ
đưa ta tới Thiên Chúa, nhưng Người mới chỉ phác họa thôi, và chứng cứ
của Người đã giả thiết những điều mà Người không chứng minh nơi đây,
và đã chứng minh ở nơi khác trong các tác phẩm của Người. Nói đúng
ra con đường thứ 4 không thực sự xây trên những cấp của chân thiện
mỹ như người ta thường nói, nhưng xây trên những cấp của hữu thể,
nghĩa là từ tính chất bất toàn của hữu thể nọ hay hữu thể kia trong
vũ trụ, con người có thể vươn tới hữu thể căn nguyên. (Từ những hữu
thể bất toàn đưa ta tới những hữu thể căn nguyên, mà hữu thể căn
nguyên đó chính là Thiên Chúa).
5.
Con đường 5 : Chứng cứ dựa trên nguyên nhân cứu
cánh.
Các
tác giả Kinh viện thường trình bày chứng cứ này dưới cái tên chứng
cứ dựa trên trật tự của vũ trụ. Thực ra nguyên nhân cứu cánh phải
hiểu cả về hai nghĩa, vừa nghĩa là một vật có khuynh hướng tìm sự
thiện hảo cho chính mình nó ; vừa có nghĩa là vạn vật đều qui về chí
thiện và do đấy chúng đưa lên một trật tự hoàn
mỹ.
Người
ta quá nhấn mạnh về nghĩa thứ hai mà nhằm bỏ nghĩa thứ nhất, là nghĩa
mà chính Thánh Thomas đề cao hơn. Ðại ý chứng cứ của Thánh Thomas dựa
trên nguyên lý hay thành ngữ này : Omne agens agit peopter finem (Tất cả
mọi tác nhân đều hướng về mục đích : cứu cánh). Như vậy chứng cứ có
thể đi cả con đường những vật vô tri, cả con đường những vật có lý
trí. Thánh Thomas đã chỉ cần lấy chứng cứ nơi những vật vô tri. Những
vật này hành động như thể có tri thức về cứu cánh của chúng, vì ta
thấy chúng hành động luôn theo một đường lối, và đường lối này dẫn
chúng đạt được cứu cánh của chúng. Bởi vì ta biết rõ chúng vô tri,
cho nên ta phải kết luận rằng có một cái chi có tri thức hướng dẫn
tới cứu cánh của chúng. Gilson đưa ra những nhận xét tổng quát về
chứng cứ thứ 5 :
Thứ
1 :
đây là chứng cứ có vẻ bình dân và dể hiểu nhất, vì dựa trên những
sự kiện mà bất cứ ai cũng có thể nhận ra. Tuy vậy đối với Thánh
Thomas chứng cứ này có một giá trị vững vàng, nên không hơn thì cũng
bằng chứng cứ khác, Lý do là vì nó dựa trên nguyên nhân cứu cánh,
một trong những nguyên nhân trọng nhất.
Thứ
2 :
Sức chứng minh của chứng cứ thứ 5 này rất mạnh. Khi thoạt đi vào
người ta đã thấy nó chứng minh được rằng vũ trụ cần phải có một
hóa công theo nghĩa một vị an bài vạn vật trong vũ trụ. Nếu đi sâu hơn
người ta sẽ nhận ra nơi nguyên nhân cứu cánh, chính tiêu chuẩn đã
thúc đẩy nguyên nhân tác thành hành động. Thành thử người ta gặp
được nguyên nhân của nguyên nhân.
Nhìn
một cách khác quan người ta có cảm tưởng như Gilson đi mau quá,vì ông
quá vội theo những tiền giả thuyết của thời Trung Cổ, cho nên nhiều
học giả ngày nay cho rằng ông đã thiếu óc phê bình. Chẳng hạn ý
niệm về một Thiên Chúa sáng tạo và an bài ông có nơi phần kết luận
của chứng cứ thứ 5. Chỉ cần một bản tính theo quan niệm triết Hy Lạp
cũng đủ giải quyết vấn đề trật tự của vũ trụ. Tuy nhiên theo văn
học sử mà nói thì lý do chính làm cho Thánh Thomas thấy không cần
thiết trình bày tất cả những gì đáng lẽ Người phải trình bày, ở tại
sự thông cảm sâu xa giữa Người và những độc giả của Người, họ đều
là những người có đức tin mạnh mẽ và sáng suốt về Thiên Chúa, và
nhất là theo lịch sữ triết học, họ chưa biết những lay chuyển của
thuyết phê bình như chúng ta ngày nay.
B.
NHẬN ÐỊNH TỔNG QUÁT VỀ NGŨ ÐẠO
Trên
đây nơi mỗi cuối chứng cứ, chúng ta đã đưa ra ít nhận xét về giá trị
của mỗi chứng cứ, và thử nhìn xem mỗi chứng cứ thực sự đã chứng
minh được những gì ? Chúng ta đang hé nhìn thấy sự bất toàn của mỗi
chứng cứ xét riêng. Bây giờ xét chung lại, chúng ta cần phải sáng
suốt nhận định giá trị của Ngũ Ðạo, tức 5 chứng cứ cổ điển của
Thánh Thomas.
Phải
nói ngay, chúng ta đang đứng trước những thái độ phản ứng hoàn toàn
khác nhau. Ðại đa số các nhà Kinh viện đã nhắm mắt lập lại những
luận chứng của Thánh Thomas, coi đó là những chứng minh tuyệt hảo về
mọi phương diện. Theo những nhà Kinh viện này, thì các chứng cứ của
Thánh Thomas vẫn được tâm trí của con người ngày nay đón nhận và tin
theo như hồi thế kỷ XIII. Các nhà Kinh viện này không hề đề cập đến
những mối hoài nghi của tâm trí người ngày nay, cũng không kể chi óc
phê bình của tư tưởng triết học hiện tại. Ðọc họ chúng ta thấy thanh
bình hơn cả khi chúng ta đọc bản văn của Thánh Thomas. Bản văn của
Thánh Thomas dầu sao cũng phản ảnh những khó khăn về nghi hoặc của
thời gian. Còn khi chúng ta đọc các tác giả Kinh viện, chúng ta chỉ
thấy một tư tưởng toàn thắng, không gặp một chướng ngại nào hết, đó
chính là nghĩa đen và nghĩa xấu của danh từ Kinh
viện.
Ðứng
trước tình trạng "tống nho" của đại đa số các tác giả Kinh viện, một
số triết gia Kinh viện đã phản ứng quá mạnh. Chẳng hạn như cha Van Steenberghen cho
rằng dự tính của Thánh Thomas khi viết cuốn Summa Theologica là dành cho
những người bắt đầu đi học. Cho nên không gì trái ý của thánh
nhân bằng tôn bản văn của Người lên ngang hàng tác phẩm Thánh Kinh.
Cha còn cho rằng : người ta không nên quên một chân lý sơ đẳng này :
bản văn của Thánh Thoms sở dĩ có giá trị là vì đã mang nặng ấn tích
của thời đại Người, thời ấy đã quá xa chúng ta, vì thế cha còn nhấn
mạnh : Dẫu tác phẩm của Thánh Thomas diễn đạt đúng chân lý, thì cũng
không vì thế buộc chúng ta coi đó là một chân lý ngàn đời, bất di
bất dịch.
Lý
do sau cùng làm cho việc nghiên
cứu tác phẩm của Thánh Thomas trở nên nguyên nhân sự sa lầy là :
Một số triết gia Kinh viện đã quá ngây thơ nghĩ rằng Thánh Thomas
không thể sai lầm, và tư tưởng
của Người có một giá trị vượt trên không gian và thời
gian.
Những
lời lẽ phê phán trên đây của Cha Van Steenberghen có đích đáng hay
không, và thái độ của các tác giả Kinh viện thực sự có đáng trách
nặng lời như thế hay không ? Ðó là điều thuộc lãnh vực những nhận
xét cụ thể không thuộc vấn đề giá trị cá nhân Thánh Thomas. Dẫu sau
những phê phán của cha cũng nêu lên một tình trạng đáng tiếc và đã
kéo dài quá mức.
Ngoài
hai thái độ có thể gọi là cực đoan trên đây, còn một thái độ thứ ba nữa và chúng ta
muốn đó là thái độ của chúng ta dựa trên những nhận xét thanh bình,
những nhận xét dựa trên nền tảng vững chắc của lịch sử triết
học. Chúng ta thử tìm hiểu giá trị cụ thể của những chứng cứ
Thánh Thomas, nhờ đó chúng ta thấy Người đã vượt quá Aristote chừng
nào để có thể trung thành với Giáo Hội và thời đại của Người. Chính
thái độ này của Người "bất trung thành để trung thành" sẽ dạy ta theo
gương Người để chu toàn nghĩa vụ tri thức của chúng ta, trong thời đại
của chúng ta.
1.
Trước hết, Thánh Thomas đã vượt quá tư tưởng của Aristote về biến
dịch.
Thánh nhân cho chứng cứ dựa trên biến dịch là : "Prima et maquifestior
via" (con đường thứ nhất và sáng tỏ hơn cả). Rồi Người dùng những
luận chứng của Aristote để chứng minh rằng : có một đệ nhất động cơ ;
nhưng khi nhìn kỹ vào, người ta thấy Người gán cho đệ nhất động cơ có
những thuộc tính mà Aristote sẽ là người phản đối đầu tiên. Ðệ nhất
động cơ của Thánh Thomas chẳng những đã chuyển vạn vật từ năng thể
sang hiện thể mà còn là nguyên nhân của bản thể hay hữu thể vạn
vật nữa. Cái khó cho chúng ta, những môn sinh của Thánh Thomas, là
Người cứ nhất quyết hoàn toàn trung thành với Aristote. Do đó, Người
đã chú giải Aristote một cách quá xa tư tưởng của triết gia Hy lạp.
Người ta đã nói :"Thánh Thomas làm công việc rửa tội cho Aristote".
Thực không phải là nói quá !
Ít
nhất các học giả cũng thấy Thánh Thomas đã biến đổi tư tưởng của
Aristote ở hai điểm quan trọng :
Thứ
nhất :
Thánh Thomas đã cố tình chủ trương rằng đệ nhất động cơ không những
là nguyên nhân của biến dịch mà còn là nguyên nhân của hữu thể vạn
vật nữa. Như vậy Thánh Thomas đã ban cho Thượng Ðế của Aristote có sức
sáng tạo nên vạn vật, nhưng Người chỉ quyết thế thôi, không thể đưa
ra những đoạn văn của Aristote để chứng minh rằng : "quả thực Thượng
Ðế của Aristote giống hệt Thượng Ðế của Người !"
Thứ
hai :
Thánh Thomas đã ngã vị hóa Thượng Ðế của Aristote bằng cách ban cho
Thượng Ðế đó một ý muốn mà không một ai khác dám quyết là có nơi
Thượng Ðế của Aristote. Nếu nhận định của Gilson đúng, thì người ta
phải nhận rằng Thánh Thomas đã tự mâu thuẫn, vì chính Người cũng
không thấy Thượng Ðế của Aristote có ý muốn.
2.
Thứ đến, Thánh Thomas đã vượt quá bình diện bản thể của
Aristote.
Chính ở đây, chúng ta phải nhận với Gilson rằng : Thánh Thomas đã nhảy
qua một vực thẳm. Vực thẳm đó chính là sự khác biệt giữa lãnh vực
bản thể của Aristote và lãnh vực hiện hữu của Thánh Thomas. Ðây là
cái khó của những hậu lai. Thánh Thomas muốn dựa vào Aristote để
những luận lý của Người được xây trên uy tín của nhà hiền triết. Vì
thế Người đã đặt cho Aristote những lời lẽ mà ông này không hề nghĩ
tới và không thể chấp nhận được cho học thuyết của ông. Chúng ta,
những kẻ hậu lai có nên tin Thánh Thomas để nghĩ rằng : Thượng Ðế của
Aristote đích thực là một Thiên Chúa sáng tạo chăng ? Ngày nay, không
một ai dám nghĩ như thế nữa ! Vì lịch sử triết học ngày nay không cho
phép lầm lẫn như vậy. Vậy chỉ còn mỗi một cách để công nhận rằng
Thánh Thomas đã vượt xa Aristote, bỏ xa bình diện bản thể là bình diện
của yếu tính để vươn sang bình diện hữu thể là bình diện của hiện
hữu. Vì thế Gilson cho rằng 5 chứng cứ của Thánh Thomas thực sự ngấm
ngầm dựa trên nền tảng siêu hình học.
Nền
tảng siêu hình học này đối với những học giả của Thánh Thomas là
một chuyện dễ dàng, do đó, thánh nhân thấy không cần trình bày cách
tỏ tường trong văn kiện của Ngũ Ðạo. Nhưng đối với người thời nay thì
lại rất cần phải trình bày tường tận. Như vậy, không bao giờ chúng ta phủ nhận giá
trị của những chứng cứ của Thánh Thomas, nhưng chúng ta có bổn phận
trình bày tư tưởng của thánh nhân làm sao cho phù hợp với những tư
tưởng của hiện đại, nghĩa là chúng ta không thụ động hiễu theo chữ
của Ngũ Ðạo. Nhưng chúng ta dùng phương pháp phê bình văn học để
hiểu tất cả những gì Thánh Thomas thực sự muốn nói qua văn kiện mà
chúng ta thấy trong Summa Theologica.
3.
Về vũ trụ quan của Thánh
Thomas và vũ trụ quan của Aristote:
Những
nhận xét có tính cách phê bình này không có mục đích nào khác ngoài
việc giúp ta khai thác được giá trị siêu hình học của con đường Thánh
Thomas. Nhưng chúng ta chỉ đạt đến mục đích đó với điều kiện là hiểu
cho tới nền tảng siêu hình học mà điều này chỉ có thể thực hiện,
nếu ta nhận định đầy đủ về hai sự khác biệt gần như vô cùng giữa vũ
trụ quan của Thánh Thomas và vũ trụ quan của Aristote, rồi sự khác
biệt của Thánh Thomas về ý nghĩa nguyên nhân tác
thành.
Trước
hết, nên xác định lại quan niệm về biến dịch và sáng tạo. Chúng ta
đã phác họa điểm này khi bàn về chứng cứ thứ nhất của Thánh Thomas.
Nơi đó chúng ta đã nhấn mạnh về sự khác biệt một trời một vực giữa
tác động mang một hữu thể từ năng thể sang hiện thể, và tác động
sáng tạo, tức làm cho một hữu thể đi từ hư vô đến hiện
hữu.
Sau
khi đã nhiều lần nhắm đến sự khác biệt thẳm sâu giữa hai vũ trụ
quan của Thánh Thomas một bên, và của Aristote một bên, chúng ta có
thể đoan chắc rằng nếu hoàn toàn theo viễn tượng của vũ trụ quan
Aristote thì không thể có sự sáng tạo, đồng thời không thể có một
Thiên Chúa sáng tạo được.
Trong
vũ trụ quan Aristote, tất cả các (loại), sự vật đến hằng hữu và vĩnh
cửu, chỉ có các (cá vị) là chịu quyền biến dịch. Cho nên những cá vị
được đưa từ năng thể sang hiện thể bởi một hữu thể ở hiện thể, tức
là bởi một hữu thể thuộc loại nó và có trước
nó.
Trái
lại khi Thánh Thomas quyết rằng :"Quidquid movetur ab alio movetur" (cái
mà được đánh động thì bởi được cái khác đánh động). Và khi Người
định nghĩa "Movere est nihil aliquid quam educere aliquid de potentia actum"
(chuyển động không là cái gì khác hơn là đưa một cái từ năng thể
sang hiện thể). Nhưng khi Người nói như thế Người vẫn ngấm ngầm nghĩ
đến sự sáng tạo và nguyên nhân sáng tạo mà trong câu kết luận
Người là Thiên Chúa. Tất nhiên ta không thể nào nghĩ thánh nhân lại
sai lầm đến mức có thể nhận y nguyên đệ nhất động cơ của
Aristote.
Vậy
chúng ta phải kết luận rằng Thánh Thomas đã vượt quá tư tưởng của
Aristote rất nhiều. Sự vượt quá này thực ra là một thay đổi hoàn
toàn. Hai vũ trụ quan không thể nào ăn khớp với nhau được, chúng ta
chỉ còn cách công nhận rằng : Thánh Thomas đã gán cho chứng cứ của
Người một nội dung siêu hình học tuyệt đối khác hẳn với nội dung mà
chứng cứ đó khi nó nằm trong học thuyết của Aristote. Như vậy Thánh
Thomas đã kết nạp quá mức của tiền đề chăng ?
Thánh
Thomas đã không kết nạp quá tiền đề. Hay nói đúng hơn : Người chỉ xem
ra kết nạp như thể đối với chúng ta mà thôi. Bởi vì Người đã không
trình bày tất cả những cái đáng lẽ ra Người phải trình bày. Tuy nhiên
như chúng ta đã nói rằng : sự trình bày đó không cần cho độc giả của
Người thời đó. Vậy thì ta phải nhận rằng : Người đã xây tất cả 5
chứng cứ của Người trên nền tảng siêu hình học đó, nền tảng này
không được trình bày hiển hiện nơi Ngũ Ðạo, nhưng những ai thông thạo
kiểu nói và học thuyết của Người đều dễ dàng thấy nền tảng đó
hiện ra giữa những luận lý của Ngũ Ðạo.
Bây
giờ đã đến lúc chúng ta phải nhờ vào sự nghiên cứu của các học
giả đề khơi lên cái nền tảng đó.
4.
Nền tảng siêu hình học của Ngũ đạo:
Trước
hết: chúng ta phải chứng minh được rằng :"Movere" theo nghĩa Aristote,
không phải và chưa phải là "Creare", vì có như vậy, chúng ta mới chứng
minh được rằng Thiên Chúa ban hiện hữu cho vạn
vật.
Aristote
chủ trương "movere", bởi vì vũ trụ của ông là vũ trụ không ai sáng
tạo nên và là vũ trụ hằng hữu.
Trái
lại, trong tư tưởng của Thánh Thomas Thiên Chúa đã sáng tạo nên vũ
trụ, nghĩa là cho vũ trụ sự hiện hữu. Và như chúng ta đã thấy trong
phần hữu thể học, hiện hữu của vạn vật hoàn toàn tùy thuộc vào
Thiên Chúa, chứ không thuộc vào bản tính chúng chút nào. Trước khi
được sáng tạo, chúng không có một bản tính nào hết. Thánh Thomas đã
viết câu quyết :"Sic autem se habet omnis creatura ad Deum sicut aer ad solem
illuminautem". Vạn vật đối với Thiên Chúa thì như không trung đối với
mặt trời chiếu sáng. Nghĩa là vạn vật tùy thuộc một cách tuyệt đối
vào Thiên Chúa, và chẳng những tùy thuộc vào Người để chúng có thể
hiện hữu, và còn tùy thuộc vào Người trong sự được bảo toàn chúng
nữa.
Theo
câu nói then chốt của Người trên đây, chúng ta thấy Người chủ trương
thuyết hiện hữu rất chắc chắn. Thuyết này có thể tóm lại trong câu
sau đây :"Hữu thể có đây". Vậy, một là tự mình mà có, hai là nó
hiện hữu do một nguyên nhân đã ban hiện hữu cho nó. Không cần nghiệm
xét lâu ai cũng dễ thấy giả thuyết thứ nhất chỉ đúng cho một mình
hữu thể tuyệt đối mà thôi, hữu thể tuyệt đối đó gọi là Thiên
Chúa. Ðó là hữu thể mà yếu tính là hiện hữu ; còn giả thuyết thứ
hai, tức là giả thuyết về những hữu thể không tự mình có lý do hiện
hữu cho mình. Tất nhiên chúng ta phải tìm lý do và nguyên nhân đó ở
ngoài chúng. Tuy nhiên, thay vì đi tìm theo dòng thời gian ngược lên
mãi. Chứng cứ siêu hình học nhìn thẳng vào hiện hữu của các hữu thể
không tự hữu.
Tại
sao việc ngược dòng thời gian không giúp ta đi thẳng vào trung tâm vấn
đề siêu hình học ?
Thưa
vì hậu quả sang tới những nguyên nhân trung gian, mà trong chứng cứ
thứ nhất Thánh Thhomas gọi là động cơ bị động. Chúng ta vẫn chưa đi
vào tác động sáng tạo, nhưng cùng lắm chỉ là để cho ta thấy đi ngược
lên như thế không phải là cách trả lời. Vấn đề siêu hình học là
vấn đề xét đến chính nền tảng của hiện hữu.
Nhìn
vào nền tảng hiện hữu chúng ta thấy tất cả những hữu thể hữu cùng
đều bất tất, mà bất tất thì chúng có hay không cũng không hệ chi
đến hữu thể nói chung. Do đó, chúng ta phải kết luận rằng : chúng
không tự mình mà có, mà để không tự mình mà có thì hữu thể của
chúng hoàn toàn lệ thuộc vào tác động sáng tạo của một nguyên nhân
phát sinh ra chúng. Trong ý này Thánh Thomas đã ví hiện hữu của chúng
như không trung đối với ánh sáng của mặt trời, hễ mặt trời giãi ánh
sáng vào thì không trung sáng lên, và hễ mặt trời rút ánh sáng của
nó đi thì không trung hết sáng.
Như
thế, hễ Thiên Chúa ban hiện hữu cho vạn vật thì chúng hiện hữu, và
hễ Thiên Chúa rút tay Người lại thì vạn vật liền rơi vào hư
vô.
Tóm
lại : Muốn đạt tới nguồn mạch của các chứng cứ siêu hình học, chúng
ta cần thiết phải nhìn vào bản chất của tác động sáng tạo, bởi vì
hiện hữu của vạn vật đều tuyệt đối lệ thuộc vào tác động đó. Như
thế chúng ta thấy các chứng cứ cổ truyền xét theo hình thức có thể
coi là những chuẩn bị hữu ích để chúng ta vào trung tâm chứng cứ siêu
hình học. Xét theo thâm ý Thánh Thomas thì chúng là những chứng cứ
xây trên nền tảng siêu hình học.
Phương Ðông
1 Trong lý luận của những chứng cứ về Thiên
Chúa hiện hữu, không phải chỉ có lý trí thuần túy nhưng còn có những
yếu tố ngoại lý mà các tác giả không diễn tả hết trong câu văn
được. Những yếu tố đó có thể là :
* Yếu tố thuộc tình cảm : phải yêu mến
Thiên Chúa mới biết Người được.
* Yếu tố ý chí tự do : phải có quyết định
để chọn lựa Thiên Chúa mặc dù các lý lẽ đưa ra không ép buộc ta
phải nhìn nhận Thiên Chúa.
* Yếu tố tôn giáo trước khi ta chứng minh
Thiên Chúa hiện hữu : người ta có thái độ cởi mở nào đó
rồi.
* Yếu tố thuộc kinh nghiệm sống : Garbiel Marcel nghĩ rằng thực ra chứng minh Thiên Chúa hiện hữu là đã khẳng định có Thiên Chúa trước khi họ suy nghĩ về cơ cấu luận lý của những khẳng định đó, đến nỗi chứng cứ chỉ có hiệu năng cho những ai vốn không cần tới nó.