Tin Tức Công Giáo Số 3659 - Năm Thứ 11 - Ngày Thứ Tư 8/11/2006
  • TRONG SỐ NÀY
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Mỗi ngày một câu chuyện Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Thơ: Linh hồn con Sa Mạc Hồng
Truyền Giáo Tại Việt Nam - Bài 11: Tham Gia Các Phong Trào & Hiệp Hội Canh Tân... Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Ngày 8 tháng 11: Kính Chân Phước Gioan Duns Scotus PT Huỳnh Mai Trác
Làm chứng tin mừng theo gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam Phó tế Phạm Bá Nha
Con Chiên Lạc Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài
Một Phút Suy Niệm Lm Vũ Đình, CMC
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đại hội giới trẻ Phi Luật Tân quy tụ trên 10,000 người Nguyễn Long Thao
Đức Thánh Cha kêu gọi chấm dứt đổ máu ở Gaza Nguyễn Hoàng Thương
Mọi người cần có trách nhiệm để giải quyết xung đột ở Thánh Địa Nguyễn Hoàng Thương
Hoạt động của một nhà xuất bản Công Giáo tại Hồ Bắc, Trung Quốc Nguyễn Long Thao
Đại hội ''Phúc âm hóa tại Bruxelles'' Đ.Ô. Mai Đức Vinh (dịch)
Tin Giáo Hội Việt Nam
Báo cáo: Danh sách Ân Nhân góp Quĩ Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt tại Việt Nam Đ.Ô. Phạm Xuân Thắng
Giáo xứ Hoà Cường (Đà Nẵng) kiên trì đấu tranh trong tinh thần bất bạo động để phục hồi quyền lợi của Giáo hội Gx Hòa Cường
Gia Đình Sống Đạo Hôm Nay +ĐHY Phạm Minh Mẫn
Mục Vụ Xây Dựng Và Củng Cố Gia Đình Giuse Đặng Văn Kiếm
Bản tường trình kết quả Đại Hội Giáo Lý toàn quốc lần I tại Nha Trang LM. Phêrô Lê Văn Ninh
Thánh lễ đồng tế kỷ niệm Bách chu niên ngày qua đời của Chân phước Êlizabeth Chúa Ba Ngôi Gia Nhân
Tài Liệu - Sưu Khảo
Cuộc hoán cải của tài xế xe ca Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Người Nghèo Khó Lm. Tâm Duy
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh


26. Thiên Chúa vô cùng nhân ái tốt lành, tạm thời chậm nghe lời kêu cứu của con người, chính là để gia tăng nguyện vọng thiết tha và công đức của con người, bởi vì thời gian kêu cứu của con người càng dài lâu thì công đức lại càng lớn.

(Thánh Gregory of Langres)
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Mỗi ngày một câu chuyện
QUỶ THÔNG HIỂU NHÂN TÌNH



Có một cố nông tên là Điền Bất Mãn, ban đêm lạc đường nên đi bừa vào trong nghĩa địa, vấp phải một cái đầu lâu. Đầu lâu kêu lên: “Đừng đạp hư đầu của tôi, nếu không tôi sẽ giáng họa cho ngươi đấy !”

Điền Bất Mãn hét mắng: “Ai kêu ngươi đến chặn đường hử ?”

Đầu lâu nói: “Có người đem tôi đến đây ạ !”

“Thế tại sao nhà người không giáng họa cho người đem mầy đến đây ?”

“Nó đang gặp vận hên, phúc khí quá lớn”.

Điền Bất Mãn nổi nóng nói: “Lẽ nào tao là đứa vận đen ? Mày sợ đứa vận may nhưng ức hiếp người vận đen, là vì lý gì ?”

Đầu lâu khóc nói: “Sợ người vận may, ức hiếp người vận đen, nhân tình đều như thế, sao ngài lại trách mắng tôi ? Xin ngài thương hại tôi, đem tôi bỏ vào trong cái huyệt đất, thì ân điển ngài đối với tôi thật to lớn như trời đất”.

Điền Bất Mãn không một chút để ý cứ bước tới trước mà đi, vọng lại sau lưng tiếng khóc “ồ ồ”, nhưng sau đó cũng không xảy ra chuyện gì.

(Tự Bất Ngôn)

Suy tư:

Người yếu bóng vía đi đạp phải đầu lâu thì có nước mà chết khiếp, nhưng người can đảm và chí khí thì đạp đầu lâu hay đạp thây ma thì cũng thế mà thôi.

Có những người can đảm đạp đầu lâu nhưng không can đảm trước những cám dỗ, cho nên họ vẫn cứ là kẻ yếu đuối; có những người thấy thây ma không hề sợ sệt, nhưng lại sợ vươn tay ra giúp đỡ người nghèo, cho nên họ như người lén lút trốn tránh...công an khi thấy người nghèo khổ; có những người rất hào hoa phóng khoáng với người có vận may (nhà giàu, quyền thế), dù người có vận may ấy không hề nhờ giúp đỡ, nhưng họ vẫn cứ bỏ tiền bỏ của ra giúp đỡ, còn những người gặp vận đen (người nghèo, bất hạnh, bệnh tật) thì họ lại “đạp” thêm cho nó đen luôn. Nhân tình thế thái là thế đó.

Người giàu kẻ nghèo, người có vận may hay vận đen đều nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa cả, bởi vì Thiên Chúa rất công bằng và không thiên vị một ai, chỉ có điều là chúng ta có biết nhận ra ý định của Thiên Chúa khi mình có vận may hoặc vận đen không mà thôi ?

Nếu không hiểu thì nên đi hỏi lại cha sở của mình, hoặc hỏi các linh mục thì các ngài sẽ chỉ cho biết phải làm gì khi mình có vận may hoặc vận đen...
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Thơ: Linh hồn con


Linh hồn con.



Lặng lẽ linh hồn con nằm im nơi vực thẳm
Trong thân xác lạnh lùng, không cảm xúc hướng lên
Đang lang thang quanh quẩn giữa trầm luân
Con chẳng biết làm sao khi linh hồn và bản ngã
Rượt đuổi nhau cùng với quỉ dữ Satan
Linh hồn con trong thân xác hoang đàng
Không đôi cánh để bay ra ngoài vùng gió xoáy.

Con sợ hãi với cơn quay cuồng dục vọng
Tâm trí mình run rẩy thật tan hoang
Và linh hồn khép nép cửa thiên đàng
Còn thân xác ngỗ ngược đi vào bóng tối.

Lạy Chúa, xin nâng đỡ linh hồn con tội lỗi
Đã bao lần rụng cánh giữa đam mê
Đã bao lần tìm bước rẽ trở về
Nhưng thân xác vốn quen vui đường cũ
Vẫn quay nhìn lũ quỉ bám sau lưng
Rồi băn khoăn tiếc nuối nửa ngập ngừng.

Lạy Chúa, cõi lòng con hầu như đang tuyệt vọng
Thân xác ngông cuồng chưa nghĩ đến ăn năn
Linh hồn con đang nhìn Chúa kêu van

Xin cho con gặp lại nguồn Ánh sáng
Hơn một lần đã chiếu rọi cả đời con
Xin cho con sức mạnh của Chúa Thánh Thần
Giúp con thắng con người và bản ngã
Để quay về bên Chúa của Bình an.
Sa Mạc Hồng
Truyền Giáo Tại Việt Nam - Bài 11: Tham Gia Các Phong Trào & Hiệp Hội Canh Tân...


TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM

--------------

BÀI 11

THAM GIA CÁC PHONG TRÀO

VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN ÐỂ TRUYỀN GIÁO

VÀO ĐỀ

Trong Tông Huấn “Giáo Hội tại Châu Á” Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Nghị Phụ đã công khai và long trọng nhìn nhận những hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lòng Giáo Hội Á châu ngày nay, trong đó nổi bật nhất là sự xuất hiện của các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và các Phong Trào & Hiệp Hội Canh Tân.



Trong bài 10 chúng ta đã tìm hiểu về các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản. Trong bài 11 này chúng ta sẽ đề cập đến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân để hiểu biết và tích cực tham gia các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân ấy vì đó là một trong những Ðưòng Lối Truyền Giáo thích hợp và cần thiết của Giáo Hội Công Giáo ngày nay.

TRÌNH BÀY

I. QUAN ÐIỂM CỦA GIÁO HỘI VỀ CÁC PHONG TRÀO VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN.

Muốn biết rõ quan điểm của Giáo Hội về các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân, chúng ta nên đọc lại diễn từ của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi Ðại Hội Phong Trào Canh Tân Ðặc Sủng thế giới (1992) và nhận định của Ngài trong Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á (1999):

1.1 Trích diễn từ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gởi Đại Hội Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Thế Giới:

“Trong niềm vui và bình an của Chúa Thánh Thần, tôi xin chào mừng Đại Hội Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Thế Giới. Trong khi anh chị em chuẩn bị mừng 25 năm ngày khởi xướng Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, tôi ước ao được liên kết cùng với anh chị em dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng và cảm tạ về những hoa quả đang nảy nở tràn đầy trong Giáo Hội. Sự bộc phát của Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng sau Công Đồng Vatican II là món quà đặc biệt mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội. Đây là dấu chỉ thiết tha được sống trọn vẹn với phẩm giá của Phép Rửa và Ơn Gọi, là những người con thừa tự của Chúa Cha để nhận biết quyền năng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, trong kinh nghiệm cá nhân hay nhóm cầu nguyện một cách mạnh mẽ, và đi theo giáo huấn mà Kinh Thánh đã chỉ dạy cho chúng ta trong ánh sáng của cùng một Thánh Thần, Đấng linh ứng cho Lời Kinh Thánh được viết ra. Chắc chắn một trong những kết quả quan trọng nhất của sự thức tỉnh tâm linh là làm tăng lòng khao khát được trở nên thánh thiện thấy được nơi đời sống của mỗi người và trong toàn thể Giáo Hội.

“Chúng ta phải tin rằng một sự thức tỉnh sâu đậm về Chúa Giêsu Kitô và công việc của Chúa Thánh Thần đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong thời đại của chúng ta hôm nay, vì Thần Khí "là tâm điểm của đức tin người Kitô hữu và cũng là cội nguồn quyền năng mạnh mẽ của cuộc Canh Tân Hội Thánh”. Thật vậy, Chúa Thánh Thần chính là “nhân tố trọng yếu của sứ mệnh Giáo Hội”, để bảo tồn và dẫn dắt những nỗ lực mang những ân huệ của Lễ Hiện Xuống đến với mọi người.

“Vì những ân huệ mà Chúa Thánh Thần ban cho để giúp xây dựng Giáo Hội, mà anh chị em chính là những người lãnh đạo Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng, được thách đố để tìm những đường lối hữu hiệu cho những nhóm khác nhau mà anh chị em đại diện có thể biểu lộ được sự hiệp thông trọn vẹn cả tâm trí lẫn trái tim với Tòa Thánh và hội đồng Giám Mục. Anh chị em phải hợp tác tích cực hơn một cách tràn đầy hoa quả trong sứ mạng của Giáo hội trên khắp thế giới…. “hầu cho toàn thân được nuôi dưỡng, được kết cấu chặt chẽ nhờ mọi thứ gân mạch và dây chằng, và được lớn lên nhờ sức Thiên Chúa ban” (Cl 2,19).

“Ngay thời điểm hiện tại của lịch sử Giáo Hội, Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng đóng góp một vai trò trọng đại trong việc cổ võ sự bảo vệ rất cần thiết của đời sống người Kitô giáo trong xã hội ngày nay, khi mà chủ nghĩa xác thịt thế gian và hưởng thụ vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp trả sự linh ứng của Thánh Thần và khả năng biện phân ơn gọi tình yêu của Thiên Chúa. Sự đóng góp của anh chị em trong việc tái truyền bá phúc âm, rao giảng Lời Chúa vào trong xã hội ngày nay là việc cần đặt lên hàng đầu bởi lời chứng cá nhân cho việc ngự trị của Thánh Thần đang ở trong mình bằng cách tỏ ra tho thấy sự hiện diện của Thánh Thần qua những việc làm thánh thiện và hiệp nhất.

“Chứng từ của đời sống một người Kitô hữu là hàng đầu và không sứ mạng nào khác có thể thay thế được”. Còn điều gì có ý nghĩa và hữu hiệu hơn là sự lôi cuốn những người đã mất những đường hướng tâm linh được dẫn đến chân lý mà duy nhất điều này mới có thể làm ổn định sự sự không an nghỉ của trái tim con người qua chứng nhân sống của những Kitô hữu đầy sốt mến. Làm chứng nhân cho Chúa là làm men dậy bột đầy quyền năng giữa những người có lẽ chưa thật sự ý thức được giá trị đích thật về ơn cứu độ mà Chúa Giêsu là Người duy nhất có thể ban cho ơn cứu độ.

“Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng cũng góp phần trong việc nuôi dưỡng sự tăng trưởng của đời sống tâm linh vững mạnh trên quyền năng của Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội, trong sự phong phú của truyền thống Giáo Hội, và đặc biệt thể hiện qua những Bí tích. Thường xuyên rước Thánh Thể và siêng năng lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải là điều cần thiết cho đời sống đích thực trong Chúa Thánh Thần, đây là những phương tiện mà chính Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta để khôi phục và gìn giữ những ân huệ của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu và Giáo Hội của Ngài, chính Thánh Thần sẽ dìu dắt cho những ai được Ngài chọn như các Giám Mục để chăm sóc cho Giáo Hội của Chúa (Cv 20,28).

‘Sẽ chẳng có xung đột xảy ra trong việc trung thành với Chúa Thánh Thần và việc trung thành với Giáo Hội và giáo huấn của Giáo Hội. Cho dù Canh Tân Đặc Sủng thể hiện qua bất cứ hình thể nào – như những nhóm cầu nguyện, những cộng đồng giao ước, những cộng đồng đời sống và phục vụ - là những dấu chỉ cho thấy sự sinh hoa trái sẽ luôn được tăng trưởng vững mạnh trong sự hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu và Giáo Hội địa phương. Vai trò của anh chị em là sắp xếp, tổ chức để giúp Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng với nhiều khía cạnh khác nhau, được phối hợp trong sự hợp nhất với các linh mục chánh xứ vì mục đích chung, để sự liên kết được chặt chẽ và toàn vẹn cùng một chi thể.

“ Đồng thời, sự thấm nhuần căn tính Công Giáo của anh chị em nhờ rút ra từ kho tàng của truyền thống Công Giáo là một phần đóng góp không thể thay thế được cho sự đối thoại đại kết được nuôi dưỡng bởi Chúa Thánh Thần, phải dẫn đến sự trọn vẹn của tình huynh đệ hiệp nhất: trong việc tuyên xưng đức tin, trong việc cử hành thờ phượng Thiên Chúa, và trong sự hòa hợp huynh đệ của gia đình Thiên Chúa.” (1)

1.2 Trích Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á:

“Thượng Hội Ðồng (Giám Mục Á Châu) cũng nhìn nhận vai trò các phong trào canh tân trong việc xây dựng sự hiệp thông, tạo các cơ hội cho người ta kinh nghiệm Thiên Chúa một cách thâm sâu hơn qua đức tin và các bí tích, và cổ võ việc hoán cải đời sống. Những ai tham gia các Hiệp Hội và các Phong Trào ấy hãy góp tay xây dựng Giáo Hội địa phương, không coi mình như những tổ chức thay thế các cơ chế giáo phận và sinh hoạt giáo xứ. Sự hiệp thông trong Giáo Hội sẽ trở nên vững chắc hơn, khi các người lãnh đạo các phong trào ấy tại địa phương cùng làm việc chung với các vị chủ chăn trong tinh thần bác ái, vì lợi ích của mọi người (1 Cr 1,13)” (2).



II. GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI CÁC CÁC PHONG TRÀO VÀ HIỆP HỘI CANH TÂN.

Những nguyên nhân khiến các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản (đúng nghĩa) chưa hình thành trong lòng Giáo Hội Việt Nam cũng là những nguyên nhân chính khiến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân khó phát triển trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

Thật vậy:

(1) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không có hoặc có rất ít liên lạc với các Giáo Hội trên toàn thế giới nói chung và thuộc vùng Ðông Nam Á nói riêng trong một thời gian dài (từ năm 1975), nên không có thông tin cập nhật về những điều mới mẻ xuất hiện trong lòng các Giáo Hội ấy trước và sau Công Ðồng Vatican II, trong đó nổi bật nhất là các Cộng Ðoàn Giáo Hội Cơ Bản và các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân.

(2) Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, do truyền thống, có xu hướng bảo thủ, trọng luật và bảo vệ cơ cấu nên chẳng những ít quan tâm, mà còn tỏ ra dè dặt, thậm chí e ngại, đối với các Phong Trào Canh Tân Ðổi Mới là những Ơn đặc sủng xuất phát từ Chúa Thánh Thần để làm cho các cơ cấu trong / của Giáo Hội sinh động và tươi trẻ (3).

(3) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, thường thì việc gì cũng xuất phát từ hàng giáo sĩ trong khi anh chị em giáo dân giữ phần chủ động rất lớn trong các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân dưới sự linh hướng của hàng giáo sĩ. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có vài ba linh mục dấn thân vào việc gây dựng Phong Trào Cầu Nguyện Thánh Linh trong khi hầu hết các giám mục, linh mục lại “dị ứng” với Phong Trào này.

(4) Trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hễ một nhóm giáo dân nào sinh hoạt với danh xưng Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh hay Cầu Nguyện Chữa Lành thì thường bị nghi ngờ và rất dễ bị gán cho hai chữ rối đạo, làm như trong Công Giáo Chúa Thánh Thần không có vai trò gì và việc chữa lành chỉ có trong thời Chúa Giêsu còn tại thế và thời Giáo Hội sơ khai mà thôi (4).

Ngoài bốn lý do trên khiến các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân khó phát triển trong lòng Giáo Hội Việt Nam, còn có một lý do khác do chính những người tham gia các Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh tạo ra.

Ðó là có một số giáo dân gia nhập Phong Trào hay Nhóm Thánh Linh chưa nắm rõ tinh thần, nội dung và phương pháp của Phong Trào hay Nhóm Canh Tân (cũng có nghĩa là chưa được huấn luyện đầy đủ) đã tự tung tự tác đứng ra tổ chức, điều hành các Nhóm và giảng dậy một cách tùy tiện không đúng Giáo Lý của Hội Thánh, khiến cho các vị lãnh đạo trong Giáo Hội phải e dè và nhiều giáo dân hoang mang, thắc mắc.

THAY LỜI KẾT

Không phải vì có nhiều tai nạn giao thông trên đường / phố mà các bậc cha mẹ cấm không cho con cái lái xe ra đường. Cũng thế không thể vì có những sai trật của một số tín hữu mà Giáo Hội Việt Nam thờ ơ, nghi ngại và ngăn cấm các Phong Trào Canh Tân trong đó chủ yếu là các Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và Cầu Nguyện Chữa Lành.



Trái lại Giáo Hội Việt Nam, nếu muốn đẩy mạnh việc Truyền Giáo hơn nữa, thì cần phải tạo điều kiện cho Chúa Thánh Thần hoạt động để Người ban cho các tâm hồn và Giáo Hội của Chúa Kitô tại Việt Nam một Sức Sống Mới.

Trong tháng 6.2006 vừa qua trên mạng lưới Zenit Agency của Vatican có đăng một loại bài giới thiệu các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân (5). Nhưng có lẽ việc giới thiệu ấy chẳng được mấy ai trong Giáo Hội Việt Nam quan tâm.

Vậy thì việc làm đầu tiên của chúng ta là tìm hiểu về các Phong Trào và Hiệp Hội Canh Tân ấy. Phải chăng đây là công việc của các Uỷ Ban Giám Mục về Truyền Thông? về Truyền Giáo? và về Giáo Dân?

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

New Orleans (LA/USA) ngày 05.10.2006.

.........................

Chú thích

(1) Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Diễn từ gửi Ðại Hội Phong Trào Canh Tân Ðặc Sủng Thế Giới, ngày 14 tháng 3 năm 1992.

(2) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 25.

(3) Leonardo Boff đã có một cuốn sách nổi tiếng một thời: GIÁO HỘI: CƠ CHẾ VÀ ÐẶC SỦNG. Thật ra thì cơ chế và đặc sủng là hai đặc điểm của Giáo Hội. Nhưng trong thực tế một Giáo Hội quá nặng về cơ chế - như Giáo Hội Việt Nam - thì đặc sủng sẽ không có đất sống.

(4) Xin mời đọc cuốn sách CHÚA GIÊSU ÐANG SỐNG của linh mục Emiliano Cardif. Bạn đọc có thể tìm thấy cuốn sách này trên mạng thanhlinh.net.

(5) Xin lỗi được nêu tên các Phong Trào và Hiệp Hội ấy bằng tiếng Anh theo bản tin Zenit bằng Anh ngữ: Beatitudes Community, Pope John XXIII Community, Missionary Contemplative Movement P.de Foucauld, Mission Community of Villaregia, Militia of the Immaculata, Militia Christi, Living in Spi-rituality Movement, Memores Domini Lay Association, Marianist Lay Commu-nities, Prayer and Life worshops, Light-Life Movement, Life Ascending Inter-national, Movement of Catholic Students vân vân….
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Ngày 8 tháng 11: Kính Chân Phước Gioan Duns Scotus
Chân Phước Gioan Duns sinh ở Tô Cách Lan (Scottland), thuộc một gia đình giàu có. Năm 15 tuổi ngài vào tu học tại Dòng Phanxicô và sau đó thì được truyền chức linh mục. Ngài được gởi đi học tại Đại Học Oxford rồi Đại Học Paris. Sau khi tốt nghiệp ngài trở thành giáo sư tại Đại Học Paris và cuối cùng ở Đại Học Cologne. Ngài đã qua đời tại đây vào năm 1308 lúc mới 42 tuổi đời.

Mặc dù tài năng của ngài bị lu mờ vì một thần học gia kinh viện thượng thặng là thánh Thomas Aquinas thuộc Dòng Đa minh, nhưng thần học có vẽ huyền bí của Gioan Duns rất thích hợp với tư tưởng của đấng sáng lập dòng là chú trọng đến tinh thần yêu thương kết hợp giữa vạn vật trong vũ trụ.

Như các triết gia thời bây giờ, Gioan Duns viết những đề tài chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thay vì giải thích và lý luận, Gioan Duns bắt đầu nhận xét sự hiện hữu của sự vật là do một nguyên lý đầu tiên cho sự hiện hữu đó. Rồi từ đó Gioan Duns đưa đến nguyên lý vô thủy vô chung đầu tiên là đấng tự hữu hằng có đời đời. Gioan Duns lý luận khác biệt với các triết gia kinh viện vì họ nhận biết Thiên Chúa bằng lý trí, qua sự mặc khải và bằng đức tin.

Gioan Duns đưa ra hai trạng thái khác biệt giữa sự nhận biết Thiên Chúa bằng lý trí và bằng Tình Yêu. Việc định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu Vô biên rất quan trọng đối với Gioan Duns. Ngài có khác biệt với thánh Alsem là giải thích việc Chúa Kitô Nhập Thể là cần thiết để đền tội nhân loại, cũng như với thánh Thomas Aquinas là Nhập Thể của Chúa Kitô là ý muốn của Thiên Chúa từ cỏi đời đời vì sự hiện diện của tội lỗi. Đối với Gioan Duns việc Nhập Thể của Chúa Kitô là biểu thị ý chí Tình Yêu vô song của Thiên Chúa từ thủa đời đời và sự ước muốn kết hợp mật thiết với loài thọ tạo.

Dù sự cứu độ của chúng ta được hoàn tất bằng Thánh Gía, là do tội lỗi của thế gian. Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên Thánh Gía là một biểu thị Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa chứ không phải của lễ làm nguôi thịnh nộ cũng như một đền bù vì vi phạm đến uy danh của Thiên Chúa. Theo Gioan Duns tin tưởng thì Tình Yêu của Thiên Chúa gợi lên sự đáp trả tình yêu của nhân loại: “Tôi tin tưởng Chúa muốn cứu chuộc chúng ta bằng sự khổ nạn là muốn lôi kéo chúng ta đến Tình Yêu của Chúa.” Tình yêu của chúng ta như một hy lễ, chúng ta liên kết với Chúa Kitô để cùng được kết hợp trong Tình Yêu của Chúa Ba Ngôi Rất Thánh”.

Khác biệt với các triết gia thuộc môn phái Plato, Gioan Duns nhận định mỗi sự vật có một cá thể riêng biệt, chiêm ngưởng Thiên Chúa không chỉ bằng lý trí mà còn bằng những cảm xúc.

Gioan Duns Scotus được Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lồ II phong Chân Phước vào năm 1992.
PT Huỳnh Mai Trác
Làm chứng tin mừng theo gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam
LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG THEO GƯƠNG CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM

Trong Tông Thư Đệ Tam Thiên Niên Kỷ Sắp Đến, ban hành ngày 10-11-1994, Đức cố GH Gioan Phaolo II đã viết :

Giáo Hội của đê nhất thiên niên đã khai sinh trong máu đào của các vị Tử Đạo (Sanguis Martyrum semen Christianorum)... Chứng tá vê Chúa Kitô đến đổ mău mình trở thành gia sản chung cho người Công Giáo. Đó là chứng tá không nên quên lãng...

Trong thế kỷ chúng ta đang sống, các vị Tử Đạo xuất hiện lại : thường là những kẻ âm thầm, Họ như những "chiến sỹ vô danh" cho đại nghĩa của Chúa. Bằng mọi cách có thể, đừng để mất đi chứng tá của họ trong Giáo Hội...

Lời chúc tụng lớn lao hơn cả mà GH dâng lên Chúa Kitô trước ngày của đệ tam thiên niên sẽ là việc chứng tá sự hiên diện đầy quyên năng của Đấng Cứu Độ qua những hoa trái đầu tiên, đức trông cậy và đức bác ái nơi những người nam nữ, thuộc nhiểu ngôn ngữ và chủng tộc khác nhau, đã theo Chúa Kitô trong nhiều hình thức ơn gọi làm Kitô hữu khác nhau. (số 37)

Từ tư tưởng trên, chúng ta có thể đưa vào lịch sử Giáo Hội VN : hơn 300 năm cấm đạo, VN đã có hơn 130.000 anh hùng Tử Đạo. Giáo Hội đã tuyên phong 117 vị lên bậc Hiển Thánh và một vị lên bậc Chân Phước. Nhờ máu đào các Thánh Tiền Nhân, mà qua bao nhiêu năm qua, Giáo Hội VN vẫn kiên cường, phát triển, và vẫn có những vị Tử Đạo Mới.

Chúng ta, cần noi theo gương các Thánh Tử Đạo Tiên Tổ để làm chứng cho Tin Mừng. Đó là chủ đích của phần bài tổng luận này.

Trước hết mở lại trang sử cũ, ôn lại đôi lời di chúc của các Thánh Tử Đạo Cha Ông. Sau đó dựa theo phương án của Đức Cha Têphanô Théodore Thể, xem chúng ta có thể làm gì để làm chứng cho Tin Mừng.

I. DI CHÚC CỦA CÁC THÁNH TIỀN NHÂN

Các Thánh VN không những chỉ có lòng quả cảm tuyên xưng đức tin, mà còn mang trong người tinh thần truyền giáo mãnh liệt. Cần ghi lòng tạc dạ đôi lời trối trăn của :

Thánh Anê Lê Thị Thành đã nói với người con Lucia Nụ vào thăm, thấy áo bà đầy máu, cô khóc, rằng : "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Kitô, sao con lại khóc." Rồi bà khuyên tất cả các con : "Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con, coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ được vác Thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên Đàng."

Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ rất bình tĩnh và can đảm, trả lời về những lời khuyên can của phu nhân : "Lời bà khuyên nhủ như đốt thêm lửa kính mến Chúa trong lòng tôi. Bà đem con về săn sóc thay tôi, sớm hôm cầu nguyện nhiều cho tôi vững lòng xưng đạo Chúa trước mặt thiên hạ. Hẹn ngày sau gặp bà và các con chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu nơi quê thật là nước Thiên Đàng."

Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng có 8 con. Góa vợ từ năm 50 tuổi. Gà trống nuôi con. Dù bận công việc buôn bán làm ăn, Thánh nhân luôn chu toàn bổn phận giáo dục con sống đạo, nên người. Giáo dục con bằng gương sáng và việc làm. Ông siêng năng xưng tội chịu lễ, thăm bệnh nhân, giúp đỡ người nhgèo. Trước khi bị chém đầu, có mặt con trai và gái, Thánh Phượng trối những lời thật xúc động : "Các con của cha ơi, đừng khóc, đừng buồn. Cha đã gặp vận hội may. Anh em chúng con hãy sống thuận hòa, yêu thương đùm bọc nhau."

Một quan trẻ trong triều ngỏ ý muốn lấy con gái Ông, nếu Ông đồng ý, quan thả Ông tự do. Thánh nhân khôn ngoan trả lời : "Không được, trừ khi chính anh theo Đạo. Tôi không gả con gái cho người ngoại Đạo. Dù ông là quan gì đi nữa. Tôi sợ con tôi không giữ được đức Tin. Nếu vì ly do đó, dù phải chết, tôi sẵn sàng."

Tại pháp trường, Thánh Phượng vừa đeo vào cổ ảnh Thánh Giá cho con gái tên Anna Nhiên, vừa nói : "Con hãy nhận lấy kỷ vật này của cha. Đây là ảnh Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Ảnh này qúi hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều. Con nhé."

Thánh Simon Phan Đắc Hòa là cha của gia đình 12 người con. Là y sỹ, Thánh nhân siêng năng chữa bênh, chăm sóc bệnh nhân, người già yếu, cô quả cô đơn. Với tư cách làm trùm họ, Ông nhắc bảo, răn đe giáo hữu trong họ không được biếng trễ kinh hạt, lễ lậy, bê tha rượu chè cờ bạc. Ông hiên ngang ra pháp trường khi trong gia đình vợ con thuận hoà, hy sinh và yêu thương trong tình yêu Thiên Chúa. Các con ghi lòng tạc dạ, lời cha dặn khi vào thăm lần cuối : "Cha yêu thương các con nhiêu và hằng chăm sóc các con. Nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn. Các con hãy vui lòng vâng theo thánh y Chúa, đừng buồn. Các con với mẹ thương yêu nhau, chăm sóc việc nhà. Từ đây cha không thể lo cho các con nữa. Chúa muốn cha chịu khổ. Cha xin vâng."

II. VAI TRÒ GIÁO DÂN TRONG THỜI CẤM ÐẠO

Rất đông đảo giáo dân đồng thời với các Thánh Tử Đạo đã sẵn sàng hy sinh liều mạng bên cạnh các anh hùng để "cho nước Chúa được mở rộng". Như trong các trường hợp :

Trước hết là bao che các vị Tử Đạo. Không sợ liên lụy dù có bị tra khảo, giáo dân sẵn sàng đón tiếp các vị tử đạo ẩn trốn tại nhà, để trong vách đôi, hay dưới hầm, giấu cất các đồ thờ phượng, không chịu chỉ nơi trú ẩn của các thừa sai, linh mục và giới chức.

Lễ Hiện Xuống ngày 2-4-1861, Thánh Linh mục Gioan Đoàn Trinh Hoan (Huế, 1798-1861) đến xứ Sáo Bùn, Quảng Bình, làm lễ cho giáo dân và trú ngụ nhà ông trùm Mathêu Nguyễn Văn Phượng (Huế, 1808-1861). Ông trùm Phượng rất rộng rãi đã đón tiếp nhiều linh mục, thầy giảng ẩn trốn ngay trong nhà mình. Sau khi bắt cha Hoan, lính ập vào nhà ông trùm, thấy áo lễ, chén thánh, bánh lễ, ảnh tượng... Lính liền bắt ông và giam chung với Cha Hoan ở Đồng Hới. Cùng bị bắt có 7 giáo dân, ông trùm Phượng cùng tử đạo với Cha Hoan.

Trong tù, giáo dân công khai tổ chức những buổi đọc kinh, cầu nguyện, lần chuỗi. Trước sự hăng say và nhiệt thành này, nhiều trại tù đã trở thành nhà thờ, ngày đêm có tiếng khấn nguyện.

Năm 1859, cùng bị bắt với Thánh linh mục Thomas Khuông (Hưng Yên, 1780-1860) có 4 chức sắc thuộc làng Cao Xá. Cha và 4 giáo dân nhiệt thành này luôn sát cánh hỗ trợ và nâng đỡ tinh thần nhau.

Bên ngoài, những ai không bị bắt lại hăng say tìm cách liên lạc, tiếp tế cho anh em trong tù có điều kiên vật chất sinh sống qua ngày. Các linh mục giả dạng dưới nhiều hình thức để lọt vào trại giam giải tội, làm các phép bí tích cần thiết. Các chị dòng MTG đã tích cực trong việc liên lạc kín đáo nguy hiểm : chuyển thư, tiếp tế, đưa đồ thánh...

Tại lao xá Thăng Long, Thánh linh mục Phanxico Federich Tế (Tây Ban Nha, 1702-1745) được linh mục Nghi giả dạng là thầy lang vào giải tội và đem Mình Thánh Chúa, cùng đi còn có người cháu tên Kính. Hai chị em bà Gạo, ngoại giáo vào xin quan cho cha Tế tá túc tại nhà mình, nên cha được tự do đi lại trong Thăng Long.

III. PHƯƠNG ÁN TRUYỀN GIÁO THÁNH GIÁM MỤC TÊPHANÔ THÉODORE CUÉNOT THỂ

Phương án truyền giáo của Đức Cha Thể (1802-1861) rất thực tế và hữu hiệu, đã thực hiện trong 26 năm làm giám mục tại VN (1835-1861). Mặc dầu trong thời bách đạo, gặp nhiều khó khăn, phương án này đã đem lại kết quả rất tốt đẹp. Ngài đã tạo thành một xứ đạo sống động, sầm uất. Sau này, người ta thấy nhiều xứ đạo tại miền bắc còn áp dụng. Phương án này gồm 6 hình thức :

. Cầu nguyện.

Cầu nguyện là nhu cầu quan trọng hàng đầu, đối chính bản thân và khi khời sự làm việc gì. Vì Ngài đã có kinh nghiệm nhiều trong thời gian khủng hoảng khi còn là chủng sinh. Cậu Têphanô đã thức tỉnh, ‘‘chỗi dậy nhờ cầu nguyện và làm bất cứ viêc gì Chúa soi sáng’’. Theo Ngài, cầu nguyện không phải lặp đi lặp lại đứt quãng nhưng là bắt liên lạc không ngừng với Thiên Chúa, một sự hiến dâng từng giây phút những đau khổ, những lo âu. Trong thời gian sống ở hầm trú, sức mạnh của lời cầu nguyện đã giúp Ngài điều hành giáo đoàn sống đức tin vững mạnh.

2. Lập đoàn giáo lý viên.

Trong thời gian cấm đạo, linh mục và các thầy giảng quá ít lại phải lẩn trốn. Thánh Têphanô Thể luôn sống trong hầm tối tăm, thiếu thốn, không thể trực tiếp truyền giáo bên ngoài. Nhờ soi sáng trong lúc cầu nguyện, năm 1841, ngài bắt đầu tổ chức nhóm giáo lý viên. Chọn trong những người tự nguyên. Chia làm ba nhóm, theo mức hiểu biết và tinh thần phục vụ khác nhau :

- Nhóm nòng cốt 21 người : gồm đàn ông trưởng thành. Có đức tin vững, được huấn luyện kỹ, có khả năng, khuyên và dạy giáo ly cho tân tòng, chuẩn bị rửa tội.

- Nhóm 35 người : gồm thanh niên khỏe mạnh, lanh lợi, ăn nói được, đi theo các thừa sai và linh mục VN. Họ có trình độ dạy giáo lý cho giáo dân dự lễ, xưng tội và các bí tích khác. Họ được đào tạo trở thành thầy giảng. Mỗi linh mục có 4 hoặc 3 thày giảng cùng làm việc. Các đoàn nhỏ này sống lưu động bằng lều trại.

- Nhóm đông hơn tới 2000 người : gồm những người cha trong gia đình, ở trong thôn làng. Công viêc của họ là giữ trật tự an ninh trong xứ đạo, hay họ lẻ, thăm bệnh nhân, mời linh mục đi xức dầu bệnh nhân, rửa tội trẻ em sơ sinh, làm chứng hôn nhân.

3. Tổ chức học và thi giáo lý

Ngoài lớp đặc biêt cho tân tòng, các giáo lý viên mở lớp dạy giáo lý cho giáo dân, lớp cho trẻ em, lớp cho thanh niên nam nữ, lớp cho người lớn tuổi. Phần đông mở ngay trong xóm và vào buổi tối, khuya tới 11, 12 giờ. Vê giáo lý thì học theo kiểu học thuộc lòng bằng những hỏi đáp, ca vè vắn gọn, dễ nhớ dễ thuộc. Tất cả các kinh được chia theo lứa tuổi. Cuộc thì tổ chức vào buổi tối, sau mùa gặt. Sau khi cơm nước và xong viêc, trong thôn xóm, người ta chong đèn lên học. Hầu hết các kinh cũng được người ta hát lên. Nhộn nhịp và hào hứng nhất là thi giáo lý, cho thiếu nhi, thanh niên và cả người trưởng thành.

4. Tổ chức cấm phòng.

Tổ chức cấm phòng không riêng cho những người đạo cũ, mà cả cho người lương hay những người thiện chí chưa có quan niêm rõ rêt về giáo lý. Thời gian cấm phòng kéo dài tới 40 ngày. Họ được tập trung một nơi để học giáo lý, nghe sách đạo, và ăn cơm chung.

Nếu ai bằng lòng học giáo lý tân tòng sẽ được mời về họp trong các họ đạo trong vùng. Từng nhóm 10, 15, hay 30 tùy theo có giáo lý viên. Nữ dạy cho nữ, nam cho nam. Mỗi ngày hai hay ba lần. Ngoài giáo lý còn có bài cắt nghĩa để họ khỏi mê tín và dị đoan. Trong giờ cơm chung họ phải nghe đọc sách đạo. Các buổi cấm phòng thường do các giáo lý viên tổ chức. Vì các linh mục phải lo mục vụ bên ngoài.

5. Dịch vụ tương trợ.

Sau khi các tân tòng được rửa tội, phải tránh việc để cho các tân tòng trở vê sống chung lại với người ngoại và gia đình họ. Để tránh quấy rày và ảnh huởng mê tín dị đoan. Nên Đức Cha đã dựng những lều trại, ở trong khu người công giáo. Cần độ 7 hay 8 quan Pháp đủ để nuôi một gia đình mới này. Sau đó mới tìm đất mới, rồi đem những gia đình hỗn hợp đạo mới cũ đến lập nghiêp. Không lấy làm lạ, khi các Thừa Sai mới đến VN, đã lập những làng toàn công giáo.

Đức Cha còn xin viên trợ để chuộc trẻ em bị bán cho người khác, hay những trẻ mồ côi. Mở cô nhi viện để chăm sóc và nuôi các em. Cứ hai Dì Phước và hai em lớn có đạo, điều hành một cô nhi viện, với khoảng 30 em, tuổi cỡ từ 7 cho đến 20. Đa số là con gái. Các em do cha mẹ cho, hay đi lượm về. Nếu không đủ nhà, thì cho ở tạm nhà giáo lý viên, chờ cất nhà mới. ĐC vừa trốn chạy, vừa thực hiên cứu trợ và định cư. Công việc thật khó khăn và tốn kém.

6. Giáo dục giới trẻ

Đức Cha rất chú trọng tới viêc tập trung vào một nơi những thanh thiếu niên nghèo để giáo dục, đào tạo và dạy chữ nghĩa cho họ nên người hữu ích. Giáo trình, theo chương trình đơn giản và mau chóng. Mục đích để có người có khả năng thay thế các Thầy Giảng bị bắt hay chết trong giai đoạn cấm đạo. Nhưng kế hoạch phải bỏ dở. Vì cha mẹ họ quá nghèo, lại sợ con bị bắt và liên lụy, nên đành để con dốt nát. Số người trẻ thiên chí quá ít. Để cứu vãn tình thế, phải nhờ các thày dạy riêng và bắt các thanh niên tự học. Thật quá tốn kém. Trong 15 xứ đạo mà không tìm được lấy một vài thày giáo có đạo giỏi tốt lành, có uy tín. Trong khi đó, thày giáo người lương thì không thiếu. Sách vở viết toàn là mê tín và dâm đãng. Nên phải mở trường đào tạo thày dạy trước. Phải trả tiên cho mỗi giáo sư là 150 quan, mỗi năm. Và mỗi đầu người học trò tốn kém 60 quan. Như vậy một năm phải có cả 1000 quan, cho một lớp độ 14 người, khóa trình kéo dài ba năm. Mỗi tỉnh chỉ có một trường. Các giáo sư dạy luân phiên, hết trường này qua trường khác. Đặc biêt, Đức Cha chọn những ứng viên suất sắc gửi qua đại chủng viên, bên Penang để chịu chức linh mục. Tới năm 1861, Ngài đã gửi đi được 23 học sinh ưu tú.

IV. NẾP SỐNG ÐẠO CỦA CHA ÔNG

Cha ông chúng ta đã giữ đạo chân thành nhiêt tình từ gia đình đến cộng đoàn. Từ ngày thường đến những đại lễ, và các mùa phụng vụ trong năm.

1. Mùa Giáng Sinh

Thời Cha Đắc Lộ, giáo dân dành cả tháng trước để chuẩn bị lễ, đông nhất là thiếu nữ đã tụ họp quanh nhà thờ tập các bài vãn, vè vê lễ Giáng sinh. Ngày vọng, trước nửa đêm, cha làm phép rửa tội cho tân tòng theo nghi thức trọng thể. Những ai trước kia được rửa tội đơn giản, thì nay tập trung làm một lượt. Rước và hôn tượng Chúa Hài Đồng. Hát ca vãn trước hang đá. Được biết, thời xưa vẫn còn giữ lễ giáo, đàn bà không được ra khỏi nhà ban đêm. Nên lễ đêm là của đàn ông nhiêu hơn. Lễ ngày rất đông. Sau lễ đêm có rước tượng Chúa Hài Đồng và hôn Chúa Hài Đồng. Năm 1643, các thầy giảng tổ chức lễ Giáng sinh ngay trong dinh tổng trấn Nguyễn Phúc Khê, con Bà Minh Đức. Thầy Giảng Chân Phước Anrê Phú Yên, rất khéo tay làm một hang đá thật đẹp.

2. Mùa Chay và Tuần Thánh

Thời gian Cha Đắc Lộ ở Quảng Nam và Thuận Hóa (1627-1628), giáo dân tổ chức tuần thánh rất trang nghiêm và sốt sáng. Ngay từ chiều thứ tư Tuần Thánh, người Bồ Đào Nha buôn bán và tín hữu trong vùng đã lũ lượt kéo nhau vê tham dự. Họ bắt đầu thức khuya, dậy sớm. Mình Thánh Chúa được đặt nơi cao, trọng thể trong suốt ngày thứ Năm kéo dài tới đêm. Tối khuya, có lễ rửa chân cho những người nghèo. Các ‘‘môn đệ nghèo’’ này đã khóc cả buổi lễ, vì mình là người mà được diễm phúc chọn. Ngày thứ Sáu, trưng bày Thánh Giá để tôn kính và bái lậy. Đồng thời có ngâm các ‘bài ca thương khó’ về cuộc tử nạn Chúa Giêsu. Tới lễ Phục Sinh, vì đông người quá, cha phải làm hai ba lễ. Nhà thờ quá nhỏ, giáo dân phải ngồi la liệt ngoài hiên. Đêm thứ Bảy Phục Sinh làm lễ rửa tội cho dự tòng.

3. Ăn chay, và kiêng thịt

Xưa luật ăn chay kiêng thịt trong các ngày thứ sáu của Tuần Thánh. Từ lễ Tro cho đến thứ sáu Tuần Thánh. Lễ tro bắt đầu mùa Chay. Thánh Lễ Tro được làm thật sớm, để sau đó dân làng đi làm viêc. Sau khi làm phép tro, linh mục chủ sự quì trước bàn thở, tự bỏ tro trên đầu mình. Rồi đứng lên lần lượt bỏ tro trên đầu giáo dân. Giáo dân đông như ngày lễ buộc.

4. Đeo ảnh tượng trong người

Đeo ảnh tượng trong người là hình thức tuyên xưng đức tin. Sau khi rửa tội, cha rửa tội đeo vào cồ trẻ em cỗ áo Đức Bà. Đến ngày xưng tội lần đầu, em được đeo thêm ảnh Thánh Giá Chịu Nạn. Đến khi lập gia đình, Cha xứ thường làm quà cho vợ chồng mới mỗi người một sâu chuỗi và dạy cách lần chuỗi Mân Côi. Thời cấm đạo, hễ quân lính bắt được tín hữu công giáo nào, thì truớc hết họ bắt lột hết ảnh tượng trong người. Và coi những người mang ảnh tượng là tín hữu nhiêt thành, bắt chối đạo.

V. HỌC HỎI NƠI TIỀN NHÂN

Nhìn vào những thành quả trên, chúng ta cần học hỏi nơi tiền nhân những điểm thực hành :

1. Sách giáo lý và giáo án

Sách giáo lý và giáo án được Giáo quyên phê chuẩn luôn là căn bản của giáo án cho tân tòng và thiếu nhi. Ngày nay có nhiều loại sách dưới dạng "Sách Giáo Lý", "Thánh Kinh" hay "Sách đạo đức"... ấn hành và bán với giá rẻ. Ngay cả sách vở của những tôn giáo khác. Phải lựa chọn và lượng định kỹ để dùng làm sách giáo khoa.

2. ‘‘Hãy lên mái nhà mà rao giảng'' (Mt 10, 27).

Đây là lời khuyên của ĐGH Gioan Phaolo II áp dụng cho chiều hướng truyền giáo mới, phù hợp với nền văn minh hiên đại. Văn minh càng tiến, nhà truyền giáo cần có nhiều hiểu biết về sự đổi mới về tư tưởng và suy tư của người nghe. Nhà truyền giáo hôm nay, cần khéo léo xử dụng phương tiện truyền thông, sách vở, phim ảnh, báo chí vào việc truyền bá tư tưởng và văn hóa. Phương tiện nhạy bén và hữu hiêu.

3. Ơn gọi tông đồ giáo dân giữa cộng đoàn. Ngày nay ơn gọi linh mục, tu sỹ hiếm. Nhưng chúng ta có đội quân lớn đông đảo là lớp tông đồ giáo dân, các giáo lý viên, thành viên Hội Đồng Mục Vụ. Họ thuộc thành phần trí thức, có nếp sống đạo tốt trong gia đình và cộng đoàn. Nếu có chương trình đào tạo, tu dưỡng tĩnh tâm, hướng dẫn cẩn thận và phương pháp. Họ sẽ là những chiến sỹ đắc lực cho cánh đồng truyền giáo. Cổ võ và khuyến khích, nâng đỡ ơn gọi Phó Tế Vĩnh viễn và Trinh nữ Tận Hiến. Họ được đào tạo để vừa chu toàn có trách nhiệm gia đình, vừa nhiệt tình làm viêc cho vườn nho vào những giờ ban chiêu.

VI. SỐNG ÐẠO LÀ TRUYỀN GIÁO

Sống đạo là truyền giáo là phương pháp truyền giáo hữu hiệu nhất. Trong gia đình cha mẹ, con cái truyền giáo cho nhau. Nghĩa là nêu gương sáng cho nhau. Sau đây là một chứng từ.

Trên chuyến xe lửa Lyon - Paris (?), có một cụ già tóc điểm bạc, mặt hiền lành ngồi chung toa tàu với một thanh niên có vẻ trí thức, đẹp trai, đeo kiếng, ăn mặc rất hợp thời trang. Trên tay anh là cuốn sách dầy cộm, được mở từng trang, với sự thích thú say mê đang chăm chú vào trang sách đọc. Thỉnh thoảng anh gật gù mỉm cười đắc ý như khám phá được gì trong sách. Làm người chung quang tò mò xem trong sách nói gì.

Thời gian trôi qua, cuốn sách cũng đến trang cuối. Không còn gì đọc, anh đứng nhìn trời đất cảnh vật qua cửa sổ. Một hồi lâu anh cảm thấy chán. Anh nhìn đồng hồ và cảm thấy chán, nhắm mắt lim dim ngủ. Con tàu tiếp tục lắc lư với những tiếng rì rầm, cọc cạch đêu đêu, khiến cho du khách đi vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Còn cụ già không ngủ, không đọc sách cũng không ngắm nhìn cảnh vật. Trên tay, cụ cầm chuỗi tràng hạt. Cụ ngồi đối diện với chàng thanh niên. Miệng cứ lâm râm đọc cái gì đó, thỉnh thoảng cụ nhắm mắt rồi lại mở, và cứ đọc tiếp.

Một vài giờ sau, thanh niên mở mắt, bồn chồn lo lắng, nhìn quanh. Hầu hết hành khách đều ngủ. Cụ già vẫn thức, cỗ tráng hạt không rời khỏi tay. Chàng thanh niên thì thào, có lẽ muốn nói chuyện với cụ già kia. Nhưng ông cụ cứ say mê lần chuỗi. Không chịu đựng được, anh thanh niên cất tiếng hỏi :

- Thưa cụ, cụ làm gì mà cứ ngồi lầm rầm một mình hoài. Có lẽ cụ là công giáo ?

Cụ già cất xâu chuỗi, làm dấu thánh giá, chậm rãi trả lời :

- Vâng, tôi là công giáo. Tôi lần chuỗi Mân Côi.

- Chuỗi Mân Côi là gì. Sao cụ say mê quá vậy ?

- Vì lòng mến của tôi đó mà.

Chàng thanh niên cười và nói : Chắc có lẽ cụ không hiểu khoa học hiện đại và văn minh tiến bộ ngày nay, nên cụ còn đọc kinh mãi thôi. Người văn minh có ai ngồi đọc kinh cho mệt. Theo tôi, người công giáo chỉ là loại thuốc ngủ, ru cho người ta ngủ mê theo giáo thuyết. Chứ làm gì có Thiên Chúa ? Đâu ai có ai tin Thiên Chúa ? Tôi sẽ cho cụ mượn sách mà đọc để tìm hiểu rộng rãi hơn.

Cụ già đáp : Anh nói hay, nhưng tôi có niềm tin riêng.

Anh thanh niên đắc chí, và nói xin cụ cho tôi địa chỉ, để gửi sách cho cụ.

Cụ già lấy ra một carte visite nhỏ, có ghi :

Bác học Louis Pasteur,

Viện Y Học Hàn Lâm, Paris

Chàng thanh niên nhìn tấm carte, thẹn đỏ mặt, mắt hoa lên, nghẹn lời...

Tiếng còi tàu ngưng trên sân ga. Cụ già ngỏ lời mời chàng thanh niên đến chơi và bắt tay tạm biêt. (Nguyêt San Hội Truyên Bá Đức Tin, Toronto, Canada, số 4, 2001, ttr. 67- 68)

Cuối bài, xin nhắc lại và đề cao tinh thần sống đạo của vị Thánh trẻ Dominque Savio (Ý, 1842-1857), học trò của Thánh Don Bosco. Để chứng minh, tuổi nào, thời nào, chúng ta cũng có thể "nên thánh’’ bằng đời sống trong ngày.

Dominique Savio là em bé ngoan và dễ thương, luôn vâng lời cha mẹ và giúp đỡ bạn bè. Nhà nghèo, phải đi học xa, nên em thường đi bộ đến trường với đôi giầy đeo trên vai. Vì đi nhiều sẽ mòn. Một hôm trên đường đến trường, em gặp một người lạ mặt cùng đi. Người lạ mặt bắt chuyện, hỏi thăm và biết em phải đi vê 16 cây số.

Nghe thế, người lạ hỏi :

- Hàng ngày đi về con đường dài như thế có mêt lắm không ?

Em trả lời :

- Làm sao người ta thấy mêt, khi được trả công rất hậu.

Người lạ hỏi tiếp :

- Em đi làm cho ai ?

Savio trả lời :

- Em đi làm cho Chúa. Và Chúa sẽ trả công bội hậu cho những ai vì lòng yêu mến Người.

Công trả không phải đời này, mà trả sau này, mới cao quí và đáng kể : "Ai làm điều lành thi sẽ sống lại để sống". (x. Ga, 5, 29). ĐGH Pio XII đã phong thánh cho Dominique Savio, năm 1954 (Le Livre des Merveilles, Mame / Plon, tr.890)

Trong bài giảng kết thúc chuyến viếng thăm Ba Lan, ngày 28-5-2006, ĐGH Benedicto XVI nói về sứ mệnh "làm chứng cho Tin Mừng" thời nay, như sau :

Chúng ta cần trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu. Người đã trao cho chúng ta một sứ mênh, khi Ngài vê trời : "Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật."

Chúng ta hãy từ đất nhìn lên trời, hãy hướng về Đấng các thế hê liên tục nhau trông chờ, và là Đấng họ khám phá thấy được ý nghĩa cuộc sống. Được kiên cường bởi niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, anh chị em hãy nhiệt thành với viêc củng cố nước Ngài trên thế gian này bằng thiện hảo, công lý, đoàn kết và tình thương. Anh chị em hãy can đảm làm chứng cho Tin Mừng trước thế giới ngày nay, mang hy vọng tới người nghèo, người đau khổ, thành phần lầm lạc và bị bỏ rơi, thành phần thất vọng và những ai trông đợi tự do, chân lý và an bình, bằng việc làm cho tha nhân của mình, và tỏ ra quan tâm đối với công ích. Anh chị em hãy làm chứng rằng Thiên Chúa là Tình Yêu.

Mới nhất, 14-9-2006, trong chuyến vê thăm quê hương, tại nhà thờ chính tòa Freising, nơi mà năm 1951, ngài được thụ phong linh mục, đã nói với linh mục và phó tế như sau : ‘Mùa gặt thật là rộng, không những lúc Chúa ở ở Palestine, nhưng cả ngày nay, trong tâm hồn của con nguời mùa gặt cũng đang gia tăng. Dân chúng mong đợi một lời, không phải chỉ một lời nói, nhưng lá lời nói Tình Thương của Thiên Chúa, đi xa hơn cuộc sống tầm thường. Đúng vậy, có mùa gặt, và Thiên Chúa muốn con người chấp nhận cộng tác vào mùa gặt của Ngài, để hun nóng nhân loại mới bằng niêm vui tuơi và yêu thương. (DCÂC. 288, 10-2006, tr. 34).

Tài liêu tham khảo :

- Nguyệt san Giáo Xứ Viêt Nam, số 115, 6,1995; số 120, 1-1996; số 126, 7-1996; số 128, 11-1996; số 147, 11.1998.

- Gm. Phêrô Nguyễn Soạn, Tông đồ theo gương Thánh Têphanô.

Bản Tin Hiệp Thông, Hội Đồng Giám Mục VN, số 12. Tháng 5-2002, tr. 17.

- Thiên Hùng Sử. 117 Hiển Thánh Tử Đạo VN, ttr. 423-429.

- Mục Vụ Thụy sỹ. Số 173, 12-1998, tr. 38- 41)

Câu Hỏi Trao Đổi

Ngày nay, làm cách nào theo gương các thánh Tử Đạo Viêt Nam để ‘‘Làm chứng cho Tin Mừng’’ ?

Có thể làm gì để ‘’Làm chừng cho Tin Mừng’’ trong gia đình, cộng đoàn và môi trường sinh sống ?

www.giaoxuvnparis.org
Phó tế Phạm Bá Nha
Con Chiên Lạc
Con Chiên Lạc

"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!" Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.

"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: "Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất". Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Suy Niệm:

Con Chiên Lạc

Có một câu chuyện về cuộc đời của một thiếu nữ tên Liker với nội dung như sau: Liker phục vụ trong quân đội Anh, nhưng hoàn cảnh đưa đẩy cô trở thành gái mãi dâm. Lúc thành phố Paris được giải phóng sau thế chiến thứ hai, không lâu sau đó, Liker phục vụ những khách hạng sang tại một trong những nơi ăn chơi nổi tiếng nhất của Paris do Patric làm chủ. Trong lúc tận tình giúp đỡ một thiếu nữ khác để khỏi rơi vào hoàn cảnh éo le của mình, Liker đã bắn chết Patric. Cô bị tống giam, nhưng trong cảnh ngục tù, Liker đã gặp các Nữ tu có tên gọi là các chị Bêtania, là Dòng chuyên nâng đỡ những cô gái sa cơ lỡ bước, những người nghiện ngập, những người sống đầu đường xó chợ. Vài nữ tu này trước kia cũng là nạn nhân của xã hội như những người họ đang phục vụ. Mãn hạn tù, Liker xin gia nhập dòng và trở thành một trong các chị Bêtania.

Nữ tu Liker trong câu truyện trên đây là tiêu biểu cho con chiên lạc mà Tin Mừng hôm nay đề cập đến. Nàng đã sa cơ lỡ bước, nhưng Thiên Chúa qua cử chỉ của các chị Bêtania đã đi tìm gặp chị và mời gọi chị trở nên bạn chí thiết của Ngài trong đời sống hiến dâng.

Hai dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay rất đơn sơ, nhưng mang đầy ý nghĩa. Vai chính là người chăn chiên và người phụ nữ. Những người chăn chiên thời Chúa Giêsu thường bị khinh miệt, vì họ là những người nghèo nàn, ít học, bị nghi ngờ gian lận, và vì phải luôn sống với đàn chiên ngoài đồng, nên họ không thể giữ luật ngày Hưu lễ cũng như không thể tham dự các giờ kinh trong Hội đường. Còn các phụ nữ là những công nhân hạng hai, theo tâm thức của Việt Nam ngày xưa: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", nhưng họ được Chúa Giêsu dùng làm hình ảnh để so sánh với chính Thiên Chúa.

Giá trị của những vật bị mất: một con chiên không có giá trị là bao so với đàn chiên; một đồng bạc cũng thế so với số còn lại; nhưng đối với người chăn chiên và người phụ nữ trong dụ ngôn, con chiên và đồng bạc có giá trị đặc biệt. Mỗi người chúng ta cũng thế, dù là những kẻ vô danh, một con số trong bảng thống kê nhưng lại có giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa.

Công khó đi tìm: không quản khó nhọc, không sợ nguy hiểm, người chăn chiên đã lặn lội đi tìm con chiên lạc; người phụ nữ cũng thế, đã thắp đèn quét dọn cho đến khi tìm được đồng bạc đã mất. Thiên Chúa cũng đối xử với các tội nhân như thế.

Niềm vui tìm được những vật đã mất: trên trời sẽ vui mừng và các thiên thần Chúa sẽ nhảy mừng, tượng trưng cho chính Thiên Chúa: Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân ăn năn hối cải.

Một Thiên Chúa sung sướng khi chúng ta sống đúng theo thánh ý Ngài. Một Thiên Chúa giầu lòng thương xót, vì tình thương vô biên của Ngài. Nữ tu Liker trong câu truyện trên đã cảm nghiệm về tình yêu Thiên Chúa, còn chúng ta, cho đến bao giờ mới có một kinh nghiệm như thế?

Chúng ta hãy cảm tạ Chúa đã cho chúng ta được hiểu thêm lòng thương xót vô biên của Chúa. Xin cho chúng ta mau mắn chỗi dậy mỗi lần sa ngã, với niềm xác tín vào lòng nhân hậu vô bờ của Chúa luôn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài.

Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài
Một Phút Suy Niệm
Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: "Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.” (Lc 14,25-27)

Suy Niệm:

Không ai có thể làm tôi hai Chủ, vì sẽ ghét chủ này và thương chủ kia, cũng vậy, khi Chúa nói đến việc từ bỏ của cải vật chất, anh chị em, và cha mẹ, Chúa thực tình không muốn bảo ta phải làm hoàn toàn làm như vậy, Ngài chỉ muốn chúng ta phải đem hết tâm trí trong việc thăng tiến đức tin và thực hành lời Chúa, để trở nên những môn đệ trung thành với Người.

Ở đọan khác của Phúc âm Thánh Marco, Chúa đã giải thích cho Phêrô khi ông tỏ ý không vui về những hy sinh và công lao của mình, Chúa nói: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.”

Chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ Chúa vì biết bao hồng ân chúng ta đã nhận được nơi Ngài, hãy đặt trọn niềm tin nơi Chúa quan phòng, “Tiên vàn, anh em hãy tìm kiếm nước thiên Chúa và sự công chính của Chúa”, còn những thứ khác Người sẽ ban cho sau. Hãy phú dâng cho Chúa tất cả những gì mình lãnh nhận: linh hồn và thân xác, trí khôn và tài năng, của cải và vật chất, mọi sự đều do Chúa ban, và đây chính là lễ vật hoàn hảo nhất mà Chúa sẽ vui nhận và ban thêm gấp bội cho chúng ta.

Lời nguyện:

Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ yêu thương của Chúa. Xin Chúa dậy chúng con biết tìm kiếm cuộc sống vĩnh cửu và vinh quang trên nước Chúa hằng sống. Xin Chúa cho chúng con biết dùng của cải và trí khôn của mình mà tôn vinh danh Chúa. Amen.
Lm Vũ Đình, CMC
Đại hội giới trẻ Phi Luật Tân quy tụ trên 10,000 người
Davao 8/11/05 – Đại hội giới trẻ Công Giáo Phi Luật Tân đã long trọng khai mạc ngày hôm nay và sẽ kéo dài trong 5 ngày, đến ngày 12 tháng 11. Đại hội được tổ chức tại tổng giáo phận Davao, miền nam Phi Luật Tân, quy tụ khoảng trên 10,000 bạn trẻ.

Ủy Ban Giới Trẻ thuộc Hội Đồng Giám Mục Phi Luật Tân phối hợp với tổng giáo phận Davao đứng ra tổ chức đại hội. Chủ đề đại hội giới trẻ năm nay trích từ câu thánh vịnh “ Lời Ngài là ngọn đèn soi dẫn bước chân con và là ánh sáng soi lối đường con đi” (TV, 119:5). Sinh hoạt Đại Hội gồm các tiết mục ca hát, cầu nguyện, tham dự thánh lễ và hội thảo chuyên mục.

Đức TGM Fernando Capalla, cai quản tổng giáo phân Davao đã xin mọi người hãy cầu nguyện cho Đại Hội Giới Trẻ được thành công.

Hội Đồng Giám Mục Phi Luật Tân bắt đầu tổ chức Đại Hội Giới Trẻ từ năm 1986

Mấy năm đầu, Đại Hội Giới Trẻ được tổ chức tại thủ đô Manila, nhưng từ năm 1991 trở đi Đại Hội được luân phiên tổ chức tại các giáo phận khác nhau.
Nguyễn Long Thao
Đức Thánh Cha kêu gọi chấm dứt đổ máu ở Gaza
Vatican (VIS, AsiaNews) - Hôm 05/11/2006, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đưa ra lời kêu gọi tha thiết đến người Do Thái và Palestine cũng như “các quốc gia có trách nhiệm đặc biệt trong vùng” chấm dứt bạo lực bùng phát trong thời gian gần đây ở Gaza. Sau khi đọc kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha kêu gọi giúp đỡ cho các nạn nhân của xung đột và tái khôi phục đối thoại “trực tiếp, nghiêm túc và cụ thể”.

Ngài nói rằng ngài đang theo dõi với tâm trạng “hết sức lo âu… về những tin tức xấu đi trầm trọng về tình trạng ở Dãy Gaza”. Đức Thánh Cha cũng bày tỏ “sự gần gũi mật thiết của ngài đối với những thường dân chịu đau đớn do hậu quả của những hành động bạo lực”.

Ngài nói thêm: “Tôi yêu cầu anh chị em hợp lời cầu nguyện cùng Cha dâng lên Thiên Chúa Toàn Năng và Nhân từ để Ngài khai sáng các nhà chức trách Do Thái và Palestine cũng như nhà chức trách của các nước có trách nhiệm đặc biệt trong vùng để họ cam đoan mọi nỗ lực nhằm chấm dứt đổ máu, tăng cường các sáng kiến về viện trợ nhân đạo và cổ vũ việc khôi phục lại ngay các cuộc đàm phán trực tiếp và nghiêm túc”

Trong bài huấn dụ trước 20.000 người hành hương ở Quảng trường Thánh Phêrô trong tiết trời mây phủ và giá lạnh, Đức Thánh Cha cũng gây sự chú ý cho các Kitô hữu khi nói về sự chết. Ngài nói rằng kể từ khi Chúa Giêsu xuống thế thì sự chết về thể lý không còn gây nên sự sợ hãi: “Cái chết mà chúng ta thực sự đáng sợ chính là cái chết về linh hồn vốn được Sách Khải huyền gọi là “cái chết thứ hai” (x Kh 20,14-15; 21,8). Thực vậy, những ai chết trong tình trạng mắc tội trọng mà không thống hối ăn năn thì nhốt chặt mình trong thái độ kiêu căng khước từ tình yêu của Thiên Chúa, tự loại trừ bản thân ra khỏi vương quốc của sự sống”.
Nguyễn Hoàng Thương
Mọi người cần có trách nhiệm để giải quyết xung đột ở Thánh Địa
Giêrusalem (Asianews) – Cha Pierbattista Pizzaballa, người trông coi Thánh Địa đã mô tả lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Bênêđictô đưa ra hôm 05/11/2006 kêu gọi Do Thái và Palestine cùng các quốc gia có trách nhiệm đặc biệt trong vùng “cam đoan chấm dứt đổ máu, nhân lên các sáng kiến về viện trợ nhân đạo và cổ vũ việc khôi phục lại các cuộc đàm phán trực tiếp, nghiêm túc và cụ thể” là lời kêu gọi rất mạnh mẽ về trách nhiệm của những người có liên quan đến cuộc xung đột ở Thánh Địa. Đối với quan điểm của Cha Pizzaballa thì những dấn thân của Toà Thánh có thể sẽ không mang lại những hoa quả tức thì và cụ thể đối với giới chính trị, nhưng điều đó giữ sự chú ý đặt trọng tâm vào vấn đề hoà bình trong khu vực cũng như có liên quan đến việc giáo dục người dân.

Cha Pizzaballa cho Tin Tức Á Châu hay rằng: “Đức Thánh Cha đã làm tốt việc kêu gọi sự chú ý của Do Thái, Palestine và các nước khác có ảnh hưởng trong vùng. Lời kêu gọi của ngài là một sứ điệp của một nhân vật có uy tín cao về đạo đức và tinh thần chứ không phải về chính trị. Nó có tầm ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục người dân. Nhưng tôi không tin rằng giới chính trị ở Trung Đông và nơi khác sẽ lắng nghe nhiều về điều đó. Theo quan điểm của tôi, nó sẽ không hoặc không được trông đợi để gây một ảnh hưởng to lớn và ngay lập tức đến các nhân tố chính trị. Nhưng sự khẳng định của Toà Thánh về hoà bình và về trách nhiệm quốc tế để tìm kiếm hoà bình là lời kêu gọi rất mạnh mẽ nhằm đáp ứng ít nhất là giữ sự chú ý đặt trọng tâm vào vấn đề.

Tin Tức Á Châu: Thưa Cha, tối hôm qua (5/11), Hamas và Fatah đã công bố rằng họ đã đạt được một thoả thuận trên nguyên tắc liên quan đến việc hình thành một chính phủ liên hiệp do nhiều người nắm giữ cần thiết cho việc mở các cuộc thương lượng với Do Thái. Đối với cha, điều này dường như là một dấu hiệu của niềm hy vọng phải không Cha?

LM. Pizzaballa: “Niềm hy vọng thì đã luôn được giữ gìn. Tuy nhiên, một cách cụ thể, tôi phải rất thận trọng trong việc đánh giá những công bố này: đã có quá nhiều công bố và tuyên bố trên nguyên tắc trong quá khứ và chúng đã không mang lại những kết quả cụ thể. Theo quan điểm nhỏ bé của tôi, hãy còn quá sớm để được hy vọng…”

TTAC: Có cảm giác là cả người dân Do Thái và Palestine, ít nhất là đa số, muốn nhô ra từ ngõ cụt của bạo lực và thù hằn.

LM. Pizzaballa: “Tôi tin là mọi người muốn nhô ra từ đó nhưng đồng thời mọi người cũng bị nô lệ hoá bởi chính những mưu đồ, những định kiến của họ và thậm chí khi cần, dùng cách này để giữ thể diện. Giờ đây, nhất là liên quan đến tình hình ở Dãy Gaza, nhu cầu cấp thiết là chấm dứt bạo lực theo đường xoắn ốc và sau đó xem cách nào để leo ngược con dốc để trở lại đàm phán”.
Nguyễn Hoàng Thương
Hoạt động của một nhà xuất bản Công Giáo tại Hồ Bắc, Trung Quốc
BẮC KINH 5 /11/06 - Trong hai ngày 14 và 15 tháng 10 vừa qua các nhà nghiên cứu và các người làm công tác truyền thông Công Giáo tại Trung Quốc đã nhóm họp tại Hồ Bắc để tham dự buổi hội họp nghiên cứu thành tích phát triển một nhà xuất bản Công Giáo có tên là Nhà Xuất Bản Đức Tin Hồ Bắc (Hebei Faith Press) nhân dịp nhà xuất bản này kỷ niệm 15 năm thành lập.

Tham dự buổi họp có trên 100 vị gồm Giám Mục, Linh Mục, các nhà văn, các học giả, các người làm trong công tác truyền thông công giáo trong và ngoài nước như Úc, Hồng Kông, Pháp, Mỹ. Ngoài ra cũng có sự hiện diện của đại diện chính quyền.

Nhà xuất bản Đức Tin Hồ Bắc được thành lập vào tháng 4 năm 1991 và vào tháng 9 năm đó, nhà xuất bản cho phát hành tờ báo 4 trang lấy tên là Đức Tin. Chủ đích tờ báo là phong phú hóa niềm tin của người Công Giáo và đăng tải những tin về Giáo Hội Công Giáo địa phương và Giáo Hội hoàn vũ.

Hiện nay mỗi tháng tờ báo phát hành 3 số, mỗi số có 50,000 ấn bản. Tờ Đức Tin được coi là tờ báo Công Giáo có số phát hành nhiều nhất. Về nội dung từ năm 1997, tờ báo đã mở các tiết mục: tin tức Trung Quốc, phụng vụ, công tác bác ái, giới trẻ.

Các học giả cũng cho biết tờ báo ngày càng tăng các bài viết về vấn đề xã hội như năm 1991, chỉ có 10 bài đến năm 2004 đã có 120 bài bàn về các vấn đề xã hội.

Theo linh mục Giám Đốc tờ báo, dù mang tên là Đức Tin Hồ Bắc, nhưng nội dung và tin tức bao gồm mọi giáo phận Trung Quốc. Linh Mục cũng cho biết tại Trung Quốc có 5 tờ báo Công Giáo được nhà nước cho phép hoạt động. Tờ Đức Tin không có quảng cáo, sống nhờ giáo dân ghi tên mua báo hoặc ủng hộ tài chánh. Hiện nay một năm báo gửi tận nhà có từ 16 đến 24 đồng nhân dân tệ.

Ngoài việc phát hành tờ Đức Tin, nhà xuất bàn Đức Tin Hồ Bắc trong 15 năm qua đã in tất cả 3 triệu ấn bản của 180 đầu sách bao gồm 20 thể loại. Nhà xuất bản cũng hoạt động trong các ngành như sản xuất DVD, băng cassette và từ năm 1999 đã có mạng lưới toàn cầu.

Được biết nhà xuất bản Đức Tin Hồ Bắc là lớn nhất, sau đó đến nhà xuất bản Trung Tâm Nghiên Cứu Quảng Tây được thiết lập năm 1984. Tổ Chức Công Giáo yêu Nước và Hội Đồng Giám Mục Trung Quốc cũng phát hành tờ báo tê n là “Bồ Câu” vào năm 1964 và phát hành cứ 2 tháng một lần. Tờ báo này sau đó bị đình bản đến năm 1980 mới tái bản

Nguyễn Long Thao
Đại hội ''Phúc âm hóa tại Bruxelles''
ÐẠI HỘI ‘‘PHÚC ÂM HÓA TẠI BRUXELLES’’

LTS. - Từ 28 tháng 10 đến 05 tháng 11, thủ đô Bruxelles sẽ tiếp đón Đại Hội Quốc Tế về việc Tái Truyền Giáo Âu Châu. Sau đây là những phát biểu mới nhất của Đức Hồng Y Godfried Danneels (GD), tổng giám mục Malines-Bruxelles, trong cuộc đối thoại với ký giả báo Notre Dame Paris (NDP) (Paris Notre-Dame, 21 Sept 2006, tr.8-11– Lm Mai Đức Vinh chuyển ngữ).

NDP - Xin ngài cho chúng tôi một vài nét đặc thù về giáo phận của ngài.

GD – Giáo phận Malines-Bruxelles gồm hai vùng Brabant (trung tâm nước Bỉ) và vùng Malines. Vì thế chúng tôi có hai nhà thờ chính tòa, hai ngôn ngữ, hai nền văn hoá đồng cư với nhau. Giáo phận rộng lớn này chia thành ba giáo hạt (vicariat), mỗi giáo hạt có một giám mục phụ tá quản nhiệm. Giáo hạt phía bắc mang tên là ‘Brabant Flamand’, gồm hơn một triệu dân, nói tiếng Hòa Lan. Giáo hạt phía nam mang tên là ‘Brabant Wallon’, ít người và lãnh thổ bé nhỏ hơn, dân chúng nói tiếng Pháp. Giáo hạt Bruxelles nằm ở giữa, dân chúng hỗn tạp về nguồn gốc và nói hai tiếng Hòa Lan-Pháp.

NDP – Tính cách hỗn tạp như trên có làm chướng ngại cho tinh thần hiệp nhất của giáo phận của ngài không ?

GD– Không, mọi người công giáo đều biết họ thưộc về tổng giáo phận Malines-Bruxelles. Tuy nhiên họ quan tâm đến giáo hạt của họ nhiều hơn đến tổng giáo phận. Xét về mặt văn hóa, họ cảm thấy họ khác biệt nhau. Chúng tôi có những khác biệt thực sự về văn hoá, nhưng đồng thời chúng tôi tất cả là người Bỉ. Trong đời sống giáo hội của giáo hạt Bruxelles, sự khác biệt hiện ra ở ngay từng mỗi họ đạo : không những hai sinh hoạt mục vụ biệt lập nhau giữa tiếng Hòa Lan và tiếng Pháp, lại còn thêm mục vụ cho từng sắc tộc ngoại kiều (Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam, Ba Lan…)

NDP– Giữa các xứ đạo tiếng Pháp và xứ đạo tiếng Hòa Lan có liên lạc với nhau nhiều không ?

GD – Họ cộng tác với nhau mỗi ngày thêm chặt chẽ hơn, nhất là trong phạm vi tài chánh hay sinh hoạt xã hội. Ngày nay mọi người đều thấy hai cộng doàn khác biệt về ngôn ngữ trong một giáo xứ không thể tuyệt đối tách rời nhau.

NDP – Người Bỉ nhìn Giáo Hội Bỉ như thế nào ?

GD – Như tại nhiều nước Tây Âu đã có một thời gian kitô giáo thịnh đạt và Giáo Hội có nhiều quyền bính. Ngày nay, các cơ quan truyền thông vẫn còn chỉ trích thể chế ấy một cách gay gắt. Tại nước Bỉ, người ta không qúy chuộc thể chế, nhưng mâu thuẫn thay, sự việc vẫn còn nổi bật trong nhiều phạm vi. Giống như Đức Jean Paul II đã nói, ‘nhiều người hâm mộ ca sĩ cho dù không thích bài hát’. Tuy nhiên, cho dù không ‘thực hành đạo cho lắm’, người Bỉ vẫn cảm nhận sâu xa nguồn gốc kitô giáo của họ, họ thường hành xử theo cung cách và tinh thần kitô.

NDP – Đối diện với hiện tượng tục hoá, hàng giáo sĩ của ngài có nhất trí trong chương trình Phúc Âm hóa không ?

GD – Xét về cơ bản thì có. Nhưng xét về hình thức, lại là chuyện khác… Trong mỗi giáo hạt, các linh mục phải đương đầu với những thực tại văn hoá khác nhau. Tại giáo hạt bắc, còn có nhiều phong trào công giáo hùng mạnh, 70% trẻ từ 12-18 tuổi còn đi học trường công giáo; tại giáo hạt nam, chỉ còn khoảng 50% thôi. Trên toàn thể nước Bỉ, tỉ số quan trọng về nhà thương và tổ chức từ thiện vẫn thuộc kitô giáo.

NDP – Vậy có gì là khuyết điểm ?

GD – Trước tiên chúng tôi thiếu sự huấn luyện căn bản về đức tin. Càng ngày càng nhiều người tuyệt nhiên không biết gì về đức tin. Việc huấn luyện tiên khởi là cần thiết. Rủi thay, các linh mục và giáo dân của chúng tôi không được đào tạo để làm việc công bố Tin Mừng sơ khởi này. Ngày nay chúng tôi thường dạy giáo lý cho những người đã không được không được học biết về Phúc Âm. Trẻ em đến các trường học, theo giáo lý và người ta dạy cho chúng những điều phải tin. Nhưng những trẻ em này không trở lại. Cách đây chừng 50 năm, người ta giả định rằng : những người đi học giáo lý đã có đức tin rồi, ngày nay những trường hợp đó mỗi ngày một hiếm hoi.

Tiếp đến, tôi nghĩ rằng, cần xét lại về sư phạm giáo lý. Giáo lý còn quá bị hạn chế vào cho trẻ em và vào các giai đoạn lớn của đời sống bí tích như rửa tội, rước lễ lần đầu, chịu phép thêm sức hay hôn phối. Theo tôi cần đi xa hơn là phải làm sao trình bày giáo lý suốt cả năm cho người lớn để chính họ có thể trao truyền nội dung của đức tin.

Ngày nay nhiều kitô hữu đã quên lãng những ý niệm, những từ ngữ thông thường của giáo lý. Làm sao cắt nghĩa kinh Tin Kính cho một người không hiểu gì về danh từ ‘sống lại’ hay cụm từ ‘tội nguyên tổ’ ? Muốn cho họ nhớ lại, cần giúp học họ học lại các danh từ. Thật vô ích khi cứ muốn chuyển đổi những danh từ cũ xưa này vào trong cách nói hằng ngày. Quả thật, có nhiều cách diễn tả đặc biệt kitô giáo cần phải học biết.

NDP – Những đề nghị này quá xa với đường lối mục vụ đang bị chôn vùi.

GD – Chúng ta không thể ở lỳ trong các hang toại đạo. Chúng ta phải chứng tỏ con người thực của chúng ta, không mặc cảm, không tự cao. Hơn thế, đó là một trong những mục tiêu của Đại hội Bruxelles – Chư Thánh 2006. Chúng ta không được sống mai ẩn nữa… Những suy nghĩ này có những lý do lịch sử của chúng. Trước kia, khi Giáo Hội còn hùng mạnh, nhiều kitô hữu đã rút lui và nói : «Chúng tôi không còn muốn là những con voi trong một tiệm bán đồ sứ nữa». Chỉ hôm nay chúng ta mới không còn là những con voi và càng không phải là những con voi trong tiệm bán đồ sứ… ngày nay chúng ta phải học tỏ mình ra với sự khiêm tốn. Hơn thế, theo tôi, không tỏ mình ra là một điều bất hảo, bởi vì như thế thì không thể có sự đối thoại thành thật với thế giới và với người khác được.

NDP – Các linh mục trong giáo phận của ngài có đồng quan điểm về những hướng rao truyền Phúc Âm này không ?

GD – Có chứ. Nhưng làm sao để thực hiện cụ thể ? Trên bình diện giáo xứ và giáo phận, chúng tôi có rất nhiều sáng kiến để cắt nghĩa và sống đức tin. Nhưng để rao giảng đức tin, công bố Tin Mừng, chúng tôi không có kỹ thuật. Hơn thế, chúng tôi thiếu can đảm. Chúng tôi không thẳng thắn đủ trong lời nói của chúng tôi, chúng tôi sợ sệt… Đó là một chứng bệnh…

NDP – Các tín hữu trong giáo phận Malines-Bruxelles đón nhận Đại hội Chư Thánh 2006 như thế nào ?

GD – Như trong các giáo phận thủ đô đã tổ chức, tại đây cũng cần một thời gian để chuẩn bị. Nhất là đối với các linh mục đã quá bận rộn công việc. May là những kinh nghiệm tổ chức trước của Vienne, Paris, và Lisbonne khích lệ chúng tôi rất nhều. Ngày nay nhiều người đã có hành trang. Trên 120 giáo xứ của Bruxelles, ba phần tư đã đưa ra những sáng kiến. Hơn thế, các giáo phận khác cũng góp phần vào biến cố này.

NDP – Đâu là ích lợi của một cuộc đối thoại về việc Phúc Âm hóa trong các thành phố có bộ mặt thật khác nhau này ?

GD – Cho dù mỗi thành phố có bộ mặt, có những vấn đề và những sắc thái riêng, điều quan trọng là người ta ý thức về giá trị thích đáng của đức tin và của giáo hội đối với hạnh phúc của con người trong xã hội. Năm vừa qua, khi đức hồng y Policarpo đến trình bày với ông thị trưởng thủ đô Lisbonne về Đại Hội, ngài nói : “Chúng tôi đến gặp ngài, không phải để thần thánh hoá thành phố, nhưng để nhân bản hoá thành phố”. Điều đó hoàn toàn đúng cho Bruxelles năm 2006 này. Chúng tôi không nhằm làm cho Bruxelles trở lại đạo, nhưng chúng tôi muốn nhân bản hoá thành phố khởi sự bằng Tin Mừng, muốn chứng tỏ giá trị thích đáng của kitô giáo đối với hạnh phúc của xã hội. Vì thế việc đầu tiên phải làm là cho ngưới ta thấy và biết chúng tôi.

NDP – Điều đó rất khẩn trương trong một nước như nước Bỉ đã hợp pháp hoá ‘việc cho chết êm dịu’.

GD – Chúng tôi sống trong một nước mà Quốc hội đã bỏ phiếu chấp thuận những khoản luật hoàn toàn trái nghịch với giáo lý công giáo. Tuy nhiên tôi xác tín rằng những luật pháp này không luôn luôn tương ứng với ước nguyện của dân chúng. Về những vấn đề sắc tộc, người Bỉ hay nói: “Nếu ai muốn thì cứ làm, riêng tôi, tôi sẽ không bao giờ làm”. Đó là một quan niệm không đúng về tinh thần trách nhiệm. Ngày nay, những khoản luật quan trọng đã được bỏ phiếu bởi đa số tạm thời và ngẫu nhiên. Việc làm như vậy không nghiêm chỉnh, vì các vấn đề lớn về luân lý như đồng tình luyến ái hay cho chết êm dịu đều vượt hẳn khả năng của một quốc hội.

NDP – Ngài đã nói trong một buổi họp báo rằng ‘người Bỉ không thèm khát Tin Mừng’.

GD – Tôi nghĩ rằng thái độ hờ hững tôn giáo là hiện tượng chung của các thành phố lớn thuộc các nước Tây Au hiện nay. Nếu người Bỉ không thèm khát là vì không bao giờ họ được chỉ cho thấy cái họ cần uống. Nếu không được biết đến coca, người ta sẽ không thèm khát coca. Trong những nước giầu có của chúng ta, có một sự hờ hững thật sâu đậm, nhưng đồng thời cũng có một sự thèm khát tôn giáo. Kết quả ra sao ? Người ta gõ hết mọi cửa, người ta gửi thư đi khắp nơi để tìm kiếm trong những ngóc hẻm thật bất ngờ một chút hạnh phúc mong muốn... Vừa cảm động vừa xót xa, vì nhiều cuộc tìm kiếm không đạt ước nguyện, người ta sinh ra thất vọng. Với Đại hội này, tôi cầu chúc cho các Kitô hữu trong thành phố, thức tỉnh và chứng tỏ những con đường hạnh phúc Giáo Hội muốn cống hiến…

NDP – Nhiều sáng kiến chứng tỏ ngài quan tâm đăc biệt đến việc truyền giáo bằng văn hoá, tại sao ?

GD – Tuyệt mỹ (beauté) là cái cửa đi vào Phúc Âm cách tự nhiên, ít phản kháng. Khi người ta đi vào bằng cửa chân lý, người ta sẽ tự hỏi : « Sự thật là gì ? ». Khi vào bằng cửa luân lý trọn hảo, người ta nói : « Phải, Thiên Chúa thật trọn lành, nhưng tôi, tôi không trọn lành. Điều này làm tôi thất đảm ». Nhưng khi người ta vào bằng cửa tuyệt mỹ, thì tuyệt mỹ không lướt qua chúng ta được. Kitô giáo tuyệt đẹp không theo ý nghĩa thẩm mỹ (esthétique) nhưng theo ý nghĩa hòa hợp (harmonie). Dĩ nhiên, con người tự cảm thấy mình am hợp với những cái gì tuyệt mỹ.

NDP – còn những chờ đợi khác ?

GD – Tôi nghĩ rằng đưa ra một chương trình có sẵn là không tốt. Tôi không phải ông chủ xí nghiệp PDG đưa ra những đối tượng phải đạt tới. Tôi xác tín rằng Đại hội sẽ phong phú. Chúng tôi chỉ cần đón nhận và rút tỉa, chúng tôi sẽ thấy những thành quả Đại hội đem lại.

NDP – Ngài có điều gì nói với dân Paris không ?

GD – Chúng tôi cần họ giúp chúng tôi sống tích cực tuần lễ thừa sai này tại Bỉ. Xin mời các bạn tới và các bạn sẽ xem thấy… (venez et vous verrez)

(www.giaoxuvnparis.org)

Đ.Ô. Mai Đức Vinh (dịch)
Báo cáo: Danh sách Ân Nhân góp Qũi Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt tại Việt Nam

Báo cáo: Danh sách Ân Nhân góp Qũi Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt tại Việt Nam



Trọng kính: Quý Đức Ông, Quý Cha, Quý Tu Sĩ Nam Nữ
Quý Chức và toàn thể Giáo Hữu Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Con xin gửi đến tất cả Quý Vị thành quả trong công cuộc vận động cứu trợ cho các Nạn Nhân bão lụt Việt Nam. Dưới đây là danh sách các Đức Cha thuộc các Giáo Phận đã cho phép các Cộng Đoàn Công Giáo/Giáo Xứ Việt Nam quyên góp cứu trợ. Xin Quý Cha thuộc các Giáo Xứ đã được phép quyên góp rộng lòng giúp đỡ lạc quyên cho công cuộc cứu trợ:

Đức Hồng Y Roger Mahony (Tổng Giáo Phận Los Angeles – California)
Đức Hồng Y Adam Maida (Tổng Giáo Phận Detroit – Michigan)
Đức Tổng Giám Mục Daniel E. Pilarczyk ( Tổng Giáo Phận Cincinatti – Ohio)
Đức Tổng Giám Mục Charles J. Chaput ( Tổng Giáo Phận Denver – Colorado)
Đức Giám Mục Michael Jarrell ( Giáo Phận LaFayette – Louisiana)
Đức Giám Mục Patrick McGrath (Giáo Phận San Jose – California)
Đức Giám Mục Victor B. Gleone (Giáo Phận St. Augustine – Florida )
Đức Giám Mục Todd D. Brown ( Giáo Phận Orange – California )
Đặc biệt: Đức Cha Todd Brown đã cho phép quyên góp nơi tất cả các Giáo Xứ trong địa phận Orange.
Đức Giám Mục Robert H. Brom ( Giáo Phận San Diego – California )
Đức Giám Mục Carlos A. Sevilla ( Giáo Phận Jakima – Washington)
Đức Giám Mục Paul S. Loverde ( Giáo Phận Arlington – Virginia )
Đức Giám Mục John W. Yanta ( Giáo Phận Amarillo – Texas )
Đức Giám Mục Timothy A. McDonnell(Giáo Phận Springfield – Massachussetts)
Đức Giám Mục Frederick F. Campbell ( Giáo Phận Columbus – Ohio )
Đức Tổng Giám Mục José H. Gomez ( Tổng Giáo Phận San Antonio – Texas)
Đức Giám Mục Henry J. Mansell ( Tổng Giáo Phận Hartford – Connecticut)
Đức Giám Mục Michael Jarrell ( Giáo Phận LaFayette – Louisiana)
Đức Giám Mục Joseph A. Galante ( Giáo Phận Camden – New Jersey)
Đức Giám Mục Joseph A. Pepe ( Giáo Phận Las Vegas – Nevada )
Đức Gaím Mục Daniel N. DiNardo ( Tổng Giáo Phận Galveston-Houston – Texas)


Sau 3 tuần kêu gọi cứu trợ, tính đến ngày 6 tháng 11, năm 2006 văn Phòng Cứu Trợ Bảo Lụt đã nhận được những sự giúp đỡ sau đây:
Tên Ân nhân Thành phố Tiểu Bang Số tiền
Đức Cha Robert J. Cunningham (Giáo Phận Ogdensburg – New York) $2000.00
Giáo Xứ Cha Nguyễn Quốc Tuấn (Stockton, California ) $3178.00
Giáo Xứ Mẹ LaVang, Cha Đặng Phước Hòa (Tucson, Arizona) $5000.00
Giáo Xứ St. Joseph, Cha Nguyễn Văn Đô (Tulsa, Okalahoma) $3000.00
Cộng Đòan Chúa Kitô Vua, Cha Trần Hùng (Bronx, New York) $2000.00
Giáo Xứ Thánh Giuse ( Grand Prairie, Texas) $1000.00
Sacred Heart Church (Memphis, Tennessee) $2659.00
Cộng Đồng Công Giáo (Nashville, Tennessee) $1782.00
Cộng Đồng Công Giáo (Fort Smith, Arkansas) $710.00
Giáo Xứ Thánh Philipphê Phan Văn Minh (Orlando, Florida) $4310.17
Liên Đoàn Hướng Đạo Ngô Quyền (Orlando, Florida) $851.83
Họ Đức Mẹ LaVang (Fresno, California) $173.00
Tông Đồ Fatima (Allentown, Pennsylvania) $830.00
Roman Catholic Diocese of Albany (Albany, NewYork) $1000.00
Saint Dennis Parish (Royal Oak, Michigan) $799.00
St. Maria Goretti Parish (San Jose, California) $3745.00
Cộng Đoàn Saint Lucy (Long Beach, California) $430.00
Church of the Holy Martyrs (Kansas City, Missouri) $3445.00
Ông Phêrô Đỗ Văn Tín (San Antonio, Texas) $500.00
Ông Trần Minh Quang (Ann Arbor, Michigan) $100.00
Hội Ái Hữu Việt Nam (Glen Allen, Virginia) $200.00
Miss Đỗ Thị Hoa (San Antonio, Texas) $300.00
Ông Bà Nguyễn Ngọc Đối (New Orleans, Louisiana) $300.00
Vũ Thị Tham (Annadale, Virginia) $200.00
Nguyễn Trang & Đinh Khanh $100.00
Nguyễn Đại (Reston, Virginia) $20.00
Nguyễn Yên (Falls Church, Virginia) $30.00
Phan Thanh Hoàng (Rex, Georgia) 50.00
Nguyễn Daisy (Richmond, Virginia) $20.00
Phạm Soan (Bethlehem, Pennsylvania) $30.00
Nguyễn Kim Lang ( Washington, DC) $100.00
Tra Anh Quân (Manassas Park, Virginia) $50.00
Trần Thế Diệp (Silver Spring, Virginia) $30.00
Nguyễn Van (Germantown, Maryland) $50.00
Nguyễn H. Oanh (Silver Spring, Virginia) $200.00
Vũ Ai Van (Silver Spring, Maryland) $100.00
Can Nhu Phạm ( Upper Darby, Pennsylvania) $50.00
Dr.Anh K Luu ( Houston, Texas) $1000.00
Phương Đức Nguyễn ( Richmond, Virginia) $50.00
Dr. Trọng Edward Lê (Sugar Land, Texas) $500.00
Luyen Van Vũ ( Richmond, Virginia ) $70.00
Hieu Van Lê ( Ronkonkoma, New York) $200.00
Theresa C. Ly Trask ( Tamarac, Florida) $50.00
Thuy N. Tran ( Fairfax, Virginia) $20.00
Nguyễn Thanh Cần ( Long Beach, Mississippi) $200.00
An V. Lê ( Falls Church, Virginia) $20.00
Hung M. Nguyễn ( Herdon, Virginia) $50.00
Elizabeth H. Trần (Clifton, Virginia) $40.00
Phien Trần ( Kansas City, Missouri) $50.00
Tham Thi Vũ ( Annandale, Virginia) $100.00
Nghi Van Võ (Richmond, Virginia) $20.00
Yến T. Nguyễn ( Halethorpe, Maryland) $20.00
Lynn Truong (Baltimore, Maryland) $20.00
Đinh Van Quang (Roanoke, Virginia) $100.00
Linh C. Mullikin (Herdon, Virginia) $20.00
Phuong Dinh Nguyễn ( Philadelphia, Pennsylvania) $20.00
Kim Phuong T Nguyễn (Silver Spring, Maryland) $100.00
Thinh Q. Truong ( Philadelphia, Pennsylvania) $50.00
Dong Dinh Nguyễn ( Marietta, Georgia) $30.00
Tina Nguyễn ( Annandale, Virginia) $50.00
Kim Trần (Annandale, Virginia) $100.00
Tanh Minh Nguyễn (Annandale, Virginia) $50.00
John & Laura Bui (Biloxi, Mississippi) $200.00
Silver Needle (Baton Rouge, Louisiana) 100.00
Bich Do ( Falls Church, Virginia) $20.00
Cao Tri Nguyễn (Allentown, Pennsylvania) 20.00
Im Thi Nguyễn (Springfield, Virginia) $20.00
Thuan Van Đỗ (Telford, Pennsylvania) 25.00
David The Nguyễn (Garden Grove, California) 25.00
Thanh Thi Ta ( Santa Ana, California) 25.00
Ngoan Van Nghiem (RSM, California) $25.00
Luong & Hue Pham ( Bryan, Texas) $25.00
Duong H Van (Richmond, Virginia) $30.00
Thuy Dinh (Pennsylvania) $30.00
Lich V. Phan (Broomall, Pennsylvania) $50.00
Thang Q Pham ( Toms River, New Jersey) $50.00
Thanh N. Do ( Silver Spring, Maryland) $50.00
Le T. Nguyễn ( Dorchester, Massachussetts) $50.00
AnhPhuong Lê Trần (Falls Church, Virginia) $50.00
Nguyễn Van Luu (Upper Darby, Pennsylvania) $50.00
Nguyễn Xuân Quy (Downingtown, Pennsylvania) $50.00
Hiep D. Nguyễn (Houston, Texas) $50.00
Tu Van Trịnh (Norfolk, Virginia) $50.00
Tammy Bùi (Houston, Texas) $50.00
Thoi Thi Cao (Raleigh, North Carolina) $100.00
Lynn Linh Vu (Swampscott, Massasschusetts) $100.00
Phan V Pham (New Orleans, Louisiana) $100.00
Long Hoang Nguyễn (Richmond, Virginia) $100.00
Anh Kim Thuy Nguyễn ( Panama City, Florida) $100.00
Nguyễn Kha (Virginia Beach, Virginia) $100.00
Nguyễn N. Thanh (Santa Ana, California) $110.00
Am Ngoc Pham (Dorchester, Massasschusetts) $200.00
Thomas U. Nguyễn (Lweisville, Texas) $300.00
Quang Khac Nguyễn (Malvern, Pennsylvania) $500.00
Hao The Pham (Campbell, California) $500.00
Casey Dũng Trần (Bethlehem, Pennsylvania) $2000.00
U.S.A. Nails, Inc. (Aurora, Colorado) $1000.00
Tổng cộng =$48,528.00

Xin hết lòng cám ơn Quý Đức Cha, Quý Cha, và Quý Vị Ân Nhân đã thương giúp cho các nạn nhân bảo lụt tại Việt Nam. Một lần nữa Con thành khẩn kêu gọi mọi người rộng lòng giúp đỡ để xoa dịu phần nào sự đau khổ, mất mát của đồng bào ruột thịt chúng ta. Nếu Quý Cộng Đoàn/Giáo Xứ đã quyên góp, xin vui lòng gửi về Ủy Ban Cứu Trợ của Liên Đoàn. Chi phiếu xin đề: Ủy Ban Cứu Trợ Bảo Lụt Việt Nam; và gửi về:
Liên Đòan Công Giáo Việt Nam
12500 Patterson Avenue
Richmond, VA 23238


Xin Chúa chúc lành cho mọi người chúng ta.
Pax Christi!
Richmond, ngày 6 tháng 11 năm 2006

Đức Ông Giuse Phạm Xuân Thắng
Chủ Tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ
Đ.Ô. Phạm Xuân Thắng
Giáo xứ Hoà Cường (Đà Nẵng) kiên trì đấu tranh trong tinh thần bất bạo động để phục hồi quyền lợi của Giáo hội

Giáo xứ Hoà Cường (Đà Nẵng) kiên trì đấu tranh trong tinh thần bất bạo động để phục hồi quyền lợi của Giáo hội



Giáo xứ Hòa Cường là một trong 39 Giáo xứ của Giáo phận Đà Nẵng. Đây là một Giáo xứ trung bình, khoảng 900 tín hữu, nằm trên địa phận phường Hoà Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Giáo xứ hiện ở dưới quyền coi sóc của linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Ngọc Hiến (sinh năm 1966, chịu chức năm 2001).

Ngay từ năm 1958, giáo dân đã xây dựng nên một ngôi nhà thờ và một trường giáo xứ (gọi là Trường Thánh Giuse) với hai dãy phòng học gồm 4 phòng trệt và 4 phòng lầu. Diện tích dãy phòng học vỏn vẹn 168m2 (dài 21m x rộng 8m), dùng để dạy văn hoá và dạy giáo lý cũng như sinh hoạt đoàn thể họ đạo.

Tháng 9-1975, do chính sách giáo dục của lúc bấy giờ, giáo xứ đã phải bàn giao (nhượng quyền sử dụng) cho Ty Giáo dục Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ) 4 phòng trệt, còn 4 phòng lầu thì dùng dạy giáo lý và sinh hoạt các giới. Sau đó, giáo xứ lại đồng ý cho trường Liên Trì Nam (sau đổi thành trường Nguyễn Du, cơ sở 2) mượn thêm 4 phòng lầu để dạy các học sinh trong khu vực.

Đến tháng 6-2003 Sở Giáo dục-Đào tạo Tp Đà Nẵng xây dựng nơi khác một ngôi trường mới khang trang, nên các phòng học của giáo xứ cho nhà nước mượn không còn dùng dạy học nữa. Thế nhưng, mặc giáo xứ chờ đợi, Sở giáo dục và Trường Nguyễn Du đã chẳng đến bàn giao trả lại ngôi nhà đã mượn. Một số phần tử xấu lợi dụng hoàn cảnh này đã đến trú ngụ, còn lấy cắp vật dụng cũng như gây rối trong khuôn viên nhà thờ. Để bảo vệ tài sản vật chất của mình cũng như ổn định trật tự an toàn cho sinh hoạt tín ngưỡng, Giáo xứ đã sửa chữa lại các phòng, tái sử dụng chúng vào việc dạy giáo lý và các sinh hoạt tôn giáo.

Đột nhiên, từ năm 2004, Uỷ ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng có dự án xây dựng khu tái định cư cơ sở 1 Đô thị mới Nguyễn Tri Phương, tại địa điểm Phường Hoà Thuận Tây, quận Hải Châu. Quyết định số 17508-QĐ/UB ngày 24-6-2004 của UBND thành phố TPĐN đã lấy hơn một nửa diện tích của khuôn viên Nhà thờ, chia thành 3 lô mặt tiền (dọc con đường mới mở) và khoảng nửa lô nằm sâu, mà chẳng cần sự thoả thuận của giáo xứ. Giao cho giáo xứ lô 102, nhà nước lấy hai lô 98 và 100, nói là để “xây dựng công trình công cộng”!?! Hai lô 98 và 100 cũng như nửa lô nằm sâu này động tới Nhà sinh hoạt giáo xứ và một phần đuôi sân Nhà thờ (xin xem sơ đồ). Như thế là dãy lầu 8 phòng sẽ bị triệt hạ, đài Đức Mẹ lẫn phần lớn sân sinh hoạt và để xe của giáo xứ bị hoàn toàn biến mất (xin xem hình chụp).

Từ tháng 1-2005 đến nay (xin xem Tài liệu 1), giáo xứ đã nhiều lần làm đơn yêu cầu trả lại các phần đất nói trên của mình hầu bảo vệ nhà sinh hoạt và sân sinh hoạt, nhưng nhà nước vẫn làm ngơ. Đó là chưa kể chính bí thư thành phố Nguyễn Bá Thanh đã đích thân tới hăm doạ giáo xứ (xem tài liệu 3), UBND quận Hải Châu vu khống Giáo xứ tự tháo khoá đưa tài sản vào trong các phòng, nghĩa là “chiếm dụng của nhà nước” (xem tài liệu 4). Khiến Giáo xứ phải phản đối kịch liệt (xem tài liệu 2).

Mới đây, cơn bão số 6 hoành hành đã gây thiệt hại lớn cho toàn thể nhân dân thuộc địa bàn, trong đó có giáo xứ : nhà xứ đã bị tốc mái sập tường, các phòng học bị tốc mái (xin xem hình chụp). Linh mục quản xứ phải di dời qua ở tạm trong các gian phòng học tầng trệt.

Đang trong cảnh thiệt hại, mất mát, đau thương như thế, vậy mà ngày 6-10-2006, Giáo xứ lại nhận được hai công văn số 5737/UBND-QLĐTư của UBND Tp Đà Nẵng và số 677/UBND-VP của UBND quận Hải Châu yêu cầu giáo xứ di chuyển tài sản, vật dụng ra khỏi 4 phòng học trong thời hạn 03 ngày. Tiếp đến là công văn số 5971/UBND-QLĐTư của UBND Thành phố quyết định tháo dỡ các phòng học dứt điểm trước ngày 15-10-2006 (xem Tài liệu 3).

Trước hoàn cảnh này toàn thể giáo xứ Hoà Cường đã phải đứng lên để bảo vệ công bằng lẽ phải cũng như quyền tự do tôn giáo thiêng liêng của mình, sau khi đã gởi tới thủ tướng CPVN một lá thư kêu cứu ngày 11-10-2006 nhưng không mấy hy vọng (xin xem Tài liệu 4). Cho tới hôm nay, vụ việc vẫn chưa giải quyết ổn thoả.

Xin Quý vị cầu nguyện và hỗ trợ Linh mục Quản xứ (đt: 0511.618.686) lẫn giáo dân Hoà Cường kiên trì đấu tranh trong tinh thần bất bạo động nhưng cũng với lòng cương quyết để phục hồi quyền lợi của Giáo hội.

Gx Hòa Cường
Gia Đình Sống Đạo Hôm Nay

Gia Đình Sống Đạo Hôm Nay



Ngày nay, đâu đâu nhà thờ cũng đầy người tín hữu. Đại chủng viện và các dòng tu tại Việt Nam cũng đầy ơn gọi. Đó là dấu chỉ gia đình tín hữu Việt Nam là thửa đất màu mỡ đón nhận và vun trồng ơn cứu độ, hạt giống đức tin, hạt giống ơn gọi Kitô hữu.

Kitô hữu giáo dân, Kitô hữu linh mục, Kitô hữu tu sĩ. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Người thương ban dồi dào hồng ân cứu độ cho các gia đình tín hữu Việt Nam là tế bào của Giáo hội Việt Nam, tế bào của xã hội và của dân tộc Việt Nam.

Thế nhưng, trên thửa đất màu mỡ gia đình hôm nay, xuất hiện nhiều loại sâu rầy đe doạ sự tồn tại của những hạt giống ơn Chúa. Những loại sâu rầy đó là các tệ nạn xã hội, là nạn phá thai, bạo hành và ly dị mỗi ngày một phổ biến hơn.

Gia đình hôm nay cần làm gì để có thể vượt qua nạn sâu rầy tàn phá, vừa trở nên thành trì kiên cố bảo vệ những hạt giống ơn Chúa gieo vào lòng gia đình, vì sự vững bền của các gia đình và cũng là của dân tộc chúng ta?

Bước đầu của kế hoạch yêu thương cứu độ của Chúa Cha là sai Con Một đến trần gian và trao ban Chúa Thánh Thần là suối nguồn tình yêu tăng năng lực cho Chúa Kitô khiêm tốn hy sinh và phẩm giá của loài người. Đó cũng là sứ vụ Thiên Chúa mời gọi gia đình Kitô hữu tiếp tục hoàn thành, vì ơn cứu độ của loài người và của dân tộc chúng ta.

Công trình cứu độ gồm có 2 nhịp: cứu và độ.

“Cứu” là đưa ra khỏi bóng tối của sự dữ, của sự chết. Ngày nay bóng tối đó mang nhiều tên gọi khác nhau: Thánh Phaolô gọi đó là thói thế gian, là dục vọng xác thịt. Phật giáo gọi là tham sân si, người đời gọi là các tê nạn xã hội. Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi chung là văn hoá sự chết.

“Độ” là đựa vào cõi ánh sáng Sự Thật, Bình An, và Sự sống mới của Chúa Kitô. Ngày nay ánh sáng cứu độ mặc lấy lớp áo mang tên là văn hoá sự sống, văn minh tình thương.

Bước thứ hai của kế hoạch yêu thương cứu độ của Thiên Chúa là Chúa Kitô tự hạ trở nên Con đường dẫn đến sự sống mới, và mời gọi gia đình tiến bước trên con đường đó.

Thế gian và dục vọng xác thịt dựng lên những chướng ngại trên con đường đó. Những chướng ngại đó mang tên là những thói thế gian, là lòng tham sân si, là văn hoá sự chết.

Chúa Kitô ban cho gia đình Kitô hữu sức mạnh ơn đức tin, sức mạnh của Chúa Thánh Thần, và mời gọi gia đình dùng sức mạnh đó để vượt qua những chướng ngai trên đường đời, đồng thời cùng nhau kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương trên đất nước quê hương mình.

Tiến bước trên con đường Chúa Kitô, gia đình không những trở nên thửa đất màu mỡ cho Chúa gieo trồng các hạt giống ơn cứu độ, song gia đình còn trở nên thành trì kiên cố bảo vệ các hạt giống đó khỏi sự tàn phá của sâu rầy, của văn hoá sự chết.

Chúng ta hãy cầu khẩn xin Chúa cho các gia đình tín hữu hôm nay biết luôn nắm tay nhau tiến bước trên con đường của Chúa Kitô, vì sự sống vững bền của dân tộc chúng ta.

+ HY GB Phạm Minh Mẫn

Tổng Giám mục Giáo phận Sài Gòn
+ĐHY Phạm Minh Mẫn
Mục Vụ Xây Dựng Và Củng Cố Gia Đình

Mục Vụ Xây Dựng Và Củng Cố Gia Đình



“Có những hoạt động mục vụ làm cho giáo dân bị tách rời xa gia đình, hơn là giúp cho đương sự tìm kiếm hay được củng cố trong đời sống gia đình. Có những gia đình, mà trong đó mỗi thành viên hăng say tham gia các nhóm tông đồ của cộng đoàn giáo xứ; họ có thể cầu nguyện với các thành viên trong nhóm của họ, nhưng lại không thể cầu nguyện chung với các người thân yêu trong chính gia đình của mình.” (ĐHY Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn)

Mục Vụ Cộng Đoàn Giáo Xứ Cần Theo Hướng Xây Dựng Và Củng Cố Gia Đình

Góp ý với Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu dịp Hội Nghị kỳ VIII với chủ đề “Gia đình Á Châu hướng về Văn Hóa Sự Sống”, diễn ra từ ngày 17 tới 23 tháng 8 năm 2004 tại Hàn Quốc, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn nêu lên một thực trạng rất tinh tế về việc mỗi thành viên gia đình tham gia riêng biệt các nhóm sinh hoạt khác nhau trong Cộng đoàn Giáo xứ, nếu không ý thức, có thể mang lại hậu qủa gây ra sự phân hóa ngay chính gia đình mình...

Đức Hồng Y Mẫn phát biểu như sau: “Có những hoạt động mục vụ làm cho giáo dân bị tách rời xa gia đình, hơn là giúp cho đương sự tìm kiếm hay được củng cố trong đời sống gia đình. Có những gia đình, mà trong đó mỗi thành viên hăng say tham gia các nhóm tông đồ của cộng đoàn giáo xứ; họ có thể cầu nguyện với các thành viên trong nhóm của họ, nhưng lại không thể cầu nguyện chung với các người thân yêu trong chính gia đình của mình.”

Thực trạng này không phải chỉ riêng tại xã hội Việt Nam hay Á Châu, mà có thể nhìn thấy trong các cộng đoàn giáo xứ và các phong trào hội đoàn Việt Nam ngay tại Hoa Kỳ và hải ngoại. Có nhiều nhóm tông đồ, hoạt động xã hội, cầu nguyện, chia sẻ Lời Chúa v.v... khác nhau tại từng địa phương. Mỗi người trong gia đình tham gia nhóm sinh hoạt theo giới tính hoặc theo từng lứa tuổi, có khi rất hăng say và gắn bó với nhóm của mình.

Thường tình, tham gia hoạt động và gắn bó với nhau là việc tốt lành. Tuy nhiên, đúng như nhận xét của Đức Hồng Y Mẫn, trong thực tế có nhiều thành viên rất nhiệt tình với nhóm, nhưng khi trở về đời sống gia đình, thì ông bà, vợ chồng, con cái lại không thể cởi mở, trò chuyện, thông cảm được với nhau; nói chi tới việc cùng chung cầu nguyện.

Hơn nữa, có nhiều gia đình chỉ một mình vợ hoặc chồng dấn thân với công tác chung trong cộng đoàn giáo xứ hay với phong trào hội đoàn, nghĩa là có một người đứng bên lề hoặc chỉ vui thích với các hoạt động riêng khác.

Mặc dù không có sự bất đồng lúc đầu, việc ai người ấy lo tùy theo sở trường của mình, nhưng đường dài thực tế thiếu sự thông cảm hỗ trợ nhau, tâm tình xa cách, nguội lạnh và những lủng củng dần dần len lỏi vào cuộc sống gia đình, để rồi biết bao nhiêu sự khủng hoảng khác liên tiếp xảy ra.

Thập niên trước đây, gia đình tôi bị tan vỡ có lẽ một phần lớn cũng vì vợ chồng thiếu ý thức dành thời giờ để cùng nhau chia sẻ và bồi dưỡng về phương diện này; là một kinh nghiệm đau khổ hết sức qúi báu, sẽ còn mãi ghi dấu, đáng trở nên bài học vô giá làm hành trang cho một giai đoạn mới trong cuộc đời!

Từ nhận định thực tế trên đây, Đức Hồng Y Mẫn kêu gọi cần có một sự đổi mới kịp thời, bằng cách đề xướng và thực hiện các chương trình mục vụ của Cộng đoàn Giáo xứ theo hướng xây dựng và củng cố gia đình.

Hơn 30 năm qua, các gia đình Công giáo Việt Nam tỵ nạn tại các quốc gia trải qua nhiều giai đoạn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống. Theo thời gian, các vị lãnh đạo tinh thần ngày càng xác tín việc mục vụ gia đình là một công tác cần được đặt lên hàng ưu tiên tại các Cộng đoàn Giáo xứ.

Gần đây có nhiều nhóm sinh hoạt chú trọng việc phát triển các chương trình mục vụ theo hướng củng cố gia đình mà Đức Hồng Y Mẫn nhấn mạnh tới tại Hội Nghị các Giám Mục Á Châu năm 2004. Một số các phong trào như Cursillos, Liên Minh Thánh Tâm, Nghĩa Binh / Thiếu Nhi Thánh Thể, Đồng Hành v.v..., đặc biệt Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình, đều có đường hướng và đề xướng việc khuyến khích các thành viên trong gia đình cùng nhau tham gia, nhất là phải có sự tham dự của cả đôi vợ chồng, vì là đầu tàu quan trọng nhất để xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình.

Một trong những chương trình mục vụ cụ thể nhằm củng cổ gia đình mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng như các Giám Mục Á Châu lưu tâm, đó là đề cao vai trò quan trọng của việc xây dựng các Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản hay các Cộng đoàn Nhân bản Nền tảng, là những nhóm nhỏ tạo cơ hội cho các gia đình trong một khu xóm địa phương đến với nhau, để chia sẻ hỗ trợ nhau, và cùng nhau đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống; càng khẩn thiết hơn để sẵn sàng giúp đỡ nhau "tỉnh thức" kịp thời trước những thách đố khi mà Việt Nam mới gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO - World Trade Organization) ngày 7 tháng 11 năm 2006.

Nhiều địa phương đang có những chương trình mục vụ nghiên cứu và huấn luyện để có thể hình thành các Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản theo hướng xây dựng và củng cố gia đình. Phải chăng đây là một dấu chỉ của Mùa Xuân Mới cho Hội Thánh Á Châu và cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tại quê nhà cũng như nơi hải ngoại, góp phần xây dựng con người mới trong một đất nước Việt Nam tự do chan hòa lòng bác ái, sống tình huynh đệ, đồng tâm hiệp lực, dấn thân phục vụ?
Giuse Đặng Văn Kiếm
Bản tường trình kết quả Đại Hội Giáo Lý toàn quốc lần I tại Nha Trang

Bản tường trình kết quả Đại Hội Giáo Lý toàn quốc lần I tại Nha Trang



UỶ BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN
Trực thuộc HĐGMVN


Nha Trang, ngày 08 tháng 11 năm 2006


Trọng kính quý Đức Cha,

Nhờ hồng ân Thiên Chúa và lời bầu cử của Đức Maria, Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Nha Trang trong hai ngày 07 và 08 tháng 11 năm 2006 đã diễn tiến và kết thúc tốt đẹp. Ban tổ chức chúng con xin kính trình Quý Đức Cha một số nét của Đại Hội và những kết quả đã đạt được.

1. Thành phần của Đại Hội

- Chủ trì Đại Hội: ĐC Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ Tịch Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin.

- Chủ tọa đoàn: Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Giám Mục Phó Giáo phận Nha Trang; Cùng với Cha Augustinô Nguyễn Văn Trinh, tổng thư ký Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin; Cha Phêrô Lê Văn Ninh, Tổ trưởng tổ Giáo Lý thuộc Uỷ Ban Giáo Lý Đức tin; Cha Antôn Trần Văn Trường, Ban Giáo lý Giáo phận Đà Nẵng.

- Tham dự viên: Quý Cha, quý thầy là Trưởng Ban Giáo Lý hay đại diện Ban Giáo lý của 18 Giáo phận trên toàn quốc, tổng số 34 người.

Vì nhiều lý do, 8 Giáo phận đã không có đại diện tham dự Đại Hội này, đó là các Giáo phận: Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Bình, Vinh, Huế, Quy Nhơn và Xuân Lộc.

- Ban thư ký gồm Cha Đôminicô Nguyễn Công Đắc, văn phòng TGM Nha Trang; 3 giáo dân và Ban Hỗ trợ: 5 nữ tu, là những thành viên trong Ban Giáo Lý Giáo Phận Nha Trang.

2. Nội dung của Đại Hội

Chúng con, những người phụ trách công tác giáo lý, muốn gặp gỡ nhau để trao đổi, chia sẻ và từ đó thấy được hướng đi và những điều cần làm trong những năm tới. Vì vậy sau khi Đức Cha Chủ Tịch Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin (GLĐT) nêu mục đích và ý nghĩa của Đại Hội, chúng con tiếp tục nghe những bài nói chuyện để soi rọi cho những hội thảo tiếp theo:

- Cha Tổng Thư ký Ủy Ban GLĐT giới thiệu cơ cấu và những hoạt động của Ủy Ban trong 5 năm qua.

- Đức Cha Chủ Tịch Ủy Ban GLĐT tường trình về Hội Nghị Giáo Lý Bangkok (từ ngày 23 đến 27 tháng 10 năm 2006). Ngài nhấn mạnh đến hướng đi của Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) là nhắm đến một mục vụ gia đình có chiều rộng và chiều sâu.

- Cha Antôn Trần Văn Trường giới thiệu “Chỉ Nam Tổng Quát Về Huấn Giáo - 1997” (Directorium Catechisticum) của Tòa Thánh.

Các nhóm hội thảo (Giáo Tỉnh Hà Nội, Giáo Tỉnh Huế, Giáo Tỉnh TP. Hồ Chí Minh 1 và 2) đã làm việc trong một buổi để nhìn lại những việc đã thực hiện được, tìm ra hướng đi để việc dạy giáo lý của các địa phương đạt hiệu quả hơn và đề nghị những vấn đề cụ thể cho công tác Huấn giáo toàn quốc.

Đúc kết hội thảo của các nhóm và từ các đóng góp thêm của tham dự viên trong phiên họp chung cuối ngày, chúng con đã biểu quyết được một số công việc, theo thứ tự ưu tiên như sau:

a) Mỗi Giáo Tỉnh cần có một Ban giáo lý để hướng dẫn công tác về Giáo lý để có sự thống nhất trong đường hướng và thúc đẩy sự làm việc chung. Ba Linh mục Trưởng Ban của các Giáo Tỉnh được cơ cấu vào tổ Giáo Lý, thuộc Uỷ Ban GLĐT.

b) Xem lại và hoàn chỉnh “Chỉ Nam Tổng Quát Về Huấn Giáo - 1997” của Hội Thánh đã được dịch sang tiếng Việt. Soạn thảo “Chỉ nam Huấn Giáo của Hội Thánh Việt Nam”

c) Từ bản dịch chính thức cuốn “Toát Yếu Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo”, soạn lại một Sách Giáo Lý phù hợp với Hội Thánh Việt Nam. Mỗi Giáo Tỉnh sẽ điều chỉnh, thích nghi sách này cho từng vùng.

d) Xin HĐ GMVN chọn một năm “Mục Vụ Giáo Lý” để mọi thành phần Dân Chúa cùng quan tâm hơn đến công tác Huấn giáo, gắn Huấn giáo với Phụng vụ và việc phục vụ.

e) Quan tâm đến vấn đề di dân kinh tế của giáo dân từ miền Bắc vào Nam, từ thôn quê lên thành phố để có hướng cụ thể giúp họ sống đạo.

f) Đầu tư cho mục vụ huấn giáo để Ban Giáo Lý Toàn quốc và các Ban Giáo Lý nói chung có kinh phí hoạt động.

g) Soạn những Thủ bản Giáo lý vừa tầm cho các Kitô hữu dân tộc thiểu số, soạn sách giới thiệu về Đạo Công Giáo cho người ngoài Kitô giáo.

h) Chuyển trang web của Uỷ Ban GLĐT về trang web của HĐ GMVN.

i) Thành lập Trường Đào Tạo Giáo Lý Viên, toàn quốc hoặc từng vùng.

Đức Cha Chủ Tịch nhắc lại đường hướng chung của Hội Thánh Công Giáo là nguyên tắc không chọn lựa công việc này mà loại trừ các công việc khác, đề nghị Đại Hội cũng đồng thời quan tâm đến các vấn đề được góp ý thêm sau đây:

a) Vấn đề giáo lý cho người trưởng thành, với hình thức và phương pháp phù hợp, khác với giáo lý cho trẻ em.

b) Vấn đề giáo lý Dự Tòng, sao cho các tân tòng sống vững đức tin trước mọi biến động của xã hội. Trước đây, giáo lý dự tòng thường để đối phó với trường hợp những người xin trở lại vì hôn nhân để nhận bí tích Hôn phối.

c) Lưu ý đến lực lượng hùng hậu các dòng tu, nhất là dòng tu nữ, là những người trực tiếp với việc dạy giáo lý. Đức Cha sẽ gợi ý HĐ GMVN lưu ý để việc đào tạo mục vụ trong các Đại Chủng Viện, sao cho mảng Huấn giáo được quan tâm cụ thể hơn.

Đại Hội đã đề cử các vị sau vào các Ban Giáo Lý Giáo Tỉnh, và đã được Đức Cha Chủ Tịch Uỷ Ban GLĐT chấp thuận:

GIÁO TỈNH HÀ NỘI

Trưởng ban: Cha Giuse Trịnh Ngọc Hiên (TGP Hà Nội)
Phó ban: Cha G.B Nguyễn Văn Nhàn (GP Hưng Hóa)
Thư ký: Sẽ bầu chọn sau

GIÁO TỈNH HUẾ

Trưởng ban: Cha Luy Nguyễn Quang Vinh (GP Kontum)
Phó ban: Cha Trưởng Ban Giáo Lý TGP Huế
Thư ký: Cha Stêphanô Nguyễn Văn Đậu (GP Ban Mê Thuột)

GIÁO TỈNH TP. HỒ CHÍ MINH

Trưởng ban: Cha Phêrô Nguyễn Văn Hiền (TGP TP. Hò Chí Minh)
Phó ban: Cha Giuse Nguyễn Đức Cường (GP Đà Lạt)
Thư ký: Cha Giuse Nguyễn Văn Thịnh (GP Phú Cường)

Các Ban Giáo Lý Giáo Tỉnh đã nêu lên chương trình hành động từ những biểu quyết của Đại Hội, cụ thể là quyết định thời gian và địa điểm cho cuộc gặp gỡ lần đầu của từng Ban GL vào đầu năm 2007.

Đức Cha Chủ Tịch UB GLĐT tuyên bố kết thúc Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc Lần Thứ I lúc 10g30 sáng Thứ tư, ngày 08.11.2006.

3. Những trăn trở của Đại Hội

Đại Hội tuy ngắn ngủi, tập hợp không đông đủ các vị phụ trách giáo lý trong toàn quốc, kết quả thấy được ngay không nhiều, nhưng đây là bước đầu tiên của sự hợp tác trong công tác huấn giáo ở quy mô cả nước.

Thiên Chúa đang mời gọi chúng con dấn thân hơn nữa vì Nước Trời; Cách nào đó, người giáo dân Việt Nam đang mong đợi nơi chúng con những đột phá mang lại nhiều ơn ích thiêng liêng; Còn nhiều rất việc cần sớm thực hiện đang chờ chúng con trong thời gian tới... Vì vậy Đại Hội chúng con quyết định tổ chức Đại Hội lần II vào năm 2008 tại Mỹ Tho để có dịp cùng nhìn lại, lượng giá công việc và tiếp tục vạch ra hướng đi cho giai đoạn kế tiếp. Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc Lần II sẽ bổ sung thành phần tham dự là đại diện các dòng tu nam nữ và đại diện các GLV tiêu biểu.

Chúng con rất biết ơn Quý Đức Cha đã tạo điều kiện và cho phép chúng con mời các Cha, các thầy về làm việc chung trong Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc Lần Thứ I này. Chúng con chân thành cảm ơn lời cầu nguyện và sự chúc lành Quý Đức Cha đã ban cho chúng con.


Kính xin tình yêu của Đức Kitô luôn gìn giữ quý Đức Cha.


Nay kính trình.

Lm. Tổ Trưởng Tổ Giáo Lý – Uỷ Ban GLĐT
Phêrô Lê Văn Ninh (đã ký)


Xác nhận của Đức Cha Chủ Tịch Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin
+ GM Phaolô Bùi Văn Đọc (đã ký)
LM. Phêrô Lê Văn Ninh
Thánh lễ đồng tế kỷ niệm Bách chu niên ngày qua đời của Chân phước Êlizabeth Chúa Ba Ngôi
Nha Trang. Sáng nay, vào lúc 8 giờ ngày 8/11/2006, tại nhà nguyện Đan Viện Carmel Nha Trang, Đức Cha Phó Giuse Võ Đức Minh đã chủ sự thánh lễ kỷ niệm Bách chu niên ngày qua đời của Chân phước Elizabeth Chúa Ba Ngôi.

Cùng hiện diện trong thánh lễ có Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách, Cha Tổng Đại diện, Cha Quản hạt Nha Trang, các Cha trong giáo phận, Bề trên các Hội dòng, nam nữ tu sĩ và ân nhân, thân nhân, tất cả cùng hiệp dâng tâm tình tạ ơn Chúa.

Khởi đầu thánh lễ, Đức Cha chủ tế thay mặt Đức Cha Chính Phaolô và cộng đoàn đang hiện diện, cũng như toàn thể thành phần dân Chúa trong Giáo phận chúc mừng hội dòng Carmel có thêm một vị chân phước.

Đức Cha mời gọi cộng đoàn cùng hiệp thông với nhau trong tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, tạ ơn Thiên Chúa và xin Chúa Ba Ngôi hướng dẫn cuộc đời mỗi người theo gương Chân Phước Elizabeth Chúa Ba Ngôi.

Trong bầu khí trang nghiêm và sốt sắng. Đức Cha đã chia sẻ cảm nghiệm của ngài khi được đến viếng cộng đoàn bên Pháp, nơi Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã sống đời tận hiến của mình và là nơi ngài đã được trở nên vị thánh của Chúa.

Đức Cha Cũng bày tỏ niềm hân hoan với Dòng Carmel khi nhắc đến 3 vị Thánh nữ Tiến Sĩ trong Giáo Hội: Thánh Têrêxa Cả, Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Thánh Catarina; trong đó có 2 vị thánh Têrêxa Tiến sĩ đều thuộc dòng Carmel. Đặc biệt Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu qua đời ở tuổi 24, với 9 năm trong dòng. Còn Chân Phước Elizabeth Chúa Ba Ngôi qua đời ở tuổi 26, với 5 năm trong dòng. Các ngài là những người con ưu tú, những người con tuyệt vời của Thiên Chúa.

Đức Cha mời gọi mọi người, cách riêng đối với Các nữ tu dòng Carmel, hãy noi gương bắt chước Chân Phước Elizabeth Chúa Ba Ngôi, ngay cả tên gọi cũng đã nói lên lòng yêu mến và quyết tâm sống tận hiến của chị nữ tu này đối với Chúa Ba Ngôi, mặc dù con đường tận hiến của ngài không êm đềm, bằng phẳng, nhưng gặp những trở ngại bởi gia đình, nhất là người mẹ luôn phản ứng quyết liệt khi nghe nói đến hai chữ Carmel. Nhưng nhờ Tình yêu Chúa Ba Ngôi nâng đỡ, hướng dẫn mà chị đã đạt được ước nguyện của mình.

Trong Tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta sẽ được mọi sự và được ban cho nhiều hơn lòng chúng ta mong ước.

Sau phép lành cuối lễ, Đức Cha làm phép xương thánh và Đoàn đồng tế cùng cộng đoàn hôn xương thánh trọng thể.
Gia Nhân
Cuộc hoán cải của tài xế xe ca
CUỘC HOÁN CẢI CỦA TÀI XẾ XE CAR

Tôi sống tại Paris, thủ đô nước Pháp, chuyên nghề lái xe car.

Được rửa tội từ nhỏ nhưng không hề học biết giáo lý. Lớn lên, khi lập gia đình, tôi làm phép cưới tại nhà thờ vì hiền thê tôi cũng là tín hữu Công Giáo. Cuộc sống đạo chúng tôi chỉ có thế. Sau đám cưới, chúng tôi không đi nhà thờ, xưng tội rước lễ gì cả. Tôi sống như người ngoại đạo, không bao giờ giơ tay làm dấu Thánh Giá. Dầu vậy, tận đáy lòng, tôi vẫn yêu thích các nơi hành hương như trung tâm thánh mẫu Lộ-Đức và Fatima.

Tôi sống nghề tài xế tròn 10 năm. Nhưng các chuyến xe chỉ quanh quẩn trong thủ đô Paris. Điều này làm tôi đâm ra chán ngán. Tôi xin ông chủ hãng xe car cho tôi đổi lộ trình và ông chủ đồng ý.

Dịp may xảy đến. Vào một ngày đẹp trời trong tháng Năm, chủ gọi tôi đến và cho biết, tôi có nhiệm vụ đưa một nhón tín hữu Công Giáo người Tahiti đi hành hương các nơi thánh trong đất Pháp. (Tahiti thuộc quần đảo Polynésie nằm ở mạn Nam Thái-Bình-Dương). Theo chương trình, cuộc hành hương kéo dài một tháng.

Cuộc hành hương đầu tiên tiến về Lisieux, theo vết chân thánh nữ Têrêxa Hài Đồng GIÊSU.

Mối quan hệ giữa tôi và nhóm tín hữu hành hương Tahiti, diễn ra tốt đẹp trên bình diện tài xế và khách hàng. Chỉ có thế, không tiến xa hơn. Trong khi khách hàng tham dự Thánh Lễ hoặc đọc kinh cầu nguyện chung trong nhà thờ, tôi ra quán uống bia uống rượu. Mỗi người đi theo ngả đường riêng của mình!

Sau Lisieux, khách hành hương Tahiti đi viếng đền thánh Đức Mẹ Pontmain, ở mạn Tây nước Pháp. Tại đây, tôi bỗng có chút thay đổi. Tôi tò mò muốn tham dự các buổi cầu nguyện của họ. Vào cuối Thánh Lễ, tôi lẻn vào và đứng ở cuối nhà thờ. Tôi quan sát giây lát rồi bỏ đi.

Ngày hôm sau, chúng tôi viếng nhà thờ chính tòa Ploermel, cách Paris hơn 400 cây số về phía Tây. Trong khi khách hành hương sốt sắng tham dự Thánh Lễ, thì không hiểu tại sao, tôi cũng ao ước tham dự Thánh Lễ như họ. Tôi bước vào đứng giữa họ, và khi họ bước lên lãnh nhận Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU, tôi cũng đi theo cách tự nhiên, làm như thể mình là tín hữu ngoan đạo lắm!

Thánh Lễ xong, họ hỏi tôi:

- Anh đi rước lễ, mà trước đó có anh có xưng tội không?

Tôi trả lời không. Sau đó tôi trình bày trường hợp của tôi với Cha Tuyên Úy hướng dẫn nhóm hành hương. Cha trấn an tôi, nhưng nhấn mạnh:

- Nếu anh muốn rước lễ lần nữa, anh phải xưng tội trước đã!

Đoàn hành hương Tahiti tiếp tục lộ trình đã định. Họ tiến về Lộ-Đức, Trung Tâm Thánh Mẫu nổi tiếng thế giới. Riêng tôi, tôi tham dự thường xuyên hơn các buổi cầu nguyện và Thánh Lễ, nhưng tôi không dám rước lễ nữa, mặc dầu rất ước muốn, vì tôi vẫn chưa đi xưng tội.

Tại Lộ-Đức, tôi sốt sắng tham dự cuộc kiệu Mình Thánh Chúa. Sau đó tôi tham dự Thánh Lễ tại hang đá Đức Mẹ. Tôi thật xúc động. Đến lúc rước lễ, tôi không cầm mình được, chỉ ao ước được tiến lên rước Mình Thánh Chúa. Ông bạn đứng cạnh tôi nói nhỏ:

- Chúa đã tha tội cho anh rồi, anh có thể lên rước Chúa!

Nghe thế, tôi không suy nghĩ gì nữa, tôi đi như bay lên rước Mình Thánh Chúa!

Buổi chiều, khi Cha Tuyên Úy trông thấy tôi, ngài nói:

- Rước lễ trộm vụng như vậy không được đâu. Anh phải đi xưng tội!

Lần này, tôi nhất định đi xưng tội. Buổi xưng tội đầu tiên trong đời kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ! Tôi rời tòa giải tội với tâm hồn tràn ngập tự do và hạnh phúc. Tôi cảm thấy sung sướng như chưa bao giờ được sung sướng!

Sáng hôm sau, tôi chuẩn bị thật sốt sắng để chính thức rước lễ. . lần đầu! Đây là kỷ niệm không bao giờ mờ xóa trong tâm tưởng tôi.

Sau cuộc hành hương đáng ghi nhớ tại Lộ-Đức, khách hàng Tahiti đáng mến của tôi tiếp tục đi hành hương các nơi thánh khác, như xứ đạo Cha Sở họ Ars (Thánh Jean-Marie Vianney) và Paray-le-Monial, nơi Đức Chúa GIÊSU tỏ Thánh Tâm Ngài cho thánh nữ Marguerite-Marie Alacoque.

Kể từ sau Lộ-Đức, tôi tham dự vào tất cả Thánh Lễ và các buổi cầu nguyện chung với một tâm lòng tràn ngập niềm vui sướng..

(Albert Pfleger, ”FIORETTI DE LA VIERGE MARIE”, Mambre Editeur 1992, trang 91-92).(Radio Vatican)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Người Nghèo Khó

NGƯỜI NGHÈO KHÓ



Ảnh của Lm. Tâm Duy

“…Hãy đón tiếp kẻ nghèo khó,

vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng.”

(Trích Huấn ca 29,9)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền

Lm. Tâm Duy