Tin Tức Công Giáo Số 3678 - Năm Thứ 11 - Ngày Thứ Hai 27/11/2006
  • TRONG SỐ NÀY
Phụng Vụ - Mục Vụ
Một Phút Suy Niệm Lm Vũ Đình, CMC
Ngày 26 tháng 11: Kính Chân Phước Delphine PT Huỳnh Mai Trác
Linh mục đọc lời Truyền phép từ xa bao nhiêu thì thành sự? Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Mỗi ngày một câu chuyện Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Thánh Anrê Tông Đồ Lm Vũđình Tường
Hòn Vọng Phu - Suy niệm Chúa Nhật 1 mùa Vọng Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Ông Navarro-Valls: Thế giới hồi hộp theo dõi chuyến đi đầy sóng gió của Đức Thánh Cha Đặng Tự Do
Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ xác nhận Thủ Tướng Erdogan sẽ gặp ĐGH Nguyễn Long Thao
Hình ảnh biểu tình chống ĐGH tại Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ VietCatholic
25,000 người biểu tình chống ĐGH tại Istanbul Nguyễn Long Thao
Kinh Truyền tin Chúa Nhựt 26-11-06 Bình Hòa
Nhân cuộc thăm viếng của Đức Benedictô XVI, tìm hiểu về quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Giáo Hội Công Giáo tại đây Đặng Tự Do
Đức Cha Luigi Padovese: Tại Thổ theo Công Giáo là cô lập chính mình với những hậu quả rất thê thảm Đặng Tự Do
Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ muốn Đức Thánh Cha tuyên bố Hồi Giáo là tôn giáo hòa bình! Nguyễn Việt Nam
Vị linh mục sống qua 3 thế kỷ vừa qua đời - linh mục nào già nhất trên thế giới hiện nay? Nguyễn Việt Nam
Tin Giáo Hội Việt Nam
Lần đầu tiên Giáo hội Công Giáo Việt Nam phát hành lịch UCAN
Hình ảnh giáo xứ Việt Nam St. Patrick tại San Jose mừng đại lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam Đặng Văn Linh
Hình ảnh giáo dân đồng hương Phát Diệm tại San Jose mừng lễ bổn mạng Kitô Vua Nguyễn Long Thao
Họp mặt TNTT giáo xứ Thanh Xuân, Hàm Tân Đức Dũng
Thư Mục Vụ của Giáo Phận Huế: Mùa Vọng 2006 +GM FX Lê văn Hồng
Kỷ niệm 10 Năm thành lập Giáo xứ Minh Hưng, Phú Cường. Lê Kim
Kỷ Niệm 09 Năm Thành Lập Gia Đình Cùng Theo Chúa Tại Hạt Tây Ninh. GP Phú Cường
Lễ bế giảng khóa dự bị hôn nhân lần thứ 18 tại giáo xứ Giuse Nha Trang Gia Nhân
Giáo xứ Chính Tòa Nha Trang mừng lễ bổn mạng Chúa Kitô Vua Gia Nhân
Tài Liệu - Sưu Khảo
Hoán cải nhờ Đức Mẹ Fatima Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Văn Hóa
Ðạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Công giáo? Nên gọi thế nào cho chính danh? GS. Trần Văn Toàn
Hội nhập và tiếp thu văn hóa - Bàn về việc đạo Thiên Chúa ăn rễ vào đất Việt Nam GS. Trần Văn Toàn
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Tràng Hoa Mầu Nhiệm Diệp Hải Dung
Một Phút Suy Niệm
Khi ấy, Chúa Giêsu nhìn lên, thấy những người giàu có bỏ tiền dâng cúng vào hòm tiền. Người cũng thấy một bà goá nghèo khó bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ, nên bảo rằng: "Thầy bảo thật các con, bà goá nghèo khó này đã bỏ vào hòm tiền nhiều hơn mọi người. Vì mọi người kia lấy của dư thừa mà dâng cho Thiên Chúa, còn bà này túng thiếu, bà đã dâng tất cả những gì bà có để nuôi sống mình". (Lc 21, 1-4)

Suy Niệm:

Việc người đàn bà góa nghèo khó và những đồng xèng của bà bỏ vào hòm tiền chính là những điều cốt lõi mà Chúa muốn chúng ta rập khuôn mà thi hành. Chúa muốn chúng ta hãy tước bỏ mọi ảnh hưởng và nô lệ vật chất, mà hãy tin theo mà phó thác mọi sự cho việc tìm kiếm nước Thiên Chúa. Chỗ khác trong Phúc âm, Chúa đã dạy chúng ta đừng qúa lo lắng về vật chất mà nên chăm lo về đời sống tâm linh trường cửu. (Mt. 6: 33)

Sự chân thật và tấm lòng quảng đại khi làm việc thiện mới chính là điều Chúa tìm kiếm nơi chúng ta. Vì nếu chúng ta bố thí thật nhiều tiền của mà trong thâm tâm chỉ muốn rêu rao vinh danh mình, thì thật chẳng xứng đáng làm môn đệ của Chúa, vì những người Biệt Phái thời xưa cũng thường làm như vậy và nhiều lần họ đã bị Chúa nguyền rủa và gọi là những bọn giả hình. Thời nay có lẽ cũng không khác là bao, chúng ta đã qúa câu nệ về những lễ lạc bên ngoài mà quên đi những hoan lạc nội tâm, nhiều giáo xứ cộng đoàn đã lo quyên góp mà sao lão việc thăng tiến nội tâm của các linh hồn. Hãy trở về với nguồn tình yêu của Chúa và đừng quên lời thánh Phao lô đã dạy, “Việc qúy trọng tiền bạc là gốc rễ của mọi tội lỗi. (1Tm. 6:10)

Lời Nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, xin dậy chúng con biết quảng đại với mọi người, biết thực lòng yêu mến tha nhân mà xả thân phục vụ, xin đừng để lòng tham lam xâm chiếm tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con biết làm mọi sự cho tha nhân chỉ vì lòng mến yêu Chúa mà thôi. Amen.
Lm Vũ Đình, CMC
Ngày 26 tháng 11: Kính Chân Phước Delphine
Chân Phước Delphine là con gái quận công Sinna. Bà kết hôn lúc 15 tưổi với công tước Elzéar con trai quận công Sabran. Đôi vợ chồng này đã thề hứa sống với nhau trong khiết tịnh, ăn chay, hãm mình và cầu nguyện để cùng tận hiến lên Thiên Chúa. Tuy vậy họ vẫn làm tròn bổn phận của nhà cầm quyền cai trị mà đời sống chính trị đòi hỏi.

Khi Elzéar đến nhận chức quận công xứ Ariano thuộc vương quốc Naples, Delphine tỏ ra là một nữ quận chúa hiền thục, đạo hạnh làm cho giới quí tộc yêu mến và ngưỡng mộ. Bà đã hòa giải được những mối bất hòa giữa các lãnh chúa và họ trở thành những thần dân trung thành.

Vì những tranh chấp trong triều đình, quận công Elzéar và vợ quyết định trở về sống trong lãnh thổ Ansois. Họ xin gia nhập Dòng Ba Phanxicô. Từ nay họ sống một đời sống tu trì thật sự trong ăn chay và hãm mình cùng làm những công việc từ thiện. Các ngài cùng nhau nghiêm túc giữ các giờ kinh phụng vụ, tiếp đón những kẻ khốn cùng; tự mình đi thăm viếng và chăm sóc những người cùi hủi.

Chồng bà qua đời năm 1323, trở thành góa phụ, bà muốn rút lui trong thanh vắng nhưng bà được lệnh vua Robert triệu hồi về Naples và bà đã sống ở đó trong 20 năm. Khi nhà vua băng hà, nữ hoàng Saucia vào tu dòng Nghèo Khó Clara thì Delphine được đi theo vào tu trong nhà dòng. Delphine đã tu ở đó trong 10 năm cho đến lúc nữ hoàng Saucia qua đời. Sau đó bà trở về sống ẩn trong lâu đài Ansois trong 13 năm. Sau khi chết bà đươc chôn bên mộ chồng là thánh Elzear trong nhà thờ dòng Phanxicô ở Apt thuộc nước Pháp.
PT Huỳnh Mai Trác
Linh mục đọc lời Truyền phép từ xa bao nhiêu thì thành sự?

Linh mục đọc lời Truyền phép từ xa bao nhiêu thì thành sự?



Hỏi: Chủ tế có thể đứng cách bàn thờ bao xa để truyền phép và ngài có thể chủ tọa bao nhiêu bàn thờ một trật? Tình huống tôi đã chứng kiến là ở trong một phòng hội nghị rộng lớn nơi bánh và rượu được chuẩn bị tại mỗi bàn ở đó tám người ngồi xung quanh và linh mục ở tại một bàn khác cuối phòng. Tôi đặt thành vấn đề tính thành sự của sự truyền phép tại bất cứ bàn thờ nào trừ bàn thờ nơi linh mục đang ở. Nếu điều này thành sự, bấy giờ điều gì ngăn cấm một vị thừa sai hay giám mục truyền phép tất cả những yếu tố trên tất cả các bàn thờ tại một thời ấn định xuyên suốt giáo xứ hay giáo phận của ngài? Có người nói vị trí thành sự dựa trên ý định, như vậy cha có thể có một ý định rất rộng , không? D.H.,Salem, Missouri.

Trả lời: Giải đáp của cha Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại đại học Regina Apostolorum.

Có nhiều điểm cần phải xử lý.

Không cần phải nói, tình huống được mô tả biểu hiện một sự lạm dụng rất nặng về những qui tắc phụng vụ, và chứng tỏ sự bất kính đối với Thánh Thể, và khoa thần học rất nghèo nàn. Có thể quá dài giòng nếu kê khai tất cả nhnững sai phạm về luật phụng vụ. Nhưng lúc đó, điều không chắc là linh mục kẻ thực hiện nghi thức này có quan tâm cao nhất về việc tuân thủ luật phụng vụ

Chỉ cần xét một phương diện, việc làm đó chắc chắn đi ngược lại huấn thị “Redemptionis Sacramentum,” Số 38 và 77:

“Bản chất của Bí tích Thánh Thể không chỉ là bữa ăn chung, mà còn và trước tiên là hy lễ, do đó giáo lý vững bền của Giáo Hội phải được xem là một trong những chìa khóa cho việc tham dự của mọi tín hữu vào Bí Tích cực thánh. Vì thiếu giá trị hy lễ, Mầu Nhiệm Thánh Thể không có ý nghĩa và giá trị hơn một buổi gặp gỡ giao hảo và huynh đệ.” [38]

“Tuyệt đối không được phép nối kết việc cử hành Thánh Lễ với một bữa ăn thường, cũng không được liên kết Thánh Lễ với một bữa tiệc. Ngoại trừ trường hợp tối cần thiết, không được phép cử hành Thánh Lễ trên một bàn ăn, hoặc trong một nhà ăn, hoặc trong một nơi được dùng vào mục đích ăn uống, cũng như trong bất cứ chỗ nào có thức ăn, cũng như trong một nơi những người dự Thánh lễ đang ngồi vào bàn.

Nếu trong trường hợp tối cần thiết, phải cử hành Thánh Lễ trong cũng một nơi mà người ta dự kiến sẽ dùng bữa sau đó, thì phải giữ một khoảng thời gian giữa cuối thánh Lễ và đầu bữa ăn, và cấm trình diện thức ăn cho tín hữu trong lúc cử hành Thánh Lễ.” [77]

Một điểm trầm trọng hơn nhiều liên quan tính thành sự của sự truyền phép giả định tại những bàn khác. Ở đây chúng ta phải xem xét nhiều điểm, vì một câu trả lời dứt khoát không dễ.

Theo giáo lý Công Đồng Trent, ý định bí tích phải được làm như Giáo Hội làm mỗi khi thực hiện nghi thức này. Điều này có nghĩa là chủ tế ít nhất phải có ý truyền phép bánh và rượu.

Điều này không có nghĩa là linh mục có ý theo tất cả những qui tắc Giáo Hội khi làm như vậy. Miễn là chất liệu và công thức đúng được kết nối với ý định, Giáo Hội có lẽ thường công nhận sự thành sự của một việc cử hành Thánh Thể cách lạm dụng khi nhiều qui tắc bị coi thường.

Dồng thời, những lạm dụng có thể tới một mưc độ đến nỗi chúng chứng tỏ chủ tế không còn có ý làm như Giáo Hội làm. Và do đó bí tích có thể không thành sự cả khi chất liệu và công thức được sử dụng là đúng.

Như vậy, ví dụ, Giáo hội đã công khai tuyên bố không công nhận việc rửa tội của những nhóm như những Chứng nhân Jehovah hay những người Mormons. Mặc dầu họ có thể sử dụng một công thức rửa tội đúng, họ không tin Chúa Ba Ngôi—và như vậy đó không phài là bí tích như những Kitô hữu hiểu.

Trong trường hợp này, có thể lý luận rằng mức độ lạm dụng thái quá nên ý định không còn tương ứng nữa với ý của Giáo Hội. Lý luận có thể nhưng không tuyệt đối chắc.

Vấn đề khoảng cách cũng phải được xử lý. Như độc giả chúng ta chỉ rõ, nếu ý định mà thôi là đủ, thì cái gì có thể ngăn trở sự truyền phép từ khoảng cách xa? Ở đây những lời truyền phép sẽ giúp chúng ta. Phải có ý nghĩa nào đó cho những tiếng “Này là,” Nầy là mình Thầy (máu).” Tiếng “this”—này, không như tiếng “that” hay là “over there.” (kia là)

Những qui tắc phụng vụ đòi buộc cái gì phải được truyền phép thì hiện diện trước linh mục trên bàn thờ và trên khăn corporal (khăn thánh) Trong những hoàn cảnh rất đặc biệt, như những Thánh Lễ giáo hoàng đông người, những bình đựng bánh lễ được các linh mục và phó tế cầm, họ đứng xung quanh hay liền sau bàn thờ lúc đọc Kinh Thánh Thể.

Như vậy tương quan giữa bàn thờ và những bánh lễ để truyền phép, phải luôn được giữ dầu trong vài trường hợp khoảng cách thể lý có thể tương đối rộng.

Trong một hay hai dịp, khi số người làm cho những linh mục xung quanh bàn thờ không thể cho hết mọi người Rước Lễ từ những bánh lễ được truyền phép trong Thánh lễ, thì những bánh đã được truyền phép trong một thánh Lễ khác và được lưu giữ trong một nhà thờ gần bên, có thể được sử dụng để cho những người xa nhất Rườc lễ. Cả Đức Thánh Cha cũng không tin rằng ngài có thể truyền phép từ xa.

Điểm này cũng có thể làm cho xem ra chắc hơn là việc truyền phép thực hiện tại những bàn khác thì không thành sự. Một lần nữa, luận cứ không kín gió, nhưng có lẽ. Và như vậy linh mục không nên tiến hành như đã làm, bởi vì chúng ta không thể đùa vơi tình thành sự của các bí tích.

Một trường hợp nhu thế phải được trìnhh lên giám mục kẻ có nhiệm vụ bảo đảm linh mục đương sự hiểu đầy đủ tính trầm trọng việc làm của mình và để bảo đảm sẽ không có lập lại.

Tiếp : Tại sao không đọc “Amen” cuối kinh Lạy Cha

Nhiều độc giả trả lời cho những bài giải thích của chúng tôi về việc bỏ tiếng “Amen” cuối kinh Lạy Cha (Nov. 7)

Một bài giải thích bắt nguồn từ một người Anh Giáo lỗi lạc đã viết: “Cha McNamara-không nói—và tôi đã tưởng luôn luôn—là thói quen ngày nay, cách rộng rải, thêm tiêng ‘Amen’ vào những kinh do kẻ khác đọc—chỉ sự ưng tjuận—nhưng không thêm vào những kinh người ta đọc một mình. Như vậy, trong nghi thức Roma, kinh dọn mình linh mục đọc liền trước khi Rước Lễ không có tiếng ‘Amen’ trong khi những kinh chính (cộng đồng nghe) có tiếng ‘Amen’ thêm vào. Mutatis mutandis, (Điều gì đáng sữa, đã được sữa), kinh ‘Kính Mừng Maria trong kinh truyền Tin—hay là khi được sử dụng trong Kinh Giáo Dân—có khuynh hướng bỏ tiếng ‘Amen.’ Sự trừ lớn cho luật này là kinh Gloria và Credo được mọi người đọc và có tiếng Amen nhưng, chắc chắn, điều đó là để công nhận bản tính xưa của những văn bản và việc phổ nhạc của những văn bản đó.”

Lời giải thích này liên quan tới bản tính của tiếng “Amen” là một câu trả lời cho những kinh do kẻ khác đọc, có thể cống hiến một sự giải thích nữa tại sao tiếng đó bị bỏ khỏi kinh Lạy Cha đọc trong Thánh Lễ.

Như độc giả chúng ta chỉ rõ, đó là một luật rộng và có nhiều luật trừ. Ví dụ, tiếng ‘ Amen’ bị bỏ sau kinh Lạy Cha đọc trong Kinh Sáng và Chiều của Kinh Thần Vụ. Nhưng tiếng đó được đọc trong kinh “Sáng Danh Đức Chúa Cha” mà mọi người đọc cuối mỗi thánh vịnh trong Kinh Thần Vụ.

Tương tự, thói quen phụng vụ không cần thiết thực hiện trong kinh cá nhân và những kinh chính thức đọc chung, như Cuốn Cẩm Nang các An Xá, và Sách Tóm Giáo Lý, hầu hết bao hàm tiếng ‘Amen’ cuối kinh mà không phân biệt để đọc riêng tư hay tập thể.

Một độc giả từ Kansas hỏi: “Tôi muốn biết tại sao tiếng cuối cùng của Kinh Lạy Cha cũng bị bỏ. Tiếng đó là ‘one.’ Tức là, ‘deliver us from the evil one.” (xin cứu chúng tôi khỏi kẻ dữ)

Sách Giáo lý nói rõ trong những số 2850-2854 rằng sự xin khỏi sự dữ không phải là một điều trừu tượng nhưng qui chiếu về một người, Satan, kẻ dữ. Tuy nhiên, bản văn gốc Hy lạp, công nhận cả hai cách dịch (“khỏi sự dữ” hay là “khỏi kẻ dữ”} và bản dịch hiện nay tôn trọng sự trình diễn truyền thống đã gặp trong bản dịch King James 1611.

Sau cùng, một độc giả hỏi cách đọc tiếng “Amen.”

Nhiều tiếng ngoại ngữ đi vào trong tiếng Anh lấy một sự sống của riêng chúng và kết thúc bằng mang sự giống chút ít với cách đọc nguyên thủy. Vì những luât đọc Anh ngữ có phần biến đổi, nên khó mà nói có một cách đọc chính xác tiếng này trong tiếng Anh.

Sau khi đã nói hết, tiếng Hy bá “amen” đã sống sót kha khá nguyên vẹn mặc dầu có những khác biệt cách đọc theo vùng.

Bên kia Hiệp-Chúng-Quốc hầu hết những người nói tiếng Anh có xu hướng đọc AH-men. Tại Hiệp-Chúng-Quốc hình thức AY-men có lẽ thường hơn, nhưng cả ở đó hình thức AH-men hâu như được sử dụng không thay đổi khi hát hay là đọc kinh bẳng tiếng Latinh. Một số kinh hát nghi thức-phương Đông vang lên gần AH-mim hơn là AH-men.

Cuối cùng, điều quan trọng là hiệp lòng và linh hồn với những kinh phụng vụ hơn là phát âm chúng với một giọng hoàn hảo.
Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh


15. Nếu anh thành tâm phụng thờ Thiên Chúa, có dây đức ái của Chúa Giê-su là đủ rồi, không cần dùng dây xích bên ngoài.

(Thánh Benedictô)
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Mỗi ngày một câu chuyện
CHẾT NHẦM NGƯỜI



Mẹ vợ của người nọ chết, ông ta muốn đến truy điệu, bèn nhờ thầy giáo tư (gia sư) viết tế văn cho mình, thầy giáo chiếu theo sách cổ, viết một bài văn truy điệu cho cha vợ.

Chủ nhân trách thầy giáo, thầy giáo mở trang giấy có lời tế văn ra nói: “Đây là sách cổ giấy trắng mực đen, in ra rất rõ ràng, sao lại sai được chứ ? Chỉ sợ là nhà nhạc phụ của ngài chết lầm người mà thôi !”

(Quảng Đàm Trợ)

Suy tư:

Với người có đức tin Ki-tô giáo thì chết đi là một niềm vui, vì về với Chúa Giê-su, Đấng mà họ trông đợi kết hợp với Ngài; nhưng với những người không có đức tin thì chết là một nỗi buồn không thể tả được, vì họ mất đi vĩnh viễn một người thân thiết...

Thời nay, người lương và người có đạo sống chung lẫn lộn, lương giáo kết bạn với nhau, làm việc với nhau, cùng nhau chia sẻ những vui buồn, nên việc tang chế họ đều có đến chia buồn với nhau, cho nên đừng làm cho họ hiểu lầm khi người Ki-tô hữu mất đi người thân yêu là chuyện đáng vui vẻ !?

Có những người khi đi truy điệu phúng điếu, trên bức liễn thêu một hàng chữ nổi bật: “Nhóm....Xin thành thật chia vui” rồi chấm hết, họ đem giấy trắng mực đen ra nói rằng, đây là thư thánh Phao-lô viết rất rõ ràng, rồi nói “quý vị không học Kinh Thánh nên không hiểu”...

Người không phải là Ki-tô hữu sẽ hiểu sao về câu “chia vui” ấy, người bên lương hiểu sao về câu ấy, người Ki-tô hữu hiểu sao về câu “chia vui” cụt lủn ấy ???

Người ta có ác cảm với đạo Công Giáo vì những câu cụt lủn ấy.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
Thánh Anrê Tông Đồ
THÁNH ANRÊ TÔNG ĐỒ

Kinh thánh André bắt đầu bằng câu: Lậy ơn ông thánh André xưa đã quý mến Thánh giá là của châu báu cùng là ước ao cho được chịu chết trên cây ấy cho nên đã được hưởng phúc vô cùng trên trời đời đời. Lời kinh trên chính là tâm tình thánh nhân cầu xin trước giờ chịu hành hình.

André và Phêrô là hai anh em. André gặp Chúa Kitô trước và giới thiệu Đức Kitô cho anh mình. Sinh trưởng tại làng Bethsaida, làng này vua Herod Philip đổi thành Julias trùng tên con gái ông. Bethsaida là vùng đất mầu mỡ, khí hậu ôn hòa lại gần biển và là nơi sản xuất những cây trái ngoại hạng quanh năm. Hơn hai ngàn năm sau, khí trời, phong cảnh còn giữ được vẻ nguyên thủy thời thánh André.

André là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. André quốc bộ đoạn đường dài dọc theo thung lũng Giođan để theo Gioan. Phụ Gioan rửa tội cho nhiều người. Sau này chính André làm công việc Gioan làm đó là giới thiệu Đức Kitô cho người khác, như cho chính anh mình là Phêrô và Philliphê. Khi nghe Gioan giới thiệu Đức Kitô là Chiên Thiên Chúa Đấng xóa tội trần gian. André từ giã Gioan theo chân Đức Kitô. Dù chưa chính thức làm tông đồ nhưng cả bốn vị là Gioan thánh sử, André, Phêrô và Philliphê theo Đức Kitô về Nazareth, tham dự tiệc cưới Cana và chứng kiến phép lạ đầu tiên Chúa biến nước thành rượu ngon.

Phúc Âm Mathêu giới thiệu các tông đồ từng hai người một, thường là hai anh em với nhau, hoặc hai bạn thân nhau. Có giả thuyết giải thích chung đôi vì chèo hợp tay, chèo đồng điệu và đồng chiều cao, ngồi đối diện nhau trong lúc chèo. Phêrô là thuyền trưởng và cũng là chủ thuyền. André vóc dáng vạm vỡ, mặt dài và râu đen, rậm. Tính tình hiền hòa, kiên nhẫn, nghe nhiều hơn nói và chỉ lên tiếng khi cần.

ĐỜI GIEO GIỐNG

Có ba truyền thống nói về cuộc đời truyền giáo của vị tông đồ. Thoạt xem cả ba truyền thống có vẻ rời rạc, xa cách, không thực tế nhưng nếu nhận xét kĩ lưỡng thì đường như cả ba đều có điểm chung nói lên tinh thần dấn thân của André. Chính André đã đi bộ nhiều dặm đường dọc thung lũng Giođan để tìm gặp Gioan Tẩy Giả và làm môn đệ của vị tiên tri này. Cả ba truyền thống đều nhắc đến việc André chịu tử vì đạo dưới tay quan toàn quyền Aegeates.

Truyền thống một cho là ngài khởi đầu truyền giáo tại Giêrusalem sau đó đi sang vùng Scythia phía nam Liên Sô rồi vùng biển Hắc Hải.

Truyền thống hai chứng minh Hy lạp là nơi nhà truyền giáo sống, nhất là miền Macadonia. Tại đây thánh nhân đổ máu đào làm chứng cho Thầy Chí Thánh.

Truyền thống ba lại nhấn mạnh đến cuộc sống của ngài tại Ephesus, vùng Tiểu Á cùng với bạn nối khố lúc nhỏ là thánh Gioan, tác giả sách Tin Mừng Gioan.

CHẾT VÌ TIN

Theo truyền thống hai tại Achaia André chữa bệnh cho vợ quan toàn quyền Aegeates là bà Maximilla. Bà này khỏi bệnh tin theo Chúa. Việc trên gây căm phẫn cho quan. Sự việc trở nên tồi tệ hơn khi anh quan là Stratolles mời André chữa bệnh. Ông này trở thành tín hữu nhiệt thành. Không thể nhịn hơn được Aegeates ra lệnh bỏ tù André cho hả giận. Vợ và anh quan cảnh cáo ông giết người vô tội, người của Thiên Chúa. Thâm tâm quan Aegeates muốn tha và năn nỉ André bỏ Chúa để cứu mạng sống; trái lại André khuyên quan nên nhận đức tin để Chúa cứu linh hồn.

Biết thầy gặp khổ nạn, anh quan là Stratolles dùng uy tín của mình giúp André vượt ngục trốn đi. André đã không đi còn khuyên Stratolles đừng làm trái ý quan. Trong tù André vẫn tiếp tục rao giảng và số người tin theo ngày một nhiều. Tin này đến tai quan và quan ra lệnh giết André cho khuất mắt. Ngày xử án kề bên André xin cho được chết giống như Thầy Chí Thánh Giêsu. Lời yêu cầu được quan chấp thuận. André vui mừng hát lên bài ca ca tụng thánh giá.

Chúa Kitô dùng chính cái chết mình thánh hiến Thập giá châu báu. Thập giá được tay chân Chúa trang điểm thay nữ trang. Tôi đến với thánh giá với tâm tư hoan lạc, thanh thản. Thập giá hãy giang tay đón nhận tấm thân này. Thánh giá trở nên đẹp, tốt lành nhờ tứ chi Chúa Kitô. Ta mến chuộng, chờ đợi, ước mong và tìm kiếm ngươi. Ta tìm được ngươi và linh hồn ta trông đợi sẵn sàng. Hãy giang tay đón nhận thân này, nâng ta lên khỏi kẻ phàm nhân và dâng Thầy Chí Thánh, Đấng sẽ cứu chuộc ta.

Bài ca tụng thập giá thứ hai có cùng tâm tình ngợi ca, hiến dâng. André hát xong gọi các kẻ hành hình tiến lại thi hành lệnh quan. Quân lính tỏ vẻ ái ngại vì lòng ngưỡng mộ và quý mến. Họ đứng xa tỏ vẻ tiếc thương André giục họ thi hành lệnh quan.

Theo yêu cầu của André họ không đóng đinh nhưng cột chân tay ngài vào hai cột chéo hình chũ X. Từ ngày đó thập giá này có tên là thập giá André. Để kéo dài cái chết trong đau khổ quan ra lệnh cho chổng ngược đầu xuống đất. Toàn quyền Aegeates muốn André là nạn nhân của chó hoang chắc chắn sẽ xé xác. André đầu dộng đất vẫn tươi cười và không ngừng giảng đạo. Hai ngày sau ông vẫn tỉnh táo, đầu óc vẫn minh mẫn và lời thuyết giảng vẫn mạch lạc. André đói khát nhưng những người đứng đó được cho ăn no nê Lời Chúa. Kẻ mến ông kéo nhau đến phủ quan làm áp lực xin tha cho người vô tội, người của Thiên Chúa. Aegeates dời phủ ra pháp trường chứng kiến tận mắt. Ông đến gần thập giá cởi trói cho André nhưng Andre khẩn van đừng tha vì từ lâu ông ước ao được vinh phúc tử đạo, sống muôn đời bên Chúa. Lời xin tha thiết mong được chết trên giường thập giá được chấp thuận.Vợ và anh quan là Maximilla và Stratola nhận xác an táng. Không biết chính xác năm André qua đời nhưng các học giả đồng ý vào cuối tháng 11 năm 69.

Năm 337 vua Constantine khởi công xây đền kính các thánh tích tại Byzantium bên Thổ Nhĩ Kì. Vua cha qua đời; vua con Constantius hoàn thành năm 356. Đền thánh có thánh tích của các thánh Timôthy, Luca và André. Constantius dời đầu thánh nhân đến Patros. Một số xương thánh được Regulus chuyển về Tô Cách Lan vào khoảng thế kỉ thứ 4 hay 5. André là thánh bổn mạng của xứ này và thập giá André là biểu tượng của dân tộc. Đầu thánh nhân lưu một nơi, phần thánh tích khác cầm giữ tại Al Quirinal và phần thánh tích còn lại tại Amalfi.

Năm 1462 Đức Giáo Hoàng Piô đệ nhị chuyển đầu ngài về đền thánh Phêrô để tránh bị tàn phá bởi đám giặc Turks. Năm 1964 Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ lục chuyền giao đầu thánh nhân cho giáo chủ tổng giám mục tại Constantinople, giáo hội Chính Thống tại Patras, Hy lạp nơi thánh nhân được phúc tử vì đạo.
Lm Vũđình Tường
Hòn Vọng Phu - Suy niệm Chúa Nhật 1 mùa Vọng
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG B

HÒN VỌNG PHU

Từ thuở tiểu học tôi đã thuộc lòng 2 câu thơ :

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Nàng Tô Thị ôm con chờ chồng, mỏi mòn đợi chờ, mịt mù xa thẳm để rồi hóa đá. Hòn vọng phu là một di tích văn hóa của Dân tộc. Hòn Vọng Phu như là một biểu tượng lòng thủy chung của người vợ đợi chờ chồng.

Linh mục Thiện Cẩm đã ví von : đối với tôi, hòn vọng phu có một ý nghĩa biểu tượng khác. Nó như là biểu tượng Giáo hội đang ôm ấp cả nhân loại trong lòng và đứng thẳng trên cao, nhìn vào chân trời xa thẳm, đợi chờ Đức Giêsu - vị Hôn Phu của mình đang ngự đến, như lời sách Khải Huyền đã viết : Thần Khí và Tân nương nói "Xin Ngài ngự đến.. .Lạy Chúa Giêsu, xin Ngài ngự đến" ( Kh 22, 17- 20).

Toàn bộ cuốn Thánh Kinh kết thúc như vậy. Hình ảnh Hôn Thê chờ Hôn Phu. Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và nhân loại mà phần lớn được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu nam nữ, vợ chồng.

Nhắc lại vài câu Thánh Kinh cũng đủ nói lên điều ấy :

Ngươi sẽ được Thiên Chúa đem lòng sủng ái

Và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi

Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ

Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về

Như cô dâu là niềm vui cho chú rễ

Ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.

( Is 66, 4- 5)

Thánh Phaolô trong (2 Cor 11,2; Ep 5,26-27) đã diễn tả Giáo hội là Hiền thê, là bạn trăm năm của Đức Kitô. Hình ảnh Hôn Thê chờ Hôn Phu là một hình ảnh đẹp, biểu trưng lòng tín trung của Giáo hội đối với Chúa Kitô.

Phụng vụ Giáo hội đã bước vào năm mới với khởi đầu là mùa vọng.

Mẹ Giáo hội đang ôm ấp tất cả con cái nhân loại đợi chờ Đức Kitô đến trong hai lần Người ngự đến. Ngự đến trong thời gian là Nhập Thể và kết thúc thời gian là Quang Lâm.

Từ Chúa Nhật I mùa vọng đến ngày 16.12 phụng vụ nói lên sự mong đợi ngày Chúa đến khi kết thúc thời gian; tám ngày cuối cùng trực tiếp nói đến ngàysinh nhật của Người.

Theo tinh thần canh tân phụng vụ, mùa vọng không còn là mùa thống hối nữa mà là mùa hân hoan mong đợi. Các Chúa nhật trong mùa vọng không đọc kinh Vinh danh không phải vì đặc tính đền tội của mùa chay, nhưng là để bài ca của các Thiên thần được xem như là một tiếng hát mới mẻ trong đêm Giáng sinh.

Mùa vọng cũng là mùa của những lời loan báo. Loan báo việc Chúa Giêsu sinh ra, loan báo thời gian cứu độ, loan báo ngày trở lại của Chúa Kitô. Những lời loan báo này được công bố rõ ràng trong các bài đọc ngày Chúa nhật.

Bài đọc 1 trích trong sách Isaia, đó là những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế mà đỉnh cao là Chúa nhật IV, loan báo một trinh nữ sẽ sinh hạ tại Bêlem một Hài Nhi thuộc chi tộc Đavit và sẽ được gọi là Emmanuel.

Bài Phúc âm Chúa nhật I mùa vọng nói lên niềm mong đợi ngày Chúa Kitô trở lại với lời nhắn nhủ : Hãy tỉnh thức. Chúa nhật II, III dành cho Gioan tiền Hô với lời mời gọi : Dọn đường cho Chúa. Chúa nhật IV là Chúa nhật Truyền tin cho Đức Mẹ và Thánh Giuse.

Các bài đọc 2 là các bài Thánh thư Phaolô, Giacôbê, Phêrô, đặc biệt làm cho mùa vọng trở thành một mùa loan báo việc Chúa Kitô trở lại lần thứ hai.

Tin Mừng Chúa nhật I mùa vọng dặn dò mỗi người Kitô hữu là hãy tỉnh thức, và cầu nguyện. Tỉnh thức để đón chờ ngày tái ngộ với Chúa Kitô. Tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên ta phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp. Cuộc tái ngộ có thể xảy đến bất ngờ đối với mỗi người và đối với cả nhân loại nên luôn tỉnh thức và cầu nguyện.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức vì đó là ý muốn, là mệnh lệnh của Chúa. Tỉnh thức và đợi chờ là lời mời gọi của Chúa đối với mỗi ngày sống của mỗi người.

Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa. Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn. Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử.

Chờ đợi, hướng về tương lai tức là hy vọng. Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin. Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng. Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô. Nhờ đức tin ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.

Niềm hy vọng cánh chung không cản trở công cuộc xây dựng trần thế và mưu tìm hạnh phúc hiện tại. Trái lại, đó là một động lực thúc đẩy mỗi người góp phần kiến tạo gia đình, làng xóm, xã hội sống công bình, huynh đệ và hạnh phúc hơn. Ai thấy rõ đường đi thì càng vững tâm mà đi.

Chỉ có một Đức Kitô, chỉ có một Giáo hội là bạn trăm năm của Người. Giáo hội không chỉ là Trinh Nữ, là Hiền Thê mà còn phải là Mẹ. Do đó hình ảnh người Mẹ bồng con là hình ảnh thích hợp để biểu tượng cho Giáo hội.

Hình ảnh Hòn Vọng Phu tượng trưng cho Mẹ Giáo hội đứng trên đỉnh núi giữa trời mây sông nước, ẵm chặt vào lòng đứa con của sự sống là tương lai và hạnh phúc của mình hướng về trời cao với niềm hy vọng là Đức Kitô.

Mẹ Giáo hội cưu mang các thực tại của mọi dân tộc là sự sống, là tương lai, là hạnh phúc để nuôi dưỡng và ấp ủ cho đến ngày hoàn toàn viên mãn, ngày Đức Kitô ngự đến.

Mùa vọng được khai mở với lời mời gọi của Đức Giêsu : Hãy tỉnh thức.

Bước đầu là bước quyết định cho cả một cuộc đời, một chương trình kế tiếp như như sách Nho có câu : Nhất nhật chi kế tại ư thần, nhất niên chi kế tại ư xuân ( Kế hoạch một ngày hệ tại giờ ban mai, kế hoạch một năm hệ tại mùa xuân).

Tỉnh thức là thái độ sống của người tín hữu suốt năm phụng vụ.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu trong nhà thờ, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Ông Navarro-Valls: Thế giới hồi hộp theo dõi chuyến đi đầy sóng gió của Đức Thánh Cha
(Rôma) Ông Valls dự đoán rằng trong chuyến đi, Đức Thánh Cha sẽ di chuyển trên các xe chống đạn, hay thậm chí xe bọc thép của quân đội hơn là trên chiếc "popemobile" mui trần để dân chúng có thể nhìn thấy ngài. Thay đổi trái với thông lệ này một phần vì lý do an ninh, phần khác vì cũng sẽ không có đám đông đứng hai bên đường chào đón ngài. “Có quá ít giáo dân tại Istanbul, tại Ankara thì còn ít hơn nữa”. Theo ông Valls, “Anh chị em giáo dân sẽ không đón ngài dọc theo hai bên đường nhưng bên trong các nhà thờ địa phương”.
Đặng Tự Do
Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ xác nhận Thủ Tướng Erdogan sẽ gặp ĐGH
ANKARA 27/11/06 – Bộ Trưởng Ngoại Giao của Thổ Nhĩ Kỳ, Ông Abdullah Gül đã xác nhận với nhật báo Sabah, ấn bản Anh Ngữ, phát hành tại Thổ Nhĩ Kỳ rằng chính quyền Thổ coi cuộc viếng thăm của ĐGH tại nước này là một biến cố quan trọng nên Thủ Tướng Erdogan, hầu như chắc chắn, sẽ gặp ĐGH Bênêđictô XVI tại phi trường trước khi ông lên máy bay đi dự hội nghị thượng đỉnh của khối NATO tại Riga.

Bộ Trưởng Ngoại Giao Abdullah Gul tuyên bố nội dung trên đây với tờ Sabah trước khi ông lên máy bay đi Helsinki vào ngày 26 tháng 11. Ông cho biết là Thủ Tướng Erdorgan sẽ gặp ĐTC tại phi trường Esenboğa vì máy bay của Đức Thánh Cha đáp xuống phi trường trước khi máy bay của Thủ Tướng Thổ cất cánh bay đi. Tuy nhiên, ông Bộ Trưởng không cho biết cuộc hội kiến sẽ kép dài trong bao lâu.

Các nhà bình luận cho rằng, Thủ Tướng Thổ muốn gặp ĐGH để tránh mang tiếng với các nhà lãnh đạo khối Liên Hiệp Âu Châu vì khối này sắp sửa cứu xét đơn của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ xin làm thành viên của khối EU. Nếu Thổ Nhĩ Kỳ được nhận vào Liên Hiêp Âu Châu thì đó là nước duy nhất theo Hồi Giáo, có nền văn hóa khác với văn hóa của toàn khối Liên Hiệp Âu Châu

Ngoài ra tại Vatican, giới báo chí cũng loan tin hầu như chắc chắn ĐGH sẽ viếng thăm đền thờ Hồi Giáo. Nếu sự kiện này xảy ra các giới quan sát cho rằng mối giây liên lạc giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Tòa Thánh Vatican sẽ bớt căng thẳng hơn.

Nguyễn Long Thao
Hình ảnh biểu tình chống ĐGH tại Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ
http://VietCatholic.net/Albums/MyPictures26112006/index.htm
VietCatholic
25,000 người biểu tình chống ĐGH tại Istanbul
ANKARA 26/11/06 – Như VietCatholic đã loan tin, Chúa Nhật ngày 26 tháng 11 năm 2006 đảng Hồi Giáo lấy tên là “Hạnh Phúc” (Felicity) đã tổ chức cuộc biểu tình chống cuộc thăm viếng của ĐGH đến Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài 4 ngày, bắt đầu từ ngày thứ Ba 28/11/06.

Cuộc biểu tình đã diễn ra tại Istanbul quy tụ khoảng 25,000 người. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất từ trước tới nay để phản đối ĐGH về bài diễn văn của Ngài tại Regensburg cho dù ĐGH đã nhiều lần giải thích đó không phải là quan điểm riêng của Ngài.

Khoảng 4000 cảnh sát, có xe chống bạo động yểm trợ, cùng với nhiều xe tăng và

trực thăng đã theo dõi sát đám biểu tình.

Đám biểu tình đã hô to khẩu hiệu “Thượng Đế Vĩ Đại” và mang những tẩm biển có vẽ chữ “Giáo Hoàng đừng đến Thổ Nhĩ Kỳ”. Họ cũng dựng những tấm biển phản đối dọc trên đường từ phi trường Istanbul dẫn ra thành phố.

Hôm nay, trong buổi đọc kinh truyền tin tại quảng trường thánh Phêrô vào ngày Chúa Nhật ĐTC đã bày tỏ lòng quý trọng và tình thân hữu chân thành đến nhân dân và các vị đại diện của Thổ Nhĩ Kỳ.

Nguyễn Long Thao
Kinh Truyền tin Chúa Nhựt 26-11-06
Kinh Truyền tin chúa nhựt 26-11-06

Ngày mai thứ ba 28 tháng 11, Đức thánh cha sẽ bắt đầu chuyến viếng thăm nước Thỗ-nhĩ-kỳ kéo dài trong bốn ngày, với cao điểm là cuộc hội kiến với đức Thượng phụ Bartolomeô I, giáo chủ chính thống Constantinopolis, nhân lễ thánh Anrê, để đáp lễ cuộc viếng thăm của đức thượng phụ sang toà Rôma dịp lễ thánh Phêrô. Đây cũng là một cơ hội thuận tiện để viếng thăm các cộng đoàn công giáo tại Thổ nhĩ kỳ, tuy ít ỏi nhưng gắn liền với những điạ điểm lịch sử Kitô giáo nguyên thủy như là Ephêsô, Smyrna, những thành phố của các thánh tông đồ Phaolô và Gioan. Một ý nghĩa khác không kém phần quan trọng là chiều kích đối thoại liên tôn, với những cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Hồi giáo và Do thái giáo. Tầm quan trọng của chuyến đi này đã được đề cập trong những lời hiệu triệu sau khi ban phép lành Toà thánh, còn bài suy niệm dẫn vào kinh Truyền tin thì tập trung vào lễ Chúa Kitô Vua. Đức Kitô là Vua, nhưng vương quốc của Ngài nhưng là vương quốc của tình thương và chân lý, chứ không phải là quyền hành thống trị. Mọi người đều được mời gọi đón nhận vương quốc đó với sự tự do của con tim và trí tuệ. Sau đây là nguyên văn bài huấn dụ.

Anh chị em thân mến,

Vào Chúa nhựt chót của năm phụng vụ, chúng ta mừng lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ. Bài Tin mừng hôm nay thuật lại một đoạn trong cuộc chất vấn bi thảm giữa Tổng trấn Philatô và đức Giêsu khi Người bị giải nạp và cáo buộc vì tội lạm dụng danh nghĩa là “Vua dân Do thái”. Đáp lại câu hỏi của tổng trấn Rôma, Đức Giêsu khẳng định rằng mình là vua, nhưng không thuộc về thế gian này (xc. Ga 18,36). Người không đến để thống trị các dân tộc và lãnh thổ, nhưng là đến để giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ tội lỗi và hoà giải với Thiên Chúa: “Tôi sinh ra và đến trần gian vì lý do này, đó là làm chứng cho chân lý. Ai ở về phía chân lý thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Nhưng “chân lý” mà Đức Giêsu đến trần gian để làm chứng là gì? Trót cuộc sống của Người mặc khải rằng Thiên Chúa là tình thương: đó là chân lý mà Người làm chứng trọn vẹn với sự hy sinh mạng sống trên núi Calvario. Thập giá là “ngai tòa” từ đó Người biểu lộ vương quyền của Thiên Chúa Tình thương: khi hiến mình làm của lễ xá tội lỗi thế gian, Người đã đánh bại sự thống lĩnh của “thủ lãnh thế gian” (Ga 12,31) và đã thiết lập vĩnh viễn Vương triều của Thiên Chúa. Vương triều này sẽ được bộc lộ trọn vẹn vào cuối lịch sử, sau khi mọi địch thù, mà tử thần đứng cuối sổ, sẽ bị khuất phục (xc. 1Cr 15,25-26). Lúc ấy Chúa Con sẽ trao lại vương triều cho Thiên Chúa Cha và sau cùng Thiên Chúa sẽ là “tất cả trong mọi sự” (1Cr 15,28). Con đường dẫn đến mục tiêu ấy còn dài và không có lối tắt: thật vậy mỗi người cần phải tự tình đón nhận chân lý của tình thương Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình thương và Chân lý, và tình thương cũng như chân lý không thể nào áp đặt được. Tình thương và chân lý đến gõ cửa của con tim và trí tuệ, và đâu có thể vào được thì mang đến an bình và hoan hỉ đến đó. Đó là đường lối cai trị của Thiên Chúa; đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, một “mầu nhiệm” hiểu theo nghĩa Kinh thánh, nghĩa là một kế hoạch được tỏ lộ dần dần trong lịch sử.

Đức Trinh nữ Maria đã được kết nạp vào vương quyền của Chúa Kitô một cách rất độc đáo. Thiên Chúa đã yêu cầu Người, một thiếu nữ khiêm tốn Nadarét, hãy làm thân mẫu của đức Mêsia. Đức Maria đã đáp lại lời gọi ấy với trót cả thân mình, kết hợp lời “xin vâng” của mình với lời “xin vâng” của đức Giêsu Con mình, và đã vâng lời cùng với Người cho đến chỗ hy sinh. Bởi thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người lên trên mọi thọ tạo, và Chúa Kitô đã đội cho Người triều thiên Nữ hoàng trời đất. Chúng ta hãy ký thác Hội thánh và toàn thể nhân loại cho lời chuyển cầu của Mẹ, ngõ hầu tình thương của Thiên Chúa có thể ngự trị trong hết mọi tâm hồn, và hoàn tất kế hoạch công lý và hoà bình của Ngài.

Như đã nói trên, sau khi ban phép lành Toà thánh, Đức Thánh Cha đã thêm những lời phát biểu liên quan đến chuyến viếng thăm Thổ nhĩ kỳ như sau:

Anh chị em thân mến. Anh chị em đã biết là vào những ngày sắp tới, tôi sẽ lên đường viếng thăm Thổ nhĩ kỳ. Ngay từ bây giờ, tôi muốn gửi lời chào thân ái đến nhân dân Thổ nhĩ kỳ quý mến, một dân tộc giàu về lịch sử và văn hoá. Tôi xin bày tỏ lòng quý trọng và thân hữu chân thành đến Nhân dân và các vị đại diện. Tôi mong đợi được gặp gỡ cộng đoàn tín hữu Công giáo mà tôi luôn tưởng nhớ. Tôi cũng mong được liên kết huynh đệ với Giáo hội Chính thống nhân dịp lễ thánh Anrê tông đồ. Với lòng tin tưởng, tôi muốn noi theo vết chân của các vị tiền nhiệm Phaolô VI và Gioan Phaolô II, và tôi kêu cầu sự che chở của chân phước Gioan XXIII, đấng đã giữ chức vụ Khâm sứ Toà thánh tại Thổ nhĩ kỳ trong vòng 10 năm trường và luôn duy trì lòng quý mến và trân trọng với dân tộc này. Tôi xin hết mọi người tháp tùng tôi bằng lời cầu nguyện, ngõ hầu chuyến hành hương này mang lại những hoa trái theo như Thiên Chúa mong muốn.(Radio Vatican)

Bình Hòa
Nhân cuộc thăm viếng của Đức Benedictô XVI, tìm hiểu về quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Giáo Hội Công Giáo tại đây
Đế quốc Ottoman (دولت عليه عثمانيه) thường được Phương Tây gọi là Đế Quốc Thổ (Turkish Empire) tồn tại từ năm 1299 cho đến năm 1922. Vào thời điểm hưng thịnh nhất của mình vào thế kỷ 16 và 17, đế quốc này bao trùm cả miền Đông Nam Âu Châu, Trung Đông và Bắc Phi. Theo chiều ngang, đế quốc Ottoman trải dài từ mũi Gibraltar ở bờ biển Bắc Phi cho đến vịnh Ba Tư. Theo chiều dọc, đế quốc Ottoman trải dài từ biên giới nước Áo và Ukraine cho đến miền bắc Sudan và Yemen.

Trong thế kỷ 16 và 17, đế quốc Ottoman có một lực lượng hải quân hùng hậu thống trị các khu vực rộng lớn trên biển Đại Trung Hải, Biển Đen, Biển Đỏ, Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương. Trong ý định Hồi Giáo hóa Âu Châu, đế quốc Ottoman đã nhiều lần tấn công vào Trung Âu. Năm 1529, đế quốc Ottoman vây thành Vienna của nước Áo và năm 1683 lại tấn công lần nữa vào thành phố Habsburgs của nước này.

Đế quốc Ottoman bị suy yếu dần vào thế kỷ 19 và đi đến chỗ tan rã sau thất bại trong thế chiến thứ Nhất. Đồng minh đã chia đế quốc này thành nhiều mảnh với mong muốn làm suy yếu thế lực Hồi Giáo này. Cho đến nay, 39 quốc gia đã thành hình từ đế quốc Ottoman. Tại Anatolia, trung tâm lịch sử của đế quốc, một phong trào quốc gia Thổ do Mustafa Kemal Atatürk lãnh đạo đã được khai sinh để bước vào một cuộc chiến tranh được người Thổ gọi là “cuộc chiến tranh dựng nước”. Quân đội do Mustafa Kemal Atatürk đã lần lượt thắng trong các cuộc chiến với Armenia, Hy Lạp và Pháp. Hiệp Ước Lausanne ngày 24/06/1923 công nhận sự khai sinh của nước Thổ Nhĩ Kỳ với phần lãnh thổ như hiện nay. Ngày 29/10/1923, Mustafa Kemal Atatürk tuyên bố khai sinh nước Thổ Nhĩ Kỳ. Chính vì thế, Mustafa Kemal Atatürk thường được coi là cha già của dân tộc Thổ.

Dưới sự cai trị độc tài của Mustafa Kemal Atatürk, dân tộc Thổ, có thể coi là những người Hồi Giáo đầu tiên chấp nhận khái niệm tự do và khái niệm nhà nước thế tục (mặc dù Hồi Giáo vẫn được coi là quốc giáo). Mustafa Kemal Atatürk đưa ra nhiều cải cách quan trọng về xã hội, luật pháp và chính trị. Sau khi Mustafa Kemal Atatürk qua đời vào năm 1938, Thổ Nhĩ Kỳ đã cố gắng áp dụng chế độ đa đảng. Cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên vào năm 1950 đã dẫn đến sự thắng cử của đảng Dân Chủ là đảng đối lập với chính quyền. Việc chuyển giao quyền hành đã diễn ra trong hòa bình. Tuy nhiên, nền dân chủ tại Thổ Nhĩ Kỳ đôi khi đã bị gián đoạn vì các cuộc đảo chính quân sự vào những năm 1960, 1971 và 1980. Năm 1997, quân đội lại nhúng tay vào chính trị để loại trừ một kiểu chính quyền có khuynh hướng Hồi Giáo hóa đất nước.

Đặng Tự Do
Đức Cha Luigi Padovese: Tại Thổ theo Công Giáo là cô lập chính mình với những hậu quả rất thê thảm
(Anatolia). Sự hiện diện của người Công Giáo, đặc biệt của các linh mục, tại Thổ Nhĩ Kỳ “được coi như điều gì đó đối nghịch lại với chủ nghĩa quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ”. Đức Giám Mục Luigi Padovese, giám quản tông tòa Anatolia đã cho biết như trên trong cuộc phỏng vấn dành cho tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ phân bộ Italia.

Đức Cha nói thêm “Vì thế, Đức Thánh Cha đến không chỉ khích lệ chúng tôi nhưng còn củng cố nơi chúng tôi căn tính Kitô Giáo của mình, trong bối cảnh là chúng tôi chỉ là một thiểu số và thường xuyên phải ‘ẩn mình’ đi để tránh những vấn đề nghiêm trọng về xã hội và sự cùng tồn tại tôn giáo”.

Đức Cha cũng đề cập đến vấn đề “chảy chất xám” của người Công Giáo khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. “Những người Công Giáo nào có điều kiện đều tìm cách gởi con đi học nước ngoài và trong hầu hết các trường hợp, các em không trở về nữa”.

Đức Cha cũng đề cập đến một vấn nạn nghiêm trọng nữa là vấn đề tịch thu các nhà thờ: “Ước muốn thu hẹp sự hiện diện của Kitô Giáo tại đây đã có những hệ quả. . tại các làng xã nhỏ nhiều nhà thờ không còn cộng đoàn và trong những trường hợp này chính quyền địa phương đã tịch thu các cơ sở”.

Đức Cha Padovese, 59 tuổi, cũng đề cập đến những khó khăn trong việc cải đạo sang Kitô Giáo. Giáo Hội tại Thổ Nhĩ Kỳ chọn con đường “không tích cực chiêu mộ tín đồ nhưng sẵn sàng đón nhận tất cả những ai quan tâm đến Kitô Giáo. Các giáo đường của chúng tôi luôn mở rộng cửa vào buổi trưa cho tất cả những ai muốn gặp gỡ các linh mục”.

“Hồi Giáo là tôn giáo và là cuộc sống trong xã hội, trong tôn giáo và trong văn hóa. Do đó, chọn một đức tin khác nghĩa là tự cô lập chính mình” khỏi xã hội “với những hệ quả trong nhiều trường hợp rất thê thảm”.
Đặng Tự Do
Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ muốn Đức Thánh Cha tuyên bố Hồi Giáo là tôn giáo hòa bình!
(Reuters) Nguồn tin thông tấn xã Reuters phát đi hôm 24/11/2006 cho biết Bộ Trưởng Tôn Giáo Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố rằng trong chuyến viếng thăm được tổ chức từ thứ Ba 28/11 đến thứ Sáu 1/12, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nên tuyên bố Hồi Giáo là tôn giáo hòa bình!

Bộ Trưởng Ali Bardakoglu nói với thông tấn xã Reuters rằng Đức Thánh Cha nên làm rõ rằng bạo lực gây ra bởi “những con người lầm lạc và bị lèo lái đến chỗ sai lầm” chứ không phải gây ra bởi niềm tin tôn giáo. “Nếu họ hỏi tôi là có phải Kitô Giáo đã từng gây ra bạo lực hay không, tôi sẽ trả lời là KHÔNG”.

Trong khi đó, bộ trưởng ngoại giao Thổ, ông Abdullah Gul, vừa thêm tên mình vào danh sách những người không thể tiếp kiến Đức Thánh Cha. Ông cho biết ông phải đi dự cuộc họp với Nato tại Estonia.

Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan trước đây đã công bố là không thể gặp Đức Thánh Cha vì đã có chương trình đi họp với Nato tại Estonia. Các viên chức Tòa Thánh cho biết Vatican đã biết trước về cuộc họp này và trong chương trình ban đầu không có dự trù một cuộc họp nào với thủ tướng Thổ.

Theo dự trù, Đức Thánh Cha sẽ được tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, ông Necdet Sezer tiếp kiến tại dinh tổng thống trong buổi chiều ngày thứ Ba 28/11/2006 khi ngài đến Ankara.
Nguyễn Việt Nam
Vị linh mục sống qua 3 thế kỷ vừa qua đời - linh mục nào già nhất trên thế giới hiện nay?
Ngài sinh ra trong triều Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, được thụ phong linh mục trước khi Hitler phát động chiến tranh thế giới lần thứ hai, sống sót qua hai cuộc thế chiến thảm khốc để chứng kiến người đồng hương của mình bước lên ngai tòa Thánh Phêrô. Linh mục Konrad Fuchs, người Đức, đã qua đời ngày 16/11/2006, thọ 109 tuổi sau 83 năm linh mục.

Theo thông cáo của Hội Đồng Giám Mục Đức, cha Konrad Fuchs, đã qua đời tại nhà dưỡng lão do các sơ Dòng Lòng Thương Xót Của Thánh Giá Cực Thánh coi sóc tại thành phố Hegne, nơi cha đã dọn về sống từ năm 2002 đến nay.

Cha Konrad Fuchs sinh ngày 15/10/1987 tại thành phố Dingelsdorf trong một gia đình rất mực đạo đức. Từ thuở nhỏ, ngài đã nổi tiếng ngoan đạo và sau khi học hết Trung Học, ngài đã gia nhập chủng viện Freiburg.

Cha Konrad Fuchs là một thiếu niên trong triều đại Đức Giáo Hoàng Piô X và đã phải gia nhập quân đội trong thế chiến thứ Nhất khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XV trị vì Giáo Hội. Ngài may mắn thoát chết trong thế chiến thứ Nhất, và được thụ phong linh mục vào năm 1923 trong triều đại Đức Giáo Hoàng Piô XI.

Ngài được cử về họ đạo Seebach, Freiburg nơi có khu rừng Đen. Ngài đã chăm sóc anh chị em giáo dân nơi đây trong suốt thời kỳ khó khăn của thế chiến thứ Hai dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô XII.

Sau đó, ngài đã là cha sở họ đạo Thánh Gia tại Freiburg trong vòng 32 năm trước khi về hưu.

Cha Konrad Fuchs là một người có lòng yêu mến Phụng Vụ, đặc biệt là Thánh Nhạc hợp ca. Ngài duy trì một mối quan hệ thân tình với các cha dòng Biển Đức. Chính vì ảnh hưởng của các cha dòng Biển Đức mà ngài lấy khẩu hiệu là “Xin Thiên Chúa được vinh danh trong mọi sự”.

Tuy đã 109 tuổi, cha Konrad Fuchs cũng chưa phải là linh mục già nhất trên thế giới hiện nay. Vinh dự này thuộc về cha Nicolaus Kao Se Tseien, linh mục dòng Trappist, đang sống tại Hương Cảng. Ngài sinh ngày 15/01/1987, tức là trước cha Konrad Fuchs, đúng 9 tháng.

Cha Nicolaus Kao Se Tseien, sinh tại Fuzhou, cho biết bí quyết sống lâu của ngài: “Chớ có hút thuốc, giận hờn, ham hố, rượu chè, ăn nhiều và đừng có ngưng tập thể dục và cầu nguyện”.
Nguyễn Việt Nam
Lần đầu tiên Giáo hội Công Giáo Việt Nam phát hành lịch
Việt Nam (UCAN) -- Giáo hội Công giáo Việt Nam vừa phát hành lịch năm 2007 nhằm giúp tín hữu sống đạo mỗi ngày.

Linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam, cho UCA News biết: "Đây là lần đầu tiên Giáo hội chính thức phát hành lịch Công giáo", sau khi chính phủ ban hành quyết định cho phép các tôn giáo in lịch tôn giáo phục vụ tín đồ của mình vào đầu năm nay.

Cha Sơn, ngừơi đứng đầu nhóm phát hành lịch 2007, cho biết dự án này "nhằm giúp tín hữu sống đức tin trong năm 2007 theo thư mục vụ có chủ đề: Sống Đạo Hôm Nay”.

Các giám mục Việt Nam đă ban hành thư mục vụ này trong cuộc họp thường niên hồi tháng 9, và kêu gọi các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân tôn trọng nhân phẩm, phục vụ tha nhân bằng t́nh yêu và góp phần xây dựng một xă hội công bằng.

Nhà Xuất bản Tôn giáo của nhà nước đă phát hành lịch bloc này, mà theo cha Sơn, nhóm của ngài đă mất bốn tháng để biên soạn.

Mỗi ngày có một câu Kinh thánh và ý chỉ sống đạo chẳng hạn viếng thăm bệnh nhân hay cầu cho công tác truyền giáo. Các ngày lễ và lễ hội Việt Nam cũng được in trên lịch.

Lịch có 3 loại -- khổ 10,5 x 14 cm, 10,5 x 14,5 cm và 14 x 20,5 cm. Hai loại lịch nhỏ nhất và lớn nhất có in hình Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thánh và nhà thờ, sẽ có giá lần lượt là 20.000 và 40.000 đồng. Lịch khổ 10,5 x 14,5 cm không có h́nh ảnh, có giá 9.000 đồng.

Theo cha Sơn, nhà xuất bản sẽ giảm giá đối với lịch được mua qua Văn phòng thư ký của Hội đồng Giám mục. Ngài nói rằng điều này nhằm giúp tín hữu mua lịch với giá rẻ.

Viên chức Giáo hội nói thêm, ngài đă nhận 41.000 cuốn lịch từ nhà xuất bản và phân phát về các giáo xứ trong nhiều giáo phận và nhà sách Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, cách Hà Nội 1.710 kilômét về phía nam.

Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Thanh Bình thuộc giáo phận Vĩnh Long, cho UCA News biết ngài vận động giáo dân xứ Hiếu Nhơn của ngài mua lịch để xem các ngày lễ và có thể đọc Lời Chúa mỗi ngày. Ngài cho biết giáo xứ của ngài đă mua 120 cuốn.

Theo cha Sơn, trước đây lịch Công giáo do các tổ chức ngoài Công giáo in và có những câu Kinh thánh không đúng. Năm nay, những cuốn lịch được gọi là của Công giáo và không rơ nguồn gốc đang được bày bán trong các nhà sách trong thành phố, với giá từ 9.000-35.000 đồng. Các cuốn lịch này trông giống lịch chính thức được Giáo hội phát hành, nhưng không có phần đề nghị sống đạo.

Một giáo dân mua lịch Giáo hội tại Nhà sách Tân Định ở thành phố Hồ Chí Minh nói với UCA News rằng người Công giáo nên mua lịch chính thức được Giáo hội phát hành, nhưng cũng thừa nhận khó phân biệt giữa lịch thật và lịch giả. Bà cho biết bà đă phải nhờ chủ hiệu hướng dẫn.

Nhiều nhà sách khác cũng đang bán lịch Phật giáo năm 2007, có in các ngày lễ và kinh Phật.
UCAN
Hình ảnh giáo xứ Việt Nam St. Patrick tại San Jose mừng đại lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam
http://VietCatholic.net/Albums/61127SJ26112006/index.htm
Đặng Văn Linh
Hình ảnh giáo dân đồng hương Phát Diệm tại San Jose mừng lễ bổn mạng Kitô Vua
http://VietCatholic.net/Albums/61127DHPD26112006/index.htm
Nguyễn Long Thao
Họp mặt TNTT giáo xứ Thanh Xuân, Hàm Tân
Một ngày “sống với Chúa Kitô Thánh Thể” được kết thúc với giờ chầu và kiệu Thánh Thể thật sốt sắng và trang nghiêm. Ngày họp mặt để lại những kỷ niệm khó quên đối với tuổi thơ của các em.
Đức Dũng
Thư Mục Vụ của Giáo Phận Huế: Mùa Vọng 2006

THƯMỤC VỤ GIÁO PHẬN HUẾ VỀ MÙA VỌNG 2006



Kính gửi:
Anh em linh mục,
các nam nữ tu sĩ, các chủng sinh,
và toàn thể anh chị em giáo dân.

I. Giáo Hội lại bắt đầu một năm phụng vụ mới, với Mùa Vọng, mùa chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón mừng Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa.

Đức Tổng Giám Mục của chúng ta đang bận công việc ở nước ngoài, vì thế, được sự đồng ý của ngài, tôi xin đại diện ngài gửi đến toàn thể cộng đoàn dân Chúa trong Giáo phận lời chào chúc bình an và phúc lành của Chúa Kitô và Mẹ La Vang.

Kính thưa anh chị em,
Mầu nhiệm Nhập Thể là một mầu nhiệm tình yêu: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16).

Đức Giêsu là món quà tình yêu lớn nhất mà Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại, để nối lại nhịp cầu giữa trời và đất bị đổ gãy, hàn gắn lại tình yêu bị phản bội và tái lập tình phụ tử bị phân cách do tội lỗi gây nên.

Món quà tình yêu đó đã được trao ban từ hơn hai ngàn năm qua, nhưng con người vẫn còn hờ hững hay chối từ đón nhận như Thánh Gioan đã tiên báo: “Người ở giữa thế gian... nhưng thế gian lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,10-11). Thảm cảnh đó vẫn còn tiếp tục trong thế giới hôm nay, nhưng Thiên Chúa vẫn kiên trì tiếp tục chương trình lịch sử cứu độ của Ngài, qua mọi thời đại.

Đức Giêsu Kitô vẫn luôn là nhịp cầu, là con đường nối trời với đất để đưa con người đến với Thiên Chúa Cha. Ngài là vị Cứu Tinh, là Đấng Cứu Độ duy nhất cho mọi người, của mọi thời đại: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14, 6).
Hãy hăm hở mở rộng lòng mình ra để tiếp nhận món quà tình yêu. Hãy mang một khát vọng thật sâu xa muốn gặp gỡ Chúa Hài Đồng. Hãy dẹp bỏ những vướng mắc, những rào cản, nhất là tội lỗi, đang ngăn chận đường vào tâm hồn. Có được như thế, Mùa Giáng Sinh năm nay sẽ mang đến cho chúng ta một niềm vui đích thực và sẽ biến đổi cuộc đời của chúng ta.

II. Mùa Vọng năm nay lại đến với chúng ta khi những thiệt hại, đổ nát do cơn bão số 6 vẫn còn đó. Tại giáo phận nhà, một vài nhà thờ bị sụp đổ, nhiều nhà xứ, nhà hội, nhà các cộng đoàn nữ tu bị tróc mái, hư hại. Nhiều gia đình lương cũng như giáo không còn nhà ở nguyên vẹn. Tài sản, hoa màu bị tiêu hủy để lại một viễn ảnh đen tối đang đe doạ một số gia đình trong những ngày sắp tới.

Lời Chúa nhắc chúng ta rằng ai tiếp đón, giúp đỡ người anh em nghèo khó, bất hạnh, là đón tiếp chính Chúa (x. Mt 25, 35). Giáo Hội rất trân trọng và cảm kích trước sự đóng góp quảng đại của nhiều tổ chức từ thiện và cá nhân hảo tâm trên khắp thế giới, để thoa dịu nỗi đau và mất mát của những nạn nhân thiên tai vừa qua, nhưng Giáo Hội còn muốn mỗi người chúng ta, nếu được may mắn hơn anh chị em mình, thì cũng hãy cố gắng hy sinh giảm bớt chi tiêu không cần thiết trong Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh năm nầy để chia sẻ cho những người thiếu thốn đang ở gần bên cạnh chúng ta.
Đó là món quà tình yêu Chúa Hài Đồng đang ngửa tay về phía mỗi người, khi Ngài đến trong máng cỏ thấp hèn nghèo khó của Mùa Giáng Sinh nầy.

III. Ngày Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng cũng là ngày Hội Đồng Giám Mục Việt Nam quyết định chính thức công bố và khai triển thư mục vụ 2006-2007, với chủ đề SỐNG ĐẠO HÔM NAY.

Nội dung chính của thư mục vụ nầy là SỐNG YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ, rất phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Giáo Hội và xã hội Việt Nam nói chung và cách riêng với địa phận nhà sau cơn bão vừa qua.

Theo gợi ý của Hội Đồng Giám Mục Việât Nam, trong Hội nghị thường niên tại Huế đầu tháng 9 vừa qua, hình ảnh Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ có thể được chọn làm biểu tượng cho việc khai triển và sống thư mục vụ. Như Đức Giêsu Kitô đến thế gian “không phải đến để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20, 28), người Kitô hữu hôm nay cũng phải thể hiện cách sống phục vụ và yêu thương để nên giống Thầy chí thánh: “Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em" (Ga 13, 14-15).

Thư mục vụ viết: “Dấn thân phục vụ con người là đòi hỏi tất yếu của đức tin Kitô giáo. Đời sống đạo luôn phải được đặt trên nền tảng bác ái yêu thương, vì đây là điều răn quan trọng nhất (x. Mt 22,37-39) và là dấu hiệu rõ ràng nhất khẳng định chúng ta thuộc về Chúa Giêsu: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng thương yêu nhau" (Ga 13,35).

Ước gì trong năm phụng vụ nầy, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, mỗi gia đình và mỗi cá nhân cố gắng học hỏi và đưa vào đời sống đạo của mình tinh thần bác ái và phục vụ bằng những hành động cụ thể. Đó là một phương thế hữu hiệu nhất để loan báo Tin Mừng cho anh chị em của chúng ta.
Tôi xin kết thúc lá thư Mùa Vọng nầy bằng những lời của chính bức thư mục vụ của HĐGM Việt Nam: “Dưới sự bảo trợ của Mẹ La Vang, Thánh cả Giuse, các Thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta hãy sống đạo hôm nay theo tinh thần Phúc Âm, để làm vinh danh Thiên Chúa và góp phần xây dựng hạnh phúc cho mọi người”.

Kính chúc quý Cha, quý nam nữ tu sĩ, quý chủng sinh và toàn thể anh chị em giáo dân một Mùa Vọng sốt sắng và một Mùa Giáng Sinh đầy hồng ân của Chúa Hài Đồng.

Tòa Tổng Giám Mục Huế
Ngày 25 tháng 11 năm 2006

+ Phanxicô Xaviê LÊ VĂN HỒNG
Giám Mục Phụ Tá
+GM FX Lê văn Hồng
Kỷ niệm 10 Năm thành lập Giáo xứ Minh Hưng, Phú Cường.


Xin được cầu chúc giáo xứ Minh Hưng ngày càng thăng tiến hơn trong những điều kiện tốt nhất mà những vị lảnh đạo tinh thần luôn luôn quan tâm đến.
Lê Kim
Kỷ Niệm 09 Năm Thành Lập Gia Đình Cùng Theo Chúa Tại Hạt Tây Ninh.
Việc tôn sùng Lòng Thương Xót tại giáo xứ Phong Cốc hiện có rất nhiều người tham gia. Hôm nay lại có anh chị NONONG và một chị nữa ở Manila Philippines về tham dự lễ kỷ niệm 09 năm ngày thành lập Gia Đình Cùng Theo Chúa tại Tây Ninh. Cùng về với anh chị NONONG còn có một số các anh chị Cùng Theo Chúa ở Hà Nội, Sài Gòn và một vài tỉnh khác cùng về tham dự với anh chị em Cùng Theo Chúa trong hạt Tây Ninh.

Chương trình khởi sự từ lúc 16g45 chiều 23/11/2006, gồm sinh hoạt chuẩn chị trước thánh lễ. Sau đó là thánh lễ trọng thể mừng kỷ niệm 09 năm ngày thành lập Gia Đình Cùng Theo Chúa tại Tây Ninh (1997 – 2006).

Trong bài chia sẻ, cha xứ Phong Cốc, Linh Giám Gia Đình Cùng Theo Chúa tại giáo xứ Phong Cốc nhận định: Gia Đình Cùng Theo Chúa là một hồng ân Chúa ban cho các gia đình trong một thế giới có rất nhiều bất lợi cho gia đình, Gia Đình Cùng Theo Chúa phải được lớn lên trong Chúa và Gia Đình Cùng Theo Chúa phải thể hiện sự hiện diện của Chúa giữa đời theo tinh thần thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là Sống Đạo Giữa Đời.

Sau thánh lễ, họp Cộng Đoàn Thờ Phượng cầu nguyện, rồi chia sẻ một số kinh nghiệm của một số cặp vợ chồng, thường là họ có những phản ứng đầu tiên không mấy thiện cảm với Gia Đình Cùng Theo Chúa, nhưng sau một thời gian sinh hoạt, nay đã nhận thấy Gia Đình Cùng Theo Chúa chính là môi trường Chúa muốn họ Sống Đạo Giữa Đời. Sau lời phát biểu của anh Trưởng Gia Đình Cùng Theo Chúa Việt Nam, thì anh NONONG thay mặt cho Gia Đình Cùng Theo Chúa quốc tế gởi lời chúc mừng tới Gia Đình Cùng Theo Chúa Tây Ninh nhân dịp kỷ niệm 09 năm ngày thành lập và chúc Gia Đình Cùng Theo Chúa tại Tây Ninh ngày một phát triển về mọi mặt.

Sau đó là giải lao và bữa ăn tối trong tình huynh đệ.

Chương trình kết thúc vào lúc 21 giờ 15 cùng ngày. Mọi người ra về trong hân hoan, phấn khởi
GP Phú Cường
Lễ bế giảng khóa dự bị hôn nhân lần thứ 18 tại giáo xứ Giuse Nha Trang
http://www.gpnt.net/images/dubihngiuse/
Gia Nhân
Giáo xứ chính tòa Nha Trang mừng lễ bổn mạng Chúa Kitô Vua
http://gpnt.net/images/bmchinhtoa06/
Gia Nhân
Hoán cải nhờ Đức Mẹ Fatima
HOÁN CẢI NHỜ ĐỨC MẸ FATIMA

Tôi sinh ra trong gia đình Công Giáo đạo đức. Rủi thay, vào năm 15 tuổi, tôi bắt đầu học nghề với ông chủ theo bè tam điểm. Lời nói cùng lối sống của ông ảnh hưởng mạnh trên tâm trí non trẻ của tôi. Không bao lâu sau tôi dần dần bỏ đạo và hoàn toàn trở nên vô thần. Trong tôi chỉ còn lại loáng-thoáng chút tâm tình hướng về Trời cao. Đối lại, một khoắc-khoải luôn ray rứt tâm hồn. Tôi chuyển sang các hệ phái Tin Lành. Tôi theo Cơ-đốc phục-lâm (Adventiste) rồi lại theo Pentecôtiste.

Không biết đời tôi kết thúc ra sao nếu không có bàn tay Đức Mẹ can thiệp.

Năm 39 tuổi, tôi đổi sang làm công trong một xưởng gần thủ đô Lisboa của Đồ-Đào-Nha. Trước đó tôi lập gia đình và có ba con. Nhưng chúng tôi chỉ làm đám cưới theo phép đời. Ba đứa nhỏ sinh ra không được rửa tội. Nói tắt một lời, gia đình chúng tôi sống như kẻ vô tôn giáo.

Vào năm 1917, Đồ-Đào-Nha xôn xao chấn động về biến cố Đức Mẹ MARIA hiện ra với ba trẻ chăn chiên tại làng Fatima. Tôi nghe tin ấy nhưng hoàn toàn bỏ ngoài tai. Đối với tôi, đó chỉ là tin đồn nhảm nhí. Tuy vậy, tôi không dám công khai bày tỏ tâm tình cùng tư tưởng riêng, bởi vì, ông chủ mới của tôi là tín hữu Công Giáo sùng đạo!

Một ngày, ông chủ đề nghị chúng tôi tổ chức từng nhóm, đi hành hương về làng Fatima. Tôi bị bắt buộc chấp thuận đi hành hương như các bạn đồng nghiệp. Bên ngoài tôi tỏ ra hăng hái, nhưng bên trong, tôi cảm thấy tự hổ thẹn về thái độ giả hình dối trá của mình.

Chúng tôi lên đường. Để khỏi gây chú ý, tôi tham dự mọi buổi cầu nguyện, các lễ nghi. Ban tối chúng tôi tham dự cuộc rước đuốc kính Đức Mẹ.

Mỗi tín hữu hành hương mua một cây nến để cầm. Tôi cũng mua một cây. Và đây là lúc Đức Mẹ chờ đợi tôi. Thật vậy, cầm cây nến vừa thắp sáng trong tay, tôi bước đi chưa được hai bước thì cây nến vụt tắt. Trời im như tờ, không một chút gió. Nến của mọi người chung quanh long lanh sáng!

Tôi lặng lẽ châm lại nến của mình với nến người bên cạnh. Nhưng hiện tượng đầu tiên tái diễn. Vừa đi được mấy bước, cây nến vụt tắt.

Tôi cảm thấy bực tức, cáu kỉnh. Tôi buộc lòng thắp lại lần thứ hai với cây nến của người bên cạnh. Anh ta hơi nhíu mày tỏ lộ chút ngạc nhiên lẫn chế nhạo. Và rồi cây nến lại tắt đi lần thứ ba. Tôi thật sự tức giận với ý nghĩ: Đức Mẹ không chấp nhận thái độ tôn kính giả hình của mình! Toàn thân tôi toát mồ hôi lạnh và từ từ quỵ xuống. Tôi quỳ đó nhưng miệng thì cứng đơ, không thốt lên lời nào!

Tối hôm ấy tôi kể lại câu chuyện cho vợ nghe. Cả hai chúng tôi đồng ý:

- Không thể nào tiếp tục cuộc sống vô đạo được nữa!

Chúng tôi quyết định trở về với Giáo Hội Công Giáo. Chúng tôi xin nhận lãnh Bí Tích Hôn Phối nơi nhà thờ và xin Cha Sở rửa tội cho ba đứa con. Chúng tôi bắt đầu sống đời tín hữu Công Giáo đạo đức và gia đình chúng tôi thật hạnh phúc.

Tôi tin rằng, sở dĩ chúng tôi được ơn lành nói trên, chính là nhờ công ơn hiền mẫu dấu yêu của tôi. Mẹ tôi vẫn hàng ngày lần hạt Mân Côi, cầu cho tôi trở lại đường ngay nẻo chính. Mẹ tôi tha thiết cầu mong tôi trở về với tâm tình đạo đức Mẹ tôi khó nhọc gieo vào lòng tôi những ngày tôi còn thơ bé.

Chứng từ của ông Antonio-du-Sà, Bồ-Đào-Nha.

(Albert Pfleger, ”FIORETTI DE LA VIERGE MARIE”, Mambré Éditeur, Paris 1992, trang 28-29).(Radio Vatican)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Ðạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Công giáo? Nên gọi thế nào cho chính danh?
Ðạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Công giáo? Nên gọi thế nào cho chính danh?

Khi ta muốn nói đến một sự vật nào đó trong thiên nhiên, một sự kiện nào đó trong lịch sử, thì phải đặt cho nó một tên gọi. Có thế khi dùng tên ấy để nhắc đến nó trong những hoàn cảnh khác nhau, ta mới chắc được rằng ta vẫn nói về sự vật hay sự kiện ấy, mà người nghe cũng nhận ra như thế. Nếu mỗi lúc lại dùng một tên khác mà gọi, thì người nghe làm thế nào cùng biết được ta vẫn nói về một sự việc, một sự kiện, và rồi chính ta cũng không nhận ra được nữa. Vì, trừ những tên riêng ra, thì mỗi tên gọi có công dụng làm cho ta và người khác nhận định sự việc dưới một khía cạnh nhất định nào đó.

Chính vì thế mà các khoa học đều phải xác định danh từ chuyên môn, phải có chính danh, để ai nấy đều rõ ta muốn nói về cái gì. Danh từ chuyên môn trong các khoa học thường được định nghĩa một cách thực dụng, vì căn cứ vào những tác động và những kinh nghiệm có thể đo lường được, để ai nấy đều làm được như nhau và cùng hiểu đích xác như nhau. Ðó là lối định nghĩa khách quan. Nhưng những danh từ đó, nhất là khi phiên dịch từ ngoại ngữ, nếu không biết lựa chọn cho chính xác, thì làm cho người nghe, người đọc hiểu sai hẳn đi.

Người Việt chúng ta, khi nói về các nhân vật, thường không bỏ được cái thói quen, là thêm vào tên gọi những tiếng nói lên tình cảm riêng của mình. Ví dụ khi muốn tỏ ra lòng kính trọng (thật hay giả, cũng vậy) thì thêm chữ “cụ”, “ngài”, v.v…; nếu muốn tỏ ý khinh bỉ thì thêm những chữ “thằng”, “tên”.

Các sử gia nghiên cứu ở Việt Nam về đạo Thiên Chúa, thường gặp thấy trong sách vở nhiều tên gọi khác nhau, như: đạo Ðức Chúa Trời, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Hoa Lang, đạo Khirixitô, đạo Kirixitô, đạo Kitô, rồi đạo Công giáo nữa. Những tên gọi khác nhau ấy, chắc gì có cùng một nghĩa như nhau. Cho nên vấn đề là phải gọi thế nào cho đúng, cho chính danh.

Cách gọi tên đạo Thiên Chúa của người Trung Hoa cũng rất lúng túng, nhất là khi người ngoại đạo đặt tên cho nó. Ví dụ trong buổi đầu, vào thế kỉ XVI, người ta gọi là thập tự giáo. Trong một cuốn từ điển in tại Trung Hoa, tôi thấy dịch chữ christianisme là Cơ Ðốc giáo, nhưng lại dịch chữ Catholicisme là Thiên Chủ giáo, và chữ Protestantisme là Gia Tô giáo. Cũng không trách được: chính vì hiểu biết mập mờ, cho nên phân loại lộn xộn, gọi tên không chính danh. Vì thế ta không nên cứ thấy người Trung Hoa dịch thế nào thì theo như thế. Bên Việt Nam ta quen gọi Catholicisme là đạo Công giáo, và Protestantisme là đạo Tin Lành. Như thế có phần đúng hơn, nhưng không phải là không có chỗ thiếu chính xác, gây nhiều thiên kiến, như tôi sẽ trình bày sau đây.

Thiết tưởng muốn gọi tên cho đúng thì người trong cuộc, để hiểu biết rõ hơn về đạo của mình, phải đứng ra giải thích cho rõ nghĩa và đề nghị tên gọi cho đúng ý. Có thế mới tránh được những cách gọi lầm, đưa đến những lối hiểu sai trong khi tìm hiểu và nghiên cứu. Ðó là dự định của tôi trong bài này.

Những cách gọi tên một tôn giáo

Theo thói quen, người ta có nhiều tiêu chuẩn để gọi tên một tôn giáo, một chi nhánh hay một tông phái.

Cách thứ nhất là gọi theo tên vị giáo tổ, hay vị đã khởi xướng ra giáo phái. Ví dụ: Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, đạo Mahômét (Mohammed), đạo Luther, đạo Calvin, v.v…

Cách thứ hai là gọi tên theo đối tượng. Ðạo thờ vị nào thì gọi theo tên vị đó. Ví dụ: đạo Bàlamôn, đạo Siva, đạo Phật, đạo Cao Ðài, Thần đạo, đạo Thiên Chúa, v.v…

Cũng có khi lại gọi theo tên của dân tộc theo đạo. Ví dụ: Ấn (Ðộ) giáo, Hồi giáo (người Hồi ở Tây- Bắc Trung Hoa theo đạo Mahômét), Anh giáo (người nước Anh theo một tông phái của đạo Thiên Chúa). Tuy vậy, người tín đồ có thể ý thức được rằng đạo mình theo không phải là của riêng dân tộc nào, là đạo ai cũng có thể và nên theo. Ðó là lúc nảy ra ý thức truyền giáo. Truyền giáo để chia sẻ với người khác những niềm tin mà mình cho là cao quý nhất.

Như thế đủ biết là một tôn giáo có thể có nhiều tên gọi. Ví dụ đạo Mahômét (gọi theo tên vị giáo tổ) còn gọi là đạo Hồi hồi, hay Hồi giáo (vì là đạo của người Hồi theo), lại cũng có tên là đạo Islam (tên chỉ thái độ tuyệt đối quy phục Thiên Chúa); còn đạo do giáo tổ Giêsu, có biệt hiệu là Christos, truyền bá, thì người Châu Âu gọi là Chritianisme; người Trung Hoa có hai tên gọi: gọi theo tên vị giáo tổ là Yesu, đọc theo kiểu Hán - Việt là đạo Giatô; gọi theo biệt hiệu phiên âm là Jilisisu (Kilisitu), đọc theo kiểu Hán - Việt là Cơ lợi tư đốc, gọi tắt là đạo Cơ Ðốc; còn ở Việt Nam thì ngay từ buổi đầu đã phiên âm là đạo Khirixitô hay là Kirixitô, gọi tắt là Kitô.

“Ðạo” hay là “tôn(g) giáo”?

Trong truyền thống văn hóa của Trung Hoa không có sẵn từ ngữ nào để phiên dịch cho đúng từ ngữ religion của người Châu Âu. Học giả Léon Vandermeersch, chuyên gia về văn hóa Trung Hoa có viết: “Ngay từ ngữ đó cũng không có trong chữ Hán cổ điển, kiểu nói zong-jiào (tông giáo) là một từ ngữ cũng mới được đặt ra, trong kiểu nói ấy ta chỉ thấy có chữ jiào (giáo là dạy), nhưng nó không phải là từ ngữ riêng về tôn giáo. Còn về những lễ nghi trong Khổng giáo, thì chữ lỉ (lễ) dùng để chỉ nó, lại không thể dùng để chỉ các lễ nghi trong tôn giáo hiểu theo nghĩa của Châu Âu, vì thế cả Phật giáo lẫn Lão giáo cũng đều bỏ, không dùng đến nó” [1].

Tuy là mới được đặt ra nhân dịp tiếp xúc với người Châu Âu, nhưng từ tôn giáo chúng ta dùng đã quá quen rồi, cho nên thiết tưởng không nên thay đổi nữa. Tuy nhiên dùng nó không phải là không có cái bất tiện, bất cập. Thực thế, hiểu theo đúng nghĩa chữ, thì tông giáo có nghĩa là lời dạy (giáo) của ông tổ (tông). Dĩ nhiên là tôn giáo cũng là một di sản văn hóa được truyền lại. Nhưng nghĩa của nó quá rộng, vì bất cứ cái gì được truyền từ đời này sang đời khác đều có thể gọi là tông giáo cả. Cho nên có thể dùng nó để chỉ những cái mà người Châu Âu không gọi là religion. Chẳng lẽ chúng ta coi Phật giáo, Thiên Chúa giáo cũng là một loại như Bạch Liên giáo? Nói cho cùng, chính cái ý niệm tôn giáo đối với người Âu -Mỹ ngày nay cũng rất khó định nghĩa, vì trong định chế tự do tôn giáo, có nhiều người đem vào Âu-Mỹ hay là chế biến ra tại Âu-Mỹ những hệ thống tư tưởng và thực hành, viện cớ là tôn giáo mới, để được tự do truyền bá, tuy nhiều khi người dân Âu-Mỹ cũng khám phá ra trong đó có những điều nhảm nhí, lừa bịp để làm tiền.

Nói tóm lại, dùng từ ngữ tôn giáo chỉ nói lên được rằng đó là một truyền thống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không nói rõ được cái nội dung của những truyền thống ấy.

Trong tiếng Việt bây giờ người ta cũng hay dùng chữ đạo. Tôi nghĩ dùng như thế hay hơn, đúng hơn và giầu ý nghĩa hơn. Chữ đạo mà ta lấy lại của người Trung Hoa, vừa có nghĩa là đường, đường phải đi, lối phải sống, lại vừa có nghĩa là nguyên lí điều hòa vũ trụ, thiên địa nhân. Nó có tính cách thực hành, có liên quan đến hành vi, hạnh kiểm, nếp sống, như người ta nói: sống cho phải đạo.

Trong sách Phép giảng tám ngày, sách trình bày giáo lí của đạo Thiên Chúa, do giáo sĩ Alexandre de Rhodes soạn bằng tiếng Việt viết theo mẫu tự Latinh, có đối chiếu với tiếng Latinh và cho in tại Rôma năm 1651, ta thấy dùng chữ đạo để phiên dịch chữ Iex, nghĩa là lề luật (tiếng Pháp là: Ioi), chứ không phải để phiên dịch chữ religio (tôn giáo). Thực ra chữ Latinh Iex cũng như chữ Hy Lạp nomos đã được dùng để phiên dịch chữ torah trong Thánh Kinh của đạo Do Thái. Torah là bộ luật do giáo tổ Môsê (xưa ta phiên âm là Maisen) ban hành cho dân, để biết cách sống cho phải đạo. Vì Torah là sách chỉ đạo, chỉ cho tín hữu con đường phải theo, nếp sống phải giữ. Chính vì thế mà tôi nghĩ chữ đạo giầu ý nghĩa hơn chữ giáo.

Ðạo Thiên Chúa, đạo Ðức Chúa Trời

Trước khi đạo được truyền sang Việt Nam thì ở bên Trung Hoa các giáo sĩ Tây phương đã phải giải thích đạo của mình thờ vị nào. Họ làm việc một cách đường đường chính chính, viết xong sách thì dâng lên cho vua quan đọc. Khi vua Càn Long nhà Thanh cho làm sổ thư tịch bằng Hán văn ở Trung Quốc, có cho vào sổ đó ba cuốn sách trình bày đạo Thiên Chúa do ba vị giáo sĩ Tây phương soạn thảo [2]. Nhưng muốn gọi cho đích xác vị nào đạo mình thờ thì không dễ gì, vì trong các vị Thần, Thánh, Tiên, Phật được thờ bên Trung Quốc, không thấy có vị nào như thế cả.

Khó gọi tên như thế là vì lấy gốc tích từ đạo Do Thái. Thực thế, dân Do Thái thờ phụng một vị không giống một nhân vật hay sự vật nào trong trời đất này cả. Vì thế không thể gọi tên được, cũng như ta đọc trong Ðạo Ðức kinh của Ðạo gia: “Danh khả danh phi thường danh”. Vì gọi tên ra được, tức là phân loại được, xếp được vào một loại như các nhân vật hay sự vật khác. Ðàng khác, cũng như ở Việt Nam có thói tránh tên huý, cho nên tên viết phải đọc trại đi; cũng thế, mà còn hơn nữa, người Do Thái chỉ viết tên vị đó bằng bốn phụ âm YHWH, mà không viết nguyên âm, vì thế không thể đọc lên được, vì không được phép gọi tên vị đó. Khi quan niệm tôn giáo ấy được truyền vào văn hóa Hy Lạp và Latinh, thì người ta tạm dùng từ ngữ Theos và Deus, có nghĩa là thần linh. Nhưng vì trong hai nền văn hóa đó người ta thờ bách thần, nghĩa là vô số thần linh, cho nên phải nói thêm ra rằng mình chỉ thờ có một thần linh mà thôi còn các thần linh khác thì mình coi là không có, và cũng vì thế người ta viết chữ hoa Theos, Deus, như là tên riêng vậy. Sau này người Châu Âu cũng viết chữ hoa như thế: Deus, Dieu, Dio, Dios, God, Gott, v.v…

Các giáo sĩ Tây phương đã bàn luận rất nhiều để tìm ra tên gọi cho chính danh. Họ đi tới quyết định là không dùng chữ Thiên, không dùng hai chữ Thượng Ðế, để tránh hiểu lầm, mà chỉ dùng hai chữ Thiên Chủ (hay là Thiên địa chân chủ, Chúa thật trời đất). Do đó gọi tên đạo là Thiên chủ giáo. Và vì các giáo sĩ truyền bá Thiên chủ giáo vào thế kỉ XVI và XVII đều thuộc về tông phái “Công giáo”, cho nên người ta cũng dùng những chữ Thiên chủ giáo để chỉ đạo “Công giáo”.

Khi đạo truyền vào Việt Nam, thì tên gọi đã được ấn định, cho nên người ta gọi theo chữ Hán – Việt là Thiên Chủ giáo, Thiên Chủ là Chúa Trời, nhưng người Việt ta đệm chữ Ðức để tỏ lòng cung kính, cũng như ta nói: Ðức Phật, Ðức Khổng Tử, Ðức Thánh Trần, và sau này người Công giáo Việt Nam cũng có cách gọi tên như: Ðức Chúa, Ðức Chúa Bà, Ðức Bà, Ðức Mẹ, Ðức Cha, Ðức Ông, v.v… Vì thế cho nên tên gọi đạo là đạo Ðức Chúa Trời.

Có một điều làm cho tôi hơi thắc mắc: vì sao người mình không đọc theo lối Hán – Việt là Thiên Chủ, mà lại đọc là Thiên Chúa? Tôi xin phép đề nghị một giả thuyết: Ðạo Thiên Chúa được truyền sang đất Ðại Việt vào thời Nam Bắc phân tranh: Ðàng Trong thì có chúa Nguyễn, Ðàng Ngoài thì có vua Lê, chúa Trịnh. Vua thì xưng hiệu là đế, là hoàng đế, còn chúa Nguyễn và chúa Trịnh, thì tuy chỉ có tước vương là vua, nhưng thực có binh quyền trong tay và tự quyết định lấy mọi việc. Vì thế khi nói về chúa Trịnh, các giáo sĩ Tây phương thời đó quen gọi là “le roi du Tonkin”. Biết đâu vì vua là hư vị, còn “Chúa” mới có thực quyền cho nên người ta phiên dịch chữ Deus là Thiên Chúa?

Nói cho đúng thì gọi là Thiên Chúa vẫn chưa đủ ý nghĩa, vì sách vở đời xưa cũng hay dùng kiểu nói Thiên địa chân chủ, Chúa thật trời đất. Nhiều khi lại gọi vắn tắt là Chúa, và để phân biệt được với chúa Trịnh, chúa Nguyễn, thì các giáo sĩ thường đệm từ ngữ Deus, đáng lẽ phải phiên âm là Ðêu, nhưng lại viết theo kiểu người Châu Âu là Dêu, cho nên gọi là Chúa Dêu. Lối phiên âm này có điều bất tiện là: người Hà Nội đọc là Zêu, người miền khác lại đọc là Rêu, Giêu hay là Jêu!

Ðạo Hoa Lang, Ðạo Gia Tô?

Hai tên gọi này đã có từ thế kỉ XVII. Các sách Ðại Việt sử kí toàn thư (ÐVSKTT) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều có nhắc tới.

Về tên gọi Hoa Lang thì ÐVSKTT viết: (1663) Mùa đông tháng 10, cấm người trong nước học đạo Hoa Lang. Trước đây có người nước Hoa Lang vào nước ta, lập đạo lừa phỉnh dân ngu, đàn ông đàn bà ngu dốt nhiều người tin mộ, chỗ nhà giảng người ở hỗn tạp, trai gái không phân biệt. Trước đã đuổi người giảng đạo đi rồi, mà sách vở và nơi giảng hãy còn thói tệ chưa đổi. Ðến nay lại nghiêm cấm” (Q. XIX, Huyền tôn Mục hoàng đế, Cảnh Trị, bản dịch Nxb. KHXH, tập III, tr. 298).

Người Công giáo không chịu nhận tên gọi như thế và đã tìm cách giải thích từ lâu rồi. Tôi xin trưng dẫn ra đây chứng lí được in ra bằng chữ Quốc ngữ lần đầu tiên trong sách Chân đạo yếu lí do giám mục Paul – François Puginier (quen gọi là Ðức Cha Phước), coi sóc địa phận Tây Ðàng Ngoài cho in bằng chữ Quốc ngữ năm 1882, trang 124-125: “Có kẻ quen gọi đạo Thiên Chúa là Hoa Lang đạo; nhưng mà tiếng Hoa Lang có ít người hiểu. Vậy có sách rằng: tên Hoa Lang là tên đặt cho lái buôn kia chở những vóc có hoa như hoa khoai lang, cho nên gọi lái buôn ấy là Hoa Lang. Ðến ngày sau những người giữ đạo Thiên Chúa gọi là Hoa Lang đạo, vì giữ một đạo như lái buôn ấy; nhưng mà trong các sách đạo Thiên Chúa chẳng có dùng tiếng Hoa Lang bao giờ, một dạy kính chuộng một Thiên địa chân chúa trên hết mọi sự và yêu người ta bằng mình ta vậy”. Ðoạn văn đó căn cứ vào bản chữ Nôm in năm 1829, và có sửa ít chút; rồi bản chữ Nôm đó đã lấy lại trong cặp vở ghi chú của giáo sĩ Langlois viết vào cuối thế kỉ XVIII [3].

Trong thiên khảo luận viết bằng tiếng Pháp, nhan đề Truyền thống Việt Nam: Một quốc gia trong lòng văn hóa Trung Hoa, học giả Philippe Langlet viết: “Trong Minh sử, Ngoại quốc truyện, có gọi họ là Hoà Lan; họ là người phương Tây mà dân quê tôi gọi trại đi là Hoa Lang” [4]. Và ông ghi chú rằng đó không thể là Hoà Lan được, nhưng là người Bồ Ðào Nha, căn cứ theo lá thư của giáo sĩ Le Royer viết năm 1714 về vụ cấm đạo năm 1712, như sau: “Cũng như trước đây, sắc lệnh cấm đạo không bao giờ gọi tên là đạo Ðức Chúa Trời, nhưng đã cấm đạo dưới cái tên là đạo Hoa Lang, tức là đạo của người Bồ Ðào Nha” (Lettres édifiantes et curieuses, t. IV, tr. 538b).

Gần đây Alexander Barton Woodside lại đưa ra một lối giải thích khác trong cuốn sách Việt Nam và khuôn mẫu Trung Hoa. Căn cứ vào lối giải thích của một người Thái Lan, là Chule Chakrabongse [5], Woodside viết: “(cũng trong những tài liệu đó), Châu Âu, thường được gọi là Hoa Lang quốc, Hoa Lang là cách người Việt Nam phiên âm tiếng Xiêm farang, từ ngữ dùng để chỉ người da trắng” [6]. Tuy chưa có bằng chứng gì cả, nhưng tôi cũng tự hỏi: biết đâu chữ farang đó lại chẳng phải là từ chữ France (Pha Lang Sa) mà ra?

Còn về tên gọi đạo Gia Tô (cũng viết là Da Tô), thì dễ giải thích hơn. Ðây là lời giải thích trong sách Chân đạo yếu lí đã dẫn trên đây: “Bằng tiếng Da Tô kẻ ghét đạo quen dùng, thật là tiếng vô nghĩa trong nước Annam, vì kẻ đọc tiếng ấy cứ về chữ nho, song người Ðại Minh đọc tiếng ấy là Jêsu, như bổn đạo Annam cũng quen đọc, mà trong các sách đạo đã cắt nghĩa rằng: tiếng Jêsu nghĩa là đấng hay cứu” (tr. 137; bản Nôm năm 1828, tờ 126 a+b).

Như thế cũng đủ rõ là hai tên gọi Hoa Lang và Gia Tô không chỉnh. Có điều là các sắc lệnh cấm đạo thời xưa, và cả bài hịch Bình tây sát tả của Văn thân, thì đều viết bằng Hán văn, cho nên viết và đọc theo giọng Hán –Việt là đạo Gia Tô, chứ có lẽ không biết phải gọi là Giêsu. Về chữ Cơ Ðốc cũng thế, như đã nói trên đây. Ta thấy, viết như người Trung Hoa thì được, nhưng đọc lên theo giọng Hán –Việt thì sai đi nhiều. Ðó cũng là cái tật của người mình khi phiên âm tên ngoại quốc: thay vì phiên âm theo cách đọc của người ta, thì lại bắt chước cách viết của người Trung Quốc, rồi đọc sang giọng Hán – Việt. Ví dụ trước đây thay vì viết tên Rousseau và chỉ cách đọc là Ruxô, thì lại phiên âm là Lư Thoa; thay vì viết Platon và chỉ cách đọc là Pờlatôn, thì lại phiên âm là Bá Lạp Ðồ, v.v...

Vậy nên làm thế nào?

1. Ở Việt Nam người ta quen nói đạo của người Công giáo là đạo Thiên Chúa. Nói như thế đúng nhưng chưa rõ lắm. Thực vậy, các tín đồ của đạo Do Thái, của đạo Giêsu và của đạo Hồi hồi (Islam) đều cùng thờ một Thiên Chúa, một Thiên Ðịa Chân Chúa như nhau, nhưng họ khác nhau về quan niệm và về tương quan với Thiên Chúa, lại khác nhau về lối sống đạo và hành đạo.

Người Do Thái căn cứ vào lịch sử của họ mà tin rằng Thiên Chúa đã chọn riêng dân tộc của họ, chọn giáo tổ của họ là Môsê, cho họ biết dự định của Ngài về họ, và thành lập giao ước với họ, lại dẫn dắt họ trên đường đời. Ðạo của họ, tuy là có nói đến ý định của Thiên Chúa về vận mệnh của các dân tộc khác, nhưng không có tính cách phổ thông, vì dành ưu tiên cho một dân tộc, ít là trong một giai đoạn lịch sử. Cũng như hai tôn giáo sau đây, họ tin rằng Thiên Chúa là siêu việt, khác hẳn mọi vật trong trời đất này.

Còn môn đồ của đức Giêsu, cũng từ đạo Do Thái mà ra, thì tin rằng chính Ngài là hiện thân của Thiên Chúa, để dạy dỗ và để tỏ ra mối tình thân ái đối với nhân loại. Ðó là giao ước mới của Thiên Chúa. Cũng như trong đạo Do Thái, họ tin tưởng rằng Thiên Chúa có tình riêng với nhân loại, chứ không hờ hững bất xét đối với người ta, như thần linh của các tôn giáo khác. Ðạo của Ngài có tính cách phổ thông, vì là đường lối đề nghị cho mọi người, chứ không dành riêng cho một dân tộc nào cả.

Hồi giáo cũng tôn thờ một vị Thiên Chúa như thế, nhưng họ đến sau hai tôn giáo kia, cho nên không cần kinh nghiệm nhiều thế kỉ trong lịch sử, không cần mất nhiều thì giờ, để nhận định là có một Thiên Chúa mà thôi. Nhưng họ không cho rằng Thiên Chúa nói với người ta một cách từ từ, qua những biến cố lịch sử của một dân tộc (Do Thái), hay là qua nếp sống của một nhân vật đặc biệt (Giêsu), mà là nói thẳng ra ngay bằng tiếng Arập cho giáo tổ là Mohammed nghe và cho chép lại thành cuốn Thánh kinh Coran. Ai nấy phải nghe và quy phục. Hồi giáo là đạo phổ thông, nhưng nội dung thì ít hơn đạo Do Thái và đạo Giêsu nhiều, vì Mohammed cho rằng hai đạo ấy quá rườm rà, và ông cho rằng làm như ông là trở về nguồn trong sáng và đơn sơ hơn. Ðại khái là như thế.

Người Công giáo thì theo đạo do Ðức Giêsu lập, tức là theo một trong ba tôn giáo thờ một Thiên Chúa. Cho nên đúng là họ theo đạo Thiên Chúa.

2. Nếu nói thêm ra rằng người Công giáo theo đạo do Ðức Giêsu Kitô (Jésus-Christ), thì cũng đúng nữa, nhưng vẫn chưa rõ lắm, vì Công giáo là một trong mấy tông phái của đạo Giêsu, như tông phái Chính Thống (Orthodoxe), và tông phái Tin Lành (évangélique, protestant). Riêng tông phái Tin Lành, cũng gọi là Canh tân giáo (réformée), trước đây đã chia ra làm nhiều chi nhánh, và ngày nay, nhất là bên Hoa Kỳ lại thêm ra vô số chi nhánh mới, nhiều khi không biết đến nhau và không lâu bền. Vì thế tông phái Tin Lành thấy cần phải thống nhất, và họ đã thiết lập ra Hội đồng Ðại kết. Nhưng thống nhất không phải là dễ, vì có nhiều điểm khác nhau, và ai cũng cho mình là đạo Giêsu chính hiệu.

Vậy phải gọi tên đạo của Ðức Giêsu Kitô thế nào cho đúng?

Theo như lịch sử thì cái tên christianus (chrétiens) và christianismus là tên người ngoại cuộc đặt cho môn đồ của Ðức Giêsu và đạo Ngài dạy, nghĩa là không đặt theo tên vị giáo chủ. Biệt hiệu tiếng Hy Lạp của Ngài là Christos (Christ): nghĩa là đạo do vị Christos (tiếng gốc Hipri là Masia), tức là vị mà Thiên Chúa sai xuống thế gian để cứu độ cho người ta. Như đã nói trên đây, người Trung Quốc phiên âm là Jilisisu hay là Kilisitu, đọc theo giọng Hán-Việt là Cơ lợi tư đốc, gọi tắt là Cơ Ðốc. Cho nên khi gọi đạo Ngài là Cơ Ðốc giáo tức là phiên âm chữ Christianisme. Ngoài ra người Trung Quốc cũng có danh từ Ye su jiào, đạo của Giêsu, nhưng giọng Hán – Việt lại đọc trệch đi là Gia Tô giáo, hay là đạo Gia Tô.

Bên Việt Nam buổi đầu người ta phiên âm chữ Christos là Khirixitô hay là Kirixitô và gần đây là Kitô. Xem chừng người ta đã bắt đầu quen dùng tên gọi đạo Kitô thay vì đạo Kirixitô. Cá nhân tôi thấy nó thế nào ấy, vì đọc lên không thấy có âm hưởng gì cả, lại không thấy giống chữ Christos là bao nhiêu. Có lẽ dùng mãi thì nó cũng quen đi. Nhưng tôi đề nghị nên dùng thêm mấy kiểu nói khác để dịch chữ Christianisme cho rõ ý nghĩa hơn, như: đạo Giêsu, đạo Chúa Giêsu, đạo Chúa Cứu Thế. Ðề nghị như thế là tôi căn cứ vào lời giải thích trong sách giáo lí, sách Bổn cũ, Phần I, đoạn 4: “Hỏi: Giêsu nghĩa là làm sao? Thưa: Nghĩa là đấng hay cứu….”. Như thế dĩ nhiên là bỏ mất chữ Christos, nhưng không thiệt gì cả vì chữ đó là tiếng Hy Lạp dùng để phiên dịch chữ Hipri Masia, có nghĩa là cứu tinh mà Thiên Chúa sai xuống thế gian để cứu độ cho người ta.

Phần Phụ lục: Về nguồn gốc hai chữ “Công giáo”

Cho đến hết thế kỉ XIX, đạo Giêsu Cứu Thế (Gia Tô, Cơ Ðốc) thường bị khó dễ, bắt bớ, cấm cách, vì nội dung của nó không được vua quan cho là hợp với đạo lí. Người theo đạo đã phải ra công minh chứng rằng đạo của mình không có gì là trái với tam cương ngũ thường. Nhưng vào thế kỉ XX, khi mà người theo đạo dùng hai chữ “Công giáo” để chỉ cho đích xác tông phái của mình, thì bị một số người ngoại cuộc hiểu lầm hay là hiểu sai đi, gây ra nhiều xích mích tai hại cho hoà bình. Không biết như thế là vô tình hay cố tình, nhưng những người này cho rằng hai chữ đó nói lên cái tham vọng của người Công giáo muốn đặt tôn giáo của mình lên làm tôn giáo của công quyền, làm tôn giáo của nhà nước, làm quốc giáo, nghĩa là nhà nước có thể dùng công lực và công quyền để bắt buộc mọi người phải theo, và dĩ nhiên là đi tới kì thị tôn giáo. Cái tham vọng đó, xưa nay nhiều tôn giáo đã, đang và còn sẽ thực hiện, nhất là khi người ta không phân biệt tôn giáo với chính trị. Nhưng đó không phải là lập trường của người Công giáo, vì trên bình diện lí thuyết họ đòi phải phân biệt tôn giáo với chính trị.

Thực ra cách đây hơn 60 năm tôi đã nghe một linh mục lão thành nói rằng dùng chữ “Công giáo” thì không chính danh, mà phải dùng hai chữ khác, ví dụ như “Phổ giáo” để nói lên rằng đó là đạo chung đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào.

Sau đây tôi xin nói lên cái nội dung và nguồc gốc của hai chữ “Công giáo”, để tránh những cái hiểu lầm tai hại.

Theo như chỗ hiểu biết của tôi thì trong sách vở của người theo đạo Giêsu Cứu Thế, từ thế kỉ XVII cho đến hết thế kỉ XIX, chưa bao giờ dùng hai chữ “Công giáo”. Mãi đến thế kỉ XX mới dùng, nhưng tôi chưa biết đích xác ai đã bắt đầu dùng ở Việt Nam, dùng từ bao giờ và trong văn kiện nào. Xin để các nhà nghiên cứu có phương tiện tìm giúp.

Như ai nấy đều biết, chữ “Công giáo” bây giờ dùng để dịch chữ “Catholica” (Catholique). Vốn chữ đó là do gốc Hy Lạp: kata = (theo như), holon (= cái toàn thể), dùng để chỉ một trong ba đặc điểm của giáo hội, nghĩa là của cộng đoàn những người theo đạo Giêsu Cứu Thế. Những người đó ý thức được và tuyên xưng (trong kinh Credo, tức là kinh Tin Kính) ra rằng cộng đoàn của họ là cộng đoàn duy nhất (una), không chia ra năm bè bảy phái, thánh thiện (sancta), nghĩa là có mục đích và các phương tiện giúp cho người ta thánh thiện. Còn đặc điểm thứ ba là chữ Catholica trong mấy thế kỉ đầu không tìm ra từ ngữ nào để dịch cho đúng, cho nên người ta chỉ biết lấy lại chữ Catholica rồi giải thích ý nghĩa của nó.

Muốn nói cho đầy đủ cũng cần phải thêm rằng: ngày xưa người ta chưa dùng chữ thánh thiện và chữ giáo hội (hội thánh) [7] để dịch chữ sancta và chữ ecclesia (église, giáo hội). Riêng chữ ecclesia, thì người ta còn phiên âm chữ Igreja từ tiếng Bồ Ðào Nha, thành ra nhiều kiểu.

Xin đơn cử ra đây một vài ví dụ: giáo sĩ Alexandre de Rhodes, trong sách Phép giảng tám ngày (Roma, 1651) thì dùng kiểu nói: “thánh ecclesia” (tr. 136). Trong Sách dạy những phép giúp lễ misa, viết tay tại Cửa Hát năm 1704 (Văn khố Hội thừa sai nước ngoài tại Paris, AMEP, số V – 1099) thì viết là Ighereja. Trong Sách giảng đạo thật viết năm 1785, (AMEP, số 1183) thì nói “thánh Igrêsa catholica”. Còn trong sách Bổn (sách giáo lí) tiếng Việt, có đề tên Latinh là Catechismus annamiticus (AMEP, số V-1092) - có lẽ đã soạn ra vào thế kỉ XVIII - thì viết: “Tôi tin có sangta Igheresa catholica” (tr. 117). Có lẽ Giám mục Bá Ða Lộc (Pierre Pigneaux Béhaine) là người đầu tiên dùng chữ “Hội thánh” thay vì chữ “ecclesia” trong sách Thánh giáo yếu lí Quốc ngữ” [8] (in năm 1774 tại Quảng Châu bằng chữ Nôm, có bản viết tay bằng chữ Quốc ngữ mẫu tự Latinh, AMEP số V-1095, tr. 42), nhưng cũng trong sách đó, trang 64, trong kinh “Tôi tin kính”, lại dùng kiểu nói cũ “Tôi tin có Sancta Ighêleja catholica”. Trong Sách sổ sang chép các việc, viết xong tại Lisboa (Lisbonne, Bồ Ðào Nha) năm 1822 (do Thanh Lãng giới thiệu và Viện đại học Ðà Lạt cho xuất bản năm 1968), thì tác giả Philiphê Bỉnh vẫn còn dùng kiểu nói “thánh Igreja” (tr. 262) và “thánh Igreja catholica” (tr. 194).

Về ý nghĩa chữ “catholica”, thì sách Thánh đạo đại nguyên, in bằng chữ Quốc ngữ tại Làng Sông, gần Quy Nhơn, năm 1907 giải thích như sau: “Chính mình Chúa xuống thế lập một hội chung cho các nước cả và thiên hạ” (tr. 199); Và ngày nay người Công giáo Việt Nam vẫn đọc trong kinh Tin Kính: “Tôi tin có hội thánh hằng có ở khắp thế này”. Những câu mà tôi cho in nghiêng đều chứng tỏ rằng những người đọc kinh như thế không có ý dùng công lực hay công quyền để bắt ép người khác phải theo đạo mình.

Như tôi đã nói trên đây, hai chữ “Công giáo” dùng để dịch chữ “catholica” thực ra không hợp với ý nghĩa của nó cho lắm, lại cũng có thể gây ra hiểu lầm. Nhưng người ta dùng cũng đã quen, cho nên vấn đề là phải giải thích cho người ta hiểu đúng. Nhưng hai chữ đó từ đâu mà ra?

Theo tôi hiểu thì có hai nguyên do đưa tới kiểu nói “Công giáo”.

Thứ nhất là về chữ “giáo”: Theo đúng nghĩa của nó thì tất cả những người theo đạo Giêsu Cứu Thế đều là thành phần của một cộng đoàn catholica, chung cho cả thế giới, không phân biệt quốc gia dân tộc, coi mọi người là anh em, con một Cha chung; vì cộng đoàn không có tính cách thế tục, hơn nữa lại cũng không phân biệt tông phái. Vì thế các tông phái, tuy nhiều khi không tự xưng là catholica, nhưng cùng có niềm tin một cộng đoàn catholica như nhau.

Vào thế kỉ XI vì một vài lí do có tính cách văn hóa và cách thức tổ chức, lại đôi khi có thêm lí do chính trị và kinh tế, hơn là vì lí do đức tin, nên có li khai thành hai tông phái, hai cộng đoàn: người miền Ðông Âu, nói tiếng Hy Lạp, thì tự xưng là “oxthodoxes”, có nghĩa là “chính kiến”, nhưng ta quen gọi là giáo hội “Chính Thống”; còn người miền Tây Âu, nói tiếng Latinh, thì không lấy tên gì khác, cho nên vẫn gọi là giáo hội catholica. Ðến thế kỉ XVI, lại có li khai nữa ở giáo hội Tây Âu: những người ở Bắc Âu đi theo phong trào cải cách của Martin Luther (1483-1546) và của Jean Calvin (1509-1564) thì tự xưng là “Tin Lành” (évangélique), “Cải giáo (réforme) hay là “Chống đối” (protestant, không nên dịch là “thệ phản”). Còn những người miền nam Châu Âu, không chống đối, không li khai với giáo tông, thì không có tên gì khác, cho nên vẫn gọi là giáo hội catholica. Từ đó, giáo hội gọi là catholica, chỉ còn là một tông phái, tuy là cộng đoàn đông người nhất, nhưng không thu họp được tất cả các môn đồ của giáo tổ Giêsu nữa. Những giáo sĩ đầu tiên sang truyền giáo ở Việt Nam đều thuộc về giáo hội catholica cả.

Thêm vào đó chữ catholica, theo lí thuyết phải dùng để chỉ một đặc tính của giáo hội, thì dần dần ở Châu Âu người ta dùng để chỉ tôn giáo. Vì lí do rằng mỗi tông phái trên đây đều cho rằng đường lối của mình là chính đạo. Từ đó, ngay từ bên Châu Âu người ta đã nói đến đạo Chính Thống (religion orthodoxe), đạo Tin Lành (religion protestante) và đạo catholica. Theo như tôi biết thì trong sách vở bằng tiếng Việt có lẽ Philiphê Bỉnh là người đầu tiên dùng kiểu nói “đạo catholica Romana”, “đạo catholica” (Xem Sách sổ sang chép các việc, đã dẫn trên đây, trang 177 và 191). Như thế là ta giải thích được chữ “giáo” trong kiểu nói “Công giáo”.

Thứ hai là về chữ “công”: Chữ catholica trước đây không được phiên dịch ra tiếng Việt, mà chỉ được giải thích là: “hội thánh hằng có ở khắp thế này”. Vì thế tôi nghĩ phải tìm trong sách đạo viết bằng chữ Hán dùng ở Việt Nam. Thực ra các giáo sĩ người Âu, trước khi họ sang Việt Nam, thì thường đã sang Trung Hoa trước, và đem sang bên ta một ít sách chữ Hán cho mình dùng, không những là sách giáo lí mà cả sách chép các kinh nhật tụng nữa. Ðặc biệt nhất là Kinh cầu Ðức Bà bằng chữ Hán, gọi là Kinh cầu chữ, mà trước đây thường đọc trong những ngày giỗ.

Tôi đã may mắn tìm được trong cuốn sách viết tay Bổn Ba Ngôi (AMEP, số V-1100) trang 115, có Kinh Tin Kính phiên âm Hán –Việt. Kinh bắt đầu thế này: “Thần tín tuyền năng giả Thiên Chúa Phatêrê tạo thành thiên địa, v.v…: (= Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, v.v…). Ðến chỗ nói về giáo hội thì phiên âm Hán-Việt là như sau: “Thần tín hữu thánh nhi công Ighêregia”. “Thần tín hữu” là “Tôi tin có”; “thánh” là dịch chữ “sancta” là “thánh thiện”; “nhi” là “mà, mà lại”; còn “Ighêrêgia” là phiên âm chữ “Igreja”, “ecclesia” (église), tức là giáo hội, hội thánh. Riêng chữ “công” ở đây là dịch chữ “catholica”, có nghĩa là (hội thánh) hằng có ở khắp thế này”, như đã giải thích trên đây.

Như thế đã rõ: tông phái catholica theo đường lối nào, theo đạo nào, thì đạo ấy gọi là đạo catholica, tức là đạo chung cho mọi người. Lại vì chữ “công” có nghĩa là “chung”, cho nên người Trung Hoa dịch “catholica” là “công”. Thành ra khi chuyển đặc tính catholica làm đặc tính của đạo, thì dĩ nhiên là người ta dùng hai chữ “Công giáo”. Tôi không biết người đầu tiên dùng hai chữ “Công giáo” có cân nhắc như thế không, nhưng tôi trộm nghĩ đó là cái lí sự làm nền tảng cho cách phiên dịch chữ “religio catholica”.

Vẫn biết là cần phải nói cho chính danh, mới tránh được hành động sai lầm, nhưng tôi nghĩ không nên câu nệ về từ nguyên [9]. Những kiểu nói tuy không hoàn toàn đúng, nhưng dùng đã quá quen, như hai chữ “Công giáo”, thì có lẽ không nên sửa lại nữa, nhưng cần phải giải thích để hiểu cho đúng./.

Trần Văn Toàn, GS. Ðại học Công giáo Lille, Pháp.

www. dunglac.net

--------------------------------------------------------------------------------

[1]“Tradition chinoise et religion”, trong cuốn sách tập thể Catholicisme et sociétés asiatiques, do Alain Forest và Yoschibaru Tsuboi thu thập, Nxb. L’Harmattan, Paris, 1988, tr. 21.

[2]Ba vị đó là Matteo đã viết cuốn Thiên Chủ Thực Nghĩa, Diego de Pantoja đã viết cuốn Thất Khắc (là bảy điều khắc kỉ, lấy bảy nhân đức để khắc phục bảy thói xấu. Sách chữ Hán này đã có dùng tại Việt Nam) và Ferdinand Verbiest đã viết sách trình bày đại cương các tín lí cơ bản của đạo Thiên Chúa. Trong bức thư viết tại Bắc Kinh, ngày 31-7-1778, một giáo sĩ có kể như sau: “Ðiều làm cho chúng tôi thích thú, là trong tủ sách có giá trị đó thì hoàng đế đã cho xếp vào đó ba cuốn sách do các giáo sĩ dòng Tên (tu hội lấy tên đức Giêsu mà gọi) biên soạn”, và ông kết luận: “Ðây là điều tiền hậu bất nhất của con người ta. Người Trung Quốc đem sách của đạo ta vào sổ các sách tốt nhất viết bằng Hán văn, nhưng họ lại bắt bớ cấm cách người theo đạo ta” (trong Nouvelles lettres édifiantes et curieuses, Lyon, 1819, tập XIII, tr. 519-520).

[3]Xem: Archives des Missions étrangéres de Paris (Văn khố Hội Thừa sai nước ngoài tại Paris), tập V-1102.

[4]“La tradition Vietnamienne: un Etat national au sein de la civilisation chinoise”, in trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises (Saigon), bộ mới, tập XLV, số 2+3, 1970, tr. 101.

[5]Xem sách Lords of life: The paternal Monarchy of Bankok, London, 1960, tr. 36.

[6]Vietnam and the Chinese Model, Cambridge (Ma) and London, 1988, tr. 246.

[7]Cũng như bên nhà Phật, cộng đoàn những người đi tu theo Phật pháp gọi là Sâng, người Trung Hoa không dịch, nhưng phiên âm là seng (seng-jia), đọc theo giọng Hán –Việt là tăng (tăng già), nhưng hình như không còn hiểu là cộng đoàn, mà hiểu là cá nhân người đi tu, nghĩa là ông sư (người đi tu ngày xưa tự xưng là bần tăng). Thiết tưởng có lẽ vì thế mà ngày nay khi muốn nói đến cộng đoàn thì bên nhà Phật cũng dùng chữ giáo hội (église) như bên Công giáo.

[8]“Quốc ngữ” ở đây có nghĩa là tiếng nước ta, tiếng Việt, chứ không phải chữ Hán. Vì thế chữ Nôm cũng gọi là chữ Quốc ngữ.

[9]Ví dụ ở Châu Âu ngày nay ai nấy đều dùng Physiologie theo nghĩa là Sinh lí học, mà không xét rằng theo từ nguyên thì nó có nghĩa là Thiên nhiên luận, như triết gia Feuerbach đã dùng. Cũng như hai chữ Hán-Việt phương tiện thì Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1967, định nghĩa là Vật sử dụng để làm một việc gì, để đạt một mục đích; nhưng trong Dictionnaire Chinois-Francais, Bắc Kinh, 1964, lại dịch hai chữ fang biàn (phương tiện) là Commode, Favorable, Commodité, Favoriser; và kiểu nói qù fang biàn (khứ phương tiện) phải hiểu là… đi nhà vệ sinh.

GS. Trần Văn Toàn
Hội nhập và tiếp thu văn hóa - Bàn về việc đạo Thiên Chúa ăn rễ vào đất Việt Nam
Hội nhập và tiếp thu văn hóa - Bàn về việc đạo Thiên Chúa ăn rễ vào đất Việt Nam

Nhân dịp bàn riêng về việc đạo Thiên Chúa ăn rễ vào đất Việt Nam, tôi có ý định là đặt nó vào trong khuôn khổ chung chung của bất kỳ cuộc giao lưu văn hóa nào. Vấn đề chung chung đó là : trao đổi văn hóa bao giờ cũng phải có hai chiều hướng giao thoa với nhau, một bên thì đưa vào, một bên thì nhận lấy, hai bên đối chiếu với nhau theo những điều kiện nhất định. Cũng như muốn trồng cây cho tốt, thì không thể lấy bất cứ thứ cây nào để trồng vào bất cứ thứ đất nào.

Đạo Thiên Chúa không phải là đạo duy nhất có ở Việt Nam, cũng không phải là đạo duy nhất từ ngoài đưa vào và đã ăn rễ trong văn hóa nước ta. Có khác các đạo khác chăng, thì chỉ là vì nó vào nước ta sau các đạo khác. Thực vậy, trong thời Bắc-thuộc, thì Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo đã được truyền bá trong nước với kinh điển bằng chữ Hán; mãi đến thế kỷ XVI hay XVII, khi có lái buôn Au châu sang buôn bán ở Á châu, thì các giáo sĩ đạo Thiên Chúa cũng đi nhờ thuyền buôn sang truyền đạo, giảng và viết sách bằng tiếng Việt. Mãi gần đây mới thấy phát sinh một số tôn giáo mới, căn cứ ít nhiều vào các tôn giáo đã có trước, rồi chế biến ra, với cái ý định là tổng hợp tất cả.

Như thế là đạo Thiên Chúa đã vào Việt Nam được bốn thế kỷ rồi. Đó là sự kiện hiển nhiên, nhưng không được thiên hạ đánh giá theo một lối như nhau. Có người nghĩ rằng đạo ấy đến sau, lại bị kỳ thị, cấm cách ráo riết nhất, mà nay ăn rễ vào Việt Nam được như thế, thì kể là cũng khá, không đến nỗi nào. Người khác cho rằng sau bốn thế kỷ hoạt động mà chỉ thuyết phục được chừng 7 hay 8 phần trăm người Việt, thì có gì là đáng kể. Lại có người cho rằng đạo đó không có lý do gì mà vào Việt Nam cả, vì nó không có gốc rễ ở Việt Nam, lại còn làm tổn hại đến cái đặc tính của dân tộc.

Lối lập luận thứ ba này tựa vào hai ý kiến. Thứ nhất : đưa một tôn giáo vào, tức là đưa một yếu tố mới lạ vào; thứ hai : vào thì tức là động chạm đến dân tộc tính, đến cái đặc tính của dân tộc. Nhưng trong trường hợp này thì cái đân tộc tính lại được quan niệm như là cái bản tính vốn đã có sẵn như thế mãi, không giảm không tăng, bất di bất dịch, mà đặc tính của nó là hoàn toàn Á-đông. Xác định như thế rồi người ta cho rằng nó ngược hẳn lại và chống đối lại tất cả những yếu tố ngoại lai. Nói cụ thể hơn, trước đây có người cho rằng « tam giáo đồng nguyên » hay « tam giáo đồng nhất » đó là cái đặc tính của dân tộc. Gần đây, từ khoảng 40 năm nay, có người đinh ninh rằng Phật giáo là dân tộc. Vấn đề này ta sẽ bàn tới sau.

Trong hai chiều hướng của việc giao lưu văn hóa, thì người « đưa vào » chỉ có thể đưa những cái mình có, và dưới hình thức mình quen biết mà thôi, và người « nhận lấy » lại cũng chỉ có thể nhận lấy theo như hoàn cảnh riêng của mình, nghĩa là, theo như khả năng lĩnh hội của mình, theo như nhu cầu, sở ước, tham vọng và dự định của mình[1].

Việc truyền giáo đã gặp nhiều khó khăn về phương diện văn hóa, cho nên giáo sĩ Au châu tự kiểm thảo và đặt ra vấn đề « hội nhập văn hóa » : làm thế nào mà đưa đạo Thiên Chúa từ văn hóa Tây phương sang văn hóa Đông phương. Từ đó họ tự hỏi phải quan niệm liên quan giữa các tôn giáo trên thế giới như thế nào : các tôn giáo phải chăng là hoàn toàn chống đối nhau ? hay tựu chung cũng chỉ là một, tuy có dậy những điều rất khác nhau ? rồi rốt cục thì phải nhận định rằng có nhiều tôn giáo khác nhau, có bản chất khác nhau, không đồng nguyên, không đồng nhất, cũng không hoàn toàn mâu thuẫn nhau ? Riêng người theo đạo Thiên Chúa, thì tự hỏi phải đứng trong quan điểm nào, lấy đâu làm điểm tựa : lấy giáo hội, lấy Chúa Cứu-thế, lấy Thiên Chúa, hay là lấy Thiên-quốc làm trung tâm điểm[1] ? Vấn đề lại càng khó giải quyết hơn nữa, nếu người ta coi tôn giáo như là những hệ thống bất di bất dịch, mà không xét đến biến chuyển của nó trong lịch sử, không phân biệt vô số các tông phái trong mỗi tôn giáo.

Trở lại vấn đề Việt Nam, đối với những người coi đặc tính dân tộc như là một hệ thống Á-đông hoàn toàn khép kín, thì có hai yếu tố văn hóa từ Tây phương xâm nhập – tôi không nói là du nhập – vào nước ta và làm tổn thương đến đặc tính dân tộc, đó là chế độ cộng sản và đạo Thiên Chúa. Có điều là cả người cộng sản lẫn người công giáo đều cho mình là người Việt, duy trì dân tộc tính. Riêng người cộng sản còn có tham vọng là đại diện cho dân tộc, bằng cách vừa đánh đuổi đế quốc ngoại xâm, vừa đánh đổ phong kiến trong nước, đồng thời chống lại tất cả những ai dùng tôn giáo làm lợi khí chính trị.

Có lẽ vì sợ rằng thiên hạ loại mình ra ngoài dân tộc Việt Nam, cho nên một số người công giáo từ ít lâu nay đã nêu cao chiêu bài « công giáo và dân tộc ». Khi mình là thiểu số mà sợ người ta kỳ thị như thế cũng không phải là không có lý do, trong khi nghe rêu rao một cách chung chung, vơ đũa cả nắm, rằng đi đạo là theo Tây, rằng Phật giáo là dân tộc cho nên bao giờ cũng trung thành với dân tộc, v.v. Sau năm 1975, các di-tích về Alexandre de Rhodes đã bị hạ bệ, nhưng gần đây, người ta xét lại và lại nhắc đến những người Tây có công đối với văn hóa Việt Nam, như giáo sĩ de Rhodes, bác sĩ Yersin và Pasteur.

Nếu đạo Thiên Chúa khó ăn rễ vào Việt Nam thì, ngoài lý do văn hóa dị biệt còn có mấy lý do khác nữa : đạo đó đến muộn, lại không đi vào chốn vườn hoang mà là đi vào một mảnh đất từ lâu đã có quá nhiều tôn giáo.

Những suy nghĩ trong bài này chia làm hai phần : một phần trước nói chung về thể thức trao đổi văn hóa, còn phần sau nói riêng về trường hợp đạo Thiên Chúa đi vào Việt Nam.

Về thể thức trao đổi văn hóa

11- Khủng hoảng trong truyền thống văn hóa

Khi xã hội khép kín, không có liên lạc với bên ngoài, thì người ta đóng cửa dậy nhau, những điều sở đắc về kỷ thuật, về tư tưởng cũng như về luân thường đạo lý được lưu truyền dễ dàng, bộ mặt xã hội cứ như thế, cha truyền con nối, không có tiến cũng không có lùi. Ngày nay nhiều người than phiền rằng cha nói con không nghe, ông thầy răn bảo học trò chẳng chịu vâng, phép nước thì người dân vi phạm một cách rất tự nhiên; rồi nhất là ở Tây phương có những nhóm người tự tiện làm những việc lạ đời, bất kể đến người khác, viện cớ là mình tranh đấu cho tự do cá nhân, cho nhân quyền. Kết quả là xã hội thành ra lộn xộn mất trật tự. Tình trạng khủng hoảng không phân biệt phải trái đó đã làm mất tiêu chuẩn trong ba phạm vi : phạm vi tư tưởng về vũ trụ quan và nhân sinh quan, phạm vi hành động đạo đức phân biệt thiện ác, và phạm vi tôn giáo liên can đến ý nghĩa cuối cùng của đời người.

Tình trạng đó ở Au Mỹ có ba nguồn gốc : một là con người cá nhân được tôn trọng là nhân vị có phẩm giá mà xã hội hay tập đoàn phải kính nể; hai là xã hội đã được tục hóa, tôn giáo không còn làm mưa làm gió trong các phạm vi đã tự lập, như triết học, khoa học, luân lý, chính trị, v.v.; ba là trong cuộc giao lưu văn hóa càng ngày càng rộng người ta nhận định ra rằng cả văn hóa lẫn tôn giáo đều là đa dạng đa nguyên. Chính vì cá nhân muốn tự mình định đoạt lấy cho mình mà không tựa vào người khác, đồng thời lại có nhiều đường lối có thể lựa chọn, tuy mình không hiểu rõ ngành ngọn, cho nên cái gì cũng bấp bênh; thế rồi có một số người manh tâm lợi dụng tình trạng đó để làm giầu và chuyển những người yếu thế thành ra nô lệ của họ. Tình trạng đó cũng bắt đầu lan tràn đến các nước ở ngoài Au Mỹ, xưa nay vẫn không phân biệt tôn giáo với chính trị và văn hóa.

Những người từ những nước đó di cư sang các nước Au Mỹ, vừa sống ngoài khung cảnh quen thuộc cũ, lại vừa sống trong xã hội mới như người ngoại cuộc, cho nên cũng bị khủng hoảng tinh thần, không nhận ra được mình là ai và sống trong cộng đoàn nào. Muốn tránh cái tình trạng con thuyền mất bánh lái, người ta tìm cách tụ họp lại sống riêng rẽ với người đồng hương, bám víu vào tập tục cổ truyền, tác tạo lại khung cảnh cũ, với trật tự xã hội cũ, núp bóng và tuân lệnh những ông thầy, ông đạo, ông chủ phong kiến cũ, mà trước đó họ coi thường. Cái kết quả bất ngờ là nhiều người Âu Mỹ ngày nay tự cho mình là đã thoát ly, sinh ra phê bình và phế bỏ cái truyền thống tôn giáo mà họ chỉ còn biết lờ mờ, đồng thời lại ra vẻ cởi mở, đón nhận – nhưng không lâu bền – tất cả những gì do người di cư đưa đến. Thấy thế, những người di cư không hiểu rõ tình trạng người Au Mỹ lại cho rằng tôn giáo của mình như thế là hay hơn cả.

12- Tình trạng Á châu khi người Âu châu đến truyền đạo

Trước đây năm, sáu thế kỷ, khi các giáo sĩ Tây phương sang truyền đạo, thì xã hội Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam chưa biết đến cái khủng hoảng ta vừa nói trên đây.

Thực vậy, lúc đó xã hội chưa có tục hóa, tôn giáo chưa có tách rời ra ngoài các hoạt động văn hóa khác. Cho nên không có từ ngữ riêng để chỉ cái mà người Au châu gọi là « religion ». Muốn dịch từ ngữ đó, người ta chắp nối chữ « tông » là « ông kế vị ông tổ » với chữ « giáo » là « dậy », thành ra « tông giáo », cũng đọc là « tôn giáo ». Phiên dịch như thế tức là chỉ nói lên cách thức truyền đạt (những điều tổ tông truyền lại), chứ không nói đến nội dung của tôn giáo. Người ta còn dùng chữ « đạo » là « đường », nhưng nghĩa chữ vẫn chưa rõ. Thời đó nhà vua thường kiểm soát tất cả các hoạt động tôn giáo, bằng cách mở khoa thi tam giáo, cấp phát độ diệp, ruộng đất, tiền nong và người làm cho các chùa quán. Vì có nhà vua giúp đơ, cho nên Phật giáo đã đi sâu vào văn hóa Việt Nam. Riêng các thứ thần trong dân gian thì nhà vua cho kiểm soát sự tích, chỉ những vị nào được sắc phong mới được thờ. Trong hoàn cảnh đó, một tôn giáo mới từ ngoài đưa vào, như đạo Thiên Chúa, chưa được vua quan nào kiểm soát và ưng chuẩn, thì dĩ nhiên dân chúng không được theo. Tuy vậy đã có lúc hoàng đế nhà Thanh bên Trung quốc hay vua chúa Việt Nam cho phép truyền đạo, nhưng không được lâu.

Hơn nữa, cá nhân còn chìm trong tập thể, chưa có vị trí tự lập, tư tưởng và hành động đều phải theo như quyền trên, nhà vua hay là gia đình, quyết định. Trong hoàn cảnh đó, ai có ý định cải giáo, muốn đi theo đạo do người Tây phương giảng, thì bị coi là loài « vô quân vô phụ », không biết trung với vua hiếu với cha mẹ. Đó là một quyết định liều lĩnh và có thể nguy hại, như ai nấy đều biết.

Thực ra, trước khi người Au châu sang truyền đạo, thì người Việt Nam chưa bao giờ ở trong cái thế phải tự mình lựa chọn một cách nguy hiểm như thế. Ai cũng biết là, trừ đạo thờ Mẫu và tứ phủ công đồng ra, thì tam giáo, nghĩa là Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo, đều là đạo từ ngoại quốc đưa vào, kinh sách đều bằng chữ Hán cả. Dân chúng đi theo một cách rất tự nhiên, không có ai đặt vấn nạn gì cả. Lý do là vì nhà vua đã theo, đã cực lực giúp đỡ, nhất là dưới các triều Lý, Trần. Thành ra ai cũng đinh ninh đó là thành phần của dân tộc tính.

Trong hoàn cảnh đó, ít ai dám đi ra ngoài con đường chung, để theo con đường người ngoại tộc. Người ta tìm cách giải thích vì sao đã có người dám làm như thế. Nếu là người dân thường ít học, thì người ta cho là vì ngu dốt nên mới theo cái thứ đạo dành cho « ngu phu ngu phụ », hoặc là vì lợi, « đi đạo kiếm gạo mà ăn ». Nếu là người có học, đã biết chữ thánh hiền, thì người ta cho là đồ bất trung hay là phường phản trắc. Sử gia người Nhật bản là Yoshiharu Tsuboi (Bình Tỉnh Thiện Minh) cho rằng những người cải giáo như thế là vì muốn được thăng tiến thành đạt trong khi họ bị bế tắc trong xã hội Việt Nam cũ[1].

Nói tóm lại, người Việt Nam thời xưa theo đạo từ Âu châu đưa sang, đó là một việc nghiêm trọng, chứ không có dễ dàng như người Au châu bây giờ theo các đạo từ Á châu và Mỹ châu đưa tới. Vì lẽ các điều kiện xã hội và văn hóa đã thay đổi rất nhiều.

13- Tầm quan trọng của công việc phiên dịch

Trong cuộc giao lưu văn hóa giai đoạn thứ nhất là việc phiên dịch. Có phiên dịch ta mới hiểu được bằng tiếng ta cái mà người đối diện nói bằng tiếng của họ. Đó là điều quá hiển nhiên cho nên ít khi ta để ý đến tầm quan trọng và nhất là những cái khó khăn của nó. Khó khăn, một là vì ý nghĩa của các từ ngữ từ tiếng này dịch sang tiếng khác thì thường không đúng hẳn, hai là vì mỗi ngôn ngữ có văn phạm riêng, có cách tổ chức tư tưởng riêng, sinh ra lối quan niệm riêng. Thực vậy, ngôn ngữ không phải là cái áo mà ta có thể thay đổi tùy tiện để mặc cho tư tưởng. Ngôn ngữ không phải là bản chép hay là phản ảnh của thực tại, nhưng nó là cái gắn liền với tư tưởng để định hình và tổ chức cho thực tại đang xuất hiện trước mắt ta.

Những từ ngữ ta dùng để gọi tên sự vật hay để chỉ những hành động của ta, thì thực ra công dụng của nó là định giới hạn cho một mảnh thực tại mà ta muốn nói đến, để cho người nghe nhận ra ta nói gì. Nhưng các mảnh thực tại lại không được các ngôn ngữ trên quả đất này định giới hạn theo một kiểu như nhau. Nói cho đúng thì giới hạn những sự vật có hình sắc, ta có thể xác định một cách khá dễ dàng, cho nên có chuyển từ tiếng này sang tiếng khác cũng không đến nỗi trệch đi nhiều. Nhưng trong việc định giới hạn cho những cái vô hình sắc, như tâm tình, tư tưởng, cảm giác, thì người ta khó đồng ý với nhau. Ví dụ làm thế nào mà chúng ta hoàn toàn đồng ý xác định ý nghĩa khác nhau của những chữ như « thương » và « yêu », « xao xuyến » và « bồi hồi ». Ai cũng biết là những từ ngữ chuyên môn trong khoa tâm lý học, trong tôn giáo, rất khó định nghĩa; rồi khi nói lên chưa chắc người nghe đã hiểu đúng như mình hiểu.

Đã thế, mỗi từ ngữ ta dùng, thì ngoài nghĩa đen của nó ra lại còn có nhiều nghĩa khác tùy theo phạm vi sử dụng. Thêm vào đó thì văn phạm của các ngôn ngữ, thứ tự các từ ngữ trong câu nói cũng khác nhau, làm cho ta nhìn thực tại theo nhiều trật tự khác nhau. Nói rõ hơn, khi ta sử dụng nhiều ngôn ngữ, ta không cảm nghiệm, không quan niệm và không diễn tả thực tại theo một kiểu như nhau. Nói lên bằng ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác thì tư tưởng có khác đi phần nào.

Chưa hết. Ngôn ngữ có nhiều công dụng, người nói có nhiều dụng ý : ta có thể nói lên để quả quyết sự thực, để hứa hẹn, để hỏi, để xin, để chửi rủa, để nịnh hót, để khiêu khích, để tán tỉnh, và để nói dối, đánh lừa, v.v. Như ta thường nói : Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo. Khi nghe một câu phiên dịch ra tiếng ta, ta hiểu các từ ngữ theo kiểu ta, tùy theo hoàn cảnh văn hóa lịch sử của ta, tùy theo cái sở ước, cái tham vọng, cái dự định của ta, cho nên chưa hẳn là hoàn toàn đúng ý người nói.

Phiên dịch thật là một việc khó. Người Ý có kiểu nói chơi chữ : Traduttore traditore, nghĩa là :phiên dịch là phản bội, vì bản văn phiên dịch thường trệch đi ít nhiều. Ví dụ dịch kinh Phật từ tiếng An độ sang chữ Hán, hay dịch Thánh Kinh đạo Thiên Chúa sang tiếng La tinh hay tiếng Việt, thì ý nghĩa của từ ngữ được chuyển vào một ngôn ngữ mới, một văn hóa mới, cũng có sắc thái mới, cho nên đường lối tư tưởng có khác đi, hoặc ít hoặc nhiều, mà không ai tránh được. Vì thế có những tôn giáo như Hồi giáo đòi tín hữu phải đọc kinh Coran bằng tiếng A rập, sợ rằng phiên dịch thì làm sai đi. Thực ra, có giữ được chính văn thì người nghe cũng có thể hiểu trệch đi. Còn đạo Thiên Chúa thì « khởi đầu là phiên dịch », vì Thánh Kinh Tân Ước được viết bằng tiếng Hi lạp, chứ không viết bằng tiếng A-ram là tiếng nói của vị giáo tổ Giê-su.

Tuy vậy trong việc giao lưu văn hóa, cũng như trong việc truyền giáo, không thể không có phiên dịch. Ta có thể chắc một điều : không phiên dịch là có ý định đồng hóa, phiên dịch là có ý định trao đổi, đối thoại. Phiên dịch tức là muốn chia sẻ với người khác những kinh nghiệm tôn giáo của mình, để người nghe tham gia vào đó theo như tình trạng văn hóa của họ. Ngôn ngữ dị biệt có thể làm cho người ta hiểu trệch đi, nếu hiểu sai, thì mình phải tìm cách sửa sai, nếu hiểu không sai thì lại có thể làm giầu cho những tư tưởng mình muốn truyền thông. Chính vì đã đi vào nhiều văn hóa cho nên cái vốn riêng của đạo Thiên Chúa đã được phát triển và trở nên phong phú. Cho nên phiên dịch cũng là bước đầu của công việc trao đổi và hội nhập vào văn hóa.

14- Những thể thức truyền thông tư tưởng

Ở đây xin trình bầy vắn tắt mấy thể thức truyền thông tư tưởng.

Về những tư tưởng, những chân lý khách quan, như khoa học và kỹ thuật thì lối truyền thông là minh chứng (démonstration), như trong khoa toán pháp, và kiểm chứng (vérification), như trong các khoa học thực nghiệm. Những chân lý khách quan đó có tính cách phổ thông, nó là của mọi người, chứ không phải là của riêng ai; cho nên có lẽ không có ai hi sinh mạng sống của mình để chứng thực cho một chân lý như « hai với hai là bốn ». Còn loại chân lý về đạo đức, về tôn giáo, làm cho đời người có ý nghĩa – ta có thể kể thêm vào đó những sự kiện lịch sử – thì không minh chứng, không kiểm chứng được, cho nên chỉ có cách là chứng thực (attestation). Phiền một nỗi là người ta vừa có thể làm chứng cho sự thực, vừa có thể vì tư lợi mà làm chứng gian, để lừa dối, quyến rũ, lợi dụng quần chúng. Cho nên trong phạm vi này người làm chứng cho sự thực nhiều khi phải dám hi sinh mạng sống của mình cho chân lý, vì thấy rằng bỏ chân lý đó thì cũng như là bỏ cái ý nghĩa đời sống của mình đi.

Về việc chấp nhận chân lý, khi cá nhân chưa trưởng thành chưa tự lập để quyết định lấy cho mình, thì thường theo như người có uy quyền định đoạt. Nhà vua hay là cấp lãnh đạo bảo sao thì nghe vậy, thấy nhà vua theo đạo nào, ưu đãi đạo nào, thì cũng theo đạo ấy, thấy người chung quanh làm thế nào thì cũng làm thế ấy. Vì thế tôn giáo nào muốn bành trướng thì cũng tìm cách thuyết phục giai cấp lãnh đạo trước rồi mới giảng giải cho dân chúng sau. Có người còn muốn nắm lấy chính quyền để làm cho đạo mình thành quốc giáo, đồng thời chèn ép các đạo khác. Đạo Thiên Chúa được đưa vào Việt Nam cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, được giảng thẳng cho dân chúng bằng tiếng Việt, tuy vậy cũng tìm cách dùng sách đạo chữ Hán, chữ Nôm, để thuyết phục giai cấp Nho gia đang lãnh đạo đất nước, để chia sẻ niềm tin mà mình cho là hợp lý hợp tình. Cũng như trước đó đạo Phật đem Phật pháp làm thuốc cứu khổ, nhằm giúp cho người đời thoát ra khỏi vòng sinh tử.

Mấy vấn đề về việc đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam

20- Nhận xét tổng quát

Đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam không phải là một phong trào do nhà vua khởi xướng, hay là do giai cấp lãnh đạo cổ võ. Đôi khi nhà vua hay nhà chúa cho phép giáo sĩ Tây phương giảng đạo, nhưng thời gian đó không lâu, vả lại cũng không phải là vì các vị đó tin theo. Vị nào có cảm tình lắm thì bằng lòng để cho phi tần và các công chúa nhập đạo. Thỉnh thoảng cũng có một vài ông hoàng nhập đạo, nhưng thuộc về hàng thứ, không cầm quyền trị nước. Thường thì giới có quyền thế hoặc là dửng dưng, hoặc là nghi kỵ. Ay là không nói đến thế kỷ XIX với những cuộc cấm cách, bắt bớ một cách không thương tiếc, do nhà vua, rồi do một số Nho sĩ tổ chức.

Những người chống lại đạo Thiên Chúa thường nghĩ rằng đạo ấy là đạo của người Tây phương, làm hư hại đến thuần phong mỹ tục. Nhưng các giáo sĩ Tây phương thì lại nghĩ rằng đó là đạo chung cho cả nhân loại chứ không riêng cho dân tộc nào cả, và vì thế họ muốn chia sẻ với người Việt. Để trả lời cho vấn nạn trên đây, họ nhắc lại ba điều này : a) tam giáo mà người Việt cho là của mình thì thực ra là những tôn giáo từ Trung quốc và An độ truyền vào; b) nếu tổ tiên người Việt xưa kia đã từng đi theo tam giáo thì là vì thấy tam giáo có điều hay hơn là những tín ngưỡng do ông cha họ truyền lại, và nếu tổ tiên được sớm biết đạo Thiên Chúa thì chắc là sẽ chịu theo, cho nên nếu bây giờ ta theo đạo Thiên Chúa thì tức là ta làm theo sở ước của tổ tiên. Nói thế khác : không nên coi cái dân tộc tính như là một bản tính khép kín, bất di bất dịch, nhưng là một cái vốn mà chúng ta có thể làm giầu thêm; c) những người Việt theo đạo Thiên Chúa vẫn giữ được trung thành tam cương ngũ thường đang định hình cho thuần phong mỹ tục của nước ta.

Tuy vậy dù có nhấp nhận ba điều đó, người ta vẫn còn đưa thêm ra hai vấn nạn khác :

Đạo Thiên Chúa thiếu thái độ khoan dung, cho rằng chỉ có mình là phải

Lập luận là như sau : người Việt vốn có bản tính khoan dung, chấp nhận tất cả mọi tín ngưỡng, vì thế đã đón nhận Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo từ ngoại quốc truyền vào. Nếu có lôi thôi với đạo Thiên Chúa thì là vì đạo này thiếu khoan dung, không chấp nhận các đạo khác.

Lập luận đó đúng ở chỗ là ở Việt Nam có nhiều tôn giáo, đó là xét một các trừu tượng, tổng quát mà thôi; nhưng cũng nên xét thêm rằng không phải vì thế mà các tôn giáo không có dạy gì mâu thuẫn với nhau. Chính vì các tôn giáo cổ truyền có những điều khác nhau, và có khi mâu thuẫn nhau nữa, cho nên nếu nhận cái này thì phải bỏ cái khác. Chứ cái gì cũng cho là phải cả, thì chẳng hóa ra là mình chọn lập trường « ông ba phải », nghĩa là thiếu lập trường, đi theo cơ hội chủ nghĩa ?

Thực tế ở Việt Nam không đơn sơ như thế. Trong dân gian còn ít học thì người ta cho rằng đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành, nhưng khi thực hành thì cá nhân ai nấy tùy nghi, lấy ra cho mình từ trong kho tàng tôn giáo đã có sẵn, bên này một tí, bên kia một tí. Còn những người am tường đạo giáo thì khác : chính quyền theo Nho giáo thì cho rằng đạo lý của thầy Khổng mới là chính đạo, các đạo khác là tả đạo; bên nhà Phật cũng cho rằng Phật pháp mới là chính kiến, ai theo lối khác tức là còn « vô minh », chưa « giác ngộ ». Như thế là thật có lập trường, chứ không phải là thiếu khoan dung. Và đó cũng là thái độ người theo đạo Thiên Chúa. Chỉ khi nào người ta dùng áp lực, dùng võ lực để bó buộc người khác theo lập trường của mình, mới là thiếu khoan dung mà thôi.

Đạo Thiên Chúa không có tính chất Việt Nam

Về điểm này người ta nhận định rằng đạo lý, lễ nghi và nếp sống của người theo đạo Thiên Chúa xem ra không hợp với tập tục và tinh thần người Việt. Tuy vậy không nên nói một cách tổng quát, không đúng sự thực, vì nói như thế là không nhắc đến những điểm tương đồng. Đàng khác cần phải nhận định thêm rằng nếp sống của người Việt đã thay đổi nhiều từ khi tam giáo được truyền vào, và nhất là từ khi tiếp xúc, giao lưu văn hóa với Tây phương.

Thực tế ngày nay làm cho ta tương đối hóa được vấn nạn trên đây. Quả thế, ngày nay đạo Phật cũng như Hồi giáo được đem sang Au Mỹ truyền bá, với đường lối tư tưởng, nếp sống, lễ nghi và y phục không có vẻ gì là Au Mỹ cả; nhưng có sao đâu, thiên hạ coi như thế là dĩ nhiên, chứ có ai xét nét đặt vần đề hội nhập văn hóa như đối với đạo Thiên Chúa đâu. Hơn nữa cũng nên nhắc lại rằng các giáo sĩ Tây phương sang truyền giáo ở Á châu vào thế kỷ XVI, XVII, thường tìm cách thích nghi, may áo mặc và dùng từ ngữ như nhà Phật, rồi như nhà Nho; bên Việt Nam các linh mục trước đây bận áo khẩu và đội khăn lượt, sau đó bận áo chùng thâm, dùng mầu đen để phân biệt được với mầu nâu của các nhà tu bên Phật. Rồi khi được xây nhà thờ mà không bị nguy hiểm, thì xây theo kiểu Á châu, ví dụ như nhà thờ Phát diệm. Các nhà thờ theo kiểu Tây thường là do các giáo sĩ Tây phương xây cất sau này, vào lúc chính quyền thuộc địa đã đặt chân trên nước ta, và đang cổ võ cho người mình học lấy văn hóa Pháp. Dù sao có thể nói những cố gắng hội nhập văn hóa đó vẫn còn là ở chỗ « bì phu chi ngoại ».

Vấn nạn đi sâu hơn, khi người ta trách rằng, thay vì làm cho đạo Thiên Chúa có tính cách Việt Nam thì các nhà truyền giáo lại cho người Việt một thứ đạo Thiên Chúa có tính cách Tây phương, từ đường lối tư tưởng, lễ nghi, cho đến tổ chức. Có như thế thực, nhưng ta cũng nên chú ý rằng có một số yếu tố có vẻ Tây đó lại được các tôn giáo khác chiếu cố và mượn lại để làm giầu cho mình, như : lễ cưới trong chùa, nha tuyên úy quân đội, tổ chức giáo hội bên Cao Đài; thêm vào đó thì một số từ ngữ do người theo đạo Thiên Chúa đặt ra cũng được đưa vào kho văn hóa chung, như : từ ngữ « ngôi » để dịch chữ « personne », từ ngữ « giáo hội », v.v. Những yếu tố đó cũng vẫn chỉ là yếu tố bên ngoài, có thể di cư sang đạo khác cũng không sao. Có điều là ý nghĩa có thể khác đi nhiều tùy hệ thống tôn giáo.

Lại có người cho rằng đáng lẽ các nhà truyền giáo chỉ nên đem cái tinh túy của tôn giáo để truyền vào Việt Nam, chứ không nên đem cái vỏ bề ngoài, quá tùy thuộc vào văn hóa Au châu. Nói như thế tức là chủ trương rằng cái nhân bên trong mới là quan trọng, còn cái vỏ bên ngoài thì như cái áo mình có thể thay đổi thế nào cũng được. Có điều là cái nhân bên trong đó là yếu tố vô hình sắc, cho nên nó phải được thực hiện trong những cơ cấu có hình sắc mới thành ra thiết thực. Muốn bỏ hết những cái hình sắc để tìm lấy cái nhân vô hình sắc thì cũng như bóc vỏ củ hành để tìm cái nhân của nó ! Vì thế truyền bá một tôn giáo bao giờ cũng có bao gồm một cuộc trao đổi văn hóa. Ví dụ khi Phật giáo truyền vào nước ta thì cũng đem theo nhiều yếu tố văn hóa của An độ và của Trung quốc.

Bây giờ ta trở lại vấn đề đạo Thiên Chúa đi vào Việt Nam. Tôi xin đề cập vấn đề theo hai chiều hướng ngược nhau, nhưng lại bổ túc cho nhau : một là từ phía các nhà truyền giáo, hai là từ phía người đón nhận.

21- Từ phía người truyền giáo

Các nhà truyền giáo Tây phương có dự định chia sẻ với người mình niềm tin làm cho họ sống có ý nghĩa. Nhưng, như vừa nói trên đây, họ chỉ có thể đem sang bên ta cái hình thức đạo Thiên Chúa đã được kết cấu bên Au châu. Vì thế ngườiViệt ta thường nghĩ đó là đạo của người Tây.

Thực ra đạo ấy đã phát xuất từ miền cực tây châu Á, nhưng trong thời kỳ miền đó nằm trong vùng chiếm đóng của đế quốc Hi lạp, rồi Rô-ma. Cho nên ngay từ đầu kinh điển đã được viết bằnh tiếng Hi lạp, và truyền bá trong đế quốc Rô-ma lúc đó đã thôn tính cả đế quốc Hi lạp. Thế rồi người Au châu đã thừa tự văn hóa Hi lạp và Rô-ma cũng thâu nhận cả đạo Thiên Chúa. Trong 16 thế kỷ người Au châu đã thành lập nên nhiều quốc gia, và phát triển đạo Thiên Chúa, đồng thời cũng chia nhiều tông phái. Một là phát triển thành một hệ thống bao trùm tất cả nhân sinh, đi từ một nền luân lý, một bộ nghi lễ, một bộ giáo luật và một hệ thống tư tưởng thần học, tựa vào triết học và văn hóa đã kiến tạo nên. Hai là đã chia thành nhiều tông phái tùy theo văn hóa và tổ chức chính trị của những quốc gia chủ yếu. Tông phái có liên quan đến việc truyền giáo vào thế kỷ XVI và XVII là tông phái công giáo (catholique) do giáo tông tòa Rô-ma lãnh đạo. Tông phái chính thống (orthodoxe) ở Đông Au không có liên lạc với ta, còn tông phái Tin lành (protestant) ở miền Bắc Au và Bắc Mỹ thì sang miền Đông Á muộn hơn.

Các nhà truyền giáo vào Việt Nam – và mấy nước chung quanh – không phải là đi vào chốn vườn hoang, nhưng vào một nước đã có văn hiến, tổ chức theo một chính quyền tập trung, không phân biệt tôn giáo và chính trị, trong đó đã có sẵn nhiều tôn giáo. Vấn đề không phải là tìm cách tiêu diệt tất cả : họ vừa không có sứ mệnh, vừa không có phương tiện làm việc đó. Vấn đề là tìm đất tốt để trồng vào đó đạo Thiên Chúa. Vì thế phải tìm hiểu để phân biệt đâu là những yếu tố đi ngược lại đạo để mà tránh, đâu là những yếu tố thích hợp với đạo để tiện bề phát triển.

211- Công việc dự bị

Học tiếng Việt

Công việc đầu tiên là học nói tiếng Việt để giảng giải giáo lý. Nói ra như thế có vẻ là thừa, nhưng không phải ai cũng nghĩ như thế. Ta biết : Hồi giáo thì đòi tín hữu đọc kinh Coran bằng tiếng A rập, tam giáo ở bên ta thì kinh điển bằng chữ Hán vẫn để nhiều thế kỷ không dịch ra tiếng ta. Còn các giáo sĩ Tây phương thì ngay thế kỷ XVI đã học tiếng Việt để nói với người dân. Girolamo Maiorica đã cộng tác với người Việt mới theo đạo để soạn sách vở bằng chữ Nôm cho người mình đọc, Alexandre de Rhodes thì cho in ở Roma năm 1651 một cuốn sách giáo lý bằng tiếng La tinh và tiếng Việt Nam viết theo mẫu tự La tinh để các giáo sĩ có thể vừa đọc vừa học tiếng Việt với nhau. Về sau này cách viết này được gọi là chữ quốc ngư. Ngoài ra de Rhodes còn cho in mấy cuốn sách về ngữ học Việ Nam và, năm 1651, một cuốn tự điển Việt nam-La tinh-Bồ đào nha.

Tìm hiểu văn hóa

Công việc thứ hai là tìm hiểu phong tục tập quán, lịch sử và tôn giáo Việt Nam. Dĩ nhiên là công việc này phải nhờ người Việt giúp đỡ. Chỉ cần nhắc qua rằng trong thế kỷ XVII đã có mấy giáo sĩ dòng Tên [1], như Marini, de Rhodes, Tissanier và Borri, đã cho in tại Au châu mấy cuốn sách về phong tục, lịch sử và tôn giáo Việt Nam. Vào quãng giữa thế kỷ XVIII thì các giáo sĩ người Ý, thuộc một hội khổ-tu không đi giầy, gọi là dòng thánh Augustinô, đã soạn ra hai cuốn sách viết tay, tổng hợp về tôn giáo Việt Nam[1].

Vấn đề phiên dịch các khái niệm công giáo

Công việc thứ ba, gắn liền với việc học tiếng Việt, đó là việc lựa chọn các từ ngữ và các kiểu nói để chuyển sang tiếng Việt những quan niệm từ ngoài đưa vào và chưa có sẵn trong tiếng Việt, ví dụ như : Thiên Cúa là siêu việt, Thiên Chúa tạo thiên lập địa, Thiên Chúa nhất thể tam vị (một Chúa ba Ngôi), v.v. Đây là vấn đề thật là khó khăn. Phải có công tác nhặt chẽ giữa nhà truyền giáo và các nhà Nho mới theo đạo, mới có thể cân nhắc từng chữ để phiên dịch mà vẫn giữ được đúng ý. Nhiều khi không tìm ngay ra được từ ngữ dịch đúng ý, cho nên phải phiên âm từ tiếng Bồ đào nha rồi giải thích ý nghĩa. Rồi đến giai đoạn sau là tìm cách chế biến từ ngữ mới, và dần dần tu chỉnh lại[1].

Nên nói thêm rằng đó là công việc rất quan trọng, thiếu nó thì vừa nói lên không đúng ý người nói, vừa không hợp với ngôn ngữ và văn hóa của người nghe, cho nên không hiểu được hay là hiểu sai đi, như ta thường nói : ông nói gà, bà nói vịt.

212- Mấy quan niệm mới

Cũng như trước đây đối với tam giáo, nếu đạo Thiên Chúa không đem vào Việt nam được quan niệm nào mới, thì không có lý do gì vào Việt Nam. Nhưng nếu hoàn toàn dị biệt, thì vào Việt Nam cũng là vô ích, vì không ai hiểu được gì cả. Nhà cầm quyền thời đó tuy không hiểu hết nhưng cũng thấy là có ít điều mới lạ, hoặc là vô lý, vì mình không hiểu được, hoặc là nguy hại, vì nó vừa khác phong tục, vừa không theo hẳn như trật tự xã hội thời đó. Sau đây là một vài quan niệm mới.

Quan niệm về Thiên Chúa, một quan niệm khác về thần linh

Ta biết thời đó người ta tin có rất nhiều thần, tượng trưng cho nhiều nhân vật hay sự vật linh thiêng. Những thần nào trong dân gian có phong độ đáng làm gương mẫu, hay là có tác phong ích quốc lợi dân, thì nhà vua thường ban sắc phong làm thượng, trung hay hạ đẳng thần để cho dân thờ cúng. Các thứ thần khác, ví dụ như dâm thần thì cấm. Dân chúng thờ cúng để xin lộc hay là để tránh tai ương. Đạo Phật chính ra thì không quan tâm đến thần linh, vì thần linh cũng ở trong vòng luân hồi, cứu mình còn chưa nổi thì còn cứu được ai. Nhưng khi truyền vào nước ta, thì dân chúng tùy theo nhu cầu và sở ước của mình mà coi Phật Thích ca, cũng như các Phật khác và các vị bồ tát, là những vị thần có phép thần thông lại có lòng từ bi cứu độ chúng sinh, cho nên thờ thêm vào nữa. Đứng trước tình trạng tôn giáo dân gian như thế, nếu các giáo sĩ Tây phương thời đó, như Alexandre de Rhodes, cho rằng Phật giáo làm ăn nước đôi : vừa dạy cho các vị chân tu chủ trương vô thần, lại vừa dạy cho dân chúng chủ trương đa thần, thì cũng không phải là hoàn toàn không có lý do.

Đạo Thiên Chúa chủ trương vũ trụ này tùy thuộc vào một vị có tính cách siêu việt. Nếu gọi vị đó là thần (theos, deus, dieu), thì thần đó là duy nhất, ngoài ra trong vũ trụ này không có ai khác là thần, không có gì khác là thần. Như thế có nghĩa là tất cả những thần của các tôn giáo đa thần, như : trời (Thiên), đất, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thú vật, cây cối, lại cả những nhân vật oai hùng nữa, đều không phải là vị thần duy nhất chính đáng. Tóm lại là đạo Thiên Chúa chủ trương tục hóa ba phạm vi : a) Vũ trụ không phải là thần, không có cái gì trong vũ trụ là thần thiêng cả; b) Nhà vua (chính quyền) không phải là thần, không phải là Thiên tử gì cả; c) Sức sống phồn thực không phải là thần thiêng (như quan niệm An độ thờ thần dương vật, hay là tục thờ dâm thần trong dân chúng Việt Nam thời xưa). Chính vì thế mà hoàng đế Rô ma cho rằng đạo Thiên Chúa là vô thần, nghĩa là không nhìn nhận các thần linh của nhà nước Rô ma, và nhất là vì không công nhận hoàng đế là thần linh.

Vị thần duy nhất đó, người Do thái cho là không có tên gì gọi được, cũng như ta thấy trong Đạo đức kinh : « Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh ». Cho nên khi muốn nói về vị đó, các giáo sĩ Tây phương cho rằng dùng chữ « Thiên », « Thần » hay là « Thượng đế » thì không chỉnh lắm, vì thế họ tạm dùng kiểu nói « Thiên địa chân chúa » (Chúa thật trời đất), gọi tắt là « Thiên Chúa ». Rất có thể là triết học có thể suy luận để đi tới một nguyên lý duy nhất của vũ trụ, mà người Trung quốc gọi là « Thái cực », là « Đạo », hay là « Thiên ». Có điều là, như thầy Khổng nói trong Luận ngữ : « Thiên hà ngôn tai (Trời có nói gì đâu ?) » (thiên Dương hóa). Nếu nguyên lý vô danh của vũ trụ không nói gì với ta, thì ta tìm làm gì ?

Cái đặc điểm của các tôn giáo nhất thần là ở chỗ chủ trương rằng Thiên Chúa có nói với nhân loại. Dĩ nhiên là không nói trực tiếp được vì là siêu việt. Nhưng nói qua các môi giới. Vũ trụ là tạo vật, cho nên chỉ nói lên rằng có nguyên lý tác tạo mà thôi. Ở đây các môi giới là các « ngôn sứ » (prophètes), là những người lấy danh nghĩa Thiên Chúa, đem lời nói và việc làm của mình mà nói lên dự định của của Ngài về vận mệnh con người. Như thế có nghĩa là Thiên Chúa không phải là như các thần linh Hi lạp và Rô ma, đùa chơi với định mệnh con người; không phải là như các thần linh của triết gia Epicure, hoàn toàn dửng dưng vô tình đối với con người; không phải như các thần An độ mà Phật giáo cho là vẫn ở trong vòng luân hồi, không cứu độ được ai. Lời nói, tự nó không làm cho thế giới này biến đổi, không bắt ép được ai phải theo, nhưng nó đưa ra cho nhân sinh một ý nghĩa, một dự định về tương lai. Người nghe có tự do theo hay không theo. Như thế người ta không còn sống trong một định mệnh do nghiệp chướng hay là do ác thần định đoạt, nhưng có tự do, tự mình tạo ra vận mệnh cho mình.

Cũng nên thêm rằng vấn đề ở đây là phân biệt trong số những người tự xưng là ngôn sứ củaThiên Chúa, ai là thật, ai là giả, ai là người dám hi sinh mạng sống đề chứng thực cho lời nói của mình. Người nghe có tự do tin hay là không tin. Nhưng đó là vấn đề khác, không thể dài dòng ở đây được.

b) Tính cách luân lý của đạo nhất thần (monothéisme éthique)

Thường thường thì trong các tôn giáo khác, nếp sống luân lý không có liên quan gì đến việc thờ cúng thần linh. Trong đạo Thiên Chúa thì có chủ trương rằng lòng kính yêu Thiên Chúa và lòng thương yêu người anh em đồng loại cũng chỉ là một, cái này là cách thực hiện cái kia : nếu không thương yêu được con người mà mình trông thấy trước mắt, thì sao có thể kính yêu được Thiên Chúa mà mình không trông thấy ?

Chính vì thế mà đạo Thiên Chúa thấy luân lý Khổng Mạnh như là một vùng đất tốt để có thể đem trồng đạo lý Chúa Giê su. Cho nên tuy bị chính quyền nhà Nho bắt bớ cắm cách rất nhiều, người theo đạo Thiên Chúa vẫn thấy mình gần gũi với luân lý dấn thân vào đời, tu tề trị bình của đạo Khổng, hơn là với những học thuyết khác có chủ trương tránh việc đời.

22- Từ phía người đón nhận

Nếu các giáo sĩ Tây phương chỉ có thể đem sang Việt Nam đạo Thiên Chúa mang hình thức Au châu, thì ngược lại, người Việt đón nhận đạo lý cũng chỉ có thể hấp thụ đạo lý theo như cái vốn văn hóa và tôn giáo mình đã có sẵn.

Tuy các giáo sĩ không mấy khi nói ra, nhưng trong đạo Lão và đạo Phật không phải là không có những yếu tố đi theo một chiều với đạo Thiên Chúa, có thể làm mối liên lạc giữa đôi bên. Nếu người theo Đạo giáo lánh xa sự đời và tìm thuốc trường sinh bất tử, thì người công giáo cũng nhận ra sự đời là chóng qua, và muốn tìm đời sống vĩnh cửu, tuy rằng quan niệm có điều khác nhau. Nếu người đi tu bên Phật không lập gia đình thì giáo sĩ công giáo cũng thế, tuy rằng ý nghĩa không giống nhau. Người công giáo cũng chủ trương không nên tham tài tham sắc, không nên đắm đuối trong dục vọng, nhưng không nghĩ rằng phải tiêu diệt tất cả cái thế giơi ảo ảnh này, vì lẽ rằng phải dấn thân trong thế giới này mới mong thực hiện được cùng đích.

Chính vì thế mà các giáo sĩ Tây phương đã nhận ra rằng đạo lý tam cương ngũ thường của Khổng giáo là chỗ đứng rất vững để người Việt Nam đón nhận đạoThiên Chúa. Dĩ nhiên vấn đề là phải biết làm sao đem giáo lý của mình trồng vào đất tốt ấy.

221- Thuyết “tam phụ” : Thiên Chúa là cha

Thầy Khổng dậy học trò phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Phạm vi hành động là phạm vi tam cương, thái độ luôn luôn phải có là ngũ thường. Về vấn đề thần linh, về cái chết và thế giới bên kia thì thầy thoái thác, không muốn nói đến. Hỏi thế nào là trí, thầy trả lời : “Vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi” (Luận ngữ, thiên Ung dã). Hỏi về việc thờ quỉ thần thì thầy trả lời : “Vị tri sự nhân, yên năng sự thần”, hỏi về cái chết, thầy lại trả lời : “Vị tri sinh, yên tri tử” (Luận ngữ, thiên Tiên tiến). Đó là thái độ dè dặt : kính quỉ thần nhưng không nên gần, chưa biết thờ người thì sao có thể thờ thần, chưa biết sống là thế nào thì sao mà biết chết là làm sao.

Chính vì thái độ dè dặt của thầy Khổng, không dám quyết định dứt khoát như thế, cho nên tôi trộm nghĩ rằng quan điểm của Khổng giáo đã hé mở cánh cửa cho thuyết “tam phụ”, quan niệm Thiên Chúa là “thượng phụ”[1]. Quả vậy, xét ba giềng mối trong xã hội là quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, thì đã có hai cha : cha mẹ sinh dưỡng chúng ta, và vua là cha mẹ dân (dân chi phụ mẫu). Về việc tế tự thì chỉ có vua là được tế trời, các quan lớn thì được tế thần sông núi, còn người dân thì ai nấy cúng tế tổ tiên. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes lập luận như sau : nhà vua là cao sang thực, nhưng không phải là vị tối cao, vì còn phải tế trời; trời ở đây không phải là bầu trời xanh có tính cách vật chất, vô linh, nhưng là vị làm chủ trời đất, tức là Đức Chúa Trời. Riêng đạo Thiên Chúa thì dạy ta gọi Thiên Chúa là cha; vì thế cho nên ta có ba cha : thượng phụ, cha ở bậc trên, là Đức Chúa Trời; trung phụ, cha ở bậc giữa, là vua; hạ phụ, cha ở bậc dưới, là cha mẹ ta.

Lập luận đó vừa nhìn nhận tam cương, vừa mở rộng đạo làm người về phía trên, theo hướng cánh cửa do thầy Khổng hé mở. Nếu vua chỉ là cha mẹ dân trong một nước, thì thượng phụ là Đức Chúa Trời mới là cha chung cho mọi nước mọi loài. Quan niệm như thế tức là coi mọi người là anh em, bình đẳng với nhau, vì cùng có một cha chung, đồng thời cũng tiếp thu được lý tưởng đại đồng của người Á châu : “tứ hải giai huynh đệ”. Tam cương vẫn giữ được, nhưng vị trí nhà vua bị tương đối hóa, vì nhà vua không còn phải là vị tối cao, không được phép “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 2472). Đối với chế độ dân chủ ngày nay, thì nghe được, nhưng đối với chế độ tôn quân, cho vua là vị tuyệt đối, thì không nghe được. Thiết tưởng đó là một trong những lý do làm cho nhà vua cấm đạo.

222- Ngũ thường và luân lý đạo Thiên Chúa

Đạo Thiên Chúa còn tìm được một điểm tựa khác trong luân lý Khổng giáo, đó là ngũ thường, năm thái độ con người luôn luôn phải giữ trong hành vi, là : nhân nghĩa lễ trí tín [1].

Khi theo đạo Thiên Chúa, người ta vẫn giữ luân lý đạo Nho như cũ. Nhưng luân lý ấy được c thêm một ý nghĩa mới : nằm trong khuôn khổ đạo Thiên Chúa, luân lý ấy là cách thức cụ thể để thực hiện lòng mến Chúa đối với cha chung trên trời, và yêu người đối với mọi người vì cùng là anh em.

Thế mới biết là khi một số nhà Nho trách người công giáo là loài “vô phụ vô quân”, ăn ở không theo tam cương ngũ thường, thì là trách không có bằng chứng.

Còn những điều khác trong đạo là những yếu tố không có sẵn trong tôn giáo cổ truyền, nhưng không động gì đến cái nền Khổng giáo cả.

Kết luận

31- Một quan niệm khác về vận mệnh con người

Nếu đạo Thiên Chúa đưa vào Việt Nam một quan niệm về Thiên Chúa không giống như những quan niệm cổ truyền, thì đồng thời cũng đề nghị một quan niệm khác về con người, có thể ăn rễ vào luân lý Khổng giáo. Cũng cần nói thêm cho rõ là tuy về siêu hình học thì ba hệ thống tam giáo có nhiều chỗ bất đồng, nhưng người trong nước vẫn sống với nhau theo luân lý Khổng giáo. Nhiều khi trong sách vở bình dân ít phân biệt các tôn giáo, ta còn thấy người ta cho rằng chính Phật dạy phải trung hiếu. Vì thế cho nên khi tìm điểm tựa trong Khổng giáo, người theo đạo Thiên Chúa hòa đồng với người trong nước một cách dễ dàng.

Từ cái nền đó, nếu nhận rằng có một Thiên Chúa để ý đến vận mệnh mình, có ý nói với mình, thì con người không còn quan niệm cuộc sống của mình như là một định mệnh do thần linh hay là do nghiệp chướng quyết định, nhưng quan niệm rằng vận mệnh của mình là tùy mình tự do định đoạt. Có tự do con người mới có phẩm giá. Người Hi lạp cổ quan niệm con người linh ư vạn vật là vì mình là một tàn lửa của thần linh. Đạo Thiên Chúa chủ trương rằng con người được tác tạo theo như hình ảnh của Thiên Chúa, và được mời giao tiếp tương thân tương ái với Thiên Chúa. Người Au châu đã tục hóa quan niệm đó, chỉ quyết định là con người có phẩm giá, nhưng không nói là căn cứ vào đâu. Cho nên một đàng thì tranh đấu cho con người thoát khỏi áp bức, một đàng thì chủ trương cá nhân chủ nghĩa, chỉ có mình mình là trung tâm cho vũ trụ.

32- Hội nhập văn hóa không bao giờ ngừng

Đạo Thiên Chúa đi vào Việt Nam, nhưng xã hội luôn luôn biến chuyển, cho nên vẫn phải luôn luôn thích nghi với hoàn cảnh mới. Một đàng thì không thể bỏ đi tất cả những yếu tố từ văn hóa Au châu chuyển sang – trên đây ta đã nói đến việc bóc nõn củ hành – nhưng có thể bỏ đi một số, vì ngay ở Au châu hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi nhiều cho nên có nhiều yếu tố cũng rơi đi mất. Đàng khác thì người Á châu từ khi tiếp xúc với Âu châu cũng thâu nạp thêm nhiều quan niệm mới về khoa học, về xã hội chính trị – ví dụ như quan niệm dân chủ, quan niệm cộng sản, vv. – cũng như về tôn giáo nữa.

Công việc thích nghi phải được tiếp tục trong các phạm vi luân lý, nghi lễ, tổ chức giáo hội, cũng như về từ ngữ dùng trong giáo lý để nói lên cho rõ mình tin gì, muốn gì, làm gì, và hi vọng những gì.

Có nhiều chỗ phải xét lại dể thích nghi. Ở đây tôi chỉ xin nhắc qua tới vài điểm.

Một là về nghi lễ. Trong buổi đầu, Giáo tông tòa bó buộc phải làm nghi lễ phụng vụ bằng tiếng La tinh mà người giáo dân không hiểu được, nhưng người mình không có phản ứng gì, coi đó là tự nhiên, cũng như vẫn thấy tam giáo cử hành nghi lễ bằng chữ Hán mà người dân thường không hiểu, nhiều khi còn dùng những câu thần chú bí truyền nữa. Cách đây chừng hơn nửa thế kỷ, tôi nghe nói trong một tu viện nào đó người có ý kiến đặt ra nghi lễ công giáo theo như lễ nghi tế tự trong triều vua. Nhưng rồi không thấy có kết quả gì. Chắc là không đi đến đâu cả, vì nếu có làm, thì thiết tưởng phải làm khi các nghi lễ tế tự đó còn thịnh hành khi nước ta còn có vua. Chứ làm bây giờ thì chỉ có tính cách hoài cổ mà thôi, dân chúng vẫn thấy là xa lạ.

Hai là về tổ chức giáo hội. Cách đây bốn thế kỷ, giáo hội đã có một tổ chức tập trung quá độ quyền hành vào một mối, thành ra bị tê liệt không thích nghi kịp với thời đại. Thế nhưng vào thời đó nước ta cũng có tổ chức chính trị tập trung quyền hành như thế. Cho nên không ai lấy gì làm lạ cả. Ngày nay ở Tây phương thì xã hội chuyển sang chế độ dân chủ, ở bên ta thì nhà nước tập trung quyền hành của Nho giáo không còn nữa. Cho nên giáo hội sau công đồng Vaticanô đã đặt ra nguyên tắc “đồng liêu”, để bớt tính cách phong kiến, để mọi người có thể cùng tham gia vào việc đạo. Nhưng việc thực hiện nguyên tắc vẫn còn là khó khăn.

Thứ ba là ngôn ngữ dùng trong khi nói về giáo lý. Cho đến nay ta thường chỉ tìm cách phiên dịch thế nào để không sai ý. Nhưng phải đi xa hơn nữa, phải biết dùng từ ngữ và đường lối tư tưởng quen thuộc với người thời nay, mới mong nói lên Tin Mừng sao cho người ta hiểu. Nhưng con đường thần học Việt Nam vẫn còn dài.

Trần Văn Toàn

www.dunglac.net
GS. Trần Văn Toàn
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Tràng Hoa Mầu Nhiệm

TRÀNG HOA MẦU NHIỆM



Ảnh của Diệp Hải Dung, Sydney, Australia ( Hình chụp Ngày Thánh Mẫu Mân Côi tại TT Hành Hương Bringelly, Sidney)



Trời xanh cao thẳm xa vời

Tràng hoa nhỏ bé dâng lời khấn xin

Lòng thành đặt hết niềm tin

Chuỗi hoa mầu nhiệm thanh vinh ngàn đời

(DHD)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền

Diệp Hải Dung